TƯỜNG SẮT

trusa

Cha tôi mất từ lâu và tôi không mấy quan trọng rằng ông đã từng có mặt trong đời mình. Tôi chưa một ngày sống cùng cha và ông ấy cũng chưa một lần bế ẵm, hay cựng nựng tôi. Như tôi nói, cha tôi mất sớm. Thế nên tôi được phép quên người cha này đi. Tuy nhiên trong lý lịch hoặc một lúc nào đấy, có thể là trong một bài tập làm văn cần đến bóng dáng người cha…Thì tôi có thể họa lại trong đầu gương mặt mà tôi đã từng thấy trong gian nhà thờ họ, rồi sau đó tôi sẽ phết lên lớp màu trầm đục do tôi nghĩ ra. Rằng cha tôi là người nhân hậu, rất hay cười, thường làm ngựa cho tôi cưỡi, dẫn tôi đi mua đồ chơi vào mỗi dịp trung thu…Chẳng khó gì.
Từ nhỏ tôi đã được nhiều người lớn yêu quý. Họ thường cho tôi bánh ăn, bế ẵm tôi trên tay và không tiếc lời khen với tôi. Thú thực, tôi không thích thú gì việc này, thậm chí còn kinh tởm lũ người đã bế, bẹo mặt, bóp mũi, rồi dốc tôi lên cao như một con búp bê. Mẹ tôi không thích thú gì nhưng lại hùa với họ bằng cách đi làm việc khác. Bánh kẹo họ tự bóc rồi nhét vào miệng tôi. Thật lòng khi đấy tôi đã muốn nhổ thẳng vào mặt họ nhưng vì lý do nào đấy tôi lại nhai sạch và toét miệng cười. Họ mến mộ nụ cười của tôi và hứa hẹn sẽ đến nữa.
“Ân sủng của loài người là nói và viết được…”- Kể từ khi tôi biết thạo bảng chữ cái, chính tả và các loại cú pháp thì tôi gần như quyên sinh vào các con chữ. Mỗi tuần mẹ đã phải mua cho tôi rất nhiều vở và giấy nháp. Ông nội tôi hoàn toàn vui vì sự tự giác của một đứa trẻ mới đi học. Còn mẹ tôi? Bà chẳng phàn nàn gì và còn lấy làm tự hào. Mỗi cuốn sổ chi chít những cái tên, một mẫu câu tôi sao chép lại trong sách báo hoặc từ một tấm băng rôn tôi nhìn thấy khi trên đường về nhà.
Một lần, tôi thấy ông đã dùng chiếc gậy ba toong gỗ đánh một con chó hoang. Lúc đấy tôi ở ngoài nhà. Con chó rất gầy, cái bụng lép kẹp, triệu chứng của một cơn đói từ nhiều tuần. Trên lưng, đầu và chân nó trầy trụa thương tật. Một vết thương khác đang rướm máu do cú đánh từ ông nội. Nó kêu ư ử, nghểnh đầu lên nhìn ông nội, rồi quẫy đuôi. Nhà tôi không nuôi chó, trước đấy tôi cũng không hề nghe mẹ hay ông nội nhắc về chó. Con vật này, chỉ đang xin ăn vì đói.
“Đồ súc vật!”
Ông nội vung chiếc ba toong. Một cú đánh, rồi cú nữa, thêm một cú nữa…Trong chớp mắt người con chó chi chít vết đánh. Máu văng be bét trên người con vật, trên batoong, dưới nền đất, trên mặt ông nội và mắt tôi nhức đỏ. Chỉ nghe tiếng ăng ẳng, rồi con chó lết đi mất. Không ai can ông nội, những kẻ ở gần đấy chỉ đứng nhìn, cười hoặc xót xa bằng thứ tình thương của kẻ thất phu. Ngày hôm sau, có người kháo nhau rằng con chó ông nội tôi đánh hôm qua đã chết. Một toán thợ xây đã phanh xác và nấu ăn. Tôi nói với ông nội về cái chết của con chó.
“Nó chết rồi cháu ạ.”- Ông nội nói.
“Ông đánh chết nó.”
“Ông không đánh chết nó.”
“Cháu đã thấy ông đánh nó.”
“Ông chỉ đuổi nó đi.”
“Nó đang đói mà ông.”
“Không nhà không cửa thì sống làm gì. Chết sẽ danh dự hơn.”
Ông nội nhìn tôi. Đôi mắt đấy tôi không dám nhìn vào. Trong cặp mắt ông nội tôi chỉ thấy một màn đen đang bao trùm, một sức nặng đè lên cổ tôi và cặp mắt từ từ hướng lên cao. Tôi như bị đè bẹp, và bé nhỏ như con thạch sùng. Lúc ông nội xoay cây batoong, tôi thấy một lớp máu khô bám mũi gậy.
“Cháu phải nhớ, ông đã giải thoát con vật đáng thương.”
“Vâng ạ, cháu nhớ.”
“Nhớ thế nào?”
“Ông đã đánh, để giải thoát con chó.”
“Ông đã giải thoát con vật đáng thương, nhắc lại ông nghe.”
“Ông đã giải thoát con vật đáng thương”
“Phải, chính thế. Ông là người giải thoát.”
Lên phòng, tôi mở giấy và tự tay tổ chức lễ tang cho con chó. Lúc đấy, tôi chỉ biết rằng một đám ma cần có quan tài và vòng hoa. Người đi viếng chính là tôi. Sợ rằng con chó sẽ lẻ loi, tôi đã tạo thêm nhiều con chó khác. Đầu mỗi con đều được buộc khăn trắng.“Mong mày siêu thoát.” – Tôi viết lên giấy. Từng con chó sủa thành tiếng người. Vài chữ bị nhòe. Tôi đã viết ra một bát cơm đầy với đủ thịt thăn, sườn và đốt trước mộ địa. Tôi, và những phần tôi mang hình chó cùng đào đất bằng tay. Một hố huyệt vừa đủ. Đám kẻ tôi chậm chạp hạ huyệt, vùi đất lấp lên, cũng bằng tay. Cỗ quan tài trôi xuống đất.
Mẹ tôi như một cái bóng trăng. Không cáu giận ai, không vui đùa, không tán phét, và không một lần nói về mình. Bà vẫn dành tình thương cho tôi. Mẹ tôi vẫn nấu nướng, dạy tôi lễ độ với người lớn, làm việc nhà, hỏi han về các quan hệ trong lớp…Kỳ lạ là tôi chẳng cảm thấy chút xúc động nào. Ngay cả khi ôm chặt mẹ, úp mặt vào bầu vú bà tôi vẫn thấy thiếu thốn. Hơi ấm của bà không làm tôi mãn nguyện và thú thực tôi còn không tin được rằng mình đã từng sống trong bụng bà.
Tôi rơi đi trong vòng tay mẹ – Đặt câu viết lên giấy, tôi thở phào. Trong đầu tôi lúc này đây chật cứng những chiếc quan tài bật nắp. Tình bạn, tình thầy trò, cái đẹp, cái tốt, tình thương…Tại sao bao lẽ phải mà tôi vẫn luôn nghe trên lớp lại không vào đầu. Trong lớp tôi là học sinh ngoan. Đi học đúng giờ, ghi bài đầy đủ và thân thiện với bạn cùng lớp. Ở nhà, tôi cũng là đứa con biết nghe lời. Tôi rất siêng đọc sách nhưng không phải sách học của nhà trường. Sách tôi đọc lấy từ nhà kho. Nhiều cuốn long bìa, rụng trang, bị mọt ăn thủng…Những cuốn sách và những cái tên lạ hoắc lần đầu tôi được biết. Đọc họ và tôi thấy huyết mạch tràn trề. Tôi thấy các vùng trời khô kiệt sắc nắng. Nhiều mầm cây đâm chồi từ xác người. Người ta cười ra máu, khóc ra bùn đen, và khi mở miệng tôi thấy trôi ra những bào thai không đầu, không tay chân đang giãy giụa. Chẳng có đạo đức sáng trong như pha lê, nhiều thứ còn đối nghịch với cái lẽ phải mà tôi biết đến. Đau đớn đến rã rời. Nhiều dòng viết còn thức tỉnh những cơn đau trong tôi. Chúng cứ thế chạy và khiến toàn thân tôi ê ẩm. Tôi tìm thấy nỗi thống khoái, sự mê đắm của một tâm hồn phục sinh từ những lần chết. Thứ sách này, tôi phải lén lút đọc, thậm chí che giấu bằng cách bọc lại bằng vỏ sách giáo khoa hoặc dán nhãn ngoài là sách tham khảo.
Mang chiếc đi-hia, tôi nương náu trong bóng Alice, chạy quanh các tầng nhà chật, rồi bị tống giam vào căn buồng số 6, gặp người gù treo cổ và đốt cháy mình trong chữ. Trong giấc mơ, tôi đi vào tầng tháp chật cứng những vỏ rượu và miểng chai, một cái xác ngồi gục đầu trong xó đang rữa từ từ, bầu trời lở loét nhiều vùng đen, đâu phải mây, chỉ là những bầy dơi, quạ đang bay toán loạn đấy thôi, ở nẻo phố nọ, một thằng nhóc đánh giầy bị giết nhiều lần(1), những kẻ đuôi lợn, ông cụ giáp chiến đàn cá mập bằng mái chèo,(2) viên thẩm phán không hốc mắt…Nhiều lần tôi bị ngã bật khỏi giường. Một lần khác, tôi tỉnh dậy và thấy tay mình còn đang viết. Giấy lem nhem, một phần vì tôi tẩy xóa, hoặc do viết đè lên.
Ông nội quản lý một cửa hàng đồ cổ trên phố. Ông cũng là nhân vật chủ chốt trong nhiều phường hội. Trải qua nhiều năm, ông nội tôi già đi, tóc bạc nhiều và rụng nhiều hơn. Người cha ngủ say dưới mười tầng đất và không một lần tìm thăm tôi dù là trong giấc mơ, một thoáng ảo ảnh bắt gặp trên đường hay một sự trục vớt khi diễn cảnh tủi thân trước mặt người khác. Miệng tôi gọi tên cha, mô tả khuôn mặt, mái tóc cha, rồi một kỷ niệm không hề có để tôi nhắc đi nhắc lại nhằm họ tin tuyệt đối vai diễn của mình. Tôi là con rối trong bàn tay mình. Sẽ chẳng cây đũa phép nào bao dung với tôi. Ông nội tôi thường uống rượu, dạo phố một mình. Trong mọi cuộc họp tại nhà không ai dám chen lời khi ông nội nói. Họ chỉ biết tán dương, khúm núm và ra về. Ông nội độc thoại giữa đám đông, là con đại bàng già giữa bầy gà cụt chân. Áo cựu chiến binh với nghìn nghịt huân huy chương cắm khắp ngực ông như bằng chứng, và cái chân yếu, tấm lưng hơi còng, sẹo khắp mình mẩy sẽ thuyết phục mọi con dân về một huyền thoại đánh giặc cứu nước. Cây batoong vung có lực và sẵn sàng đập bể những cái đầu thất lễ, dám ngả nghiêng, ngáp ngủ trước diễn văn lịch sử. Ông nội thật quá cô đơn. Tuy vậy nỗi cô đơn này vẫn chưa uy hiếp được ông nội. Càng không thể làm đau ông nội đến mức phải mong ngóng một kì tích từ thằng người gỗ. “Ông nội em là người nhân hậu. Nếp nhăn trên mặt ông là nỗi nhọc nhằn, là tình thương dành cho em. Nội thường dỗ mỗi khi em khóc, đôi vai ông đã gánh hết sức nặng để lo cho em ăn học…” – Trong bài văn lớp ba yêu cầu tả ông nội tôi đã viết vậy. Cô giáo đã rất xúc động vì bài văn của tôi. Những ai biết gia cảnh nhà tôi sẽ dễ dàng bóc mẽ được lời bịp bợm nhưng tôi không ái ngại gì. Chỉ cần ôm mặt khóc, mếu máo trong nước mắt rồi nói to trên lớp rằng “Đấy là ước mơ về ông em, một lúc nào đó sẽ bớt nghiêm khắc.” – Để cái chứng cứ giả mạo tồn tại và bảo vệ cho tôi như cái mặt thiên thần, tôi nhắc đến cha. Thân phận mồ côi cha dễ lấy lòng tin hơn gì hết. Họ dành cho tôi sự an ủi và chẳng ai ghét tôi cả. Tôi trở thành người đặc biệt. Được họ yêu quý và không tiếc giúp đỡ nếu tôi có ý nhờ. Mọi thứ thật hoàn hảo. Cái lốt người này…
*
Tôi không thích truyện cổ tích. Suy nghĩ này có từ khi tôi còn rất bé. (Trước cả khi tôi tìm được số sách ở nhà kho.) Thế giới cổ tích chứa nhiều căn ác và sẽ dưỡng chết tuổi thần tiên. Những bài học về tính ác. Rằng muốn sống hạnh phúc phải biết đổ nước sôi và làm mắm thịt người, biết thao túng chim mổ mắt để chiếm ngôi hoàng hậu, phép thần chỉ đến với kẻ biếng lười nhưng giỏi ăn vạ thần tiên, mọi cuộc thi đều không công bằng và luôn có ưu tiên, tình yêu sẽ làm mù mắt và biến chúng ta thành bọt biển…Trong thế giới cổ tích, tôi chỉ thấy những cái sọ người bị chôn đang kêu khóc. Trước khi có phép màu ai cũng đều lương thiện. Cái ác sẽ bị giết bởi cái ác. Để sinh tồn và để chiến thắng thì phải ác hơn. Chân lí không thuộc về cái thiện, chân lí là ngai vàng của cái ác. Những điều này tôi ghi lại vào giấy và giấu thật kỹ.
Bài tập làm văn tôi đạt điểm tuyệt đối. Khi ấy tôi đã vắng mặt, và mấy kẻ tôi đang tranh nhau quyền sống trên thân xác tôi. Chúng ngấu nghiến não óc, hút hết huyết dịch và lùa rắn vào trong tôi. Mái tóc Gorgon phủ lên đầu tôi. Ngồi trên bàn, nọc rắn chảy qua ngòi bút, tôi thành kẻ mạo danh lẽ phải….
Mỗi khi ông nội hỏi tôi về lớp học, tôi đã nói rằng tất cả đều tốt. Rằng tôi ngồi cạnh bạn này, chơi với bạn này, rồi thì trò vật tay lúc nào tôi cũng được nhường…Sợ rằng ông nội phát giác ra cái mũi dài, tôi đã phải làm thân với hầu hết người trong lớp. Để họ chịu gọi điện, rủ đi chơi, đạp xe qua nhà chở tôi đi học. Tôi lấy lòng họ bằng quà vặt, học theo sở thích của họ, nếu một người sợ ếch thì không lý gì tôi lại hôn con vật đấy. Đây có thể là một tôi khác, lém lỉnh và dối trá. Nhìn thấy một người mù bị mất gậy đang loay hoay tìm đường, một tên trong nhóm cười. Một tên khác cười theo, thêm một tên nữa cười, chỉ trỏ tay. Người mù rõ ràng nghe thấy và đang chửi bới loạn lên. Đám bạn của tôi vẫn cười, trong tràng cười đấy có cả tiếng tôi. Người mù kia vấp ngã, cái mặt hắn ta mài xuống đường, dường như một vài cái răng đã gãy. “Crocuta crocuta” – Đó là chúng tôi, và một tôi đáng hổ thẹn đang giễu nhại chính tôi.
Không người lớn nào quanh tôi răn dạy rằng bọn tôi trẻ hư và cần đánh roi vào đít. Tôi muốn làm cây gậy để người mù kia có thể chống dậy. Tôi không thể. Họ còn ở đây. Lúc này, tôi đóng vai lạ với chính tôi.
Về nhà, tôi giả bệnh để tối không phải cùng ông nội vào nhà Vòng. Mẹ tôi lấy thuốc cảm và hỏi đau ở đâu. Trán tôi không hề nóng, mặt mũi còn khá tươi tỉnh. “Ọe, ọe…” – Mấy tiếng nôn này đã đánh lừa được mẹ. Sẽ không hay nếu ông nội tôi nhìn ra vai diễn của tôi. Và tôi đã phải tránh vào buồng tắm, lấy tay móc họng để tiếng nôn bật to hơn, đau đớn hơn. Chiếc batoong, thứ hung khí đã lấy nửa mạng con chó ngày nào gõ vài cái xuống đất. Tôi hoảng loạn, và suýt quên vai diễn…
“Cháu nghỉ ngơi đi. Nếu nặng, mai nghỉ học một hôm.”
Tiếng chiếc batoong lùi xa dần. Tôi thấy nhẹ nhõm hơn. Phòng học, cũng là buồng riêng của tôi là một căn xép chật chội. Phía dưới là một phòng để trống. Ngày trước đấy là chỗ ở của cha. Từ khi cha qua đời nó bị bỏ quên, trở thành nơi chất đồ cũ, hỏng hoặc đang chờ thanh lý. Mẹ và ông nội ở tầng dưới cùng. Nơi ở của họ sạch sẽ, sáng sủa và luôn nồng nặc hơi người.
Vị đắng ngấm vào lưỡi tôi và đang tan dần. Lúc mẹ đi khỏi, tôi nhổ mấy viên thuốc trong miệng ra. Sau đấy tôi súc miệng rồi lên gác. Số giấy được lôi ra và tôi mở bút. Trước hết tôi phải lấy chữ rèn thành một cây roi để quất vào mình. Quất thật đau để máu tôi bắn ra ngoài. “Đấy là sự trừng phạt. Vì vai diễn vô lại trước người mù…”
Trong các cuốn sách giáo khoa, từ lâu tôi chỉ ngửi ra mùi ẩm mốc. Mỗi khi giở trang sách, tôi luôn thấy các con chữ đang chuyển động. Một chữ cái, rồi một hàng chữ dài, ngay đến dấu phẩy cũng như đang chạy trên giấy. Những câu chữ bốc mùi và xám đen như những con gián…Tất cả chúng bò quanh trang giấy, thành từng đàn. Hàng chục cái râu nghoe nguẩy, rồi hếch lên như dò đường. Chúng bò lồm cồm quanh tôi và truyền đến tôi những cơn ngứa. Nếu tôi quăng cuốn sách lên cao chúng sẽ bay toán loạn, tạo thành một cơn mưa màu đen.
Giờ Giáo Dục Công Dân, tôi được dạy về lòng nhân ái. Tất cả chúng tôi đều đọc đồng thanh. Tôi cũng đọc, nhưng một phút nào đó, khi cô giáo quay lên bảng và không ai nhìn sang tôi thì tôi sẽ tống khứ đi hết. Nhổ hết lẽ phải ra và mong đến một sự trừng trị nhưng bất thành. Chẳng đứa bạn nào của tôi là ghi nhớ bài học này. Chúng vẫn sẽ học thuộc vì đấy là trách nhiệm của học sinh. Trong vở nháp của tôi lúc nào cũng dày đặc chữ. Công thức toán, hình học, lịch học hoặc sinh hoạt lớp…Có đủ, và đấy chỉ là tấm vỏ cho các hình mà tôi vẽ lên. Mấy mẫu vẽ đè lên chữ. Đáng ra tôi muốn viết ra nhưng nếu để ai đọc thấy thì thật không hay. Mẫu hình này, tôi sẽ tái tạo lại khi trở về tòa án của mình.
*
Càng lên lớp cao, tôi càng căm ghét trường học. Mỗi năm tôi đều chuyển lớp. Tôi có thầy cô mới, bạn mới, và một vai mới để diễn. Như mọi năm, tôi thường lấy lòng tất cả bạn bè trong lớp. Ngoại hình tôi nhỏ nhắn, khuôn mặt hiền lành và mọi lúc đều có thể cười nên dễ lừa được thiện cảm của người khác. Hội nhóm nào cũng có mặt tôi. Một nhóm nữ, được gọi là kiêu căng cũng dành một chỗ trống cho tôi. Trong nhiều trường hợp tôi đã phải cố gây rắc rối để họ thấy rằng tôi cũng như họ. Hiểu nhưng không nói và hành xử như một kẻ ngốc nhưng chân thành – Đấy là mã khóa để tôi có thể gia nhập và an toàn trong bọn họ. Từng năm trôi qua, tôi thấy mình phải viết ra nhiều thứ hơn. Đã có lúc tôi mất cả giờ để đọc, sửa lại những thứ mình viết lúc nhỏ. Ông nội không hề thích căn gác của tôi vì nó quá lộn xộn. Bàn ghế trong phòng đều cũ và bị mọt ăn, chưa kể phòng còn chật, trần thấp. Tôi luôn đóng nắp, rồi khóa lại để tránh mẹ trèo lên lúc tôi đi vắng. Sắp xếp lại mấy tờ giấy, tôi bắt đầu viết một trang mới. Lần này tôi muốn lập mộ cho mình. Những kẻ tôi mang một khuôn mặt với nhiều giọng nói. Chúng đều dí dỏm, ngoan ngoãn và nhiều khi ngờ ngệch tới mức không ai nỡ bắt tội nếu làm sai.
Tôi mặc chúng lên người.
Chúng trở thành vật sống, có tiếng nói khi tôi gặp gỡ con người. Khi còn lại một mình trên căn gác. Mở cây đèn bàn, tôi cầm lấy bút. Tôi trút bỏ những kẻ tôi khỏi mình, và sau đấy cố gắng không nhớ lại những gì đã xảy ra khi cho chúng thế chỗ mình. Tôi sẽ bật khóc, hoặc tự vả gãy răng mình vì quá nhục nhã. Tôi chặt đầu bọn chúng rồi táng xuống mộ. Không có hương. Cũng chẳng có một cái vái cung kính theo nghi lễ. Đất sẽ nuốt chửng chúng. Nhưng chẳng chắc đâu. Khi tôi rời khỏi đây và gặp người khác, chúng sẽ chiếm đoạt lại tôi. Không khác được nhưng chí ít lúc này chúng đang chết…
Chiếc batoong của ông nội đã từng làm mẹ bị thương. Đấy là chuyện từ lâu và không ai còn muốn nhắc lại. Hẳn là mẹ đã cãi lại ông nội, hoặc làm gì đấy khiến ông nội quá tức giận. Cha tôi có bảo vệ mẹ không? Tôi nghĩ có, hoặc có thể là không nếu cha chết rồi. Tôi gọi gian phòng thờ họ Tru là nhà Vòng. Mỗi tuần tôi phải vào đấy để thắp hương cho cha và đấng tổ tiên. Ông nội tôi cũng ở đấy. Trần gian nhà ám đen bởi khói hương tích tụ từ nhiều năm. Bát hương dày kín que hương. Những tàn hương đâm chĩa sang hai bên hoặc uốn cong, xếp cạnh nhau như những nan quạt. Các đấng tổ tiên, đều mang họ Tru. Chẳng một gương mặt nào giống tôi. Tất cả lạ hoắc và dường như đang nhạo báng tôi từ cõi mù khơi nơi địa đàng.
Tôi không hỏi về cha, cũng không hỏi về bất kỳ ai trong gian thờ họ Tru. Đấy là chuyện từ ngày xưa. Và không gì dối trá bằng việc nói về quá khứ. Mọi bào chữa nhằm trục vớt một chân lý bị nhuốm bẩn đều vô nghĩa. Trên hết, chúng ta sẽ thấy rõ các anh hùng khi họ được cân cùng chiếc lông vũ. Căn gác của tôi là nơi rửa tội. Một pháp trường với ghế xét xử còn trống. Tôi tự định đoạt hình phạt cho mình. Giấy bút. Những kẻ tôi tứ chi bị buộc vào tảng đá nghìn cân và đang giãy dụa dưới đáy sông, bị tống vào chuồng cọp, đang giật đùng đùng trên ghế điện, hoặc bị trói vào cột, chờ đội súng đến…Trên bàn viết, tôi thú tội với chính tôi. Nơi đây, linh hồn tôi được ân xá. Chiếc batoong sẽ không vươn đến được.
Tôi không mang một người bạn nào trong đầu. Sống cùng, các cuộc họp mặt, dã ngoại hay đúng hơn là sự lừa đảo lòng tin nhằm tạo ra một đường tắt để tôi không bị tách khỏi cộng đồng. Không ít lần tôi đã lấy xương máu mình nặn thành vài mẫu người. Sau khi thiết kế cho những mẫu hình đấy một thân phận, tôi kể với hội bạn. Họ tin sái cổ và còn có ý định tìm gặp người đó. Cặp mắt chăm chú, chốc chốc lấy tay chấm nước mắt không nói được gì đâu. Chỉ cần một sự kiện lạ. Ai đó thấy một món tiền vô chủ, một nhóm người đánh nhau, tai nạn xe, một xích mích từ trong nhóm và bắt buộc phải có sự thanh toán…Sẽ chia rẽ họ ngay tức khắc. Người cha đã nện vào mặt con mình khi bắt quả tang nó xem phim khiêu dâm ở tuổi dậy thì. Nhà thuyết pháp sẽ bị khâu miệng bằng dây thép nếu nói về một chủ nghĩa đói máu. Gặp một tội phạm trên đường, ai cũng có quyền cầm dao…
“Thoát khỏi vườn mù, loài người bị trục xuất vào trầm luân bởi đức cha đẻ toàn năng…” – Câu cuối cùng cho tối nay. Sau đấy tôi đọc 1984. (3)
*
Tôi đã nổi sát cơ trong đầu và muốn đâm chết ông nội bằng chiếc batoong ông vẫn mang bên mình.
“Dọn sạch sẽ, sạch sẽ…”
Tất cả sách ở nhà kho được chất đống và đang cháy đen trong ngọn lửa được đốt lên từ rác và lá cây.
“Ông làm gì thế này? Trời ơi! Sách của cháu…”
Tôi vứt cặp vào lao vào ngọn lửa đang bốc ngày một cao. Từng tầng sách rụng tả tơi trong lửa. Chữ bay biến thành tro đen. Tay tôi quờ vào ngọn lửa. Khói từ lá cây xông lòa mắt tôi. Tôi không cứu được cuốn nào, còn bàn tay thì đã bị lửa làm bỏng.
“Cháu yêu, ra đây với ông.”
Đầu chiếc batoong gõ cồng cộc xuống nền đất.
Tiêu biến cả. Tòa án của tôi. Sảnh đường của tôi. Vị thầy thuốc nông thôn bị thiêu sống rồi. Đóa hoa đỏ trong tay chàng cũng trụi từng cánh rồi…Ngọn lửa chó má, mày đốt sống hết giống người rồi…
Ông nội xách cổ tôi lên. Mắt tôi vẫn nhìn vào đám cháy. Mùi sách lẫn vào lá cây và khói. Nhiều nền Văn Minh bị lửa đốt mù hết. Tôi thấy những linh hồn chưa kịp xưng tội đã tiêu vong. Không rõ ông nội nói gì. Dường như ông nói rất to. Tai tôi chỉ nghe thấy tiếng lửa cháy. Khói ngùn ngụt thành từng tầng. Mắt tôi cay xè, ướt nhẹp đi và đỏ tới mức lúc nào cũng có thể bắn ra máu.
“Tru Sa. Nghe ông nói đây! Tru sa!”
“Ông đốt cả cháu rồi…”
Mắt ông nội trợn trừng. Mái róc bạc rủ xuống, phất phơ từng lọn. Nhiều tro giấy bay lất phất. Mảnh to, mảnh nhỏ, mảnh vẫn còn cháy, bám vào áo quần, dính kẹt trong tóc, trên trán ông nội. Cây batoong của ông nội vung lên. Chỉ là cái đặt gậy lên vai nhưng tôi vẫn cảm thấy một sức nặng nghìn cân đang đè xuống. Năm quả núi, và một lá bùa. Tôi sụm xuống.
“Mấy thứ sách thế này nên đốt từ lâu.” – Ông nội nói.
“Người viết đều là những vĩ nhân. Cô giáo cháu vẫn dạy phải đọc các nhân vật tầm cỡ.”
Ông nội bật cười, cây gậy đè nặng hơn.
“Một đứa trẻ ngoan sẽ không cãi người lớn. Cháu sao thế này. Cháu mang họ Tru, là cháu ta.”
Tôi rất muốn cướp lấy cây batoong và đâm nhiều nhát lên ông mình. Ý nghĩ cháy rực lên và hoàn toàn tôi sẽ làm thế. Tiếng gằn giọng của ông, cái nhìn cau có, gằm ghè khiến tôi nổi gai ốc. Tuồng như ông nội đã đọc ra sát niệm của tôi nên đã nắm chặt cây batoong bằng hai tay. Nhìn số sách rữa thành vụn tro, tôi nghĩ đến phòng viết của mình. Căn gác riêng, phòng sám hối, là tường diện bích của tôi…Không xong rồi. Sách ở nhà kho tôi đã chuyển lên gác. Số nhét trong ngăn kéo, số đặt ở giá học tập, số kê làm gối, số thì được chồng thành tầng và nằm trên mặt bàn. Nếu chúng được chất hết ở đây nghĩa là ông nội tôi đã lên được căn gác. Mọi ổ khóa trong nhà trước khi đánh chìa đều phải hỏi qua ông nội. Không lạ nếu ông nội có một chìa dự phòng. Mọi giấy tờ của tôi. Trong vở ghi chép, sổ nhật ký. Trên kệ giá, trong hộc kéo, rồi thì nhiều tờ còn chưa xếp lại hẵng bừa bộn trên bàn…Lời than vãn, huyệt mộ của hàng chục kẻ tôi sẽ bị xới hết lên. Sẽ không gì cứu vãn được nếu ông nội mở chúng ra đọc. Một que diêm đánh xòe, và nơi nương thân cuối cùng, chốn rửa tội để tôi được làm người sẽ không còn nữa. Mồ hôi tôi túa nhễ nhại, từng đốt tay tê dần dần. Tôi thấy thở khó.
Lúc này đây tôi phải diễn trò. Tiêu hủy nỗi uất hận sâu trong mình bằng cách khoanh tay lại, cúi đầu thấp xuống, không quên sụt sịt cái mũi. Tôi vào với ông và nói rằng mình làm thế chỉ vì quá tiếc chỗ sách đấy. Ông nội đi một bước, tôi đi một bước. Ông nội đi hai bước, tôi đi hai bước. Tôi rót nước cho ông nội, tự nhận sai. Cái mặt tôi trông thật hướng thiện. Tôi còn gãi gãi đầu, cười hề hề để làm ông dịu xuống.
“Chỗ sách đấy là của cha cháu. Giờ thì ông đốt nó cho cha cháu.”
“Sao ông không giữ lại…Ý cháu là để làm kỷ niệm, sinh tiền chắc cha cháu quý chúng lắm.”
“Khỉ gió. Ông đã đọc một vài cuốn rồi. Ba lăng nhăng cả. Làm gì có đứa trẻ nào lại không muốn lớn, rồi kẻ thấy mình không bằng cả chó, rồi lại cả chuyện súc vật nổi loạn nữa…Độc hại, quá độc hại…”
“Ông không biết trong mỗi một người có bao nhiêu túi nọc đâu…” – Tôi muốn hét to như thế vào mặt ông nội. Chiếc batoong vẫn trên tay ông. Khuôn mặt héo quắt, những nốt tàn nhang lõm sâu như ăn vào tận xương. Bởi tuổi tác, mắt ông nội mờ đục, nhưng không có nghĩa là nó kém tinh tường và dễ thỏa hiệp. Tôi cược rằng cả tuổi trẻ ông nội tôi đã uy hiếp người khác bằng việc nhìn chằm chằm họ.
“Ông ơi, ông lấy sách ở phòng cháu ra thì…Thì…” – Tôi dịu giọng, vờ như ấp úng để dò xét ông nội.
“Buồng học của cháu…” – Tôi rùng mình – “Nó…”- Mồ hôi bắt đầu rịn, tôi cố làm vẻ tỉnh bơ – “Tối, chật nữa…” – Tôi nuốt khan cả tiếng thở của mình – “Nhưng được cái gọn gàng.” – Tôi thở phào. Tiếng thở tôi đã cố không để lọt ra ngoài bằng cách nén lại trong họng rồi nuốt ngược. Rất có thể ông nội sẽ phát giác tôi đã không thành thật.
Giấy tờ của tôi đã được an toàn. “Gượm đã.”- Một nỗi lo sợ khác ló dần ra. Rõ ràng hiếm khi tôi dọn phòng. Trên bàn luôn vung vãi giấy nháp. Chưa kể là tối qua tôi viết đến mờ sáng, lúc đi học vẫn chưa kịp cất bản viết đi.
Lên trên phòng, tôi quên cả việc bật đèn khiến mình bị vấp ngã trong bóng tối. Tôi hối hả leo lên căn gác. Đèn bật sáng. Quả như lời ông nội, căn gác gọn gàng đến khó tin. Bụi bặm, mạng nhện đều được quét hết. Sàn nhà bóng loáng. Mùi thuốc diệt côn trùng vẫn còn nồng nặc. Tôi gần như ngã gục khi lỡ hít thở quá sâu. Lũ mối, gián, kiến hẳn đã chết sạch. Ra giường, gối cũng được thay mới. Sự sáng sủa, ngăn nắp trái lại khiến tôi thấy chơi vơi. Vở ở kia, bút ở kia. Những bản xưng tội mà tôi quên cất đều trong hộc kéo. Tôi mở ra, đọc rồi xem đã đủ chưa. Ơn trời là tất cả còn nguyên.
Không một ai trong số những khách khứa lui tới nhà tôi biết về căn gác. Khách của ông nội, mấy người hàng xóm chẳng một lần vào quá phòng khách. Không phải ông nội. Là mẹ. Hẳn mẹ đã quét dọn, rồi cất giấy tờ của tôi đi. Mẹ biết về những gì tôi viết ngoài bài học trên trường ư? Từ bao giờ? Mẹ có đọc chúng không? Hay mẹ chỉ lên dọn thôi? Mẹ…Tôi muốn ngừng mọi câu hỏi lại. Tẩy trắng mọi ngờ vực bằng niềm hân hoan được bảo vệ. Những bản viết vẫn chưa thất thoát ra ngoài. Với tôi thế là đủ.
6h chiều, cả nhà tôi ngồi ăn cơm. Mẹ không nói gì với tôi ngoài hỏi chuyện học. Ông nội chỉ ăn lưng bát con rồi kết thúc bữa ăn bằng nửa cốc rượu cùng ít tôm khô, lạc sống. Xong bữa, mẹ bưng mâm xuống bếp. Tôi xuống bếp cùng mẹ. “Mẹ dọn gác của con phải không?” – Tôi hỏi mẹ. Mẹ không đáp, chỉ gật.
“Lần sau con sẽ tự giác. Mẹ không cần phải lên dọn nữa đâu.”
“Đừng bao giờ để đồ đạc bừa bãi nữa.” – Mẹ tôi nói.
“Mẹ, tại sao ông nội lại đốt sách của cha?”
“Mẹ không biết.”
“Mẹ có đọc chỗ sách đấy không?”
“Mẹ không đọc.”
“Mẹ không thích đọc sách à.”
“Chắc vậy…”
Sáng chủ nhật, ông nội dẫn tôi đi mua sách. Sách do ông nội chỉ định và tôi bắt buộc phải đọc. Hạt Giống Tâm Hồn, Đường Kách Mệnh, Tư Tưởng Mác-Lenin, một loạt những đầu sách tham khảo nhà trường. Tôi vẫn đọc chúng, như một bài tập thuộc lòng để lấy điểm mỗi khi ông nội đột xuất hỏi.
*
Một năm nữa trôi qua, tôi lớn thêm một tuổi. Tôi học trường khác. Lễ bế giảng mỗi năm tôi thường tỏ ra tiếc nuối và còn òa khóc khi ôm lấy mỗi người bạn. Tôi không nghĩ mình lại là đứa mau nước mắt nhưng ngày hôm đấy hễ tôi muốn là khóc được. Ai nấy đều tin nước mắt tôi là thật lòng. Nhiều lời khen tặng, nhiều vòng ôm dành cho tôi. Có kẻ đã tặng hết phần thưởng cuối năm cho tôi. Cô nàng hoa khôi của lớp đã hiến tặng tôi nụ hôn đầu đời. Hình ảnh tôi trong họ còn quá trong sáng, và họ sẽ giữ lấy nó cho tới ngày hội ngộ. (Dù chẳng bao giờ có ngày đó.)
Vai diễn thằng ngốc lừa được tình cảm nhiều người hơn tôi nghĩ. “Học sinh ngoan, hiền lành, hòa đồng dù nhiều lúc hơi hiếu động…” – Đấy là cát-xê diễn của tôi. Nó quá hậu hĩnh. Và như thế, trong mấy chục năm không ai thù hằn với tôi cả. Nhiều đứa coi tôi như tri kỷ và đấy là một thành công khác, cho vai diễn quá sức xuất thần. Vòng nguyệt quế kết bằng lông nhím này, nó dành cho ngươi, và chỉ chính ngươi…
Những bạn hữu mà tôi luôn muốn bầu bạn đã chết. Ông nội tôi đã đại đồ sát họ bằng ngọn lửa Ares. Giờ đây tôi chỉ biết ngồi viết. Tôi để tang cho sách bằng chữ của mình. Cả buổi tối tôi không làm bài tập, không học bài, thậm chí còn chẳng thèm soạn sách vở cho ngày hôm sau. Tôi ngồi viết, chữ đổ kín trang viết. Hồ như tôi không để mình nghỉ tay. Chỉ viết, và viết. Mong linh hồn của họ sẽ xá tội cho ông tôi. Tôi sẵn sàng lấy hồn mình để trả tội. Trên căn gác chỉ có tôi. Sách. Thứ Đạo dẫn lối đã không còn. Lũ hề đang tạm chết. Tôi ngồi dựa vào cây thánh giá và viết tội trạng của mình.
Nghe thấy tiếng cộc cộc của đầu gậy, tôi giật nảy người. Trên bàn viết bừa bộn giấy và vở ghi. Không có lấy một cuốn vở học hay sách giáo khoa. Tôi đọc thật to các công thức, định nghĩa, phương trình toán, cuống quýt đọc cả sáu điều Bác Hồ dạy. Sáu điều được tôi nhại theo trật tự, có lúc đọc xuôi, đọc ngược, đọc ngâu nghiến các như cửu chương. Vừa đọc tôi vừa run rẩy nhưng cố không để cảm xúc làm loãng tiếng đọc vạm vỡ. Chiếc batoong đã rời đi. Tôi ngã vật xuống bàn và thở phào.
Những ngày sau tôi cẩn thận hơn. Trên mặt bàn lúc nào cũng có sách giáo khoa, vở ghi trên lớp. Thế nhưng rắc rối lại có ngay.
“Chẳng có hơn mười nghìn.”- Túi tôi rỗng tuếch trong khi tôi luôn thiếu giấy bút.
Tôi xin tiền mẹ, chỉ phần nào đó vì rất có thể ông nội sẽ bắt gặp. Những đứa bạn cùng lớp sẵn sàng bỏ tiền túi để mua cho tôi sách bút. Để họ tự nguyện thế thì tôi đã phải hạ mình. Làm họ vui bằng cách học biết sở trường của họ, nhưng rõ ràng tôi không được trội hơn. Tôi biết hút thuốc từ lâu nhưng vẫn phải vờ như mình chưa ngậm điếu thuốc trong miệng bao giờ. Để họ phấn khích, tôi chối đây đẩy rằng sợ bị cô giáo bắt, chưa đến tuổi hút…Họ nào để tôi yên và đấy cũng là điều tôi chờ. Tôi rít thuốc, ho sặc sụa, giẫy chân giẫy tay. Cái điệu bộ của tôi làm họ thích chí và cười hô hố cùng nhau. Trò họ chơi, tôi cũng chơi. Món họ ăn, tôi cũng nghiền. Họ uống rượu và xem phim khiêu dâm cùng nhau, tôi cũng xin nhập hội. Vai khỉ của tôi tới giờ vẫn chưa lỗi thời.
Tôi đối đãi người đời bằng thân phận không phải là tôi. Những kẻ tôi mà chưa một lần tôi muốn nhận mặt. Vứt bỏ chúng. Tôi không làm được. Chỉ cần thiếu chúng, dù nửa ngày tôi không biết làm sao để bảo vệ mình. Đấy đã là thứ trang phục tối thiểu nhất tôi bắt buộc phải mặc để không bị trần truồng…
Tôi chết từ trong trứng mẹ. Máu trong người tôi từ lâu đã khô kiệt. Tôi là kẻ có tội và cuộc đời tôi chỉ là sự xưng tội.
*
“Cháu muốn theo nghề gì?” – Ông nội gọi tôi lại hỏi khi tôi đi học về.
“Cháu còn đang đi học mà ông.” – Tôi đáp lời, không quên nở nụ cười.
“Không lâu nữa cháu sẽ học xong, sẽ phải tìm việc cho mình.”
“Cháu muốn sưu tập sách.”
“Ồ, cháu yêu, đấy không thể coi là nghề.”
“Viết sách thì sao hả ông.”
“Ý cháu là trở thành nhà văn. Cháu vẫn thường viết cái gì sao?”
“Dạ không…Viết gì được chứ…Chỉ là cháu thấy nhà văn thường được công chúng ngưỡng mộ. Sẽ làm rạng danh dòng họ Tru.”
“Nghĩ hay lắm cháu yêu. Nhưng này cháu…” – Ông nội gõ cây batoong xuống đất. – “Dòng họ ta không cần nhà văn. Nghệ sỹ là lũ cứng đầu…”
“Họ hiểu quá cái thế nhân này rồi. Này ông! Họ sống mái vì thứ gọi là Người. Đấy là những Uriel.” – Tôi hét vang trong đầu mình. Cái tiếng nói này đây, đang muốn phá nát tôi để thoát ra ngoài. Cơn giận của gió, là cuồng phong. Tôi muốn người ông mang trong mình chữ thập ngoặc này nghe thấy. Ông chẳng biết được tội lỗi của mình lớn nhường nào. Thiêu đốt sách, chỉ có loài Satan.
“…” – Tôi câm bặt. Tôi nhường xác mình cho những kẻ vẫn luôn chầu trực trong tôi. Bọn ngươi thèm khát thân xác này lắm đây, giờ thì ta thí nó cho lũ ngươi, chỉ đổi lại các ngươi hãy giúp ta qua mặt ông nội mình, hãy làm ơn.
“Học viện G rất tốt đấy. Cháu nên theo khoa Sử hoặc Luật.” – Ông nội vừa nói vừa xoay đầu gậy batoong.
“Học viện G. Dạ vâng, học viện G.”
Tôi bổ trợ sự thiếu thốn về sách bằng cách tìm đến những cửa hàng sách cũ. Đọc ké và không mua lấy một cuốn dù được giảm giá tới mức cho không. Ông nội tôi còn đấy và ai mà biết ông ấy sẽ làm gì nếu bắt quả tang tôi. Mẹ không bao giờ hỏi tôi tại sao mua nhiều giấy bút. Bà luôn hờ hững như một mảnh sương đi lạc. Miễn là bà chịu tiếp tế tôi bằng cách cung cấp tiền để mua giấy bút là tôi đã phải mang ơn bà. Những bản viết của tôi ngày một nhiều. Ngoài các cáo trạng tôi viết cho mình, tôi còn ghi lại một thứ bỗng chốc nảy từ đầu mình. Cũng có thể tôi chợt nhớ đến một cuốn sách ngày trước và ghi đôi điều xúc cảm. Cho đến nay chưa một ai biết về hồ sơ mật của tôi. Bẵng đi một thời gian, căn gác của tôi trở lại với sự lộn xộn, bẩn thỉu vốn có. Đám côn trùng sinh sôi trở lại. Ruồi muỗi bay vèo vèo. Mạng nhện chằng chịt trần nhà. Nếu rọi đèn lên trần, sẽ thấy hằng hà xác bướm dính trên lưới nhện. Một căn gác luôn tối, chật chội, bừa bãi và nhiều gián, mối chẳng thể gọi là chỗ ở của người. Nhưng chỉ cái môi trường này mới phù hợp và dành cho tôi. Đây là nhà ngục của tôi, cũng là Nghiệt Kính Đài (4) của riêng tôi. Tôi là tù phạm và kiêm luôn cai ngục. Kẻ tôi ở đây thành khẩn cung khai. Nhà tù, cũng là chỗ nương thân của tôi, đến nay vẫn chưa bị ai phát giác.
Nhà Vòng vẫn là nơi tôi sợ phải vào nhất. Ngày giỗ, tết hoặc một ngày nào đấy do ông nội bắt buộc tôi đều phải vào thắp hương. Quỳ dưới điện thờ, cúng vái trong khi tôi còn chẳng hiểu họ thế nào. Ông nội cung kính với các vị tằng tổ và thường xuyên nhang khói. Chỉ riêng cha là ít được nhắc đến. Còn việc hương đèn thì ông nội chỉ đốt vào ngày giỗ, duy nhất vào ngày đấy. Tại sao ư? Vì cha chỉ là rể. Mẹ tôi mới thực sự là người họ Tru. Cha tôi mang dòng máu lạ và để hoàn toàn được bên mẹ cha đã phải mang họ Tru. Dòng giống của cha được nối tiếp bằng tôi nhưng thứ hạt giống đó bị tước quyền nảy mầm trên đất tiên tổ. Ông nội họ Tru, mẹ họ Tru, cha tôi họ Tru và tôi cũng là người họ Tru.
“Những năm…Trên chiến trận miền nam…” – Một loạt những chuyện hiển hách của tổ tiên được kể ra. Đáng ra tôi không hề muốn nghe nhưng vì e sợ cây batoong sẽ gõ lên đầu mình tôi phải ngồi đấy. Thành khẩn. Lắng nghe. Cặp mắt chăm chú, hồ hởi và tỏ ra nôn nóng mỗi khi ông nội ngừng kể vì một cơn ho.
Hương cháy và tôi để mặc mình tan rữa theo màn hương.
Anh hùng. Thế nào mới là anh hùng đây? Xông pha chiến trường cứu lấy chủ tướng…Chặt đầu tướng giặc…Lấy xác giữ thẳng lá quốc kì…Hiến mình thành mồi lửa để đốt sạch chiến trường…Hay…Thế này, thế kia…Trên hết, một người hùng thì phải biết giết người và không ngại giết người. Không ai định tội sát nhân cho người hùng cả. Chiến tranh, đấy chỉ là sự suy vong của tính người. Họ thỏa sức bắn giết, chẻ xác nhau, để máu ngấm đỏ đất mẹ. Lựu đạn giã con dân da vàng thành thịt nhầy. Tổ Quốc chia đôi và hàn gắn bằng cuộc tắm máu không nương tay. Nỗi ăn năn của mỗi người họ là cái chết của những đồng chí, sự lở lét của giống nòi bởi ác nghiệp họ chuốc từ chiến tranh, hoặc rằng họ ngã xuống khi mà tính ác chưa nguôi và còn muốn giết người… Mọi trang sử đều là máu, bức họa đồ khuyết gốc, và là con cá chép hóa rồng từ thịt người. Thánh Phù Đổng, là anh hùng lịch sử cũng là nạn nhân của lịch sử. Một đứa trẻ bị ăn thịt tuổi thơ. Chiến thắng, cũng chỉ là Linh Sơn của Quỷ. Bọn họ giết nhau thê thảm để rồi điên loạn tìm xương cốt đồng bào trên bãi rác xương người. Vậy sao nhiều người vẫn luôn nhắc về những thứ tàn khốc với sự ngạo nghễ…Tôi quá xa thời đại của họ hay tôi không hiểu được họ…
Cái mẫu từ “Ngày xưa…” luôn làm tôi run sợ, như huyết thống dòng họ Tru mà tôi là kẻ phải kế thừa.
Giờ đây tôi muốn kết thúc trang viết của mình. Căn gác chật chội, cây đèn bàn luôn được tôi vặn nhỏ tới mức chỉ đủ nhìn. Ở đây. Tiếng sục sạo của một con chuột đói, tiếng quẫy mình của một con muỗi bay lạc vào lưới nhện, nhưng rõ ràng nhất vẫn là tiếng thì thầm của chính tôi với trang viết. Tôi chưa bao giờ mở đèn quá sáng. Ngay từ nhỏ tôi đã không ưa mặt trời rồi. Mỗi khi cúp điện, bóng đèn chợt tắt vì đứt dây tóc, nổ cầu chì hay gì đấy miễn là trong một khoảnh khắc nhỏ ánh sáng bị mất đi thì tôi là người vui nhất. Những kẻ quanh tôi, phần lớn là thế thường la toáng lên, rồi loay hoay gọi nhau như sợ rằng mình sẽ lạc mất khỏi thế gian. Riêng tôi ngồi (hoặc đứng) một chỗ, và thấy thanh thản. Tôi tạm vắng khỏi bọn họ trong lúc đấy. Vầng thái dương không mang đến tôi sự tin tưởng. Chính thứ ánh sáng rực rỡ từ cánh chim lửa làm hết thảy chúng ta nhầm lẫn. Chẳng gì quang vinh khi rèm tối buông dày, bình minh còn tàn chết chừng nào xác chết còn thống trị cõi trần gian. Thứ vây bám quanh mỗi người chỉ là một bó chỉ bùng nhùng với một đầu được gắn với cổ tay. Đầu còn lại không rõ nơi đâu. Loại chỉ này mỏng lắm, và trong suốt, có đứt cũng chẳng ai biết. Tự thao túng mình. Tôi căm thù chính tôi. Sẽ nhiều người còn ghi nhớ một tôi trong quá khứ là đứa trẻ ngoan, dễ bảo, chăm học và có nhiều bạn. Vài cô bạn học còn tỏ vẻ ngượng nghịu khi nhớ lại từng bị tôi bẹo má, đét mông. Những bức thư tình của tôi hẳn là họ còn giữ và cất cẩn thận trong cái hộc kéo mà chỉ họ có chìa khóa. Thật quá đỗi đẹp đẽ cho một ký ức tuổi hồng. Màn ảo thuật của tôi quá điêu luyện và các khán giả đều mắc lỡm. Tôi tủi nhục, mắc tội với chính tôi vì đã lừa dối quá nhiều người. Sẽ không hay gì nếu tôi tiết lộ cái tôi gốc của mình với họ. Không một ai tin rằng đấy là tôi. Họ sẽ pha trò với nhau và còn nghĩ rằng tôi có tố chất của một đạo diễn tiềm năng. Thôi nào, để yên thế đi. Gánh xiếc sẽ bị người ta ném trứng thối, bị dỡ đi, bị tẩy chay nếu không thể mua vui. Cây thánh giá nào sẽ xá tội cho tôi. Quờ quạng, cố tìm lấy một cuốn sách để tự trấn an mình, tôi trống rỗng hoàn toàn. Không còn sách nữa, chỉ có những bản án ghi tội mình. Tôi cầm bút lên và viết tiếp…
*
Tôi đỗ tốt nghiệp như bao đứa học sinh bình thường khác. Giờ đây, tôi phải thi đại học. Học viện G, nơi ông nội đã nghía từ trước. Chẳng lý do gì mà tôi lại từ chối nộp hồ sơ để thi vào đấy. Tôi thi khoa Lí Luận Chính Trị-Giáo Dục Công Dân. Tôi không chọn ngành này, đấy là chỉ thị trước mắt của ông nội. Tôi hoàn toàn nghe, hoàn toàn gật và hoàn toàn làm theo như đấy là kim chỉ Nam.
Thời gian này tôi viết ít hơn. Một phần vì lý do thi cử, mặt khác tôi bắt đầu e dè mẹ. Bà đã bắt đầu quan sát nhiều đến hoạt động của tôi. Phía dưới căn gác vốn rất lộn xộn bởi bàn ghế cũ, giường chiếu…Nhưng nay thì nó đã được sửa chữa lại. Mấy món đồ được dọn đi hết. Nơi đấy được kê tủ bàn mới, trở thành phòng riêng của tôi. Rõ ràng mẹ đã không nói trước với tôi ông nội sẽ sửa lại phòng. Ngày hôm đấy bà nhờ tôi chuyển quà cho một người họ hàng. Đường xa nên tôi phải đi từ sớm. Người họ hàng giữ tôi lại dùng bữa nên phải tối mịt tôi mới về đến nhà. Lúc trở về mọi thứ xong xuôi cả.
Căn gác vẫn còn. Tôi tỏ ra hạnh phúc vì sự quan tâm từ ông và mẹ. Diễn comedy thì quá đơn giản. Ông nội và mẹ là các khán giả mà rất khó để tôi có thể chọc cười chỉ bằng điệu bộ hay giọng nói. Ông nội lúc vui lắm chỉ nhếch miệng cười. Thế nhưng tôi lại không nghĩ họ có thể nhìn ra vai diễn của mình, bởi họ đã gật gù rồi nói sang chuyện khác. Tôi được an toàn.
Khách nhà tôi gần đây rất nhiều. Hầu hết đều là người đến mua bình gốm của ông nội. Số còn lại thì là hàng xóm, hoặc một ai đấy từ quê lên chơi. Nhiều người là bạn đồng cốt của ông nội. Mùi người nồng nặc quanh nhà. Điều tôi khó chịu hơn là họ còn mang theo con cháu của mình và để mặc chúng chạy nhảy quanh nhà. Tôi chưa bao giờ sống như một đứa trẻ và có lẽ vì thế mà tôi không ưa gì trẻ con. Mấy trò đùa nghịch, sự hồn nhiên của chúng làm tôi nhớ đến những trò ma của tên chín đuôi, và chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ để tôi thấy ê chề, kinh tởm chính tôi và không cách nào khác tôi phải trốn lên căn gác, viết…
“Học viện G rất danh giá. Cháu phải vào bằng được.” – Không biết đã bao nhiêu lần ông nội nói với tôi như vậy. Sau đấy ông nội lại nhắc về tằng tổ họ Tru. Tôi họ Tru. Và người họ Tru…
Trong những ngày ôn thi, ông nội ngồi dưới căn gác, vừa đi vừa gõ batoong xuống đất. Mẹ tôi cũng hay lên phòng với lý do là mang hoa quả hoặc súp để tôi bồi bổ. Họ không nói chuyện ồn ào, thậm chí chẳng nói lời nào với nhau. Những gì họ làm chỉ là đi lại. Những tiếng động nhỏ, và tôi nghe thấy hết. Mỗi bước chân dường như lúc nào cũng có thể đặt lên cầu thang, rồi chầm chậm leo lên từng bậc. Tiếng gậy batoong luôn báo trước với tôi rằng ông nội còn dưới đó. Cái nắp căn gác chẳng đủ chắc chắn để cản nổi ai đâu. Vai tôi trĩu nặng. Cuốn sách tham khảo, bài tập toán, tài liệu lịch sử, đề thi năm…Tôi muốn vứt béng mấy thứ này đi để cầm lấy cây bút và viết. Đầu gậy batoong, và ông nội…Ngón tay cầm bút không nghe theo lời tôi nữa. Chúng phản trắc lại tôi bằng cách ghi ra lời giải của bài toán. “Ông nội sẽ lên, bất cứ lúc nào đấy…” – Tiếng nói thì thầm bên tai. Thật đúng là một chuyện đùa.
“Lúc nào cũng có thể lên…Lúc nào cũng có thể lên…”
Tôi ngồi trên gác thâu đêm để giữ lấy án đường của mình. Hôm sau, tôi rời phòng cùng cái quần nhem nhuốc cứt đái.
Khách khứa vẫn lui tới nhà tôi. Tôi viện cớ ôn thi để không phải xuống gặp họ. Ông nội không phàn nàn, nhưng không có nghĩa ông sẽ để tôi yên thân. Buồng dưới căn gác không lúc nào vắng đi tiếng người. Đèn sáng choang. Trên căn gác của tôi thì ảm đạm ánh sáng. Ở đấy, không ông nội thì là mẹ. Họ thay trực luân phiên và chỉ đợi một phút sơ sảy của tôi…
Những ngày ôn thi đằng đẵng kéo dài như thế. Sau cùng tôi cũng hoàn thành việc thi cử. Thời gian tiếp theo chỉ là chờ đợi.
*
Một thời gian dài chờ kết quả, không gặp gỡ ai và chỉ la cà các hiệu sách cũ tôi thấy thật thanh thản. Mấy đứa bạn vẫn thường lui tới nhà tôi nhưng thật may rằng tôi luôn vắng nhà. Đời người sẽ bi thảm đến đâu nếu không có lấy một người bạn. Ngay đến Yozo còn cần Horiki (5). Tôi thì không. Tôi không mong đợi gì dù một miếng nhỏ của quả đào tiên. Bạn. Tôi không thiếu, thậm chí còn nhiều. Tôi sợ họ. Thực sự thế. Mỗi khi đi ngòai đường, ngồi trên xe Bus, đứng ở quầy sách cũ, mua đồ trong siêu thị…Tôi luôn đội mũ và đeo khẩu trang như cách để không ai nhận ra mình. Khi nhìn thấy một người quen, ở đây là bạn cũ, tôi thường hốt hoảng. Sợ rằng kẻ đó sẽ nhận ra dù là cái vẫy tay chào theo lối người qua đường. Còn gì khiếp đảm bằng việc kẻ đó sẽ gọi những bạn bè của mình mà tôi cũng quen lại. Lôi kéo tôi lại. Quàng vai, chào hỏi rồi với sự hồ hởi từng đứa bắt tôi phải chường mặt ra ngoài. Tôi nào biết phải chào đón họ thế nào. Ngay đến việc nhớ ra họ là ai tôi đã phải vắt óc rồi. Mỗi cuộc gặp như vậy tôi thường chào lại họ, rồi thì họ làm gì tôi nhái theo. Sau đấy tôi vờ sửng sốt vì một sự kiện đằng xa để họ tập trung về đó. Cũng có khi tôi tự làm rơi đồ, buộc lại dây giầy. Chỉ cần họ tạm quên tôi đi một lúc, tôi sẽ có thời gian để nhớ lại họ. Tên của họ, thói quen, gia cảnh, câu cửa miệng, cái vảy ngược… Tôi chưa nghĩ mình sẽ thực sự kết bạn với ai ngoài những cuốn sách. Nhưng đấy phải là sách của những người đã chết hàng thế kỉ.
Sách của người chết, đấy mới là điều tôi cần. Công tội của họ đã được định đoạt chán chê. Họ là tri kỉ, cũng là ân sư của tôi. Để đến được với họ tôi cần một cây bút để viết. Con người sinh ra từ đất, và sẽ thành đất. Những cái chết bất tử. Kafka, Doxtoevxki, Joyce, Michelet, Blake…Họ không sống như một con người. Đấy là những linh hồn còn nặng lòng với loài người. Mang cái xác dễ hoại thư, họ cầm lấy bút và dốc kiệt máu mình, xối thành thứ mực thiêng. Họ liều mạng để viết. Liều mạng để hoàn thành sứ mệnh đời mình. Những hình thái mê cung, một thực thể sương mù, con đường muôn lối cụt, dải khăn tang bằng văn tự, loài người trong khán phòng không con người hay chăng mọi điều đấy chỉ là sự gột rửa lại chân lý. Không thứ minh triết nào sáng suốt bằng sự đọa đày trong tội lỗi. Đừng nhắc về ánh sáng hay tối tăm vì ngày tạo dựng đầu tiên đã qua rồi. Vừa đi, tôi vừa lẩm bẩm :
“Nhà tu hành không mặc áo.”
“Nhà tu hành không mặc quần.”
“Nhà tu hành đang xấu hổ…”
Về đến nhà, tôi thấy cửa mở. Như thường lệ, tôi nói to để ông nội và mẹ biết mình đã về. Nhà cửa từ trong ra ngoài vẫn sáng sủa bởi nhiều ngọn đèn. Sàn nhà sạch, bếp sạch, một mảnh rác cũng chẳng thấy. Trong nhà không có người nhưng phòng nào cũng sáng đèn. Cửa mọi gian buồng cũng mở toang như có khách. Phòng ông nội, phòng mẹ, rồi thì nhà tắm, buồng khách…đều như vậy. Điều này thật không đúng. Ông nội dù thích sự sáng sủa nhưng chưa bao giờ rời khỏi phòng mà vẫn để đèn. Đi trong màn ánh sáng dày thành từng lớp, tôi đi lên phòng mình. Đứng trước cửa, tôi sững sờ vì ngọn đèn sáng rực tỏa từ căn gác của mình. Ông nội ngồi ở dưới nhà. Dường như vừa tan cuộc họp trên phường nên ông vẫn khoác trang phục cự chiến binh. Những huân chương đánh Mỹ hạng nhất lập lòe ngực áo như đèn đom đóm. Cây batoong được nắm chặt lại khi ông nhìn thấy tôi. Ông gọi tôi vào. Cái khuôn mặt già nua, mốc meo dần đi vì tuổi tác này luôn khiến tôi phải nhìn tránh đi giờ đây còn gớm ghiếc hơn khi giận giữ.
“Cháu đã trượt …” – Ông nội nói thế.
“Cháu xin lỗ…” – “ Không.” – Ông nội cắt ngang lời tôi – “Đây không còn là việc ai có lỗi nữa rồi.”
“Cháu đang toan tính cái quái gì vậy…”
Tiếng quát kéo dài. Chưa bao giờ tôi thấy ông giận dữ như vậy. Con mắt ông đục ngầu, trợn trừng như muốn trút mọi thịnh nộ lên tôi. Trong những trường hợp thế này, tôi sẽ phải cầu cạnh đến lũ kẻ tôi. Một vai diễn lãng tử hồi đầu và tôi sẽ thoát nạn. Cùng lắm chỉ bị quát mắng vài ngày hoặc cấm túc một tuần. Lời khẩn cầu của tôi bị chặn ngang và đứt đoạn hoàn toàn. Ông nội lấy ra nhiều mảnh giấy nhàu nát, ghi chằng chịt chữ. Những dấu gạch xóa lem nhem, chữ nọ đè lên chữ kia, các gạch đầu dòng, rồi một chữ thật lớn chồi lên, in đậm như vào trang giấy. Chữ của tôi. Đúng là thế. Những bản án tôi viết cho mình, giờ đây đều lộ ra ngoài. Ông nội đọc từng chữ trên giấy bằng ngữ giọng giận dữ đến khàn đặc. Đâu chỉ vài trang giấy. Ông nội lấy từ dưới bàn một quyển vở A4 khổ 200 trang. Và cũng như vậy, ông nội đọc chúng lên. Những lời đọc như hóa thép và vang ồ ồ.
Còn gì thê thảm hơn lúc này. Tay chân tôi tê cứng và chôn lại một chỗ. Những thứ này dù đã có lúc tôi muốn công khai ra để một ai đấy biết được tôi đã thống khổ thế nào khi trót mang kiếp người. Nhưng không phải thế này. Tiếng đọc của ông nội chứa đầy phẫn uất, chữ bị bẻ gãy, bị nát nhừ trong họng ông nội. Và khi ông nội nhả thành tiếng đọc. tôi quên khuấy đi mình đang ở đâu. Giờ đây, đầu óc tôi quay cuồng cả lên. Mấy tiếng nghe như vạn quả Đại Hồng Chung được đánh cùng lúc, như tiếng niệm Định Tâm Chú. Quỷ Môn Quan được khai mở và hàng vạn ác hồn tìm đến tôi để thỏa lòng khát máu…Người ông này không chịu dừng, và tiếp tục đọc bằng hết tội trạng của tôi. Tiếng đọc lớn, và thật vang hệt như ông muốn ai cũng nghe thấy được. Từng trang cứ thế mở. Giấy đơn, giấy đúp, vở ô ly, vở kẻ ngang, sổ nhật kí. Chữ được quật từ giấy và đốt kiệt quệ. Tiếng đọc dồn nhau không ngắt không nghỉ tiếng tràn lên tiếng ồ ạt đè nghiến rồi lại ồ ạt từng lớp từng lớp một như đội quân Nam Hán. Chiếc ghế tam cấp bị đá đổ, và tôi đang chới với dưới sợi thòng lọng…
“Dừng lại đi…Dừng lại đi…” – Tôi nói lớn. Và quỳ mọp xuống.
“Những thứ này là gì….”
Tôi im lặng.
“Ông không thể hiểu nổi cháu đang làm cái quái gì. Mấy thứ này đều từ phòng cháu, có đúng là nét chữ của cháu…”
“Chính là chữ của cháu.” – Tôi bật khỏi thế quỳ và đứng ngay ngắn trước mặt ông. Lần đầu tiên tôi đứng vững được như thế trước ông mình.
“Ai đã bắt cháu làm thế này.”
“Không ai cả.”
“Nói thật với ông.”
“Chính cháu đã viết. Phải, chính là cháu!”
“Đống giấy lộn này chỉ toàn cặn bã. Một con người, theo đúng nghĩa không thể thế này được. Nói với ông. Tru Sa! Thành thật với ông…”
“Cháu chỉ đang tự cứu mình và cứu cả ông nữa.”
“Cứu ư? Vết xe đã đổ thì đừng đạp lên.”
“Cha cháu là ai?”
“Là con của ta, chồng mẹ cháu và là cha cháu.”
“Cha cháu họ gì?”
“Họ Tru.”
“Cha cháu, không họ Tru và không họ gì hết. Kẻ không nương náu!”
“Không. Không tốt tí nào, người đã chết từ lâu lắm rồi…Lâu lắm rồi…”
“Cháu sẽ viết, và sẽ còn viết…”
Miệng ông nội mở ngoác ra. Răng ông còn đầy đủ, và đều xỉn vàng, ố đen. Dường như ông nội muốn cười lên, nhưng không thành tiếng. Hàm răng nghiến lại ken két. Có cái nào vỡ không. Chịu. Sau một câu nói mà tôi nghe không rõ, ông nội giơ cao cây ba toong. Một cú đánh ngay đỉnh đầu tôi. Câu hỏi của ông nội vẫn vậy và tôi tiếp tục chọc điên ông bằng câu trả lời của mình. Đây là lần đầu tiên ông nội đánh tôi mạnh và túi bụi đến như vậy. Mồ hôi ông vã ra, chảy cả xuống mặt tôi. Một vài tấm huân chương sút khỏi ngực và rơi xuống đầu tôi. Vừa nói, tôi vừa cười “Huân chương đánh người hạng nhất, sao vàng, anh hùng lao động ha…ha…” Gậy giáng mạnh thêm một lực. Gậy be bét máu. Cả máu tươi lẫn máu khô. Nhìn ra ngoài cửa, tôi thấy mẹ đứng đấy. Bà nép vào một bên cánh và len lén nhìn tôi.
Một tiếng “Rắc…” vang lên. Cây batoong gẫy làm hai. Tôi lịm đi.
*
Sau trận đòn nhừ tử tôi được đưa vào nhà Vòng để sám lỗi với tổ tiên. Trận đòn không để lại thương tật gì trầm trọng dù tôi đã bị đánh ngất. Người tôi chỉ hơi ê ẩm. Tôi bị bỏ đói và chỉ được uống nước. Nước rất lạnh và buốt. Tôi nghĩ chúng được rót ra từ một chai nước trong tủ lạnh. Các ngọn đèn trong nhà Vòng đều được bật sáng. Từ lúc tôi vào đây chúng đã bật, và giờ vẫn thế. Khác với mọi khi, mấy cái bóng đèn được thay mới. Loại bóng đèn vàng, với công suất lớn tới mức tôi luôn bị đổ mồ hôi và mất nước.
Cửa nhà Vòng bị khóa nhiều lớp. Ông nội là người giữ chìa. Hàng ngày ông vẫn vào nhà Vòng, nhưng không vào trong. Chỉ đi lại bên ngoài rồi hỏi vọng vào. Cây ba toong của ông được nối dài lại bằng một đoạn thép ruột đặc. Tiếng batoong gõ xuống đất nghe bong bong, hệt như người ta đánh cồng. Ông nội vẫn mong đợi một lời nhận lỗi từ tôi. Có lẽ rằng đây là hiện thực dối trá nhất mà chưa bao giờ ông nghĩ mình sẽ vướng vào. Tôi đây, một sự ngoại lệ của dòng họ Tru. Như ông nội nói, cha tôi đã mắc tội với tiên tổ vì chết quá trẻ. Bây giờ thì là tôi. Có lẽ rằng, khi mẹ thụ thai tôi, bà đã mang trong mình những quả trứng định mệnh.(6)
Tôi đã có giấy báo từ học viện G. Nghĩa là tôi đã đỗ, nhưng điều gì đã khiến ông nội nghĩ rằng tôi đã thất bại trong kì thi này. Mẹ nói tôi phải nghe lời ông nội.
“Ông nội đang giận lắm. Con phải ngoan vào.” – Mẹ nói thế đấy.
“Cha con ngoan lắm phải không?”
Mẹ không nói và tôi cũng không nghĩ bà sẽ thành thật.
“Cha không ngoan đâu. Con tin chắc. Cha đã chết.”
Mẹ tránh ánh nhìn của tôi. Lời bà nói vẫn chỉ thế. Tôi không hỏi về chuyện căn gác nữa, giờ đây nó không quan trọng. Diễn trò, điều này cũng vô nghĩa rồi. Các khuôn mặt già cỗi đang nhìn tôi qua khung ảnh. Họ giận dữ, họ trợn trừng, họ muốn xin Ngọc Đế cấp phép để được hiện hữu trên trần gian giáng cơn thịnh thộ xuống đứa nghịch tổ là tôi. Tôi sẽ không tránh họ. Quỳ mọp giữa nhà Vòng, tôi nhìn vào gian thờ. Gương mặt cha lẻ loi. Tôi cũng lẻ loi. Tôi và cha, đều là kẻ không nương náu.
Mấy ngày sau. Tôi nghe thấy tiếng ầm ĩ bên ngoài. Có vẻ như rất nhiều người đến nhà tôi. Rồi sau đấy tôi nghe thấy tiếng búa, đục, máy khoan, rồi tiếng hô hào chuyển đồ đạc. Khi im ắng hơn tôi nghe thấy tiếng mặc cả của một bà đồng nát. Tôi chưa kịp nghe họ kì kèo thế nào thì tiếng búa, đục, máy khoan lại vang lên và trấn áp tất cả. Mấy người thợ đi lại rầm rầm và đang khiêng theo thứ gì đấy.
*
Ông nội khóa thêm một lớp khóa phía ngoài. Tiếng đấm cửa vẫn bình bịch, tôi đòi ra. Sau ổ khóa mới, ông bảo mẹ mang xích cùng một ổ khóa khác để xiết chặt cách cửa. Những quả đấm không hiệu lực, tiếng đói tự do, hoặc chỉ là một cấp bách khi quá mót tiểu. Mẹ tôi truyền hơi mình qua kẽ cửa, bảo rằng tôi phải ngoan, phải biết nghe lời. Ông nội đập đầu batoong vào mặt cửa, quát lớn như tiếng hành quân lịch sử. Tôi húc đầu vào cánh cửa, vết thương chưa lành khạc máu và phủ đỏ băng ca.
Ở yên đấy, nhốt nó vào trong. Chưa phải lúc này, đồ con vật khó thuần. Tiếng ông nội nói với mẹ. Tôi bớt hung hăng, cái nóng của chục ngọn đèn làm tôi kiệt sức. Muốn vớ cây bút và giấy, tôi vô vọng, đạp quẫy như ăn vạ những bóng ma trong nhà thờ. Chiều tối, mẹ tôi vào và tiếp tục răn đe tôi phải ngoan, nhận lỗi rằng mình hư và bị bạn xấu lôi kéo, đầu độc. Tôi hỏi mẹ rằng thế nào là lẽ phải. Mẹ ngần ngừ, đôi mắt bà ngần ngại. Trong lúc nhìn tôi, quãng nửa giây, mẹ định đánh động gì đấy nhưng tiếng batoong gõ xuống nền đất đã khiến bà sực tỉnh. Cái mỉm cười, mẹ nhắn tôi “Quay đầu là bờ.” Tôi hỏi mẹ “Tại sao thế này?” Mẹ đã khuất sau cánh cửa. Tiếng tra khóa, xiếng xích lẻng xẻng. Mẹ theo ông nội lên gác, tôi đoán thế. Nếu ông nội đợi mẹ ở lối cầu thang.
*
Viết. Giờ đây tôi muốn viết.
Cây diêm cuối cùng trong đêm giáng sinh. Tôi cần viết ra. Trước khi những tội chứng bị cháy đen và tiêu biến khỏi hồng trần.
Tôi đã tìm thấy cây bút. Tôi cắn nát đầu bút để thấy được ngòi. Mực đổ ra. Mực tươi nóng. Tôi sẽ không lãng phí giọt nào.

Hà Nội 2014

(1) Chi tiết trong tiểu thuyết Đi Tìm Nhân Vật của Tạ Duy Anh
(2) Trong tiểu thuyết Ông Già Và Biển Cả của Hemingway
(3) Tiểu thuyết của George Orwel
(4) Nơi các oan hồn sau khi chết bị giải đến và soi chiếu tội lỗi lúc còn sống.
(5) Nhân vật trong tiểu thuyết Mất Tư Cách Làm Người của Dazai Osamu
(6) Tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov

Sao Băng…

hacthanhhoa

Em còn bóng mát đầu sông
Nắng đi trải lụa nằm hong tơ chiều
Bụi mờ lạc nẻo chân xiêu
Hàng cây lượn khói tiêu điều chưa tan

Em còn tươi búp ngọc lan
Hương bay từ cõi thiên đường nào xa
Kiếp trần trơ một hồn hoa
Thương mây trắng những ngày qua biển sầu

Em còn vầng nguyệt đêm thâu
Từ nao nao ánh hỏa châu cuối trời
Chim qua trăng sáng tuyệt vời
Chợt bâng khuâng tiếc thương đời sao băng


Hạc Thành Hoa

THÁNG SÁU TRỜI MƯA

nguyensa

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Đôi mắt em anh xin đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Sao lại sợ đêm khuya, sao lại e trời sáng…

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa
Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu
Có gió heo may và nắng vàng rất nhẹ

Và hãy nói năng những lời vô nghĩa
Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai
Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt
Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan
Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn
Nếu em sợ thời gian dài vô tận

Tháng sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa?
Anh vẫn xin mưa phong toả đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu

NGUYÊN SA

TIẾNG SÓNG

truongvu

Nocturne
Tranh Võ Đình: Nocturne, chất liệu acrylic trên ván ép,
thực hiện vào thập niên 1980, Sưu tập của gia đình họa sĩ Trương Vũ.

Chiều Thứ Sáu 29 tháng 5, Hoàng Ngọc Hoà đón tôi với chị Hoàng Bắc từ phi trường West Palm Beach, Florida về nhà anh Võ Đình. Một căn nhà nhỏ xinh xắn xung quanh là vườn cây um tùm khá rộng. Khi theo chị Lai Hồng vào phòng, thấy anh nằm yên, thở mạnh, mắt nhắm. Gọi, không trả lời. Mắt không mở. Một chút cử động nơi môi. Khi nắm tay, anh bóp nhẹ. Chúng tôi nói vài lời với anh, coi như anh vẫn nghe, vẫn biết. Và, im lặng.

Anh được đưa về nhà hôm trước, Thứ Năm ngày 28, sau thời gian nằm trong Trung tâm Phục hồi và Dưỡng lão ManorCare, từ tháng 10 năm ngoái. Mỗi ngày, chị Lai Hồng vào từ chiều, ngủ lại đêm trong đó. Chị chuyện trò, chăm sóc, kể chuyện, đọc emails, đọc sách cho anh nghe, giúp bón anh ăn. Ban ngày, chị về nhà mấy tiếng đồng hồ rồi trở lại.

Tuần trước đây, anh viết xuống vài chữ ngỏ ý muốn về nhà. Anh muốn hưởng những ngày cuối cùng trong nhà mình. Anh muốn nghe Kinh Cầu an, và Bát Nhã Tâm Kinh. Về thăm anh, ngoài chúng tôi, có cháu Quang Minh (con trai chị Lai Hồng), anh Đinh Cường và Eddie Ramsburg. Hai người con gái của anh là Phượng Nam và Linh Giang, ngày mai Thứ Bảy đến. Một vài bạn bè thân, như anh chị Trần Đình Hoành/Túy Phượng, trên đường lái xe từ Virginia. Những người bà con, như anh Phan Nhật Nam, đến vào tuần tới.

Eddie học vẽ với anh Võ Đình từ những ngày anh còn ở trên vùng núi Maryland, và hơn mười năm trước đã lái U-Haul chở đồ đạc của anh chị từ Maryland về Florida. Hiện thời Eddie dạy vẽ ở Frederick, Maryland, và cũng là một họa sĩ có nhiều triển lãm cá nhân, với nhiều đam mê. Khi trở ra ngồi ở phòng khách, nói chuyện và xem những hình chụp tranh của Eddie, tôi thấy có chút bóng dáng Võ Đình trong đó. Dễ hiểu, vì Eddie được xem là một đệ tử ruột của anh và rất kính trọng anh.

Tôi không nhớ chính xác lần đầu tiên tôi gặp anh Võ Đình là vào lúc nào, ở nơi nào. Nhưng tôi nhớ lúc đó anh đang nói về những bức tranh anh vẽ trong thời gian anh ở với cháu Phượng Nam khi cháu chỉ mới hai, ba tuổi. Buổi tối đó, anh ngâm Ngậm Ngùi của Huy Cận. Giọng anh mạnh, ấm. Rất đặc biệt. Không giống một giọng ngâm nào tôi đã từng nghe. Tôi cũng không nhớ là từ lúc nào anh trở thành một bạn vong niên của tôi, chắc cũng gần 30 năm. Rồi, năm sáu năm sau, anh trở thành một người thân trong gia đình. Mỗi lần anh đến, má tôi kho cho anh món cá rất đặc biệt của bà. Trong nhà tôi, anh đã ngâm rất nhiều thơ. Tôi thích nhất khi anh ngâm Tống Biệt Hành của Thâm Tâm.

Bao nhiêu biến đổi trong đời anh, đời tôi, kể từ những ngày mới quen nhau. Bao nhiêu chuyện, truyện anh đã viết. Bao nhiêu tranh anh đã vẽ. Bao nhiêu sách anh đã dịch, đã minh họa, đã xuất bản. Bao cuộc tình đến, rồi đi. Bao sóng, gió. Bao thăng, trầm! Bao lặng lẽ… Có những lúc, anh ngồi thuyết trình, nói mê man, sang sảng, vài trăm người chăm chú lắng nghe. Rồi có lúc, nhìn quanh, ngoài những bạn trẻ của anh vốn hài hòa với cuộc đời, như Đinh Cường, như Văn Hưng, như Đặng Đình Khiết, như Ngô Vương Toại, như Giang Hữu Tuyên, như Hoàng Ngọc Hoà, hay tôi, không biết có mấy ai gật đầu với anh.

Anh là một người khó tánh (có người gọi đùa là “khó tiền sử”), hầu như ai cũng biết. Nhưng anh cũng là một người rất dễ tính. Điều đó hầu như ai cũng biết. Chỉ khác là cái anh khó với cái anh dễ, thường không giống với cái nên dễ, nên khó trong thường tình. Với tôi, những cái khó tánh của anh đã gây nên không biết bao tranh cãi giữa anh với tôi, nhưng cũng chính từ đó mà tôi gần anh hơn, thương và kính trọng hơn. Ít nhiều, chính cái khó tánh đó đã tạo cho anh một thế giới riêng mà từ đó anh mang đến những cống hiến lớn cho văn học, nghệ thuật và cho cuộc đời.

Anh là một tác giả thành tựu, trong cả hai lãnh vực văn học và hội họa. Công trình của anh và giá trị văn học hay nghệ thuật trong tác phẩm của anh được ghi nhận và phân tích nhiều trong giới phê bình.

Võ Đình sinh năm 1933, tại Huế, rời quê hương rất sớm, vào lúc 17 tuổi, và sống luôn ở Pháp, rồi ở Mỹ. Anh chỉ về thăm Việt Nam vài lần, mỗi lần trong thời hạn rất ngắn. Rất giống hoàn cảnh của lớp trẻ Việt Nam thuộc thế hệ một rưỡi hay thứ hai của cộng đồng Việt hiện nay.

Văn của Võ Đình không dễ đọc, tranh của Võ Đình không dễ xem. Bởi luôn hàm chứa những phức tạp của đời sống, những độ sâu trong suy tưởng, và những rung động của con người. Đọc văn anh, xem tranh anh, hay ngồi nói chuyện với anh, chúng ta rất dễ thấy nơi con người thoạt nhìn có vẻ bình dị, ảnh hưởng sâu đậm của ba nền văn hoá Việt, Pháp, Mỹ, và biểu lộ những ảnh hưởng đó một cách tự nhiên, không mặc cảm, khi khen như khi chê. Anh thích nhìn con người hay xã hội trên khía cạnh văn hóa, và nhìn sự vật, cây cỏ ở cái đẹp mà tạo hóa mang lại, dù đó chỉ là một con nhái bén hay những thứ “rau cỏ hèn mọn”.

Anh đề cao tính sáng tạo, rất dị ứng với những cách nhìn hời hợt, những cách nhìn theo thói quen, những cách lập đi lập lại mà anh cho là phát sinh từ sự lười biếng trong suy nghĩ. Anh luôn đề cao sự đam mê, hay cách sống hết lòng, cho một niềm tin, hay vì một mục tiêu nào đó, cho dù mục tiêu đó chỉ là để…chơi. Tỉ như, khi anh viết về thú chơi xe lửa của một hưu trí viên 65 tuổi. Chơi, nhưng chơi…thiệt.

Anh trân trọng công trình của người khác, nếu đó là một công trình có chất lượng hay được thực hiện hết lòng. Anh có thể nói say sưa, qua ngòi viết, hay qua những câu chuyện trao đổi với bạn bè, về tranh của Cézanne, của Gauguin, Van Gogh, hay của Đỗ Quang Em; hay bài phê bình của Nguyễn Hưng Quốc, truyện ngắn của Võ Phiến, của Trần Vũ… Nói với tất cả sự trân trọng, như đã may mắn nhận được những món quà thật quí giá. Vào những lúc như vậy, qua những nhắc nhở có vẻ như vô tình đó, người đọc hay người đối thoại có thể chợt nhận ra sự may mắn của mình vì đã có biết bao nhiêu món quà quí giá mà đời sống đã mang lại, mà chính những người mang lại chưa chắc đã được chút gì may mắn cho họ, ngoài tài năng và lòng đam mê. Van Gogh chẳng hạn, ông cống hiến cho chúng ta bao nhiêu tác phẩm tuyệt vời, nhưng cho đến chết ông sống khổ cực, chỉ bán được một bức tranh, và cuộc đời ông là một bi kịch lớn.

Khi viết về Võ Đình, có một yếu tố nổi bật không thể không nói đến. Đó là yếu tố Việt Nam trong con người anh, biểu lộ rõ nét trong tác phẩm hay trong đời sống hàng ngày. Anh viết tiếng Anh rất giỏi, dĩ nhiên, vì anh lớn lên và sống gần như cả đời ở Mỹ. Và tiếng Pháp cũng giỏi vì anh đã học ở Pháp. Nhưng tiếng Việt của anh, khi anh viết hay khi anh nói, nếu không biết không ai dám nghĩ rằng kể từ năm 17 tuổi cho đến quá tuổi tri thiên mệnh, cho đến những ngày cuối cùng, anh chỉ sống ở Việt Nam tổng cộng có vài tháng. Không phải chỉ hay thôi, nó đạt đến phần vi tế nhất của ngôn ngữ mà những nhà văn tài hoa và khó tánh nổi tiếng về cách dùng tiếng Việt cũng phải khâm phục.

Anh mê và hiểu biết sâu sắc ca dao Việt Nam. Khi sống hay khi viết, anh thường nghĩ đến từng câu, nhập vào thật đúng lúc của nó. Chẵng hạn, sống ở Florida, nước Mỹ, nhưng khi nhìn thấy một con nhái nằm thù lu trong mấy cái lá, anh nhớ đến một câu ca dao thật rầu: Chiều chiều bắt nhái cắm câu/ Nhái kêu cái ẹo, thảm sầu nhái ơi.

Anh hiểu biết rất rõ lịch sử Việt Nam, nhưng không chỉ dừng lại ở hiểu biết, anh sống với những thăng trầm của lịch sử. Anh cảm nhận sâu sắc về cuộc Nam tiến, nhưng không chỉ dừng lại ở nét hùng tráng về công trình mở mang bờ cõi, mà anh cảm thông thật sự tâm trạng, đời sống những con người bình thường, cô đơn, vật lộn hàng ngày với thiên nhiên, khi được đẩy vào những vùng đất xa xôi ở miền Nam đang còn rất hoang dại. Vì thế, anh đã viết với tất cả sự ngưỡng mộ chân tình truyện ngắn Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc mà anh cho là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Về lịch sử Nam tiến, anh ngưỡng mộ những chiến thắng, nhưng bên cạnh đó, anh đưa ra những trách móc tế nhị, trách móc về cách đối xử không đẹp của vua chúa Việt với những người Chiêm thất trận, như đã giết vua người, lại còn rắp tâm chiếm vợ vua người, để đến nỗi vương phi Mị Ê của Chiêm Thành, quấn chiên, lăn xuống sông tự tử.

Trong đời sống hàng ngày và trong tác phẩm, Võ Đình thường để tự mình hụp lặn vào những tháng ngày đen tối nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Cách đây 36 năm, tức hai năm trước khi cuộc chiến chấm dứt, vào thời kỳ sôi động nhất, anh trở về thăm quê hương lần đầu. Trong một bài viết sau đó, anh cho biết, anh gặp một vũng nước mà anh có cảm giác như chính đó là vũng nước khi còn bé anh thường đến và đùa nghịch trên đó. Anh cũng cho biết, khi đi lại trên những con đường ở Huế mà anh từng đi lại vào những ngày thơ ấu, anh có những cảm giác rất mạnh, rất thật, như chính anh đã đụng vào những hồn ma đang đi, đang chạy xung quanh, hồn ma của những con người vô tội dìu dắt nhau chạy tán loạn vào những ngày kinh thành thất thủ gần một trăm năm trước.

Thời gian đó, ở Mỹ, anh sống trong một căn nhà cũ, trên một vùng núi ở Maryland, gọi tên là Stonevale, Thạch Lũng. Xung quanh nhà có một hàng rào dài làm bằng những miếng đá dẹp chồng chất lên nhau, do những người nô lệ làm nên từ hơn hai trăm năm trước. Tôi có đến thăm anh ở đó, vài năm sau chuyến thăm quê hương của anh. Một người thân của anh có kể lại, khi đón anh trở về, chị có linh cảm lạ lùng là dường như có một vài bóng ma đã theo anh từ Việt Nam trở về và đang cùng anh bước vào nhà.

Võ Đình thích sống gần thiên nhiên. Ngoài mê say vẽ, viết và đọc sách, anh thích làm lụng và nhìn ngắm cỏ cây, sống điều độ và ăn uống thanh đạm. Anh rất khỏe mạnh, hơn nhiều người cùng tuổi. Cách đây khoảng hơn hai năm, anh bỗng yếu đi hẵn. Đi không vững, rất dễ té, và mắt thường bị chói ánh sáng. Anh đi bác sĩ thuờng xuyên, và có khi vào Trung tâm Phục hồi, ban đầu ngắn hạn rồi ở dài hạn, nhưng bác sĩ không tìm ra đúng bệnh. Chỉ mới đây, giữa tháng hai, bác sĩ chuyên khoa não cho biết anh bị chứng PSP (Progressive Supranuclear Palsy), một loại suy thoái não chưa có thuốc chữa. Anh phải vào ở hẳn trong khu dài hạn. Ngày càng yếu đi.

Có nhiều người đàn bà đã đi qua đời anh, nhưng tôi nghĩ, cuộc nhân duyên sau cùng, với chị Lai Hồng, chính thức khởi đầu từ 16 năm trước đây và có thể đã bắt nguồn từ lâu lắm, là mối nhân duyên đem lại sự bình an nhất trong đời anh. Trong cuộc nhân duyên này, anh tìm được sự chia xẻ về nguồn cội, về chữ nghĩa, về nghệ thuật, về tương kính. Và, rất khó để không nhận thấy là anh đã nhận được một chăm sóc tận tình, một sự thông cảm và kiên nhẫn gần như vượt quá khả năng của con người. Nỗi lo sợ lớn nhất của người thân, bạn bè, và cả nhân viên Trung tâm ManorCare, là chị có thể quỵ xuống trước.

Trưa Thứ Bảy, 30 tháng 5, chúng tôi dự lễ Cầu an tại nhà anh do hai ni cô Chùa Lộc Uyển chủ trì cùng với anh chị Nguyễn Trà/Thanh Trúc của Hội Phật giáo Nam Florida và một số đạo hữu. Cả gia đình Hòa đều có mặt. Sau đó, Đinh Cường và anh Diệp Bảo Chương, bạn của Cường và anh chị Võ Đình, đến. Phượng Nam và Linh Giang từ Maryland cũng đến ngay sau đó. Phượng Nam và Linh Giang là con gái của anh Đình với hai người vợ Mỹ. Cũng đã hơn 15 năm tôi mới gặp lại Linh Giang và hơn 25 năm gặp lại Phượng Nam. Các cháu không nói được tiếng Việt, và với những ai không biết, khi gặp đều nghĩ đây là những người Mỹ hoàn toàn.

Phượng Nam nổi tiếng do một bức tranh anh vẽ năm cháu khoảng bốn tuổi, trong chiếc áo dài Việt Nam màu vàng, tay cầm một chong chóng nhỏ. Bức tranh được tổ chức UNICEF chọn làm postcard chính thức phát hành nhân Ngày Trẻ Em Thế Giới. Tôi rất mừng thấy Phượng Nam đến. Phượng Nam hay xung khắc với papa và chắc cũng lâu lắm rồi không gặp papa. Mọi người đều nói có lẽ tính khí của Phượng Nam quá giống anh.

Linh Giang hơi khác chị, rất dịu dàng. Khi mới lên đại học, cháu có học toán với tôi, được một buổi rồi thôi. Khi gặp lại, cháu không nhắc lại bài học toán mà nhắc lại những bài học đầu tiên về guitare mỗi lần lên chơi Thạch Lũng tôi có dạy cho cháu. Hiện thời cháu dạy guitare ở một trung tâm âm nhạc vùng Maryland. Tôi nói với cháu thật ra guitare là môn tôi dốt nhất, và có thể trong tương lai nếu sức khỏe cho phép tôi sẽ đến học guitare với cháu.

Đây không phải là lần đầu tiên hai cháu gặp Eddie. Phượng Nam và Linh Giang đều không theo hội họa như papa, nhưng khi xem hình chụp những bức tranh của Eddie, Phượng Nam rất thích và hứa khi về lại Maryland sẽ ghi tên theo học lớp họa của Eddie. Tôi thấy vui, vì biết đâu, qua đó, “hạt nhân hội họa” của Võ Đình sẽ được gieo lại cho con mình một cách gián tiểp. Sau buổi gặp gỡ đó, Eddie vội vã ra phi trường về Frederick và hứa tuần sau trở lại.

Hôm Thứ Bảy đó, anh đã yếu lắm. Khi nói chuyện và nắm tay anh, không thấy anh bóp nhẹ như hôm qua. Tuy nhiên, chị Lai Hồng cho biết, sáng Thứ Bảy đó, bỗng nhiên anh mở mắt lớn nhìn chị, thều thào được mấy tiếng “Hồng ơi! Hồng ơi! Hồng ơi! …” rồi nở nhẹ nụ cười thật hiền, tay nắm chặt tay chị đưa lên đưa xuống. Chị linh cảm… Buổi chiều, khi hai cháu Phượng Nam và Linh Giang đến, cúi xuống ôm anh, “Papa, this is Phượng Nam. Papa, this is Linh Giang!”, tôi thấy môi anh hơi mấp máy. Hai cháu cầm tay anh. Bất động. Nhưng mấy giọt nước mắt chảy dài trên phía trái…

Chiều hôm sau, chúa nhật 31 tháng 5, 2009, chúng tôi trở lại. Vài phút sau đó, anh chị Nguyễn Trà/ Thanh Trúc cũng đến, trong những chiếc áo lam truyền thống. Tôi cầm tay anh Đình, không thấy chút phản ứng. Sau đó, khi đang ngồi nói chuyện trong phòng khách, có người ra cho biết cô y tá báo động. Chúng tôi – Đinh Cường, Hoàng Bắc, anh Chương, Hoà, cháu Quang Minh và tôi – bước vào phòng. Chị Lai Hồng, anh chị Trà, Phượng Nam, Linh Giang và cô y tá Mỹ đã có mặt ở đó. Chúng tôi đứng quanh giường anh. Cháu Linh Giang ngồi dưới đất, ngoài cánh cửa gương lớn ngăn cách phòng anh với vườn sau. Cháu ngồi im, mắt nhắm, trong tư thế tọa thiền, tay chắp lại. Hơi thở anh yếu dần. Chị Lai Hồng đứng yên, im lặng một cách lạnh người. Anh chị Trà bắt đầu tụng kinh Thủy Sám. Rồi, đọc kinh Bát Nhã.

“…Xá Lợi Tử nghe đây: Thể mọi pháp đều không. Không sanh cũng không diệt. Không nhơ cũng không sạch. Không thêm cũng không bớt. Cho nên trong tánh không, không có sắc, thọ, tưởng. Cũng không có hành thức. Không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý (sáu căn). Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (sáu trần). Không có mười tám giới. Từ nhãn đến ý thức không hề có vô minh. Không có hết vô minh. Cho đến không lão tử. Cũng không hết lão tử. Không khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc…”

Hơi thở anh yếu dần. Anh chị Trà, chuyển sang tụng kinh A Di Đà, nguyện cầu ngài Tiếp Dẫn Đại Sư đưa một linh hồn về nơi Tịnh Độ. Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật,… Tiếng tụng nhỏ, đều đều, như âm vang từ một cõi xa xôi nào vọng lại.

Hơi thở anh yếu dần. Yếu dần. Rồi ngưng hẵn. Ngọn đèn trên bàn cô y tá, cạnh chị Lai Hồng, vụt chớp rồi tắt. Đúng 6 giờ 20 chiều. Chúng tôi vội bước đến gần anh. Cháu Phượng Nam đến ôm mặt anh, “Papa, this is Phượng Nam!” Cháu Linh Giang ngồi yên trong tư thế tọa thiền. Chị Lai Hồng đứng yên cuối giường, im lặng. Dù đã dặn trước không được tỏ xúc động, Hoàng Bắc vẫn khóc.

Chúng tôi lần lượt nói lời vĩnh biệt. Khoảng 10 giờ tối, tất cả ra về, chỉ còn lại chị Lai Hồng với các cháu…và anh.

Tôi nhớ lại rất rõ, nét mặt anh, điệu bộ anh, giọng sang sảng của anh, khi ngâm Tống Biệt Hành của Thâm Tâm. “Đưa người ta không đưa qua sông…”

TRƯƠNG VŨ
Maryland, tháng 6 năm 2009

41 NĂM BÌNH MINH CÂM

nguyenducbatngan

anh còn một vết thương
với tự hào như cùng sỉ nhục
lộc chồi nào giữa ngón tay thon
khổ nạn này đang cháy tan lồng ngực

em có theo anh chung giòng sử mệnh
khi cuộc đời đang trở mặt xôn xao
còn kiêu hùng không mà đứng dậy
còn lương tri không để thét gào

đã từ lâu ai cũng vì quê hương
tự xưng danh rất đầy chính nghĩa
người giết nhau mong hết hận thù
người thai nghén nhau nhanh hơn giòng thác lũ

bây giờ ở trên đất nước này
con người cầm trái tim
đi đổi gạo
cầm tâm hồn đem bán rẻ anh em
mong tâng công để còn được sống

em có hát ca trong lúc xuống đường
với ngọn cờ vẽ vời quá nhiều tín hiệu
ai cũng nguyền xây dựng quê hương
cũng như ai từng sẵn sàng bỏ chạy

không sức mạnh nào mạnh bằng bao dung
không đạn bom nào uy bằng nhân nghĩa
(tổ tiên ta, truyền thống hào hùng)
sao hôm nay đầy phường bất nghĩa

bây giờ anh thu mình trong hai chân
bước đi
thì nhẹ tênh
nhưng nặng trăm ngàn khổ nhục
nghe trơ vơ trên xương tủy mình
như cánh chim bay tìm mặt trời tháng chạp

em hãy mừng vui cùng lửa dậy
hãy thủy chung cùng người hôm nay
bởi vì có ai còn lương tâm đâu mà hổ thẹn
bởi vì người ta
đang tung hô khắp xứ sở này

em hãy cùng người ngợi ca những hình tượng chết
được hóa trang cách mạng anh hùng
được hóa trang bằng hòa bình tự do độc lập
muôn năm

đừng thấm mệt cũng như đừng ngừng nghỉ
(vì tổ quốc không bao giờ ủy mị
phải tiến lên dù ngõ cụt chặn đầu !)
anh vẫn còn vết thương

dọc ngang trăm đường lỗ chỗ
biết còn gặp lại nhau bằng trái tim
nguyên vẹn thuở đầu
hay cũng đã cùng mùa đổ vỡ

đành như em hóa thân
trái tim đã trở thành đá tảng
da thịt mình cũng như người dưng
anh lặng câm vui cùng khổ nạn

Sàigòn Tháng 5, Tâm Thương

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

vết chân đêm loài sâu trên lá xanh

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

nó bò
chầm chậm chầm chậm
mưa đêm ướt lá da sâu
cũng chẳng chút gì khe khẽ
đàn em mộ khúc trong đầu

ngón tay em dài tim tím
khẩy lên một nỗi buồn ta
ta nghe có lần như đã
giữ rồi tình vẫn ùa ra

ngập con đường ta về núi
suối em tay thả hoa đăng
ta lở để ta ngớ ngẩn
tương tư rồi sợi lông măng

loải sâu hiện thân nỗi nhớ
cũng vì im lặng của đêm
nhớ em đàn xanh chạm nguyệt
sao rơi nhè nhẹ trên thềm

em đi em về đâu đó
ta lời với gọi phương thu
này em lời ta trên lá
tình ta mấy độ sương mù.

Ngô Yên Thái

Niềm tự hào của người Mỹ

dokh

Chúc mừng !
Ông công an cửa khẩu nhe răng tươi rói.
Tôi giật mình, theo thói quen đầu đời tôi rất bồn chồn mỗi khi phải trình sổ thông hành, và phải nói đây là lần đầu khi qua cửa khẩu tôi lại gặp được một ông công an thân thiện đến như vậy. Đây là phi cảng Addis Ababa, Ethiopia, Phi Châu và tôi đang thi hành thủ tục xuất cảnh. Cộng hoà Liên bang Dân chủ này lại rườm rà, trên nguyên tắc khi nhập cảnh một đồng ngoại tệ cũng phải khai và khi xuất phải có giấy chứng nhận của ngân hàng đã chính thức đổi trong nước bao nhiêu đồng khác biệt để tránh chợ đen chợ đỏ. Nhưng ông công an này không hạch hỏi, cũng không đòi xem máy vi tính hay quay phim của tôi có mang theo hay đã bán chợ trời mà nhìn tôi thắm thiết như một người bạn mới. Thấy tôi ngỡ ngàng, ông giải thích :
Chúc mừng ông ! Obama !
Thì đây là lần đầu một người da đen được bầu lên Tổng thống Mỹ và hộ chiếu tôi trình ông kiểm tra là hộ chiếu Hoa Kỳ.
Nếu không có cái kính và cái quầy ngăn cản, có lẽ ông đã đứng dậy ôm lấy tôi, tôi thấy động tác ông nhấp nhỏm muốn chồm. Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt có mặt thì hẳn sẽ hài lòng, thấy chưa, cầm hộ chiếu Mỹ. Nhưng đối với tôi thì đây là lần đầu tôi được hưởng vinh dự này ở nước ngoài nghĩa là ngoài Việt Nam. Ở Việt Nam hộ chiếu Mỹ rất là oai, nhưng đây là một biệt lệ, nếu không kể, thí dụ, Trung Quốc. Cũng như TGM Kiệt, tôi đã đi nước ngoài rất nhiều và thường thì đến đâu ra khỏi cổng kiểm soát cửa khẩu là sổ thông hành tôi giấu biệt để khỏi bị luỵ bởi chính sách đối ngọai của Hoa Kỳ. Nếu ai hỏi tôi là người ở đâu đến, tôi lúc nào cũng trả lời, tôi là người Việt Nam. Được chúc mừng là người Mỹ, tôi phải đợi đến ngày 4 tháng 11 năm nay.
Được công an chúc mừng là điều bất ngờ, tuy trong đêm bầu cử ở Mỹ, tôi đã gắng nấn ná đến 5 giờ sáng ở Addis Ababa để theo dõi kết quả cùng một ông khách người Uganda (quốc tịch gì không mang mà lại mang quốc tịch Uganda). Ngoài ra còn có toàn bộ nhân viên trực đêm của khách sạn, say mê đến nỗi các anh phục vụ quên cả bổn phận và kéo ghế ra ngồi, ông xếp quản lý chốc chốc lại bỏ quầy lễ tân vào xem bầu cử đến đâu. Chỉ có bà quét dọn là cần mẫn tiếp tục lau chùi, vì ai làm Tổng thống Mỹ thì bar khách sạn cũng phải sạch sẽ khi ca sáng đến đổi phiên. Khi lên phòng tôi nói với mọi người vậy là cầm chắc, nhưng khi vợ tôi từ Mỹ gọi tôi dậy vào lúc 7 giờ (8 giờ đêm hôm trước tại Cali) tôi còn phải hỏi kỹ là McCain đã tuyên bố công nhận kết quả chưa hay biết đâu lại đòi bang Ohio hay Florida kiểm lại phiếu. Và ngày hôm sau ai nấy rạng rỡ như là mới trúng quả. Không phải nói và không phải nhắc lại, những người rạng rỡ này, tứ là « ai nấy », da đều đen hơn là vị Tổng thống thứ 44 của nuớc Mỹ.
Đến đây, không phải nói và không phải nhắc lại nhưng mở một dấu ngoặc, một hai thập niên mới đây thôi, Tổng thống Cameroon là ông Paul Biya có dịp sang Mỹ. Ông đến thăm một trường tiểu học ở nội thành Washington dân cư đa số người da đen. Giới thiệu ông với các em học sinh, một cô giáo phát biểu : « Người da đen cũng có thể làm Tổng thống và đây là bằng chứng ». Để đóng dấu ngoặc lại tôi xin nói thêm, Chủ tịch Ethiopia cũng là một bằng chứng khác trước khi trở lại với Tổng thống đắc cử của nước Mỹ.
Ông tài taxi đưa tôi từ trường bay Beirut vào trong phố bảo thế là thế giới sẽ khả quan hơn, « Thay đổi và Hy vọng ». Ông taxi này người Ả Rạp, tức là không có tính đoàn kết hay hãnh diện màu da trong phần phấn khởi này. Tôi nói ờ thì hy vọng thôi, chứ thay đổi thì chưa dám nói và đừng nói vội. Năm 1992 trước lựa chọn Bush cha, tôi đã phải bỏ phiếu cho Clinton (!) và đến bây giờ còn hối. Lần này, như bà Cynthia Mc Kinney, ứng cử viên của Đảng Xanh (và da thì có đen hơn ông Obama đôi phần) phát biểu, đừng nên để cho cái sợ (ông Mc Cain thắng) chi phối lá phiếu. Mấy tháng trước, khi các bạn ở Hàn Quốc hồ hởi « Anh nhất định phải bầu Obama » tôi đã quyết liệt « Tôi bầu cho người tôi thích nhất trong các ứng cử viên, để mai mốt lỡ có vài hội hè đám cưới gì đó ở Afghanistan có ăn bom lạc của Mỹ và chết vài ba chục trẻ em tôi còn đỡ thấy phải cắn rứt ». Nhưng cả tôi và ông taxi Lebanon đều vui mừng mà đồng ý, Bush bye bye.
Thực tế thì tôi bi quan mà nghĩ, niềm vui quốc tịch Hoa Kỳ của tôi sẽ không được lâu dài, dại gì mà không hưởng trong mấy ngày này. Người Mỹ đi đâu cũng bị ghét, xa cũng như gần (không tin thì thử hỏi người Mexico hay là người Canada). Hoạ may ở Việt Nam (và Trung Quốc như đã nói, nhưng một mình Trung Quốc đã 20 % nhân lọai), và đâu đó được một Ivory Coast hiếm hoi. Ngược lại, theo kinh nghiệm trải qua của tôi, người Việt Nam đi đâu cũng được nể, đây là tôi nói thật, nghiêm túc và không đùa, và lý do được nể nang này là vì đã đánh Mỹ, nói ra thế này thì nhiều bạn ở Việt Nam không thể nào tin. Giờ tôi đang ở Beirut, trong một ngày hôm nay ba người lạ khi biết tôi là Việt Nam đều khen ngợi mà chẳng phải khen ngợi vì ta nghe đâu có nhà văn suýt đoạt giải Nobel hay là ta xuất khẩu đồ may. Một ông lái xe cám ơn nước tôi bắn máy bay Mỹ (của Israel) đã ném bom chết bố mẹ ông và một người em trai và cho tôi xem vết thẹo ông còn mang ở cổ tay. Ông hàng tạp hoá bán cho tôi hai chai bia còn nói với « Năm 17 tuổi, ở tại đây này, tôi xuống đường hô Hồ Chí Minh – Việt Nam. Giờ có dân chủ hay chưa ? » Ông hơi buồn một tí khi được tôi cập nhật nhưng vẫn súyt xoa « Việt Nam rất giỏi ». Một ông khác, chạy xe Hyundai thoạt tưởng tôi Hàn Quốc từ việc khen xe rẻ mà không kém gì Mercedes chuyển ngay sang chuyện B52 rớt. Cách đây vài năm, tại Ai Cập, trẻ con ngoài phố đang ghẹo các con tôi, khi biết là người Việt đã đổi ngay thái độ và ôm chầm lấy, đứa bé bán trà dạo mời uống nước không tính tiền ! Năm 1976, khi khủng bố Palestin bắt cả Hội nghị OPEP ở Vienna làm con tin, lúc đột nhập vào phòng họp họ bảo « Ai là người Việt Nam thì đi ra ngoài, còn lại cởi cà vạt ra để chúng tôi làm giây trói lại ». Nhưng đây có lẽ không thuyết phục, vì nể nang nước Việt tôi chỉ kể ra được Ả Rạp với lại khủng bố, tức là một lứa cá mè nếu không nói là đồng nghĩa. Tuy hiện tượng ghét Mỹ, thì là một hiện tượng toàn cầu, cho dù họ có từng nghe nói đến nuớc Việt hay chưa.
Mỗi bận được người lạ vồn vã như vậy, thật ra thì tôi lại đâm ra lúng túng. Lý do là phần tôi thì máy bay Mỹ tôi chưa hề bắn một cái nào, cho dù là không may bắn lầm (như quân đội Mỹ vẫn thường thấy tại Iraq ngày nay mỗi khi gặp phải… thường dân). Tôi ậm ừ nhận đại cho qua chuyện. Ta hay mang dư luận nước ngoài ra làm bằng, nhưng nước ngoài vì họ là nước ngoài nên biết gì. Mỗi bận cho biết tôi là người Việt, tôi chưa hề nghe ai « À, đất nước ông là đất nước có Ngô Tổng Thống anh minh ». Thiệt thòi nay tôi phải gánh chịu, nhưng cũng có một trường hợp tôi có thể kể lại.
Đó là tại Los Angeles vào năm 1980. Chiến tranh Việt Nam còn gần gũi và chuyện xảy ra ở một cửa hàng bán vé du lịch Philippines. Khi biết tôi là người Việt, không phải là người Việt Điện Biên, người Việt cầu Công Lý (cầu Nguyễn văn Trỗi) mà là người Việt tị nạn, người di tản buồn, ông nhân viên Philippines này đã chép miệng mơ màng « Tướng Kỳ, à, có một bà vợ rất đẹp ! ».
Đây là một an ủi độc nhất nhưng ngày hôm nay không còn cần thiết nữa. Tạm thời, và cho đến khi Obama nhậm chức để xua quân sang Pakistan như ông đã hứa (chẳng hạn), thì tôi được quyền hưởng thụ đối với người nuớc ngòai niềm tự hào tôi là một công dân Mỹ.
Enjoy !

ĐỖ KH.

Chia sẻ trên mạng để làm gì?

tuankhanh

13335997_10209525637487579_7709537534626463317_n

Giữa tháng 5/2016, em Huỳnh Thành Phát ở Sài gòn bị bắt về đồn công an do xuống đường cùng nhiều người khác để yêu cầu chính phủ Việt Nam phải sớm tìm ra lý do vì sao cá chết hàng loạt ở dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung. Em bị các công an viên tra vấn nhiều giờ liền, với các câu hỏi “động cơ nào khiến quan tâm đến cá chết”. Sau khi tra vấn và không tìm được điều gì sai phạm, công an thả em ra vào đêm khuya. Nhưng vừa ra khỏi đồn, em Phát bị những người to khỏe, mặc thường phục, đeo khẩu trang chận lại, đánh đập dã man. Lúc đó, em Phát chỉ là trẻ vị thành niên.
Cuối tháng 5/2016, anh Phan Anh, một người dẫn chương trình trên truyền hình ở Hà Nội bất ngờ được mời vào buổi tọa đàm, mà trong đó anh bị chất vấn bởi một nhóm người, được dẫn dắt bởi bà Tạ Bích Loan, trong suốt 2 giờ liền (cắt lại chỉ còn 60 phút) để truy vấn rằng “mục đích nào, động cơ nào…” trong việc chia sẻ các thông tin về vụ cá chết mà anh đưa trên facebook của mình. Những câu hỏi mang tính tấn công, diễn dịch sai hiện thực… cũng như thái độ muốn áp đảo anh tại trường quay đã khiến hàng triệu người Việt sững sờ. Sự phản ứng nhanh chóng và dữ dội ngay trong đêm đã thành một áp lực lớn, khiến đài truyền hình VTV phải lấy xuống bản phát trên youtube. Khác với trường hợp của em Huỳnh Thành Phát, cuộc đánh nguội vào Phan Anh đã hoàn toàn thất bại.
Có cái gì đó khá giống nhau trong 2 trường hợp điển hình nêu trên. Bởi thủ pháp và lý luận của phía những người đứng về phía chính quyền – từ hành chánh công quyền đến giải trí tuyên truyền – đều tương đồng.
Câu hỏi “mục đích gì, động cơ nào…” cũng không xa lạ gì với tôi. Từ những bài viết đầu tiên về hiện thực xã hội, tôi đã nhiều lần phải làm việc với những người luôn lặp đi lặp lại câu hỏi đó. Nhận thức trở thành một loại tội danh đối với những ai không chọn ăn đong khẩu phần thực tế trên đất nước này.
Nhưng đó là thủ pháp đặc biệt của phía an ninh văn hóa. Giờ thì tôi thấy thủ pháp đó đã phổ thông ở khắp nơi, leo lên đến tận truyền hình với những nụ cười giả văn minh. Không biết động cơ nào đã khiến một lớp người nói trên luôn biết cách né tránh gọi tên đúng những kẻ luôn gây sai lầm và khổ nạn với tổ quốc – dân tộc, nhưng rất giỏi học đòi thủ pháp của công an để truy vấn người dân mình.
Xã hội Việt đang suy đồi với một lớp người như vậy. Họ luôn tin rằng bất kỳ ai có ý thức về hiện thực, ai nói và tin vào sự thật, khác với những điều mê mị mà truyền thông nhà nước gieo rắc, đều là kẻ thù của họ. Dựa vào quyền lợi và sự bình an tạm thời mà họ đang hưởng thụ, tất cả những người quan tâm đến vận mệnh đất nước, đến đồng bào… đều là kẻ âm mưu lật đổ sự tận hưởng máng ăn mỗi ngày trong trang trại.
Từ câu chuyện của em Huỳnh Thành Phát đến anh Phan Anh, cho thấy tư duy và hành động của phía một phía vẫn không đổi, nhưng nhận thức và ý thức của phía nhân dân đã vùn vụt đổi thay. Chuyện của em Huỳnh Thànn Phát chỉ có hàng trăm lượt share, hàng ngàn like nhưng đến chuyện của Phan Anh đã là hàng ngàn lượt share, hàng chục ngàn like. Vấn đề không phải là Phan Anh nổi tiếng hơn, mà vấn đề ở chỗ cấp số nhân của thái độ đó, cùng một ý nghĩa là phẫn nộ cho sự thật.
“Chia sẻ trên mạng để làm gì?” – câu hỏi là chương trình 60 phút mở của VTV dàn dựng rất công phu về chuyện thảm họa cá chết đã không có được lời đáp, thì hôm nay, mạng xã hội đã giúp trả lời thay: để vùng đứng dậy, để biết mình còn mang giá trị một con người.
“Thoạt đầu họ, phớt lờ bạn, sau đó chế giễu bạn. Rồi họ chuyển sang tấn công bạn. Cuối cùng thì bạn chiến thắng”, Mahatma Mohandas Gandhi (1869-1948), nhà lãnh đạo tranh đấu dân quyền lừng danh của Ấn Độ đã để lại di huấn như vậy về những cuộc đối đầu giữa sự thật và xảo biện, giữa con người tự do và công dân chuồng trại.
Thoạt đầu những kẻ xảo biện trung thành phớt lờ em Phát hay Phan Anh vì cho rằng điều của Phát hay Phan Anh suy nghĩ là thiểu số. Đến khi nhận ra sức mạnh của suy nghĩ đó, thì họ chọn cách diễu cợt vô căn “nhận tiền của thế lực xấu”, “muốn làm người nổi tiếng”… để nhằm dập tắt. Rồi khi ngay cả những lời diễu cợt ấu trĩ đó thất bại, họ lại tổ chức tấn công. Em Phát bị đánh đập đến thâm tím mặt mày, Phan Anh bị đưa vào đấu trường Đỏ. Và cuối cùng thì những con người có suy nghĩ độc lập và chân chính lại chiến thắng. Họ làm cho giòng dõi Việt Nam ngập tràn sự tự hào và mạnh mẽ, rằng thành phần nặc nô trộn lẫn trong dân tộc này chỉ là số ít đáng thương hại mà thôi.
Đã 2 tháng, kể từ khi thảm họa môi trường phát đi từ Vũng Áng, Hà Tĩnh. Hàng trăm tấn cá chết, tài nguyên, con người bị thiệt hại. Những người có trách nhiệm đã cố tình im lặng, thậm chí chọn cách đối đầu với nhân dân để kéo dài thời gian, bịt chặt thông tin. Giữa việc mở rộng cửa sự kiện, thúc đẩy các biện pháp khoa học để tìm ra nguyên nhân, thì họ chọn cách bít lối, lùa dân xuống biển, ăn cá như một tập tục hoang dã nhằm chứng minh sự tồn tại của chính quyền. Hành động này nhắc cho người ta nhớ lại hành động của nhà lãnh đạo Cộng sản Nam Tư Slobodan Millosevic khi ông xua dân bắt buộc phải qua lại cây cầu mà NATO đã thông báo trước sẽ đánh sập, nhằm triệt hạ sử dụng quân sự bừa bãi của ông Millosevic vào năm 1999.
Tại sao một thảm họa quốc gia lại được bưng bít đến mức, khiến nhân dân bị hăm dọa, vây hãm, đánh đập, gán án tù… chỉ vì muốn biết điều gì đang xảy ra trên đất nước mình? 60 phút mở ấy, lại đóng sập những câu hỏi chính cần có, quay lưng một cách nhục nhã với tình trạng của đất nước.
Một Gạc Ma khác trên đất liền đang diễn ra. Hàng hàng tấn cá chết tràn bờ, những thợ lặn thoi thóp và những ngư dân nhiễm độc và khốn cùng đường sinh sống, đang bị bức tử một lần nữa bởi truyền thông nhà nước và các kiểu công dân máng ăn. Gạc Ma ở tọa độ 9°43’9″N -114°16’57″E thì người Việt bị thảm sát bởi giặc xâm lược Trung Quốc. Còn chương trình 60 phút mở lại cho thấy một Gạc Ma khác chạy dài dọc bờ biển miền Trung. Cuộc thảm sát tài nguyên và tương lai con người Việt Nam đang công khai diễn ra bởi những kẻ nhân diện thú tâm, có cùng tiếng nói và dòng máu Lạc Hồng.
Rất nhiều người tức giận đòi phải phản ứng đích danh từng người trong chương trình đấu trường Đỏ với Phan Anh, nhưng thật sự điều đó không cần thiết đâu, thưa các bạn. Tiếng gào rú từ chuồng trại dù lớn bao nhiêu, bộ lông bóng bẩy thế nào vẫn thấp hèn hơn những con người tự do sống giữa đồng xanh và mặt trời sự thật. Điều mà bạn cần ghi nhớ dứt khoát rằng, cột mốc hôm nay, là điểm dừng cuối của hành trình có thể đã dài hơn 41 năm, rằng truyền thông tuyên truyền nhà nước không bao giờ đáng tin cậy cả.
Và hơn nữa, đó là những kẻ phản bội tồi tệ, vì đã sử dụng tiền thuế của nhân dân để chống lại nhân dân.

TUẤN KHANH

P/S của TƯƠNG TRI:

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Sơn, người cũng là khách mời của chương trình đối thoại này cho biết: “Là người trong cuộc và cũng là người ủng hộ quan điểm của bạn ấy mình có vài lời như thế này: Clip phát trên tivi là biên tập, cắt cúp rất nhiều từ cuộc nói chuyện, tranh luận hơn 2 tiếng cho vừa khung 60 phút của họ. Có những thứ rất hay đáng nhẽ nên cho vào để cân bằng. Ví dụ như Phan Anh nói: ‘Tôi phải tin VTC chứ vì đó là nguồn tin chính thống, đài truyền hình nhà nước cũng như mọi người tin vào cái phóng sự… quét rau của VTV vậy….

Ở hiện trường thì Phan Anh không hề bị lép vế chút nào mặc dù việc sắp xếp của chương trình để bạn ấy “đối mặt” với sự chỉ trích từ đầu. Mình chỉ được vào khoảng 30 phút cuối nên “hộ giá” không được nhiều. Quan điểm của mình là ủng hộ bạn ấy và ủng hộ chia sẻ trên mạng.

Mình biết Phan Anh mười mấy năm trước và quí bạn ấy nhưng đến giờ thì thực sự nể Phan Anh vì bản lĩnh, sự chính trực.

TRIỀN RÊU CÒN XANH

phuonguy

đã hỏi giữa hư không
ngày câu hỏi hương tàn
bàn lạnh nhập kinh siêu độ
khi nào vãng sanh?

đã hỏi giữa đêm đen
nơi nào mình trú ngụ
lộng dây tỳ bà đứt đoạn
yêu tinh khóc giữa mù trăng

đã hỏi trúc tre đầu ngõ
đâu tiếng gió đại ngàn
ngày về nơi mù xa đó
mồ côi một trận lang thang

cầu vồng bâng khuâng mộ gió
âm u lặng ngát lưng đồi
mình về có ngang qua đó
triền rêu còn xanh một tôi

PHƯƠNG UY

…Nằm Mơ…

huytuong

Sáng.nghe chim gáy bìa rừng
Hình dung kiếp trước đã từng đến đây
Sáng.nghe chim gáy.mới hay
Quê nhà thăm thẳm.mây bay rợp trời
Sáng.nghe chim gáy.tiếp lời
Hoang mang tự thuở làm người đầu thai
Tiếng chim gáy rụng trên cây
Giật mình hái lượm.đầy tay nắng vàng…
Chim gáy.rụng xuống hồng hoang
Nghìn sau tuế nguyệt mở trang không màu…

HUY TƯỞNG