Quyến rũ nhà sư ( Courting a monk)

nguyenthihaiha

Tác giả: Katherine Min.
Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà.

Đây là một truyện ngắn rất hay. Sau khi dịch cho đến bây giờ tôi chưa đọc được một truyện ngắn nào về người di dân, tình yêu dị chủng, sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây ảnh hưởng tới nề nếp giáo dục trong gia đình, tình cha và con gái, và sự cố gắng để thành công của người di dân sống ở hải ngoại, hay hơn truyện này. Truyện này trích trong quyển Literature for Composition, 8th Edition, do Sylvan Barnet, William Burto, và William E. Cain biên soạn.
Katherine Min có nhiều truyện đăng trên một số tạp chí danh tiếng như Tri-Quaterly và Ploughshares. Min được National Endowment for the Arts và New Hampshire State Arts Council tài trợ và hai lần bà được mời đến cư ngụ ở trại sáng tác MacDowell Colony.

Tôi gặp chồng tương lai của tôi lần đầu tiên khi anh ấy đang ngồi kiết già ở dưới một gốc cây trên vuông sân trường. Tóc anh húi rất ngắn và mịn như những sợi lông tơ trên quả đào, đôi mắt to màu xanh lơ ngước nhìn lên trời, miệng cười ngoác ra nhưng lại không cười với ai nên trông anh có vẻ hơi ngố. Tôi “bay” thoáng qua thoáng lại gần chỗ anh ngồi, cứ một hai phút lại xáp đến gần, khi thì tranh giành, khi thì rượt đuổi (cái đĩa frisbee). Qua khóe mắt tôi thấy anh ngắm tôi và mỉm cười. Điều làm tôi chú ý đến anh là cái khả năng phi thường anh giữ cho mình yên tĩnh đến bất động. Hai bàn tay đặt trên đầu gối, bất động như tĩnh vật trong tranh; cái dáng ngồi thật thẳng của anh không thể nào chê được. Anh có vẻ như mọc rễ từ chỗ ấy, như một cái nấm kỳ lạ, độc đáo và vui vẻ, làm tôi cảm thấy ngượng ngùng vì đã cố gắng gợi sự chú ý của anh. Mồ hôi chảy vào chỗ trũng dọc theo xương sống của tôi, lạnh và dính rít khi tôi ngưng chạy, tay chống lên đầu gối, cố lấy lại hơi thở. Tôi cố gắng ngừng há hốc mồm để thở, sửa lại túm tóc đuôi gà và lau tay lên phần vải mềm phía trước cái ống quần thể thao.
Anh vẫn còn ngồi đó sau hai hiệp chơi và đội của tôi bị giảm đi một người. Sully chận bắt, rồi ném sang Graham. Graham ném lại cho tôi, rất mạnh, như quả bom bay bổng thành vòng cung rất rộng. Tôi lao theo cái đĩa Frisbee và có một khoảnh khắc tôi bay song song – bềnh bồng, bay bổng, rướn người – trước khi rơi đánh ụych! Trên mặt đất. Tôi rên rỉ. Phần dưới ức của tôi bị chạm vào rễ cây trên mặt đất đau đến độ làm tôi nín thở. Tôi nằm đó, mùi vị lá khô lẫn vào trong mồm.
“Xin lỗi, Gina. Tôi ném Frisbee tồi quá,” Graham nói và tiến đến gần. “Em có sao không?” “Không sao,” tôi thở gấp, chỉ ngón tay vào cạnh sườn của mình. “Để em ngồi nghỉ một tí.”
Tôi ngồi xuống đống lá khô, thở cẩn thận và nhìn các bạn tiếp tục chơi. Trời tối dần và rất khó nhìn thấy cái đĩa Frisbee. Mọi người đều đã mỏi mệt, chơi một cách uể oải, ném Frisbee không trúng đích, bắt hụt, và thậm chí chẳng thèm bắt. Bên cạnh tôi, trên bãi cỏ, anh chàng ngồi dưới gốc cây rón rén đến gần. Tôi đã quên bẵng anh ta. Anh ngồi phục xuống cạnh tôi vẻ thẹn thùa, lá khô lào xào dưới chân anh, và, khi tôi nhìn lên, anh thì thầm, “Em thật là tuyệt vời,” rồi bỏ đi miệng tủm tỉm cười.
Hôm sau, tôi thấy anh trong phòng ăn dành cho những người ăn chay. Tôi đi ngang phòng ăn, tay bưng cái khay trên là món thịt bê cuộn thịt heo muối và phó mát, thấy anh ngồi một mình cạnh cửa sổ. Anh lấy đôi đũa cất trong túi áo trên ngực và hờ hững xâm đũa vào miếng đậu hủ nấu với mấy hạt đậu xanh teo tóp. Tôi ngồi đối diện với anh và đòi anh kể cho tôi nghe chuyện đời của anh. Anh muốn trở thành một tu sĩ. Không phải loại tu sĩ kiêm thi sĩ thời Trung cổ, đầu hói bụng béo, áo thụng mũ trùm, nói tục như quỷ và uống rượu như hũ chìm. Tôn giáo mà anh muốn theo – Phật giáo, càng khó hiểu hơn. Anh mới vừa trở về sau một khóa học bốn tháng ở Nepal, sống trong một tu viện trên dãy núi Himalayas. Tóc anh vừa mới mọc trở lại như những sợi gai mềm trên đầu và anh có thái độ thăm dò – không phải vì cẩn thận mà có vẻ tiếp thu và chờ đợi.
Anh sinh ra và lớn lên ở King of Prussia, hơi chếch con đường hỏa xa Main của thành phố Philadelphia, và chính điều này làm tôi nghi ngờ chiều sâu đức tin của anh. Tôi phát hiện ra là sự chú ý đến nền văn hóa Đông phương thường là bước đầu của sự tán tỉnh, tiếp theo là câu nói “Tôi thấy các cô gái phương Đông rất xinh đẹp,” và cuối cùng, cái bám chặt, như gọng kềm, lên phía trên của cặp đùi. Nhưng Micah không giống như vậy. Anh hiểu tôi không có ấn tượng tốt với đức tin của anh và anh cũng chẳng cố ý gây ấn tượng tốt với tôi.
“Bố tôi theo đạo Phật,” tôi nói với anh. “Nhưng bây giờ ông là khoa học gia.” “Ô,” Micah nói. “Thế là ông không chú trọng đến tâm linh.” “Linh hồn không phải là điều cụ thể,” tôi nói. “Bố tôi không thể cầm nắm những thứ vô hình.” “Cô không thể cầm nắm những hạt nguyên tử,” Micah vạch ra. “À,” tôi nói với nụ cười, “nhưng anh có thể đếm chúng.”
Tôi nói với Micah, bố tôi là nhà khoa học, và điều này là sự thật. Ông cũng là người im lặng. Không như Micah, cái im lặng của anh có vẻ bình an, không bị quấy nhiễu, như một hồ ánh sáng trên mặt nước tĩnh mịch, cái im lặng của bố tôi như cái nắp đậy nồi áp suất, niêm kín hơi nước sôi sục ở bên trong.
Chữ nghĩa không phải là phương tiện truyền thông của bố tôi. “Ngôn ngữ,” bố tôi thường nói, “là một dụng cụ không chính xác.” (Tuy ông ít lời, nhưng nếu gặp một câu ông thích là ông dùng nhiều lần.) Bố tôi yêu thích chữ Hy Lạp và những con số được sắp xếp bên cạnh nhau trong các phương trình phức tạp, tượng trưng cho một thứ luật vật lý hay những giả thuyết thực nghiệm. Ông viết đầy những trang giấy màu vàng khổ dài bằng nét chữ thẳng cứng, ghi chép những cái đẹp này xuống trang giấy bằng cây bút đầu nỉ mềm mực đen. Tôi nghĩ có lẽ ông bực mình ghê gớm khi ông không thể giao tiếp với người chung quanh một cách có nề nếp trật tự và ông cũng không thể đặt cái dấu bằng ở phía sau câu ông vừa nói, để có thể giải phương trình tìm ra ẩn số x và y.
Cái tiếng Anh không lưu loát của bố tôi chỉ là một phần. Bình thường ông không phải là người hay nói, kể cả nói bằng tiếng Hàn trong vòng thân quyến hay với mẹ tôi. Và với cả tôi, con gái duy nhất của ông – đứa con gái không biết dùng cả hai ngôn ngữ mà ông bố yêu thích, Hàn ngữ và khoa học – bố tôi, thật lạ lùng, hầu như chẳng có gì để nói. “Dọn dẹp chỗ bừa bãi này đi,” ông bảo tôi, buổi chiều lúc ông đi làm về. “Bài làm xong chưa?” ông hỏi, nhướng một bên mày phía trên bát cơm khi tôi ăn xong và xin phép đi xem ti vi.
Ông tự giới hạn trong uy quyền, trong giang sơn của ra lệnh và chỉ huy; của những lời tuyên bố không cần nghe câu trả lời, không chừa chỗ cho thảo luận hay biện hộ. Cách giao tiếp này, với bố tôi đó là hình thức của ngôn ngữ tương đương với những phương trình toán học gọn gàng, như được niêm phong bằng bùa chữ nghĩa, kể cả không khí cũng không thể thoát ra hay nhập vào.
Khi tôi vào đại học, lời từ biệt của bố tôi là bài diễn văn dài nhất mà tôi nghe ông phát biểu. Bị những chiếc xe loại khá lớn bao vây chung quanh, trong xe chất đầy hành lý, những thùng sách và đèn học, giữa những bàn tán hứng thú và tiếng sinh viên í ới gọi nhau, giữa những cặp mắt lo lắng của cha mẹ soi mói chung quanh, bố tôi nghiêng người về phía trước đầy ngượng ngập, hai tay cho vào trong túi, nhìn tôi chăm chú. Ông nói, “Học cho chăm nhé. Đi ngủ sớm. Đừng ham chơi. Và đừng để bọn con trai Mỹ lợi dụng.”

Đây cũng là đại học của bố tôi; ông nhập học từ hai mươi năm về trước, khi ông là cựu quân nhân chiến tranh Hàn quốc chỉ có năm mươi đô la trong túi và cũng chỉ chừng ấy từ ngữ tiếng Anh. Những mẩu chuyện về thời sinh viên của ông trở nên huyền thoại của gia đình, lớn lên, tôi nghe nhiều đến độ chúng trở nên sống động và mơ màng như chính là ký ức của tôi. Bố tôi vào phòng vệ sinh của ký túc xá cố gắng một cách tuyệt vọng nấu cho chín quả trứng bằng cách cho nước nóng chảy qua quả trứng; ông chiến thắng vẻ vang trong phòng thí nghiệm vật lý vì nơi đó khả năng dùng ngôn ngữ mới của ông không cản trở ông, và đó cũng là nơi tuổi đời cùng với bộ óc khoa học tinh tế của ông đã giúp ông đạt số điểm cao nhất đưa đến giải thưởng vật lý tối ưu trong năm cuối đại học – đó là những sự kiện mà tôi có cảm tưởng đã được chứng kiến, như thể tôi là một bóng ma lẩn khuất chung quanh đầy lòng đố kị.
Trong cái bóng thành công của bố tôi, trong cùng đại học nơi ông cúi người lần đầu tiên nhìn vào kính hiển vi và đắm mình trong giấc mơ toán học đầy bụi phấn, tôi theo đuổi văn chương, Anh ngữ. Tôi quyết tâm trau dồi văn chương. Tôi học Shakespeare và Eliot, Hardy và Conrad, Joyce và Lawrence và Hemingway và Fitzgerald. Biết cho đúng rất là quan trọng, từng chữ, từng nghĩa ngầm, để lấp cho đầy cái hố im lặng di dân của bố tôi, những lỗ trống ông để lại cho tôi.
Còn những lỗ trống khác nữa ông đã bỏ lại. Thức khuya và học rất ít, tôi làm những chuyện động trời bố tôi sẽ bị chấn động đến độ nếu bảo là ông không tán thành thì chẳng thấm vào đâu. Thí dụ như chuyện giao thiệp với đàn ông Mỹ, tôi vâng lời bố tôi không để cho họ lợi dụng tôi. Trái lại, tôi lợi dụng họ, lợi dụng sự ở gần với họ, vẻ đẹp trai, cái vẻ dễ thương sẵn sàng lên giường với mình chỉ cần vài lời khuyến khích. Tôi thích cái cách họ chuyển động một cách tự hào về thân thể của họ, cái cảm giác nham nhám của những cái má chưa cạo râu, bờ vai và bộ ngực trần nhẵn nhụi của họ, đường cong bờ lưng họ như là gỗ được đánh bóng. Tôi thích ở chỗ tôi có thể ngắm họ từ dưới lên trên, hay từ trên xuống dưới, cảm nhận được cái rùng mình khoái cảm của họ như cảm nhận được cơn động đất ở một nơi nào đó rất xa xôi; tôi có thể làm cho “nó tới,” chuyển động như những vòng tròn của sóng, từ phía trên hay phía dưới, ngắm nhìn họ, ôm ấp họ, làm cho họ thấy hạnh phúc. Tôi sưu tập bạn trai như đồ chơi, như những đồ vật không đắt giá người ta cất phía trong của ngăn kéo. Cái cách trao đổi thân thể thật vui vẻ của họ là cái mà tôi thích. Tất cả họ đều là những chàng trai trẻ người da trắng.
Micah từ chối không chịu làm tình với tôi. Chuyện này trở thành một cuộc đấu trí giữa chúng tôi. “Tình dục làm cho hao mòn lý trí,” anh nói.
“Không nhất thiết phải như thế,” tôi cãi lại, “chỉ là cách chọn đi một con đường khác mà thôi.”
“Có những cách kết hợp cao quý hơn,” anh nói.
“Không thể có nếu anh không mặc áo quần,” tôi trả lời.
“Gina,” anh nói, nhìn tôi đầy nhân hậu, một sự quan tâm làm cho tôi đỏ mặt vì giận dữ. “Em có cái nhu cầu gì thiếu thốn đến độ cần phải dùng tình dục để lấp đầy?”
“Im mồm đi, Micah,” Tôi nói. “Anh hãy làm nhà sư, đừng làm nhà trị bệnh tâm lý.”
Anh cười phá lên. Tiếng cười của anh luôn làm tôi ngạc nhiên, như thể đó là một sự rối loạn nho nhỏ trong vũ trụ. Tôi muốn quyến rũ anh, thật đấy. Tôi xem Micah là sự thử thách khó khăn nhất trong một lãnh vực rất dễ dàng. Nhưng quan trọng hơn cả sự quyến rũ, tôi muốn làm cho anh bị rúng động, muốn xuyên thấu đến tận bên dưới cái cảm giác yên tĩnh, cái hài lòng hướng nội ấy. Không có ai ở lứa tuổi của tôi, tôi nại ra lý do, có quyền sở hữu bản thân toàn vẹn như thế.
Chúng tôi đi dạo vườn nuôi chim, bước lào xào dọc theo con đường mòn, vừa đi vừa thong thả thảo luận về Emily Dickinson, hay là nghệ thuật lấy mật của cây phong, nhưng tôi luôn luôn trở về chủ đề cũ.
“Thật là lãng phí cuộc đời,” có lần tôi nói. “Một sự hưởng thụ như thế là lãng phí. Tất cả những dâng hiến trong đời tu sĩ và cố gắng đạt đến mức tĩnh tâm. Làm như quan trọng lắm vậy. Đó là một sự ích kỷ. Không những chỉ ích kỷ, mà còn là lẩn tránh. Một sự chạy trốn. Trốn cuộc đời và những rối rắm của thế gian.”
Micah lắng nghe, môi hé cười, lắc đầu tiếc nuối. “Em có những đam mê rất tuyệt vời, Gina, thật sống động và hoàn toàn nhập thế. Tôi tiếc là không thể làm em nhận ra điều này. Có thể đây là một sự lẩn trốn như em nhận xét, nhưng Phật giáo không phân biệt thế giới bên ngoài và thế giới bên trong tu viện. Dựa vào lịch sử, giới tăng sĩ đã từng tham gia đấu tranh chính trị và bị cầm tù. Cứ nhìn Tibet là biết thôi.
“Em nghĩ đến, ahem, những chuyện căn bản hơn,” tôi nói.
Micah cười to. “Dĩ nhiên,” anh nói. “Dường như em không hiểu, Gina, Phật Giáo chủ trương từ bỏ thèm muốn.”
Tôi hừ bằng lỗ mũi. “Thèm muốn thì có gì sai chứ? Không có thèm muốn, có khác gì mình không sống đâu.”
Sự thật là tôi bị hấp dẫn với cái ý tưởng này: sự từ bỏ thèm muốn. Cuộc đời của tôi được thúc đẩy bởi thèm muốn, bởi những mơ ước to lớn và hào nhoáng; một nỗ lực cố vươn lên để vói lấy những thứ mà tôi không có, và có lẽ, không có cả hy vọng có được. Tôi có thể mù mờ tưởng tượng ở một đầu, ở một nơi nào đó đã vượt qua khỏi mức độ thèm muốn, là đến chỗ của sự thỏa mãn, nhưng tôi không thể hiểu thấu được chuyện từ bỏ thèm muốn, bỏ đi trong lúc còn thèm muốn tràn đầy.
“Cái thèm muốn từ bỏ sự thèm muốn,” tôi nói, “thì vẫn là sự thèm muốn, đúng không?” Micah cho tay vào trong túi và mỉm cười. “Không,” anh nói, và vượt lên đi trước tôi. “Đó là một chọn lựa có ý thức.”
Chúng tôi đến một cái hồ, mặt trời thấp thoáng ở một chỗ trống trải, cây bạch dương và cây phong vây quanh, màu lá đỏ cháy rực giữa mùa thu. Một vài chiếc lá rơi, đáp xuống mặt nước nhẹ nhàng như thể chúng được cầm đặt lên đấy. Hồ xanh màu lá cây đậm; ánh sáng lấp lánh trên mặt hồ. Có tiếng hót đầy giai điệu của những con chim bồ câu, tiếng rỉ rả của côn trùng. Micah tận hưởng phong cảnh đẹp này. Tôi không biết sự tận hưởng này có liên quan gì với Phật giáo hay không, nhưng ngắm nhìn anh đứng ở cạnh hồ, đầu ngẩng cao hơi ngã về phía sau, mắt anh hăng hái tiếp nhận ánh sáng. Tôi cảm thấy sự yên tĩnh của anh và sự thưởng thức của anh. Anh đứng bất động rất lâu.
Tôi nhổ mấy cây dương xỉ, dệt những chiếc lá hẹp thành những hình thù không giống nhau, đánh bím những sợi dây leo, trong khi Micah ngồi trên tảng đá rộng, lấy đôi đũa từ trong túi áo trên ngực, bắt đầu gõ hai chiếc đũa vào nhau nhẹ nhàng với một nhịp điệu rất nghiêm trang. “Mỗi buổi sáng ở chủng viện,” anh nói, “bọn anh thức giấc trong tiếng mõ cầu kinh. Bốn giờ sáng và bầu trời vẫn còn tối, người ta có thể nghe tiếng gõ lên một món đồ bằng gỗ rỗng bên trong – cốp, cốp, cốp – kêu gọi mọi người thiền định.” Anh cười vẻ mơ màng. Tiếng gõ của đôi đũa có vẻ kém hiệu lực, nghe như tiếng ta-ta-ta. Tôi tưởng tượng mặt trời lên, băng qua thung lũng của Himalaya – một mảng mây mỏng nhuộm hồng vào một buổi sáng lạnh lẽo và hình ảnh cái tịnh thất thanh đạm của một nhà sư.
Micah nhắm mắt, mặt hướng về mặt trời. Anh tiếp tục gõ hai chiếc đũa vào nhau chầm chậm. Anh có vẻ đơn độc và mới mẻ, ngồi trên tảng đá ấy, như một anh hướng đạo tìm kiếm con đường dẫn đến một bộ lạc nào đó, với mái tóc mới mọc và vẻ tĩnh lặng, và cái cách thân hình anh chăm chú hướng đến thiên nhiên chung quanh anh.
Tôi nghĩ, đó là lúc tôi bắt đầu yêu anh, hay, đó là lúc ý muốn chiếm hữu anh trở nên thật mãnh liệt đến độ nó không chỉ là một thèm muốn nhất thời. Tôi cần có sự đáp ứng của anh. Tôi bắt đầu hiểu thèm muốn là gì, sự khuấy động trong khoảnh khắc toàn hảo trong lúc chờ đợi sự khuấy động của một khoảnh khắc khác. “Thức giấc đi,” tôi nói. Tôi lột phăng cái áo cổ lọ và áo ấm một cách khéo léo rồi ném chúng xuống dưới chân của Micah. Micah mở mắt. Tôi cởi quần, cởi cả quần lót và đứng đấy trần truồng. “Cốc cốc, (tiếng gõ cửa), có ai ở nhà không?”
Micah không quay đi. Anh nhìn tôi, đôi đũa ngừng giữa thinh không. Anh giơ một chiếc đũa về hướng tôi và giữ nguyên tư thế, như thể anh là một họa sĩ với chiếc cọ đưa lên ngắm để đo lường kích thước, hay là một trưởng ban nhạc đang chuẩn bị điều khiển ban hòa tấu. Anh giơ chiếc đũa lơ lửng giữa khoảng cách của hai chúng tôi, như là tôi không thể di chuyển khi nào anh còn giơ chiếc đũa. Đôi mắt anh xanh thăm thẳm như không đáy. Núm vú tôi teo lại vì lạnh. Chung quanh chúng tôi lá rơi, trong ánh sáng chập chờn, dịu dàng xuống mặt hồ, tạo nên tiếng lào xào như tiếng cọ xát vào vải thô. Anh bỏ tay xuống và tôi như được thả ra. Tôi quay người nhảy vào trong nước.
Vài đêm sau, tôi mua chai rượu vang rẻ tiền và dụ Micah uống rượu với tôi. Chúng tôi bắt đầu uống ở bậc thềm của thư viện sau khi thư viện đóng cửa, và uống từng ngụm vụng về từ chai rượu dấu trong bao giấy nâu. Ánh sáng từ rặng núi Holyoke nhấp nháy từ xa, vượt qua màu tối như nhung đen của khu sinh viên năm thứ nhất. Từ chỗ này chúng tôi bắt đầu lang thang trong đại học, các sân quần vợt trải rộng, cố chịu cơn gió lạnh cóng từ khu đồi cao ở trung tâm khoa học, và mê muội lăn xuống Đồi Tưởng Niệm (Memorial Hill) như hai cuộn cỏ khô.
“Em có biết koan (công án thiền) là cái gì không?” anh hỏi tôi, khi chúng tôi ngồi trên băng ghế phía sau sân banh. Chúng tôi đi hơi lảo đảo nhưng muốn xuống con đường dốc rất cao phía sau sân banh.
“Cái đó có giống như là kem không?” tôi hỏi. “Không phải, ko-an. Trong Phật giáo.”
“Không biết.”
“Đó là một câu hỏi không có câu trả lời, như là một câu đố. Em biết không, thí dụ như ‘Tiếng vỗ của một bàn tay thì như thế nào?’ Hay là ‘Mặt anh ra làm sao trước khi anh được sinh ra?’”
“Cái mặt anh giống thế nào trước khi anh sinh ra? Hỏi vô lý.”
“Đúng như thế. Em phải cố nghĩ về câu koan cho đến khi em “ngộ” ra được câu trả lời.”
“Trả lời về cái gì?”
“Về đời sống, về ý nghĩa cuộc đời.”
“Ô, Ok.,” tôi nói, “em hiểu rồi.” Tôi ngoảnh mặt ra phía sau lưng, chai rượu gói trong bao nằm trong hai bàn tay tôi. “Thử cái này nhé, ‘Tiếng đánh rắm của một cái gò má’ ra làm sao?” Anh cười ngặt nghẽo hồi lâu, rồi ọe nôn ra bên cạnh băng ghế. Tôi đưa anh về, đưa anh vào giường; trán anh nóng sốt, mắt anh mất thần vì cơn ốm. “Xin lỗi,” tôi nói. “Em đúng là ảnh hưởng xấu cho anh.” Tôi hôn anh, môi anh nóng hổi và anh không đáp ứng. “Đừng bận tâm,” anh lẩm bẩm, nửa chìm vào giấc ngủ.
Đêm sau, chúng tôi ngủ chung giường với nhau lần đầu tiên. Anh mặc quần lót và tay anh để ngay ngắn khép chặt vào bên cạnh người, như Gandhi nằm giữa những nàng trinh nữ. Tôi quyết tâm gây khó khăn cho anh. Tôi cứ áp thân hình trần truồng của tôi vào cạnh anh, gác chân lên người anh, ngón tay tôi mân mê xoa bộ ngực gầy của anh. Anh vùng vẩy và đẩy tôi ra, giả bộ ngủ. Khi tôi thức giấc buổi sáng, anh đã đi mất và bản nhạc Ode to Joy đang phát ra ầm ĩ trên máy của tôi.
Graham nói nhớ tôi. Chúng tôi đã ngủ với nhau một vài lần trước khi tôi gặp Micah, hưởng thụ cái ấm áp lành mạnh sau khi chạy hay chơi Ultimate, tắm hơi nước và ngã lên giường. Graham đẹp trai, tóc đen, vai rộng, hai cánh tay khỏe mạnh và bộ ngực rắn chắc. Hắn làm tình với đàn bà như hắn đang tập thể dục, luôn nghiêm nghị nhắm đến một kết quả và phải đến đúng lúc. Khó mà tưởng tượng làm tình như thế có sức hấp dẫn người ta. Tôi bảo hắn tôi đang yêu người khác.
“Không phải cái gã tóc húi cua chứ?” hắn nói. “Cái gã trông giống như một con hải cẩu nho nhỏ?” Tôi rùn vai. Graham nhìn tôi vẻ ngờ vực. “Trông hắn không thuộc mẫu người thích hợp với em.”
“Không thích hợp thật.” Tôi đồng ý. “Nhưng ít ra hắn cũng không thuộc về anh.”
Đồng thời tôi tăng cường mức độ tấn công Micah. Tôi hỏi không dứt những câu hỏi về giáo lý Phật giáo. Micah nói về dukkha, hay khổ đế, về tứ đế, ngũ uẩn, về Bát chính đạo đưa đến giác ngộ. Tôi lắng nghe chăm chỉ, sẵn sàng đồng ý tất cả những điều này nghe rất hay, và cái mục đích giác ngộ và tĩnh lặng rất là đáng đạt đến. Trong khi anh nói, tôi duỗi bàn chân cho đến khi ngón chân tôi chạm vào đùi anh. Tôi thò tay vuốt lưng anh; hay cúi người thật thấp để anh có thể nhìn thấy bên dưới lớp áo rộng, tháo tung vài cúc áo của tôi.
“Rất tiếc là anh không theo phái Tantra,” tôi nói. Tôi cũng đã nghiên cứu Phật giáo một ít.
Micah khiển trách tôi. “Đó là Phật giáo kiểu Hollywood,” anh nói. “Thở mạnh và đầy tính cách trình diễn.”
“Họ không cấm cản chuyện thèm muốn xác thịt,” Tôi nói. “Họ cho phép làm tình.”
“Phật không cấm những thèm muốn của thể xác,” Micah nói. “Nhưng đó là chuyện vô thường, thế thôi. Có một cái gì đó vượt qua những chuyện vô thường.”
“Để vượt qua chuyện ấy, “ tôi nói với vẻ dằn dỗi, “anh phải làm chuyện ấy.” Micah thở dài.
“Gina,” anh nói, “em rất xinh đẹp, nhưng tôi không thể làm chuyện này. Sẽ có rất nhiều người sẵn sàng làm.”
“Bây giờ cũng có nhiều người sẵn sàng làm.”
Anh cười hơi buồn, “Thế thì…”
Tôi cúi xuống tháo dây giày của anh. Tôi cột chúng lại vào nhau thắt gút hai lần. “Nhưng em muốn anh,” tôi nói.

Bố mẹ tôi ở cách trường chừng ba mươi dặm và mẹ tôi thường gọi tôi về nhà ăn cơm tối. Tôi về chỉ một lần trong năm ấy, cùng với Micah. Bố mẹ tôi không phải là người thích ứng dễ dàng với người lạ. Họ là những người khá cách biệt, không giao thiệp nhiều hay thường đi chơi hay ăn tối ở ngoài – hay nói cho đúng, bố tôi như thế và mẹ tôi cố gắng thay đổi sao cho phù hợp với ý thích của bố tôi.
Mẹ tôi đã dọn bàn và trải khăn màu xanh trong phòng ăn. Có ly pha lê để uống rượu vang, và muỗng nĩa bằng bạc có chạm hoa. Mẹ tôi đã nướng một ít thịt gà hơi khô vì quá lửa, đậu và cà rốt nấu hơi nhừ – những món ăn mẹ dành để đãi khách Mỹ khi mời họ dùng cơm chiều. Nói về món ăn Hàn, mẹ tôi là đầu bếp thượng thặng. Cái món sườn ướp và miến xào thịt bò với rau cải của mẹ, bánh bột nhồi thịt heo, tôm chiên và kim chi mẹ tôi tự tay làm chứa trong vại rất tuyệt vời. Nhưng món ăn Mỹ thì mẹ tôi nấu không khéo, và bà không thích chúng. Tôi nghĩ, bà cho rằng các món ăn Mỹ nấu cho đúng kiểu phải tẻ nhạt như thế.
“Mẹ chỉ cần nấu thức ăn Hàn,” Tôi giục mẹ qua điện thoại. “Anh ấy sẽ thích lắm.”
Mẹ tôi nghi ngờ. “Cay lắm,” mẹ tôi nói. “Mẹ biết người Mỹ thích ăn gì.”
“Mẹ đừng nấu món gà nhé,” tôi năn nỉ. “Anh ấy ăn chay.”
“Để xem.” mẹ tôi nói, không thú nhận cũng chẳng hé lộ gì cả.
Micah nhìn đĩa thức ăn của anh chằm chặp. Mẹ tôi cười với vẻ thanh thản. Micah gật đầu. Anh dùng nĩa xúc đầy rau cải, cắn một miếng bánh mì. Cái xương nhọn ở cổ của anh có vẻ như làm việc liên tục. Bố tôi cũng bận rộn nhai thức ăn, xương cổ của ông cũng chạy lên chạy xuống như bánh cóc trong cái con đội được dùng để thay bánh xe. Không ai nói lời nào kể từ lúc bố tôi khui chai Chardonnay và đọc cho chúng tôi nghe một đoạn, trong quyển sách bìa mềm có nhiều nếp gấp, hướng dẫn cách chọn rượu vang của New York Times.
Tiếng muỗng nĩa chạm vào đồ sứ nghe dường như to hơn vang vọng hơn. Tôi để ý thấy tôi nhai lâu hơn. Bố tôi hắng giọng. Mẹ tôi nhìn bố tôi chờ đợi. Ông ho khan.
“Micah đang nghiên cứu về Phật giáo ở Nepal,” Tôi nói để đánh tan sự im lặng.
“Ồ!” mẹ tôi kêu lên. Bà cười khúc khích. Bố tôi tiếp tục ăn. Ông nuốt đánh ực và nhìn lên.
“Thế à?” ông nói, có vẻ chú ý. Micah gật đầu.
“Cháu ở đó chỉ có bốn tháng,” anh nói. “Gina nói với cháu là bác theo Phật giáo từ khi còn bé.”
Bố tôi ậm ừ. “Đó là chuyện dĩ nhiên,” ông nói. “Ở Hàn quốc bấy giờ, tất cả mọi người đều theo Phật giáo. Nhưng bây giờ, tôi không xem mình là Phật tử.”
Micah và tôi nhìn nhau.
“Theo Phật giáo bây giờ rất hợp thời trang, tôi nghĩ thế,” bố tôi nói tiếp. “Với các anh chị sinh viên Mỹ. Phật giáo là một thứ tôn giáo thời thượng.”
Tôi nhìn thấy Micah nhăn mặt. “Tôi nghĩ đây là điều rất hay, Hi Joon,” mẹ tôi đỡ lời, “giúp người Mỹ hiểu biết về tôn giáo và triết học Á châu. Tôi học Triết ở đại học, Micah. Tôi nghiên cứu Whitehead[1], chủ nghĩa thực dụng của người Mỹ. ”
Bố tôi tựa lưng vào ghế, quan sát, vẻ không hài lòng, trong khi mẹ tôi và Micah trò chuyện. Dường như ông đang phân tích Micah, không phải cách phân tích của một Bác sĩ chuyên trị thần kinh – bố tôi không ưa các nhà tâm lý học – mà là cách phân tích của một nhà hóa học, tách rời anh ấy ra thành những phân tử căn bản, một công thức hóa học đơn giản để có thể định nghĩa cách cấu tạo của anh ấy.
Micah đang nói về ngũ uẩn, cảm xúc, nhận thức, hình thành tư tưởng, và ý thức kết thành hữu thể trong giáo lý Phật giáo. “Đó là một quan niệm về bản ngã rất khác biệt với Thiên chúa giáo,” anh giải thích, mắt nhìn mẹ tôi.
“Vô lý,” bố tôi ngắt lời. “Trong học luận Phật giáo không có bản ngã. . . .”
Tôi và mẹ tôi bất lực nhìn họ bắt đầu tranh luận. Tôi ngạc nhiên khi thấy bố tôi hiểu biết rất nhiều về chủ đề này, và ngạc nhiên vì cung cách ông biểu lộ sự hiểu biết này. Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Micah luôn nhường nhịn. Dường như anh đánh mất vẻ chắc chắn, và cùng những bức tường bảo vệ niềm tin của anh. Anh gật đầu liên tục và rút lui trước những luận điểm của cha tôi, cũng là luận điểm mà anh đã cương quyết bảo vệ khi tranh luận với tôi. “Cháu nghĩ là cháu không biết rõ vấn đề này,” anh nói nhiều lần, và “Vâng, cháu hiểu ý Bác”đôi lần, với một vẻ khiêm nhường yếu đuối.
Tôi quay nhìn từ đôi mắt sáng lấp lánh và vẻ thông minh không nhượng bộ của bố tôi đến vẻ kính trọng, thái độ rụt rè của Micah và cảm thấy cơn bực dọc tăng lên mà tôi không biết là do bởi thái độ hiếu chiến của bố tôi, hay cái chịu thua của Micah, hay do cái động cơ quái lạ của tôi vì đã dàn xếp cho hai người gặp nhau. Có thật sự là tôi mong muốn là họ sẽ hợp tính nhau không? Tuy nhiên bố tôi đã tập trung sự chú ý vào Micah với một mức độ rất mãnh liệt – như thế anh là một đối thủ – bố tôi chưa bao giờ chú ý đến tôi nhiều như thế.
Khi cuộc trò chuyện tạm ngưng, và sau khi chúng tôi đã ăn rất nhiều thức ăn chúng tôi gọi là thức ăn lịch sự để đãi khách, mẹ tôi dọn bớt bát đĩa và mang vào một bát cơm với kimchi cho bố tôi. Mắt Micah sáng lên. “Cho cháu một ít thức ăn đó có được không, Bác Kim?”
Mẹ tôi nhìn với vẻ nghi ngờ. “Cay lắm đấy,” mẹ tôi nói.
“Ồ, cháu rất thích thức ăn cay,” Micah trấn an.
Mẹ tôi đi lấy bát cho Micah. “Cháu có dùng đũa được không?” mẹ tôi hỏi, khi Micah bắt đầu ăn.
“Mẹ à, đừng chú ý đến anh ấy nhiều quá,” tôi nói.
Bố tôi ngước nhìn lên từ cái bát của ông. Bố mẹ tôi cùng nhìn Micah lúc anh ấy ăn một miếng bắp cải làm kim chi to.
“Ha!” bố tôi nói, thình lình nở nụ cười. “Gina không thích kimchi,” ông nói. Bố nhìn tôi.
“Gina,” ông nói. “Chú bé này mang bản tính người Hàn quốc hơn con.”
“Chẳng có gì hay ho.” Tôi nói.
Bố tôi không thèm chú ý đến tôi. “Gina luôn luôn muốn làm người Mỹ,” ông bảo Micah. “Kể từ khi nó còn bé, nó muốn có mắt xanh, tóc vàng.” Ông trỏ chiếc đũa về phía mặt của Micah, “như mắt và tóc của cháu đấy.”
“Giá như mà cháu có tóc” Micah nói, cười toe, bàn tay anh vò đầu.
Bố tôi nhìn đăm đăm vào chén cơm. “Nó không muốn làm con gái Hàn. Nó nghĩ nó có thể là con gái Mỹ trăm phần trăm, nhưng không được. Nó có dòng máu Hàn, trăm phần trăm. Nơi nào nó trưởng thành không phải là vấn đề – huyết thống mới quan trọng.” Ông nhìn Micah một cách nghiêm trang. “Cháu nghĩ cháu có thể thành một tu sĩ Phật giáo. Tương tự. Nhưng tư tưởng Phật giáo không nằm trong huyết quản của cháu. Cháu không thể hiểu chân lý của Phật giáo. Cháu nên nghiên cứu Thánh kinh.
“Trời ơi, Bố!” Tôi nói. “Bố nói như là một người Phát xít vậy!”
“Gina!” Mẹ tôi nhắc nhở. “Bố làm con hổ thẹn quá,” Tôi nói. “Bố thất lễ với bạn của con. Bố nói về con như thể con không có mặt ở đây. Bố có thể nói bất cứ điều gì bố thích. Con là người Mỹ cho dù bố có thích hay không. Dòng máu dân tộc chẳng có nghĩa lý gì, quan trọng là cái ở trong này. Tôi gõ nhẹ ngón tay lên thái dương.
“Nói thế không phải là Phát xít.” Bố tôi nói. “Đó là sự thật! Cái mà con có ở trong này,” ông chỉ ngón tay lên trán, “là huyết thống, di truyền. Con thừa hưởng từ bố!”
“Xin Chúa giúp giùm con,” Tôi nói.
“Gina!” mẹ tôi van nài.
“Bác Kim” – Micah bắt đầu.
“Mày chỉ giống con gái Mỹ ở một điều,” bố tôi hét lên, “Mày không biết kính trọng bố. Ở Hàn quốc, con gái không được phép trả lời với cha mẹ, đây thật là một điều nhục nhã.”
“Ở Hàn quốc, con gái phải nhẫn nhịn chịu đựng như những tấm thảm chùi chân cho bố họ dẫm lên!” Tôi hét trả lại.
“Mày biết gì về Hàn quốc chứ? Mầy chỉ đến đó có một lần khi mày sáu tuổi.”
“Cái hiểu biết này nằm trong máu của con.” Tôi nói, và đứng dậy. “Con không ở đây để nghe những chuyện như thế này. Thôi chúng mình đi, Micah.”
Micah nhìn tôi dụ dự, rồi quay sang bố tôi. Bố tôi lại tiếp tục ăn, từ từ dùng đũa và cơm vào mồm. Ông ngừng. “Nó luôn luôn như thế,” ông nói, dường như với cái bàn. “Luôn luôn giận dữ như thế này. Ngay cả khi nó còn bé.”
“Bác Kim,” Micah nói. “Um, cám ơn hai bác rất nhiều. Chúng cháu. . . Cháu nghĩ là tụi cháu ra về bây giờ.”
Bố tôi nhai đi nhai lại. “Đáng lẽ tôi không nên rời Hàn quốc,” ông nói nhỏ, hoàn toàn quả quyết.
“Gina,” mẹ tôi nói. “Ngồi xuống đi. Hi Joon, thôi mà!”
“Micah,” tôi nói. “Anh có đi không?” Chúng tôi bỏ bố tôi ngồi một mình ở bàn ăn.
“Đáng lẽ tao nên gửi cho mày sống với cô Soo!” Bố tôi nói vọng theo. Mẹ tôi theo chúng tôi ra sân mang theo hộp thịt gà mà Micah không ăn.
Trên đường về chúng tôi ngừng lại mua kem. Koan, tôi hỏi Micah. “Kem chocolate hạnh nhân khi tan chảy thì âm thanh của nó ra làm sao?” Tôi hỏi anh. “Trước khi vanilla hiện diện trên cõi đời thì nó là cái gì?”
Bên trong tiệm bán kem ánh sáng thật chói chang, một thứ ánh sáng huỳnh quang như tẩy rửa biến mọi thứ thành một màu trắng hếu như màu của xương. Micah cúi người quan sát những hộp kem nằm trong tủ nhựa. Anh có vẻ khô héo, lặng lẽ. Anh bảo lấy cho anh một thìa kem chocolate bạc hà và một thìa kem anh đào đen cho lên trên vỏ bánh kem. Anh ăn một cách chậm rãi, liếm láp đầy tiếc rẻ như một đứa trẻ đã dùng đến đồng xu cuối cùng. Có vẻ gì sầu muộn trong cử chỉ của anh, như một lời xin lỗi. Anh đánh mất vẻ trầm lặng của một nhà sư và thình lình anh có vẻ như một người mất phương hướng. Kem lạnh làm tôi cảm thấy nhức đầu, tất cả những mạch máu trên thái dương của tôi dường như căng thẳng. Tôi run rẩy và lạnh; dường như cơn giận cùng với khí lạnh đã lan tỏa ra khắp người tôi. Micah chà xát lưng tôi.
“Em khó tính với bố của em quá,” anh nói. “Ông không phải là người xấu.”
“Thôi đừng nhắc đến chuyện này nữa,” Tôi nói. “Chúng mình về đi.”
Chúng tôi đi bộ về ký túc xá băng qua sân đậu xe trong im lặng. Có ánh đèn từ bên kia vuông sân và nhạc trào ra khung cửa sổ lan vào trong trời lạnh. Một vài ngôi sao lẻ loi xem chừng quá xa để có thể phát ra ánh sáng đều đặn. Về đến phòng, tôi mở nhạc the Rolling Stones thật to. Giọng hát của Mick Jagger đầy vẻ châm chọc và độc ác. Tôi tắt đèn và thắp một ngọn nến đỏ.
“OK. chuyện này cần phải chấm dứt.” Tôi nói. Tôi cảm thấy run rẩy. Tôi đẩy Micah trở lại giường. Tôi đang giận dữ cực độ. Anh ấy đã phá hủy dùm tôi, cái thoáng nhẹ, cái cuộc đời đã được thanh lọc của tôi. Tất cả mọi thứ đến với tôi dường như dễ dàng, với đám trai trẻ, những lời chót lưỡi đầu môi và những cảm xúc ngắn ngủi mau tàn, những mê đắm đơn giản và những lạc thú bề ngoài. Nó như là cái cảm giác đang bay, nhảy lên để vói lấy cái Frisbee lướt lên không trung. Trong một khoảnh khắc, bạn cảm thấy như mất trọng lực, mất ý thức về chính mình hay một giống loài nào đó không phải là con người. Trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy bạn cảm thấy hoàn toàn tự do.
Tôi bắt đầu nhảy múa, rất nhanh, đong đưa, lắc lư ngay trước cái giường của tôi. Tôi nhắm mắt và xoay tít, va dội vào tường như một quả banh, loạng choạng suýt ngã vì chính đôi tất của tôi. Tôi nhảy múa cuồng nhiệt đến độ làm rung rinh cái máy stereo khiến âm thanh đứt khúc, giọng hát của Jagger trở nên lắp bắp trong cổ họng với những âm thanh đơn điệu, nuốt hối hả những lời lập lại. Tôi xoay tròn và chạy theo vòng tròn, đầu ngả về hướng này đến hướng kia cho đến khi tôi nghe máu chạy trong người rần rật, tôi vén tóc tôi ra khỏi gáy và túm tóc bằng hai tay.
Micah nhìn tôi nhảy múa. Thân hình anh như một chữ S nằm trên giường tôi, tay chỏi đầu trên cánh tay. Vẻ mặt của anh trông giống như lúc anh nói chuyện với bố tôi, cái vẻ nhường nhịn, đôi mắt nai hiền lành chịu thua. Nhưng tôi có thể nhìn thấy một cái vẻ khác còn đang ẩn chìm phía dưới.
Với những ngón tay gần như tê dại, tôi tháo cúc áo ấm bên ngoài, giật phăng áo sơ mi bên trong và lột áo ra khỏi đầu. Tôi uốn éo cho đến khi váy và đồ lót rơi khỏi người, đá tất cả quần áo vào trong góc nhà, cho đến khi người tôi ướt đẫm và cháy bỏng – rồi tôi nhào tới đè lên người anh.
Như được nếm mùi vị của thức ăn sau một ngày nhịn đói – rất mạnh mẽ và tràn trề. Micah đáp lại cơn giận dữ điên cuồng của tôi với cái đam mê đầy bí ẩn của anh; như thể đó là một cơn ấu đả, một cuộc cãi nhau, cái gì đó rất quan trọng đang bị thử thách mà cả hai chúng tôi đều không muốn chịu thua. Sau đó chúng tôi ngồi trên giường và nghe bài hát Ode to Joy trong khi Micah, có rất nhiều đôi đũa bỏ vương vãi trong phòng, đã dùng đũa để giả vờ làm nhà điều khiển giàn nhạc Leonard Bernstein. Sau đó chúng tôi đi ra tiệm All-Star Dairy mua thức ăn và Micah thú nhận với tôi là anh đã yêu tôi.

Bố tôi từ chối không chịu tham dự lễ cưới. Ông thích Micah, nhưng ông không muốn tôi lấy chồng người da trắng. Câu chuyện trở thành chuyện khôi hài tôi kể mọi người nghe. Theo phong tục Hàn, tôi nói, cô dâu bị đem cho bốn tháng trước lễ cưới.
Micah trở nên giáo viên dạy Sinh vật học ở trường Trung học. Tôi là một người phó giám học của đại học địa phương. Chúng tôi có hai con. Khi Micah kể lại câu chuyện thời bắt đầu yêu của chúng tôi, anh kể với một vẻ nhún nhường và khôi hài. Anh nói như thể anh là một kẻ hết sức điên rồ khi nghĩ đến chuyện trở thành nhà sư. “Thử tưởng tượng chuyện ấy,” anh nói với các con. “Bố của chúng mày lại có thể như thế.”
Gần đây, tôi có cơ hội đọc thêm sách về Phật giáo. Siddharta Gotama chỉ có ba mươi lăm tuổi khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề trên bờ sông Neranjara và trở nên giác ngộ. Đôi khi, khi tôi thấy chồng tôi nhìn tôi bên kia bàn ăn điểm tâm, hay đi về phía tôi từ bên kia phòng, tôi nhìn thấy một vẻ thắc mắc khó hiểu trên mặt anh, một cái vẻ bấn loạn thoáng qua, có vẻ như anh không thể nhớ ra tôi là ai. Tôi bắt gặp vẻ mặt này một vài lần, trong một ngày Chủ nhật khi anh biến mất ra khỏi nhà, anh ngồi trên băng ghế với tờ báo đặt trên lòng, mắt nhìn ra khu phố, chìm đắm trong tư tưởng đến độ anh không lay động khi tôi gọi tên anh.
Tôi nhớ lần đầu tôi gặp anh, cái vẻ yên tĩnh bao la trong anh, vẻ hài hòa trên mặt. Tôi nhớ cách anh nhìn những hòn đá bên cạnh hồ như nhà thám hiểm một miền đất lạ và tôi tự hỏi không biết anh có hối tiếc, như tôi đang hối tiếc, về việc đã đánh mất cái niềm tin không thiết thực của anh. Anh có nhớ tiếng mõ cầu kinh, tiếng gọi của cuộc sống nội tâm không có sự thèm muốn trần tục? Tôi nghĩ đến bố tôi, khi luộc trứng bằng cách cho nước nóng chảy lên quả trứng gói trong cái bí tất trong lúc ông ở xa gia đình hằng ngàn dặm, nhưng không biết là trong tương lai ông sẽ phải nuôi một đứa con gái, cũng cùng một sự hy vọng đầy tràn với tất cả cố gắng để thành công, nhưng đưa đến một kết quả không như ý muốn. Tôi nhớ cái cách tôi hay đùa nghịch với koan và tôi tự hỏi.
“Cái âm thanh của một cuộc đời, không được sống, nó như thế nào?”

THÍ DỤ, MAI TÔI VỀ…..

thuyvi

( Tặng những người bạn Saigon trong VI, VIẾT VỤN )
Khi những nỗi nhớ lay động, tôi muốn ghi xuống để tìm lại giấc mơ đã thất lạc của mình….
* Tôi sẽ đi thăm từng thầy cô giáo cũ. Tôi sẽ lễ phép khoanh tay như ngày xưa và nói lời cảm ơn chân tình muộn màng. Tôi biết giữa cái xã hội hình như nhiều người sùng thượng hư danh – nhưng thầy cô tôi vẫn một mực giữ cái tiết tâm chánh một loại hoa quân tử y như ngày nào khi bước chân ra đời đã hãnh diện chọn cho mình một nghề như một thiên chức – Đem đạo tải cho đám học trò.
* Tôi sẽ tìm lại dấu vết con đường có những tàng cây dày đặc những cánh lá lãng mạn từng ghi dấu những bước chân mong manh của bầy con gái đi từng tốp trong những tà áo trắng, hồn như trang giấy mới, điểm xuyết vài tà áo lụa màu thật yểu điệu – dập dềnh, lượn lờ như đàn bướm – trôi dài, tràn đến cổng trường Trung học ngày xưa.
* Tôi sẽ tìm lại nền cũ của ngôi trường thời tuổi nhỏ. Ngôi trường như một phần da thịt dù nó cũ kỹ và lam nham những vết bùn xấu xí. Tôi sẽ tìm lại góc sân chơi được che phủ bởi màu xanh hồn nhiên của hàng điệp chỗ chúng tôi chạy đuổi nhau, nô đùa một thuở.
* Tôi sẽ đến xóm chợ, đi lại từ đầu, thêm một lần nữa nhớ lại, chắp nối những mảnh đời, đoạn đường những ngày tháng cũ . Sẽ nhớ lại vài khuôn mặt được nhắc lại. Hoặc thỉnh thoảng bắt gặp những hình ảnh giông giống nào đó, dừng lại ngẩn ngơ… Thèm ngóng cổ nhìn vào hướng Khu Thành Công, để thấy cánh quạt máy bay chấp chới. Thèm ngửi được mùi bụi đỏ khi con trốt chạy dài về hướng ngôi nhà ngày đó.
* Tôi sẽ tìm một góc, phóng tầm mắt – lặng lẽ ngắm bà chị học chung trường. Một người đàn bà thân cò nhỏ bé – ngày xưa từng là một cô gái con nhà thừa hưởng hết hương vị cuộc đời, ngoài
ra, chị còn có một giọng hát nhạc Tây rất Tây, chị nhả từng chữ thật tròn trịa – một nữ sinh tỉnh lẻ buồn ngắt hát Bésame Mucho hay hơn một nữ sinh Thành Đô đã cào xé trái tim những kẻ yêu nhau, là một niềm kiêu hãnh cho cả trường.
Đúng là ân sủng trời ban không dành hết cho ai – bao kỳ vọng tương lai với một hành trang kiến thức, nhưng chị phải chịu theo số phận cay nghiệt, số phận bắt chị phải một đời giang tay bảo bọc nhường cơm xẻ áo cho các em, san sẻ gánh gồng buồn nhiều hơn vui cùng thống khổ với cả đại gia đình…
Tôi cứ ngậm ngùi tự hỏi, sức mạnh nào đã khiến chị sống qua những năm tháng trùng trùng khó khăn và gần tới mức cuộc đời vẫn chưa có ngày an thân !
* Bên ngoài, trời đang mưa, những giọt nước rơi rào rào trên mái nhà khiến tôi mường tượng đến cơn mưa rơi trên vùng Củ Chi, tôi mường tượng đến cái bóng gần như đổ ập của người phụ nữ lớn tuổi ngồi hắt hiu cạnh xe bán bánh mì trong cơn mưa nơi lề đường, miệng móm mém chỉ còn sót lại vài cái răng cùn mằn trong tấm hình trên trang Web của trường mấy hôm nay.
Thú thật, khi vừa nhìn thấy tấm hình mới nhất của cô Hồng Châu, lòng tôi sững lại, tôi chưa kịp buồn, chưa kịp nghẹn ngào, chỉ im sững chăm chú nhìn, để tìm, mà không thấy còn lại chút nét xưa nào !
Vào thời gian học với cô, tôi sắp bước sang tuổi mười lăm. Mặc dù, lúc đó chỉ là trí nhớ của một đứa trẻ con, nhưng, không hiểu sao, tôi nhớ về cô nhiều nhất, có lẽ, cô là một giáo sư mà hàng tuần đến giờ cô dạy, bầy con gái chúng tôi bao quanh cô…
Trong thế giới con gái trong lớp, tôi là con bé vụng về thêu thùa lại rụt rè, ít nói nhưng ương bướng nhất nên không được cô “cưng “ như nhiều đứa khác.
Tấm hình mới nhất của cô, còn dẫn tôi lội sâu vào những kỷ niệm… tuy có lúc rõ, có khi mơ hồ, và, xúi tôi ngồi viết lụn vụn về
một chút góc đời và phác họa hình ảnh của cô dạy môn Nữ Công ngày đó.
Cô Hồng Châu không là một trời nhan sắc, nhưng làn da trắng như hoa sứ của cô ngời ngợi trong những tà áo lụa màu đã khiến bọn nữ sinh chúng tôi nhiều lúc trầm trồ, ngẩn ngơ. Tuy cô thiếu bờ lưng thật thẳng, nhưng cô khéo léo bước những bước đi thật ngắn, vì thế từ cửa văn phòng bước ra, dáng cô thật uyển chuyển khi băng qua khoảng sân cỏ để vào lớp. Nhưng đối với tôi, cô nổi bật hơn hết thảy các cô khác là màu son cánh sen lúc nào cũng thật tươi, thật đượm trên vòng môi khép lại thật khéo.
Lúc cô về dạy ở Kiến Tường, ngôi nhà của thầy cô là một phòng học nằm ngang cuối dãy mà mỗi buổi chiều ánh nắng hắt vào thật gay gắt cùng với sức nóng của mái tole ụp xuống như chảo lửa. Tuy nhiên, căn phòng trống trải không vách ngăn đó là một khoảng không gian tuyệt vời hạnh phúc, và những ngày tháng đó, là, những ngày tháng mật ngọt, thanh thản, viên mãn nhất đến khi biến cố xãy ra.
Thường, giờ ra chơi, tôi hay mon men đến “mái ấm” để nghe cô kể những chuyện… Như chuyện cô đi thăm thầy (?) trên những chuyến xe ô tô buýt ở Sài Gòn dạo trước, hay cô kể về những món ăn nào đó thầy muốn cô nấu, hay những cái tên thật ý nghĩa mà thầy cô chọn cho em bé đầu lòng… Cô vừa nói, vừa đi tới đi lui lắc xắc làm công chuyện nhà. Lúc đó, tôi thấy cô thật đẹp, thật duyên dáng, quý phái và thật …dễ thương hơn khi cô ngồi coi tôi thêu từng mũi kim xệu xạo…
Tôi rời trường trở về Saigon từ năm đệ Tứ. Tiếp theo những mảng sóng cuộc đời dồn dập xô đẩy chập chùng, và tôi mất tin tức cô từ đó.
Tuổi già đi chung với sự tàn tạ, là lẽ hằng thường của con người… Nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng tự hỏi: Có lẽ, đau khổ của cô đã chạm đến đáy cuộc đời hơn hẳn nhiều người khác !
* Tôi nhất định phải đi thăm bà chị có mái tóc dài liêu trai, đã khiến nhiều chàng ngẩn ngơ một thời. Mặc dù tôi chưa gặp chị lần nào, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn mình hòa nhập vào ánh mắt bao dung của một người phụ nữ tuy trầm mặc hướng về nội tâm nhưng không kém ý nhị và dí dõm. Tôi sẽ ở với chị trọn một ngày để kịp cầm bàn tay giấu đi những ưu phiền cuộc đời để điểm lục chuốt hồng những mảng màu sắc tuyệt đẹp trên từng tà áo lụa tô đẹp cho người. Để nói cho chị biết, có rất nhiều tình cảm hướng về chị. Bởi chị đã đãi mọi người bằng tình cảm chân thành. Bởi chị đã sống với mọi người bằng một cuộc sống chân thành. Người đàn bà thiếu sự chân thành trong tình cảm, thiếu sự chân thành trong cảm xúc thì làm sao mà khả ái cho được. Tôi nhớ bà nhà văn nào đó đã nói vậy.
* Về Saigon, tôi sẽ mặc lại chiếc áo dài lụa màu nắng, sẽ nép mình vào dòng chuyển động rùng rùng xe cộ, để đi dọc theo hè phố những con đường nhìn những cánh lá me rơi lắc rắc. Tôi sẽ bước tới góc đường xưa – nơi một thời có người thanh niên đứng đợi. “Tôi chờ em một vòng đời lộng gió. Em chờ tôi đợi lúc dẫn qua đường”
Hai câu thơ khiến tôi rưng rưng, nên tôi biết, bước tới nơi nào tôi cũng hình dung ra được tình yêu…Tình yêu lẫn khuất trong chùm nắng hanh hao, trong vòm lá, trong bóng cây… Vì tất cả hầu hết là mùa Xuân. Nhưng có một mùa Xuân của anh mang đến, tôi vẫn giữ trong đời, cho nên dù chỉ một mình tôi trong thành phố này, tôi vẫn say đắm cảm ơn anh cho tôi biết ý nghĩa tuyệt vời của tình yêu và nghĩa lý vô cùng của cuộc sống.
* Tôi không chắc mình sẽ đi thăm đủ người quen, thân. Sẽ không nói đủ lời tạ ơn…Bởi, tạ ơn còn là tiếng nói sâu xa nào đó của người và người, của tình và tình. của kể lể, của bày tỏ của mình.
Cảm ơn bạn tôi : NM, LNT, TNN…
Tôi cũng sẽ tự tay nấu từng món ăn của từng miền, sẽ nắm chặt tay từng người. Tôi sẽ mời món canh chua thơm nức mùi ngò om với những lát bạc hà xanh giòn mát mắt cùng với tô cá kho màu hổ phách còn sôi sùi sụt đúng điệu miền Nam.
Sẽ nấu nồi nước xương ngọt lừ đỏ au màu ớt, sẽ đặt miếng giò mỏng vừa chín tới, điểm xuyết thêm vài lát hành trắng ngan ngát cùng những nhánh ngò gai xắt nhuyễn với từng lớp bún to sợi đãi món bún bò đúng Huế.
Sẽ xối lớp mỡ thật sôi nghe xèo xèo vui tai trên từng miếng cá vuông vức ánh lên màu nghệ, lẫn với những khúc Thì Là, kèm theo chén mắm tôm đánh sủi bọt dậy mùi quyện chút ớt thết món chả cá Thăng Long Hà Nội…
Sẽ có cảm giác nôn nao chờ đợi bạn tôi gắp miếng đầu tiên, và sẽ thỏa lòng chảy nước mắt khi bạn tôi gật đầu thích thú.
Còn hạnh phúc và sung sướng nào hơn nỗi hân hoan đem chút tình ra tặng.

thụyvi

buồn như bóng đêm

nguyenminhphuc

Chiều nay có ai về quanh mộ
Cho tôi vay một nén nhang tàn
Đắp lên mặt cỏ ngàn cơn gió
Và gió bồng bềnh treo nghĩa trang

Ngày đi rất chậm e chừng muộn
Buổi nằm nghe máu rã rời đông
Hồn khuya xơ xác mù con sóng
Lạnh trái tim khô chảy ngược dòng

Không chừng tôi ghé qua đời. chậm
Thả khói nhang trầm ngang bến sông
Đã nghe một thoáng buồn ngùi ngậm
Khi gió hoàng hôn buốt chạnh lòng

Chắc hẳn tôi về. nhưng không vội
Bao điều chưa nói được cùng em
Tiếng còi đã thổi ngày sau cuối
Riêng cõi tôi. buồn như bóng đêm…

Nguyễn Minh Phúc

VỀ CHƯA MUÔN VẠN NỖI ĐỜI

truongdinhphuong

1.
Về chưa, cơn mộng cuối mùa
Cho tôi làm kiếp gió lùa qua hiên
Khẽ ru nhánh có rất hiền
Nghe từ mạch đất ý thiền vạn năm

2.
Về chưa, giọt nước, cuối nguồn
Cho tôi làm gợn sóng buồn đi rong
Về chưa những mạch tim đồng
Cho tôi làm ánh nắng hồng ban mai…

3.
Về chưa, năm tháng mệt nhoài
Cho tôi, lặng lẽ, đứng ngoài gió mưa
Về chưa những phím âm thừa
Cho tôi làm nốt nhạc vừa, thiết tha…

4.
Về chưa, muôn dặm đường xa
Cho cay đắng giữa hồn cha, ngọt dần
Về chưa, muôn nỗi tảo tần
Cho tay mẹ dịu những phần bão giông…

Trương Đình Phượng

NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ: BÁ DƯƠNG

nguyenhoithu

VÀI LỜI VỀ TÁC GIẢ & BẢN QUYỀN:
Ông Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Quốc lục địa, chạy sang Đài Loan năm 1949 khi cộng sản thắng tại Trung Quốc. Là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia. Ông đã bị bỏ tù 10 năm tại Lục Đảo (Đài Loan) vì dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hý họa Popeye (Pôp-pay) mà chính phủ Đài Loan cho là phạm thượng. Năm 1977, khi ra khỏi nhà tù, ông bắt đầu đi nói chuyện về hiện tượng “người Trung Quốc xấu xí”. Những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông được tập trung lại thành quyển sách mà các bạn đang cầm ở tay. Ông hiện sống ở Đài Loan với vợ là bà Dương Hương Hoa, một thi sĩ. Vì chỉ có một bản in tại lục địa, chúng tôi không biết phải liên lạc làm sao để xin phép ông Bá Dương, nên nhân đây xin lỗi ông về việc đã mạn phép dịch sách của ông ra tiếng Việt trước khi được phép. Tôi nghĩ nếu ông biết được chắc cũng vui lòng tha thứ. Nếu có ai mách cho tôi biết ông ở đâu tôi sẽ trực tiếp xin lỗi ông một lần nữa và chính thức xin phép ông sau
. Nguyễn Hồi Thủ

Diễn văn đọc tại Đại học Iowa (Iowa), ngày 24/09/1984

Đã nhiều năm nay tôi muốn viết một quyển sách dưới tên gọi “Người Trung Quốc xấu xí”. Tôi nhớ quyển sách “Người Mỹ xấu xí” sau khi viết xong đã được Quốc vụ viện Mỹ dùng làm tài liệu tham khảo cho sách lược của mình. Người Nhật cũng có một quyển “Người Nhật xấu xí”. Tác giả là Đại sứ Nhật tại Ác-hen-ti-na. Ngài Đại sứ này (sau khi viết ra cuốn sách đó) liền bị cách chức. Đấy có lẽ là cái khác nhau giữa Đông phương và Tây phương. Trung Quốc so sánh với Nhật Bản có lẽ còn kém một bậc. Giả thử tôi viết quyển sách này, có nhiều khả năng các vị phải vào tận nhà lao để đưa cơm cho tôi. Vì thế tôi vẫn không viết, nhưng luôn luôn tôi tìm một cơ hội nói chuyện về vấn đề này để thỉnh giáo các cấp, các giai tầng trong nước. Thế mà cái chuyện báo cáo bằng miệng này cũng không phải đơn giản. Tại Đài Bắc, người mời tôi đến nói chuyện, chỉ nghe đến đề mục này đã vội bỏ lời mời. Cho nên suốt đời tôi đến nay đây là lần thứ nhất tôi được nói về “người Trung Quốc xấu xí”. Tôi cảm thấy rất là hứng thú. Xin cảm tạ quý vị đã cho tôi cơ hội này. Có một lần Đại học Đông Hải tại Đài Trung mời tôi đến diễn giảng. Tôi báo họ về đề mục này. Tôi hỏi Hội trưởng Hội Sinh viên xem có thể gây ra vấn đề gì không. Anh ta bảo: “Tại sao lại thành vấn đề?” Tôi nói với anh ta rằng: “Anh đi thăm dò nơi ông Hiệu trưởng xem sao, bởi vì cá nhân tôi vốn đã là người có vấn đề, lại nói về một đề mục có vấn đề nữa sẽ có thể thành nặng đấy”. Sau khi nói chuyện với Hiệu trưởng, anh ta gọi điện đến Đài Bắc cho tôi bảo: “Vấn đề thì không có, nhưng có thể sửa đổi đề mục không? Hiệu trưởng bảo cái tít này hơi khó nghe”. Tiếp đó anh đề nghị tôi một đề mục dài lòng thòng, với mũ áo đàng hoàng, rồi hỏi tôi có đồng ý không? Tôi bảo: “Dĩ nhiên là không đồng ý, nhưng nếu anh nhất định phải sửa thì tốt hơn là cứ sửa”. Đó là lần đầu tôi nói chuyện chính thức mà có liên quan đến “người Trung Quốc xấu xí”. Trước khi nói chuyện, tôi bảo: “Tôi mong rằng khi tôi nói sẽ thu băng lại để sau đó tôi có thể chữa lại thành một bài văn”. Anh ta khẳng khái hứa sẽ làm. Sau khi nói xong, lúc nghe băng thâu lại thì chỉ có mỗi vài câu đầu, sau đó toàn băng trắng! Năm nay tôi 65 tuổi. Ngày 7 tháng 3, hôm bạn bè ở Đài Bắc làm lễ sinh nhật cho tôi, tôi bảo họ: “Tôi đã sống 65 năm, toàn là những năm tháng gian nan”. Ý tôi muốn nói rằng đấy không phải là sự gian nan của riêng tôi, nhưng của tất cả những ai đã làm người Trung Quốc. Bạn bè ngồi đó đều rất trẻ tuổi, đặc biệt bạn bè ở Đài Loan đa số là những người lớn lên trong hoàn cảnh kinh tế sung túc. Cùng các bạn lại nói chuyện gian nan chắc các bạn không thích nghe, lại có thể không tin hoặc không hiểu. Sở dĩ tôi nói gian nan đây không phải là vấn đề cá nhân, lại không phải vấn đề chính trị. Cái vấn đề của mọi người Hoa này lại vượt ra ngoài phạm vi cá nhân và chính trị nữa. Đây không phải là gian nan một cá nhân đã trải qua, cũng không phải hoạn nạn của riêng thế hệ cá nhân tôi. Nếu chúng ta không thấu hiểu được cái hoạn nạn này, không hiểu được những nhân tố độc hại của văn hóa Trung Quốc thì vĩnh viễn chúng ta không thể ngăn ngừa được sự tái sinh của nó. Chín mươi phần trăm người trong trại tỵ nạn Khao-Y-Đăng ở Thái Lan là người Hoa bị trục xuất từ Việt Nam, Kampuchia, Lào (không nói quốc tịch mà chỉ kể huyết thống và văn hóa). Lúc ấy, có một nữ sinh viên do một viện văn hóa Hoa kiều tại Đài Loan phái đến Thái Lan gia nhập đoàn phục vụ. Đến nơi được vài hôm, cô ta đã không chịu nổi, khóc lóc rồi xin về. Cô ta bảo: “Cái thảm trạng này không ai chịu nổi!”. Tôi đến Thái Lan sau đó, thấy hoàn cảnh những người tỵ nạn quả tình không thể nào không rơi nước mắt được. Ví dụ người Hoa không được phép có tài sản riêng, không được buôn bán. Nếu áo anh rách, anh trả cho bà cụ bên cạnh nửa bát cơm để bà cụ vá áo cho anh, đó cũng bị xem là một hành vi buôn bán. Cảnh sát Thái vì vậy có thể lột truồng bà cụ này, giải ra tòa án địa phương để tra hỏi: “Tại sao mày lại làm chuyện phạm pháp như vậy?” Đấy, chỉ đơn cử một sự kiện nhỏ trong những bức nhục người tỵ nạn phải chịu. Ngoài đau xót và phẫn nộ, tôi chỉ có một suy nghĩ sau: Người Trung Quốc đã làm điều gì ác để phải chịu cái cảnh đối xử như vậy? Năm trước, hai vợ chồng tôi sang Pa-ri. Từ trong tầu điện ngầm ra, thấy một quầy hàng bán nữ trang, chủ quầy là một phụ nữ trung niên nét mặt Á đông. Tôi và vợ tôi vừa xem hàng vừa nói chuyện. Bỗng nhiên chủ quầy dùng tiếng Hoa giải thích cho chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy rất thân thiết bèn hỏi bà ấy: “Tại sao bà lại nói được tiếng Hoa?” Bà bảo: “Tôi là người Hoa, từ Việt Nam trốn sang”. Lại đúng là người đã từ trại tỵ nạn Khao-Y-Đăng. Bà vừa nói vừa nức nở. Tôi chỉ biết an ủi bà rằng: “Thôi, ít nhất là bây giờ cũng đỡ, không bị đói”. Lúc sắp sửa chia tay, bà ta thở dài nói: “Ôi! Làm người Hoa sao mà khổ nhục thế!”. Đối với lời than thở này suốt đời tôi sẽ chẳng bao giờ quên được. Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương – thời nay tức là Đông Nam Á, (thật ra Đông Nam Á còn rộng hơn ý ông Bá Dương muốn nói – ND) – còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Ma-lai-xi-a nói rằng: “Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn. Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận. Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết! Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chối tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?”. Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú có khác gì? Mười năm tai vạ lớn làm cho bao người đã biến thành cầm thú. Một dân tộc như vậy, phẩm chất sa đọa tới mức đó làm sao có đủ sức lại đứng lên được? (Mao Trạch Đông tuyên bố dân Trung Quốc từ đây lại đứng lên rồi – ND). Tại Mã-lai-á (Malaysia), nơi người Hoa chiếm hơn 30%, có lần tôi đi tham quan bảo tàng viện, bên trong dùng văn tự Mã-lai, có chua cả tiếng Anh, nhưng chẳng có tiếng Hoa. Nói thế không phải cứ có tiếng Hoa là tốt, không có là không tốt, đó là một vấn đề khác. Nhưng hiện tượng này nói lên một phần lòng dạ hẹp hòi của người Mã-lai, một phần lại nói lên tình trạng thiếu lực lượng, địa vị và không được tôn trọng của người Hoa. Người Hoa ở Thái Lan nói: “Chúng tôi nắm chắc trong tay mạch máu của lúa gạo Thái”. Đây chỉ là điều tự mình an ủi mình. Chỉ cần một pháp lệnh được ban hành là các người sẽ chẳng còn gì cả! Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao. Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế? Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi? Ở Cộng hòa Síp, một bên là người Thổ-Nhĩ-Kỳ, một bên là người Hi-Lạp, khác nhau về văn tự, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo mà còn có thể sống chung được. Tại sao chúng ta, những người cùng huyết thống, cùng mặt mũi, cùng tổ tiên, cùng văn hóa, văn tự, ngôn ngữ, chỉ khác nhau có khu vực địa lý mà lại có thể xảy ra hiện tượng này? Sự kiện trên khiến cho việc “làm một người Hoa” không những gian nan mà còn khổ nhục nữa. Ngay cả đối với những người Hoa sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả trung, trung thiên hữu, hữu thiên trung, vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cừu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược. Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên: “Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!” Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử”. Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào? Tôi sống ở Đài Loan hơn 30 năm, mười năm viết tiểu thuyết, mười năm viết tạp văn, mười năm ngồi tù, còn mười năm tới sẽ dùng để viết lịch sử. Một sự phân phối rất quân bình. Tại sao tôi không viết tiểu thuyết nữa? Tôi cảm thấy rằng tiểu thuyết thông qua một số hình thức, nhân vật tương đối chỉ nói lên sự thật một cách gián tiếp. Cho nên tôi mới quay qua viết tạp văn. Tôi muốn dùng tạp văn như một lưỡi gươm ngắn trực tiếp đâm vào tim tội ác. Nhưng rồi viết tạp văn cũng giống như ngồi cạnh một anh lái xe. Cứ phải luôn nhắc nhở anh ta lúc nhầm đường, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái, lúc đừng vượt, lúc có cầu trước mặt, lúc bớt ga, lúc gặp ngã tư, đèn xanh, đèn đỏ, v.v… không lúc nào ngưng nhắc nhở, ngưng kêu. Nhưng nếu kêu nhiều lại có thể bị đi tù. Những kẻ có quyền bính đều biết rằng chỉ cần không có người khám phá ra những sai lầm của mình là mình được xem như không bao giờ sai lầm cả. Ở trong tù, lúc trầm tư tôi đã tự hỏi: “Tại sao tôi ngồi tù? Tôi phạm tội gì?”. Ra khỏi ngục tôi không ngừng tìm hiểu về cảnh ngộ của tôi. Phải chăng đó là một trường hợp đặc biệt ? Đến lúc tới Iowa (Mỹ), chính thức cùng ở chung với những tác gia từ lục địa đến, tôi mới hiểu những người như tôi là Thượng Đế đã chủ định bắt ngồi tù, dù ở Đài Loan hay lục địa. Họ giải thích cho tôi rằng: “Tính nết của anh như vậy, làm sao sống nổi với Hồng Vệ Binh, làm sao chịu nổi Cách Mạng Văn Hóa? Phong trào Phản Hữu sẽ đánh anh không còn manh giáp”. Tại sao một người Trung Quốc chỉ hơi bạo gan sơ xuất nói lên một ít sự thật, lại phải chịu số phận như vậy? Tôi gặp không ít người đã ngồi tù ở lục địa. Tôi hỏi họ: “Tại sao anh bị ngồi tù? ” Họ đáp: “Bởi vì tôi đã nói lên một vài sự thật!”. Thì ra vậy. Tại sao nói lên vài câu về sự thật lại phải chịu một số phận như vậy? Tôi cho rằng đấy không phải là một vấn đề cá nhân, mà là một vấn đề của văn hóa Trung Quốc. Mấy hôm trước, có một vị từ Bắc Kinh đến, Bí thư đảng ủy của Hiệp Hội Các Tác Gia Toàn Quốc. Lúc nói chuyện với ông ta, tôi tức đến nghẹn lời. Tôi biết tôi cãi nhau cũng không đến nỗi tồi, nhưng lần ấy tôi đã bị đánh gục. Tuy nhiên tôi cũng chẳng trách anh ta được, mà thậm chí cả cái người đặc vụ đã bắt tôi ở Đài Bắc cũng thế. Bị đặt vào cái hoàn cảnh đó, đi vào quỹ đạo đó, ai cũng đều có phản ứng tương tự và cảm thấy rằng mình làm đúng. Tôi có thể cũng vậy, vì tôi nghĩ mình làm đúng. Thậm chí tôi có thể còn tồi tệ hơn thế nữa. Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình”. Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác. Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa. Lúc chết, chúa Giê-Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu”. Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí. Vì Mỹ và Đài Loan đã cắt đứt bang giao nên khi vợ chồng chúng tôi đi Iowa, kinh phí một nửa do Đại học Iowa đài thọ, nửa còn lại do một tư nhân tên Bùi Trúc Chương tiên sinh đài thọ. Ông Bùi là chủ tiệm ăn Yến Kinh, một người chưa hề biết Trung Quốc là gì. Chúng tôi cũng chưa hề gặp ông bao giờ nên rất cảm động khi biết ông đã gánh vác một nửa chi phí. Sau này, lúc nói chuyện, ông bảo tôi: “Trước khi đọc sách của ông, tôi vẫn tưởng người Trung Quốc là ghê gớm lắm, sau khi đọc sách của ông rồi mới thấy là không phải vậy, cho nên tôi càng muốn gặp mặt để nghe lời chỉ giáo”. Khi đã thấy văn hóa Trung Quốc là có vấn đề, ông Bùi Trúc Chương lại tự hỏi không hiểu phẩm chất người Trung Quốc có vấn đề không? Lúc tôi ra nước ngoài lần đầu tiên, Giáo sư Tôn Quan Hán nói với tôi: “Sau khi trở về lại đây, anh đừng có mà nói với tôi rằng người Trung Quốc ở đâu cũng vẫn là người Trung Quốc nhé! “. Tôi trả lời: “Được rồi, tôi sẽ không nói!”. Sau khi trở về nước lần đó, lúc ông hỏi tôi: “Anh thấy thế nào?” Tôi nói: “Ông bảo ông không cho tôi nói câu ấy, nhưng tôi vẫn phải nói: người Trung Quốc ở đâu cũng vẫn là người Trung Quốc!”. Ông Tôn chắc hy vọng rằng với thời gian người Trung Quốc sẽ thay đổi mà không thể nào nghĩ được rằng chuyện đó đã không hề xảy ra. Thế có phải là phẩm chất của người Trung Quốc đúng là có vấn đề không? Có phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta một cái nội tâm xấu xa? Thật tình tôi không nghĩ rằng phẩm chất chúng ta có vấn đề, mà đấy cũng không phải là một điều an ủi. Người Trung Quốc là một trong những dân tộc thông minh nhất. Tại các đại học Mỹ, những người đứng đầu bảng thường là người Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học lớn, gồm cả người cha đẻ của nền nguyên tử Trung Quốc Tôn Quan Hán, người được giải thưởng Nobel như Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo đều là những bộ óc hạng nhất. Người Trung Quốc quả là không phải loại người có phẩm chất xấu. Phẩm chất này có thể đưa Trung Quốc đến được một thế giới lành mạnh và hạnh phúc. Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn. Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn? Nguyên do vì sao? Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh. Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!”. Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta. Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ! Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!” Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn. Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: ” Chúng tôi đang thì thầm với nhau”. Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế? Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau. Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch. Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20. Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi – nơi không cần quan hệ với người khác – thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng. Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹvới những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Ở Trung Quốc có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống”. Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết. Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học – anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước… – Ngày hôm sau tôi bảo: “Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!”. Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!”. Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”. Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng. Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?”. Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?” Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc. Nói ví dụ tại Mỹ, một nước rộng mênh mông, con người như hạt cát trong sa mạc, ai biết anh là người nhập cảnh không hợp pháp? Nếu có người tố cáo anh, thì đó là ai? Là ai, nếu không phải là một người Trung Quốc khác, không phải là bầu bạn gần gũi anh? Nhiều bạn ở Mỹ còn bảo tôi: “Nếu sếp của anh là người Trung Quốc anh hãy chú ý! Đặc biệt phải coi chừng! Không những anh không được giúp đỡ mà lúc cần anh lại còn có thể là người đầu tiên bị tống cổ đi để cho người chủ “biểu thị” tinh thần chí công vô tư nữa”. Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù”. Điều này phải chia làm hai phần: Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi. Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử. Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền. Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!” Có một lần coi một phim Anh, tôi thấy mấy đứa trẻ cãi nhau xem cùng leo cây hay bơi lội. Sau khi đã biểu quyết leo cây thì tất cả đều đi leo cây. Chuyện này đối với tôi có ấn tượng rất sâu sắc. Bởi vì dân chủ không phải là vấn đề hình thức, mà là một phần của sự sống. Cái dân chủ của chúng ta là dân chủ bề ngoài. Trong lúc bỏ phiếu, các quan lớn cũng cần được chụp ảnh với lá phiếu trên tay ra điều ta đây cũng bõ công tham gia vào cái cuộc chơi bầu cử này đấy. Dân chủ thật ra có là cái quái gì trong sinh hoạt của họ đâu, chẳng qua chỉ là một hành vi để biểu diễn! Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi”. Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng. Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó. Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương. Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!”. Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu? Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v…Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét. Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích). Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?” Tôi có một người bạn viết tiểu thuyết kiếm hiệp sau bỏ nghề đi buôn bán. Một lần gặp anh tôi hỏi thế nào, làm ăn có phát tài không? Anh bảo: “Tài gì, hiện đang muốn treo cổ tự tử đây!” Tôi hỏi làm sao mà bị thua lỗ? Anh đáp: “Anh không hiểu chứ nói chuyện với thương nhân Trung Quốc cả ngày cũng chả hiểu họ muốn gì!” Nhiều người nước ngoài cũng nói với tôi là giao thiệp với người Hoa rất khó, nói chuyện cả ngày cũng chẳng hiểu trong thâm tâm họ nghĩ gì. Tôi bảo: “Cái đó thì có gì mà kỳ quặc? Không phải chỉ người Tây phương các anh, mà ngay cả người Trung Quốc chúng tôi cũng gặp vấn đề đó”. Nói chuyện với người Trung Quốc anh phải biết quan sát sắc mặt, điệu bộ, cử chỉ, phải biết quanh co úp mở. Hỏi người nào “Anh ăn cơm chưa?”, anh sẽ nghe người đó đáp “Tôi ăn rồi!” nhưng kì thực anh ta chưa ăn, cứ để ý nghe thì thấy bụng anh ta hiện đang sôi lên sùng sục. Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!”. Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời. Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu. Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi. Có lần tôi đến một trường đại học ở Đài Trung để thăm một vị giáo sư người Anh. Một anh bạn tôi cũng dạy cùng đại học đó chợt đến. Thấy tôi, anh nói: “Tối nay đến đằng tôi ăn cơm”. Tôi đáp: “Xin lỗi, tôi còn có hẹn”. Anh bảo: “Không được, nhất định phải đến”. Tôi trả lời: “Được rồi, ta bàn sau”. Anh lại bảo: “Nhất định phải đến đấy, xin chào!” Giữa người Trung Quốc với nhau chúng tôi hiểu rõ tâm lý của nhau. Nhưng người Tây phương lại hoàn toàn mù tịt. Đến lúc làm việc xong, khoảng giờ cơm tối, tôi bảo: “Thôi, tôi phải về đây!” Người giáo sư Anh nói: “Ê! vừa rồi chẳng phải anh vừa hẹn với anh kia sao? Anh phải tới nhà anh ta chứ!” Tôi bảo: “Làm gì có chuyện ấy?”. Ông giáo sư nói: “Anh ấy nhất định là đã làm cơm chờ anh đấy!” Người nước ngoài thật khó mà biết được cái kiểu “tâm khẩu bất đồng” này của người Trung Quốc. Tình trạng nói trên khiến người Trung Quốc ngay từ thủa lọt lòng đã rất khốn khổ. Bởi vì mỗi ngày đều phải tìm hiểu ý tứ người khác. Nếu là bạn bè đồng lứa thì còn đỡ, nhưng nếu phải tiếp cận với những kẻ quyền thế, quan trên, kẻ có tiền, anh sẽ phải từng giây từng phút khổ công tìm hiểu đến nơi đến chốn, xem họ nghĩ gì. Cái việc này là một sự lãng phí tinh thần kinh khủng. Cho nên có câu tục ngữ: “Tại Trung Quốc làm việc dễ, làm người khó”. Nghệ thuật “làm người” thuộc về cái “văn hóa thân mềm” (để dễ uốn cong, chui luồn, nghĩa bóng đến từ động vật thân mềm). Các vị ở nước ngoài lâu năm về lại Trung Quốc chắc biết cái sức nặng của câu này như thế nào. Làm việc thì dễ như 2 + 2 = 4, nhưng làm người khó bởi vì có khi 2 + 2 = 5 , hoặc cũng có khi = 1, hay = 853. Anh nói sự thật, nhưng người ta lại cho rằng anh công kích và muốn lật đổ chính quyền. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, nó làm cho chúng ta không thể nào thoát khỏi sự nói khoác, nói suông, nói dối, nói độc. Cái bản lĩnh ghê gớm của tôi là có thể ngủ trong hội nghị. Ngủ xong tỉnh dậy thì hội nghị cũng vừa kết thúc. Tại sao thế? Vì trong hội nghị mọi người đều nói những chuyện mà chính bản thân họ không hề tin, nghe hay không nghe đều như nhau. Không chỉ ở Đài Loan mới như vậy, ở lục địa còn nghiêm trọng hơn nhiều. Năm nay (1984) trong “Chương trình các tác gia quốc tế tại Đại học Iowa” có một nữ tác gia nổi danh của lục địa tên là Trầm Dung tham gia. Cô có một tác phẩm mang tên “Chân chân giả giả” (Thật thật giả giả) mà tôi muốn thành thật giới thiệu với quý vị. Hoàn cảnh bắt chúng ta nói láo, bắt chúng ta không thành thật, nhưng ít nhất chúng ta phải biết cái xấu là cái xấu. Nếu một khi cái xấu lại được chúng ta xem là điều vẻ vang, hoặc vô thưởng vô phạt, thì đó là lúc mà cái “văn hóa thân mềm” của chúng ta đang bắt đầu xuống cấp. Nói thí dụ việc ăn cắp, nếu được coi là chuyện vô thưởng vô phạt, hoặc chẳng phải chuyện quang vinh hay không quang vinh, thậm chí có thể xem là chuyện quang vinh nữa, thì đây là một nguy cơ, nguy cơ mà người Trung Quốc chúng ta đang phải đối đầu hiện nay. Vì người Trung Quốc vẫn liên tục dấu diếm những lỗi lầm của mình, vẫn nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói độc, thành thử tâm linh người Trung Quốc hoàn toàn bị phong tỏa, không mở rộng được. Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi. Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao? Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Tại sao chúng ta có thể thiếu lòng bao dung đến như vậy? Không có lòng bao dung, bụng dạ hẹp hòi đưa đến hai điều cực đoan và mất cân đối như sau: Một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ra ông chủ, xem mọi người đều là cứt chó hết, chẳng đáng cho mình ngó ngàng đến. Riêng bản thân mình lại không hề biết tự tôn là gì. Sự phân biệt nhân cách kiểu đó biến người Trung Quốc thành một loại động vật kỳ dị. Tại Trung Quốc nếu muốn làm một kỳ công thì rất dễ, trong một chốc có thể xuất hiện những thành tích làm mọi người kinh dị. Nhưng người Trung Quốc lại không có khả năng để giữ cho cái kỳ công này bền vững. Một người có được một thành tựu nho nhỏ đã hoa mắt, ù tai, đứng không vững, vì lên cơn sốt. Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia. Mấy thứ đó đều là kiểu tự thổi phồng mình. Ở Đài Loan có xảy ra một tai nạn xe cộ như sau: Trong xe ca sinh viên Đại học Sư phạm vừa tốt nghiệp đi du lịch, cô hướng dẫn tán dương: “Người cầm lái vĩ đại của chúng ta là tay lái số một, vừa tài giỏi, vừa đẹp trai, vừa trẻ tuổi”. Nghe thấy thế, anh tài hứng chí liền bỏ tay lái ra quay về phía mọi người gương hai tay chào đáp lễ. Tiếp theo đó sự thể thế nào tôi không cần phải kể. Đây là một cách tự phô trương, chắc cho rằng kỹ thuật lái xe của mình cao đến độ không cần cầm tay lái cũng có thể lái được xe. Chẳng khác nào chuyện 1.000 năm trước trong một bộ phim: Hoàng đế La Mã một lần mời một người đến biểu diễn bay lượn. Để bay, người này chế ra một cặp cánh. Trước khi leo lên tháp anh giơ cặp cánh cho mọi người xem, tức thì toàn đấu trường tiếng reo hò hoan hô vang dội như sấm. Anh bỗng không kiềm chế nổi sự tinh tướng của mình, cảm thấy mình quá vĩ đại đến độ có thể không cần cánh cũng có thể bay được, vì vậy vứt cánh leo lên thang. Vợ anh níu anh bảo: “Không có cái đó làm sao anh bay được? Anh tưởng anh là gì?”. Anh ta bảo: “Em thì biết gì!”. Vợ anh ta đuổi theo lên, anh ta xéo lên tay người vợ rồi tiếp tục lên thang, đóng nắp tháp, với vẻ kiêu hùng anh nhẩy xuống. Chỉ nghe phụp một phát rồi không thấy gì nữa. Quần chúng nổi khùng hét: “Trả tiền để xem bay lượn chứ có phải để xem ngã chết đâu, bắt vợ nó bay đi!” Người vợ nhìn lên trời như nói với linh hồn của chồng một cách thê thảm: “Chỉ vì anh tinh tướng mới ra nông nỗi này, tự hại bản thân mình mà hại cả vợ con nữa!”. Cái gì đã làm cho người Trung Quốc tinh tướng một cách quá dễ dàng như thế? Bởi vì người Trung Quốc “bụng dạ nhỏ hẹp nên dễ đầy” (khí tiểu dị doanh), kiến thức thấp kém, lòng dạ hẹp hòi, chỉ cần có một tý gì đó đã tưởng trời đất dẫu to nhưng không chứa nổi mình nữa. Nếu chỉ có vài người như thế, chắc cũng không quan trọng gì, nhưng toàn dân tộc, đại đa số, hoặc một số lớn người Trung Quốc như vậy sẽ hình thành một nguy cơ cho dân tộc. Người Trung Quốc tựa hồ không có tự tôn nên đối với nhau rất khó có được một quan niệm bình đẳng. Nếu anh không phải là chủ nhân của tôi thì tôi là chủ nhân của anh. Tình hình này đưa đến một tâm trạng vừa bế tắc vừa không thể nhận sai lầm của mình. Mà sai lầm vẫn tiếp diễn hoài lại gây ra một não trạng sợ sệt. Hãy lấy một ví dụ: Tôi có một người bạn ở Đài loan mắc bệnh nặng phải đem vào nhà thương trung tâm, bác sĩ tiếp bao nhiêu ống thuốc mới cứu sống được. Hai ba hôm sau người nhà thấy tiền nhà thương này quá đắt muốn chuyển anh sang một bệnh viện bình dân, đến nói chuyện với bác sĩ điều trị. Ông này nghe thế nổi trận lôi đình la: “Cứu sống ông ấy chẳng phải là chuyện dễ, bây giờ lại muốn đổi bệnh viện à?”. Nói xong sai người rút hết các ống thuốc ra làm bệnh nhân suýt nữa toi mạng. Anh bạn lúc kể với tôi chuyện này trong lòng vẫn còn đầy bi hận. Tôi nói với anh: “Anh cho tôi biết tên tay bác sĩ ấy đi, tôi viết một bài vạch mặt nó ra”. Anh ta giật bắn mình, vội nói: “Ấy! Anh đừng bộp chộp, hiếu sự. Nếu biết thế này tôi đã chẳng kể cho anh nghe làm gì!”. Nghe thế tôi muốn điên lên. Tôi bảo: “Anh sợ cái gì? Nó giỏi lắm thì cũng chỉ là bác sĩ thôi. Nếu anh bị bệnh lại, anh không gọi nó đến thì thôi chứ chả nhẽ nó lại cứ đến trị bệnh cho anh để báo thù à? Nếu có chuyện gì thì tôi đối phó với nó chứ can dự gì anh. Bài viết là do tôi, tôi không sợ thì anh sợ gì?”. Bạn tôi bảo: “Anh là đồ bạt mạng!”. Tôi tưởng thế nào! Thay vì khen ngợi sự can đảm của tôi thì anh lại đi chê trách tôi. Tôi nghĩ đây không phải là vấn đề của riêng mình anh, anh lại là bạn rất thân của tôi, anh cũng là người rất tốt, anh nói thế chỉ vì anh muốn bảo vệ tôi, không muốn cho tôi đi chuốc họa vào thân. Đấy chính là cái não trạng sợ sệt, sợ sệt đủ mọi thứ trên đời mà tôi muốn nói. Nhớ lại lần đầu tôi đi Mỹ, ở New York có một vụ án, một người Hoa bị bắn thọ thương, hung thủ bị bắt, nhưng nạn nhân lại không dám nhận diện. Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!” Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế. Văn hóa Trung Quốc cực kỳ rực rỡ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770 – 221 trước Tây lịch), nhưng từ thời kỳ này về sau, văn hóa Trung Quốc đã bị các Nho gia khống chế. Đến đời Đông Hán (25 – 220 sau Tây lịch), chính phủ có quy định là tất cả những phần tử trí thức khi phát ngôn, biện luận, viết văn đều không thể vượt qua phạm vi những gì đã được dậy ở trường, việc này gọi là “sư thừa” (thừa hưởng của thầy học). Nếu vượt quá chuyện “sư thừa” này, không những học thuyết của mình không được công nhận mà còn là một việc phạm pháp. Cứ như vậy mà tiếp tục xuống các đời sau làm cho sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy của giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng hoàn toàn, chẳng khác nào lấy một cái túi nhựa bịt kín bộ não lại, không cho một cái gì lọt vào nữa. Thế nào là không còn khả năng suy xét nữa? Cứ đọc báo Trung Quốc là phát ngán. Suy xét là một cái gì không phải chỉ có một mặt, hai mặt, mà nhiều mặt. Tôn Quan Hán thường dùng một ví dụ: Có một quả cầu một nửa trắng một nửa đen. Người thấy phía trắng bảo nó trắng, người thấy mặt đen bảo nó đen. Cả hai người đều không sai, cái sai là không nhìn được đến mặt bên kia của nó. Để có thể nhìn được đến mặt bên kia của nó thì phải có trí tưởng tượng, khả năng suy xét. Cho nên lúc tư duy một vấn đề cần phải nghĩ đến nhiều mặt của nó. Có một chuyện hài hước ngắn của Mỹ kể chuyện một thầy giáo tổ chức thi, đưa cho sinh viên một máy đo khí áp và bảo dùng nó để đo chiều cao của một tòa nhà, đương nhiên ý muốn dùng khí áp để đo độ cao ở chỗ cao nhất và chỗ thấp nhất của tòa nhà. Nhưng có một sinh viên lại dùng nhiều phương pháp khác nhau song tuyệt nhiên không sử dụng “khí áp”. Thầy giáo tức mình bèn đánh trượt anh này. Anh ta kháng tố lên hội đồng giám khảo. Hội đồng giám khảo hỏi thì anh này nói: “Thầy giáo muốn tôi dùng máy đo khí áp đo chiều cao tòa nhà, nhưng không bảo sử dụng khí áp, đương nhiên tôi được phép dùng những cách đơn giản hơn”. Hội đồng hỏi: “Ngoài phương pháp đó còn có phương pháp nào nữa?” Anh này đáp: “Còn rất nhiều, ví dụ tôi có thể buộc dây vào máy thòng xuống rồi đo chiều dài của dây để biết chiều cao tòa nhà”. “Thế còn phương pháp nào khác không?”, “Vẫn còn nhiều, ví dụ tôi có thể tìm người quản lý nhà đưa máy cho anh ấy để anh ấy cho tôi biết chiều cao của tòa nhà”. Người sinh viên này rõ ràng không có gì là ngược đời. Ý nghĩ của anh ta biểu hiện một thứ trí tưởng tượng và tư duy thường làm cho những bộ óc bã đậu điên lên. Còn có một loại “Nghệ thuật mua dưa” như chuyện một người chủ bảo nhân viên: “Anh ra cửa, đi về phía Tây, đến một cái cầu thì có chỗ bán dưa hấu, mua cho tôi hai cân dưa hấu”. Anh người làm ra cửa, rẽ hướng Tây, đi mãi không thấy cầu, cũng chẳng thấy ai bán dưa hấu lại tay không quay về. Người chủ mắng anh là đồ lú lẫn, chẳng có đầu óc gì cả. Anh ta liền bảo: “Ở phía Đông mới có chỗ bán dưa”. Người chủ nói: “Thế tại sao không đi sang hướng Đông mà mua?” Anh ta đáp: “Ông có bảo tôi đi về hướng Đông đâu?” Người chủ lại chửi anh ta là đồ ngu. Kỳ thực người chủ biết anh ta là loại người chỉ biết phục tùng, không có năng lực suy nghĩ, hoàn toàn có thể tin cậy được. Giá như người này biết phía Tây không có bèn qua phía Đông mua, dưa vừa ngọt vừa rẻ, thể nào lúc về nhà người chủ cũng khen: “Anh rất thông minh, lanh lợi! Làm người phải như thế chứ! Tôi rất cần có được người như anh”. Nhưng trong thâm tâm người chủ sẽ nghĩ cái người làm này không thể tin cậy được, có thể tráo trở lúc nào không biết. Đối với những kẻ nô lệ kiểu này, chủ nhân không giết thì cũng đuổi đi. Cái văn hóa thai nghén ra những thứ người này làm sao có thể chủ trương được một tư duy độc lập. Vì vậy người Trung Quốc chúng ta do không được huấn luyện suy nghĩ độc lập nên rất sợ suy nghĩ độc lập, thiếu năng lực thưởng thức và đánh giá, không có cái gì là không ba phải, chẳng có cái gì là tiêu chuẩn cả. Trung Quốc ra nông nỗi này tất phải tìm ra nguyên nhân trong chính cái văn hóa của nó. Cái văn hóa này trong 4.000 năm – từ Khổng Khâu (Khổng Tử) trở đi – không còn có được một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Những kẻ biết chữ đều chỉ luẩn quẩn ở học thuyết Khổng Khâu đã giảng hoặc môn đồ ông giảng lại chứ không hề có ý kiến độc lập của riêng mình. Bởi vì cái văn hóa chúng ta không cho phép làm như vậy. Cho nên mọi người chỉ cầu sống ở cái vũng nước ao tù ấy thôi. Cái ao nước tù hãm này chính là cái hũ tương văn hóa Trung Quốc, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc trở nên xấu xí. Cũng chính vì cái hũ tương sâu không lường được này nên đối với biết bao vấn đề người Trung Quốc đều không thể dùng tư duy của mình để tự giải quyết, mà phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác. Nhưng cái vũng nước ao tù này, cái hũ tương này dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến thành cứt khô. Vì những thứ ngoại lai một khi vào Trung Quốc đều nhanh chóng biến chất. Người ta có dân chủ, chúng ta cũng có dân chủ. Dân chủ của chúng ta là “mày là dân, tao là chủ”. Người ta có pháp chế, chúng ta cũng có pháp chế. Người ta có tự do, ta cũng có tự do. Người ta có gì, ta có nấy. Anh có chỗ dành riêng cho bộ hành sang đường, tôi cũng có, dĩ nhiên! Nhưng chỗ dành cho bộ hành của chúng tôi là chỗ để dụ dỗ họ đến cho xe cán chết. Để biến cải cái hình tượng xấu xí của người Trung Quốc, chúng ta chỉ có thể bắt đầu từ bây giờ, mỗi cá nhân đều phải nghĩ cách bồi dưỡng năng lực thưởng thức và đánh giá của bản thân mình. Chúng ta dù không biết diễn kịch, nhưng lại cần xem được kịch. Người biết ít thì xem ít, người biết thưởng thức nhiều xem nhiều. Người biết thưởng thức sẽ là một sự thành tựu không bao giờ có giới hạn. Nhớ thời kỳ vừa đến Đài Loan, tôi có một người bạn. Anh này sưu tập rất nhiều đĩa hát của Beethoven (Bít-tô-ven). Anh phải có đến bảy, tám bộ đĩa. Tôi nằn nì xin anh cho hoặc bán lại tôi một bộ. Anh từ chối ngay tại trận. Bởi vì mỗi một bộ đều do một nhạc trưởng và một dàn nhạc khác nhau trình tấu, không bộ nào giống bộ nào. Sau khi biết thế tôi rất lấy làm hổ thẹn, anh quả tình là một người biết thưởng thức. Lần tranh cử Tổng thống Mỹ trước, chúng ta được xem trên ti-vi Đài Loan cuộc tranh luận của các ứng cử viên. Không hề có việc lật tẩy các bí mật đời tư của đối phương, bởi vì dân chúng không ưa những người có trình độ tranh cử như vậy, và nếu làm thế, thể nào họ cũng mất phiếu. Nhưng cách làm của người Trung Quốc sẽ không như vậy. Không những chuyên môn đi bới móc đời tư của đối phương, họ lại còn bịa đặt thêm, dùng những ngôn từ rất ác độc. Không hiểu cái loại thổ nhưỡng gì đã nuôi dưỡng các loại cỏ như vậy, cái loại xã hội gì mà sinh ra những thứ người như thế? Nếu người dân không tự nuôi dưỡng được cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả. Đi tôn thờ một kẻ không thể tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ mình? Cái việc tung tiền ra mua cử tri là một việc chẳng ra gì, thế mà khi xếp hàng đi bầu thấy người thò tiền ra mua lá phiếu mình cũng chìa tay ra hỏi: “Tiền đâu?” Cái loại người như vậy mà cũng đòi thực thi dân chủ hay sao? Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả. Bây giờ thường có kẻ bảo: “Chính phủ lỏng lẻo quá!”. Đây là một suy nghĩ rất đáng sợ. Bởi vì tự do, quyền lợi là của chúng ta, không phải anh cho thì tôi mới được. Cho dù anh không cho thì tôi cũng vẫn có. Nếu chúng ta có khả năng thưởng thức thì nhất định cần tranh thủ lựa chọn, nghiêm chỉnh lựa chọn đối tượng, nếu không biết đánh giá thì giữa một người đẹp và người mặt rỗ cũng không thể nào phân biệt được, còn đi trách ai nữa? Nếu Bá Dương tôi vẽ giả một tranh Picasso, có người bảo: “Tranh tuyệt thật!” và trả cho tôi 50 vạn Mỹ kim thì người mua tranh giả đó phải trách ai trước? Ai là kẻ có mắt như mù, không biết phân biệt, thưởng thức? Trong những tình huống như thế, tranh giả sẽ tràn ngập thị trường vì chẳng còn ai phân biệt được thật giả nữa. Lúc đó những nhà danh họa chỉ có chết đói mà thôi. Nếu mua phải tranh giả thì đừng nên trách người khác, phải tự trách mình trước. Chẳng khác nào đi thuê một anh thợ may để chữa cửa cho mình, đến khi cửa bị ngược, lại đi mắng anh thợ may: “Ông mù à?” Thợ may có thể sẽ trả lời: “Không biết ai mù! Ai bảo anh đi thuê thợ may để chữa cửa?” Cái chuyện xưa này đáng để chúng ta suy ngẫm. Không biết thưởng thức thì chẳng khác nào người mù. Có quá nhiều người Trung Quốc mang khuôn mặt xấu xí. Chỉ có nhân tài Trung Quốc mới cải tạo được người Trung Quốc. Nếu người nước ngoài có nghĩa vụ giúp đỡ chúng ta thì sự giúp đỡ ấy không phải là giúp đỡ về kinh tế mà phải về văn hóa. Vì con tàu quốc gia Trung Quốc quá lớn, người quá nhiều, một khi chìm xuống có thể sẽ cuốn theo trong vòng xoáy nước của nó những kẻ khác. Tôi xin tất cả những người bạn Mỹ có mặt tại đây hôm nay, các bạn hãy tiếp nhận hai bàn tay chúng tôi đang giơ ra! Còn một điểm cuối cùng. Tôi có cảm tưởng là người Trung Quốc quá đông, mười ức những cái mồm đó mở to ra thì ngay cả rặng Hy-ma-la-ya cũng có thể bị nuốt chửng. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng khổ nạn của người Trung Quốc được mặt thật những nhân vật lãnh đạo nước nhà. Đó là con đường trước mặt chúng ta phải đi, mà cũng chẳng còn con đường nào khác nữa. Xin cảm tạ.

Một Bài Thơ Nhỏ

tranvanle

Tự dưng mà nước mắt
Chảy xuống hai bàn tay
Tự dưng mà đám mây
Cứ bay hoài bên cửa

Tự dưng con chim nhỏ
Bay đến hút nhụy hoa
Tự dưng trên mái nhà
Đôi bồ câu vỗ cánh

Tự dưng cơn gió lạnh
Ai đuổi mà bay ngang
Tự dưng nhớ màu vàng
Của hoa quỳ ngày cũ

Tự dưng ai đem giấu
Của tôi một bóng hình
Tự dưng mà mong manh
Bài thơ tình rất đẹp

Tự dưng ngó xuống dép
Một chiếc mất đâu rồi
Đôi bồ câu có đôi
dép một đôi còn một

Tự dưng tôi thảng thốt
Gọi mình nghe bơ vơ
Tự dưng vài giọt mưa
Ở đâu bay vào mắt…

Tự dưng đi tìm Phật
Gặp một người từ bi
…và tôi lại bỏ đi
Vào Ta Bà Thế Giới

Trần Vấn Lệ

NGƯỜI HẸN TRĂM NĂM

buidiep

người hẹn trăm năm phía đó
tằm tơ treo nửa khuôn đời
lênh đênh phận con chữ nhỏ
mặt trời cũng chỉ trò chơi

mặt người đang mùa nhật thực
lá non héo nửa miệng cười
ai bán một lời chân thật
thơ về mua mảnh tình rơi

nếu có bình yên đỉnh gió
phù vân lần lữa cuộc người
trên ngón xương gầy vò võ
trôi dài sợi bạc đời ơi

gót cùn loanh quanh ngõ hẹp
nghe mưa qua đó miền xa
ướt cánh thiên cầm mấy thuở
tha hương đâu cũng quê nhà

ta biết hôm nay còn gặp
mặt cười phố xá thân quen
ta tin lá không hờ hững
xanh suốt mùa thu muộn phiền

BÙI DIỆP

SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?

nguyennhathuy

1. Trong môn lịch sử cuối cấp cơ sở và PTTH, sách giáo khoa chỉ dành một ít cho sử thế giới, phần lớn còn lại dành cho sử Việt Nam . Trọng tâm là giành độc lập, kháng chiến chống Pháp, Mỹ – dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đông Dương (nay là đảng CSVN).

Trong hơn bốn mươi năm qua, với những gì tôi đã đọc, đã chứng kiến kết hợp với những hiểu biết qua sách vở trước 1975, nay tổng hợp, lắng hồn lại và suy nghĩ khách quan, công minh dưới cách nhìn của một người học sử, tôi nhận ra vài điều.

Những người viết sách, dĩ nhiên là công cụ tuyên truyền của đảng nên luôn bôi đen hoặc tô hồng quá đáng thậm chí là tự “đặt điều”. Nói về tội ác của phong kiến, thực dân, đế quốc hay “Mỹ – Ngụy” thường cường điệu, nói về sự lãnh đạo của “đảng ta” và lãnh tụ luôn luôn là “tài tình, sáng suốt, nhạy bén”.

Chuyện “dựng khống” lên thì có từ hồi ông Trần Dân Tiên đến anh Lê Văn Tám và có lẽ còn rất, rất nhiều nhưng “chưa bị lộ”! Hẵn mọi người còn nhớ trước 1975, đài Tự Do ở Miền Nam phát một thời gian dài trong chương trình buổi tối giọng nói của chính anh Nguyễn Văn Bé: “Tôi là Nguyễn Văn Bé, hãy còn sống đây”. Anh Bé cũng chỉ là một nhân vật có thật, còn sống nhưng được tôn xưng là đã hy sinh cao cả!

Còn nhớ có lúc, sách giáo khoa lớp 11 nêu chuyện thực dân Pháp bóc lột công nhân đồn điền cao su ở Đồng Nai làm người đọc có cảm giác như họ sống trong địa ngục hay như trong các “trại cải tạo” dành cho sĩ quan và viên chức VNCH ngoài Bắc sau 1975. Sau này (hồi cuối thấp niên 80 thế kỷ trước), có dịp vào sâu trong các đồn điền cao su này tôi còn thấy những nhà ở chủ đồn điền Pháp xây cho công nhân ngày ấy. Chắc chắn hơn hẵn các nhà tình nghĩa bây giờ về độ bền vì không có chuyện bị ăn bớt vật tư ,Theo năm xây dựng được ghi trước nhà thì quả là còn rất chắc chắn.

Tôi cũng biết cuối những năm chống Pháp (1953-54), ở liên khu 5 gồm các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú, chính quyền kháng chiến phát động giảm tô tức, cải cách ruộng đất. Đã xãy ra các vụ đấu tố tiêu diệt địa chủ trong làng tôi dầu họ chỉ là trung nông lớp giữa và lớp trên nhưng giàu có trong làng. Làng tôi, huyện tôi nghèo lắm nên chẳng có ai là địa chủ nhưng nếu không làm thế thì làm sao gây căm thù?. Mặc khác, cán bộ thì muốn đủ và vượt chỉ tiêu nên đẩy lên, do đó, có một sồ người chết oan trong hai năm này nhưng chuyện này nhỏ so với ở miền Bắc những năm 1955-56 nên ít người biết đến!

Trở lại chuyện sách lịch sử, sau bài đầu, “đảng Cộng sản VN ra đời” là bài “Phong trào Cách Mạng 1930-31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh”, sách viết hay lắm, đảng giỏi lắm trong việc đấu tranh chống khủng bố trắng. Qua bài học, nếu giáo viên có năng lực diễn đạt, rõ ràng học trò sẽ thấy hình ảnh đấu tranh oai hùng của nông dân và công nhân Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của đảng, chắc cũng sẽ có em còn biết căm thù thực dân phong kiến. Sự thật lịch sử có đến mức như vậy không? Câu trả lời không thuộc mục đích của bài viết này nhưng chắc chắn, tìm trong Văn khố Pháp, tìm trong sách lịch sử còn lại và tài liệu trên internet thì độc giả sẽ có câu trả lời.

2. Nguyên nhân cá chết hàng loạt ven biển miền Trung không bàn nữa, ông Nguyễn Phú Trọng quên cá chết mà chỉ đến thăm Formosa . Bốn vị tai to mặt bự Trọng, Phúc, Quang, Ngân không hề lên tiếng, toàn bộ 19 UV Bộ Chính Trị, 200 UVTW và hình như không có ai trong số 496 đại biểu quốc hội phát biểu câu gì liên quan đến việc này cũng tạm cho qua. Những tuyên bố ngu ngốc vì tiền, vì muốn yên thân của BT bộ Công nghệ – Môi trường tạm tha thứ (vì không làm được gì họ) nhưng rất nhiều người không tha thứ được.

Họ là ai?

Họ là Đặng Ngọc Sơn, phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, người tuyên bố nước biển không độc, hàm lượng các hóa chất trong mức độ an toàn, dân có thể tắm biển, ăn cá thoải mái. Lẽ nào một người làm tới chức đó lại dốt nát đến mức không nhận ra mối nguy khi nước biển nhiễm độc? Chỉ có thể là muốn nịnh bợ để tồn tại trên cương vị này hoặc leo lên cao hơn nhưng không nhận ra hoặc vì quyền lợi cá nhân nên nhận ra mà vẫn tuyên bố . Đó là tội ác, tội ác không riêng với dân Hà Tĩnh mà còn với dân tộc Việt Nam vì tiếp tay cho bọn bán nước và cướp nước.

Họ là Lê Quang Hòa, giám đốc Công Ty Môi trường Đô thị Kỳ Anh, người đã dùng trang trại của mình để che giấu và chôn lấp chất thải cho Formosa . Hòa có biết trang trại này nằm ở đầu nguồn sông Trí, con sông cung cấp cho sinh hoạt của dân Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hòa có biết những chất thải này là cực kỳ độc hại? 145,5 tấn đã được Hòa giúp chôn giấu theo dư luận của nhân dân từ tháng 8.2015 sẽ ảnh hưởng thế nào đến nguồn nước, đến sức khỏe nhân dân? Có tin Formosa đã lén lút đổ rác chứa thải tại khu rừng 327 của thị xã Kỳ Anh chừng 100 tấn mà Cty CPXD Quản lý môi trường đô thị Kỳ Anh (không rõ có phải Công Ty của Hòa) là tòng phạm?

Họ là những người điều hành đập nước thủy lợi Sông Trí (Hà Tĩnh), nơi nằm sát trang trại chôn lấp chất thải rắn của nhà máy Formosa , lại ồ ạt cho xả nước bất thường giữa mùa hè. Đây là hành vi được người dân cho là âm mưu xóa hết dấu vết chôn lấp chất thải chưa bị lộ của Công ty Môi trường Đô thị Kỳ Anh.
Nếu phải kể thêm, danh sách còn có thể dài hơn nhưng chỉ với ngần này cũng đủ để giết nhiều thế hệ dân Kỳ Anh, dân Hà Tĩnh, chỉ là bây giờ chưa phải thời điểm chất độc tác dụng đến cơ thể.

3. Hơn mười ngày trước, ngày 07.7.2016, đồng bào giáo dân Cồn Sẻ, Ba Đồn, Quảng Bình với khoảng gần 3000 người đã xuống đường biểu tình đòi Formosa trả nợ vì họ không thể ra khơi đánh cá, vì họ mất việc do Formosa gây ra. Vậy thì, dân Hà Tĩnh nói riêng và Nghệ Tĩnh nói chung, nơi có truyền thống cách mạng kiên cường bất khuất SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?, nơi gánh chịu hậu quả trực tiếp việc xả thải của Formosa, nơi mà quan chức nhà nước tiếp tay giết dần mòn bản thân, gia đình, bà con giòng tộc mình SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?

Thời 1930-31, nghe theo tiếng gọi của đảng, đồng bào đã đứng lên, đã trừng trị bọn cường hào ác bá, bọn tay sai thực dân ở nông thôn Hà Tĩnh, vậy SAO BÂY GIỜ KHÔNG ĐỨNG DẬY TRỪNG TRỊ ĐẶNG NGỌC SƠN, LÊ QUANG HÒA VÀ BÈ LŨ khi tội ác bọn này hơn hẵn bọn tay sai thời phong kiến?

Có thể, nhiều vị lão thành cách mạng không đồng tình với đảng và nhà nước, tuổi già sức yếu, sợ mất mọi chế độ nếu đấu tranh nhưng sao không nói cho con cháu biết rằng sự hy sinh của cha anh qua bao thế hệ cho độc lập dân tộc đã bị bọn cầm quyền hiện tại, bọn tư bản đỏ nhân danh đảng bán đứng?. Sao các mẹ VN anh hùng, các cựu chiến binh, các gia đình cách mạng, gia đình có công không cho con cháu biết bè lũ cầm quyền hiện nay chỉ là một thứ ma quỹ nói tiếng người để con cháu biết MÀ ĐỨNG DẬY LẬT ĐỔ CHÚNG?
Và hơn ai hết, những công dân Hà Tĩnh, đã tiếp thu kiến thức lịch sử ở lớp 9 và lớp 12, thấm nhuần truyền thống Cách mạng 1930-31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh ĐỨNG DẬY ĐI CHỨ? SAO KHÔNG ĐỨNG DẬY?
Nguyễn Nhật Huy

ĐỂ NHỚ MỘT LÀN HƯƠNG

nguyenanbinh

Thèm nghe tiếng ve giữa mùa hạ đỏ
Rơi xuống tình cờ vạt áo người thương
Có một mùa thi thuở ấy xa trường
Em qua đó trơ hàng cây trút lá.

Thèm nghe tiếng mưa thơm mùi cỏ lạ
Bong bóng tay người tóc đã hư hao
Một phiến trời xưa tưới mát tình đầu
Cuốn hồn tôi qua bao mùa bão lũ.

Thèm nghe tiếng chim bên hiên trường cũ
Thơm áo học trò ngày mới yêu nhau
Leo hết dốc tình mới biết chiêm bao
Em đâu biết gốc bàng xưa đỏ lá.

Thèm nghe tiếng sóng vỗ quanh ghềnh đá
Sóng đưa nhau về ngày tháng bình yên
Nhớ mắt môi em áo lụa thật hiền
Vườn địa đàng một lần ai qua đó.

Thèm nghe tiếng gió báo mùa hoa nở
Vàng cả con đường lất phất mưa bay
Em thả tóc thơm xuống cuộc tình phai
Để ray rức nụ hôn đầu vừa hé.

Thèm nghe tiếng chân em về thật khẻ
Bên hiên tình tóc đẩm ướt mưa sương
Để tôi còn thương mãi một làn hương
Ánh mắt bồ câu một thời con gái.

NGUYỄN AN BÌNH