ĐIỆU BUỒN MƯỜI NĂM

vungocgiao

ta có những ngày bỏ học
lang thang khắp phố , khắp phường
mỏi chân – đành ngồi quán cóc
nhấm nháp café không đường

cũng có đôi lúc bất thường
mặt mày bỗng dưng vênh váo
khật khừ triết học – văn chuơng
nhố nhăng ngôn từ khinh , ngạo

lại có nhiều khi khờ khạo
lơ ngơ trước một cổng trường
nhìn ai tung tăng chân sáo
đêm về , mơ một làn hương

mười năm xa bạn , xa trường
loay hoay bữa rau , bữa cháo
mười năm lăn lóc gió sương
ngó lại trắng tay , trắng áo

ta nhớ những lần ngỗ ngáo
ôm đàn ngồi vỗ lung tung
hát hò ử ư lếu láo
nhìn ta ai cũng nói : “ .. khùng ! “

mươi năm bỏ phố lên rừng
ta hóa thành thằng man dại
chiều nay trước một cổng trường
cỏ cây nhìn ta cũng ngại

chiều nay ta về tìm lại
tháng năm áo trắng yêu thương
nụ tình ngày xưa quên hái
ai đem vứt bỏ bên đường

mười năm vọng một điệu buồn
giã từ những thơ ngây cũ
giáo đường rụng một hồi chuông
âm ba thẫn thờ trong gió ..

vũ ngọc giao

LỊCH SỬ NGÀY HALLOWEEN

wrg-1541007-1

Cứ vào ngày 31/10 hàng năm, hàng nghìn trẻ em Bắc Mỹ và Anh quốc đổ ra đường trong các bộ lễ phục hóa trang, chơi trò lừa nhau, đục khoét bí ngô, đớp táo và gõ cửa các nhà để xin bánh kẹo. Vậy, phong tục độc đáo này bắt nguồn từ đâu?

Từ “Halloween” bắt nguồn từ nhà thờ Thiên chúa giáo, là dấu vết còn lại của lễ hội All Hallow Eve (lễ thánh). Ngày 1/11 là ngày lễ của người Thiên chúa bày tỏ lòng thành trước thánh thần. Nhưng vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, ở xứ Celtic (Ireland) mùa màng kết thúc vào ngày 31/10 và ngày hội Halloween được gọi là ngày lễ Samhain (gieo trồng). Ngày này cũng chính thức bắt đầu một năm mới của người Celtic.

Người Celtic tổ chức kỷ niệm năm mới với lễ hội Samhain. Vào thời gian này vị thần của mùa xuân và mùa hè không còn ngự trị và nhường chỗ cho thần Chết. Lễ hội bắt đầu vào ngày 1/11, khi linh hồn của người chết quay trở lại nhà người thân để xin thức ăn và nước uống. Trong suốt đêm lễ thánh Hallow’s Eve, diễn ra vào đầu mùa đông – thời điểm kết thúc một năm, các xác chết đi lại tự do.

Người xưa kể lại, vào ngày lễ Samhain linh hồn của người chết trong năm trước sẽ tìm đến một thể xác khác để bắt đầu cuộc sống mới trong năm tiếp theo. Tuy nhiên, người sống không muốn linh hồn người chết nhập vào mình, vì thế vào ngày 31/10 dân làng dập tắt lửa trong nhà để làm cho nhà cửa lạnh lẽo và tẻ ngắt. Sau đó họ hoá trang thành ma cà rồng và lặng lẽ đi vòng quanh nhà hàng xóm vẻ hăm doạ để xua đuổi những hồn ma tìm thể xác.

Theo giải thích khác thì người ta cho rằng vào đêm Samhain, người Celtic dập tắt lửa không phải để xua đuổi những linh hồn mà để sau đó họ cùng nhau đi lấy lửa tại nguồn sáng gọi là Druidic, liên tục cháy ở Usinach thuộc miền trung Ireland.
Sau này, người La Mã đã biến những tục lệ trên của người Celtic thành tục lệ của mình. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, họ bỏ tục lệ hiến người sống và thay vào đó là hiến hình nộm. Theo thời gian, do người ta không còn tin vào linh hồn nữa, nên tục lệ hoá trang thành ma quỷ hay phù thuỷ chỉ còn là hình thức.
Cùng với phong trào di cư để tránh nạn thiếu khoai tây của người Ireland sang Mỹ những năm 1840, lễ hội Halloween được du nhập vào Mỹ cùng trò như lật ngược nhà vệ sinh và tháo cổng ra vào.
Tuy nhiên, ngày hội “lừa phỉnh” được cho là bắt nguồn từ một phong tục gọi là tục “cầu hồn” của người Châu Âu ở thế kỷ thứ 9. Ngày 2/11 hàng năm, người Thiên chúa giáo đi từ làng này sang làng khác xin “bánh cầu hồn”. Đây là những chiếc bánh hình vuông làm từ bánh mỳ và nho Hy Lạp. Người đi xin nhận được càng nhiều bánh thì họ càng cầu được cho nhiều linh hồn người thân của gia chủ siêu thoát.
Ở Anh trước đây, đêm Halloween từng được gọi là Nutcrack Night hay Snap Apple Night tức là một đêm dành cho gia đình ngồi bên đống lửa hồng để nghe kể chuyện, ăn trái cây. Những người nghèo đi ăn xin (a-souling) thường được cho một thứ bánh gọi là bánh linh-hồn (soulcakes) với điều kiện họ phải cầu nguyện cho người chết.
Ngày nay, nhiều nhà thờ tổ chức tiệc Halloween hoặc tổ chức khắc đèn lồng cho trẻ em. Mọi người cùng nhau đấu tranh vì một thế giới không còn tội lỗi.

Trò Trick or treat
: Trong suốt lễ hội Samhain, vị thần Druids cho rằng người chết sẽ tìm đến lừa, gây hoang mang, lo sợ và phá hoại con người. Những hồn ma đi lại ăn xin và đến nhà nào, gia chủ phải cung cấp thức ăn cho chúng. Chính vì thế, trong tuần lễ Halloween, trẻ em phương Tây rất hứng thú với trò “gõ cửa xin ăn” này. Chúng mặc trang phục hóa trang và đeo mặt nạ rồi đi từ nhà này qua nhà khác, gõ cửa để gặp chủ nhà và nói câu “trick-or-treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi”. Để tránh bị phiền toái, chủ nhà đãi chúng kẹo, bánh trái, và cả cho tiền nữa.

hinh-nen-halloween-mat-trang-cuc-ngo-nghinh-287x300

Trò “Đớp táo”: Khi người Celtic bị người La Mã đánh chiếm, nhiều phong tục của người La Mã theo đó cũng du nhập vào đất Celtic, trong đó có lễ hội thờ nữ thần mùa màng Ponoma. Vị thần này thường “ẩn náu” trong giỏ hoa quả. Quả táo là một thứ hoa quả linh thiêng dùng để thờ cúng thần linh, do đó nhiều trò chơi có liên quan đến loại quả này xuất hiện trong lễ hội Samhain.

Lễ hội đèn lồng (đèn bí ngô Jack-O’-Lantern): Lễ hội đèn lồng bắt nguồn từ tập quán của người Ireland. Theo truyền thuyết kể lại, Jack là người nổi tiếng vì nghiện rượu và tư chất thông minh. Anh đã lừa con quỷ Satan trèo lên ngọn cây, sau đó khắc hình một chữ thập lên gốc cây và trói con quỷ trên đó. Jack thoả thuận với con quỷ nếu nó không trêu chọc anh nữa thì anh sẽ thả nó xuống. Do phạm nhiều tội lỗi cho nên khi chết, ông không được lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Do vậy, ông phải đi lang thang nhiều nơi tìm kiếm một chỗ trú chân. Hơi ấm duy nhất sưởi ấm cho ông trong giá lạnh là ngọn nến leo lét trong củ khoai tây thối.
Trẻ em ở Ireland thường chơi trò đục khoét củ khoai tây và bí đao trong lễ hội Halloween. Nhưng khi di cư sang Mỹ, người ta phát hiện quả bí ngô sáng hơn bí đao nên sau này đèn lồng ở Mỹ được trang trí bằng quả bí ngô có cục than hồng bên trong.

hinh-nen-halloween-vui-ve-cung-bi-ngo-267x300

Do truyền thống Halloween được coi là bắt nguồn từ những người ngoại đạo, nên ngày này nhiều người theo đạo Thiên chúa giáo không tổ chức lễ kỷ niệm. Một số người ở các giáo phái khác tổ chức kỷ niệm nhưng coi đây là lễ hội mùa màng, lễ hội xá tội hay đêm thánh Halleluja và họ tổ chức lễ tại nhà thờ của giáo phái mình. Lễ hội mang đến cho trẻ em nhiều trò chơi lý thú.
Tối hôm trước của ngày lễ Halloween, tức là 30/10, được gọi là “đêm ma-quỉ”, thường các thanh thiếu niên hay phá phách, gây thiệt hại đến tài sản, thậm chí tính mạng của người dân. Bởi thế lực lượng cảnh sát phải tăng cường giữ trật tự trong đêm này, còn các bậc phụ huynh cũng coi chừng con em mình.

Biện pháp an toàn cho trẻ em và người lớn trong đêm Halloween. Đã có rất nhiều tai nạn xảy ra trong Tết Halloween. Chính vì thế, trẻ em đi chơi trò Trick or treat nên:
– Đeo băng phản chiếu ánh sáng lên quần áo để báo hiệu cho xe cộ khỏi đâm vào.
– Mặc đồ hóa trang ngắn gọn và khó bén lửa để tránh vấp ngã và khỏi bị cháy. Để tránh bị lạnh khi đi “lang thang gõ cửa các nhà” nên mặc quần áo thật ấm ở bên trong đồ hóa trang.
– Vẽ mặt thay vì đeo mặt nạ để tránh bị che mất tầm quan sát trên đường. Nếu đeo mặt-nạ trong khi đi thì nên đẩy mặt nạ lên trán để dễ nhìn.
– Chỉ đi vào nhà người ta bằng cửa trước và tránh dùng cửa hậu hay cửa bên để tránh các bất trắc.
– Mang theo tiền và giấy tờ có ghi địa chỉ, số điện thoại, và tên cha mẹ để phòng khi trẻ lạc thì có người giúp đưa về.
– Không nên ăn bất cứ thứ gì người ta cho mà phải đợi đến khi về nhà để cha mẹ xem xét kỹ trước khi ăn. Nếu có muốn ăn kẹo bánh người ta cho trong lúc đi đường, chỉ ăn những kẹo bánh còn nguyên trong gói để tránh ngộ độc.
– Phụ huynh phải biết rõ lộ trình các con định đi chơi trò Trick or treat để theo dõi khi cần.

Halloween là lễ hội thường niên diễn ra vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, nhưng đó là lễ hội để tưởng niệm cái gì? Tại sao người ta phải hoá trang và ăn mặc ghớm ghiếc đến thế? Phải chăng đó là nghi lễ thờ quỷ dữ hay đó là tàn tích của những lễ nghi tà giáo từ thời xa xưa?
Bản thân từ “Halloween” có xuất xứ từ Thiên Chúa Giáo, đó là từ kết hợp của hai từ Hallows Eve (ngày lễ thánh hóa hay còn gọi là ngày lễ các thánh) diễn ra vào ngày đầu tiên của tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn đã qua đời. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng ngay từ thế kỷ 5 trước công nguyên người Celtic ở Ai-len đã kỷ niệm ngày này vào ngày 31 tháng 10, tức là ngày cuối cùng của mùa hè như là một nghi lễ mừng năm mới.

Chuyện kể lại rằng, vào ngày đó những người đã chết sẽ quay về nhân gian tìm một cơ thể và nhập vào để được đầu thai vào năm sau. Đó là cách duy nhất để các linh hồn đó có thể được tái sinh. Người Celtic tin rằng ngày đó chính là ngày âm dương giao hòa, kẻ chết và người sống có thể tiếp xúc với nhau. Dĩ nhiên người sống không bao giờ muốn cơ thể của mình bị các linh hồn “cướp” mất, vì thế vào tối 30 tháng 10 tất cả các làng mạc đều dập tắt lửa và mặc những trang phục cực kỳ ghê tởm và diễu hành ầm ĩ khắp xóm để xua đuổi các linh hồn đến tìm kiếm thân xác để nhập vào.

Có một tài liệu khác cho rằng sở dĩ người Celtic dập tắt lửa nhà mình là để đến hôm sau tất cả cư dân cùng thắp sáng nhà mình bằng cùng một ngọn lửa được lấy từ trung tâm vùng Ai-len. Và cơ thể những người bị các linh hồn nhập vào sẽ bị trói vào cọc và đốt để cảnh cáo và cũng là để xua đuổi các linh hồn muốn tái sinh. Nhưng càng về sau này người ta càng tin rằng đó chỉ là những truyền thuyết mà thôi.

Ngày lễ Halloween sau đó đã du nhập sang rất nhiều nước khác nhau, nhưng mỗi nước đều biến tấu nó đi để ngày lễ Halloween là của mình. Đầu tiên phải kể đến người Roman, ngay từ những thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, người Ý xa xưa đã dùng ngày cuối tháng 10 này để tưởng nhớ nữ thần Pomona, nữ thần trái cây của họ. Biểu tượng của nữ thần Pomona là trái táo, điều này giải thích cho trò đớp những trái táo trong ngày Halloween hiện nay.

Người Châu Âu thì cho rằng những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween không phải có xuất xứ từ người Celtic mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âu. Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2 tháng 11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc giống như những kẻ ăn mày rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng họ càng xin được nhiều mẩu bánh thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

Theo một câu chuyện dân gian thì có một anh chàng tên Jack sau khi chết đã từ chối lên Thiên đàng vì mặc cảm tội lỗi, nhưng anh ta cũng không muốn xuống địa ngục, vì vậy Đức Chúa đã tạo ra một nơi tối tăm lạnh lẽo để anh ta ở đó mà ăn năn hối cải. Nhưng để đi đến được nơi đó anh ta cần phải đi theo ánh sánh dẫn đường của đám than hồn được để trong một trái củ cải rỗng ruột. Sau này những người Ai-len di cư sang Mỹ đã thay những trái củ cải thành những trái bí ngô.

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840 theo chân những người Ai-len di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trang, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác Halloween đã trở thành một ngày lễ chung cho tất cả mọi người, nhất là đối với giới trẻ.

Nguồn Internet

DÃ QUỲ PLEIKU

nguyenminhphuc

Dã quỳ vàng thẵm Pleiku
Lời ru đắm đuối mùa thu, tôi về…
Nghe chiều vàng rực đê mê
Say em và ngụm cà phê nồng nàn
…Nầy em nầy dã quỳ vàng
Tôi lơ ngơ đứng giữa ngàn thông xanh
Nầy chiều nầy khói mong manh
Sương rơi phố núi không đành chân đi…
Theo em hương ngát dã quỳ
Bâng khuâng vương mối tình si nặng nề
Giàng ơi…tôi lỡ câu thề
Nên tơ vương ngập nẻo về sương giăng…
Ơ nầy… em gái Sê Đăng
Có hay tôi hái vầng trăng lưng đồi
Gửi thầm một vạt mây trôi
Em nghe khẽ tiếng lòng tôi thầm thì…
…Nầy hoa vàng thắm dã quỳ
Thương tình tôi đậu nhu mì vai ngoan
Pleiku chiều khuất mây ngàn
Có người thả đóa …
hoa vàng
tương tư…

Nguyễn Minh Phúc
(Tháng mười dã quỳ
Pleiku)

California , Cây Palm Và Trời Nắng

tranvanle

Đài báo hôm nay mưa. Trời không mưa một giọt! Sáng dậy, chim vẫn hót. Gió nhẹ hiu hiu buồn…

Hoa hồng, một giọt sương. Mưa hoa là nước mắt, sao mặt trời không tắt, sao trời xanh, xanh ngắt?

Nhìn thảm cỏ xơ xác, nhìn cây hồng trái đầy. Chim hót và đã bay. Nắng cuối trời vừa ửng.

Thương quá cây palm đứng mong mưa bao nhiêu ngày…California đây, cây palm và trời nắng…

Năm ngoái, mưa thỉnh thoảng, năm nay mưa không về. Xe bus vàng chạy đi, hồn nhiên bầy con nít…

Cuối năm và sắp Tết, lễ Giáng Sinh sắp rồi. Tiếng chuông ngân ngậm ngùi. Tiếng chuông ngân ngậm ngùi…

*
Đài báo tin cho có…giống như hoa trước ngõ nở vàng áo lụa bay…Hỡi tôi nhớ thương ai / mà thơ này chan chứa / mà buồn này bình minh? Hỡi em có giật mình: sao thơ buồn quá thế, lẽ nào mưa đến trễ, mình trễ chuyến hồi hương?

Trần Vấn Lệ

Sticker

luuthy

Người nào tới Mỹ là cũng đều có một nhận xét như nhau là thứ nhất trời đất quỷ thần ơi, cái xứ gì mà toàn xe với xe, xe chạy đầy đường và chạy từ sáng đến tối, 24/24 và 24/7 7 ngày mỗi tuần, ngày nào cũng như ngày đó. Và thứ hai là thầy chạy với cái xứ Mỹ này, gia đình nào cũng có ít nhất một chiếc xe, cha một chiếc, mẹ một chiếc, và mỗi đứa con thì mỗi đứa một chiếc.
Dân Mỹ không những thích chạy xe mà còn thích dán sticker sau xe. Sticker là tấm giấy có keo mặt sau, và mặt trước in đủ thứ hình ảnh chữ viết để “trình bày quan điểm” của chủ chiếc xe.
Có người chủ xe quí xe đến mức chơi luôn hàng chữ “Don’t touch my car” kèm cái hình cái búa với cái đầu lâu máu me nhỏ giọt. Lại cũng có người thương con, cẩn thận dán cái sticker “Baby on board”, “Baby in Car”. Dân mê cá thì “Fishaholic”, tay ghiền sushi “I love Sushi”, tay muốn khoe con thì không gì bằng với cái sticker “Proud Parent of Medical Student”, hay “My Child is an Honor Student at…”. Ông hàng xóm mê chó nhưng lại ghét đứa con bà hàng xóm, chơi ngay cái sticker “My Dog is Smarter than Your Honor Student”.
Cứ mỗi 4 năm là mấy chiếc xe có sticker lại dán thêm cái sticker bầu cử. Chủ xe khoái Obama thì dán hình Obama, thích Romney thì Romney, Reagan, Clinton, Bush, Al Gore. Cái xứ tự do mà, nên anh muốn dán muốn ủng hộ và ngay cả muốn bôi xấu bôi bẩn chửi tục chửi thề cái ứng cử viên tổng thống kia cũng tự do tha hồ phát biểu.
Những mùa trước là như vậy, nhưng tới cái mùa này thì thị trường sticker phá sản. Dân Houston không còn mê dán sticker bầu cử? Dù có chạy xe đàng đông, lên phương bắc, về nam rẻ qua tây, hay vòng vòng mấy cái loop 610, 8, 6, du khách cũng sẽ không thấy một chiếc xe nào có dán sticker ông Trump với bà Hillary. Không sticker ủng hộ, không sticker chống đối hay nhạo báng.
Thấy lạ tui mới hỏi nhà thơ quen ở Cali, bên đó có như vậy không.
Nhà thơ trả lời mấy lúc này bận làm thơ, ít ra đường, mà dù có ra đường chạy xe, mắt chỉ đăm đăm mấy cái đèn xanh đèn đỏ, nhìn chi mấy cái sticker.
Nhà thơ bảo có khi nào dân cao bồi Texas giờ biết sợ. Tui hỏi sợ gì, nhà thơ trả lời:
– Sợ nếu dán sticker ủng hộ Trump, dân Mễ lậu nó sẽ đập bể kính xe, phụ nữ con nhà lành sẽ nhét môi son vô ổ khoá cửa, dân Hồi giáo cực đoan gài ngay cái bom nổ chậm dưới gầm xe là tiêu tùng. Ai biểu gây thù chuốc oán chi cho nhiều rồi giờ gánh hậu quả.
Nhà thơ nói nghe cũng có lý, nhưng mà có cái gì đó không ổn, tui mới hỏi lại:
– Đúng là dán sticker Trump sẽ “gây nên hậu quả nghiêm trọng” cho chiếc xe, nhưng tại sao dân ủng hộ Hillary cũng không dán sticker ủng hộ Hillary là sao?
Nhà thơ mới nhìn tui lắc đầu nói:
-You đúng là đồ điên đồ dumb. Bộ mấy tháng trời nay you không đọc báo nghe tin tức coi mấy cái status trên facebook sao? Dân Việt Nam còn biết, người ở tận dưới down under là nước Australia còn hay, mà you là người ở tận đây, cứ như là người ngoài hành tinh.
Tui hỏi tại sao, nhà thơ mới trả lời như thế này:
– Ai mà không biết Trump là thứ côn đồ, không những côn đồ mà còn nham hiểm nữa. Dán cái sticker ủng hộ Hillary, rồi đi shopping, đi chợ, đi vô phòng khám bác sĩ, đi làm… đậu chiếc xe ngoài parking, thì ai biết đâu được, lỡ như… lỡ như… Trump đi ngang qua đó, thấy cái sticker ủng hộ Hillary, chả lấy đinh chả đâm lủng bốn cái bánh xe, …thì có nước mà chịu chết.

LƯU THY NGUYỄN

BÓNG ĐỎ

nguyenducbatngan

ta nhỏ hẹp trên con đường nhỏ hẹp
em lao đao theo sông núi lao đao
như ganh tị giữa hai bờ môi đẹp
như thù hằn đang trở giấc xôn xao

em hư hỏng ta hung tàn man dại
ta ngu si em mê muội muôn đời
cùng đứng thẳng vọng nhìn nhau băng hoại
như lụy phiền tưới xương máu rơi rơi

thơ dẫn dắt chúng ta vào huyền thoại
thân giao thân, hồn đắm đuối vỗ về
dù tâm giới là triều thiên biên ngoại
em chẳng còn ta chẳng mất, nhiêu khê

trong âu yếm đã ngày mai xa lắc
đường em đi quạnh quẽ bước ta đi
nụ hôn sớm đã ít nhiều loạn tặc
như bụi đời đang lấm áo từ ly

này xa xôi em bình yên với cỏ
như đêm khuya ta tẩm mộng hoang đường
em yêu dấu em nghìn xưa bóng đỏ
đẩy lên trời, xanh vệt máu anh chương

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

GỌI MÙA

hoangvancham

Úa phai gọi mùa
Từng chiếc lá bay nghiêng
Thu về qua ngõ vắng
Ngỡ giấc mơ quanh đời chao liệng
Em vùi sâu mùa nhớ
Tít tắp một mùa thu.

Nốt trầm giao hưởng tay cầm tay.
Lối quen tôi về mùa thu giăng
Cỏ mềm ướt ngọt
Sương khói miền xa xăm
Chút màu phai trên tóc vẻ nét thời gian.
Bụi đời nhàu vai áo mỏng
Lỗi hẹn với trăm năm

Một bước ngược xuôi dặn lòng lui tới
Hỏi han một tiếng như tình gọi thuở ban sơ.
Ngắt một cánh hoa
Nụ hôn vội vàng gọi mùa hôn phối
Áo lụa thênh thang mở cánh cửa tàn phai
Tóc gió ngậm ngùi một khúc lý mười thương

Ta chải chuốt một bên nhau như chìu lòng giữ mối
Hẹn hò bên sông nước buông xóa đôi bờ.
Ta gọi mùa …gọi mùa đứng lại
Chỉ cần một chút ngày xưa
Gọi thầm kí ức
Phía hoàng hôn em không ngỡ ngàng dấu tích
Có chăng một ngày về chải chuốt một mùa yêu.

HOÀNG VĂN CHẨM

Chỉ xin được làm Người

tuankhanh

Trong nhiều ngày liền, những lá thư mà tôi nhận được, đến từ nhiều nguồn và nhiều người nhưng tất thảy đều có chung một chủ đề, là kêu gọi ngăn chận việc hình thành một nhà máy cán thép ở Cà Ná, Ninh Thuận. Tôi không biết ai trong số họ – những con người xa lạ ấy, nhưng rõ là họ đang cố tìm mọi cách để đánh động đồng bào mình về một thảm họa chung sẽ đến.

Một bức thư khác, kêu gọi ký tên phản đối thông qua trang Change.org. Trong đó, nhóm viết thư ngỏ có tên là Green Trees Vietnam hỏi một cách thống thiết rằng “bạn chưa thấy hoảng sợ hay sao?”.

Tôi đọc bức thư này trong một buổi sáng Chủ nhật, trời âm u và đầy mây mù nặng nề. Khung trời Việt Nam thật khắc khoải. Những người thốt lên lời đau đớn ấy, không khác gì những sứ giả của khải huyền miệt mài cảnh báo dấu hiệu chuỗi tận thế Ragnarok đang đến, nhưng tiếng nói của họ yếu ớt và chìm vào thời đại hỗn mang. Nhất là khi tôi đi ngang sân của Nhà Văn hóa Thanh Niên ở Sài Gòn, tiếng micro của người dẫn cuộc vui được đáp lại bằng những tràng hô rất to hoan hỉ. Quả thật, hiện thực của một dân tộc như đang chết sặc, lịm dần trong lịch trình giáo dục thờ ơ, hoan lạc xếp đặt.

Thư ngỏ cùng kêu gọi ký tên chống lại Dự án Khu liên hợp cán thép Hoa Sen chỉ cần có 1500 người tham gia. Thế nhưng các chữ ký đến chậm từng ngày, nó khác biệt làm sao, so với các cuộc vui mông muội mà hàng ngàn người nô nức ghi danh. Khác biệt với một sản phẩm thời thượng đắt tiền ra mắt mà trong tích tắc quá tải đến mức phải khóa sổ.

Tôi ký tên vào thư ngỏ này, với tư cách của một công dân còn tỉnh táo, nhưng lại quá tỉnh táo để tự vấn rằng lá thư này sẽ đến đâu, và ai sẽ đọc nó, hoặc ai sẽ thức tỉnh được phần người trong mình để nhận ra đất nước này đang chuồi dần vào lộ trình tận diệt Ragnarok bởi bọn trọc phú và quan lại điên cuồng trong dục vọng cưỡng đoạt quê hương?

Chưa bao giờ đất nước đang ở chương hồi bi kịch như lúc này. Người dân kêu gào cho sự sống và tồn vong của đất nước, còn những kẻ có quyền thì mê mị đám đông bằng những ngôn từ của rắn, rồi lặng lẽ hành động với âm mưu đã định. Một cuộc thăm dò trên báo Lao Động cho biết có đến 93% bạn đọc đã nói không với Cà Ná, nhưng cũng ngay lúc ấy, nhưng ông Trương Thanh Hoài – Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, đại diện cho Bộ Công Thương vẫn nói như đinh đóng cột “Hoa Sen không làm, Thép Cà Ná vẫn vào quy hoạch”. Điều đó cho thấy dã tâm không chỉ có Tôn Hoa Sen của ông Lê Phước Vũ, mà dã tâm là của cả một hệ thống. Nhân dân tuyệt vọng quẫy đạp phản đối, yếu ớt như những con cá trong làn nước độc nhưng số phận thì đã định rồi. Bản đồ đánh dấu sự lắng nghe và đối thoại của chính quyền với nhân dân, đã được điểm bằng dùi cui, roi điện, lựu đạn cay… ngày càng nhiều ở Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh… Và mai đây, nếu như có mặt của nhà máy thép ở Ninh Thuận, bản đồ này có lẽ sẽ còn phong phú hơn nữa.

Vùng biển Cà Ná, Ninh Thuận chỉ cách Sài Gòn khoảng 300 cây số. Một vụ nhiễm độc từ chất thải, sẽ sớm cô lập toàn bộ vùng lương thực quan yếu của toàn miền Nam và hủy diệt sức sống của một vùng kinh tế – xã hội chỉ trong 2 tuần lễ. Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia đau bệnh như hôm nay. Từ Trung Quốc, các dự án và phương thức hoạt động được tuồn dần vào Việt Nam. Bauxite Tây Nguyên hay Formosa, rồi hóa chất, thực phẩm độc… hôm nay thì cú đánh hiểm hóc vào Cà Ná từ dự án hãnh tiến về luyện thép. Không thể không hình dung đến một thuyết âm mưu quan trọng về một quốc gia suy yếu dần để Trung Quốc dễ bề kiểm soát. Nhưng dĩ nhiên, muốn làm được việc đó, phải có sự tham gia của bọn trọc phú hám lợi, bọn quan lại phản bội tổ quốc và bọn thỏa hiệp.

Phản ứng với báo chí về vụ dự án thép, ông Lê Phước Vũ từng nói rằng “mày đăng tao lên báo, tao chấp mày luôn”. Cách nói của ông Vũ, nhắc người ta nhớ đến giọng điệu trịch thượng của ông Võ Tuấn Nhân – Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường khi đòi rút thẻ nhà báo đưa tin, và gọi bằng “thằng”. Có cái gì đó thật đồng bộ giữa thế lực nhà nước và giới trọc phú khi kề cận nhau. Giai cấp của một hệ thống nằm trên pháp luật – vốn không bao giờ phải chịu trách nhiệm về sự ngu dốt, sai lầm và tội ác của mình nhưng luôn mạnh miệng để chà đạp phía nhân dân.

Ông Vũ có lý do gọi phần xã hội còn lại là “mày”, vì bởi ông tin đã dựa lưng vào khối tiền khổng lồ béo bở của dự án, như chân lý chói rực qua tim. Hơn nữa, ông lại là anh em cột chèo với thứ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, và luôn được ủng hộ bởi Trường ban thường trực phía Nam của ban Tuyên giáo Trung ương Đào Văn Lừng. Trong giới làm ăn, ông Vũ cũng được nhìn thấy là người “chọn phe đúng” để vận động là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Với danh thế lừng lững như vậy, rõ là ông Vũ còn gì để ngại ngùng gọi phần còn lại của Việt Nam là “mày”?

Tôi chưa bao giờ nghĩ những lời phản biện tâm huyết và những lá thư ngỏ, cùng kêu gọi ký tên phản đối nhà máy cán thép Cà Ná có thể đến được bàn làm việc của ông Lê Phước Vũ. Vì ít nhất, đọc những điều rất Việt Nam, của những trái tim Việt Nam, của nguyên khí Việt Nam, thì một phần người nào đó đã được đánh động trong ông, thay vì luôn quảng bá hảo kim quang của danh xưng một phật tử.

Tôi từng thấy hình ảnh ông Vũ mặc áo kasaya quỳ lạy nơi cửa Phật. Có không ít quan chức liên quan đến ông cũng quỳ lạy thành kính như vậy. Ông Vũ và các quan chức đó cầu nguyện gì khi mắt nhắm nghiền và tay chấp hương? Liệu có là lời cầu nguyện cho dân tộc và đất nước này, hay chỉ là nối chấp mê vào dục vọng cuồng điên của quyền lợi riêng mình, bỏ mặc nhân gian oán thán? Tôi đã nhìn rất lâu vào những bức ảnh như vậy, tần ngần với biết bao suy nghĩ không lời giải thuộc về con người.

Trong muôn ngàn sự tích hay về cuộc đời, có chuyện về một nhà tu hành bị bá tánh khinh thường, ngồi khóc ở ven rừng. Quỷ xuất hiện và thỏa thuận sẽ làm nhà tu hành khiến ai ai cũng phải kính sợ. Nhưng bù lại, khi có quyền lợi – thì thầy tu và quỷ sẽ ăn chia đủ với nhau như bạn đời. Quỷ vô hình nâng thầy tu lên vai khiến dân chúng nhìn thấy thầy tu như bay lên, nên từ đó cúng dường, vâng phục. Liên minh người-quỷ đó tồn tại cho đến một ngày bất chợt Quỷ suy yếu quyền lực, không đỡ nổi khiến thầy tu té xuống và chết.

Điều gì đã nâng ông Lê Phước Vũ bay cao, để ông nhìn vào cõi nhân gian và cười cợt, gọi mọi người bằng “mày”? Và ông Vũ nghĩ loại quyền lực vô hình nào, có thể phụng sự cho ông đến cuối cuộc đời? Nhưng dù là ai, liên minh giả Phật-giả Quỷ ấy không thể tồn tại mãi trên đời thực này, không thể nghiễm nhiên mãi dẫm lên sự khổ đau của đồng loại, trong tương lai đi tới.

Tôi không biết mình có quen ai trong số 1500 người, ký tên vào thư ngỏ chống nhà máy thép Tôn Hoa Sen sẽ hủy hoại đất mẹ Việt Nam. Tôi nghĩ về rất nhiều lời tâm tình, phản đối, chia sẻ kêu gọi mà tôi đã đọc được. Tôi cũng không biết họ là Phật tử hay là người Công giáo, có tín ngưỡng hay không. Nhưng tôi biết chắc họ đang chọn hành động cho một ý nghĩa duy nhất, là sống và làm người với lẽ phải.

Là Quỷ hay Phật ngày mai, thì vẫn còn chưa biết được. Nhưng tôi sẽ không mơ màng chọn lựa hình ảnh. Tôi chỉ cố làm người hôm nay. Làm người, để còn đứng trong và đứng cùng đồng loại ở những giây phút nguy nan này, lắng nghe nỗi đau và khát vọng của dân tộc và quê hương mình. Làm người, để phân biệt và chỉ rõ ai là kẻ giả Phật và giả Quỷ đang giày xéo, mua bán đất nước này bằng cường quyền và mỵ ngữ.

Làm người, xin hãy mơ được là người thôi, thầy tu hay ngạ quỷ khi nhận ra, cũng đã là niềm hạnh phúc của dân tộc.

NGUYỄN TUẤN KHANH

Một Thoáng Pleiku

phamtinanninh

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ, trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút đã về chốn cũ” ấy, giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao,Phan Thiết, và đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt, Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng.” Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa.” Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn, và vi phạm quân phong quân kỷ như ai!

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội,” trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới. Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân, để “may mà có em đời còn dễ thương!”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột (BMT) vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13/3/75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh. Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề… mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét,” chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng:

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui…

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó…

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời. Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê… những tiểu đoàn trưởng nổi danh, những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku. Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi- chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuộc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng Ba. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó”:

Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền…

Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…

Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó, nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku.

Phạm Tín An Ninh

Không Đề

luuxongpha

Bâng khuâng cởi cúc áo chiều
Sương mơn nụ nhớ hồn khều gai quên
Nổi chìm chuyện của lênh đênh
Tình xa lạc phận chờ duyên ích gì
Bình minh vỗ cánh bay đi
Cõng tia nắng ốm tìm về cỏ xanh
Dựng bia tạc mộng không thành
Hát ru đá sỏi vây quanh chỗ nằm
Nghiêng lòng yêu suốt trăm năm
Rót thương vào giếng tình câm cuối trời
Bốn mùa mài một nét môi
Hoàng hôn đất lỡ vùi nơi gối sầu

Lưu Xông Pha