Xuân tha hương

small_1200962564.nv_

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông…

Em đi dang dở đời mưa gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, trời: đắng lắm!
Trăm hờn nghìn giận suốt mùa đông.

Chiều qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son, vẫn má hồng?

Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không

Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gởi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng)

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Chao ơi! Tết đến mà không được
Trông thấy quê hương thật não nùng!

Ai bảo mắc duyên vào bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong!
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông

Em biết giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Tết này, ồ thế mà vui chán
Những một mình em uống rượu hồng

Rượu say nhớ chị thời con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong

Thôi em chả dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
Nàng bèo bọt quá em lăn lóc
Chắp nối nhau hoài cũng uổng công

(Một trăm con gái thời nay ấy
Đừng nói ân tình với thủy chung!)

Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên người nong nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hóa gì đâu một chữ “đồng”

Vâng em trẻ dại em đâu dám
Thôi để người ta được kén chồng
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu làm sao được những đêm đông

(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không yêu thì thực dễ như không )

Chị ơi, tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não nùng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông!

Thiên hạ “Chi nghinh nam bắc điểu”
Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông

Xuân đến cho em thêm một tuổi
Thế nào em cũng phải thành công
Em không khóc nữa, không than nữa
Đây một bài thơ hận cuối cùng

Không than chắc hẳn hồn tươi lại
Không khóc tha hồ đôi mắt trong

Chị ơi, em cưới mùa xuân nhé
Đốt pháo cho thơm với rượu hồng
Xa nhà xa chị tuy buồn thực
Cũng cố vui ngang gái được chồng

Em sẽ uống say hơn mọi bận
Để hồn về mãi xứ Hà Đông

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng.
Với lá thư này là tất cả
Những lời tâm sự một đêm đông

Thôn gà eo óc ngoài xa vắng
Trời đất tàn canh tối mịt mùng
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông

Mấy sông mấy núi mà xa được
Lòng chị em ta vẫn một lòng

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như tết
Tóc chị bền xanh má dậy hồng

Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:
– Xa nhà uống rượu có say không?

NGUYỄN BÍNH

(Huế tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942)

Đầu Xuân Nguyện Đi Mười Kiểng Chùa

phamnga

1.

Thuở còn niên thiếu ở đất Sài Gòn này, vào những đêm giao thừa xa xưa, tôi thường được tháp tùng mẹ tôi cùng mấy bác hàng xóm đi cúng ở Lăng Ông, gần chợ Bà Chiểu. Ngoài đường đông vui hết sức! Từ nhà tôi ở đường Trần Quang Khãi vùng Tân Định ra đến gần Lăng Ông là phải xuống xe xích lô để hòa mình vào đám người, ai đâu mà chợt đông nghẹt giữa đêm khuya, cứ lũ lượt đi bộ tràn ngập cả con đường Lê Văn Duyệt.

Chưa lọt vào cổng lăng đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù. Cúng kiếng, xin xâm và hái lộc – không dễ gì làm cho đầy đủ, nhanh gọn cả ba nghi thức này nên bà con ai nấy đều vội vàng, còn do phải quay về trước 12 giờ để cúng giao thừa nhà mình. Trong đám đông náo nhiệt, nếu ai không chen lên được tới trước bàn thờ Ông (đức Tả quân Lê Văn Duyệt) thì đành chấp nhận cúi đầu lạy vào lưng, vào… mông người đứng trước mình cũng được nhưng nhớ cẩn thận, đừng quơ nhang làm cháy áo người ta.Trên đường về, mẹ tôi còn ghé thắp nhang ở tịnh xá sư nữ Ngọc Hương, cái chùa nhỏ hẹp, nghèo nàn ở ngõ hẻm gần nhà mà mùa Tết năm nào bà cũng tặng một, hai chục ký gạo tùy năm gia đình có làm ăn khấm khá hay không. Rồi sáng mùng một, trên đường đi chúc Tết, mừng tuổi ông bà nội tôi, mẹ tôi không quên ghé một lát ở chùa Vĩnh Nghiêm nguy nga, tráng lệ…

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm…”, vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm, hẳn không riêng gì người viết bài ký này mà rất nhiều người trong chúng ta đều xúc động, bâng khuâng khi nghe lời ca dịu ngọt, đầy tình người, mở đầu ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm. Tôi còn nhớ, vào một năm đầu thập niên 60, đài Tiếng Nói VNCH ở Sài Gòn, trong một chương trình ca nhạc rất hay tên là “Sóng Nhạc” chỉ có vào các đêm chủ nhật, đã lần đầu tiên phát ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm của cố nhạc sĩ Hoài An qua giọng hát ngọt ngào, tinh khôi, rất Nam bộ của Phương Dung, nữ ca sĩ được mệnh danh “Con nhạn trắng Gò Công”.

Chính với hình ảnh tuyệt đẹp ấy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, đa số các gia đình người Việt mình vẫn giữ nguyên tập tục đi chùa, đi cúng, tức là rủ nhau đến các chùa chiền, miếu mạo đề dâng hương, cầu tài lộc, xin xâm, cúng sao, cúng hạn… vào ngày đầu năm mới  hay suốt trong tháng giêng âm lịch.

2.

Bao đời nay, ý nghĩa của Tết Nguyên đán vốn rất đậm chất tâm linh, tín ngưỡng đối với người mình, dù đang sống trong nước hay hải ngoại. Và ngày xuân đi lễ chùa là một hình ảnh rất tươi sáng, cao trọng – rất “quê hương” đối với người Việt chúng ta.

Do đó, cho đến ngày nay, tại những con đường chạy ngang những ngôi chùa lớn ở Sài Gòn, như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Việt Nam Quốc tự, Kỳ Viên tự…, cả ở trước một ngôi chùa, nhỏ thôi, như chùa Ngọc Hoàng ở khu Đakao, kẹt xe liên miên vào đêm 30 và ba ngày Tết là chuyện rất thường tình. Ngôi chùa mới nhắc, từng được tổng thống Mỹ Barack Obama ghé thăm khi đến VN, đã xấp xỉ 100 năm tuổi và từng được phong là “Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – Điện Ngọc Hoàng”. Xa xưa, nguyên nơi này là một đền (điện) thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Hoa, sau mới có thêm bệ thờ Phật xây ở phía trước bệ Ngọc Đế. Sau tháng 4-75, chùa có tên mới là “chùa Phước Hải” do giáo hội Phật giáo trong nước đặt, nhưng đối với hầu hết bá tánh Việt – Hoa, phải nói “chùa Ngọc Hoàng” thì người ta mới biết.

Có lần tôi hỏi mượn tập tài liệu giới thiệu các gói tours của Saigon Tourist trên tay một du khách người Anh đang viếng chùa Ngọc Hoàng, thấy chữ “Jad pagoda” được in rành rành. Bước sâu vào chánh điện, mấy ông tây bà đầm rất thích chụp ảnh tượng Tam vị Phật tổ, tượng Ngọc Hoàng cùng những tượng chư tiên (Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên Lôi, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Thượng Lão Quân.v.v…, gần như đủ mặt các “chức sắc” trên Thiên đình trong truyện/phim Tây Du Ký). Riêng bọn trẻ nhỏ đến chùa thì đứa nào cũng khoái cái hồ nuôi rùa bên phía phải chánh điện. Lũ trẻ cứ tìm cách ném xuống hồ nào là bắp rang, bánh mì…, nào là hoa, lá hái trộm trong sân chùa cho lũ rùa lúc nào cũng đói ăn.

Những năm gần đây, đến mùng 4 Tết – hạ nêu, cúng tất, tiễn ông bà về Trời – tôi lại hay tháp tùng một nhóm bạn thân, là những người luôn luôn giữ đúng lời nguyện đi lễ cho đủ 10 kiểng (cảnh) chùa, đền, miếu… tứ phương trong tháng giêng hằng năm.

Chúng tôi thường mở đầu chuyến hành hương bằng xe gắn máy này là những ngôi chùa ở Gò Vấp và Bình Thạnh. Vùng tỉnh Gia Định cũ tiếp giáp với đô thành Sài Gòn này vốn có rất nhiều chùa chiền, như các chùa Dược Sư, Pháp Hoa, Già Lam, Kỳ Quang, Linh Quang, Chưỡng Đức, Từ Quang, tịnh thất Trung Tâm, Ngọc Phương tịnh xá, Từ Quang.v.v…

Kế đó, chúng tôi ra ngoại thành, trước hết là ghé đình Phong Phú ở Thủ Đức. Tôi từng thắc mắc, sao năm nào cũng là đình Phong Phú. Một anh bạn đã cười: “Bộ đầu năm ông không muốn giàu hay sao? Chữ ‘phú’ trong tên chùa Phong Phú đó!”. Thì ra là vậy. Hèn chi mấy ngày Tết, dân chúng nội ngoại thành cứ lũ lượt kéo đến cúng Ông (hẳn Ông là thần, thành hoàng của xã Tăng Nhơn Phú?) trong ngôi đình hứa sẽ cho giàu sang, phú quí này. Và thiên hạ cũng không thường ghé thêm một ngôi chùa cổ, kiến trúc rất đẹp, cách đình Phong Phú khoảng 3.5 – 4 cây số, tên là Phước Thạnh tự.

Rồi chúng tôi tiếp tục ra miền Trung, tương tự chương trình tours hành hương ngắn ngày của những cơ sở cho thuê xe du lịch. Sau những ngôi chùa trên núi Gia Lào (vùng Long Khánh cũ), ra dinh Thầy Thiếm ở vùng biển Bình Thuận, bọn tôi lên núi Tà Cú ở vùng Bình Thuận Nam để vào Linh Sơn cổ tự. Nguyện ước “Mười kiểng chùa” đã viên mãn! Sau một đêm ngủ mê mệt tại mái hiên chùa, các bạn tôi hớn hở ra chánh điện lạy Phật, cúng tiền vào thùng công đức. Và đây mới là điều được mong chờ nhiều nhất, kết thúc chuyến hành hương mấy đêm ngày rong rủi, nhọc nhằn: lá bùa cầu an đã xin năm ngoái được trao lại cho một nhà sư trẻ, viết chữ Hán rất đẹp, để sư đốt bỏ và viết cho anh em lá bùa mới cho năm mới.

3.

Đã thấy, khi đi cúng kiếng, xin xâm, hái lộc để cầu an, cầu tài, cầu duyên – kể cả cầu… giãn nợ, thoát nợ – vào những ngày đầu năm, người mình đã rất phóng khoáng trong việc chọn lựa đối tượng thiêng liêng mà gởi gắm ước nguyện đầu Xuân. Bá tánh ngụ ở Sài Gòn, cả người Việt lẫn người Hoa, không phân biệt đâu là lễ Phật ở các chùa Nam tông hay Bắc Tông, đâu là cúng Ngọc Đế – vị nam thần cai quản vũ trụ – trong chùa Ngọc Hoàng, đâu là cúng nữ thần là Bà Thiên Hậu trong chùa gốc Trung Hoa ở quận 5 (thường là người ta đi cúng luôn cả Ông Phước An trong chùa Ông, cùng ở trên đường Nguyễn Trãi, gần chùa Bà). Cũng là Bà – nữ thần được bá tánh rất tin tưởng, sùng mộ nhưng có nguồn gốc xa gần với đạo Bà La Môn thì có Bà Chúa Xứ ở tận Châu Đốc, vía chính lễ là ngày mùng 4 tháng giêng ÂL. Nhiều người còn đi cúng danh nhân, anh hùng lịch sử, như đức Tả quân Lê Văn Duyệt ở Lăng Ông Bà Chiểu, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tại đền đức Thánh Trần ở Tân Định, lễ luôn cả ông bá hộ hiển linh ở dinh Thầy Thiếm vùng Bình Thuận, hay xuống miền Tây, ra Kiên Giang cúng miếu Thành Hoàng Mạc Cữu…

Từ ngày rằm đến ngày 28 tháng giêng, còn phảng phất không khí xuân, dân Sài Gòn lại tấp nập đi Bình Dương để cúng chùa Tàu thờ Bà Thiên Hậu. Riêng giới tiểu thương ở các chợ thì do đã khai trương buôn bán đầu năm nên vào ban đêm thường rủ nhau đi cúng Bà bằng cả nhóm xe gắn máy thật vui. Còn đối với người dân ở các vùng khác, như ở Nha Trang chẳng hạn, nếu đám thanh niên thích rủ nhau lên viếng đức Bà Thiên Y trên tháp Bà thì người lớn tuổi lại cung kính đi viếng mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu. Ở nhiều vùng quê miền Tây, nông dân thường xuyên đi thắp nhang ở những cái miếu nhỏ thờ ông Tà trong tín ngưỡng dân gian, vị thần được tin là chỉ cai quản vỏn vẹn một vạt ruộng, một cánh đồng…

Có một điều mới nghe tưởng ngớ ngẫn nhưng đúng ra lại phong phú thêm cho đời sống tín ngưỡng của người Việt, đó là nhiều bà con, do tin tưởng mà thường cúc cung lui tới, cúng lạy, làm công đức hoài ở một ngôi chùa, cỗ miếu nào đó, nhưng khi có ai chợt hỏi chùa đó, miếu đó thờ vị Phật, vị thần nào, hay Ông nào, nào vậy thì y như rằng bà con đều cười giả lả “Hổng biết nữa!”.

Do đâu mà người mình lại có kiểu tin tưởng đa thần, không phân biệt như thế?

Với truyền thống tín ngưỡng “Tam giáo đồng lưu” đã có từ thời quân chủ xa xưa, cả ba đạo Phật – Khổng – Lão đã đề huề cùng tồn tại trong tâm hồn dân Việt suốt bao thế kỷ. Người qui y thì nhận mình là Phật tử, tức theo đạo Phật với đạo lý Từ Bi Hỉ Xả. Người không qui y thì nhận mình theo đạo “thờ cúng ông bà” – một phiên bản tín ngưỡng dân gian đặc biệt Việt Nam hòa quyện với luân lý Khổng Nho chủ trương Ngũ Thường,Tam Cương, Tứ Đức, Tam Tòng… và đề cao Phước Lộc Thọ… Người tin tưởng bói Dịch, bùa Lỗ Ban, kính ngưỡng giới thầy pháp, thầy cúng, đã vô hình trung là đệ tử của đạo Lão với các thuyết Thái Cực, Lưỡng Nghi… Rốt cuộc, trong nhà của hầu hết người Việt thường có rất nhiều bàn thờ, trang thờ khác nhau, ngoài phần thờ phượng tổ tiên, ông bà. Trong nhà Phật tử và người theo đạo thờ cúng ông bà, ngoài bàn thờ Thích Ca và Quan Âm (thuộc đạo Phật), còn có khám thờ Thần Tài, Thổ Địa ở phòng khách và Táo Quân ở nhà bếp (ba vị này thuộc đạo Khổng) cùng trang thờ lộ thiên ngoài sân để cúng Trời (Thiên/Thái Cực, thuộc đạo Lão), hay một số nhà giàu còn lập miếu thờ Ngũ Hành (cũng thuộc đạo Lão) trong sân vườn. Trong nhà người theo đạo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài thì trước tiên là thờ đức Phật Thầy Tây An (sáng lập đạo Hòa Hảo) hay thờ Con Mắt, biểu tượng đạo Cao Đài.

Thú vị nhất là về Quan Nhị Ca mà trong các phim hình sự, xã hội đen của Hồng Công, các anh chị police hoàng gia thường thắp nhang cho ngài trước khi đi phá án. Có thể đây là nguyên Tổ của nghề bộ đầu/công an/cảnh sát bên Trung quốc từ thời xưa truyền lại nhưng không biết từ lúc nào, Quan Công (hay Quan Thánh, biểu tượng cho đức trung liệt Khổng Nho) hùng dũng với mặt đỏ, râu dài của người Hoa đã được người Việt cùng thờ kính vì cảm phục đức độ anh hùng.

Lại có nhiều người theo Thiên Chúa giáo (ngoài tượng Chúa ba ngôi và các thiên sứ, không được phép thờ ngẫu tượng, vật tượng nào khác) vẫn thờ Thần Tài. Có lẽ các nhà thờ địa phương đã châm chước cho kiểu thờ “phụ trội” của con chiên.

Ngoài ra, một số nhà thờ ở vùng Á châu (những quốc gia dùng cả hai loại lịch tây và ta) như tại VN, còn tổ chức các lễ đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Vào ngày mùng một Tết, trong lúc các chùa hành lễ cầu quốc thái dân an thì bên nhà thờ làm lễ “cầu bình an”. Mùng hai Tết, con chiên đi lễ “cầu ông bà tổ tiên”. Mùng ba Tết, trong lễ “thánh hóa công ăn việc làm”, con chiên mang một dụng cụ biểu trưng cho nghề nghiệp của mình đến đặt trên một cái bàn sát bên bàn thờ Chúa. Ví dụ thợ hớt tóc thì mang đến cái tông-đơ, thợ may thì cái kéo, còn nhà văn/nhà báo (thợ viết?) có thể bày ra cây bút ghép vào một cuốn vở… Lễ chấm dứt, mọi người hoan hỉ mang về nhà món đồ nghề đã được ban phép lành với niềm hy vọng sẽ được hành nghề, kiếm sống thuận lợi trong năm mới.

4.

Thờ phượng, lễ lạy trước bàn thờ Phật, thờ Chúa, thờ các thần linh muôn phương tại gia đình hay tại chùa, nhà thờ, đền, miếu… vốn là sinh hoạt thường xuyên, quanh năm suốt tháng của bất cứ ai có tín ngưỡng, có lòng tin vào thần thánh thiêng liêng, nhất là vào các kỳ Phật đản, Giáng sinh, Thánh đản, mùa vía Kỳ yên v.v… Nhưng riêng vào mùa Tết nguyên đán truyền thống – ngay giờ giao thừa năm cũ/năm mới hay trong chuyến hành hương “mười kiểng chùa” tháng giêng – thì việc hành lễ, cúng kiếng của mọi người lại mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt hân hoan, sống động.

Có lẽ mọi người rất dễ tự nhận ra rằng, trong giây phút mình trang nghiêm chấp tay, cúi đầu, khấn nguyện Trời Phật, Thánh Thần, tự nhiên mà cảm giác an lạc, hạnh phúc chợt nhẹ nhàng bừng sáng trong tâm hồn ta, và những khổ đau, lo nghĩ, phiền muộn như tạm lắng đọng vào bóng tối nguôi quên…

PHẠM NGA

 

Người khách cuối năm.

 

                             

                                                     

 trachantranhuuhoi

 

 

Từ ngày chị Tích, vơ anh qua đời vì tai nạn, ông anh vợ rời Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ, Thuyết trở thành người thừa hưởng cái cơ ngơi gồm một căn nhà khá rộng và một khu đất mênh mông, cỏ mọc um tùm quanh năm bởi anh không  phải là người làm nông chuyên nghiệp! Thỉnh thoảng, anh thuê người làm cỏ, thường là trước tết âm lịch hàng năm,

Năm nay, những ngày giáp tết đã gần kề, anh khỏi làm vì hôm tháng mười một dương lịch, ngày lể các Thánh, anh đi thăm mộ vợ ở nghĩa trang về, thấy khu đất um tùm, nhớ đến hai ngôi mộ của người chủ trước, bán lại cho ông anh rồi biệt tăm ba năm năm nay… anh thuê người làm cỏ, vun nền, thắp nhang  cho ngôi mộ, anh cũng gởi lể cầu hồn cho họ dù không biết tên thánh là gì!

Ánh nắng đã tắt, trong cái chập choạng của buổi chiều, Thuyết rờn rợn người khi thấy một bóng người ngồi ủ rủ nơi mé trái hàng hiên.

Bốn năm nay, anh sống đơn độc, năm ngoái anh đón bà chị ruột đã lớn tuổi, cũng côi cút về ở cùng…

Nghe tiếng xe của anh, người lạ ngẩng đầu lên, nhìn anh gật đầu chào cùng lúc bà chị xuất hiện nơi cửa chính, cất giọng nói to, cách nói của người già nghễnh ngãng:

– Anh đây là chủ trước của khu đất, hai ngôi mộ là vợ và con của anh ấy!

Nghe vậy, Thuyết dựng xe đến bắt tay người đàn ông:

Cài tên của người khách thoáng qua trí nhớ của Thuyết, anh nhớ tới mớ giấy tờ sang nhượng đất mấy năm nay vẫn nằm trong tủ.

– Chào anh, anh là anh Hào? sao chị không mời anh vào nhà?! Anh đến lâu chưa?

– Cảm ơn anh, cũng mới thôi anh ạ.

– Anh đã ra thăm chị và cháu chưa?

– Tôi chờ anh về!

– Không biết anh có Đạo hay không, Lễ các Thánh vừa rồi tôi có gởi lể cầu hồn cho chị và cháu, nhưng không biết tên thánh là gì!

– Người lạ lại đưa tay bắt tay Thuyết, anh ta bóp mạnh:

– Tôi cũng Thiên Chúa Giáo. Cảm ơn anh lắm!

Là người theo đạo Thiên Chúa Giáo thuần thành. Nhưng Thuyết thắp nhang thường xuyên. Anh vào nhà lấy nhang rồi kéo tay người đàn ông cùng đi ra góc vườn. Người đàn ông quỳ sụp xuống nơi ngôi mộ lớn, khóc rấm rức. Thuyết cũng nghèn nghẹn nơi cổ, vợ anh cũng đã chết tức tưởi sáu năm nay, sau hơn mười ba năm chung sống thuận hòa hạnh phúc! Đứa con trai của Anh nay đã vào đại học.

Từ lâu rồi, không hề gặp người đàn ông này để đề nghị đưa hai nấm mộ ra nghĩa trang rồi xây cất tử tế. theo ý nguyện của bố vợ anh. Không biết gì về họ, ngoài cái tên Hào, nhưng nhìn người đàn ông gầy gò với những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt sạm đen, trong lòng anh dậy lên một mối cảm thương với anh ta.

Bóng tối phủ lên khu vườn, cảnh vật chìm trong cơn gió se lạnh của những ngày cuối đông. Người đàn ông đứng lên, lúng túng nhìn Thuyết ấp úng:

– Cảm ơn anh đã chăm cho mộ vợ và con tôi bấy lâu nay…

– Anh định đi đâu?

– Tôi tính đi tìm một người quen cũ  qua đêm, rồi mai thuê người đưa cô ấy và cháu ra nghĩa trang, mẹ tôi cũng chôn ở đó.

– Sao không ở lại đậy với tôi, từ lâu rồi tôi mong gặp anh!

Cả hai vào nhà, mâm cơm được bà chị dọn sẵn, Thuyết mời người lạ cùng ngồi vào bàn. Từ dạo sống như kẻ đốc thân, Thuyết có thói quen uống rượu vào buổi chiều, khi thì ở trường cùng với đồng nghiệp, khi thì một người bạn nào đó, nếu không thì bữa cơm tối anh cũng uống vài cốc, loại rượu trắng ngâm chuối hạt…

Anh mời người khách ngồi vào bàn, đơm cơm rồi rót rượu ra hai cái tách trà:

– Mời anh, từ khi bán lại ngôi nhà, chắc là anh đi làm ăn xa?

– Vâng, tôi lên Buôn Ma Thuột! Tôi đã có trước một đời vợ, cũng có một đứa con trai, chúng tôi chia tay nhau mười năm nay, cô ấy dành phần nuôi con rồi lên Buôn Ma Thuột làm ăn cúng người chồng mới. Hai ngôi mộ này là vợ và con thứ hai của tôi!

oOo

Tiếng người đàn ông trầm, buồn buồn kể lại chuyện của mình…Thuyết ngồi nghe trong yên lặng, anh nghỉ đến chặng đường người khách đã trải qua, dài như một cuộc khổ nạn!

Sau khi chia tay người vợ trước, tôi không còn nghĩ đến chuyên chắp nối thêm một lần nửa, bởi thấy rằng trong hôn nhân, với nhiều người lả nguồn hạnh phúc, nhưng với số phận của tôi thì hạnh phúc ấy thật mong manh!

Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ, lô đất này là của bà ấy. Mẹ tôi mất một năm sau!

Sau khi ra tòa, nhận phần nuôi con, cô ấy và hắn, tên cán bộ tài chính bỏ trồn cúng với mấy tỷ tiền huê hụi và cả của nhà nước…làm khốn đốn nhiều người!

Ba năm trước, Tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiên mả cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô dất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam!

Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nửa! Họ đã có với nhau hai đứa con…

Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám dất nhỏ,  dựng một cái chòi…rôi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!

Hào nâng cốc hớp một hớp rượu, anh mồi một điếu thuốc, đôi mắt như chìm vào những buồn đau của ký ức. Thuyết cũng nâng cốc, anh cạn ly rồi rót đầy lại hai cốc như chung chia nỗi buồn cùng khách. Gió đêm thổi qua khu vườn làm lao xao cây mãng cầu nơi cửa sổ gần bàn, Thuyết đứng lên đến đóng cửa sổ rồi đóng luôn cửa chính. Bầu trời đêm lưa thưa vài vì sao…như làm buồn thêm cái không khí của những đêm cuối năm. Ngồi lại bàn, Thuyết rụt rè hỏi Hào như sợ câu hỏi khơi thêm nỗi đau trong lòng người đàn ông bất hạnh:

– Anh gặp chị…đây lúc nào? Không biết gọi người vợ thứ hai, người nằm dưới ngôi mộ sau vườn thế nào, Thuyết ngần ngừ rồi gọi: chị…đây.

Hiểu ý Thuyết, Hào lại nhấp thêm ngụm rượu:

– Hân là em gái của Phú, một người bạn của tôi. Chúng tôi quen nhau từ khi cô ấy còn học cấp ba.  Hân thích Thơ và nhạc, thỉnh thoảng hỏi tôi về một nhà thơ nào đó của thời tiền chiến. Những bài thơ tôi nhớ được làm cô ấy thích thú. Cô ấy tất thích cái tâm trạng bồi hồi của cô gài trong “Mưa xuân” của Nguyễn Bình, thường lặng yên, chống cằm ngồi nghe tôi đọc những bài thơ: “ Thu xa” của Hoàng Cầm, “ Bên kia sông Đuống” của Yên Thao, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Quán cên đường”… của Quamg Dũng…Tôi cũng biết đàn, chỉ chơi được chút ít để tự dàn, hát những bản nhạc yêu thích, cô ầy nghe hát, cảm nhận với tấm hồn lãng mạn trẻ trung của tuổi mới lớn… Cô ấy thích nghe tôi hát bản: “Hương xưa” của Cung Tiến, “Gợi giấc mơ xưa” cuả Lê Hoàng Long… Chúng tôi giống nhau về sở thích…Những bài thơ, bản nhạc nào tôi thích, Hân cũng thích…

Hết cấp ba, Hân vào Đại Học ở Sài Gòn, Tình cảm của chúng tôi không phải là tình yêu mà chỉ là cảm mến nhau, Hân còn chưa trưởng thành đê nói đến tình yêu, cô ấy luôn tôn trọng tôi như một người anh, một người thấy có kiến thức cần thiết cho mình…Cô ấy còn có những ước mơ xa xôi của tuổi mới lớn, Vào Đại học là con đường thênh thang cô ấy mong mỏi lâu nay.

Chúng tôi chia tay nhau trong niềm hy vọng tương lai của Hân. Sài Gòn, nơi mà những cô bé mới lớn mong ước được sống cùng với đời sinh viên…Những tháng đầu, chúng tôi liên lạc nhiều, nhưng rồi cũng thưa dần khi cô ấy bắt đầu hòa nhập được với bạn bè và môi trường mới.

Tôi cũng quên dần cô ấy với những lo toan công việc thường ngày của một công nhân viên, Tôi bận rộn thường xuyên với những việc đo đạc, vẽ bản đồ và những cuốc nhậu tràn bờ…của một càn bộ địa chính…Tôi quen dần với những mối quan hệ nhiều toan tính trong giao tiếp thường ngày… làm cằn cỗi đi tâm hồn tôi. Rồi tôi lập gia đình…

Hân ra trường, Cô ấy làm việc cho một công ty nào đó ở trong ấy.

Lúc này, tôi không còn tâm trí nào để nghĩ đến ai. Vợ tôi xoay trong những cuộc làm ăn, hái ra rất nhiều tiền củng với những mối quan hệ không minh bạch! Với sự đồng lỏa của tay cán bộ tài chình, nhiều lần cô ấy lấy danh nghĩa của tôi để bán khống những lô đất trong thị trấn. Chuyện vở lỡ, tôi bị kỷ luật buộc thôi việc…

Trút bỏ tất cả, tôi mua một đám đất rừng. vừa trồng rừng vùa chăn nuôi…Cho đến khi chuyện ngoại tình của cô ấy vở lỡ…cùng với những vụ lường gạt huê hụi sau đó!

Tôi gặp lại Hân trong một buổi tiệc mừng tân gia của Phú ở thị xã.

Cô ấy cũng ê chề vì yêu rối lấy nhằm một anh chồng đã có gia đình. Biết được, cô ấy chia tay.

Phú thương em, Không an tâm khi để Hân sống đơn độc tại Sài gòn…gọi Hân về, mở một cơ sở Photocopy, đồng thời cho các cơ quan, công ty… trong thị xã thuê máy photocoppy cũ, giao cho nàng quản lý.

Niềm vui lẫn nỗi buồn gặp lại nhau trong hoàn cảnh cả hai đều thất bại trong hôn nhân. Tôi uống nhiều…

Khi tàn tiệc, Hân không cho tôi về một mình. Đoạn đường từ thị xã về đây ba mươi lăm cây số. Cô ấy chở tôi về rồi nhất định ờ lại đêm cùng tôi.

Sau đêm đó, Hạnh phúc mà chúng tôi cảm nhận được tử hai tâm hồn hòa cùng thể xác của nhau… cả hai chúng tôi đều tiếc nuối cho những tháng năm qua!!!

oOo

Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muôn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng!

Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẵng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ấp đến với chúng tôi!

Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lể giáng sinh vài hôm, Trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cố ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hải nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ…

Với thai năm tháng tuổi, bênh viên không dủ đều kiên trợ tim, trợ thở cho chàu. Nửa giờ sau khi đưa ra khỏi tử cung, con chúng tôi ngưng thở!

Hân vẫn nằm trong phòng hồi sức! Một nữ y tá bồng cháu ra, trao cho tôi:

– Không thể cứu được cháu, chị vẩn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rối sáng mai trờ lại!

Tôi gọi báo tin cho Phú rồi mượn bạn chiếc xe máy. Phú đến cùng em gái Hân ngay sau khi nghe điện. Trùm cháu trong một cái áo khoác, tôi cột hai tay áo ra sau cổ thành chiếc võng rồi trong đêm, chạy về nhà, Tôi chôn cháu trong vườn để sáng còn trở lại bệnh viên. Tôi vừa chạy xe vừa lầm rầm khấn cầu với cháu: Con ơi, con hãy cứu mẹ!

Vết mổ của Hân nhiễm trùng, tái đi tái lại cộng với lượng máu mất nhiều, Cô ấy kiệt sức rồi mất sau mười hai ngày nằm trong phòng hồi sức! Tôi đau đớn tột cùng. Đưa Hân về chôn bên con…

Không lâu sau, chưa hồi tâm sau mất mát đau lòng này, tôi được tin con trai vướng vào vụ án!!!

oOo

Suốt đêm hôm ấy và mấy đêm sau nửa, Thuyết không ngủ được, anh trắn trọc với những khốn khổ mà Hào, người khách cuối năm kể lại. Bố vợ anh có ý tự nguyện giúp cho Hào một khoản tiền, đủ để xây cho ba ngôi mộ, luôn cả mộ mẹ của Hào.

Hôm xong xuôi, Hào nghẹn ngào ôm Thuyết, mếu máo những lời cảm ơn. Không lớn lao to tát, nhưng ba nấm mộ cũng khá khan trang. Hào trở lại Buôn Ma Thuột.

Chia tay nhau nơi bến xe, tấp nập người đi kẻ về vào những ngày cuối năm… dáng Hào đơn độc, bước đi liêu xiêu với cái túi xách trên vai. Thuyết cúi đầu quay về, lỏng trĩu nặng như mang theo nỗi bất hạnh của Hào.

Anh ngẩm nghĩ: Hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!

 

Sài gòn, 01/12/2016.

Trạch An -Trần Hữu Hội

 

 

 

Song hành

nguyenhanchung

Tặng QC

Anh yêu tỉnh rụi
nên em
phải yêu tận tụy
để còn gần nhau

Chẳng màng
yêu trước  yêu sau
cuối sông
và khúc sông đầu
bơ vơ

Những lời ma mị
đê mê
chẳng qua
là loại thuốc tê
nhất thời

Anh yêu tỉnh rụi
cuối đời
Em yêu tận tụy
tự thời hoa niên

Nguyễn Hàn Chung

20/12/16

 

tự khúc

 

 npphan

hương mùa xanh

dằn vặt trắng
hương mùa xanh
quyến rũ

dắt tôi đi
qua cõi ta bà

màu nắng dịu
cũng đủ vừa độ lượng

con sẻ nâu
về đậu giữa thềm hoa

 

tôi đi về phía…

tôi đi về phía mưa bay
có đêm vô thủy, có ngày vô chung
cuộc đời thấp thoáng bao dung
có em san sẻ tận cùng nỗi đau

 

mùa quên lãng

trăm dòng sông vật vã
ngàn bóng núi lặng thinh
ta không còn là mình
rớt rơi mùa quên lãng

 NP phan

 

Một Bài Thơ Cho Người Yêu

Mục sư Martin Luther King, Jr

Vào mỗi năm, ngày thứ Hai của tuần thứ 3 trong tháng Giêng là một ngày lễ toàn quốc tại Hoa Kỳ. Một đạo luật liên bang được lưỡng viện thông qua vào năm 1983 đã lập ra ngày lễ vinh danh và kỷ niệm ngày sinh của Mục sư Martin Luther King, Jr. Người Mỹ thường gọi ngày này là Ngày MLK (MLK Day), viết tắt của tên ông.

Mục sư Martin Luther King, Jr. là công dân Hoa Kỳ đầu tiên và duy nhất tuy chưa từng là nguyên thủ quốc gia, nhưng được vinh danh ngày sinh bằng một ngày lễ toàn quốc. Ngoài mục sư King, chính quyền liên bang Hoa Kỳ trước đó chỉ vinh danh ngày sinh của Tổng thống đầu tiên, George Washington, vào ngày thứ Hai của tuần lễ thứ 3 trong tháng Hai hằng năm.
(NGUỒN INTERNET)

ĐÀ LẠT

nguyenleuyen
Mỗi lần trở lại Đà Lạt, lại thấy có sự thay đổi rất bệnh hoạn. Bầu trời Đà Lạt trên đầu vẫn là bầu trời muôn thuở, vẫn mây, vẫn khói, vẫn một chút lạnh đủ để các thiếu nữ làm duyên; nhưng dưới nó, trên mặt đất lại có một Đà Lạt thoi thóp, ngắc ngoải. Bạn đồng hành than thở: “Con người đã giết chết Đà Lạt!”. Tôi lắc đầu: “Không, chính xác thì, chủ nghĩa xã hội thổ tả kia đã và đang liên tục hãm hiếp Đà Lạt”. Một Đà Lạt đẹp như nàng tiên đang ngủ trong rừng thông bị những tên bạo chúa lật ngửa, đè ra hãm hiếp đến toe máu đầm đìa. Đó là những vồng đất, gốc thông, những căn biệt thự cổ bị lật tung lên theo đủ cách khác nhau. Chúng cứ từng ngày từng giờ, biến thành phố “mộng mơ” thành khu Ngã năm chuồng chó, Ngã ba chú Ía thời đệ nhị Cộng hòa, khác chăng, một bên mưu sinh bằng xác thịt; một bên câu kết thành bè nhóm, cướp giật tài nguyên môi trường, để Đà Lạt ngày một xơ xác hơn, thành một cái xác bị chứng giang mai, lở loét cùng mình!

Cả một không gian thoáng rộng ngày trước với những tòa biệt thự, những cây thông, hồ nước nay bị lũ người khốn nạn, những tên mafia đè ngửa ra, bóp nát những bộ ngực trinh trắng: Thông đồi Cù bị chặt cho sân golf, quanh hồ Tuyền Lâm máy ủi, máy xúc cạo sạch lông những thảm cỏ, đồi thông để xây biệt thự cao cấp…

Đứng ở đầu dốc phía nhà thờ con Gà nhìn ngang, khu Hòa Bình lúc này vừa là khu ổ chuột vừa là những hộp bê tông chen chúc nhau đứng ngồi lộn xộn, cào nát không gian đẹp, khiến tôi liên tưởng ngay đến những đám đất cày mùa tháng Ba. Không, như thế vẫn còn thơ mộng. Không. Đà Lạt bây giờ giống như một bãi rác điện tử thì đúng hơn.

Lúc này, nếu như nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (1932-1973) nhìn thấy Đà Lạt, tôi nghĩ ông sẽ buồn không ít về những gì ông đã thả hồn mình đến tận cùng trong ca khúc Ai lên xứ hoa đào năm nào, giờ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, tính lãng mạn trong giai đoạn “tang thương ngẫu lục” này.

May mà Đà Lạt còn có tình người. Những người bạn muôn năm cũ vẫn cam chịu những đè nén ngột ngạt nhưng không hề thỏa hiệp, đầu hàng; họ không quay lưng lại với bè bạn xưa vì cái danh, cái lợi đã từng làm nhiều người biến thành những con sói hung dữ. Nguyễn Dương Quang và Nguyễn Sông Ba ra tận bến xe đón tôi, lại còn cho nằm nguyên một gian phòng rộng ấm áp, vốn dĩ xưa kia là phòng của hai vợ chồng trẻ Võ Hồng sau khi cưới nhau. Quang chỉ cho tôi sàn gỗ bị cháy sém một mảng lớn, nói: “Hai ông bà Võ Hồng kê ông táo nấu nướng, sức nóng làm cho sàn gỗ bị cháy áp”. Âu cũng là duyên may để hình dung thời trai trẻ của một nhà văn từng có những tháng ngày hạnh phúc trong căn phòng này, cách đây gần 60 năm.

Trước khi đi, tôi gọi điện hỏi Đỗ Hồng Ngọc, anh có lên không? Ảnh nói: “Trời ơi, các bạn ùn ùn lên Đà Lạt làm mình nôn nao quá!… Mình kẹt các buổi giao lưu về tập thơ Thư cho bé sơ sinh và tập Thiền & Sức khỏe ở Phương Nam Book và Đại học KHXH và NV… Tiếc lắm!”.
Nghe kể lại, xem những tấm ảnh và vài đoạn clip, ĐHN tiếc hùi hụi. Vắng anh, nhưng nhóm Ý Thức vẫn đông đủ, có cả vợ chồng anh KĐ.

Điều mà ĐHN tiếc hùi hụi bởi hiện tượng “các bạn ùn ùn lên Đà Lạt”, chỉ vì hai nguyên nhân: Anh Đinh Cường từ Virginia (HK) mang tranh về triển lãm tại Gallery Đào Nguyên từ 29.11 đến 3.12 với chủ đề Đà Lạt nỗi nhớ. Tôi chẳng hiểu mấy về hội họa. Song nhìn những bức tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh có chút gì đó rất ấm áp giữa cảnh đời xô bồ, bợt nhạt. Nói ấm áp bởi Đà Lạt được vẽ trong trí nhớ, từ một góc trời xa thổn thức, với những thiếu nữ bên nhà thờ, những ngôi biệt thự ẩn mình bên quả đồi quả đồi xanh lơ, những con đường nhỏ, những khuôn mặt bạn bè nồng ấm thời trai trẻ…

Một chút khói sương, một chút lãng đãng pha đậm trong sắc màu trí nhớ bạc trên đầu và nhòe trong đôi mắt. Nhìn những bức tranh được treo trang trọng trên tường, nỗi niềm đầu tiên là bùi ngùi tiếc nuối một thời đã qua vừa được nối lại bởi màu sắc và đường nét. Hội hoạ dễ kéo xích gần tâm hồn con người như cái cầm tay lần đầu với cô thiếu nữ!

Trong Gallery Đào Nguyên nhỏ nhưng ấm cúng này, khách đến với các họa sĩ khá đông. Đến để thưởng ngoạn và chia sẻ. Những Bửu Ý, Nguyễn Quốc Thái (TK tạp chí Trình Bày), Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Dân & Elena, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương & Kim Qui, Châu Văn Thuận, Nguyên Minh & Lan… hầu hết tóc điểm sương, nhưng đôi mắt và tâm hồn như những chàng trai trẻ yêu đời. Bắt tay nhau, ôm chặt nhau. Không cần đại ngôn, chẳng hề có đẳng cấp kiểu đấm bốc, nhưng tình cảm thì chan hòa.

Buổi tối, tất cả đều kéo nhau đến “biệt thự” của chàng nho sĩ Lữ Kiều. Kinh khủng. Từ mặt lộ xuống nhà là một con dốc dựng đứng, đến nỗi Nguyên Minh phát sợ. Nguyễn Dương Quang giữ tay Đinh Cường, tôi một bên Lữ Quỳnh chầm chậm sên bò. Đến sân mồ hôi tứa ra vì sợ. Đúng là một nơi ở bão táp “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chưa tới, nhưng ít lắm cũng gần 300 mét. 300 mét cho một đời thơ, hội họa, một đời văn chương tiếp nối.

Thức ăn bày biện sẵn, có cả chai Chivas Regal 18 và chai Johnnie Walker Bửu Ý mang từ Huế vào. Ăn uống thoải mái, chuyện tuôn ra như người nhà lưu lạc lâu ngày gặp nhau. Trùng phùng.

Cuối bữa, Lữ Kiều mời mọi người ra sân đốt lửa. Những cành thông khô ẩm nước bốc khói mù mịt. Tất cả vây quanh đống lửa và anh tuyên bố hôm nay là ngày sinh nhật thứ 70 của mình. Hóa ra Lữ Kiều một công hai việc, vừa triển lãm tranh, vừa tổ chức sinh nhật. Chắc sẽ là một ngày sinh nhật đáng nhớ trong đời bởi có mặt đông đủ bạn bè từ khắp nơi, trong và ngoài nước.

Vẫn còn một góc Đà Lạt như thế ẩn sâu trong lòng mỗi người. Ấm áp. Rất ấm áp.

Hôm sau đoàn xuống Bảo Lộc thăm Sơn núi (Nguyễn Đức Sơn). Tôi quay về để kịp cày cuốc. Và, giữ mãi những hình ảnh đẹp tuyệt vời này.

NGUYỄN LỆ UYÊN

NHẶT TỪNG HẠT TẾT. TỪ TRONG TUYẾT

NÓI VỚI THINH KHÔNG

buidiep

Làm sao nhớ được những vì đã sao bỏ chúng ta vội vã trôi về miền quá khứ
Chuyến tàu đêm xưa âm thầm chở theo định mệnh nhú mầm
Bên ngoài cửa sổ con tàu
Cơ thể đại ngàn chết dần với vô hồi cơn run sốt rét
Có ai còn phơi nốt những nụ cười cuối đông khô tàn như lời cầu nguyện bình an

Đừng kể với bé con về cô bé bán diêm
Và cả những phù thủy, chằn tinh hay nàng Tấm có lần ra tay hạ độc
Hãy để các em mơ dù giấc mơ chưa chắc gì có thật
Về những đóa cúc vàng sáng bừng trong sân trường im ắng
Về những rừng mai huy hoàng chỉ nở trong tranh siêu thực
Để em quên đường dài ngược gió rét mưa dầm
Rồi sẽ mùa xuân ngọt viên kẹo nhỏ

Chẳng ai chối từ nếu được hóa thân thành cơn gió
Lang thang lang thang
Qua thảo nguyên vô danh
Thành phố vô danh
Những xóm làng với cư dân chưa từng có tên có tuổi
Và chỉ xin một lần ngồi bên cửa sổ mùa xuân kể lời phong linh với gian phòng còn nhiều bóng tối

Rằng em là mùa xuân.

BÙI DIỆP