Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ Và Quê Hương

 

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.
Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.
Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đợi ngày về của đứa con mải mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gũi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
*
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
*
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
*
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
*
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
*
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đó là nơi tôi đã sống 8 năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay với của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”
Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao” Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu”
Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.
Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.
Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình” Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi” Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai” Lớn lên tôi sẽ làm gì” Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh” Những người du kích bên kia sông là ai” Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.
Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.
Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo

Không tan kỉ niệm

 

Ở phương nào có giữ nỗi đau xưa
Mà mây bay ở trưa hè chợt khóc
Người chợt đến ngày xưa như nắng ấm
Chợt vội đi tơi tả những cơn mơ

Ở Sài Gòn người có nhớ Cần Thơ
Nắng lổ đổ nghiêng vai vàng sông Hậu
Người có nhớ những chiều xưa tan học
Nơi bến sông ai đó đợi con đò

Áo người trắng mây trời bay hờn dỗi
Giữ trong tôi chút bẽn lẽn ngại ngần
Môi chưa nói sao chân người vội bước
Mái chèo khua xao gợn sóng trong lòng

Hè năm ấy người bỏ đi biền biệt
Bảy năm dài lặng lẽ bước theo sông
Tôi vẫn đợi bến xưa chiều tan học
Lặng chờ nghe nhịp guốc thuở bâng khuâng

Chiều thoảng bay bao nhiêu tà áo trắng
Tôi dõi tìm qua mấy bận đò ngang
Áo người xưa chợt về vương sóng mắt
Sợi mây buồn chấp chới trắng trên sông

 

Huỳnh Duy Lộc

 

nơi đó trời chưa sáng 

 

giữa đêm nghe sương hát
buồn trên từng ngón tay
ta nói thầm rất nhỏ
một điều em không hay

giá có thể là gió
đâu ngồi đó nhớ em
đâu khép trang sách vở
nghìn chữ ghi tên em

nơi đó trời chưa sáng
vẫn lấp lánh sao khuya
đường trăng đêm xuống phố
mộng mị vẫn đầm đìa

em cất vào túi áo
tình yêu trên ngực em
ta sợ tay chạm phải
ngất đi vì run thêm

giá có như là gió
đâu đợi phút em chờ
thưa em ta sẽ vội
ngày bão đứng dương cờ

giữa đêm nghe sương hát
em gửi ta bài ca
thèm ôm em rất mực
như những ngày xưa, xa…

Ngô Yên Thái

giới thiệu bộ THƠ MIỀN NAM THỜI CHIẾN do TRẦN HOÀI THƯ “TẦM NÃ TỪ NHỮNG TRANG BÁO CŨ NGÀY NAY LY TÁN”:

 

Thơ Miền Nam trong thời chiến[1] là một cuốn sưu tập thơ đồ sộ, dày 850 trang, quy tụ hơn 260 tác giả, người còn kẻ mất, nơi quê hương hay hải ngoại. Có người qua đời trên chiến trường giữa tuổi thanh xuân. Sách do Thư Ấn Quán sưu tập và phổ biến, do nhà văn Trần hoài Thư và bè bạn dày công tầm nã từ những trang báo cũ ngày nay ly tán. Lời nhà xuất bản :

”Đây là những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hy vọng tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rõ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, rất là tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”.

Sưu tập không phải là tuyển tập, không có chọn lọc ý thức về mặt nghệ thuật hay quan điểm. Dĩ nhiên là tính khách quan bao giờ cũng tương đối: đã sưu tầm, thì mặc nhiên phải có lựa chọn, dù chỉ trong tâm cảm hay tiềm thức. Nhưng quý hồ là người sưu tầm không có thành kiến hạn hẹp.

Như vậy, cuốn sưu tập phong phú, đa dạng và có nhiều ưu điểm, xin khuyên ngay một điểm hồng và một điểm son.

Điểm hồng : non ngàn bài thơ không có bài nào thật dở. Công bình mà nói, ở đời, thơ dở bao giờ cũng nhiều hơn thơ hay.

Điểm son : khi nghe đến “thời chiến” người ta nghĩ ngay đến chiến tranh, chiến đấu chống cái gì. Sách sưu tập không có bài thơ nào tuyên truyền, thỉnh thoảng có đôi chữ “quân thù” trong nghĩa đối phương, đối thủ, tự nhiên phải có trong chiến cuộc.

Nhà văn Phạm văn Nhàn, người cùng góp công vào công trình , đã viết :

“ Với hằng trăm bài thơ mà chúng tôi đã tìm được của hơn 200 nhà thơ trước 1975. Họ là ai ? Là nhà báo, là thầy giáo, là công chức, là quân nhân (đa phần bị gọi nhập ngũ). Nhưng qua những bài thơ của những nhà thơ trước 1975 hầu hết là quân nhân không bao giờ mang tính cách hận thù hay kích động hận thù trong lòng người đọc, đó là nhân bản. Mà thơ họ vẫn nói lên được : thân phận, chiến tranh, tình yêu đích thực của một nền văn học” [2].

Lại công bình mà nói : Miền Nam thời đó, không phải là không có thơ tuyên truyền, nhưng vì không mấy người ưa, không mấy ai nhớ, ban sưu tập không ghi lại, cũng là duy lý.

Tuy nhiên, nếu nhất thiết phải tìm cho ra một lập trường chính trị cho thơ Miền Nam , thì nó là : khát vọng hòa bình, khát vọng này mang theo những hệ luận: tình yêu quê hương, gia đình, vợ chồng, nam nữ, bạn bè, đồng đội. Dường như không có một ngoại lệ nào qua sưu tập. Một “lập trường” như thế dĩ nhiên là “nhân bản” và cao quý. Nhưng người yêu nền thơ nọ không phải vì cái nhân bản kia, mà vì thơ hay, hoặc vì nhiều đặc điểm lý thú. Ngày nay, nếu các bạn nêu cao ngọn cờ “nhân bản tự do” thì ra chỗ “tránh vỏ dưa đạp phải vỏ dừa”. Cái bẫy bên trái hay bên phải vẫn là cái bẫy.

Khi anh dùng thơ để phục vụ hay biện minh cho cái gì đó, thì khó có được thơ hay.

Khi đuợc câu thơ hay thì không những là biệt lệ, mà cái hay không ăn nhập gì vào ý đồ của anh, thậm chí có khi còn đi ngược lại.

Năm 1966, chiến tranh Việt Nam lên cao điểm, nhà thơ Kiệt Tấn cho in tập thơ Điệp Khúc tình yêu và trái phá, cái tên rất nổ, trong đó bài Biết bao giờ, bắt đầu và kết thúc như sau :

Khi hơi thở vàng về đậu lên màu đỏ
màu đỏ về đậu trên cây điệp
cây điệp về đậu trên ký ức
(…)
hãy nằm im
và đừng hỏi
tại sao
đừng hỏi tại sao
những con ruồi say nắng
rụng cánh
nằm chết
trên bàn tay ấm áp của mùa hè
(tr.222)

Bài thơ hay, tân kỳ và độc đáo, vì tác giả không biện minh cái gì cả. Chỉ là mùa hè đang về trong tâm tưởng. Câu thơ hay như một cành hoa dại, nở tung trong một khí hậu, không gian thơ. Cần một không gian, một khí hậu, mới thể hiện được hồn thơ, bừng nở câu thơ.

Tham vọng của sách Thơ Miền Nam trong thời chiến là ghi lại những tác phẩm đang xiêu lạc, của một số tác giả ít được biết đến, mai kia sẽ chìm trong quên lãng. Nó là “nguồn tài liệu cho những nhà phê bình, những người nghiên cứu”.

Tham vọng cũng là tâm vọng của người biên tập “suốt cả mấy trăm trang với trên 220 tác giả, ngồi đánh lại như gõ ngay vào chính tim mình những điều đau buốt lẫn bồi hồi. Tội tình cho cả một thế hệ. Chiến tranh nào có gì vui” [3].

Tham vọng không những đã thành tựu mà còn được vượt qua : cuốn sưu tập không những là một nguồn văn liệu, nghĩa là những văn bản chết, một văn miếu. Nó còn là một nguồn sống cho thơ. Nó tạo được chất thơ cho đời sống, như dưỡng khí cho cỏ cây. Nguồn thơ đích thực gặp địa lý thuận lợi sẽ thành sông thành biển; nhưng gặp nghịch cảnh, có khi đành lẩn khuất vào mô đất nọ để một mai tái hiện nơi núi đồi kia.

Những ai, như tôi, nghĩ rằng thơ cần cho đời sống, là thành phần của đời sống, sẽ cùng tôi biểu dương công trình, và công tình, của ban sưu tầm và biên tập; việc làm của các bạn đã đưa đến những thành quả vượt quá dự án. Những “hiệu ứng cánh buớm” có thể các bạn thoạt kỳ thủy không nghĩ đến.

*

Đã là thơ thời chiến thì phải nói đến chiến tranh. Vậy thơ ấy nói gì về khói lửa ? Xin lấy bài Phan xuân Sinh làm ngày Tết 1972, Uống rượu với người lính Bắc Phương làm tiêu biểu :

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
(…)
Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng có một lằn ranh
(tr. 592)

Tò mò tôi hỏi : thời điểm 1972, chiến cuộc tàn khốc, sao có chuyện nhậu nhẹt ? Và được nhà thơ trả lời : Chuyện xảy ra tại huyện Dục Đức, tỉnh Quảng Nam, vào ngày Tết. Hai bên hưu chiến da beo, mỗi đơn vị giữ nguyên vị trí, ngưng bắn để ăn Tết. Bỗng dưng có tiếng bên kia chúc Tết bên này, và bên này đáp lại. Thế là Phan xuân Sinh hứng chí làm bài thơ trên. Bữa tiệc chỉ xảy ra trong tâm tưởng – vì như vậy bài thơ mới có giá trị tinh thần. Chén rượu rót vào thực tại, lại là chuyện thường tình giữa những người lính… say.

Gặp địch quân nam phái thì nhậu. Gặp đối phương khác phái thì… làm gì ? Nhà thơ Linh Phương, nổi tiếng với bài Kỷ vật cho Em được Phạm Duy phổ nhạc, đã kể trong bài Hành Quân :

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má, nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân.

Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô.

Nhớ hôm bắt được em Việt cộng
Xinh đẹp như con gái Sài gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân.( !)
(tr. 296)

Trong từ vựng này, cà chớn, giang hồ, hảo hán, cùng một nội hàm.

Dĩ nhiên những thái độ buông thả nói trên không tiêu biểu cho cuộc chiến ác liệt, hay tinh thần chiến đấu, hay kỹ thuật và kỷ luật quân sự của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nó là sắc thái đặc biệt của một tâm lý. Tâm lý ấy là nhược điểm trên bản đồ quân sự, mà là ưu điểm trên trang thơ, bằng cớ là hơn một ngàn năm nay, người ta ngợi ca, ngâm nga mãi câu túy ngọa sa trường quân mạc tiếu của Vương Hàn ; say sưa như vậy nhất định ông không phải là một quân nhân thiện chiến.

Thơ về chinh chiến, xưa nay không ai theo kịp Đỗ Phủ, được người người đời đời xưng tụng, nhưng không phải là thơ hô hào chiến đấu. Việt Nam, cho dù có thật là «đỉnh cao trí tuệ của loài người » cũng không thể tự đặt mình làm ngoại lệ, nói khác đi, sẽ làm trò cười cho thiên hạ.

Lẽ thường trong chiến tranh là thắng hay bại. Điều lạ trong tập thơ này là không có chiến thắng, dù trong mơ ước hay ngông nghênh. Ngược lại trong Kỷ vật cho Em, Linh Phương hẹn với người yêu: mai mốt anh về, không bằng chiến thắng… Mai anh về trên đôi nạng gỗ, bại tướng về làm gã cụt chân, thậm chí còn có thể là: hòm gỗ cài hoa [4]. Hồ Minh Dũng, với bài Khi giải ngũ về, đã nhắn nhe với người tình, hay người vợ :

Còn ba năm nữa anh sẽ về
anh biết chắc không còn quê hương để ở
em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
làm bằng nắp hòm người lính nghèo
chết ngoài mặt trận
anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe
mà không xin tiền
chỉ tìm lại ngững đôi mắt trân tráo
những bước chân đi qua vỉa hè
với nụ cười
mà nhiều năm anh đã mất
(tr. 149)

Những lời thơ bi thảm như vậy, so với thực tế sau này, vẫn còn là lạc quan, thậm chí hoang tưởng : sau chiến tranh, chắc gì trên vỉa hè, còn được tiếng đàn bầu và nụ cười ? Nhưng trên vỉa hè, sẽ có (nhiều) người xin tiền.

Khát vọng thiết thân thời đó là hòa bình, như lời người mẹ, trong bài Đêm Giáng sinh ở Việt Nam, vẫn của Hồ minh Dũng :

Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con
cũng đem chiếc áo lành ra mặc
cũng ăn một bữa cơm cho no
cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu
khổ đau lúc này mẹ gói trong mo

Chữ hòa bình, ta sử dụng ngày nay, là bình thường, thậm chí là quy luật, sau chiến tranh. Nhưng thời đó là viễn vọng, là huyền thoại, như những bồng lai, địa đàng:

Xin hãy đến đây đi
hỡi hòa bình lạ mặt yêu dấu
sao người cứ kiêu hãnh như giai nhân
hoài hoài lỗi hẹn
khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần
làm sao chờ được trăm năm
mà đến trăm năm còn gì xương máu anh em

Hà thúc Sinh, Xin hãy đến, hòa bình (tr.124)
Hòa bình là giấc mơ không tưởng, con người lúc ấy, như Nguyễn Bắc Sơn, chỉ dám mơ ngày ngưng chiến [5] :

Mai kia trong những ngày ngưng chiến
ta chắc rằng không thể yêu ai
nhà thương điên nếu còn chỗ trống
xin chiếc giường cho xác tàn phai
(tr.383)

Trong bài Căn bệnh trong thời chiến này, Nguyễn Bắc Sơn nói về mẹ :

Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn theo lứa tuổi thanh xuân.
Mẹ là tình thương muôn nơi, là thần tượng muôn đời. Nhưng trong chiến tranh – và cuộc chiến Việt Nam này – người mẹ có khuôn mặt riêng. Chỉ vài mươi năm, nó đã xa hình ảnh bình an, xa màu “áo đỏ người đem trước dậu phơi” của Lưu trọng Lư hay người mẹ ngồi “vá bên chiếc rổ thơm mùi cũ” của Tế Hanh.

Nguyễn dương Quang trong bài Đêm cuối năm viết cho Má :

Hình như cây súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng, xót xa không ?

Trước mặt con : những ngọn đồi cát máu
Đêm thì thầm cùng những nấm xương
Ôi, trái tim con mãi tôn thờ má
Đã dạy con hai tiếng yêu thương

Từ má lỏng bàn tay dìu dắt
Con bơ vơ giữa cuộc phù sinh
Dòng nước nào xa nguồn mà không đục
Sợ một mai con lạc dấu chân mình
(tr. 410)

Tác giả ít được biết đến, nhưng bài thơ hay quá, chất trí tuệ quyện vào tâm huyết, hồn nhiên mà điêu luyện. Tình cảm chìm chìm mà ý tứ lâng lâng. Trong sáng, sao mà u uất ? Thơ đích thực là điều đơn giản kỳ diệu «có nói cũng không cùng».

*

Đã vậy, đành vậy, Thơ Miền Nam trong thời chiến, trong tất cả bề thế của nó, nếu muốn «gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay», ta có thể thu lại trong bốn chữ : «Thơ Lính Học Trò», với tất cả nội hàm sâu lắng của mỗi chữ.

Thơ đây là thơ, đích thực, chân chính, không phải là lời nói hoa mỹ, bắt thành vần vè. Thi nhân không phải là người thông minh, uyên bác, sâu sắc, tài hoa, cho dù họ có thể có đủ các đức tính ấy, hoặc ngược lại, không được cái nào cả. Họ là một bộ tộc riêng, du mục trong thành phố, hay «đầu thai nhầm thế kỷ» như ta thường nghe nói.

Thơ là một phẩm chất của tâm hồn, trong cuộc sống, và cuối cùng là của ngôn ngữ. Là thành phần cuộc sống, thơ phản ảnh thời thế nhưng không phải là sản phẩm của thời thế, nhất là của một chế độ, bất cứ chế độ nào.

Thế còn «Lính Học Trò» là thế nào ? Là cậu học sinh, từ sân trường bước ngay vào quân trường, chiến trường, nhiều khi chưa kịp kinh qua cuộc sống xã hội, trong các quan hệ nghề nghiệp, tình yêu, hôn phối.

Trong mỗi cậu học trò mười lăm, mười bảy, đã có một người lính mai phục đợi chờ. Và trong mỗi người lính về sau, vẫn còn cậu học trò ẩn náu, dở dang. Lính học trò là vậy. Lính học trò, trên đường hành quân với Nguyễn Bắc Sơn :

Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây, hãy ngắm mây trời,
Hãy tưởng mình đang đi picnic…
(tr.377)

Họ làm thơ, tuổi mười lăm mười bảy, gọi là « làm văn nghệ » trên báo nhà trường, báo địa phương. Làm thơ như một tâm thế, một lối ứng xử với đời. Không phải để thành danh, hay đi vào lịch sử văn học. May mắn có bài thơ, cái truyện đăng «báo Sài Gòn» là tràn nhau bữa rượu. Rồi thôi, vậy thôi, cùng lắm là có chút tự hào với người bạn gái chưa bao giờ dám hẹn hò trong cuộc đời không thấy ngày mai.

Rồi đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính, họ bước chân vào chiến cuộc, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo / xem cuộc chiến như tai trời ách nước, như lời Nguyễn Bắc Sơn (tr. 376 và 378).

Và không biết bao nhiêu người đã gục ngã giữa tuổi xuân xanh, khi vừa mới bước vào chiến trường, như nhà thơ Hoài Lữ, tử trận khi tập thơ Mắt cỏ vừa xuất bản, 1963, mà ban sưu tập có lẽ vì không tìm ra nên không nhắc đến.

Tôi nhớ mãi mấy câu thơ Hà Nguyên Thạch, làm khoảng 1970, không có trong sưu tập :

Còn những chén rượu sầu lòng chưa uống cạn
Nên làm thơ còn có nghĩa chờ say
Lúc say khướt sẽ quay cuồng hoài vọng
Chạy quanh đời nghe hồn nhẹ như mây

Từ đó, tôi có thể nói: thơ là một tâm thế, một cách ứng xử với đời, đa đoan và hạn hẹp, một lối quản lý thời gian, xử lý không gian, và phản ứng với nhân gian. Có lẽ ở đâu, thời nào, thơ đích thực cũng vậy thôi, nhưng tại Việt Nam, thời ấy nó là một bức bách của một thế hệ, nó vừa hiện hữu (existentiel), vừa thiết yếu (essentiel).

Bắt đầu nền thơ này là chuyện văn nghệ, trao đổi, thù tạc giữa bạn bè, nhưng sau cùng trở thành huyết mạch của một thế hệ, mà Trần hoài Thư gọi là « tội tình ». Vì đã bị lịch sử làm tình làm tội. Có thế mới hiểu vì sao, khi đánh máy lại những bài thơ cũ, ba, bốn mươi năm sau, anh còn thấy « như gõ vào chính tim mình những niềm đau buốt ». Và người đọc ngày nay, nhất định đâu đây còn có người thấu hiểu và chia sẻ niềm đau buốt ấy. Làm sao cho sưu tập này, và tấm lòng kia đến tay người nọ ?

Vì vậy Thơ Miền Nam trong thời chiến không chỉ là nguồn tư liệu – một nghiã trang – văn học. Nó là cuộc sống đang thao thức và thao thiết, là nguồn thơ dù đổi địa hình hay khí hậu, vẫn tiếp tục, âm thầm, đâu đó, bồi dưỡng cho đời sống văn học.

Và cho đời sống nữa chứ.

Chẳng riêng gì đời sống của những chúng ta.

ĐẶNG TIẾN
13/10/2006
____________

[1] Thư Ấn Quán xuất bản, địa chỉ TQBT, P.O. Box 58 – South Boundbrook, NJ 08880, USA
email : tranhoaithu@verizon.net

[2] Phạm văn Nhàn, Thư Quán Bản Thảo, tr. 8, số 25, tháng 10-2006, New Jersey. USA

[3] Trần hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo, số 25 đã dẫn, tr. 13.

[4] Linh Phương, Kỷ vật cho Em, 1971, tập thơ, Thư Ấn Quán tái bản, sách in để biếu tặng, 2006, New Jersey.

[5] Nguyễn Bắc Sơn, tập thơ, Chiến tranh Việt Nam và Tôi, 1971, Thư Ấn Quán tái bản, sách in để biếu tặng, 2005, New Jersey.USA

Image may contain: shoes and text
Image may contain: text

CHÀO MỪNG TƯỢNG ĐÀI ĐẠI ĐẾ QUANG TRUNG ĐẶT TẠI THÀNH PHỐ GARDEN GROVE NƯỚC MỸ

Thành Phố Garden Grove tại Mỹ
Có con đường đặt tượng Đại Đế Quang Trung!
Vua Quang Trung anh hùng!
nên thành phố Garden Grove có lòng ngưỡng mộ!
Dẫu con đường đại lộ
Không dài bằng nước Việt Nam
Nhưng tất cả ai đi ngang
Đều ngước đầu hãnh diện!

Một con đường đặt tượng đặt tên
Không có ai phản biện!
Chắc hồn thiêng núi sông mình xui khiến
mà ở đây người Mỹ kính yêu?

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Quang Trung áo vải cờ điều xung phong!

Tiến lên!  Tất cả!  Một lòng!
Tiến lên tất cả một lòng tiến lên!
Nghĩa ơn đây, quyết đáp đền
Giang Sơn mình đó, lời nguyền sắt son:
Còn tin yêu, tất cả còn
Còn Quê Hương để cháu con trở về!
Trầm hương khơi dây lời thề:
Đi cho hết biển ta về Cố Hương!

 Trần Trung Tá

Chúc Mừng Sinh Nhật Thư Quán Bản Thảo

 

 

 

Tạp chí Thư Quán Bản Thảo (TQBT) ra đời vào tháng 9/2001. Năm nay là tròn 16 tuổi, với 76 số báo đã được phát hành. Một chặng đường thật dài và lắm gian nan, về tinh thần lẫn vật chất. Nhưng với quyết tâm khôi phục lại di sản văn chương miền Nam một thời lừng lẫy, nhân bản, các anh Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn cùng nhóm chủ trương đã cho ra đời những số báo mà tưởng chừng như không thể thực hiện, nhất là đối với một tạp chí không bán, không nhận quảng cáo như TQBT. Tiếp theo 71 số báo của lần sinh nhật năm ngoái, đến nay TQBT đã phát hành thêm được 5 số báo (kể cả số báo này bạn đang có trên tay).

 

72: Giới thiệu tạp chí Văn Học (1962 – 1975)

73: Giới thiệu tạp chí “di cư” Văn Hóa Nguyệt San (1952 – 1974)

74: Báo sinh viên và Nguyệt san Tình Thương

75: Những số báo văn học cuối cùng của miền Nam

76: Nhà văn Lữ Quỳnh

 

Mỗi một số báo với nội dung cực kỳ phong phú, có một không hai, đưa người đọc trở về với nền văn chương tự do, nhân bản của miền Nam trước năm 1975. Anh Trần Hoài Thư viết lại hành trình của từng tạp chí để người đọc có một cái nhìn tổng quát, giới thiệu những bài viết tiêu biểu và những “bút chiến”, nếu có, của từng thời kỳ mà hiện giờ nếu anh không nhắc, có lẽ mọi người đã quên hoặc cũng chẳng biết. Như vụ Văn Học khai chiến với Văn năm 1966, Duyên Anh làm sập tiệm “Quét Sân Đình” của Văn (TQBT số 72). Đặc biệt số báo Văn Học này có bài phỏng vấn dịch giả Nguyễn Minh Hoàng của Ngọc Bút, một thân hữu của TQBT ở VN, đã làm sáng tỏ ai thật sự là “Mõ Làng Văn” làm cho Duyên Anh nổi giận.

 

Ngoài ra, những hồi ức văn học thật quý giá như bài viết của Nguyễn Hoàng Lưu “Đọc ‘Cõi Đá Vàng’ của Nguyễn Thị Thanh Sâm”, Phùng Quán “Nhà tiên tri tầm cỡ đại đội” viết về nhân vật Trần trong tiểu thuyết “Cõi Đá Vàng” càng làm cho ta hiểu rõ nhân vật này hơn để càng thương cảm cho số phận của một chiến sĩ / nghệ sĩ với trái tim nhân bản không có chỗ dung thân trong guồng máy cộng sản. Và để càng xót thương hơn cho một nhân vật được nhắc đến trong truyện, là người phụ nữ yêu nước bất chấp nguy hiểm băng qua lửa đạn về với bộ đội tình nguyện làm “chị nuôi”, để phải chết thê thảm đau đớn quằn quại khi 3 mũi tên tẩm thuốc độc thử nghiệm bắn vào bụng vào ngực nhưng không chết, nên giãy giụa, la thét thảm thiết khiến người lính thi hành bản án này trong cơn hoảng loạn đã dùng “dao găm đâm tới tấp vào ngực của nạn nhân để kết thúc”. Còn gì man rợ cho bằng! Có thua chi những hình phạt thời Trung Cổ?

 

TQBT 73 giới thiệu Tạp Chí Văn Hóa của Bộ Giáo Dục VNCH với nhiều bài vở nghiên cứu văn hóa giá trị mà trước đây chỉ lưu hành nội bộ, không được bày bán ở các sạp báo. Với khuôn khổ tờ báo giới hạn, anh THT đã cố gắng đưa vào những bài viết giá trị mà khi tìm trên mạng hoặc không có, hoặc có nhưng thiếu sót nội dung hay tên tác giả… như Văn Hóa Đình Làng của Nguyễn Đình Thục, Giai thoại về văn học và lịch sử của Phạm-Nguyễn Du tiên sinh của Hồng Liên Lê Xuân Giáo, Lịch sử và giai thoại bưu trạm Việt Nam của Hương Giang, …

 

Đặc biệt TQBT 74 với chủ đề Báo Sinh Viên & Nguyệt San Tình Thương, khởi đầu chỉ với một số báo “Tình Thương” do nhà văn/ bác sĩ Ngô Thế Vinh gửi tặng. Sau đó, một thân hữu đang làm việc tại một thư viện ở Florida đã giúp mượn giùm 27 số Tình Thương từ thư viện Cornell (theo cách Interlibrary loan với lệ phí khá cao cộng phí chuyên chở qua hai địa chỉ để đến được tòa soạn TQBT), anh đã thực hiện được một số báo mà chắc chắn các bác sĩ từng là sinh viên của Đại Học Y Khoa Saigon xưa đã rất bồi hồi cảm động khi cầm nó trên tay. Không bồi hồi sao được khi đọc lại bài thơ tình của cô nữ sinh 17 tuổi hoa khôi trường Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) Lý Thị Kim Xương một thời là đề tài cho các anh thích thú bàn luận đến nỗi có anh đã thuộc lòng và vẫn còn nhớ sau gần nửa thế kỷ! Thêm vào đó, TQBT còn sưu tập được ảnh chân dung của cô nữa. Hay những bài thơ nhập cuộc của Đỗ Nghê mà đến bây giờ đọc lại vẫn như còn mới toanh:

 

nếu các con còn nhớ
đã cùng sinh ra trong một bọc
thì hãy nghe ta

 

đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi

rồi đứng ôm nhau mà khóc
nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất

 

hãy tha thứ cho nhau – tha thứ hết
rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê hương
vì lỗi lầm này nào phải bởi các con

(Đỗ Nghê – Tâm Sự Lạc Long Quân)

 

Phải nhờ số báo này, độc giả ngày nay mới có dịp nhìn lại để thấy Tình Thương là tờ báo của những trí thức trẻ, những bác sĩ tương lai nhập cuộc và dấn thân, “đối lập” với chính quyền lúc đó vì yêu nước, chỉ trích những cái không hay để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, bằng cớ là khi ra trường các anh đã chọn những binh chủng “dữ dằn” để đầu quân, như Thủy Quân Lục Chiến (Trần Xuân Dũng, Phạm Đình Vy), Nhảy Dù (Nghiêm Sỹ Tuấn), Biệt Cách Dù (Ngô Thế Vinh), …

 

TQBT 75 giới thiệu những số báo văn học cuối cùng của miền Nam phát hành trong tháng 3 & 4/1975 với ba tạp chí tiêu biểu Bách Khoa, Văn và Thời Tập. Những bài phỏng vấn nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn nói về Ban Mê Thuột, Huế, Qui Nhơn, Cam Ranh và cuộc di tản đau thương, hay trang Sinh Hoạt “Ai còn ai mất…” của Thu Thủy (Võ Phiến) trên Bách Khoa, hoặc những trang Nhật Ký của Mai Thảo và mục Sinh hoạt Văn nghệ trên Văn và đặc biệt Thời Tập với Văn Chương trước tình thế mới, mục Quanh Bàn Viết với Một Lời của Dương Nghiễm Mậu; cũng như những sáng tác văn chương đi trên những số này như  Cơn Sốt (Tô Loan), Ngoài Bãi (Trùng Dương), Mùa Sẽ Còn Dài (Mường Mán), Thị Trấn Cà Phê Hoa (Trần Hoài Thư), hay những bài thơ của Nh. Tay Ngàn, Tạ Hiền, Kim Tuấn, Đặng Phú Phong, Trần Dzạ Lữ, Trần Văn Nghĩa, Viên Linh, Nguyễn Đình Huy, Hồ Minh Dũng, Viễn Di, v.v… là những sưu tập rất quý khi nhìn về quá khứ. Đó là lần gần nhất (cũng đã hơn 40 năm) chúng ta còn có văn chương tự do nhân bản, người cầm bút không phải bẻ cong ngòi viết của mình, không phải “vừa viết vừa lách” để có được tác phẩm xuất bản trong nước.

 

Kể ra đây để thấy những tâm huyết rất lớn, những nỗ lực rất đáng trân trọng của hai anh Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn. Khi tờ báo ra đời cách đây 16 năm, các anh đã bước vào tuổi 60, đã “ê mình” trong cuộc vật lộn áo cơm ở vùng đất mới sau những tháng năm bị đầy đọa trong những trại tù cải tạo mà nhà văn Ngô Thế Vinh đã so sánh: “Không khác với các trang sách viết của Solzhenitsyn về Gulag Archipelago nhưng là Made in Vietnam, tinh vi hơn với phần học thêm được cái ác từ Trung Quốc.” (*)  Nhưng các anh đã cố gắng khôi phục lại Di Sản Văn Chương Miền Nam để chứng tỏ với mọi người, trong cũng như ngoài nước, là trong 20 năm ngắn ngủi ấy miền Nam đã xây dựng được một nền văn học nhân bản, đẹp và rực rỡ như thế đó; chứ không như bên thắng cuộc đã tuyên truyền khi ra tay phần thư sau tháng 4/1975, cho đó là những sách báo phản động, đồi trụy, nọc độc, tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ Ngụy (sic) tại miền Nam.

 

Theo như bài phỏng vấn gần đây trên trang văn học nghệ thuật Phạm Cao Hoàng, anh THT cho biết đã hai lần suýt chết trên đường lái xe đến thư viện Cornell vì trời bão tuyết. Và ngày đó anh còn có chị Yến, người vợ yêu quý, một trợ thủ đắc lực của chồng, ngoài nhiệm vụ nội trợ trong nhà, đã luôn giúp anh lái xe trên đường đến những thư viện Mỹ sưu tầm sách báo. Hoặc phụ anh may từng tập sách, bỏ báo vào phong bì, ghi tên người nhận, … Thế mà đã gần 5 năm nay, sau trận đột quỵ tháng 12/2012, chị đã nằm một chỗ, để anh mất đi một chỗ dựa thật cần thiết:

 

Vậy mà em bỏ đi xa

Bỏ ngôi nhà, bỏ buồng thờ, đèn nhang

Em đi để nhận đoạn trường

Xe lăn định mệnh, chiếc giường nghiệp oan

 

Hay là em chuộc giùm chồng

Như xưa Chúa đã chuộc giùm thế gian?

(Trần Hoài Thư – Vịn em)

 

Những bài viết của anh về chị trong thời gian này thật xót xa, cứa thấu tâm can người đọc. Như bài gần đây nhất trong TQBT 75 – tháng 6/2017, anh kể:

 

“Càng ngày tôi càng chạm trán với những sự thật không ngờ, hay không thể tưởng tượng nổi xảy ra cho Y… Hậu quả của bệnh “đột quị” thật khủng khiếp. Nhìn người bệnh nằm trên giường, mền drap vung vãi, chơ vơ hai cái chân khẳng khiu, tôi không thể nào không chảy nước mắt. Sao tuổi già của chúng tôi lại buồn quá đỗi như thế này. Tôi đắp lại mền trên ngực Y., sửa lại ngay ngắn tấm drap và chuẩn bị cho Y. ăn. Tôi lại bắt đầu nghe những lời nói sảng, và phải trả lời những câu hỏi đầy mê sảng đó. Với cả cõi lòng tan nát…

 

Ở bên giường bệnh, lòng tôi rướm máu, thì về nhà tôi lại chạm vào một hình phạt khác. Đó là nỗi cô độc rợn người, bắt tôi muốn điên khùng.Căn nhà đầy những di vật của người bệnh chẳng khác một bảo tàng viện. Chúng bao vây tôi bắt tôi phải nghĩ ngợi. Muốn nhắm mắt mà sao mắt cứ như thấy một người bệnh nằm trên giường, với tiếng la gào thất thanh khi người bệnh bị những lằn sét định mệnh bủa xuống đầu óc. Những lời nói mê sảng không còn từ cửa miệng của một con người dù cái thân thể vẫn có tứ chi vẫn có đầu mình vóc dáng con người. Những lời nói không còn có thuốc chữa trị, mê cuồng, như đánh thốc vào đầu tôi, cứa vào tim tôi. Để tôi phải ôm mặt. Tôi phải làm gì để cứu lấy Y.? Tôi phải làm gì để cứu lấy tôi?”

(Trần Hoài Thư – Nửa đêm)

 

Ngoài ra, còn thêm căn bệnh Gout hành hạ chân anh đau nhức khủng khiếp, nhưng anh vẫn gắng nấu cơm đem vô nhà thương ngày hai lần cho chị:

 

Bước lên bước xuống bực thềm

Chân lê tay vịn bù đền trúc mai

Bước lên tay vịn lê giày

Bước xuống nhăn mặt mồ cha mày đồ Gout

Muốn ký phép, nghỉ giải lao

Nhưng thương bà xã không người nấu ăn

(Trần Hoài Thư – Tam cấp ở Ashbrook Nursing Home)

 

Và anh vẫn gắng ra TQBT đều đặn đảm nhiệm từ A đến Z công việc của một ông chủ lẫn người thợ trong khâu xuất bản và phát hành sách, với sự đồng hành của anh Phạm Văn Nhàn, người bạn cố tri hơn 50 năm nay, từ thuở hai anh là lính đóng ở Quy Nhơn với bao kỷ niệm vui buồn… Ấy là chưa kể những phụ bản đặc biệt gần đây như tập thơ Đan Tâm và tập truyện ngắn Sợi Khói Bay Vòng của Phạm Ngọc Lư, những số Văn, Thời Tập, Tình Thương, Văn Hóa Nguyệt San… khi có bạn đọc yêu cầu.

 

Chúc mừng TQBT vững bước trên con đường đã định, luôn được độc giả yêu thương, ủng hộ. Cầu mong hai anh “chân cứng đá mềm” vượt qua những khó khăn, trở ngại để đưa tờ báo đến với bằng hữu, với những ai còn quan tâm đến Di Sản Văn Chương Miền Nam cho những thế hệ tiếp nối…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

28.7.2017

 

——-

 

(*) Ngô Thế Vinh: Tìm lại thời gian đã mất – Tưởng nhớ một vị danh sư: Giáo sư Y khoa Phạm Biểu Tâm.

 

(Nguồn: Thư Quán Bản Thảo – tháng 9/2017)

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

 

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng”nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…”v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!
Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế.

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn, Nguyễn Văn Tý… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

4/9/2017

Phạm Tín An Ninh

Mưa lập đông

 

Đã bắt đầu những ngày mưa ủ lạnh
Bé thấy không , trời ủ dột như lòng
Mưa nhủ bé về choàng khăn cổ ấm
Mưa gọi anh buồn xớ rớ hồn không

Sẽ có những ngày mưa buồn thê thiết
Để sớm mai bé ngủ muộn trong chăn
Tối hong lửa lên hai bàn tay rét
(Nhớ hong giùm anh chút hơi ấm nồng nàn)

Mưa tháng mười, lập đông rồi đó bé
Những giọt mềm nũng nịu áo sầu che
Mưa lất phất bay trong hồn du tử
Mưa tê chân anh buổi lẽo đẽo theo về

Gió bát ngát giữa tim đời mở rộng
Lòng vừa rung đôi cánh đẫm sương ngà
Nhịp guốc mộc bé khua cùng hạnh phúc
Là lúc hồn anh vất vưỡng sầu qua
Bé cất tiếng thật thà se sẽ gọi
Khúc chiều đưa mây nghẽn lối trời vàng
Mây rũ rượi như lòng anh đắm đuối
Thấy bé về ngơ ngác giữa mưa xanh

Đã bắt đầu ngày run trong tiếng nấc
Bé thấy không, trời ủ dột như lòng

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

(Tuổi Ngọc số 86 – 25 tháng giêng, 1973)

BÊN LY CÀ PHÊ, LY RƯỢU… THẤP THOÁNG BÓNG LỮ QUỲNH

 

tản văn Nguyễn Lệ Uyên

 

Thế hệ chúng tôi không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh. Thuật ngữ này vừa bi hùng lẫn bi hài. Và rồi chiến tranh cũng qua đi mà không có hòa bình, không cả đoàn tụ. Anh em bạn bè lưu tán tứ phương. Ngó tới ngó lui, cái thế hệ ấy cũng đã trên dưới 70! Nghĩa là đang ở lứa tuổi, nói theo ông bạn nhà thơ thiền giả Đỗ Hồng Ngọc, là bắt đầu hườm hườm, chuẩn bị chín rục. Thoắt nghe cũng gờn gợn thịt da trong vài lần chợt nghe tiếng chim rớt giữa đêm khuya khoắt.

Lòng chùng. Chân mỏi. Chẳng còn những ham muốn bay nhảy như thuở nào, rất xa qua những tờ lịch mà lại gần như một cơn mơ. Cuối cùng thì đành lui về căn nhà cổ xưa, nấp sau vườn cây rậm rạp như thể quy ẩn, đến nỗi ông bạn văn Trần Hoài Thư tận xứ người giá buốt, hạ bút vẽ nguyệch ngoạc chân dung tôi : “con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng”! Mà cũng phải thôi, sáng sáng tự pha ly cà phê ngồi ngó trời nhìn đất; quay vào phòng vi vút với chiếc máy tính, lôi những sách báo cũ đọc và sống với cái quá khứ heo hút để gặp lại tất cả bạn bè trong đó, trên trang giấy ố vàng, qua những dòng chữ chi chít trên màn hình, mừng vui, buồn tủi hỗn độn chen lấn nhau.

Bạn bè chí cốt chí thân chẳng còn ai ở xứ xương rồng bàn chải này để chia sẻ. Nhưng cũng còn có chút may mắn, được hai người bạn trẻ năng lui tới, lúc ngồi cà phê, lúc trước ly rượu nhạt mà tình thì đẫm mặn như muối như gừng! Một bạn là giảng viên trường ĐH địa phương, một là chủ quán ăn, có phần hao hao giống với anh quán của cụ đồ Chiểu trong Lục Vân Tiên. Cả hai đều sính văn chương sách vở… Bữa nọ, trên bàn bia (loại bia tươi rẻ mạt), anh quán cảm khái chuyện nhân tình thế thái sao đó, cất giọng:

Tay với trời cao không thấu nổi/ Tuổi già thiếu bạn cũng mồ côi”. Anh quán ngập ngừng, nhìn về phía xa như đón đợi cái tuổi già, nay mai sẽ đến với mình. Tôi tiếp lời đọc lại  khổ thơ:

“…Thèm rượu mà ta không uống được

 Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi

Tay với trời cao không thấu nổi

Tuổi già mất bạn cũng mồ côi”. Mất bạn chớ không phải thiếu bạn! Thời buổi này, chúng ta đã mất khá nhiều bạn, đủ kiểu mất: Đổ vỡ, ly tán sau 30.4, chạy theo danh vọng hão, đè cổ bạn bè để leo lên chiếc ghế được ban phát, thậm chí bán cả bạn cho bọn quỷ dữ…Có nhớ thơ của ai không? Quán trả lời, ông Lữ gì đó, thằng bạn ở Sài Gòn đọc cho nghe hồi hôm. Nó tâm trạng, anh. Là vì nó vừa chia tay vợ sau 30 năm chăn chiếu… Bài dài nhưng chỉ nhớ hai câu. Tôi nghĩ, thời buổi văn chương chữ nghĩa bị chìm lấp đằng sau bức màn kim tiền mà còn có năm ba độc giả chịu khó đọc và đồng cảm với tác giả, âu cũng là niềm hạnh phúc! Tôi nói với giọng điệu vui hẳn lên: Ờ, thơ Lữ Quỳnh, một trong những người sáng lập Gió Mai ở Huế, tiền thân của Ý Thức sau này. Anh quán nhảy chồm lên, em có đọc Lữ Quỳnh một truyện ngắn không nhớ tên, hình như một ông già chuyên gói xác, một chuẩn úy làm ở ban chung sự, và một người mẹ, một thiếu phụ đi tìm con, tìm chồng trong nhà xác… truyện đọc nghe buồn buồn, lạnh như chính người đọc đứng trong trong nhà xác thật!

Tôi nói: Có thể nội dung và tựa truyện ngắn (Mùa Xuân Hư Vô) chú không nhớ tường tận, vì đã trên 40 năm rồi còn gì, nhưng nhận xét ban đầu thì khá chính xác, bởi style của Lữ Quỳnh, từ truyện dài đến truyện ngắn… và cả thơ vẫn cứ lành lạnh như lớp sương ban mai, như tuyết tan ngoài hiên thềm. Đôi lúc, vẫn có lửa nhưng không phải loại lửa bùng cháy, hừng hực mà, là ngọn lửa chợt lóe lên, sáng một góc và tan vào lớp bụi như những cơn mưa mùa đông xứ Huế.

Cao hứng, tôi dông dài tán phét: Nếu chịu khó ngồi đếm nỗi buồn của các nhân vật (trong truyện và thơ) Lữ Quỳnh tạo ra thì có đến hàng trăm cảnh buồn khác nhau, trong một không gian và thời gian không cố định: “Nỗi u buồn như muốn thay hết ý nghĩa của cảnh vật. Làm sao để sống được phần đời còn lại của những kẻ đang nằm bất động trong các túi ni lông đó? Kiên quay trở vào đứng cạnh một chiếc quan tài. Hắn rút nắm hương thổ thổ trong lòng bàn tay, rồi châm vào ngọn nến” (Mùa Xuân Hư Vô).

Nhìn hai bạn trẻ, họ thuộc thế hệ sau, không tham gia vào cuộc chiến bẩn thỉu, nhưng chắc chắn họ đã nghe, đã thấy, đã sống…với chiến tranh; đã nhìn thấy những cái chết phi lý ngoài đời thực và qua sách báo; họ cũng phân biệt được rạch ròi hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, tuổi trẻ và già, chiến tranh và hòa bình?

Với thế hệ chúng tôi, trong chiến tranh, tuổi trẻ bị vãi ném và bị phung phí đến nỗi nhiều nhà văn đã phẫn nộ: “Chiến tranh là cái cặc chó gì”, ThảoTrường; còn Y Uyên: “Chiến tranh cái con mẹ gì  mà lâu quá vậy?”; Phan Nhật Nam thì gọi bằng hai từ “địa ngục”. Phạm Ngọc Lư tổng kết cuộc chiến bi thảm và bẩn thỉu kia bằng: “Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng”. Hai chú thấy đó, chỉ vài ba từ nhưng quá là bi thống! Cho nên, người đọc dễ nhận ra, trong hầu hết các tác phẩm của các nhà văn trẻ miền Nam, thân phận làm người luôn được đặt lên trang giấy với những câu hỏi ngắt ngoải, không lối thoát.

Với Lữ Quỳnh, thân phận làm người trong thời buổi ấy, thường đặt ở những tình huống, không gian và thời gian khác nhau như một ám ảnh nặng trĩu khi phải làm người: “Là tuổi già nên phải chết, chết trận mạc, chết tự tử, chết vì chống tham nhũng… sau nầy hắn đã sợ mưa như sợ thần chết, vì mưa không làm hắn thấy đường, không thấy đường thì làm sao mà thấy địch? Không thấy địch thì địch thấy ta. Địch thấy ta, thì ta không bao giờ còn thấy bạn bè, cha mẹ, anh em nữa” (Người Ngồi Đợi Mưa).

Trong hầu hết các tác phẩm của Lữ Quỳnh, chúng ta không tìm thấy sự phẫn nộ hiển lộ qua những câu từ, nhưng nỗi buồn thì dư thừa. Ông buồn vì mất bạn, buồn vì hoàn cảnh khắc nghiệt trên mảnh đất ngày càng lụn tàn bởi chiến tranh, buồn vì xa xứ… Có hàng chục kiểu buồn như thế. Cho nên đọc Lữ Quỳnh là soi tìm nội tâm qua câu từ. Đó là nội tâm bị băm vỡ, bị tổn thương do những tác động khách quan oan nghiệt, đè lên từng phận người trong dòng lịch sử biến động không ngừng:

Ngồi tưởng quê nhà đang có bạn

Đứa nằm hiu hắt chốn trăng sao

Đứa đang chiếc bóng đêm mờ tỏ

Thế cuộc sum vầy nay chốn nao?

Có sống trong trận “cuồng phong sử lịch” này mới cảm hết nỗi đau xót trong 4 câu thơ trên.

Bửu Ý, Ng. Dg. Quang, Đinh Cường, Lữ Quỳnh và tác giả

(ảnh chụp tại điền trang Thân Trọng Minh

nhân triển lãm tranh ĐC tại Đà Lạt năm 2014)

 

Một sáng nọ, sau những trận mưa dầm dề như cầm chĩnh mà trút liên tu bất tận nhiều ngày ròng, bất ngờ sáng sau, trời bật nắng, loại “nắng rượn” khó mô tả chính xác. Mưa đã gội rửa mọi bụi bặm, nắng phớt lên chút hồng hào, đủ để mấy con chim sẻ rung rung rỉa lông cánh. mọi thứ đều đẹp, thơm tho như “em gái Mọi tắm truồng sớm mai”. Cảnh vật đã vậy huống con người. Anh bạn giảng viên gọi qua điện thoại: Em với anh Năm quán ngồi cà phê, có cả nhân vật em gái văn nghệ. Anh chạy xuống ngồi nói dóc.

Mất 7 phút chạy xe máy. Cả ba đang ngồi nơi hiên hóng nắng. Những giọt cà phê đen nâu nhỏ chậm. Bắt tay. Ngồi xuống ghế. Ngó cô em thấy bữa nay xinh xinh, mặc dù đang níu tuổi 50, miệng tôi bật ra:

…Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa

Nhưng lòng luôn sẵn lửa cho em

Để sưởi em ngày đông tuyết giá

Tội nghiệp những con đường xe qua buồn bã

Không bóng người chỉ bong bóng mưa xao…

Tay tôi nắm chặt tay cô em, lòng gợn lên những con sóng lăn tăn. Tôi không biết cái gợn kia là từ bàn tay ấm áp của cô em hay từ những câu thơ của Lữ Quỳnh rung lên như một sợi dây đàn ngân nga…? Nhưng dẫu sao, giữa bàn tay người sương phụ và thơ như có một liên hệ cồn cào nơi tôi. Nói khác, mấy câu thơ dẫn trên đã làm đẹp cho buổi sáng trong vắt, tôi nghĩ vậy.

Cô em hỏi: Anh nói chưa bao giờ viết nổi một câu thơ, vậy lấy đâu ra mấy câu hay vậy để “tán” em? Hiểu lầm rồi cô em ơi, thơ bạn anh, Lữ Quỳnh. Cầm tay em và đọc thơ bạn như để chào buổi sáng vậy mà? Chiếc muỗng khuấy tròn trong ly, cô em cười cười: Các anh hay thật, trong ngoài trên dưới gì cũng nói được tất bằng thơ. Đó là sự lôi cuốn với người nghe, lắm lúc đưa thiên hạ vào mê cung. Anh quán: Nếu ông anh đưa được cô vào mê cung càng… Tôi gạt: Chớ có làm vẩn buổi sáng rất dịu dàng này!

Một buổi sáng tuyệt đẹp. Nắng rượn, hưng hửng, có bạn tri âm lại thêm người đẹp ngồi quanh nói chuyện văn chương, là điều tuyệt diệu ở tuổi 70 – cái tuổi tôi hay gọi đùa là tuổi “dậy thì 70” gờn gợn những ngọn gió heo may trong lòng, theo nhiều nghĩa khác nhau…

… Nhiều đêm không ngủ được, lôi trên kệ sách, bất kỳ của ai đọc “tứa lửa từa lưa” để dỗ giấc, từ mấy ông Tàu đời Đường chí đến ông Tây Nga La Tư, Pháp, Mỹ… nghĩa là vớ được quyển nào đọc quyển đó, đọc đến mệt nhừ con mắt.

Có trận, Lữ Quỳnh thức trắng với tôi. Tôi dằn vọc anh ta, làm tình làm tội anh ta, bỏ lên bộ não xẻ thịt thơ anh ta. Mà thật lạ, mỗi lần dàn vọc, xẻ mổ như vậy lại hiện ra một Lữ Quỳnh rất khác trong từng ấy ngôn ngữ, từng ấy bài thơ… cứ như một cánh chim lạc đàn, không hốt hoảng mà lại ung ung vỗ cánh trong bầu trời xanh thăm thẳm, thênh thang.

Ấy là những lúc anh nhớ bạn bè, viết những câu thơ về bạn, như có lần tôi đã viết: “Với những bài thơ viết về những người bạn, có lẽ tâm trạng nhất, não lòng nhất vẫn là bài Người ngồi khâu di sản. Ngôn ngữ không chắt lọc, không ẩn dụ; chúng tự do như ngôn ngữ chụp hình, nhưng ông đã chọn đúng góc sống cho bố cục, nên chỉ lia qua, người đọc đã cảm thấy ngay hình ảnh một “ông đồ già”, nhưng xót xa cay đắng gấp vạn lần ông đồ của Vũ Đình Liên năm xưa, bởi ông đồ Thư đã cố nén những giọt lệ tủi nhục, kiên nhẫn, miệt mài ngày đêm gom góp những đứa con tinh thần bị “chôn sống”, bị “hỏa thiêu” còn sót để tái hiện hình hài dòng văn học miền Nam bị bức tử một cách oan ức.

Tóc bạn trắng, trắng như mây

Tóc bạn trắng như tuyết New Jersey

Cặp kính lão dày trễ xuống

Kim đâm vào tay không biết đau

Hai mươi năm di sản mây trôi

Chỉ mình bạn ngồi khâu, khâu mãi.

(Người ngồi khâu di sản)

Hay về những giấc mơ của anh: “…luôn là lớp mây trắng trôi bềnh bồng vô định trong thơ ông. Giấc mơ gần như xuyên suốt nửa đời làm thơ của ông. Nó không hình thù nhân dạng, mờ mờ bay qua mắt ông, tâm hồn ông như một ảo giác và bay thẳng, trôi mất, không đọng lại, để sau đó, từ Samudaya, thơ ông như giọt nước đọng trên phiến lá, rớt xuống và tan biến đâu đó giữa đất trời, cây cỏ, như có như không.

Ông ghi lại những cảm giác trống rỗng, những hình ảnh trống rỗng đã chạm khẽ vào ông và bay đi không để lại dấu vết. Tất cả đều phẳng phiu như một thấu kính một chiều trong suốt, trong hơn khí trời, không thấy, không rờ chạm được.

Trong những giấc mơ

Ký ức trắng

Như tấm gương soi

Không giữ lại bóng  

Hay:

Những giấc mơ nồng nàn

Lạ lẫm…

Sáng ra không nhớ gì.

(Mây trong những giấc mơ)

Ngồi nhớ anh, thích những bài thơ đầy tâm trạng với tôi, bèn lan man tản mạn đôi dòng; nhưng mà nói thế nào, phân tích thế nào thì những trang thơ lẫn văn xuôi của Lữ luôn là những thổn thức, khao khát… cứ như ngọn lửa cháy trong đêm đông giá buốt, như Du Tử Lê đã viết: “Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thoảng hương thơm của lòng nhân hậu. Hay, tính-lành của một con người không bị ô nhiễm bởi lầm than, nguy nàn, tổ quốc.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu / xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được những hồi chuông, khánh tình yêu thao thiết. Hay, những ngọn nến cháy bằng tim bấc trăm năm, giữa nghìn sao rung động, thứ nhất.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu…”

 

Tuy Hòa tháng 7/20017

 

vết son

 

vết son đó chỉ một lần ghé xuống
mà theo anh giông bão suốt một đời
màu môi đỏ xuôi tình anh lận đận
những vết bầm quanh nỗi nhớ khôn nguôi

 

trong miên viễn tim người không độ lượng
hơn một lần anh cắn nát bờ môi
những vết xướt cấu cào đêm hoang tưởng
thành cơn đau phủ kín dối gian người

 

chút ký ức vàng son còn sót lại
là thênh thang thắm thiết nụ hôn người
vết son đỏ dành cho lần yêu cuối
có điêu tàn như một mảnh trăng soi

 

anh sẽ nhớ như đã từng đắm đuối
vết son người trong dang dở đời nhau
nhỡ mai kia có tiễn tình đi mãi
vẫn còn đây màu môi đỏ không nhàu…

nguyễn minh phúc