Nỗi đau đớn của Đoàn Văn Toại

 

“Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.”- Đoàn Văn Toại (1945-2017)

Đó như là lời sám hối của ông Đoàn Văn Toại, một người đã lầm tin vào Cộng sản, được chính quyền Cộng sản Bắc Việt xếp vào dạng “Thành phần thứ 3” viết trong bài chính luận “Thổn thức cho Việt Nam”. Có rất nhiều người sẽ không biết ông Toại, nhưng với những lớp người lớn tuổi, từng sinh sống, hoạt động ở Saigon trước 1975 đã từng nghe đến tên ông. Ông từng là phó Chủ tịch Tổng hội sinh viên Saigon trong hai năm 69-70, ủng hộ triệt để Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTDTGPMN) được lãnh đạo bởi luật sư Nguyễn Hữu Thọ, mà thực sự đằng sau đó là CS Bắc Việt.
Trong “Thổn thức cho Việt Nam”, ông Toại đã bày tỏ sự hối hận của mình khi đã đặt niềm tin vào những đề cương của MTDTGPMN đưa ra. Với việc thừa nhận như vậy, ông đã hơn hẳn rất nhiều người, trong đó có từng là cấp trên của ông trong Tổng hội sinh viên Saigon Huỳnh Tấn Mẫm.
Nếu đọc các tác phẩm của nhà văn Đào Hiếu, mà nhất là qua hai tác phẩm được ông viết sau này, “Lạc Đường” và “Cuộc cách mạng bị thất lạc” sẽ cho thấy ông này luôn muốn trốn tránh trách nhiệm, không coi việc ủng hộ MTDTGPMN đã dẫn đến tấn thảm kịch cho dân tộc Việt Nam. Ông luôn đổ thừa cho thời cuộc. Theo tôi, đó là lối từ thoái trách nhiệm khôn ngoan, nhưng là việc làm của những kẻ không đủ dũng khí.
Không riêng gì Huỳnh Tấn Mẫm, Đào Hiếu mà còn rất rất nhiều những lãnh đạo phong trào sinh viên thuộc Thành phần thứ 3, hay lãnh đạo của MTDTGPMN không chịu nhận trách nhiệm cho những gì mà họ đã gây ra. Cho dù, tấn thảm kịch của dân tộc, quốc gia Việt Nam hiện nay một phần đến từ những việc làm dốt nát của họ trong quá khứ. Đó là ủng hộ Cộng sản.
So với những người khác, lời sám hối hay thú tội của ông Đoàn Văn Toại được coi là can đảm.
Ông Toại không chỉ bị tù dưới thời VNCH, mà sang thời Cộng sản-khi Cộng sản Bắc Việt đã chiếm được Saigon, ông cũng bị chính những người “đồng chí” của mình bỏ tù. Với hai tháng ngồi biệt giam, và những tháng tù tiếp theo ông đã được “Đảng cho ta sáng mắt sáng lòng”. Từ đó, ông nhận ra con đường đã đi là sai lầm. Sau khi ông ra tù, không rõ bằng cách nào đã vượt biên thành công, qua Pháp rồi sau đó đến Hoa Kỳ. Ngay tại Hoa Kỳ, vào khoảng cuối thập niên 80s, ông đã bị những người đồng hương của mình 2 phát đạn. Nhưng cuộc đời của ông không chấm dứt ở đó, nó chỉ chuyển sang lặng lẽ cho đến những phút cuối đời.
“Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ.”- (Thổn thức cho Việt Nam-Đoàn Văn Toại)
Trong khoảng chục năm đổ lại, tại Saigon thành lập ra một số hội đoàn mà thành viên là những người từng thuộc thành phần thứ 3 trước đây. Đáng kể trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Hiếu Đằng…Lúc này, họ không còn được coi là “thành phần thứ 3”, ủng hộ cho Cộng sản, mà được gọi bằng cái tên mỹ miều là lực lượng “phản tỉnh”. Dù vẫn còn nhận được sự ưu ái đáng kể từ chính quyền CS, nhưng với CS, lực lượng “phản tỉnh” lúc này trở thành cái gai.
Những kẻ phản tỉnh ấy, liệu có bao giờ cảm thấy hối hận vì nhũng việc làm của mình trong quá khứ? Liệu họ ân hận vì đã góp tay đẩy dân tộc, quốc gia này xuống bờ vực thẳm, ngày càng bị xiềng sâu vào gót giày của Trung Cộng? Điều đó dư luận không rõ, chỉ có thể một số thân hữu của họ mới biết. Song, cho đến nay khi chúng ta vẫn chỉ thấy toàn những lời ngụy biện, bào chữa trốn tránh cho những việc làm xuẩn ngốc của lực lượng “thành phần thứ 3” hay những lãnh đạo trong MTDTGPMN trong quá khứ, phần nào cho thấy những kẻ “phản tỉnh” ấy chưa bao giờ thực sự tỏ ra hối hận về những việc mình đã làm.
Ở một góc độ nào đó, về nhân cách tôi tôn trọng Đoàn Văn Toại, Trương Như Tảng hơn là những người như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ…
Trong bài chính luận “Thổn thức cho Việt Nam”, ông Đoàn Văn Toại đã dũng khí nói rằng:
– Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.
Những lời thú nhận ấy thôi cũng đủ xếp tư cách Đoàn Văn Toại hơn hẳn những người mà tôi đã nêu trên. Tôi phỏng đoán trong những ngày cuối cùng trong cuộc đời làm người, khi mà ông Toại đã nhận ra bộ mặt thật của Cộng sản- những kẻ không hề có tinh thần quốc gia, dân tộc hẳn ông phải đau đớn lắm. Đau đớn vì lý tưởng, tuổi xuân, những năm tháng ngồi tù, niềm tin mình đặt vào bị đánh lừa. Cái thể chế mà ông Toại hay rất nhiều người khác tin rằng nó: Của dân, do dân và vì dân lại chẳng đúng như vậy. Đó là chính quyền thừa hành theo sự chỉ thị từ Soviet. Nhiều người tin rằng, chính quyền CS Bắc Việt độc lập với Soviet, trong đó có Toại cuối cùng đã té ngửa ra, nhưng lúc đó đã không còn kịp nữa. Cái giá cho sự ngây thơ chính trị của ông Toại là những năm tháng tù đày và sau đó phải trốn khỏi Việt Nam.
Ông Toại đau đớn nhận ra rằng, ngay cả dưới chế độ mà bị CS Bắc Việt tuyên truyền là “bù nhìn” (puppet) của Hoa Kỳ thì không hề có bất cứ lãnh tụ nào của Mỹ được giăng trên đường phố, trong nhà. Nhưng, Saigon từ sau 1975 hay miền Bắc trước đó trên đường phố, nhà cửa hình lãnh tụ Soviet, từ Carl Marx, Lenin, Stalin…cho đến Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh…được vẽ vời, treo khắp trên đường phố. Vậy, đâu là chế độ bù nhìn?
Cái hối hận của Đoàn Văn Toại là đã góp tay gây ra thảm họa kinh hoàng từ sau khi Saigon thất thủ, hàng triệu người, không phải chỉ là quân nhân, mà ngay cả đến những người tu hành, trẻ em cũng phải vào tù, chịu sự trả thù của chính quyền mới. Hàng trăm ngàn người đã chết, hàng trăm ngàn gia đình phải chịu cảnh ly tán. Thảm họa ấy, nếu những người thuộc thành phần thứ 3, hay MTDTGPMN không gây ra thì chính họ cũng góp tay vào.
Ông Đoàn Văn Toại cũng đã trở thành người thiên cổ, nỗi đau đơn của ông cũng không còn, nhưng vết xe đổ mà ông để lại liệu có bao nhiêu người trong quốc gia này học được để mà né tránh?

NGÔ THANH TÚ

YÊU MÙA LẬP ĐÔNG

 

bâng khuâng bến vắng lạnh sông
biết mùa yêu đã lập đông mịt mùng
biết người đang gót nghìn trùng 
bước chân thêm nỗi vô cùng lối mưa

vô cùng những buổi chiều xưa
những chiều rót mãi vẫn chưa thấy đầy
bàn tay với ngón tình gầy
châm mù hương đốt khói bầy lạc nhau

lạc hoài cỏ lá cũng đau
buồn thân xác trọ ngày sau nẻo tìm
ngày mây quán trú im lìm
rong rêu con nước trôi chìm trong sương

trôi đời cô lữ tha phương
mang theo cơn mộng vấn vương trăng già
quỳnh như níu giấc đêm ngà
muộn sầu phạm thái vỡ tà dương loang

khối tình chung chết hân hoan
khóc không lệ giọt rơi ngoan vắn dài
khóc thương viễn xứ còn vài
nghìn năm hồ hải miệt mài trời không

bâng khuâng bến vắng lạnh sông
biết mùa yêu
đã lập đông
mịt mùng… .

 

PHẠM HIỀN MÂY

VÌ XƯA LÀ NGỌN CỎ BỒNG

“Câu thơ Hạ đứng u buồn
Vì thơ ấp ủ một hồn núi sông” (thơ Hạ Quốc Huy)

1.
Một chung men ngập hồng đào
Mời huynh
em rót rượu vào càn khôn

Câu thơ Hạ đứng u buồn
Vì thơ ấp ủ một hồn núi sông
Ngả nghiêng là ngọn cỏ bồng
Lông bông là sợi tơ hồng lạc nhau
Rượu nầy huynh trước. Muội sau
Uống cho tê tái,
chôn sầu kiếm cung
Uống cho dậy lại bão bùng
Cho hồi sinh cuộc vẫy vùng
binh đao…

2.
Mời em, sớt nửa chung đào
Liêu xiêu hoa nắng hôn vào mây đêm
Hề chi
rượu cháy gan mềm
Hề chi lệ đá chảy đêm phong trần
Rượu chừ cạn hết phân vân
Cầm tay em khóc một lần. Được không?
Vì xưa
là ngọn cỏ bồng
Thì xem chết tựa lông hồng mà thôi
Vì xưa là ngọn cỏ bồng
Thì xin
chết tựa
lông hồng
mà thôi.

HẠ QUÔC HUY
Viết tại thư trang Quyền Đạo Võ Công.
California USA

LỜI TÌNH VỪA LỖI,

Bài thơ nhỏ ôm nỗi buồn lớn quá
Ta hòn đá cuội lăn theo đường
Có những đời sông về trăm nhánh
Biết cạn nơi nào tới muôn phương !

Em như mây ảo ảnh mơ hồ
Ta là vó ngựa Hồ… dừng chân
Đêm nay ngồi nghe như gió thoảng
Ngại bước chân đêm sẽ giật mình

Em có nghe hoang trong tiếng thở
Gió sẽ về nhè nhẹ ánh trăng
Và đêm ơi ! cửa lòng hãy mở
Có đôi lần núi cách sông ngăn !

Lời đinh vang tiếng thơ nào vừa rớt
Tình thị rồi.. tim ta nhịp ngổn ngang
Vừa thu về là lòng nghe cũng xót
Lỗi vân vi hay lỡ … chạm tay người…

 

Hòa Nguyễn

trưa nắng

 

trưa nắng
gió cào cửa kiếng
tôi nghe ra tiếng thủ thỉ của nhành hoa cúc dưới khung cửa sổ
đừng mang em ra sân vườn
nơi đấy lũ sâu bọ
và lắm loài hoa dại rù quến
chưa kể dăm cây cổ thụ sẽ che mất nắng
em sẽ khô héo
và tàn rụi dưới cơn gió chướng buốt cóng
mùa đông chưa tan
và xuân thì chưa bao giờ đến

quả thật
cả ba năm nay
khi mang chậu cúc về đặt ở hiên thềm
tôi đã quên bẵng sự có mặt của thời tiết
và chậu hoa đã ngự ở đó
bao lâu nay
thời gian đã già nua
và lụ khụ thấy rõ
tôi bỗng ngại
có lúc em sẽ thấy tôi
khụm xuống
như cây thông già
bên sân vườn hàng xóm
nó bị cưa từng khúc
mặt người
nằm trơ nhìn thời cuộc
đổi thay
và nghe quê hương
xốc xếch
từng nhúm đất
khô màu mỡ

cúi nhìn chậu hoa cúc
yên vị ở hiên thềm
bên dưới khung cửa sổ
nơi có thể cào nhẹ thôi
lắm thốn đau
đất nước.

HHiếu

Chuyện đi tìm một nhánh sim rừng!

 

Cách đây vài tháng, tình cờ tôi có đọc một bài báo có tựa “Tác giả của Những đồi hoa sim chết trên những đồi sim “ của Phạm Tín An Ninh ( hiện đang sống tại hải ngoại). Bài báo có đưa lên chi tiết về thân thế, cuộc đời và cái chết của nhạc sĩ Dzũng Chinh, người đã viết nhạc phẩm “Những đồi hoa sim”_ Một trong những nhạc phẩm khá quen thuộc với những người yêu âm nhạc Việt Nam, kể cả trước và sau năm 1975…. Cũng nên lưu ý rằng trước bài viết này, cũng có khá nhiều thông tin từ các nguồn khác nhau, viết về ông. Nhưng có thể, những tin tức mà ông Phạm Tín An Ninh đưa ra, là đầy đủ và rõ ràng nhất, bởi lẽ một phần những thông tin ấy được thu thập từ chính người chị ruột của nhạc sĩ , hiện đang sống tại Hoa Kỳ.

   Nhạc sĩ Dzũng Chinh  tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán tại Bình Cang, thôn Võ Cạnh , thành phố Nha Trang. Ông  sinh ngày 18-12-1941 ( Tân Tỵ) , là sĩ quan quân đội VNCH với cấp bặc chuẩn úy, mất vào ngày 12-01-1969 ( Kỷ Dậu) hưởng dương 29 tuổi. Một tài hoa của nền âm nhạc Việt ra đi quá sớm  và trong lứa tuổi còn sung sức để có những nhạc phẩm khác để lại trong lòng công chúng. Theo bài báo của tác giả Phạm Tín An Ninh, ông mất trong một trận phản phục kích tại chân núi Chà Bang (xã Phước Nam-huyện Thuận Nam- Tỉnh Ninh Thuận) cách trung tâm thành phố Phan Rang khoảng 25 Km , về hướng Đông Nam. Những di sản âm nhạc ông còn để lại nền âm nhạc Việt khá ít ỏi, nhưng hầu như tất cả đều có tính phổ quát, do dễ hát và dễ đi vào lòng người. Tuy thế vẫn có một số bài cũng khá kén chọn ca sĩ để bộc lộ đúng ý niệm của tác giả và người nghe cũng được chọn lựa cho việc thấu cảm. Điển hình một số nhạc phẩm của ông là :

Những đồi hoa sim ( Phỏng thơ Hữu Loan),

Hai màu hoa ( Dzũng Chinh- Bùi Tuấn Anh)

Tha La xóm đạo.

Đêm dài chưa muốn sáng

Lời tạ từ

Hoa trắng tình yêu

 Nhạc phẩm “ Màu tím hoa sim” được xem là nhạc phẩm thành công nhất của ông,  xuất hiện trước công chúng vào những năm 1961, 1962..được phổ tác từ thi tác “ Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan, một người lính Việt minh phục vụ trong đại đoàn 304 ( miền Bắc) trong cuộc kháng chiến chống Pháp,, xuất ý từ câu chuyện có thật của tác giả. Tác giả thổ lộ tình cảm của mình, một người lính tiền phương, đối với người vợ trẻ ở quê vừa mất, thông qua hình ảnh của những dãy đồi tím màu hoa sim. Một loài cây khá mộc mạc, dễ dàng tìm thấy ở bất cứ đâu trên đồng quê Việt và có hoa mang màu tím buồn man mác.

       …Những đồi hoa sim

        Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

       Màu tím hoa sim

      Tím chiều hoang biền biệt

      Có ai ví trong từ chiều, ca dao nào xa xưa

     Áo anh sứt chỉ viền tà

     Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu….”

  Và có thể cũng chính vì vậy, nên nội thân của bài thơ đã là nơi trú ngụ sẵn có của những mãnh lực cảm xúc  vô tận, luôn chực chờ những cơ hội tương tác….khá nhiều nhạc phẩm khác sau này được lấy cảm hứng từ đó , vd như : Áo anh sứt chỉ viền tà của Phạm Duy ,  Chuyện hoa sim của nhạc sĩ Anh Bằng, Màu tím hoa sim của Duy Khánh….Nhạc phẩm “ Những đồi hoa sim” của Nhạc sĩ Dũng Chinh đã ra đời vào thời điểm những năm đầu khói lửa ở miền Nam,  không là một ngoại lệ.  Bài hát đầu tiên được trình bày trước công chúng bởi ca sĩ Phương Dung, được biết đến với biệt danh “ Con nhạn trắng Gò Công” .Và cho mãi đến giờ chắc cũng không ai vượt qua được giọng ca chân, khá cứng và sự truyền cảm của một nội lực bắt nguồn .từ xứ sở của những kênh rạch, những cánh đồng lúa nước bạt ngàn, những vườn cây ăn trái , cội rễ  những câu hò  mộc mạc. Cũng thật là một điều đáng ngạc nghiên khi một bài thơ được khai sinh từ đất Bắc, do một nhạc sĩ miền Trung phổ nhạc và cưỡng chiếm lòng người Việt bằng một ca sĩ với chất giọng và tâm hồn đặc sệt Nam bộ. Âu đó cũng là duyên trời!

  Trở lại với bài viết, tác giả Phạm Tín An Ninh cho rằng nhạc sĩ Dzũng Chinh đã ngã xuống tại chân núi Chà Bang, trong một trận phục kích vào ngày 12 tháng 1 năm 1969. Thông tin này không biết đã được kiểm chứng hay chưa và có thể tin cậy hay không, tôi không thể nói chắc. Vì khoảng thời gian đã qua quá lâu, những biến cố đầy dẫy đã xóa đi những dấu vết của một sự tồn tại và phủ lấp lên đó biết bao nhiêu thứ  dễ đánh lạc hướng và làm xiêu lòng những người mong kiếm tìm. Nhưng nếu đúng như tác giả nói, thì có lẽ tôi cũng khá may mắn khi biết được một địa danh nữa đã gắn bó trong cuộc đời ngắn ngủi của người nhạc sĩ tài hoa…..

    Núi Chà Bang, hay  được gọi là Tà Kang ( theo tiếng Chăm có nghĩa là núi hai nhánh) , nằm cách thành phố Phan Rang khoảng 25 Km về phía Đông Nam. Nhưng thực tế theo quốc lộ số 1, xuôi Nam, 11 cây số, rẽ lối vào làng Chăm Mỹ Nghiệp (nổi tiếng về nghề dệt thủ công), theo đường làng vào sâu khoảng 5 cây số , ta đã thấy dãy Chà Bang hai ngọn đứng sừng sững. Đây là khu dân cư của người Chăm theo đạo Bà la môn( thờ thần Siva) còn được gọi là Chăm Rặt ( Cham Jat hoặc Cham gốc). Thực tế còn hai nhánh Chăm nữa nhưng nhỏ hơn và phân tán rãi rác dọc ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tây Ninh hoặc dưới Sóc Trăng, Châu Đốc…hai nhánh này , một là Chăm Bàn ni và Chăm Islam. Đất thánh của người Chăm Jat là ngôi đền thờ nổi tiếng là tháp Pklong Giarai ( hay còn gọi là Tháp Chàm) nằm cách thủ phủ Phan Rang khoảng năm cây số về phía Tây. Hàng năm vào những mùa lễ hội lớn như Tết Ka té vào ngày đầu tiên của tháng bảy Cham lịch ( vào khoảng tháng 9-10 dương lịch, người Cham Jat ở các nơi cùng một số thành phần thuộc dân tộc Raklay đổ về đất thánh để làm lễ mừng năm mới. Trong một số cuộc tiếp xúc và trái ngược với cái nhìn khách quan của một người bên ngoài, chung một dòng máu chảy trong huyết quản, nhưng những nhánh cây của tàn phả hệ Chăm pa đã chịu sự chia cắt của thời gian, khoảng cách địa lý, xung khắc tôn giáo, ngôn ngữ … để trở nên xa cách và khó lòng với hy vọng hợp nhất.

   Núi Chà Bang  ( Tà Cang) nhìn từ xa là hai ngọn núi trọc ,đỉnh nhọn, sườn dốc, đầy những tảng đá lớn trơ trụi dưới ánh mặt trời. Núi có độ cao khoảng 400 met có lẽ dành cho ngọn cao hơn. Ngồi nói chuyện với một người chăm đứng tuổi, tôi biết thêm , trên núi hiện có một ngôi chùa rất nổi tiếng và hàng tháng, vẫn có những người Chăm hành hương, thăm viếng.  Trãi dài từ ngoại vi làng đến chân núi là khoảng trống cho những bụi cây dại chạy lúp xúp. Không hiểu có phải cây sim rừng hay không, nhưng cũng không thấy màu tím thường thấy của loài hoa này. Đất đai chạy thoai thoải trên một bình độ khá cao so với mặt nước biển, mắt thường nhận thấy được. Cái nóng của ánh mặt trời, sự khô cằn,  không một làn gió dù rất gần biển cho thấy sự khắc nghiệt của khí hậu nơi đây. Màu bụi đỏ ám đầy trên khung cảnh….. Nhà Jakar,( Tiếng Chăm gọi Jạr) nằm ở ngoại vi làng , sát chân núi Tà cang. Cậu là con trai của Inra Sara, một nhà thơ và lý luận phê bình người Chăm, người có công đem những giá trị của một nền văn hóa lâu đời bị chôn vùi, bóp nghẹt bởi sự xâm lăng, đồng hóa và phủ nhận  ra ngoài ánh sáng của văn minh nhân loại, hòa nhập bình đẳng với các nền văn hóa. Cậu đã tốt nghiệp đại học, nhưng hiện nay đã trở về làng, sống trong cộng đồng và mở một cơ sở du lịch quốc tế với một hình thái khá độc đáo, dựa trên hai yếu tố_ Sinh thái và cội rễ. Mục đích đưa con người hòa nhập với thế giới tự nhiên và quảng bá nền văn hóa Chăm pa. Nhà nghỉ thật đơn giản. Một ngôi nhà đơn sơ, giống với các ngôi nhà khác trong cộng đồng, thậm chí còn xập xệ hơn. Không có những tiện nghi hiện đại. Sân vườn đất trống , cây cỏ mọc từng bụi, vài con gà đất kéo nhau chạy, cửa nẻo chỉ bằng rào tre….một cái cộ bò xưa phủ đầy dây leo. Tại đây tôi gặp hai thanh niên người Đức, còn khá trẻ. Họ sống ở một thành phố miền Nam nước Đức, gần Stuttgart. Chàng thanh niên đang học một trường cao đẳng kỹ thuật, khoa cơ khí.

    _ Bạn nghĩ sao về việc đi du lịch với hình thái này?  Tôi có hỏi.

    _ Điều này thực sự hữu ích khi được gần gũi với thiên nhiên, tiếp xúc với người dân địa phương và tiìm hiểu được một nền văn hóa lớn,.

     Thật là một suy nghĩ khác thường và già dặn hơn so với lứa tuổi của cậu ta. Trong khi những người giàu có ở đất nước này đang kỳ vọng một khách sạn 4 sao, 5 sao trong kì nghỉ của họ, những thanh niên này lại tìm một lối đi mới cho chính mình. Thật đáng ngưỡng mộ!         

    Nếu có ai đó thật sự muốn tìm  về Tà Kang một lần cho biết , nên  thử một chuyến du lịch với hình thức này. Những khám phá thú vị về một dân tộc, một danh cảnh….và cũng được biết nơi nằm xuống của một tài hoa.

     

                  Núi Tà cang_ Nơi nằm xuống của nhạc sĩ Dzũng Chinh ( nhìn từ nhà Jarka) _ Ảnh tác giả.

    Sự thật đã là dân Nha trang, ai lại không biết đến Bình Cang. Một số người dân địa phương còn gọi địa danh ấy là cây số 7( do theo quốc lộ 1 từ Nha trang đi về hướng nam, tại cây số 7 là địa phận của làng Võ Cạnh). Dễ tìm hơn, có lẽ nên hỏi nhà thờ Bình Cang. Đây là ngôi nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 17, nhưng cách đây  chục năm nó đã được tu sửa lại. Làng Võ Cạnh còn có một di tích lịch sử khá nổi tiếng Đình Võ Cạnh được xây dựng vào năm 1815, nằm bên cạnh quốc lộ 1A. Nhưng tất cả những địa danh ấy và sự liên quan đến dấu tích của một con người gần như là không. Dẫu vậy , tôi cũng cố gắng lần tìm trong cái hy vọng gần như bằng không ấy.

Chiều đó sâm sẫm mưa….Những cơn mưa  giữa mùa hạ luôn muốn nói đến một sự toại nguyện.

    Hương lộ 46 từ Nha trang lên Bình Cang đã thay đổi. Con đường tráng nhựa và những chiếc xe hơi đã qua lại được. Những mảnh ruộng lúa hai bên đường đã biến mất, giờ dành cho xâm lấn của đô thị. Trên những mảnh đất ruộng vừa san nền đã mọc lên san sát những căn nhà. Đi qua ngã ba có đường rẽ lên Xuân Phong, cánh đây khoảng chục năm, tôi còn gặp cảnh những người đàn bà trẻ đi mót lúa….nhưng nay, mảnh ruộng ấy đã nhường chỗ cho một show room của một công ty buôn bán ô tô. Không khí của đồng quê giờ không còn. Những màu sắc của tự nhiên đã phải nhường chỗ cho những sở thích lố lăng của con người. Dù vậy, vẫn còn sót lại vài mảnh ruộng nhỏ, thật nhỏ…chưa bao giờ nhỏ hơn, đến nổi tôi tự nghĩ hoặc là nó bị bỏ rơi hoặc nó được tạo cho mục đích giải trí….Nhưng đất bây giờ là vàng , làm gì có chuyện bị bỏ rơi. Một mảnh đất như vậy kế bên đường, nơi có dăm người đàn bà đang lúi húi cắt đám rau răm. Một người đàn ông cũng khá luống tuổi cố dồn những bó rau vào cái bao tải nhựa…..

     Sau vài câu chào hỏi làm quen, tôi nói:

    _ Bình Cang giờ thấy đổi khác quá hả anh? Nhà cửa, đường xá tấp nập ghê!

     Người đàn ông có khuôn mặt đen đúa của một người nông dân. Một con mắt bên trái bị dị tật hơi hấp háy, trả lời:

  _ Ờ đất đai bây giờ có giá, nên nhiều nhà cũng khá giả…Đó cậu thấy vạt bên kia toàn nhà mới không?

 _ Dân Nha Trang đổ lên hay dân xứ khác tới vậy anh?

 _ Đủ hết trơn….dưới đó lên cũng có. Dân Bắc, dân miệt ngoài đổ vô cũng có.

_ Vậy bán đất xong họ cũng ở đây hay chuyển đi đâu hả anh?

_ Cũng đủ…. có người đi, có người ở. Nhưng bây giờ dân gốc không còn bao nhiêu!

  Nói thật , câu nói làm tôi khá thất vọng. Gần nữa thế kỷ để đi tìm một cái tên, một gia đình đã khó rồi….huống hồ, lại rơi vào một tình thế như vầy. Ngày trước, ông bà thường nói”_ Tìm người như thể tìm chim”, giờ đi tìm di tích một người với một mẫu thông tin cỏn con trên mặt báo , xem ra khó gấp vạn lần. Mảnh đất này xem ra đã bị xáo trộn. Nhưng còn nước , còn tát ….may ra!

_ Anh năm nay bao nhiêu?

_ Tui năm  nay 63….

_ Hồi trước có đi lính bên này, bên kia không anh?

Người đàn bà từ ruộng rau bước lên, tay vẫn còn cái liềm, chen ngang:

_ Ổng mắt nhắm , mắt mở  mà lính tráng gì…Nhắm thằng này, bắn thằng kia thì sao?

Mấy tiếng cười vang . Người đàn ông ngượng nghịu:

_ Hồi đó bị con mắt nên lính nó tha…..

Biết đã thua, tôi kéo câu chuyện sang chiều hướng khác:

_ Hồi chế độ trước, vùng này an ninh không anh?

_ Cũng không an ninh đâu…Mấy ổng bên Đắc Lộc, Am Chúa ..cũng về lấy thuế hoài!

_ Còn bên Việt Nam cộng hòa?

_ Việt nam công hòa thì bắt lính… Tối tới cảnh sát áo trắng, cảnh sát dã chiến nó tới từng nhà bắt quân dịch….Nhà có con trai trốn lên, trốn xuống cũng khổ chết mẹ!

    Người nông dân Việt!….Bỗng dưng tôi lại không muốn đề cập đến vấn đề đó nữa. Câu chuyện bắt đầu xoay quanh về mảnh ruộng rau răm, việc bỏ cho thương lái một ngàn, một bó….việc mấy đứa con anh đang học ở đâu?….Chia tay anh, anh có dúi mấy bó rau, nhưng nghĩ bữa cơm gia đình có gà vịt gì đâu mà lấy rau răm. Tôi định từ chối, nhưng thấy anh nài nỉ quá, nên cũng nhận hai bó. Cũng thật cảm động. Ấn tượng Bình Cang!

  Cha Nam, một người đàn ông khoảng hơn năm mươi, có khuôn mặt hiền từ, tướng người đãy đà,  nơi cổ có một vết sẹo lớn, màu đỏ thẫm, tiếp tôi trong một trạng thái khá bồn chồn. Có thể vì Cha còn bận buổi lễ chiều sắp đến.

_ Cha về giáo xứ Bình Can lâu chưa ạ?

Bằng một giọng trong trong của dân miền Trung, không phải miệt ngoài, ông trả lời:

_ Tôi cũng mới về đây… chưa tròn 5 năm.

_ Vậy ở đây luôn… hay sẽ thuyên chuyển?

_ Chỉ 5  năm thôi….rồi đi giáo xứ khác.

_ Nhà thờ mới xây dựng lại hay sao đẹp vậy Cha?

_ Ừ mới xây được khoảng chục năm….Cha khác phụ trách nên tôi không biết…

Thấy không còn thời gian, nên tôi vào chuyện luôn:

_ Con muốn tìm một nhạc sĩ. Anh này đi lính cộng hòa,. Mất vào năm sáu chín….

Giọng tôi ngập ngừng dần khi thấy ông có vẻ suy nghĩ. Sau đó ông nói:

_ Năm 69 hả? Lâu quá ….Chắc không ai biết đâu….Tôi cũng không nắm hết giáo dân…Tốt nhất anh nên hỏi mấy người phụ trách giáo dân địa phương. Họ biết rõ hơn.

Nói xong, ông chia tay tôi rồi vội vã đi chuẩn bị cho buổi lễ ban chiều.

  Tôi tựa vào cái ghế đá ngoài sân, nhìn vào thánh đường. Chiều sẫm dần, ngôi thánh đường lên đèn và cái sân rộng phía trước đã  dần xuất hiện những bóng người….

    Tối đó tôi ngồi đi, đọc lại bài viết một cách cẩn thận hơn và nhận ra một chi tiết quan trọng đã bỏ qua. Đó là trước kia ,ông được an táng tại nghĩa trang  Mã Thánh phường Phương sơn và ông cũng không phải người công giáo. Ông là một phật tử. Tôi biết nghĩa trang này. Ngày trước nó nằm trên đường Phương Sài, Nha Trang; sát bên vách núi, phía bên trái của Kim thân phật tổ. Vào khoảng 1987 đến 1990, tất cả những ngôi mộ đều bị di dời và người ta đã xây dựng một ngôi chợ trên nền đất cũ của nó. Đó là chợ Phương Sài ngày nay. Một chi tiết nữa, không kém phần quan trọng ( theo tác giả Phạm tín An Ninh) là di cốt ông hiện đang nằm tại chùa Tỉnh hội phật giáo ( bên cạnh chùa Hải Đức). Trong thâm tâm tôi nghĩ ,nên chuyển sang hướng tìm di mộ.

      Đồi Trại Thủy hiện tại thực sự có đến ba ngôi chùa tọa lạc. Chùa Tỉnh hội phật giáo là ngôi chùa nhỏ, có lối vào là những bậc tam cấp, có thể nhìn thấy từ cây xăng Mã Vòng ngó sang. Chùa Long Sơn là ngôi chùa chính, nơi có Kim thân Phật tổ tọa lạc. Chùa này được trùng tu lại vào khoảng năm 2008-2009. Cổng chùa nằm dọc theo hướng quốc lộ 1. Chùa thứ ba là cũng nhỏ, tên là Linh Phong, nằm ngay hẻm Hải Đức, ngày trước phía dưới có một hãng nước đá, nay đã dọn đâu mất. Chùa khá cao, có những thân cây me cổ thụ….Vậy chùa Hải Đức là chùa nào???

     Một vấn đề nhỏ, tưởng chừng đơn giản nhưng đi sâu vào trong là cả một mớ bòng bong. Nhưng ngẫm ra, tôi có một thuận lợi là vị trí ba ngôi chùa nằm khá gần nhau, khoảng cách xa nhất cũng khoảng 1km và trên một trục đường.

   Nha Trang, một ngày nắng đẹp. Tôi khởi hành vào lúc 8h . Gửi xe tại chùa chính Long Sơn, tôi theo con hẻm dẫn qua chùa Tỉnh hội Phật Giáo cách đó khoảng 200m. Bước lên những bậc tam cấp nhỏ, trơn trượt vì nước sinh hoạt của các hộ dân chung quanh, tôi lên đến ngôi chùa. Tôi đi nhiều, cũng gặp nhiều ngôi chùa, nhưng cũng không ngờ rằng mình phải đối diện với một quang cảnh ảm đạm và buồn bã như vầy. Xét với sự nguy nga và vị thế đầy khuếch trương của chùa Long Sơn bên cạnh, một ý nghĩ  thầm kín xuất hiện trong tôi; có lẽ đây là nơi bị Đức Phật lãng quên…. Những bậc tam cấp lâu không người viếng, bị đất đá vùi lấp và cây cỏ mọc trùm lên cả lối đi. Phía trước có tượng Phật Bà quan âm choàng tấm áo khá cũ đứng bên cạnh cây khế cỗi cằn. Một cây dừa bị đuông ăn cụt ngọn là chỗ tựa cho hàng rào lưới B.40 sét rỉ. Hai cánh cổng sắt được niêm kín với một ổ khóa khá lớn. Bên trong điện là khoảng không gian tối om với ngọn đèn trái ớt lập lòe. Cũng thật đáng buồn cho nơi an nghỉ của một nhân tài nước Việt…

   Ngó quanh một lúc, tôi nhận thấy có cánh cổng nhỏ bên hông nên theo lối đó đi vào. Sau một hồi gọi gọi sư ơi, sư hỡi…một người đàn bà vóc nhỏ bé bên trong, tất tưởi bước ra. Tôi trình bày ý định của tôi là đi tìm di cốt của một người chú đi lính, mất vào năm sáu chín, hiện đang nằm tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Người đàn bà vội vã xua tay:_ Vậy chú đi lộn chùa rồi! Giáo hội phật giáo khánh hòa là chùa Ông Phật trắng bên kia. Chùa này chỉ dành cho sư nữ .  Cũng không giữ kim tĩnh đâu!” . Nghe câu nói của bà, tôi cũng thoáng thấy mừng, lại vừa ngại; vậy phải đi ngược qua bên Long Sơn. Tạm biệt sư cô, tôi trả lại những bước chân mà tôi mới nhọc nhoài leo lên trước đó khoảng mười lăm phút…

     Chùa Long Sơn khá lớn, sạch và đẹp. Du khách khá đông. Việt có, Nga có, Trung hoa có, Tây âu có…nhưng có lẽ đông nhất là người Việt và người Nga với khổ người to, tóc sáng, chất giọng Slave…Tôi không theo lối vào chánh điện, bên trái chùa là khu kim tĩnh_ Một người đàn ông chỉ dẫn. Theo một nhóm người nhỏ, có lẽ là những người thăm người quá cố, tôi leo lên những bậc tam cấp khá sạch và mát mẻ, do tán lá của những hàng cây trên đầu.

_ Ở đây lưu giữ đến hai ngàn rưỡi kim tĩnh lận, anh phải cho tôi biết tên, họ, thân nhân…tôi mới tra cho anh được. Người quản lý có hàm ria đen, giọng nằng nặng ngoài Bắc nói.

_ Ảnh tên Nguyễn Bá Chính, sinh ngày 18/12/1941; mất ngày 12/01/1969; trước chôn tại nghĩa trang Phương Sài, sau đó cải táng lên đây.

_ Vậy tên họ hàng, thân nhân….?

_ Họ hàng, thân nhân…tôi chịu, vì lâu quá gia đình tứ tán hết. Bây giờ chỉ có tôi quay về tìm. Tôi phịa với hắn.

_ Không có tên thân nhân tôi cũng chịu chết. Hay anh ra khu vô danh, không có thân nhân tìm đi…Gã chỉ về một dãy tường đá phía trước…

   Khu E, F, G….rồi  E1, E2 ….Trời ! Cả ngàn hộc kim tĩnh….Mắt tôi cố lướt chầm chậm, cố tìm những chữ đầu họ Nguyễn được khắc trên tấm xi măng phía trước. Nguyễn văn…., Nguyễn trần…., Nguyễn Trung. Nguyễn vô danh…Nữ có….Nam có…Thường dân có…. lính có…..Có dung ảnh những anh lính Việt Nam cộng hòa, đội mũ nồi thiết xa, chết trận năm 1970…có cả anh Việt Cộng, chết năm 1968….nằm sát bên nhau. Người có thân nhân thắp nhang, quà bánh….người trơ lạnh, không nén hương…. Không biết từ lúc nào, tôi trãi lòng mình trên những chân dung người đã khuất hơn là một cuộc kiếm tìm có mục đích. Thời gian chắc khá lâu, mắt tôi vẫn dán trên từng dòng chữ ở những tấm bia như cố hình dung những khuôn hình kia lúc còn sống họ sinh động như thế nào???

   Người quản lý quay lại với vẻ thương hại vì thấy tôi khá nhọc công, tẩn mẩn với công việc của mình. Gã hỏi:

   _ Nãy giờ vẫn chưa tìm ra a anh? Hay thôi, tôi mách với anh này. Anh lên chỗ Kim thân Phật tổ ấy, trên đó  bên trái cũng có một khu kim tĩnh. Anh tìm thử xem….

    Tôi cám ơn hắn và thấy một khối lượng công việc khá lớn khi nhìn lại những dãy hộc mồ mà tôi đã kiếm tìm…Thôi đành vậy, biết sao! Tôi bỏ dỡ việc , kiếm vận may mới theo hướng tay quản lý chỉ.

     Kim thân Phật Tổ, sau khi trùng tu, giờ trông thật khác. Không những thế vẫn còn ngổn ngang một số công trình đang xây dở dang. Nghe bảo một số nhà đầu tư lớn có dự định mở ngay cả một trung tâm giải trí  văn hóa lớn trên này….nhưng chỉ là tin phong phanh. Không lên đây ngót hai mươi năm, dù sát bên nách, giờ tận mắt nhìn lại, mới thấy sự khởi sắc thấy rõ của Phật giáo trong thời gian gần đây. Dù cơ bản xương sống của các kiến trúc cũ vẫn còn, nhưng những công trình phụ trợ, việc tu sửa, tô điểm màu sắc làm nó trở nên sáng láng, sinh động hơn , đầy sự quảng bá….đẩy lùi sự trầm tư, tĩnh lặng của tu hành vào những vị trí thứ yếu. Nhưng mặc vậy tiếng chuông, tiếng mõ chầm chậm trong không gian cũng kéo tâm hồn du khách ra khỏi cái nhọc nhoài của cuộc sống hiện đại hàng ngày. Nhịp sinh học con người trở nên chậm hơn.

        Pho tượng ông Phật khổng lồ ngồi giữa đài sen vẫn còn đó dưới bầu trời xanh khoáng đãng, ung dung vài cụm mây trắng, trầm lặng nhìn thế sự và sự đổi thay. Một sự quan sát tinh tế đi vào ngóc ngách cuộc sống của muôn vật, muôn loài nhưng lại vô ưu, vô ngã theo giáo lý nhà phật. Bên dưới là dung tượng bán thân của các vị bồ tát đã xả thân trong sự kiện “Phật giáo phẫn nộ” vào năm 1963, dưới chính quyền ông Ngô Đình Diệm, nhằm phản đối chính sách đàn áp Phật tử. Dưới nữa….Trí nhớ tôi quay trở lại khá chậm….Tôi nhớ mang máng là những hộc kim tĩnh của các gia đình Phật tử….nhưng giờ đây nó đã dời đi mất. Thay thế vào đó là phần đế lát bằng đá hoa cương , được nâng cao , đầy góc cạnh .Hai con rồng chầu ngậm ngọc, lúc trước có sơn màu trắng, nhưng nay được tô vẽ bằng những màu sắc khá tương thích và hòa hợp với bối cảnh. Cảnh quan sạch sẽ và nhiều công trình phụ trợ mọc lên xung quanh, so với lúc tôi lên đây, cách hai mươi năm. Lúc ấy khá vắng vẻ , đầy cây bụi rậm rạp….

      Một đám du khách đứng tuổi người Nga đi qua, với vẻ nặng nề. Tỏ ra hiếu khách, tôi hỏi bằng tiếng Anh.

   _ Russian???

  _ Da…( Vâng)   Một người trong đoàn đáp.

 _ What city do you live in?

…..

 Vài cái lắc đầu. Những đôi mắt màu xanh dương, thăm thẳm bỏ tôi hướng về pho tượng đức Phật với sự vô vọng….Không biết tiếng Anh! Chịu…

   Rồi tôi cũng tìm được khu kim tĩnh mới. Nó khá gần, ngay bên tay trái của Kim thân Phật Tổ.  Kiểu bố trí cũng gần giống với khu kim tĩnh phía dưới với những bức tường đá xanh hai mặt,  xây hình vòng cung, cao cỡ đầu người, được đánh số thứ tự. Quy mô có vẻ nhỏ hơn và cũng thấy ít người đi viếng. Khách tham quan họ chỉ đi bên ngoài….Tôi lại bắt đầu công việc của mình, lần này khoa học hơn….Bắt đầu từ khu A…

     Di mộ của nhạc sĩ Nguyễn Bá Chính nằm tại dãy B1, cách lối đi vào khoảng vài mét. Không có vẻ gì đặc biệt so với những di mộ khác. Ngoài dung ảnh bán thân của nhạc sĩ lúc còn trẻ, trong bộ đồ dân sự, phía dưới có hàng chữ:

HL: Nguyễn Bá Chính

Tức : Dũng Chinh

Pháp danh: Tâm Pháp

Sinh: 18-12-1941 ( Tân Tỵ)

Chánh quán: Võ Cạnh- Vĩnh Trung- Khánh Hòa

Tạ Thế: 12-01- Kỷ Dậu (1969)

Anh: Đại Hiền lập mộ.

  Ngẫm nghĩ cũng thật may mắn và cũng không ngờ kim tĩnh nhạc sĩ lại nằm ở một vị trí dễ tìm như vậy.  Thú thật tâm trạng tôi lúc ấy, không vui cũng không buồn, chỉ thấy thanh thản và nhẹ nhàng. Tôi có tìm quanh nhưng không thấy bó nhang nào bên cạnh  để thắp cho hương hồn ông. Trong tình huống đó, tôi  chỉ biết đứng nhìn, chăm chăm vào dung ảnh người quá cố . Tôi đứng khá lâu ….và một thoáng , trong tai tôi , chợt vẳng lại nhạc phẩm “ Những đồi hoa sim” với chất giọng của ca sĩ Phương Dung “…Dù một lần đơn sơ. Để không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ, hậu phương tuổi xuân thì…”

…..

   Chào  người nhạc sĩ tài hoa nhưng vắn mệnh của dòng nhạc Việt một thời. Tôi bước theo dòng người du lịch xuống núi, tâm trí còn mơ hồ một màu tím man mác, lẫn khuất đâu đó trong đám cây bụi…

  Nếu ai trong số các bạn đọc bài viết này, ở Nha Trang hoặc có dịp du lịch ghé qua chùa Long sơn ( Chùa Ông Phật trắng).  Xin đừng quên viếng thăm di mộ của ông, thắp giúp tôi nén hương mà hôm trước tôi vội đi, không mang theo….Để một trưa hay một đêm hè,  giữa xóm lao động nghèo hay vùng quê có con gió hoang hoải chạy dọc cánh đồng, ta bất chợt nghe một giọng hát thấm đẫm một tâm hồn Việt, về  câu chuyện tình trong thời khói lửa không có nơi đâu, ngoài mảnh đất Việt…”_ Những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim, tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa, nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai. Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến, ai hẹn được ngày về. “…..

……

    Để ta biết ,trong ta còn ngập đầy thương yêu……

   Chùa Long Sơn_ Tượng Kim thân Phật tổ ngày nay ( Phía bên trái tượng là khu kim tĩnh)_ Ảnh tác giả

       Kim tĩnh nhạc sĩ Dũng Chinh (Tác giả nhạc phẩm Những đồi hoa sim nằm tại khu B1)_ Ảnh tác giả

 

Ghi chú:  Di mộ nhạc sĩ Dũng Chinh ( tên thật Nguyễn Bá Chính) , hiện đang nằm tại lô B1, khu kim tĩnh trên tượng Kim Thân Phật Tổ ( Phía tay trái), chùa Long Sơn, TP. Nha Trang. ( Tác Giả)

     

                                                                                                        Nha Trang, 5/10/2017

                                                                                                                     Vũ Khuê

Bên Đồi Chư Pao

 

Súng dội trời trai thôi cũng nản
Chiến chinh không thấy một ngày mai
Những bông hoa dại buồn trong gió
Như khóc than thời chôn xác trai

Chư Pao ngỡ chết trong lòng địch
Vẫn có ngày vui dù mong manh
Những chiến binh ngồi nghe đạn réo
Pháo gầm bom nổ rát trời xanh

Chư Pao một dãy mồ chôn xác
Những chiến binh dầu đêm cuối thu
Ai muốn qua vùng Tân Phú ngắm
Những hầm than máu chảy về đâu?

Chư Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi chiếc khăn sô một tấc đường
Những mồ hôi đổ tan thành đá
Tan nát lòng ta khách viễn phương

LÂM HẢO DŨNG

Nắng Giữa Mùa Đông

 

Ôi nắng mùa Đông, dễ mấy ngày?
Trời buồn, buồn lắm, chứa đầy mây…
Mấy hôm nay nắng như mùa Hạ
Chiều gió bấc còn đuổi nắng đi…

Chiều gió bấc về…sao lại bấc?
Nghĩa là phương Bắc, tự Tàu sang?
Ghét Tàu đến nỗi chiều nghe gió
Cứ nghĩ mình như chiếc lá vàng!

Nắng, chút nắng thôi, lòng lại ấm
Nhớ bà Trưng, Triệu, nhớ mênh mông…
Vì ai mà những người con gái
Chinh chiến quên đi phận má hồng?

Vì đâu mà đám tàn binh đó…
Có cả mình lê lết lết lê?
Một tiếng xung phong vừa rạp cỏ
Vùng lên…chưa thỏa, phải lui về…

Tháng Tư?  Tháng Bốn?  Tháng lui quân
Tháng tả tơi ơi lính cỡi trần
Ngựa bỏ cương đành thong thả ngựa
Súng cầm bẻ gãy…lính thong dong!

Tay thẳng đưa lên, quỳ gối xuống!
Nửa đêm mắt đổ lửa bình minh…
Hỡi ơi chí lớn trong thiên hạ
Xếp cánh chim không thấy được cành!

Nắng mấy hôm nay nắng ngỡ ngàng
Đang mùa băng tuyết nắng lang thang…
Tưởng lòng ấm lại, làm sao ấm?
Đời tạ tàn, hay…nắng sắp tàn?

 Trần Trung Tá 

Câu Chuyện Buồn Ngày Tạ Ơn – ThanksGiving Day…

Năm rồi, tôi mất hai người bạn. Không phải họ chết thành ma chôn trong nghĩa địa hay thiêu ra tro gửi cho gió ngàn bay. Những người này còn sống, nhưng đối với tôi cũng như gia đình họ, xem như họ đã đi qua một thế giới khác! Năm nay, trong bữa ăn sum họp cuối tháng 11 tại Hoa Kỳ, những người chồng, người cha này không có mặt, vì vậy tôi muốn dành câu chuyện này cho những ngày cận kề của lễ Tạ Ơn.

Phải nói đây là hai người bạn khá thân của tôi, đều sang Mỹ khoảng năm 1990 hay trễ hơn, qua một thời gian tù đày dưới chế độ Cộng Sản khá lâu, thời gian đủ để bù đắp cho họ một cái visa để họ và cả gia đình vào định cư tại Mỹ. Đến Mỹ, một người định cư ở miền cực Đông, chiều chiều có thể hóng gió từ Đại Tây Dương, người kia ở miền cực Tây, buổi sáng cuối tuần, thường rửa chân trên biển Thái Bình, nên chúng ta tạm gọi họ, người này là người bạn miền Đông và người kia là người bạn miền Tây.

Sang đến đây, anh bạn miền Đông tâm sự: “Không có nước Mỹ, thì giờ này con trai tôi đang ôm bình cà-rem ở chợ Cồn, làm sao mà trở thành kỹ sư như hôm nay!” Người bạn miền Tây thường nói nghĩ đến những ngày đạp xe đi giao mối cà phê giữa Sài Gòn nắng gắt, bữa đói bữa no, giờ hạnh phúc được nước Mỹ giang vòng tay đưa cả gia đình anh đến Mỹ. Sang Mỹ trong vòng hơn mười năm, anh nào cũng khá giả, có một ngôi nhà tươm tất, và mới chục năm trở lại đây, về hưu, ai cũng có đồng lương cao. Tôi không nghĩ là vì hưu cao, người ta có thể sống ung dung, dư dả ở ngoài nước Mỹ, nhưng đó có thể là một lý do tài chánh đã ảnh hưởng đến quyết định trở về Việt Nam của họ. Nếu họ còn độc thân, trơ trọi, mà còn cha mẹ già nơi đất quê hương, sự trở về của họ chắc cũng có lý do thông cảm.

Người bạn miền Đông của tôi, sau khi đi tù về, người vợ đã ra đi, bỏ lại bầy con dại, mà đứa nhỏ nhất mới lên ba tuổi. Trong những ngày ấy, một người đàn bà khác đã nhận kê vai gánh vác cuộc đời vô vọng rách nát của anh. Sang đến Mỹ, anh thành công trong thương mãi, về chiều, có một số lương hưu lớn, có thể sống dư dả đến cuối cuộc đời.

Anh bạn miền Tây của tôi, chân ướt chân ráo đến Mỹ, bắt đầu với một cuộc đời khá vất vả, nhưng may mắn sau đó, làm công nhân trong một hãng lớn, tiếng tăm của nước Mỹ. Các con của anh, ngày nay đều là những người thành đạt.
Đến tuổi về hưu, gia đình họ đều đổ vỡ sau những chuyến đi Việt Nam.

Nơi quê hương ngày trước, người bạn miền Đông gặp một người đàn bà tuy không phải thuộc loại nhan sắc, hay còn tuổi xuân sắc, nhưng chắc chắn là đẹp hơn, trẻ hơn vợ nhà, và lời lẽ hẳn là ngọt bùi, khêu gợi lại những thứ tình yêu thời trẻ dại. Sau một thời gian đắn đo, suy nghĩ, anh xẻ đôi căn nhà hạnh phúc ngày trước, quyết định làm lại cuộc đời bằng cách trở lại quê hương, sống với người đàn bà kia.

Bây giờ bạn bè cũ ở Việt Nam, sáng sáng gặp anh nhúm lửa, pha vợt cà phê đầu ngày, dọn bàn ghế cho khách ngồi theo nghề của nàng, và mỗi ngày, như lời tỏ bày chân thật, cần đến một viên viagra.

Người bạn miền Tây, đến tuổi “tri thiên mệnh” mới gặp người tri kỷ, mới ngộ ra được, thế nào là tình yêu. Để bù vào số tuổi, anh có số tiền. Họ là những người trong giới yêu thích văn nghệ, và người anh gặp hẳn là một nàng Thơ ngày xửa ngày xưa, thế là anh ra đi không trở lại. Tình yêu đâu phải dễ kiếm, thì ra lâu nay, cái thứ anh tưởng là tình yêu, chỉ là một thứ tình nào đó, mãi cuối cuộc đời anh mới được gặp mặt cái gọi là Tình Yêu (viết hoa) đích thực!

Thì ra lâu nay những người bạn của tôi không tìm thấy hạnh phúc. Người ta định nghĩa “hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí!” Những người bạn tôi đang sống ở một đất nước mà loài người cơ cực, ai cũng mong tìm đến. Những người bạn tôi đang có một mái ấm gia đình, đời sống cao hơn no đủ là dư dả, vợ không ngoại tình, con không hư hỏng& nhưng như vậy, chưa đủ cho tiêu chuẩn của một thứ gọi là hạnh phúc.

Trong một chừng mực nào đó, có lẽ hai người bạn của tôi tâm đắc với câu nói của George Sand: “Chỉ có một thứ hạnh phúc trên đời, là yêu và được yêu!” Và như vậy, lâu nay họ chẳng hề yêu ai và chưa bao giờ được yêu! Phải chăng thực sự, bạn tôi yêu sắc dục, và được yêu lại vì có tiền. Tôi cũng không ngờ rằng, đến lúc xế chiều, mà ngọn lửa tình yêu của hai người bạn tôi, bùng phát mạnh mẽ đến như vậy!

Lý Ngư trong Nhục Bồ Đoàn, một tác phẩm cổ bên Tàu về sắc dục, đã viết: “Theo lời các nhà nho xưa, thì cái vật dưới eo phụ nữ chính là cánh cửa sinh ra ta, mà cũng là cánh cửa chôn ta!”.

Hai người bạn tôi không thể đem một người đàn bà khác không là vợ mình từ Việt Nam sang định cư tại Mỹ, trước sự chê trách của dư luận và sự quay mặt của gia đình, vậy tốt hơn là trở lại Việt Nam.

Tôi hy vọng rằng, một ngày kia, dù thế nào, hai người bạn tôi cũng không trở lại Mỹ, với một tấm thân tàn tạ để kiếm một chỗ trong bệnh viện hay đủ thuốc men dùng cho một giai đoạn hấp hối.

Đã hai năm, rồi tôi nghĩ đến ngày Lễ Tạ Ơn hôm nay trên đất Mỹ, có hai gia đình quạnh quẽ, buồn phiền và chắc bạn bè, thân thuộc cũng không ai nỡ nhắc lại tên của người bạn tôi đang ở xa. Tôi biết họ cũng như tôi, đã có những ngày tù đày nơi rừng thiêng nước độc, đã có một người vợ khốn khổ, tảo tần xuôi ngược, đã có những đứa con bất hạnh bơ vơ. Chúng ta tin tưởng gì ở một người lính thất trận, một người đã ngồi trong nhà tù tập trung, đã được thoát ra, còn bất cố liêm sỉ trở lại chốn xưa, vì một thứ gì đó dưới cái eo của đàn bà. Hai người bạn tôi đã quên rất nhiều thứ, trong đó có giá trị của gia đình, đạo lý và những điều ân nghĩa.

Tôi còn nhớ câu nói của MC Nguyễn Ngọc Ngạn: “…Một phần nữa vì người MC lâu đời của Thúy Nga là một cựu tù nhân chính trị, đã viết nhiều sách phê phán chế độ trong nước.” Tôi không đánh giá cao phẩm chất tất cả những người gọi là “cựu tù nhân chính trị!” Hai người bạn tôi, một người ở miền Tây, một người ở miền Đông, sau thời gian đến Mỹ, ai cũng có viết báo, in sách và đã không tiếc lời lên án chế độ Cộng Sản Việt Nam!

 Huy Phương.

 

LỊCH SỬ NGÀY LỄ TẠ ƠN

 

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi và khí trời càng trở lạnh cũng là lúc cả đất nước Hoa Kỳ đang chuẩn bị bước vào những ngày lễ trọng đại và thiêng liêng. Một trong những ngày lễ quan trọng đó là Lễ Tạ Ơn .Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Vào ngày 6 tháng 9, 1620, có 102 người, vừa đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng một số vật dụng bước lên con tàu Mayflower rời Anh Quốc, vượt đại dương để tiến về Tân-thế-giới. Họ ra đi và mang trong lòng một nỗi khao khát: tìm tự do tôn giáo (seeking religious freedom). Họ được gọi bằng tên mới “Những người hành hương” (Pilgrims). Một vài nhà sử học coi đây là Lễ Tạ Ơn đầu tiên mặc dầu không có tiệc tùng, ăn uống, vui chơi…

Mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ.
Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của “First Thanksgiving” nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự “party” và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận  nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên “Godey’s Lady’s Book”. Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại.

Kính chúc mọi người, mọi nhà một kỳ Lễ Tạ Ơn tràn đầy ý nghĩa!

(Nguồn NHU LIỆU THÁNH KINH)