ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Tiếng nhạc của ta khác tiếng chuông. Đôi lúc ta ganh tị, ta gõ từng nốt nhạc một, từng nối nhạc một cách xa cỡ quãng tám, từng nốt nhạc một rơi nhưng không rớt xuống, lưng lửng rồi ngân ngân trong không gian.
Cu Sô rất khoái nghe tiếng chuông. Bất kề tiếng chuông nào, tiếng chuông từ giáo đường hay từ chùa chiền. Tiếng chuông đêm giao thừa đi vào giấc mơ của nó. Nó thấy mình như thiên thần đang được tiếng chuông đưa bồng bềnh trên đám mây trắng, mây bồng bềnh khắp nơi, nó khám phá được khắp nơi đẹp như trong trí tưởng tượng. Tiếng chuông lay động con người, nghe tiếng chuông như được phá tan sự u ám, lòng nhẹ nhàng thanh thản. Tiếng chuông theo vào giấc ngủ có lẽ do nó chú tâm lắng nghe, không bỏ xót tiếng nào. Đã lâu lắm rồi nó không được nghe. Nó hay tưởng nhớ lại từ xa trong rừng, rừng vọng, những tảng đá lớn, đá vọng văng vẳng tiếng chuông, rõ hơn là ở cánh đồng, đồng vọng thánh thót… Nó chẳng hiều tại sao người ta cấm tiếng chuông hay như vậy. Chỉ có đêm giao thừa thì có lẽ người ta cố lờ đi để cũng phải ăn tết, sẽ xử lý về sau.

Một lần cu Sô đã thấy màu trừng phạt, trừng phạt tới rợn người đối với đôi mắt nhỏ bé và còn đầy màu ngơ ngác của nó. Một anh du kích khoát súng gằn giọng hỏi một sư thầy:
“Ông đi đâu mà ăn bận kiểu gì kỳ cục quá hả?”
Sư thầy khất sĩ mặc tam Y và ôm bình bát đáp nhỏ nhẹ:
“Thưa, đi khất thực.”
Anh ta thúc họng súng vào lưng sư thầy, nạt nộ:
“Đi ăn mày nói mẹ đi ăn mày bày đặt khất với thực. Ông có biết việc này bị cấm không? không tu không hành gì cả, về nhà ngay.”
Sư thầy thản nhiên không đáp, tiếp bước đi đúng giới luật. Ngày hôm sau sư thầy đi ngang xóm dưới, anh du kích lại gặp, lần này thì không còn nói gì nữa, sư thầy bị gói gô đưa về trụ sở ủy ban, rồi cùng hai người cũng du kích tìm đâu đó được một mớ cứt gà sáp mà trét kín đầy mũi sư thầy. Sư thầy vẫn với gương mặt bình thản không nói lời nào, nhưng dĩ nhiên thở khó nhọc hơn bởi phải thở bằng miệng. Sự việc lặp đi lặp lại mấy lần chứ không phải một ngày một bữa, cuối cùng có lẽ cũng nhợn tay và ớn óc với mùi khiếp đảm, anh du kích giả ngó lơ không thấy mỗi khi giáp mặt sư thầy.
Tiếng chuông giao thừa vẫn đổ. Có như thế nào cũng không thể mãi mãi làm im bặt tiếng chuông.
“Mày chết xuống địa ngục, làm quỷ làm ma, không được đầu thai kiếp khác.” Nó nghe người ta chửi nhau câu này. Nó hỏi cha: “Là sao hở cha?”
Cha Cu Sô giải đáp:
“Ừ, đó là kiếp luân hồi, là tái sinh, con người chết đi là hóa thân đầu thai kiếp sau, người tốt kiếp sau sẽ là người tốt, người xấu sẽ đầu thai kiếp con vật, người quá xấu sẽ không được đầu thai mà bị đày đi trừng trị hay biến thành ma quỷ. Người thiệt tốt sẽ hóa thành thiên thần…”
Vậy là nó hiều, cần phải là người tốt, cần phải tu tâm dưỡng tánh, học hỏi ở những nơi có tiếng chuông ngân.

Đêm trăng, trăng rằm sáng vằng vặt là đêm đối xứng với đêm tối trời.
Đám con nít rủ nhau chạy ra lộ vui chơi thỏa thê ở những đêm trăng. Trên đường làng chạy ngang ngôi nhà tường hai mái ngói, nhà lớn hiếm hoi nơi đây, cái sân xi măng cũng lớn. Người ta trưng dụng một nửa căn nhà trên và cái sân, chừa lại nửa căn nhà sau và cái bếp cho gia chủ. Nửa căn trên, giữa hai cây cột gỗ tròn trơn láng, hai cây cột chính là cái tủ thờ trạm trổ hoa văn tinh xảo và cẩn xà cừ điệu nghệ, cùng với bộ tràng kỷ cũng chạm khắc tinh xảo hoa văn với cẩn xà cừ phía trước, bộ tràng kỷ để tiếp khách quý, trên đó đặt bộ ấm tách trà, bình tích bằng gốm tráng men xanh ngọc có vẽ hình dáng rồng bay phượng múa, duy chỉ có cái vỏ bình tích làm bằng vỏ trái dừa khô là nhìn dân dã bên cạnh cái vỏ bình đan bằng những sợi cói nhuộm nhiều màu, bên góc phải là bộ phản dày lên nước bóng như gương, chân con ngựa kê phản cũng chạm khắc cầu kỳ, bên góc trái là cái tủ búp phê chưng nhiều đồ sưu tầm, phía trên tường treo cái đồng hồ hộp gỗ cũ kỹ nhưng với nó đẹp lạ lùng, có con chim gật gù cú cu cúc cu báo mỗi giờ tiếng lảnh lót lảnh lót, đó là những thứ phải dọn đi cho trống. Từ ngày dọn trống trơn không biết gia chủ đem đi đâu, hay chất chồng vào nửa căn dưới.
Có lần nó nghe ông chủ nhà ca thán với cha mình:
“Không biết để đâu bây giờ, để hư thì tiếc đứt ruột, mà bán thì quá rẻ cũng quá tiếc. Nội tiền xe chở đi thành phố, thị xã cũng đủ nuốt hết trơn. Xe cộ kiếm hông ra.”
Cha nó chỉ biết lắc đầu:
“May mà chưa bị tịch thu. Rất nhiều người giàu có các nơi đã bị như vậy.”
Ông chủ nhà lắc đầu theo:
“Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.”
Nửa căn nhà trên bị trưng dụng làm kho, một bên chất lúa, chất bắp, một bên chất phân bón. Cái sân phơi nông sản và hội họp.
Cu Sô thấy hội họp nên không chạy theo ra lộ nữa, dừng ở căn nhà. Trong hàng hiên căn nhà kê bộ bàn ghế dài như bàn học sinh, bàn bốn năm đứa ngồi. Một ông cán bộ văn hóa thao thao rao giảng ngồi ở giữa. Một bên là một ông cầm viết hí hoáy không ngừng. Bên còn lại là một ông ngồi chống cằm, ánh mắt nhìn lên bầu trời xa xăm, lâu lâu bứt bứt mấy cọng râu, chẳng thấy ông làm gì, có lẽ ông là người làm chứng buổi rao giảng. Người đi dự họp, thực ra là đi nghe giảng ngồi bệt dưới sân. Một số người ở hàng đầu còn ngồi ngay thẳng, lui càng về sau càng siêu quẹo, nhiều người ngả tựa vào nhau, những hàng cuối có người nằm sài lai, gối đầu lên chân người kề bên, có người thiu thiu, có người ngáy khò. Màu của mệt mỏi và buồn ngủ tràn ngập. Nó không theo kịp sự thao thao bất tuyệt, chỉ lưu giữ một chút màu rao giảng: “Con người chỉ sống một lần. Chết là hết là về với tro bụi. Con người có số kiếp là dị đoan, là mê tín. Chủ thuyết duy tâm là sai trái. Chủ thuyết duy vật mới là kim chỉ nam mới cần áp dụng cho xã hội mới, tư tưởng mới, còn gọi là chủ thuyết vô thần…”.
Cu Sô không rõ chủ thuyết là gì, duy vật duy tâm là sao. Nhưng cũng nôm ra vài ba chữ, vô thần là không thần thánh, mê tín dị đoan là cuồng vọng, kiếp luân hồi vô nghĩa. Có điều lạ là không thấy chứng minh, chỉ thấy áp đặt. Hỏi ngược lại à? chứng minh có kiếp luân hồi? Chí ít ra nó cũng ngả lòng tin có ma quỷ hơn là không. Rồi sự đúc kết của dân gian hàng ngàn năm qua chứ không phải ngày một ngày hai, để người ta còn tin vào tiếng chuông, những hiện tượng lạ chưa lý giải. Điều quan trọng hơn là làm cho con người nhìn lại mình, giảm bớt điều xấu. Có mấy ai chưa bao giờ làm điều gì xấu? dám vỗ ngực đã đủ dũng khí ngăn cản bản thân mình để chưa bao giờ làm điều xấu dù có khi vào thế bi cùng, dù điều xấu nhỏ nhoi? Nó vẫn sân si giành dựt ngay cả trong gia đình dù không muốn chứ chưa nói tới bạn bè, người xa lạ. Một bữa giữa đêm mờ tối, giữa không gian thinh lặng vắng bóng người, nó biết chắc vậy, giữa đám rẫy bắp trái to tròn, đói, đói lả người nó muốn nhào ngay vào bẻ, vào ăn cắp để về nhai ngấu nghiến, thỏa cơn đói, biết chắc sẽ không ai phát hiện được nhưng nó chùn bước nghĩ về sự trừng phạt về sau, màu của sự trừng phạt và màu đói chiến đấu với nhau kịch liệt, cuối cùng màu trừng phạt thắng cuộc. Nó không tự hào, nó chỉ mừng mình không phạm phải điều tồi tệ nhờ có lòng tin. Nơi những tiếng chuông cho người ta lòng tin. Và cho cả sự tha thứ nếu sám hối khi lỡ vướng vào điều tồi tệ. Và nơi này giảng giải, hướng con người ta, nếu nhận ra thì họ tới chứ đâu có áp đặt, đâu có ràng buộc, ai muốn nghe chuông chùa thì nghe, ai muốn nghe chuông giáo đường thì nghe, còn những tiếng chuông khác nữa. Kể cả những người không nghe tiếng chuông nào vẫn không sao, vẫn là bạn bè, bằng hữu của nhau mà! Cu Sô ghi một màu mâu thuẫn rất lớn. Tư tưởng là của riêng mình, một đời sống thôi là của riêng mình, không để ai áp đặt như kiểu tình yêu tự do nhưng lại cấm đoán đức tin(?!).

Làng Bưng, đầu làng cu Sô có một con đường vào làng Bưng, làng Bưng ở cuối cánh đồng rộng là vùng trũng mọc những cây Trâm nước ngày xưa. Trâm nước nay còn một vài cây và một vài gốc lớn nằm trên một vài ụ đất như một dấu tích, một chứng nhân địa lý. Vào làng Bưng chỉ có những con đường xe bò, mùa nắng đầy gió bụi, mùa mưa thì sình lầy khó đi và hơi xa nên làng gần như tách biệt. Ngược lại dưới này rất trù phú, không khí mát mẻ gần như quanh năm, cây trái xum xuê xanh tốt, nhứt là những hàng dừa cao ngất nhà nào cũng có cả dãy cả vườn.
Một bữa, đầu đường vào làng Bưng bỗng chộn rộn. Một chiếc xe khách Hải Âu (xe khoảng 40 chỗ của Liên Xô, xe này thường để chở chuyên gia Liên Xô hay của nhà khách tỉnh, chở các đoàn tham quan công tác…), một chiếc xe Toyota 1500 màu trắng bốn chỗ ngồi, một chiếc U oát, lại xe UAZ – 469 của Liên Xô sản xuất, người ta gọi oát thay cho Watt, phát âm là Quát nhưng nhẹ hơn chứ không nặng như quát mắng, tỷ như ký lô oát chứ không là ký lô Watt, Oa (Qua) xin tơn từ Woshington … cùng hai chiếc xe lam (Lambro 550) dừng lại đậu tại đây. Một chập sau một đoàn người khá dài ăn mặc chỉnh tề từ bên trong đi ra. Không chỉ con nít mà cả người lớn cũng ra bên đường, bên cổng nhà nhìn xem. Một người nói:
“Đám hỏi, người ta bưng quả đi đám hỏi.”
Con nít xì xào:
“Đẹp quá chừng, đẹp quá xá, vui quá hen…”
Một người biết chuyện lên tiếng:
“À, đám hỏi của chú đó là công an huyện, là đội trưởng điều tra, nghe đâu sắp lên phó công an lận đó. Hỏi con gái ở xã kề mình.”
Mấy cô gái mới lớn cười hí hí:
“Hèn chi mần lớn dữ. Cả đoàn xe luôn. Ước chi làng mình cũng được vậy…”
Mấy chiếc xe nổ máy chạy đi. Một người nói nho nhỏ:
“Ờ hen, hèn gì mấy bữa nay tui nghe râm ran, to nhỏ, mấy ông nhà mình canh những ngày này đem lậu gỗ về. Người ta phải lo cho đám của ông lớn mà.”
Nhiều cái gật đầu nhè nhẹ đồng tình. Rồi tản ra ai về nhà nấy.

Đi làm rừng ngày càng khó khăn, ngày càng phải vào rừng sâu, bởi bị cấm. Kiểm lâm truy lùng bắt bớ gắt gao, bị bắt không chỉ bị tịch thu đồ nghề, lâm sản mà có khi còn bị đi tù, học tập cải tạo, lao động. Nhưng nhiều người vẫn phải làm, không làm thì chẳng biết làm gì nữa, lấy cái gì mà sống. Đưa gỗ về làng đêm khuya đêm hôm, có vài ba người về trước dò xét như trinh thám. Gỗ không đưa thẳng về mà tập kết ở Bàu Dài, ở bìa rừng cách làng một cánh rẫy, ngâm gỗ dưới bàu. Vài tháng sau ra chở về, có gặp kiểm lâm thì giải thích gỗ đã làm ngâm từ lâu, gỗ đã thấm bùn thâm đen. Về sau cũng bị tịch thu khi kiểm lâm bắt gặp, gỗ khai thác hồi trước đâu mà có đều đều. Dân làm rừng lại nghĩ cách, bó những cây tre hay le quanh khúc gỗ rồi ngâm, tre le không bị cấm khai thác. Qua được một số chuyến thì “tai vách mạch rừng”, bị khui bị bắt tiếp.
Đưa gỗ bằng xe bò về dễ bị phát hiện, khó trốn tránh. Vận chuyển người ta nghĩ ra chiếc xe đạp thồ. Chiếc xe đạp sườn ngang hàn thêm mấy cây sắt gân hay cặp những khúc gỗ cứng. Bỏ cái yên trên, cái yên sau hàn cứng ngang bằng cái sườn. Bánh xe thì căm của xe ba gác, vỏ bốn lớp bố bơm cứng ngắt, ấn tay không nhúc nhích. Khúc gỗ gát từ tay lái dài ra yên sau. Kẹp cột mấy cây bên hông giữ chặc lại. Cột thêm vào tay lái một khúc cây hoặc khúc gỗ cho dài thêm để cầm lái, đứng bên hông xe tay vịn gỗ mà đẩy đi. Nếu có người thì thêm một người phụ vịn và đẩy phía sau. Chở kiểu này nguy hiểm hơn, nhiều tai nạn thương tâm xảy đến.

Lưng lửng nửa tháng sau, cũng ngay tại chỗ đầu đường vào làng Bưng, bà con cũng chộn rộn chạy ra coi ngó. Nhưng lần này không phải những chiếc hôm bữa mà là một chiếc xe cứu thương và một chiếc U oát. Trên xe U oát bốn người mặc sắc phục công an xuống xe cũng là lúc xe cứu thương mở cửa sau. Một cỗ quan tài được đưa ra, người nằm trong quan tài chính là anh công an vừa làm đám hỏi. Bốn người cùng hai người trên xe cứu thương mặc blu trắng đưa quan tài vào làng. Cô gái vừa được dạm hỏi, chưa kịp mặc áo cưới không còn đủ sức lực, xỉu lên gục xuống được mọi người dìu đi theo sau cùng tiếng khóc thất thanh của những người nhà.
Hôm sau đi dự đám tang mọi người mới vỡ lẽ. Rằng anh tự tử bằng treo cổ. Nhưng điều này không ai tin cả. Người nhà lên tới nơi nhận được kết quả khám nghiệm sơ sài, cho nhìn sơ qua mặt rồi đóng nắp quan tài. Ba của anh uất nghẹn lẩm nhẩm với những ai ông gặp:
“Không thể nào, tui biết tính nó. Có oan khuất gì ở đây chắc chắn. Tự tự bằng treo cổ mà mặt mày vẫn còn tươi tỉnh, không dấu hiệu gì, máu không tụ bầm tím tái, không lè lưỡi… không thể nào…”
Cũng như ba anh, nhiều người cũng biết bản tánh bộc trực của anh, thậm chí có người còn gọi anh nhà Bôn-sê-vích, nên chắc chắn không tin. Trùng hợp với lúc này là có một đoàn xe tải chở gỗ lậu cả chục chiếc, mỗi chiếc chở năm, sáu khúc cây gỗ đường kính cả mét, dài trên năm chục thước, đi ngang bị chặn bắt. Được đưa về tạm giữ ở công an huyện. Rồi nghe có lịnh của cấp trên phải để cho đoàn xe đi. Cuộc họp ở huyện được tổ chức, nhiều người cấp trên ngả về hướng cho qua, nhưng anh một mực không chụi, phải xử lý đến nơi đến chốn dù của ai đi chăng nữa. Anh mất thì đoàn xe được cho khởi hành. Nhưng chuyện này lớn lao, bà con thậm chí không dám thì thào. Từ đó cũng dần quên lãng. Chỉ những người trong cuộc thì mang nặng nỗi đau oan khuất.
Cu Sô cùng đám con nít cũng chạy xuống lanh quanh đám tang nghe ngóng. Và nó vẽ thêm vào ký ức một màu đức tin, đức tin Bôn-sê-vích mà nó cũng có học loáng thoáng qua. Những đứa bạn thì tò mò là chính chứ chẳng hiều là mấy nên nó không trò chuyện được. Người lớn thì không thể hỏi. Bởi vậy chỉ còn thắc mắc ở trong đầu, vì sao đức tin này cũng bị triệt như người lớn xì xào? Và nó nhớ thêm lời của ông bác bị lấy nửa căn nhà, “Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.” Làng Bưng xa xôi một thuở cũng như vậy, nơi che chở cho rất nhiều cán bộ, những ngôi nhà ở làng Bưng như lọt giữa một cánh rừng rậm.

Có một màu in đậm trong trí não của Cu Sô là màu nắng. Nó gọi màu nắng là màu bao quát tất cả. Bầu trời chỉ là một phần chứ không là cái nền. Màu nắng mới là cái nền. Chi tiết thì vô vàng. Con người thường nhìn ngang tầm mắt nhưng vui buồn hay ngước nhìn lên, buồn thê thảm thì cuối nhìn xuống. Nó muốn lưu chi tiết từ trên cao xuống dần.
Nó hay ngã người tựa gốc cây rất bự ở giữa cánh đồng người ta giữ lại để lấy bóng mát. Khi thì có bạn bè khi thì không. Có bạn bè mà nó không trò chuyện, không vui chơi thì cũng coi như không có.
Cu Sô thích nhìn bầu trời trong xanh, cái nền nhỏ chứa những đám mây trắng khi đứng sựng khi bay bồng bềnh, khi bay vun vút, và những đám mây tơi như những sợi bông, như những bông mía, mây mỏng nhìn xuyên qua thấy nền xanh. Cái nền nhỏ không chỉ màu xanh, đôi khi chuyển màu xám và xám xịt, chuyển màu tối sầm thì không còn màu nắng. Những đám mây trong nền xám, xám xịt cũng xám và xám xịt, cũng có khi đứng sững, bay vun vút hoặc chậm rãi. Đó là bị màu gió chuyển đổi. Gió hiu hiu, gió nhè nhẹ, gió mạnh, gió vù vù… Ở nơi này nó chưa bao giờ thấy cơn gió bão táp, cuồng phong điên cuồng dai dẳng, vài lần những cơn gió dữ dội, cuốn xoáy đất cát, lá cỏ như luồng khói cuồn cuộn cuồng điêng phút chốc mà thôi. Nó biết những cơn gió làm nhiều đám mây thay đổi hình thù, điều này thì đám con nít thấy lạ, cứ nghĩ đám mây tự được tạo ra hình hài. Nó hay rủ và đám bạn rất vui, được nó chỉ lên những đám mây này, vừa vẽ theo vừa giải thích những hình đó. Khi thì cái nhà, khi thì bụi cây, khi thì hình những con thú, khi thì… bị cãi lại.
Một bữa có đứa cãi:
“Mày vẽ tầm bậy, mày vẽ trật lất.”
“Trật chỗ nào?”
“Hông trật à, tụi tao làm gì được cỡi trên những con bạch mã, mấy đứa con gái xấu quắc, đen thùi làm gì được ở trong vườn tiên?”
Nó cười hà, không màng lắm, với nó màu tiểm tô, màu tưởng tượng mới là số một, mấy đứa làm sao hiều thấu, đâu có đủ ước mơ, đâu đủ dũng khí để cho mình oai phong, lãng tử trên con tuấn mã bay khắp các phương trời, đâu biết sự hóa thân, vào vườn tiên sẽ hóa thân như tiên nữ. Nó đọc được trong các chuyện cổ tích là vậy và nhìn thấy những đứa con gái tìm ẩn vẻ đẹp, chỉ bị nắng trời phủ che nét đẹp mà thôi.
Những đám mây bay là đà ngang che đỉnh ngọn núi lớn nó rất khoái chí, đó thường là những ngày âm u, lắc rắc những hạt mưa suốt, đôi khi mưa lâm râm kéo dài cả tuần lễ cũng là báo hiệu thời tiết ảnh hưởng bão ở đâu đó. Những ngày nắng nóng, có cơn mưa lớn đổ xuống thì tại ngọn núi lớn này khí đá bốc lên, bay đi rất chậm ngỡ như những đám mây bồng bềnh bao bọc quanh đỉnh núi, cơn mưa nhỏ thì giống những đám phù vân, khí bốc lên và bay đi rồi tan rã mau lẹ, nó mường tượng núi là cái bếp lò bự bành ki tỏa đám khói lam chiều lớn thiệt là lớn.

Chim chóc gắn liền với nền bầu trời xanh và cả nền xám.
Bản nhạc ta xướng càng rộn ràng, rộn ràng chân sáo!
Một con chim trơ trọi bay trong nền xanh. Con chim bay một mình nhưng không biển hiện gì là cô độc. Chim bay một mình rất ít. Con quạ đen thùi lủi bay một mình săn mồi, cái cách của nó không bằng con diều hâu xám trắng, diều hâu dang cánh rộng không vẫy, lượn qua lượn lại rồi chúi mình lao vút xuống bắt con mồi trong chớp mắt. Chớp mắt, tích tắt, người ta rùng mình quả chẳng có gì sai, dĩ nhiên cũng phải đúng diễn biến. Chim đá nhau hiếm gặp. Nó chỉ gặp được những cặp chim cu, chim cút và chèo bẻo đá nhau. Chim chèo bẻo màu đen nhánh mình thon nhỏ, đuôi dài quần nhau đá, bay lên rượt xuống rất nhanh trên các tán cây nhỏ. Nhiều con chim lớn phải ngán chèo bẻo. Mùa cánh đồng, nương rẫy đơm bông kết trái, từng đàn chim két mình xanh mỏ vàng đông như kiến cỏ bay về rợp trời. Đàn cò trắng ở cánh đồng bưng lâu lâu cũng bay tới cánh đồng vàng. Đàn le le, vịt trời bay ngang, le le có lúc bay từng cặp, từng đôi. Chim bay đàn còn có đàng cưỡng, đàn cu… Chim cu rất nhác, tổ của nó chỉ lót sơ sài vài cọng rơm rạ, cỏ khô. Ngược lại thì con tu hú làm tổ kỹ càng đẹp mắt, tổ hu hú treo ngược trên ngọn tre, ngọn cây, lủng lẳng rất nhiều như những trái cây trên cành. Cu Sô đọc được trong chuyện cổ tích rằng ngày xưa tổ của con chim tu hú là của chim cu, trong lúc nó đi kiếm mồi thì bị tu hú chiếm mất, nên đành phải lót tạm để đẻ. Nó một vài lần đi theo đàn anh gác cu, con cu mồi trong cái lồng được bao bọc cây lá ngụy trang như đang đậu trên cành cây gù tiếng rất hay, dụ được chim bay tới, chim bên ngoài chẳng biết nó hiều được hay vô tình, bay nhảy, đá sập cánh cửa lồng rồi hoảng hồn vụt bay, cả ngày chầu chực như vậy có khi chẳng bắt được con nào. Về sau nó mới hiều được việc gác cu đứng thứ ba trong tứ đại ngu, “Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Bẫy chim cu không chỉ gác lồng mà còn giăng lưới, chim cu mồi gáy hay đã bị che mắt cho đi tới lui quẩn quanh bên lưới dụ bầy chim, con chim đã bị cắt cánh không thể bay lên, bầy chim bị dụ sà xuống, người ngồi núp trong lồng lớn ngụy trang cây lá kín mít chỉ việc giựt sập lưới bắt cả bầy. Chim cu cườm gáy hay thì tiếng hót của chính chòe than, chích chòe lửa lanh lảnh tuyệt vời. Chim cưỡng, chim sáo, chim két rất khôn, nuôi tập nói được, nhứt là chim nhồng nhưng chỉ mỗi con sáo là khá trung thành với chủ, vẫn ở bên chủ khi được cho ra ngoài nhảy tung tăng. Cu Sô khoái nhứt là những con chim nhỏ, chim se sẻ. Con chiền chiện vút lên thẳng đứng như chiếc trực thăng, lên cao nó không bay mà đứng tại chỗ vỗ cánh liên tục, hót líu lo líu lo rồi vút lên thêm chút, hạ xuống một chút, vút trở lên một chút, dừng lại vẫn líu lo líu lo… một vài con cất lên theo, vài con nhảy lưng tưng bên dưới có hót nhưng chừng như không dám vút lên đọ dáng. Con sơn ca không vút lên thẳng đứng mà bay uống lượn, cùng với họa mi cất tiếng hót là những nghệ sĩ của núi rừng, làng quê. Chim sâu rất dạng dĩ, nhảy nhót tung tăng trước mặt tìm mồi. Cũng nhỏ nhưng không được như những con se sẻ là con con chim cút, bị giăng bẫy bắt tàn canh. Những người săn chim cu, chim cút chuyên nghiệp giả tiếng chim để dụ giống như đúc. Một loài nữa là những con chim mía, mùa mía trổ bông những đàn chim mía dày đặc bay về nghỉ đêm trên những đám mía. Bình thường không ai giăng bắt nhưng kiệt quệ phải đành thôi. Từng con chim bị nhổ lông nhỏ chút xíu cỡ ngón tay cái bị nấu nướng nó thấy rất chạnh lòng.

Lưu giữ màu của chim muông nó kèm theo lưu giữ màu của cái nạn thun, cái dàn ná. Nạn thun săn chim chóc là chính và một số con thú nhỏ như thỏ sóc, gà rừng, nhím cheo… Các con thú đã dần dần hiếm. Người ta tới ở ngày càng đông, lấn vào bìa rừng, cùng với phá rừng làm nương rẫy, rừng lùi dần, thú rừng bỏ đi vô ngày một sâu hơn. Những lúc trước lâu lâu có con thú rừng lớn như nai, heo, đỏ… chạy lạc về làng, nay thì không còn, con nít trông ngóng như ngày nào để có thịt chỉ hoài công. Hay vào bìa rừng lấy củi, trên đường đi thấy dấu con trút (tê tê), con rùa, lần theo một hồi là gặp, lấy cành cây cưng cứng một chút chọt vào, con trút cuộn tròn cứng ngắt quanh cành cây, vậy là xách về có thịt vào loại hàng đứng nhứt, rùa thì không bắt làm gì, nếu rùa nhỏ bắt về cho con nít chơi vài bữa thì thả trở lại. Sau này thì gặp rùa là bắt tuốt, về bỏ vào trả muối hột mà rang cho rớt mai mà ăn, một số người không ăn vì nghe nói ăn rùa rất xui xẻo. Có một lần mấy đứa con nít mải mê rượt theo con nai con, vượt quá bìa rừng một chút thì gặp con trăn dài bảy tám thước, trăn ngoạm một con đỏ bự rồi nằm luôn, nuốt mới quá cuống họng trườn đi hổng nổi, nằm chờ xuống bụng cho tiêu, mấy đứa run bắn người phải chạy về kêu người lớn. Trăn được đưa về có thịt trăn lại được cả thịt đỏ còn tươi. Những chuyện như vầy cũng không bao giờ còn nữa. Thịt thú rừng lớn cũng không còn thấy săn được đưa về xẻ thịt chia hoặc bán rẻ ở làng như ngày trước, vẫn có những thợ săn vào rừng sâu săn bắt nhưng bán lén lút nơi nào đó.
Chuyện đi săn chỉ còn qua lời kể của ông Tiên. Tụi nó nghe vẫn mê tít và có chuyện vui vui.
Ông kể về ông thợ săn bằng phi lao rất thiện nghệ với đàn chó thiện chiến. Ông nổi tiếng không chỉ trong làng mà tiếng bay đi rất xa. Cây phi lao thường người ta làm bằng cán mây đã dẻo, ông làm bằng rễ cây sóng rắn thì càng dẻo gấp mấy lần. Cất công đào rễ cây sóng rắn và để có được cán gần bằng cùm tay, dài hơn hai thước tới ba thước cũng không phải dễ. Khi đi săn gặp con mồi, đàn chó sủa ăng ẳng gọi nhau phóng rượt đuổi như ngựa phi, chó thân nhỏ và uyển chuyển hơn, phi và luồng qua những chỗ hẹp bị vây từ cành cây bụi cỏ nhìn càng đẹp hơn cả ngựa, ông cầm phi lao phi theo cũng không thua gì, ông phóng phi lao siêu đẳng gần như đã phóng là bách phát bách trúng. Phi lao ghim vào thân con thú, thú càng chạy thì cán càng dẻo càng nhịp càng làm mũi tên sắt có ngạnh càng lún sâu, con thú càng mau đổ gục.
Ông kể tiếp những người đi săn bằng cách đánh bẫy cũng rất độc chiêu. Các loại bẫy như bẫy thòng lọng, bẫy sập, bẫy đè, bẫy hầm chông… Thợ săn rất rành rẽ, biết chỗ nào có nhiều loại thú nào, làm bẫy gì dễ bắt được. Bẫy thòng lọng thường bắt chim chóc, các loại thú nhỏ và loài bò sát. Bẫy sập bắt thú lớn hơn, thú trung trung, đôi khi cũng bắt được thú lớn, phần nhiều là bẫy sập cạp với hai hàm sắt nhọn cạp xiết cứng chân con thú. Bẫy đè cũng bắt thú trung bình, bẫy khá đơn giản, đặt mồi dụ dưới tảng đá hoặc khúc cây lớn được chống đỡ mong manh bằng một khúc cây nhỏ khác, thú vào ăn mồi đụng phải khúc cây này làm đá hoặc khúc cây bự sập chèn đè bên dưới. Bẫy hầm chông thường đề bắt thú lớn, nhứt là heo rừng độc chiếc. Heo rừng độc chiếc rất tinh khôn, không phải dễ bẫy. Bẫy được thường vào mùa nắng, nước chỉ còn lại ở các hốc khe suối hay các bàu. Nửa đêm heo ra uống nước. Có người đào hầm, đặt chông bên dưới, ngụy trang cỏ lá bên trên khó phát hiện và đường mòn dẫn vào, xung quanh rào chắn các ngả nhưng heo vẫn tìm đường tránh được và mũi nó rất thính, đánh hơi được hơi người dù đã qua hai ba ngày. Phải làm nhiều hầm, nhiều đường, kiên nhẫn dụ kha khá thời gian nó mới lọt bẫy.
Heo rừng còn cách khôn nữa là đào hang trong các hốc bụi tre. Có người chưa kinh nghiệm, gặp heo chạy tót vào hang, tưởng chắc mẫm, đặt bẫy rồi hun khói cho ngộp đằng nào hổng chạy ra. Nó có bung chạy ra nhưng ra… hang khác, hai hang thông nhau hình chữ u, chui vô một lỗ ra lỗ kia, phóng chạy mất tiêu.

Có hai đứa bưng mặt chạy ào từ bìa rừng về. Thở hổn hểnh và nằm vật ra bãi cỏ còn bị chọc ghẹo:
“Aha, thằng này cái miệng bự như mỏ heo.”
“Còn thằng kia mặt méo.”
Hai đứa bị ong chích mặt sưng chù vù. Cu Sô hỏi:
“Nhức hông tụi bây, ong gì vậy?”
“Nhức, nhưng cũng hông nhiều lắm, ong mật thôi. Tụi tao ỷ i hông đốt lửa, bị chích tè le. Tụi bây kiếm bó rạ đi, lại bắt chớ hông ong hút mật bỏ đi mất.”
“Ừ, ong mật thì không sao.”
Cả đám lại chạy theo hai đứa này và bắt được tổ ong khá bự, nhưng cũng không còn nhiều lắm. Nhưng chia nhau những giọt mật tinh khiết ngọt sớt cũng ngon lành.
Là loài có cánh nhưng mỏng và nhỏ nhắn, ong có trong màu bầu trời dưới mắt cu Sô. Những đàn ong mật ngọt ngào, những đàn ong ruồi đàn rất lớn cho mật cũng ngọt ngào và chích còn hiền hơn nữa, chỉ đau như kim châm và không sưng to. Những đàn ong có thêm chức năng thụ phấn cho hoa trái. Nhưng không hiền như ong mật, ong vò vẽ có tổ làm nhìn như vân gỗ khá đẹp lại chích gây thương tích, gấy sốt gây bịnh, bị chích nhiều còn gây ra cái chết đau thương. Ong vẫn còn nhiều ở bìa rừng, thỉnh thoảng ở làng, ở đồng vẫn bắt gặp.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Advertisement

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Chuyện rằng ở một làng hẻo lánh heo hút nọ có một bà mụ rất mát tay. Bà đỡ cho sanh nở được mẹ tròn con vuông hông chỉ trong làng, mà các làng kề cận đều một tay bà của bà lo liệu. Một bữa sáng còn sương đọng, bà thức dậy thì hoảng hồn đứng như trời trồng bởi ngay trước mặt, trong sân nhà là một ông hổ trắng, nhưng nhận biết bà đang run sợ, ngay lập tức hổ lắc đầu liên tiếp, sau đó khụy hai chân sau xuống, trở thành dáng thế ngồi, hai chân trước chắp thành hay tay, cuối đầu xá lạy liên tục. Ngừng lạy thì thấy bà vẫn còn tròn mắt, hổ ta tiếp tục lạy nữa. Chừng bà hiều rằng hổ cần giúp việc gì đó chớ muốn quật bà thì phóng ào vào cái một là xong. Bà gật đầu ra hiệu đã hiểu. Hổ liền mọp thân xuống ý mời bà lên. Bà lấy hết bạo dạng làm theo. Hổ đứng dậy cõng bà chạy như bay bằng hai chân tới một hang động. Trong hang có một con hổ cái nằm đau đẻ rên hừ hừ nhưng hông đẻ được. Tới đây thì bà đã rõ. Bà hết sức cứu giúp, hổ cũng mẹ tròn con vuông ra đời. Hổ cha vui mừng cõng bà quay về. Từ đó, cứ lâu lâu, buổi sáng thức dậy bà lại thấy trong sân có các loại thú rừng giống như của ông thầy Bí Ẩn, như một sự trả ơn cho bà. Vì vậy người ta đồn rằng ông như hổ tinh và có hàm ơn gì đó với người làng nên báo ân.
Một giai thoại truyền lại nữa là của những người thợ khai thác gỗ. Ngày trước, mùa mưa đi mần gỗ thường đưa về bằng cách chờ có có mưa lớn, nước đầu nguồn chảy mạnh sẽ thả gỗ cho trôi theo dòng suối, chỉ việc cặp bờ đi theo, gỗ bị đâm đầu vào bờ hay vào đá, nói chung là vướng chướng ngại vật thì lấy cây sào mà đầy mà xỉa cho nó bung ra khỏi là trôi tiếp. Đưa về cách này rất nhẹ nhàng, đỡ nhiều công sức người và trâu bò. Một bữa gỗ về ngang hòn đảo Bí Ẩn thì bị đâm sầm vào mấy tảng đá lớn, đợt này gỗ nhiều, nước cũng mạnh nên ào ào dồn chất đống, không cách gì đẩy ra nổi. Tới điểm tập kết cũng còn khá xa, đưa lên ngay đây đưa đi tiếp khá nhọc công. Toán thợ đành ngồi đốt thuốc bên bờ tìm cách, bàn nhiều cách sao cho an toàn nhứt mà chưa ra. Đang nhăn mặt, nhíu mày suy nghĩ chợt nghe rầm rầm, cây gỗ lúc nhúc dạt ra rồi từ từ trôi đi. Rất là kỳ lạ, chẳng thấy tác động gì, cây gỗ như tự động di chuyển. Và một vài người theo sau cùng với gỗ thấy thấp thoáng bóng trắng ẩn hiện trong các lũy tre bên kia bờ. Từ đó ông thầy Bí Ẩn là hổ tinh người ta càng tin hơn cho tới tận lúc này.
Với cu Sô do đã thấy thoáng dáng ông và có điều gì đó khang khác trong mắt ông Tiên kể chuyện khi ông nhắc tới rồi bỏ qua liền nên nó không tin là vậy. Trong đầu nó xuất hiện một màu thần chưởng. Nó đọc được những cuốn truyện về võ thuật, võ công siêu phàm của ba nó cất giấu được. Nó nghĩ ông thầy Bí Ẩn như những người tu luyện lâu năm trong động, trong cốc, râu tóc bạc phơ, sống lâu hơn trăm tuổi nên đã đạt được nội công thâm hậu, đạt được thần chưởng và ông là giáo phái tâm đạo chứ không phải là tà giáo nên cứu nhân độ thế.
Một buổi hoàng hôn êm ả mát mẻ nhưng đượm buồn, mảnh đất bên này suối giáp ốc đảo Bí Ẩn lại một lần nữa loang máu đổ. Lần này không phải là tai nạn mà máu thổ huyết tràn lênh láng của một ông là hậu duệ cha ông khai phá đất này. Đổ biết bao công cức, biết bao mồ hôi nước mắt và cả máu mới nên nhưng bây giờ người ta trưng thu tất cả để vào hợp tác xã. Chỉ chừa lại mảnh đất nho nhỏ làm vườn xung quanh nhà. Ông đau buồn sinh bịnh. Người ta lại phát cho một bọc thuốc từ trạm y tế, bọc thuốc xuyên tâm liên gọi là thuốc trị bá bịnh, như là thần dược. Những người hiểu biết chỉ có lắc đầu, trên đời làm gì có thuốc thần tiên. Xuyên tâm liên cũng tốt như chỉ dành cho một số bịnh nào đó thôi. May, khi ngã xuống, xung quanh bốn bề vắng lặng như tờ thì ông lờ mờ thấy được người bận nguyên bộ đồ trắng, râu tóc cũng trắng phau cứu giúp, ông không biết bằng cách nào nhưng máu ngưng chảy rồi ông được đưa về nhà bằng cách nào đó cũng rất bí ẩn cùng bọc thuốc Nam với cả chỉ dẫn. Con cái ông ở nhà cũng không hề hay biết, chỉ thấy ông đã nằm gọn trên tấm phản trong nhà với bọc thuốc này. Và ông chắc chắn đó là ông thầy Bí Ẩn. Câu chuyện lan truyền cu Sô nghĩ rằng không chỉ giỏi về võ thuật võ công, ông thầy Bí Ẩn còn rất giỏi về các bài thuốc chữa bịnh trong dân gian.
Những năm tháng bà con cô bác phải vào làm ăn tập thể, ốc đảo Bí Ẩn vẫn không ai đá động tới, ông thầy Bí Ẩn vẫn một mình một cõi nơi đây.

Từ khi nghe được câu chuyện cha ông đi khai hoang, cu Sô không còn ghét đêm tối trời.
Đêm tối trời nó vui mừng là đêm có đom đóm. Nó bắt chước ông Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng. Vỏ trứng khá hiếm nên phải giữ kỹ càng. Bắt đom đóm làm đèn phát sáng vui chơi chớ không phải lấy ánh sáng học bài. Nó vẫn còn có cây đèn dầu hột vịt dù leo lét và hay bị tắt ngúm do ngọn gió thổi ngang khi bị bể bóng đèn, chưa kịp có bóng mới để thay, bóng đèn cũng thuộc hàng xa xỉ nhưng buộc phải có, còn hiếm hơn vỏ trứng. Cái đèn dầu lớn hao dầu nên chỉ đốt những dịp tết, giỗ quảy, có khách quý… Ý nghĩ là lạ trong nó rằng, nhờ đom đóm mà ông Trạng nguyên thành tài. Nó cũng muốn như vậy, muốn soi những vùng u tối trong mình, nhiều chuyện khó hiểu với nó quá chừng quá đỗi. Có lúc nó lóe lên, hiểu ra một điều, nó thấy mình phát sáng, đó là lúc vui mừng hơn tất cả, càng tự tin sẽ tiếp tục phát sáng. Và đó là niềm hy vọng để nó chờ đợi đêm tối trời.

Đom đóm có khi nhiều có khi ít.
Ta cũng vậy, bản nhạc có khi dài, có khi ngắn. Có khác là bản nhạc khó làm nên từ một hay vài nốt. “Tưng” – “Vui”, “Tưng tứng từng” – “Vui quá chừng”, có thể là một bài nhạc, nhưng chưa đủ vui, lặp đi lặp lại thì nhàm chán.
Đom đóm thì có một con giữa đêm tối trời.
Cu Sô thấy một đốm phát sáng. Nó chạy lại định bắt thì vấp té cái đụi, ngã lăn quay. Một ánh đén pin sáng lên rọi vào nó. Tiếng quát lớn đi theo sau:
“Thằng quỷ sứ. Phá hả mậy, gông cổ bây giờ.”
Liền ngay đó là tiếng chân người vùng chạy ào ào chỗ gốc cây lớn gần kề. Nó đứng dậy rúm người trong ánh đèn pin và tiếng quát mà chẳng biết ất giáp gì rồi bị nhéo tai buộc chỉ đường đưa về nhà, giải thích bao nhiêu cũng bằng thừa. May ở nhà còn cái đèn đom đóm mà con đom đóm nằm chết queo với xác nhận của cha nó mới tạm thoát, vẫn còn nghi ngờ phá đám. Cha nó im lặng không la chửi, chỉ kêu đi ngủ. Làm sao nhắm mắt được với tội lỗi tày đình bị gán ghép này. Qua mẫu đối thoại bên ngoài và những mẫu chuyện đàn anh lớn hơn kể lại nó mới biết thêm, ngoài ma quỷ, trong đêm tối trời còn có màu lén lút và màu rình mò. Một cặp đôi nào đó lén lút bên gốc cây, phả ra màu hơi thở gấp gáp nóng hổi, màu đôi môi run run chạm vào nhau nồng cháy, rồi màu trầm xuống, màu của nín thở, bàn tay lần mò, lần mò bật nút áo sao cho nhẹ nhàng nhứt, sao cho không phát ra tiếng động, tới màu của nín thở hết sức có thể để phát ra thì thào, anh yêu em và ngược lại em yêu anh vừa đủ cho đôi tai của nhau nghe… Đó là màu của cây mắc cỡ, ai động vào sẽ khép lá ngay tức thì, mắc cỡ không biết đi, biết có lẽ cũng trốn vào đêm tối. Màu của rình mò cũng nín thở nhưng nín thì cũng phải phả ra, phả ra hơi không nóng hực mà bốc mùi khó ngửi như tiếng xì hơi bị dồn nén. Màu này kèm màu mắt lăm lăm, mắt cú vọ rực sáng trong đêm tối, màu thân thể của chó sói chực vồ mồi… Rình mò để chực bắt tại trận những kẻ lét lút hò hẹn bị gán cho là lăng loàn. Nó cũng chưa hiều rõ nghĩa lăng loàn là gì, mơ hồ là bậy bạ, là sai trái. Những ánh mắt rình mò mang tên cán bộ, kết hợp rất nhiều, cán bộ xã đội, công an và văn hóa, đôi khi có hội phụ nữ, đoàn thanh niên… Những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ chưa “lăng loàn” được cán bộ dạy bảo luôn luôn mang trong mình một tình yêu trong sáng, một tình yêu minh bạch, một tấm gương trinh nguyên… Cu Sô chưa biết tức cười, nó chỉ thấy sự mâu thuẫn, sự lạ đời. Người ta cũng dạy cho những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, chưa “lăng loàn” rằng phải có tư tưởng mới, tư tưởng tiến bộ, tư tưởng tự do, đến với nhau bằng tình yêu tự do, không bị áp đặt, không bị tư tưởng cổ hủ áp đặt là cha mẹ ông bà đặt đâu ngồi đó, không mối lái mai mối mồi chài trong tình yêu… Tự do là phải ngồi một đống trước làng nước qua lại để trò chuyện, tìm hiều rồi nói anh yêu em, em yêu anh không chút ngượng ngùng hay sao? Không được thử hơi thở có nóng hổi, có hòa hợp, đôi môi có run run thiệt tình trong tình yêu, hay phải thử trước làng nước? Thanh niên là phải hùng hồn, là phải anh dũng, là phải kiên định, là phải lập trường… cho dù là nữ cũng phải vậy(!). Cọc đi tìm trâu thì có sao(?!). Không được tồn tại khái niệm mắc cỡ, ôi! cái loài hoa mắc cỡ thiệt kỳ quặc(!). Phát sáng trong đêm tối lần này nó đã lầm, nhảy vào chụp bắt không phải là đom đóm mà có thể là miếng đai nịch bằng inox hay viên đạn đồng, đạn bạc chưa lắp vào khẩu súng phát ra.
Đom đóm có khi có cả đàn. Cả đàn như bãi sao sa. Những đóm lân tinh đẹp hơn vì nó ở gần, tận mắt thấy nhấp nháy phát sáng rất sáng, rất lung linh. Những đêm như vậy nó không bắt nữa mà nằm sải dài người ngay bên cạnh, tiếp tục ước và dĩ nhiên nghĩ mình sẽ phát sáng rất sáng, rất lung linh.

Nó không ngã người một mình mà cùng với đám bạn con nít là ngã ở ụ rôm những đêm tối trời đầy sao. Bầu trời đầy sao đẹp đẽ chỉ sau đàn đom đóm bởi đom đóm thấy ngay cận kề. Có bữa nó nghe chuyện trò, kể chuyện, có bữa nó bỏ qua, chằm chằm bầu trời mà đếm sao. Nó ví con người như những vì sao. Sao ông sao bà, sao cha sao má, sao anh sao chị sao em, sao bạn bè, sao bà con xóm giềng… Những sao lớn nhưng xa xôi là những người cán bộ và của thầy cô.
“Của thầy cô mà xa xôi?”
“Ừ, của thầy cô.”
Một lúc nào đó ta sẽ tấu khúc nhạc vui nhộn nhưng có xen nhiều dấu lặng, sẽ gặp nó ở điều này.
Cu Sô cảm nhận về sao dừng lại ở đó. Cũng như những giọt sương long lanh, về sau nó mới nhận ra hết vẻ đẹp của sao, của ánh trăng.

Có một đêm tối trời nó rất mong chờ, đây là đêm tối trời nhứt, đó là đêm ba mươi. “Tối như đêm ba mươi”, đêm tối như mực đã được lưu truyền trong dân gian không biết từ bao đời, có lẽ từ ngàn xưa. Đêm ba mươi, đêm cuối cùng, cánh cửa cuối cùng khép lại một năm. Đêm tối nhứt lại chuẩn bị mở một cánh cửa cho một năm mới. Một năm phía trước chưa biết ra sao nhưng chí ít mở ra ngày mùng một sáng tươi và những ngày xuân hồng, vui nhộn trước mắt. Nó khoái màu lửa bập bùng, màu những cục than to tướng từ những khúc củi bự cháy thành, củi lửa nấu nồi bánh tét, có mấy đòn bánh của nó trong đó, mấy đòn nhỏ xíu vụng về so với bánh tròn dài rất đẹp của cha của má làm thiệt điệu nghệ. Cả nhà thay phiên nhau canh chừng và lăng xăng chuẩn bị bông hoa, mâm ngủ quả. Lúc có một mình nó len lén bỏ vào mớ cành củi nhỏ, những cành củi đan chéo, chồng lên nhau cháy hết rụm xuống từ từ giống như tổ ong màu đỏ, như ngày đốt cỏ còn lại tàn lửa, trong lò cây củi đượm hơn, giữ lâu hơn và tự tay nó làm nên thấy đẹp tuyệt vời hơn. Mâm ngũ quả trên bàn thờ ông bà tổ tiên đã bày xong từ sáng cùng với bàn thờ Phật để buổi trưa cúng đón rước về cùng ăn tết. Đồ ăn ngon từ trưa còn lại nó còn no và ngán chớ không với bếp lửa này nó nghĩ ngay tới củ khoai lang lùi, trái bắp nướng… Mâm ngũ quả đang chuẩn bị là để giành giờ phút cúng mở cánh cửa năm mới, giờ phút giao thừa. Lăng xăng chuẩn bị nhưng rất nhẹ nhàng, nói năng nhỏ nhẹ hầu giữ cho bầu không khí tĩnh lặng, thật tĩnh lặng để chờ đón giờ phút thiêng liêng lắm lắm! Và cả tĩnh lặng để lắng nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ gióng lên từ xa xôi vang vọng tới cho đúng thời khắc, cha trang nghiêm đốt những nén nhang vái lạy. Không có tiếng điểm của đồng hồ, đồng hồ thuộc màu xa xỉ. Và sau đó là tiếng pháo nổ đì đùng. Làng quê thanh vắng tiếng nổ vang xa và vọng. Những viên pháo đỏ nổ tung tóe, xác lại ra màu hồng phơi đầy. Cu Sô nghĩ nôm na, có lẽ vậy mà được gọi là xuân hồng, bởi xuân sặc sỡ màu vàng, vàng của cội mai cổ thụ trước sân, vàng của gốc mai rừng chặt về chưng trong nhà, trong rừng cũng vàng mai khắp nơi, rồi vàng của vạn thọ, của cúc, của hướng dương, lát đát tô điểm vài màu cúc đỏ cúc trắng, một ít đỏ của mào gà không đủ khoe sắc với màu vàng tươi, tới ánh nắng cũng hao hao vàng. Qua thời khắc giao thừa nó lên giường ngủ vùi, phần do thức khuya phần buộc không nghĩ ngợi điều gì để sáng mai tránh kiêng cữ, tránh gương mặt ủ dột ỉu xìu, đầu tóc bù xù rũ rượi cạo gãi tứ tung, hay co ro vòng tay sát ngực… để đón xuân may mắn. Lúc này và vài năm về sau nữa không được như những năm trước nhưng tụi con nít vẫn vui. Vẫn có bộ áo mới súng sính chạy nhảy ra ngoài lộ mà xum xoe. Không có món xa xỉ khổ qua nhồi thịt, chả lụa, nem chua thì vẫn còn nồi măng kho dù ít thịt đi, nồi thịt kho hột vịt lưng bớt, vẫn còn hủ dưa món, khạp cải tà xị muối chua. Không có món xa xỉ bánh mứt thì vẫn có cái bánh in đóng bằng bột nếp lạt hơn bởi ít đường, học cốm đóng từ nổ nếp cũng vậy. Những thứ có được từ sự chắt chiu, nhịn nhục để dành, dù sao cũng là tết, đón ông bà cúng tổ tiên. Hơi buồn chút là thiếu tiền lì xì và những viên pháo lẻ đốt nổ bì bùm như những năm trước. Người lớn tới chúc tụng cũng ráng bỏ gương mặt lo âu, phiền muộn chán chường để hy vọng, nhâm nhi chút rượu với củ kiệu mà tôm khô đã búng bay đâu mất, hủ tai heo ngâm chua cũng vậy, đã “vẫy tai” chào đi…

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI : KÝ ỨC SẮC MÀU ( Truyện dài)

ledachoanghuu

Ngược lại với những giọt mồ hôi, cu Sô không mấy rành rẽ về màu của giọt sương cho tới khi lớn hơn, tới khoảng cái tuổi bẻ gãy sừng trâu. Nó thức dậy thì sương đã tan trên cành cây ngọn cỏ, chỉ có cọ quẹt ướt chân cẳng hay quần áo mà thôi. Có những buổi sáng trời se se lạnh, không dài lắm như một mùa đông nơi khác, vài buổi sáng trong độ chừng một tháng trước tết Nguyên Đán, bầu trời có sương mù. Làn sương mù như làn khói màu xám lơ lửng, không bay mà ở ngay trước mặt. Nó khoái huơ tay nắm lấy làn sương nhưng chẳng bao giờ được. Nó chưa biết hư ảo là gì nhưng cũng cảm nhận được đi trong làn sương rất khác lạ, không giống đi trên con đường bình thường, giống đang bồng bềnh, cùng bạn bè rất giống chơi năm mười, trốn và vén màn sương mà tìm. Sương tan trả lại bầu trời trong sáng, nó cũng thích nhưng tiếc thì nhiều hơn. Về tối về khuya, sương chỉ cho cảm nhận cái lạnh, cái ươn ướt, nhứt là trên mái tóc chớ không thấy giọt sương rơi.

Chạng vạng là lúc làn khói lam chiều cho màu rõ nhứt. Khói bốc lên từ những căn bếp mái tranh. Chạng vạng có những ngày tuyệt đẹp. Những ráng đỏ ráng vàng, ráng cam ráng tím… lớp lớp xen kẽ cạnh nhau còn ửng ánh mặt trời vừa lặn. Cu Sô rất muốn đặt những làn khói này vào cái nền ráng chạng vạng nhưng không thể, chưa bao giờ được. Khói bốc lên gần tới thì đã tan. Khoảng cách chiều sâu cũng quá xa, không ăn nhập được. Nó chỉ ước một ngày có màu sắc sẽ kết hợp điều này. Chắc chắn sẽ rất đẹp vì tưởng tượng bây giờ đã tuyệt vời. Nhưng chạng vạng không chỉ làm làn khói lam chiều rõ đẹp, có những chạng vạng làm khói lam chiều bị che mất, bị lấn át bởi từng luồng khói đen xì. Từng luồng khói đốt cỏ rác của ruộng đồng nương rẫy. Khói bay cuồn cuộn gặp gió mạnh càng cuồn cuộn điên cuồng, mù mịt trời đất cùng với tàn lửa bay tứ tán. Tiếng lách tách nổ của đống lửa nhỏ hơn tiếng nổ của những viên pháo chuột. Màu đen xấu xí của từng luồng khói tựa hồ như sự lồng lộn của bầy quỷ dữ bị thua cuộc phải cuốn khỏi vùng đất. Trời sụp tối, làn khói đen chỉ còn thấy được một đoạn gần với lửa rồi bị cuốn vào đêm trời hun hút, bầy quỷ dữ mau chóng bị biến mất. Một vài năm trước, đám con nít tụi nó thấy đốt lửa thường chạy ra gần coi, những người lớn lo làm điều này, cào cỏ rác tấp thêm vào, khưi lửa cháy lên gương mặt bừng bừng ửng đỏ nhưng luôn tươi cười, công việc mệt nhọc nhưng có phần náo nhiệt, vui vẻ chuẩn bị đất cát cho sạch sẽ để vào vụ mùa thì nay không còn nữa, những gương mặt cũng bừng đỏ đó lầm lũi lo âu.
Ông Tiên kể chuyện, tụi nó đặt cho ông có đầu bạc trắng là vậy dù ông chưa già là mấy, ông Tiên trở thành tên riêng, ông kể chuyện cổ tích cho đám con nít nghe say sưa, ông hồn nhiên không khác gì tụi nó bữa nay lặng lẽ, ông quẹt ống tay áo lau mồ hôi, chống bồ cào đứng nghỉ nhìn chăm chăm vào đống lửa.
“Lòng rối bời phải không?… ừ, mà sao không rối bời cho được, một mùa qua rồi, một mùa theo phương thức làm ăn mới, làm ăn chung chạ, không thấy gì mới cả, chỉ thấy khó khăn đói kém tràn ngập, không thấy gì sáng sủa.” Ông thầy giáo, người ta cũng gọi như tên riêng là ông Thầy đến bên ông Tiên kể chuyện hỏi rồi tự trả lời luôn. Ông Tiên kể chuyện chỉ có biết lắc đầu.
Ông Thầy nó không thấy đi dạy, đa số chào ông là thầy. Một số ít người lẻo mép, nhiều chuyện nói rằng ông bị cấm dạy, ông không xứng dạy ở thời này, dĩ nhiên họ cũng chẳng chào chứ đừng nói chào ông bằng thầy. Với cha cu Sô và một số người thì khác, rất kính nể, còn khoanh tay trước bụng chào thầy. Cha còn biểu nó khoanh tay trước ngực thưa thầy đàng hoàng khi gặp ở bất cứ nơi đâu.
Đám con nít vẫn nô đùa gần bên những đống lửa. Cu Sô có hòa vào nhưng không được sôi nổi. Nó chưa thấu hiều hết nhưng vẫn thấy những gương mặt chán chường của người lớn, những cuồn cuộn như làn khói đen, những bầy quỷ trong lòng. Nó hay ước ao, nên ước gì mình được là hiệp sĩ đánh đuổi bầy quỷ này bay đi tận xa lắc mù khơi. Một thoáng buồn qua mắt nó bởi mình bất lực. Bù lại một chút, cỏ rác cháy hết, khói đen cuộn hết, còn lại những đốm lửa tàn rất sáng đẹp. Những đóm tàn giống hình tổ ong hừng hực màu đỏ nổi bật trong đêm tối trời.

Có nhiều mảng màu đỏ nổi bật trong những đêm tối trời như vậy nữa nhưng ở rất xa là những đám cháy rừng trên các dãy núi lớn. Những đêm sáng trăng vẫn có nhưng nó không chú ý. Đêm sáng trăng con nít rủ nhau tụ lại đùa giỡn cho thỏa chí. Cha nó nói bị cháy do người đi làm rừng, đi săn… lơ đễnh có thể từ một mồi tàn thuốc cháy dỡ, một bếp nấu ăn xong quên dập… gió phát tán lửa lan rộng nhanh cấp kỳ, có khi trời quá nóng mà tự phát hỏa từ đá nức nổ hay đá lăn va chạm tóe lửa. Cu Sô nghe cha tả lại chớ chưa tận mắt cảnh cháy rừng bao giờ. Cây cỏ, lá khô gặp lửa và gió cháy kinh khủng, đôi lúc như bão táp nhứt là mùa khô hanh, nắng bức. Giữa rừng già, nhiều người bị bất ngờ không đường thoát kịp, trong tích tắc bị làm mồi cho lửa. Nó thấy màu lạnh tanh, ớn lạnh gai óc dù giữa sức nóng cả ngàn độ C. Và thấy màu đen tối của giây phút tích tắc tích tắc, tích tắc giây phúc thôi, có thể đếm hàng ngàn cái tích tắc trong lúc rảnh rỗi, tích tắc nghe quá đơn giản nhưng lại là điểm kết thúc chớ không phải chuyện giỡn chơi. Rừng cháy xong thì nó đã chứng kiến. Cánh rừng thưa, bìa của bìa rừng chớ chưa được bìa của rừng già cháy, những tán cây, thân cây trơ trụi khô rát, le ngoe vài cái lá còn đeo dính tòng teng, đất lốm đốm màu đen, tro tàn vương vãi, cây gỗ mục còn lõi nằm trên đất ám đầy khói, có khúc còn âm ỉ cháy, khói nhẹ như những làn khói lam chiều nhưng màu trắng bạc, đây đó xác vài con vật nằm co quắp cong queo khô cứng đen thùi, có những khúc xương cũng đen thùi với vài mảng xám chớ không còn màu trắng. Mùi rừng cháy hăng hắc, hanh hanh, kheng khét, đôi chỗ khét nghẹt. Theo lời của cha kể lại thì cu Sô mường tượng, những luồng khói cuồn cuộn cỏ rác không là gì đối với khói của cháy rừng, rừng bạt ngàn, con mắt nhỏ nhoi của nó là vô cùng tận, lửa cháy những đống cỏ rác chỉ là đốm lẻ so với cháy rừng, như vài ánh đom đóm trong đêm tối trời.

Cu Sô ghét những đêm tối trời. Đêm buồn lắm!
Không phải trong những đêm tối trời thì ma quỷ xuất hiện, nhiều câu chuyện kể về ma quỷ như vậy. Nó không sợ là mấy, không phải nó không tin có ma quỷ. Nó và đám con nít tụi nó đã nhiều lần thấy những hình ảnh giống ma quỷ, nghe những âm thanh giống ma quỷ, những bà mẹ ru con, những tiếng khóc nỉ non đâu trên tuốt trên đọt cây, chót vót đọt tre ở nơi không người ở, rồi tan biến nhanh, đứa thì khẳng định chắc chắn, đứa chưa chắc chắn đó là quỷ ma, nó cũng nửa tin nửa ngờ, chưa đứa nào bị bắt, bị dẫn đi, bị nhét giữa bụi tre như trong những câu chuyện, nhưng nó vẫn nghiêng về phía tin nhiều hơn. Không sợ có lẽ đã quen với đêm tối trời quá nhiều và cũng có lẽ một phần nó hay nghễnh ngãng với thực tại, luôn nghĩ xa xa hơn, điều khác hơn, chỉ giựt thót sợ những lúc bất ngờ, cơn gió lớn rùng rùng rung động cây lá hay tiếng động lớn, lóe sáng của sấm chớp chẳng hạn. Điều nghịch nhĩ là lâu lâu nó lại mong đêm tối trời tới. Nhiều đêm mong tới lại toàn thất vọng, đêm tối càng buồn hơn, tối mịt mờ không chút ánh sáng.

“Đêm tối trời giữa rừng hoang vu rất kinh khủng…” đó là lời ông Tiên kể mở đầu câu chuyện cho đám nhóc con. Từng đứa ngồi im thin thít, há hốc mà nuốt từng lời của ông. Dĩ nhiên cu Sô mê mẩn, nó như chừa hẳn một chỗ trong đầu để ghi nhớ sắc màu này. Ông kể về hành trình khai phá vùng đất nơi đây của những người đi trước. Từ đó nó nhận ra đêm tối trời mình kinh qua chẳng là gì cả, bớt buồn cho những đêm này. “… Rừng già bịt bùng bởi những cây cổ thụ mấy người ôm cao vút, cây nhỏ chen chân dưới đất, dây leo chằng chịt che khuất tầm mắt, che gần trọn ánh mặt trời soi rọi xuống, ánh nắng chỉ còn là những tia chiếu nếu xuyên qua được và rừng trải dài không biết điểm dừng nơi đâu. Đi, cứ đi tới, nhích từng bước với cây rựa phía trước phát hoang, lá dưới chân ủ mục bị đạp vỡ ra bốc mùi hăng hắc có chỗ dày hơn gang tay. Những lúc trời đổ mưa bầu trời biếng thành đêm tối, tối mịt mùng. Mưa không rớt hột thẳng xuống đất được là bao, chỉ đoán mưa lớn hay nhỏ qua vần vũ của gió làm xao động những ngọn cây, của dòng nước chảy xuống từ thân cây. Dĩ nhiên có những cơn gió vần vũ rùng rợn lại mưa nhỏ, hoặc làm tan mây mưa nhưng thường thì dông gió to lớn, mưa cũng vậy và dai dẳng. Mưa đêm càng thêm cực hình, lạnh buốt thấu xương với tán lá tạm bợ không đủ che chắn, củi lửa lập lòe tắt ngúm, mưa dứt là dịp làm mồi cho muỗi mồng đông như kiến cỏ. Bình thường giấc ngủ đã chập chờn theo ngọn lửa bập bùng, lúc say lúc tỉnh, trong giấc mộng còn âm vọng tiếng hú tiếng gầm rú của thú dữ giữa đêm liêu tịch. Đi cứ đi, đó là bước chân của những người khai phá. Gan dạ cùng mình. Can đảm lắm mới chịu đựng như vậy”.
Vừa kể ông vừa làm điệu bộ, vừa tạo âm thanh. Nhứt là những chỗ ông bắt tay làm loa giả tiếng hú của thú dữ. Ông tiếp, “Có những khoảng thời gian đáng nhớ, những khoảng thời gian dù ít ỏi đã nhen nhúm cho tia hy vọng làm cho lòng can đảm. Những đêm nằm nhìn thấy những vì sao le lói trong đêm tối mịt, những vì tinh tú xa xăm âm thầm nhấp nháy như báo hiệu có một con đường. Những buổi sáng phát hoang lay động chỗ rừng tán lá thấp, từng đàn chim náo loạn bay lên, chúng đông như những đàn ong rùi đen kịt, chúng vỗ cánh tạo cơn gió rạt cả lá cây bung ra một khoảng trống lớn, một bầu trời xanh thẳm ngay trước tầm mắt, khoảng trời đẹp đến lạ lùng, khoảng trời đó và những vì sao đêm là hai thứ đẹp nhứt trong nhiều thứ đẹp mà những người khai phá đã từng thấy…”.
Ông Tiên dừng lại chỉ lên bầu trời đêm tối có vài vì sao lung linh, quả là rất đẹp mà bấy lâu nay nó cũng như những đám con nít chẳng để ý vì quá ít mà. Bầu trời đêm tối lấn át ngự trị cho dù đó là bầu trời rộng mở, tự do cho đôi mắt chứ không bị bao phủ bởi điều gì. Cu Sô nghe tới câu nói “Thấy ánh sáng cuối đường hầm” nó nghĩ, có lẽ khi vào tận cùng mờ mịt người ta mới tìm ánh sáng. Ông Tiên kể chuyện tiếp tục:
“Bắt đầu đi khi tới rừng già khoảng nửa tháng, còn lại hơn một tháng rưỡi ngày lưng lửng bữa cơm, phải tìm đào củ rừng mà lót thêm cái dạ, đọt lá rừng là những nồi canh thấm cổ thấm giọng. Rồi một ngày trời ráo hoảnh, vừa phát xong bụi mây gai lùm xùm gặp phải khe nước trong vắt chảy róc rách, cá lội như đi hội. Bước qua con khe thì gặp phải khung cảnh thoáng đãng, nhìn thấy bầu trời rộng rinh, một dải đất bằng phẳng hiện ra với rừng thưa ngay dưới chân đồi, xuống chút nữa là một vùng trũng hơn, cỏ xanh rì trên nền nước xâm xấp, chỉ có cây trâm nước mọc được và cũng lát đát chớ không nhiều. Vậy biết là chỗ này nước có quanh năm. Họ dừng chân mừng rơn còn hơn bắt được vàng, rút rìu ngay mà bổ một nhát vô cái cây ý chừng đánh dấu, ta đã đến rồi ngã rật người trên cỏ xanh mượt nhìn mây bay mà thở phì phò khoan khoái.”
Cu Sô có phần hiều ra nên nó hỏi:
“Làng Bàu Đôi (ao đôi) mình là nơi đánh dấu phải không ông?”
Ông Tiên lắc đầu:
“Không con à. Làng mình chỉ là làng mở rộng. Làng Bàu Sương ngay chân đồi Đất mới là chỗ đánh dấu, khai phá đầu tiên. Phía sườn đồi có nghĩa trang bây thấy đó, ở trên cao nhứt của nghĩa trang có một cụm năm ngôi mộ là chỗ chôn cất, tưởng nhớ những cha ông gồm sáu người đặt chân đến trước nhứt. Vùng đất trũng sâm sấp nước nay là làng Bưng phía dưới làng Bàu Sương.”
Một đứa hỏi:
“Con nghe kể lại có người bị ông cọp ăn thịt khi đi khai phá, phải hông ông?”
Ông Tiên cười đáp:
“Hông có đâu con. Nhiều người lấy thú dữ ra hù con nít thôi. Thú rừng bất kể là loại gì, hung tợn tới đâu gặp người cũng chỉ có tung giò cắm đầu chạy trối chết, nó chỉ chống trả trở lại khi vô nước đường cùng. Ông cọp bình thường không ăn thịt người, chỉ rình bắt ăn khi quá đói hay điên lên muốn xé xác trả thù. Lúc bấy giờ rừng còn mênh mông, thú rừng còn ê hề đi muốn đụng mặt thì làm sao đói, người thì mới tới, tìm đường đi có gây thù chuốc oán chi đâu. Chỉ có chết vì bị tật bởi bên cạnh thiếu thốn còn bị rừng lúc này là rừng thiên nước độc, nhứt là bịnh sốt rét và chết vì tai nạn, đường đi còn khó khăn, hiểm trở.”
Cu Sô biết ý đứa hỏi, đoàn có sáu người sao có năm ngôi mộ nên nó hỏi tiếp:
“Vậy còn một ông nữa ở đâu vậy ông?”
Ông Tiên đăm chiêu một hồi rồi thủng thẳng:
“Ông… ông còn sống, nhưng sống ở ốc đảo làng Bàu Sương, mấy con hông biết đâu.”
Đám con nít không biết chứ cu Sô thì biết. Nó khoái sương mù, mà Bàu Sương thì thường có sương mù dày đặc những tháng ngày cận tết, nó nghĩ có lẽ vậy làng mới có tên này từ bàu, nên nó hay đi đường tắt lúc đi học ngang qua đây để ngắm nghía và khám phá ốc đảo. Đó là ông già, rất già ở bên kia dòng suối cạnh triền đồi, trên mảnh đất chừng hơn chục mẫu mà con suối chảy uốn quanh tạo gần thành vòng tròn, kết nối khoảng hở nên vòng tròn là một ngọn đá tảng, mảnh đất thành ra như một ốc đảo cách biệt với làng. Trên đất còn nguyên xi rừng rậm, hai bên bờ suối tre già gai góc mọc phủ kín bưng. Ngày xưa, những ngày khai thiên lập địa không biết như thế nào chứ từ ngày năm người tiền bối khai hoang với ông nằm xuống thì không ai dám bước qua dòng suối để lên ốc đảo, bởi vậy nơi này mới được gọi là ốc đảo Bí Ẩn. Người sống trên đó cũng quá bí ẩn, người làng đặt là ông thầy Bí Ẩn. Ông thầy sống ẩn dật và cũng từ đây xuất phát rất nhiều giai thoại. Vể sau nó còn biết ngay tảng đá lớn xảy ra một vụ tai nạn thương tâm của ông trong đoàn tiền khai phá. Trải qua bao khó khăn của cuộc hành trình ông đều qua khỏi vậy mà lại trượt chân đập đầu xuống đá mà mất, máu loang cả một vùng rộng lớn, để rồi nơi đây còn cả vệt thâm đen không xóa nhòa theo bao nhiêu là thời gian, bao nhiêu là nắng gió mưa sa. Chuyệt thật bí hiểm mà không ai giải thích được.
Cu Sô loáng thoáng nhìn thấy dáng ông thầy Bí Ẩn chỉ hai lần nhưng không rõ lắm, và cũng rất sợ nên không dám mục kích nữa, nhưng giai thoại về ông là người đã hóa hổ thì nó không tin. Một khoàng thời gian trước đó, chứ về thời nó thì đã hết, cứ độ một tuần hay lâu hơn, chừng mười ngày non nửa tháng là ở làng Bàu Sương lúc chỗ này lúc chỗ kia sẽ nhận được những con thú rừng, khi thì con nai, con đỏ (mang hoặc mễn), con dê, con heo, khi thú nhỏ thì một vài cặp gà, thỏ, nhím, cheo, chồn… và có lúc thì một vài bao lúa, bao bắp bao khoai… Rồi có giai thoại khác truyền lại, cho tới lúc ông Tiên kể chuyện vẫn còn kể cho tụi nó nghe.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI : KÝ ỨC SẮC MÀU ( Truyện dài)

ledachoanghuu

“Nghe ta chạy nhảy lưng tưng chứ?”
Phải. Ta đang rất vui, ta vui nhộn tung tăng nhí nhảnh. Ta đang tấu bản nhạc tuổi thơ của gã họa sĩ mà. Tuổi thơ không mang nặng, không che dấu hay lưu giữ buồn đau. Đau thể xác hoặc đau vết thương ngoài da, tuổi thơ khóc nhòa rồi mau tan biến, mau lành lặn.
Những nốt nhạc ta cứ nhảy nhót, nhảy nhót như những đôi chân chim sáo nhảy nhót không ngừng, nhảy nhót trên cánh đồng kết thúc bằng đường chân trời. Nơi đó, nơi chân trời đó có một đoạn ưng ửng màu vàng vàng, đôi khi nó dợn sóng, những làn hơi dợn sóng, ánh nắng còn gắt tạo ra những làn ảo ảnh. Trên đoạn màu vàng là màu xanh xanh pha lẫn vàng vàng không ra xanh lá mà là màu lợt xám xanh, vậy là có chút xíu màu đen trộn trong hai màu nhạt này. Dần lên trên nữa là xanh lợt cho tới xanh của bầu trời xa thẳm. Cánh đồng màu vàng vừa, màu của gốc rạ xen lẫn một ít màu bàng bạc đất khô. Những con bò là những chấm vàng đậm hơn và một ít chấm đen của những con hung. Ở đây người ta gọi những con bò đen tuyền như vậy, chẳng biết có phải những con bò này thường rất hung hăng hay đọc trại từ nhung huyền. Những chấm nhỏ hơn di động liên tục không thứ tự cũng có màu đen là những nốt nhạc chân sáo. Những cậu bé để đầu trần, thậm chí cả mình cũng trần trùi trụi dám so đọ với nắng trời, rong chơi với đầy ắp các trò, mặc cho những con bò tìm cỏ, cứ lùa ra tới chừng chạng vạng là tự động quay trở về, bò của đứa nào thì lùa về chuồng nhà mình, chăn bò nhưng chẳng cần chăn. Gã họa sĩ là một nốt nhạc trong đó, chỉ có điều nhà gã không có bò, gã đi lượm cứt bò về làm phân bón.
Gã được cha mình đặt thêm cái tên con nít là Sô. Ban đầu ông định đặt Pi nhưng nghe tưởng Bi thì thường quá. Nếu hiểu Pi thì lại lầm với số Pi trong toán học mà gã có giỏi đâu. Hay Bi người ta nghĩ bi thảm của số phận ông lúc này cũng không xong. Sô là âm cuối của Picasso, tên ông họa sĩ lừng danh Pablo Picasso (họa sĩ Tây Ban Nha). Như vậy ông rất là am tường. Ở đây lúc bây giờ ngoài một số ít ông cán bộ ra thì tất cả còn lại đều là bần cố nông. Không cần biết ai có học cao hiều rộng, có làm nghề gì khác, ở đâu tới, thành thị hay ruộng đồng, tất cả chỉ một nghề, trồng cây lương thực hoặc trồng cây nông nghiệp. Thầy cô giáo cũng được bổ nhiệm tới từ nơi khác, có những căn nhà tập thể biệt lập ở gần trường cho các thầy cô. Sô ra đời trước đây một chút và tiếp nối tuổi thơ ở nơi này trong khoảng thời gian như vậy. Có người gọi bé Sô, có người gọi thằng Sô, nhóc Sô, phần nhiều thì kêu cu Sô như bao thằng cu khác.
Màu của cánh đồng, màu của chân trời… cu Sô đều quy về màu với tất cả. Và rất nhiều màu của thời những nốt nhạc rộn ràng đi theo nó, in hằng trong tâm trí nó mãi về sau, không bao giờ xóa nhòa được dù có cố xua đuổi. Hình hài hay mùi vị không là gì với nó, thấy rõ ràng, cảm nhận rõ ràng ngay trước mặt mà, hay chỉ cần đùa giỡn nguệch ngoạc, hí hoáy vài đường nét thì thành hình, rất dễ dàng. Nó không có màu để pha, để trộn, để điểm tô cho hình hài, không có điều xa xỉ này cho nó. Điều xa xỉ không cần cho cuộc sống lúc bấy giờ đã bị đóng trong cái rương trống rỗng khóa chặt cất dưới gầm giường mỗi căn nhà, hoặc quăng ra bụi chuối sau hè, vài ba lớp mạng nhện giăng, mấy lớp mốc meo, lá úa mục bao phủ thì cái rương coi như không còn tồn tại. Ngay cả trái bánh da, niềm đam mê bất tận của đám con nít ngoài cánh đồng cũng trở thành xa xỉ, không thể hùn đủ tiền để mua nổi. Trái banh da lúc trước mua được còn sót lại đá bung chỉ phải lấy cước vá chằn vá đụp, ruột bị bể thì sáng kiến kiếm cái bao tử heo nhét vào tưng tưng được vài bữa, bể nữa tiếp tục nhét rơm vào thay thế cho tới khi da tơi tả, mục nát rời ra từng miếng mới thôi. Rồi chỉ còn quấn rơm, quấn giẻ rách thành cục tròn mà đá. Cho nên vị trí của màu chỉ còn một nơi cho nó mà thôi, ghi vô ký ức. Nó cứ thấy màu là đặt vào, gần gũi là đặt vào trước, không thứ tự lớp lang, không điều nào quan trọng hơn điều nào cả.

Màu của những cục cút bò là gần gũi nhứt với nó.
Màu của cứt bò, cu Sô ngồi ngay cạnh bãi cứt bò vẽ những vòng tròn, vòng tròn xoáy dần vào trong. Vẽ trong tích tắc, rồi nó đưa tay chỉ qua chỉ lại giữa bãi cứt và hình vừa vẽ. Nó muốn đặt tất cả những màu thật, những sắc độ màu tạo khối nếu nhìn thoáng sẽ không nhận rõ vào trong hình. Điệu bộ này thì nó làm rất lâu.
“Ê! Vô chơi mậy.”
Nhiều tiếng gọi của bạn bè rủ rê, nó chằng mảy may, chẳng cần trả lời trả vốn. Cho tới lúc bị trêu ghẹo:
“A! thằng này bị khùng rồi, lên cơn rồi.”
Nó cũng chẳng thèm đếm xỉa tới. Có khi nó bẻ cứt khô ra để thấy có khác chi với bãi cứt còn sền sệt mà nó lấy cây ngoáy ra không. Màu có khác nhưng vẫn là những thứ đó, những bột, những cọng cỏ còn nguyên bò không nhai rã, những hột bông cỏ nhỏ li ti thì chắc chắn khó mà nát được đã ngả màu xám đen so với màu xanh lá sậm thiệt sậm, xanh lá có pha đen thiệt nhiều. Những bông cỏ, những cọng cỏ còn nguyên đó cu Sô chợt nhớ tới lúc canh khuya thức dậy đi tè cạnh chuồng bò, con bò rột roạt nhai lại thức ăn ợ lên, giống như ban ngày nuốt trọng cho đầy vào để dự trữ cho đêm tối bị đói và đủ thời gian để thưởng thức. Nó liên tưởng tới những bữa ăn của mình cũng vậy, mong chờ tới bữa ào ào nuốt vào, sợ bị chiếm hết nhưng chẳng bao giờ đủ, bao giờ cũng thiếu hụt cho tất cả, cho dù một phần tâm trí muốn dằn lại, muốn bữa ăn được chia sẽ đều cho cả gia đình. Những lúc đói meo nó ước được như bò, được ợ lại để nhai. Song, nó trợn mắt nghĩ tới cái mùi kinh khủng của mình, nghĩ tới thôi đã thấy muốn ói liền bỏ qua cái ý nghĩ này và cười haha…
“Hổng ra đây chơi mậy, ngồi cười một mình, thằng này lên cơn hoài, thằng này khùng thiệt rồi.” Nó nghe như vậy cũng nhiều không chỉ từ đám bạn lóc nhóc leng keng, người lớn cũng có chỉ là nhẹ nhàng hơn, “Bớt tưng tửng đi con, tỉnh lại đi con”… nên tiếp tục giả lơ. Rồi nó lại nghĩ tiếp, sao không ăn hoa cỏ thôi, ăn chi hỗn tạp quá, có phải ợ lên mùi thơm phức hông. Và tự trả lời, hoa là để ngắm nhìn, cái đẹp là để ngắm nhìn chớ không phải để tàn phá.

Cu Sô là đứa kỳ cục, những hàng động luôn kỳ quặc. Ai lại đi chơi với cụt cứt và cứ nói cục cứt, cục cứt hoài chứ. Nhưng cũng chẳng sao, ban đầu có vài dị ứng, kỳ kỳ nhưng nghe kỹ thì nó nói có duyên nên thành bình thường nếu không muốn nói là vui vui, dân dã dễ thương. Cũng giống như người ở quê kêu thằng cu, cu cu thiệt dễ thương chứ chẳng có tục tằn gì cả. Và dù biết không thể như cục cứt bò nhưng nó luôn muốn bẻ không khí, bẻ những điều người ta gọi là hư ảo, hư vô cũng như bẻ trong đầu mình ra coi có trong gì đó, có gì khác không mà sao nhiều người cứ kêu nó là quái dị. Đôi khi nó thấy mình bình thường như mọi người, cũng ào ào nhào nhào vào đám bạn con nít vui chơi đó mà. Đôi khi lim dim tưởng tượng bẻ đôi đầu mình ra thì thấy khác có khang khác, những kiểu nghĩ của nó nói với bạn bè chẳng đứa nào hiểu, nhiều đứa nghe cứ lơ mơ như nó là người đâu từ trên trời rơi xuống. Nhưng thôi, nó mặc kệ, cứ hồn nhiên với hồn nhiên dù rất nhiều màu đọng lại cùng thắc mắc, có màu được giải đáp từ người lớn, có màu thì không, nó cứ để in trong tâm trí, nghĩ rằng sẽ có một ngày nó tìm ra lời giải đáp.

Ta cũng vậy, ta luôn kèm theo giai điệu là lời lẽ hồn nhiên!

Cu Sô không thích màu cứt trâu mặc dù rất khoái những con trâu. Những con trâu bự tổ bố, cặp sừng dềnh dàng lại hiền khô, ít khi nổi chứng rượng đực giành con cái, giành làm thủ lãnh đầu đàn như những con bò. Sự tranh giành thường dẫn tới những trận đối đầu húc nhau lụp cụp đến chan chát, được kêu theo hình tượng bén lộn. Cu Sô phì cười cho ý nghĩ, hình tượng thượng cẳng chân hạ cẳng tay của con người là oánh lộn bởi không có cặp sừng. Trừ những con bò có cặp sừng trùi trụi, gọi là cặp sừng cui thì cặp sừng của những con bò muốn hùng cứ này cong vút, tự mài sừng vào những ụ đất cứng, những ụ mối già lâu năm cứng gần như đá làm sừng ánh màu lên như những viên thạch anh màu trà trong suốt, bén ngót tựa lưỡi gươm cong. Những cặp sừng bén ngót đụng nhau chan chát là bén lộn đúng rồi. Nhưng trâu thì tới tận cùng chịu dựng dễ điên tiết hơn bò, và nó điên thì cũng thiệt là khó trị. Bãi cứt trâu cũng bự tổ bố, lại nhềnh nhệt khi vừa thải ra với mùi khá ngai ngái, rất lâu mới đặc quánh hay khô lại. Cứt trâu nóng hổi nhềnh nhệt đôi khi lại rất hữu ích, rất cần để trét vô cối xay lúa đan bằng tre, trét vào bồ lúa, thúng mủng trám kẽ hở và cho bền, đặc biệt là trét vào gàu tát nước, khô cứng và chặc đến nước không rỉ ra được. Trâu ít khi ở cánh đồng màu vàng, ở tận tít mù, dưới cánh đồng bưng xa như đường chân trời.

Màu của cứt bò góp một phần làm thay đổi màu cánh đồng. Đất cày xới lên, nước sập sình, cánh đồng có màu sình. Từng cây lúa non lớn dần lớn dần, nhờ một phần phân bò lúa lên xanh mơn mởn, mơm mởm che lấp màu sình. Cành lúa xanh mềm mại, gió tạo những con sóng chập chùng, chập chùng tới tận chân trời quá tuyệt mỹ. Lúa đòng đòng xong lú lên từng bông mang mày trắng, mày trắng rơi vãi bay bay mang theo thoang thoảng mùi thơm nhè nhẹ huơng lúa. Rồi lúa nặng trĩu oằn bông chín vàng, vàng ươm bát ngát.
Cứt bò khô nó lượm đầy hai cái mủng đan bằng cật tre (lớp vỏ cây tre) để trong cặp gióng gánh về. Cặp gióng làm bằng sợi dây thép gai đã tháo những gai nhọn. Dây thép gai làm hàng rào bao quanh cái đồn của quân lực chế độ cũ trấn giữ trên ngọn đồi cây cối nhỏ. Đồn chỉ còn những lô cốt xám xịt, lỗ chỗ đạn và sức mẻ, nhiều chỗ bể vụn trơ với gió mưa, nắng trời. Hàng rào thép gai nhiều lớp, người ta chỉ dám lấy ở ngoài, dưới chân đồi về xài, bên trong còn gài mìn rất nhiều, rất lâu sau mới được mấy chú bộ đội đi gỡ hết. Gióng còn làm từ cây mây rất dẻo chặt ở trong rừng. Cây mây bọc bên ngoài một lớp vỏ với những mụn gai dày đặc bao quanh. Đòn gánh làm từ cây tre đặc ruột to cỡ bắp tay người lớn chẻ làm đôi, được chuốt láng và cắt gọt khớp ở hai đầu để giữ gióng rất đẹp mắt. Đòn gánh vừa cứng vừa dẻo. Những gánh nặng trên vai nghe kẽo cà kẽo kịt, nhịp nhịp theo nhịp bước. Màu của gióng gánh, thúng mủng là màu của mồ hôi. Những giọt mồ hôi nhỏ xuống như những giọt sương nhưng mặn chát. Những giọt mồ hôi đi lấy củi trong rừng, gánh lúa từ ngoài đồng, gánh bắp gánh đậu gánh khoai củ… từ nương rẫy về, gánh rau gánh cá, gánh muối mắm ra chợ… Màu của gióng gánh thường là màu mồ hôi của phái nữ. Đôi khi nó thấy lạ mắt và vui vui, khi màu mồ hôi này không có góng gánh, chỉ có thúng mủng được đội trên đầu. Còn lạ hơn nữa, màu trở thành rưng rưng là trong cái mủng của gánh là đứa bé nhỏ hơn nó, đứa bé không bị bỏ rơi một mình ở nhà, ở trong thúng mủng thoải mái đùa giỡn, lí lắc vui cười trong cái thế giới riêng tưởng chừng như nhỏ bé mà thiệt sự quá bao la tình gia đình. Có đôi gánh màu mồ hôi nhưng làm cho dịu mát, đôi gánh không gióng, không thúng mủng mà thay bằng móc hoặc dây và thùng, đôi gánh nước. Cái thùng nước không thể thiếu sợi dây hay cái móc kết nối với đòn gánh, như một đôi bạn tri kỷ luôn bên nhau. Tuổi thơ tụi nó có giận hờn, có chọc ghẹo, có chửi rủa, thậm chí oánh nhau nhưng rồi mau lẹ dàn hòa và luôn bên nhau như tri kỷ mặc dù từ này không tồn tại trong tâm hồn trẻ thơ.

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI

ledachoanghuu

Gã ngồi gục đầu rất giống với bức tượng – Người suy tư, rất nổi tiếng của điêu khắc gia lỗi lạc người Pháp, Auguste Rodin (François-Auguste-René Rodin). Chỉ có khác là bàn tay không chống cằm mà bóp chặt trán. Cận cảnh, trên cằm và miệng gã râu ria tua tủa nhưng vẫn không che chắn hết, vẫn thấy được hàm răng cắn mạnh làn môi dưới. Trời đêm liêu tịch, ánh đèn bên ngoài vàng vọt hắc vào căn phòng không đủ soi in rõ bóng lên tường càng làm hình bóng gã toát ra sự cô đơn, cô đơn tận cùng địa phủ. Và dĩ nhiên, không thể khác được là có một đống lùng bùng, một đống rối hơn tơ vò trong tâm tưởng, có cả những suy nghĩ mông lung, ảo vọng tới một thế giới khác, một thế giới không giống thế giới hiện tại của gã, không bị gò bó ràng buột rất nhiều điều, không chịu nhiều đau thương hơn hạnh phúc… Rồi gã lại mơ hồ không biết có thế giới như vậy hay không hay là một thế giới còn tệ hơn, thế giới địa ngục đang chờ phía trước ấy chứ. Suy tư dằn vặt muốn xé nát tâm can, gã muốn điên tiết lên với nó…
Rất lâu, rất lâu, con lắc đồng hồ đánh cong thời gian biến không gian thành không gian siêu thực. Con lắc chuyển động vĩnh cửu làm khái niệm thời gian biến mất, thời gian hóa hư vô, không thấy trôi đi chứ đừng nói là chậm chạp. Cho tới quá nửa đêm, sức chịu đựng tới đỉnh giới hạn, cái đầu như bị chẻ làm đôi, gã lắc theo con lắc và thở hắc:
“Vô thường, vô thường. Phải giải thoát thôi, giải thoát thôi!”.
Gã ngước đầu nhìn lên trần nhà, trần nhà cao vời vợi như một vũ trụ tăm tối xa xăm. Không muốn nghĩ nữa, gã nhắm nghiền đôi mắt và với tay mò mẫm lấy khẩu súng ngắn…
Ta tấu lên một khúc nhạc du dương…

Gã là một họa sĩ.
Ta lập luận:
“Nói tới họa sĩ dễ người ta sẽ nghĩ tới đây là những người thừa hưởng sự di truyền, nếu không thì cũng là người có bộ gen đặc biệt, bộ gen trội về nghệ thuật. Sự đặc biệt đó thể hiện ở tư duy khác người, tư duy mà trong thế giới bình thường người ta không thể hiểu nổi, đôi khi bị gán cho là lập dị, là điên cuồng… tư duy có thể đi trước thời đại, tư duy sáng tạo, thời đại tiếp nối với sự phát triển mới nhận ra chân tướng, có khi là nền móng cho sự phát triển. Nhiều họa sĩ vĩ đại đã cho thấy điều đó, Leonardo da Vinci (Họa sĩ người Ý), Vincent van Gogh (họa sĩ người Hà Lan), Edvard Munch (Họa sĩ người Na Uy)… và kể cả Auguste Rodin”.
Có phản biện chứ? Ta cũng như gã họa sĩ, đang đối diện với mình gã mà thôi, chỉ không cô đơn như gã. Gã lúc này thì không thể. Ta đành bắt chước… cái đầu của gã, chia đôi bộ não làm hai. Não trái phản biện:
“Vậy không có những tư duy ảo tưởng, cuồng điên?”
Não phải:
“Có chứ. Bời vậy phải có thực tài mới làm nên vĩ nhân chứ không sẽ là vĩ cuồng”
Tiếp tục lập luận:
“Và nói về phạm vi hẹp hơn, về gia đình thì những con người này thường được sanh ra trong gia đình danh giá, gia đình quý tộc, thượng lưu”
Não trái đồng tình. Nói và hỏi:
“Nền tảng gia đình rất quan trọng. Phần nhiều cũng vậy, những gia đình này hiểu biết sâu rộng. Gã họa sĩ thì sao? không có mối dung hòa nào, không có sự chia sẽ, không thấu hiều, để rồi sự cô đơn tận cùng đến với gã?”
Não phải đáp:
“Bên cạnh đó mỗi con người đều có số phận riêng của mình. Kết hợp tất cả lại ta mới biết được thân phận mỗi con người. Ta tìm hiểu về thân phận cô đơn của gã”
Não trái gật gù, rất hợp ý nhau.
“Nhưng ta là ai? phải chăng ta là gã nhạc sĩ?”
Quý vị chắc chắn sẽ thắc mắc như vậy. Xin được thưa rằng: “Ồ! không, ta mở đầu là cái khóa sol, sau đó là gói gọn trong bảy nốt, đô rê mi fa sol la si, chạy nhảy lặp đi lặp lại trên những dòng nhạc, và như món ăn, ngoài nguyên liệu chính còn có thêm gia vị, ta có thêm những dấu thăng dấu giáng dấu lặng… kết hợp với nhau để có những bản nhạc. Những bản nhạc đi theo cuộc đời của mỗi thân phận. Những bản nhạc siêu thực. Bản nhạc được xướng lên hư ảo bởi nhạc sĩ, ca sĩ vô thường, không đũa điều khiển, không nhạc cụ, không âm thanh, không sân khấu, không ánh sáng… Cảm nhận ta cũng ở trạng thái tương tự, lắng nghe từ tâm thức, suy tư từ tâm tưởng.
Giới thiệu như vậy đã là quá dông dài, quá đủ rồi. Ta đi thôi.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN.

ledachoanghuu

Sài Gòn gặp phải mùa áp thấp. Mưa triền miên cả ngày, mưa rỉ rả suốt tuần. Thành phố lại như một công trường. Người ta ra sức chống ngập như muốn xới tung cả thành phố lên, những con đường rào chắn chiếm gần trọn hết, đất đá vương vãi, bùn đất ngập ngụa càng làm cho thành phố buồn thê thảm. Anh ta cũng buồn thê thảm, trong đầu ngổng ngang những câu hỏi, và đập trực diện là câu hỏi giữa cái đống ngổn ngang này, ở đâu đó có hay không một căn phòng hội họp, có hay không một căn phòng tham mưu rồi dẫn tới những căn phòng với bọt bia tung tóe cùng những cô em chân dài thiều vải giống như căn phòng anh ta vừa ngồi với Khoát dùi, có hay không sự thực tâm hay bao nhiêu phần trăm là thực tâm muốn tốt đẹp xuất phát từ đây. Anh ta lê la hang cùng ngõ hẻm với những quán cà phê cóc, cà phê vỉa hè, cà phê của những người bán vé số, đánh giày, bán dạo ghé qua, những người nếu xếp lại có thể đầy đủ binh đoàn mà không có câu trả lời.
Mệt mỏi, anh ta dứt khoát bỏ ngoài ta những cuộc gọi của cò Lân, của Mẫm dược… Không biết đã bao lâu rồi anh ta mới lại thấy mình dũng cảm như vậy. Không nghĩ ngợi tới mưu mô chước quỷ, không suy nghĩ những toan tính thiệt hơn, không cần tới cây dùi của “thầy” Khoát, không cần biết nó có thành hay bại, nó có diễn ra hay không.
Có một điều làm anh ta nghĩ ngợi nhiều, chú Năm bị bắt, rồi hàng ngày mở trang báo ra ít nhiều cũng có một vụ bị bắt, không phải là loại tội phạm lưu manh côn đồ, đâm thuê chém mướn… loại này thì hà rầm. Đó là những tội tham nhũng, lừa đảo quy mô lớn nhỏ, đủ mọi thành phần, quan lớn quan nhỏ, doanh nghiệp này doanh nghiệp kia, ngành này ngành nọ… sao mà nhiều quá, nhiều, nhiều kể không xiếc. Anh ta nhớ tới cơn gió xoáy, phải rồi, đã ở trong nó theo nó thì bị xoáy theo là phải, xoáy thì càng ngày càng rộng như cái lồng phễu, anh ta rùng mình một ngày nào đó thôi rồi sẽ tới mình, tra hai tay vào cái cùm, không tàn lụi thể xác cũng mục ruỗng vì tra cổ vào cái thòng lọng vô hình mà thôi.
Anh ta muốn thoát ra. Bằng cách nào? Anh ta thử nằm sát xuống đất, bấu víu vào đất, đất âm ẩm hiền hòa tỏa một mùi thơm khó tả, anh ta như tan vào lòng đất, đất không khác gì mẹ, anh ta nghe một luồng không khí mát rượi lướt qua, một làn gió thoảng như không có gió làm nhẹ cả người, ru anh ta miên man, anh ta hỏi:
“Đây là cơn gió gì?”.
Cơn gió trả lời ngắn gọn nhưng thanh thoát:
“Vô thường”.
Anh ta khoan khoái hít đầy lồng ngực, có chút mơ hồ về sự vô thường nhưng cảm nhận được vô thường là cõi tuyệt vời, cõi thư thái tâm hồn, anh ta ước:
“Ta quý mi quá, ta muốn được như mi quá đỗi!”.
Cơn gió nhè nhẹ:
“Anh đã vừa mới có khoảng khắc vô thường, anh thoát khỏi vòng vây gió xoáy, tiếp theo thì anh tự định đoạt”.
Anh ta ngửa mặt lên trời:
“Linh hồn xoáy hãy biến vĩnh viễn khỏi đời ta”.

***

Tháng bảy lịch Ta, tháng có nhiều sự kiện. Tháng bảy âm hồn, tháng bảy mưa ngâu, mưa từ đôi mắt của đôi Ngưu Lang Chức Nữ, tháng bảy mùa Vu Lan báo hiếu. Có thể nói tháng bảy tuy không phải là tháng tư tháng trung tâm với ngày lễ Phật Đảng, nhưng tháng bảy mang nhiều âm hưởng thuyết nhà Phật.
Vô thường cũng là thuyết nhà Phật. Anh ta đang có vô thường, anh ta muốn giữ vô thường. Anh ta đội mưa như một kẻ khất sĩ đi lên chùa.
Cửa chùa rộng mở nhưng… lòng người ở chùa thì hông hẳn. Gã khất sĩ lang thang thì chắc chắn phải với một thể trạng bần hàn, héo úa – anh ta chua chát: “Đôi mắt ở chùa bây giờ là vậy sao, đôi mắt chẳng cần nhìn xuyên thấu tâm hồn, đôi mắt không khác gì người phàm mắt thịt, trần tục bụi mờ hay sao?”.
Ăn ta mặc xác, cái xác của anh ta lẫn những cái xác người chùa không rộng lòng. Anh ta dạo quanh chùa, phủ phục dưới chân tượng phật tìm bằng an. Rồi giữa chùa đập vào mắt anh ta một cảnh như là phiên chợ, nó không hỗn độn bát nháo như phiên chợ trời, ở đây là dòng người tươm tất từ đầu tới chân, y phục chỉnh tề, giày dép láng mượt cùng những vẻ mặt nghiêm nghị đôi khi toát ra những nụ cười bí hiểm. Những nhà sư cũng mang khuôn mặt và nụ cười bí hiểm. Họ trao đổi, rồi họ ký sổ, họ cúng dường, rồi họ ban phát và được nhận những ơn huệ. Những gương mặt tươm tất này anh ta gặp ngày một ở đời thường, những gương mặt cò Lân, Khoát dùi, Chín Của, Mẫm dược, Hội hè, Phán lụi, Ba Sậu… hiện rõ mồm một trước mặt anh ta. Anh ta thấy luôn cả gương mặt mình trong đó. Anh ta tự gật đầu: “Phải, phiên chợ mua thần bán thánh, mua một chỗ trên thiên đàng, có lẽ họ nghĩ sẽ được vậy”.
Anh ta không còn biết buồn vui, người anh ta mất nhận thức, đông như gỗ đá, anh ta lặng lẽ rời “phiên chợ chùa”.

***

Anh ta đổ bịnh.
Những cơn mưa dầm thấm sâu, những suy nghĩ mệt nhoài làm đầu óc anh ta nặng trĩu, anh ta lê thân tới bịnh viện. Bịnh viện người xếp hàng dài như rồng rắn, người ngồi chật cứng trước khu bốc số. Anh ta lắc đầu quay ra tìm cho mình một phòng mạch riêng, sực nhớ tới nhiều người đồn đãi, hữu xạ tự nhiên hương về ông bác sĩ Văn Khoa, một ông bác sĩ có cái tên thật đẹp, cái tên vừa nghe là gợi nhớ ngay tới những nhà văn nhà thơ, những lãng tử mộng mơ.
Anh ta bước vào phòng mạch, một cô gái ngồi ở bàn tiếp tân xinh đẹp cất tiếng lảnh lót chào:
“Dạ, chào anh, anh khám bịnh hay có việc gì?”.
Anh ta muốn bật cười, đã tới phòng mạch với tấm thân này thì còn làm gì nhưng uể oải nụ cười không đến được:
“Dạ, khám bịnh”.
Cô gái tiếp:
“Mời anh vô trong, bác sĩ Văn Khoa vừa tới”.
Cố gái dẫn anh ta bước vô, cô gái nhỏ nhẹ:
“Dạ thưa bác sĩ có khách”.
Vị bác sĩ đang ngồi trong phòng một mình, anh ta nói thầm: “Chà, không hổ danh lời đồn” – Bác sĩ với dáng phong độ, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt sáng toát vẻ hiền hậu sau đôi kiếng, anh ta gật đầu chào:
“Chào bác sĩ, thưa bác sĩ tui muốn khám bịnh”.
Bác sĩ Văn Khoa đưa tay mời ngồi, và hỏi:
“Anh là ai?”.
Anh ta ngớ người, ú ớ:
“Dạ thưa, tui… tui là…”.
Bác sĩ cắt ngang:
“Tui là… tui phải hông?”
Anh ta cười và gật đầu đại:
“Dạ…”.
Bác sĩ với tay lấy cái ống nghe, một trong những động tác quen thuộc của các vị bác sĩ khám bịnh, cho dù đôi lúc chẳng cần tới nó, bác sĩ nhìn anh ta mỉm cười:
“Lần đầu mới có người trả lời như vậy, nhưng tui không nghĩ anh không biết mình là ai, chỉ có điều anh không nói hay bị bối rối mà thôi”.
Anh ta càng thấy vị bác sĩ lạ lùng, anh ta nhướng mày:
“Nhưng điều này có quan trọng để một bịnh nhân phải trả lời?”.
Bác sĩ đứng dậy đi qua lại anh ta:
“Hỏi hay lắm và cũng chưa ai hỏi tui như vậy. Đã vậy thì chúng ta nên thiệt tình với nhau nhé. Thú thực với tui là có, rất quan trọng”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Quan trọng hơn cả bịnh nhân nói đau gì, đau ra sao?”.
Bác sĩ đưa bàn tay cản lại điều anh ta hỏi:
“Không, mỗi cái có quan trọng khác nhau, tui chỉ hỏi cái nào trước cái nào sau mà thôi”.
Anh ta suy tư:
“Bác sĩ nói rằng ai cũng nói rằng mình là ai, riêng tui tui không trả lời có được hông?”.
Bác sĩ nhẹ nhàng lắc đầu:
“Không, đó là nguyên tắc của tui, không thể khác, đó là thủ tục đầu tiên”.
Anh ta bật cười:
“Nghe giống thủ tục tiền đâu”.
Bác sĩ đứng lại:
“Tui biết anh nói chơi cho vui, câu cửa miệng bây giờ nhưng là thực, đúng trăm phần trăm”.
Anh ta thất vọng:
“Thưa bác sĩ hông lẽ những lời đốn đoán là sai, những lời tốt đẹp về bác sĩ tài hoa và y đức là hoàn toàn trái ngược?”.
Anh ta chờ cơn phẫn nộ của vị bác sĩ nhưng không, bác sĩ bật cười:
“Tui không dám nhận những lời tốt đẹp đó nhưng đừng vội phán xét, phán xét dành cho cả con đường dài nhìn nhận – Bác sĩ Văn Khoa ngừng lại một hồi, rồi tiếp: Thôi, trò chuyện vậy đủ rồi, biết nhau chút đỉnh rồi, bây giờ anh có muốn khám bịnh?”.
Anh ta lưỡng lự chút rồi gật đầu, bác sĩ đưa tay mời:
“Hãy làm thủ tục đầu tiên”.
Anh ta kể sơ anh ta là ai. Chuyến đi trải dài từ tuổi thơ cho tới bây giờ. Anh ta chỉ lướt qua, chỉ những ngày gần đây thì anh ta nói kỹ một chút. Nghe xong, Bác sĩ gục gật:
“Tui cũng đã bắt thần sắc của anh rồi, anh chẳng bị gì nặng lắm, cảm lạnh đau ê ẩm mình mẩy, còn nhúc buốt, nhói lên tận óc là từ những cơn dằn vặt, những cơn dằn xé mà ra”.
Anh ta thấy đúng quá:
“Có lẽ đúng vậy, bác sĩ cho biết cách trị”.
Bác sĩ cười:
“Đau thì kê đơn thuốc dễ ợt, còn nhức óc thì tui bó tay, anh phải tìm nguyên căn từ đâu ở chính anh và anh phải loại bỏ nó”.
Anh ta gục gật và phát đồ cho mình cách loại bỏ như bác sĩ nói. Bác sĩ Văn Khoa viết đơn thuốc, bác sĩ đưa cho anh ta, anh ta cầm lấy:
“Cảm ơn bác sĩ rất nhiều, bác sĩ xin cho gởi tiền thù lao”.
Bác sĩ ngần ngừ:
“Tui chưa gặp người nào giống anh trong nhiều hạng người tui đã khám nên tui không biết tính thế nào, thôi coi như bữa nay tui chưa khám vậy, anh cứ tự nhiên”.
Anh ta không thể thấy lạ lùng hơn nữa, tự dưng anh ta muốn tìm hiểu kỹ hơn vị bác sĩ này, anh ta ngồi lại xuống ghế:
“Bác sĩ có thể nói khác nhau của nhiều hạng người hông?”.
Bác sĩ nhìn anh ta:
“Anh muốn biết, muốn trò chuyện”.
Đúng ý, anh ta gật ngay, bác sĩ tiếp:
“Được nhưng tui không thích trò chuyện ở phòng mạch, ta kiếm chỗ nào đi”.
Anh ta ngại ngùng:
“Còn phòng mạch?”.
Bác sĩ kêu cô tiếp khách mua dùm anh ta đơn thuốc, kéo anh ta đi và nói:
“Còn nhiều đệ tử khám bịnh, cần kíp lắm thì sẽ gọi chớ lo gì”.

***

Kéo ghế ngồi ở quán bên bờ sông, bác sĩ Văn Koa vương người thở sảng khoái:
“Tui rất khoái dòng sông Sài Gòn, nước không ồn ào dữ dội, đều đều lên xuống và mang theo từng mảng lục bình xanh ngắt đôi khi có những nụ hoa tim tím”.
Anh ta cũng thích:
“Bác sĩ lãng mạng quá!”.
Bác sĩ kêu hai chai bia cho hai người, anh ta hỏi:
“Uống có sao… ?”.
Bác sĩ phẩy tay:
“Một hai chai chẳng đưa anh về chầu ông bà ông vãi đâu mà lo”.
Anh ta khơi chuyện trở lại:
“Bác sĩ khám hàng ngàn hàng vạn người rồi, chắc gặp biết bao hạng người…”.
Bác sĩ nhấm nháp ly bia:
“Đúng, tui đã khám không thể nhớ bao nhiêu người, chung quy lại thì chỉ có vài hạng người, hạng thứ nhứt sẽ ấp a ấp úng gần giống anh, nhưng sẽ không bao giờ dám hỏi, sẽ trả lời là dân đen dân nghèo, đây là những người bịnh nặng, bước đường cùng mới tới. Hạng thứ hai như vậy không thấy đường nào khác nhưng không đến nỗi mạt hạng, đó là những tay anh chị du côn du đãng…”.
Anh ta hỏi:
“Bác sĩ có sợ hạng người này?”.
Bác sĩ lắc đầu:
“Không, hoàn toàn không, cho dù anh là gì đi nữa thì đối diện cái chết anh cũng sẽ run rẩy, hiếm có người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Hạng này sẽ phủ phục dưới chân và đôi khi có những tay có nghĩa khí, coi ân tình là trên hết, sẽ nhớ ơn suốt đời”.
Anh ta dần dần thấy chân dung của vị bác sĩ, bác sĩ tiếp:
“Hạng người nữa là sẵn sàng dõng dạc tuyên bố ta là ai…”.
Anh ta thử chen vô:
“Đây là hạng tự cao tự đại và phải có của cải quyền cao?”.
Bác sĩ gật đầu:
“Chính xác, thường là như vậy, họ sẽ chỉ thẳng vào ngực mình mà cho biết ta là doanh nhân, là những người làm ăn lớn, là quan chức, dĩ nhiên phải bỏ những doanh nhân những quan chức có đủ tri thức, hạng người này thì hiểu biết xử thế, tiếc thay thời nay hiếm có”.
Anh ta được cái mạch:
“Hạng tự đại sẽ buộc phải chữa cho họ dù họ hông nói thẳng thừng ra?”.
Bác sĩ tiếp gật đầu:
“Đúng vậy, coi như cái lịnh vô hình”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Bác sĩ chữa hết cho tất cả?”.
Bác sĩ nhìn ra dòng sông, một chiếc ghe nhỏ có người chèo lướt qua, có lẽ người đi câu cá trên sông, bác sĩ đáp:
“Phải chữa hết, đó là thiên chức của người thầy thuốc”.
Anh ta đã hiểu, anh ta cười khà:
“Vậy là những lời đồn đoán về bác sĩ là thiệt sự, không sai chút nào, kể cả người nghèo, người giàu, người quyền cao chức trọng hay dân dao búa, bác sĩ khám bịnh kên đơn và kê giá tùy cho mỗi hạng người bởi vậy mới hỏi là ai?”.
Bác sĩ gật gù:
“Anh đã hiểu phần nào – Chợt bác sĩ thở dài nhìn lên bầu trời: Còn một hạng người nữa mà tui rất sợ, chẳng muốn vác mặt tới phòng mạch của mình, hạng này chữa không khỏi”.
Anh ta nói từ dân dã:
“Bó tay, hết thuốc chữa. Dạ, hạng gì mà ghê gớm vậy?”.
Bác sĩ cười mà vẫn buồn:
“Hạng đã đánh mất linh hồn”.
Anh ta chợt giật mình, anh ta nhớ lại ngày cơn gió tuổi thơ nói với mình, anh tự hỏi vậy đã đánh mất linh hồn chưa? Lúc anh ta cho rằng chưa lúc thì đã. Lúc chưa thì chưa tìm đủ tội lỗi, chưa nghĩ tội như vậy là nặng tột cùng để xóa linh hồn. Lúc đã thì với anh ta, tội lỗi là tội lỗi dù nhỏ nhặt, mà anh ta cũng hàng hàng tội lỗi. Ngày rời rừng rú anh ta một mực không quên một ai ấy vậy mà chưa một lần trở về nơi như là quê hương thứ hai của mình, người bạn học người bạn xóm làng người từng giúp anh ta không chút vụ lợi cũng chẳng màng tới huống gì nói về những ước mơ, những khao khát ngày nào, sau này sẽ góp sức làm thay đổi quê hương… và còn để mình cuốn ào ào vào cơn gió xoáy… Anh ta mụ người, như người bước rón rén:
“Người ta nói đánh mất tuổi thơ là đánh mất linh hồn, bác sĩ thấy sao?”.
Bác sĩ suy ngẫm, từ từ đáp:
“Có, nhưng không hẳn là hết tất cả. Đánh mất tuổi thơ để lại nỗi ám ảnh buồn tủi, nghèo hèn, đau thương để về sau những người như vậy không muốn thấy điều này tồn tại với mình với đời con cháu mình, họ dễ lắm dù phải bán linh hồn cho quỷ để xóa bỏ nó. Nhưng đó chỉ là một phần, những phần còn lại là những biến cố xấu xảy ra trong đời hay tác động của môi trường mình đang sống và kể cả môi trường xung quanh làm thay đổi nhận thức, dĩ nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ như tự dưng ý thức, thay đổi ý thức. Những điều này là ngọn gió thổi bùng đóm lửa âm ỉ, thổi bùng mầm móng ung nhọt trong con người – lòng tham vị kỷ – một bản năng tồn tại trong tất cả con người, lòng tham vị kỷ cháy trong đầu sẽ đốt cháy linh hồn”.
Anh ta bị cuốn vô cách nhìn nhân của bác sĩ Văn Khoa, anh ta đưa tiếp lập luận:
“Tác động làm cho ngọn lửa vượt giới hạn”.
“Không sai, luôn luôn tồn tại một lằn ranh giới hạn nó chỉ mang trạng thái ảo hay thực mà thôi. Thực ta thấy là những chuẩn mực con người đúc kết đề ra, là phong tục, tập quán, là luật pháp… ảo là trạng thái của lương tâm, một chân thiện mỹ đối nghịch với sự gian tà”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ nói hay quá, ý bác sĩ có phải là xã hộ tốt đẹp là đa số phải ở trong chuẩn mực, nếu vượt qua cái lằn ranh này thì sẽ trượt dài chắc chắn sẽ mang tới tồi tệ”.
Bác sĩ đồng ý:
“Đúng như vậy. Đơn cử về cái lằn ranh, cái vạch sơn trắng kẻ dừng ngay ngã tư, tất cả phải dừng sau nó khi đèn đỏ và chỉ được phép tiếp đi khi đèn xanh. Tuân thủ điều này thì ngã tư không loạn xạ, phá bỏ thì tai nạn dễ xảy ra, con đường lưu thông không tốt có khi phải kẹt cứng. Nói về với thực tại, hầu hết từ vượt qua cho tới lấn tới, cái này bắt đầu từ đâu, bắt đầu từ một vài người ban đầu rồi nó lây lan, học trò nhìn thấy thầy cô lấn vượt sẽ làm theo, nhân viên thấy sếp cũng vậy, bà con thường dân cũng sẽ lấn bởi cán bộ lấn tới mà. Và một khi ta vượt được cái lằn ranh này thì tại sao lại không vượt cái lằn ranh khác, những lằn ranh đâu phải sờ sờ trước mắt như cái vạch kẻ, những lằn ranh khó nhìn thấy, khó giám sát…”
Anh ta nghe tới sự lây lan, anh ta nói:
“Giống như con vi rút lan truyền?”.
Bác sĩ tiếp tục gật đầu:
“Cái ung nhọt như con siêu vi rút vô hình lây lan ghê gớm, nó ngang nhiên đi trên xa lộ, bay chờn vờn trong không trung, đi xuyên thấu những bức tường, thâm nhập hang cùng ngõ hẻm, nó còn tới thẳng cả những nơi tôn nghiên nhứt, nơi xưa nay gần như bất khả xâm phạm, đó là những giáo đường, những chùa chiền… Tiếp tục với thực tại, bởi vậy ngày càng có những ngổng ngang, đâu đâu cũng có. Tràn lan tham nhũng, tràn lan hám danh, hám quyền, hám lợi, tràn lan đấu đá quyền lực, lo chăm bẳm những điều này thì những điều khác bị phớt lờ, ngay cả những lớn lao đau thương, vận mệnh non sông đất nước cứ thay kệ thì những đói nghèo của đồng loại có hề chi. Tràn lan mua quan bán chức, anh đã từng nói mua cả xuất lên thiên đàng mà. Rồi tràn làn suy đồi đạo đức, cửa miệng ngày nay không còn ngượng miệng với những câu tục tĩu, những dục vọng thấp hèn không chỉ có trong tầng lớp kém hiểu biết, thất học. Tràn lan bạo lực và sự vô cảm, sự mặc nhiên với cuộc đời, bạo lực và vô cảm ngay cả với người thân trong gia đình, sự vô cảm nó còn góp phần giết chết sự sáng tạo, không một sáng tạo nào xứng tầm được ra đời trong tất cả các lĩnh vực từ khoa học công nghệ cho tới văn học nghệ thuật. Tràn lan sự gian manh, dối trá lừa gạt, lòng trung thực thành thứ xa xỉ. Nghiệt ngã thay ung nhọt nó đã gậm nhấm tơi tả luôn cả hai nơi, hai cơ quan một đào tạo nên con người, một cứu người, tiến sĩ giấy như giấy tiền vàng mã thì nó tha cho nơi nào, mối mọt từ gốc cho tới ngọn. Cái ung nhọt lòng tham vị kỷ ghê gớm này đã di căn làm người ta đánh mất lòng tự trọng, lòng tự trọng thì tỷ lệ nghịch với tự ái, mất tự trọng thì tự ái leo thang, càng kinh khủng… – Ngừng mộ chút, nhấp ly bia bác sĩ tiếp giọng nhỏ đi: Cứ tiếp nối như thế này thì băng hoại cả một thế hệ, sẽ đến ngày thối nát, mục rữa mất thôi”.
Anh ta nghe choáng váng nhưng rất đúng, đúng ngay với cả bản thân anh ta. Có điều nghe lùng bùng quá, anh ta thử chuyển qua vài điều tốt đẹp hơn, anh ta nói:
“Nhưng cũng có những điều tốt đẹp tồn tại trong xã hội”.
Bác sĩ gật đầu:
“Dĩ nhiên vẫn có sự tốt đẹp, nhưng phải lấy đa số, lý ra phải ngược lại, đi mò tìm sự xấu xa mới đúng chứ. Vẫn có những điều làm xã hội tốt đẹp lên, không ai phủ nhận được. Tuy chỉ vì đã mất lòng tin, lòng tin đã khô héo nên mấy ai dám cho rằng đó là từ cái tâm sáng mà thành hay là phục vụ cho ý đồ riêng, một nhóm riêng. Dẫu sao thì nó vẫn tốt. Những ngôi nhà những ngôi biệt thự khang trang ngày càng mọc nhiều nhưng một khía cạnh khác thì lại cho thấy sự phân hóa rõ rệt, một nhóm người đang ở trên mây với bồng lai tiên cảnh, còn đa phần thì lại vẫn ở dưới đáy khốn khó, người trên cao thì chẳng muốn nhìn xuống, họ phớt tỉnh, họ chỉ chú tâm để còn mãi ở nơi này, những người ở dưới thì không dám ngước lên, một đám mây mờ áng ngữ phủ đầu – Bác sĩ xòe bàn tay qua hướng anh ta: Anh có thấy điều này, chắc chắn thấy phải hông?”.
Anh ta gật đầu:
“Thấy rất rõ”.
Bác sĩ hỏi tiếp:
“Nhưng anh biết chứng minh cho điều này ở dễ nhứt ở đâu không?”.
Anh ta thấy thì nhiều nhưng chưa nghĩ tới, anh ta lắc đầu, bác sĩ cười:
“Anh cứ đi dọc theo con đường rày xe lửa thì anh sẽ rõ, hai bên đó bao nhiêu căn nhà có phải là nhà, chỉ vài mét vuông, bao nhiêu mảnh đời lúc nhúc cơm hàng cháo chợ, chạy ăn từng ngày từng bữa, anh sẽ so sánh được mà thôi, một căn biệt thự bao nhiêu căn như vậy…”.
Anh ta gục gật:
“Bác sĩ tinh ý quá”.
Điện thoại của bác sĩ Văn Khoa reo, phòng mạch có ca cần tới, anh ta đứng dậy, chào bác sĩ:
“Trò chuyện với bác sĩ quên cả thời gian, cảm ơn bác sĩ rất nhiều”.
Bác sĩ từ tốn:
“Không có gì, tui rất vui vì có người chia sẽ, hẹn gặp lại”.

***

Anh ta đã đỡ hẳn đau đầu, nhức buốt óc cũng ít đi bởi cố không suy nghĩ nhiều. Mang gói quà tới gặp bác sĩ Văn Khoa, đa tạ là một phần phần chính anh ta muốn gặp lại vị bác sĩ lãng tử và rất giỏi, bác sĩ gặp anh rất vui:
“Chà bày đặt quá, đỡ chút đỉnh nào chưa?”.
Anh ta cười tươi:
“Dạ đỡ rất nhiều, bác sĩ rảnh rổi?”.
Bác sĩ nhướng mày:
“Trò chuyện chơi hả, ừ thì đi chớ rảnh rỗi thì tui khó à”.
Anh ta và bác sĩ kéo tiếp ra bờ sông Sài Gòn, vẫn là những ly bia, anh ta khai cuộc:
“Bác sĩ nói lòng tham vị kỷ, vậy có lòng tham khác nữa?”.
“Phải, tui gọi đó là lòng tham nhân bản”.
Anh ta tròn đôi mắt:
“Đã tham sao còn nhân bản?”.
“Chỉ là cách nói, cách hiểu, lâu nay động tới từ tham thì người ta nghĩ ngay tới xấu xa. Người ta quên rằng có những lòng tham chân chính, có người cảm thấy yêu thương là đủ, chẳng hạn yêu thương gia đình, quê hương… nhưng có người thì lại không họ phải là yêu thương vô bờ bến, như vậy họ chẳng tham yêu thương hơn là gì. Ở trường lớp, ở môi trường làm việc… vẫn có người muốn hơn người khác chứ, là lòng tham, lòng tham này dẫn tới sự cạnh tranh, sự cạnh tranh lành mạnh bằng sáng tạo, bằng con tim, bằng sự chia sẽ, bằng tài năng, bằng sức làm việc thì đó là lòng tham chân chính, tất cả cho sự tốt đẹp hơn. Trọng danh dự cũng là một loại tham này, tui gọi là lòng tham nhân bản, còn ngầm hiểu cần nhân lên nữa như cấp số nhân càng tốt”.
“Bác sĩ nói chí lý quá, bác sĩ phán xét giỏi quá”.
Bác sĩ Văn Khoa chựng người lại, đưa bàn tay cản:
“Tui không phải là quan tòa nên không có phán xét, chỉ có cái nhìn nhận và là một kẻ làm nghề”.
Anh ta biết đã lỡ lời, anh ta sợ bác sĩ giận:
“Dạ, không không, xin lỗi bác sĩ tui hông có ý đó”.
Bác sĩ hiểu ý xua tay:
“Đó cũng có thể là cách phản biện, mà phản biện thì cần phải nghe chứ”.
Anh ta cười xuề:
“Tui làm gì đủ tư cách phản biện, à chỉ xin hỏi bác sĩ điều này, nhìn nhận coi như một mệnh đề bác sĩ đưa ra, vậy chắc chắc còn một mệnh đề phía sau đó”.
“Anh cũng khá lắm, lâu rồi chưa trò chuyện với ai được nhiều và có phần hiểu tui, ý anh là mệnh đề giải quyết những điều này? Tìm lời giải cho bài toán có ẩn số?”.
Anh ta công nhận:
“Đúng vậy”.
Bác sĩ uống cạn ly bia, bác sĩ Văn Khoa uống cũng rất khá, ông từ từ đáp:
“Có hai lời giải”.
Anh ta khấp khởi mừng:
“Bác sĩ có thể chia sẽ?”.
Bác sĩ mỉm cười:
“Dĩ nhiên rồi. Lời giải đầu là xuất hiện một bộ óc và trái tim tuyệt vời, bộ óc vĩ nhân như trên bầu trời xuất hiện một ngôi sao sáng, sự lấp lánh của nó sẽ lấn át tất cả. Trái tim này đè bẹp được lòng tham vị kỷ và thôi thúc lòng tham nhân bản. Bộ óc sẽ sản sinh siêu vi rút lòng tham nhân bản, siêu truyền nhiễm để chống lại sự siêu truyền nhiễm xấu xa từ lòng tham vị kỷ gây ra. Bên cạnh đó bộ óc này phải là bộ óc không hề ảo tưởng, tìm đúng con đường để đi. Không thể có con đường trải đầy hoa hồng cho tới đích là một cánh đồng hồng tươi. Ai còn vọng điều này là quá ảo tưởng bởi sự phức tạp trong bộ óc con người, bản ngã của con người khó đo đếm được, không thể triệt tiêu được lòng tham vị kỷ, chỉ kìm nén trong cái lằn ranh là quá đủ. Không thể có sự tuyệt đối, tất cả chỉ là tương đối như thuyết tương đối trong vật lý của thiên tài Einstein”.
Anh ta hơi thất vọng:
“Phải chờ đợi ngôi sao sáng xuất hiện”.
Bác sĩ cụng ly với anh ta:
“Anh không nghe câu truyền khẩu bao đời à, thời nào cũng có anh hùng thời nào cũng có kẻ khùng kẻ điên, rồi sẽ xuất hiện”.
Anh ta thở phào:
“Hy vọng sẽ nhanh chóng, dạ, còn lời giải thứ hai?”.
Bác sĩ tiếp:
“Lời giải thứ hai không có ở đây, nếu anh muốn biết thì mai tới tui sẽ dẫn tới một nơi, lời giải của chính tui nhưng chưa biết có thành”.
Anh ta muốn biết lắm chớ anh ta vồn vã:
“Dạ mai tới, chắc chắn mai sẽ tới, thưa bác sĩ”.

***

Sáng sớm thức dậy, anh ta nóng lòng tới ngay phòng mạch bác sĩ Văn Khoa. Bác sĩ chưa đến. Anh ta ra quán cà phê đối diện ngồi đợi.
Hai tiếng sau vị bác sĩ mới tới. Bác sĩ ngồi nhấm ly cà phê với anh ta:
“Chà tới sớm quá hả?”.
Anh ta thật thà:
“Dạ rất sớm, rất muốn biết lời giải thứ hai”.
Bác sĩ đưa anh ta tới một căn nhà khang trang, đi xuyên qua phòng khách gặp một hành lang nhỏ hẹp, quẹo qua lại hai ba lần gặp bức tường chắn, hết thấy lối đi. Bác sĩ rút cái vật giống cái điều khiền ti vi và bấm bấm, phút chốc bức tường xê dịch mở ra, bên trong một ô trống như thang máy, bác sĩ mời anh ta cùng bước vào, bức tường đóng lại tối om, tia ánh sáng yếu ớt bật lên, cái sàng di chuyển đi xuống, anh ta nghĩ là xuống tầng hầm, cũng trong phút chốc thì ngừng lại. Bức tường lại xê dịch mở ra, bác sĩ kéo nhẹ anh ta ra bước ra ngoài. Vừa bước ra thì ánh sáng được bật lên sáng trưng, hiện ra trước mắt anh ta là một phòng thí nghiệm sáng choang làm anh ta choáng ngợp, đầy đủ máy móc, những cái máy vi tính, những cái máy anh ta không thể biết… Anh ta thốt lên:
“Tuyệt vời quá, quá ư là hiện đại”.
Bác sĩ xoa xoa những cái máy:
“Hiện đại này là nhờ những người… tự cao tự đại đó”.
Bác sĩ dẫn anh ta vào bên trong, căn phòng mổ, cái bàn mổ cũng hiện đại không kém. Chợt anh ta giựt bắn người, lạnh cả sống lưng, trên những cái bàn xung quanh nằm la liệt những bộ não, bộ còn nguyên bộ bị mổ làm đôi, bô bị mổ làm tư, có bộ mổ ra từng mảnh nhỏ, trong đầu anh ta một luồng suy nghĩ xấu về vị bác sĩ chạy qua, anh ta nghĩ không thể ngờ được, đúng là điều gì cũng cần nhìn kỹ chân tướng, bác sĩ đứng lại quay qua anh, anh ta run lên muốn quay đầu bỏ chạy rồi anh ta lại nghĩ, chạy đi đâu, anh ta tìm thế thủ, bác sĩ Văn Khoa bật cười:
“Anh nghĩ tui sẽ hại anh à, tui sẽ mổ xẻ não anh sao? Ồ, đừng hiểu lầm chứ, đây là những bộ não phỏng theo thôi, chúng được làm bằng sợi tổng hợp, nhìn như thiệt phải không?”.
Anh ta vỗ trán:
“Xin lỗi bác sĩ, đúng là tui có ý nghĩ quái đảng vừa rồi”.
Bác sĩ ngúc ngoắc đầu:
“Đó là lẽ thường tình thôi”.
Anh ta đi tới chỗ mấy bộ não:
“Giống quá, y như đúc, cả hàng ngàn mạch máu li ti – Bác sĩ nói đây là lời giải của ông, anh ta nghiệm ra và hỏi: Bác sĩ đã tìm ra điều gì phải hông?”.
Bác sĩ ngồi xuống ghế, chỉ vào bộ não xẻ nhiều mảnh:
“Não bộ điều khiển tất cả các hoạt động của cơ thể và tạo ra suy nghĩ, tính toán tưởng tượng, có cả sự phán xét… Mỗi vùng của não điều khiển một hoạt động, sau bao nhiêu năm nghiên cứu từ hình ảnh não thật mà các loại máy hỗ trợ, chụp cắt lớp, máy siêu âm, máy vi tính… và cả cái máy tui với các cộng sự chế tạo mà tui gọi là máy leser soi não cùng mổ xẻ mô hình tui đã phát hiện ra một vùng sâu kín trong não, vùng tui muốn ngàn lần loại bỏ, vùng điều khiển lòng tham vị kỷ”.
Anh ta vui mừng muốn hét lớn:
“Vậy là bác sĩ đã tìm ra, đã có lời giải”.
Bác sĩ trầm ngâm trở lại:
“Tìm ra chưa phải tất cả, loại bỏ nó mới là việc đau đầu tiếp theo”.
Phấn khích quá, anh ta nghĩ dễ khô mà:
“Thì chỉ việc cắt bỏ nó đi”.
Bác sĩ ngã người ra ghế dựa:
“Nói như anh thì việc gì tui đau đầu, anh nghe tới chấn thương sọ não là thất kinh rồi phải không, mổ xẻ não là một vấn đề nan giải, chưa nói đây là một vùng sâu thẳm, động tới nó là động ngay tới những vùng khác. Rồi thí dụ như có được đi chăng nữa hổng lẽ phải mổ xẻ hết những cái đầu?”.
Anh ta tiu nghỉu:
“Vậy phải làm sao, bác sĩ phải có cách chớ?”.
Bác sĩ thở phù:
“Dĩ nhiên tui đã nghĩ cách khác, tui đang tìm ra loại thuốc tiêm để triệt tiêu nó, nhưng lại phải chờ thời gian”.
Anh ta hồi hộp:
“Sao lại phải chờ?”.
Bác sĩ từ tốn:
“Thuốc này phải thử ngay trên người, tui chờ đào tạo cho đứa học trò nó thành thạo, ít nhứt là bằng tui bây giờ lúc đó bộ não này… – bác sĩ chỉ vào đầu mình -… mới là bộ não để thí nghiệm được”.
Anh ta trợn trừng:
“Thí nghiệm ngay trên bác sĩ?”.
Bác sĩ Văn Khoa cười:
“Dù sao thì tui cũng đã kinh qua gần trọn một đời”.

***

Hai ba bữa sau hình ảnh phòng thí nghiệm của bác sĩ Văn Khoa cứ lảng vãng trước mắt anh ta. Anh ta cứ nghĩ tới nghĩ lui, đúng là vị bác sĩ tài năng và đức độ, ông dám đánh đổi cả mạng sống của mình, một hành động không phải của kẻ hèn nhát. Trong đầu anh ta bỗng xuất hiện ý nghĩ hay mình sẽ là chỗ thay thế, vừa xuất hiện thì anh ta rụt người lại như có luồng điện chạy dọc trên người, anh ta vội xua ngay cái ý nghĩ này đi, có đau đầu nhưng cuộc sống vẫn đang tốt đẹp với anh ta mà. Người anh ta như mớ tơ vò, anh ta chạy một mình ra bên bờ sông. Một con tàu kéo chiếc xà lan chở đầy hàng chầm chậm chạy qua, sóng nước ùn ùn đập vào bờ, một cơn gió cũng rùn rùn thổi vô, cơn gió làm anh ta càng rụt người, anh ta hỏi:
“Ngươi là cơn gió gì?”.
Cơn gió oằn cong xuống:
“Ta là kẻ đê hèn”.
Anh ta bức bối:
“Ngươi tới đây làm gì? Ta đâu cần cái loại như ngươi”.
Cơn gió không đổi dáng:
“Ta đang ngự trị trong ngươi kẻ đê hèn ạ”.
Anh ta điên tiết, tay huơ loạng xạ:
“Ta đâu phải kẻ đê hèn, biến đi cho ta, biến mất xác đi cho ta, ta hông cần những loại như ngươi”.
Cơn gió cười rè rè:
“Ngươi can đảm lên rồi đó, ta sẽ đi, ta sẽ cho ngươi gặp cơn gió khác”.
Anh ta hỏi:
“Là cơn gió gì?”.
Cơn gió bay đi và nói với lại:
“Cơn gió xám hối, linh hồn tội lỗi ạ”.
Chỉ lát sau cơn gió khác bay lại, anh ta đã biết đây là cơn gió xám hối, anh ta chào:
“Chào mi, chẳng lẽ ta đã nhiễm?”.
Cơn gió nhỏ nhẹ:
“Ngươi đã nhiễm từ lâu, ngươi còn chút lực còm để chống trả nên chưa gây hậu họa lớn, nhưng ngươi cũng đã tiếp tay thì đã mang tội lỗi, trước sau gì ngươi cũng sẽ bị di căn”.
Anh ta nghe mà hồn vía lên mây, anh ta chưa bao giờ muốn điều này xảy ra, anh ta rối rít:
“Bây giờ ta phải làm sao, phải làm sao?”.
Cơn gió bay vòng anh ta:
“Thì có ta đây, hãy xám hối và làm một điều tốt để được hãnh tiến”.
Anh ta phân vân:
“Điều tốt như thế nào, điều tốt gì đây nhưng ta chẳng muốn hãnh tiến?”.
Cơn gió bóng gió:
“Ngươi không muốn hãnh tiến cũng được, chỉ nên đừng làm kẻ đê hèn”.
Anh ta nghĩ hồi lâu, tại sao ai cứ kêu ta là kẻ đê hèn rồi anh ta nhớ lại, ừ ta đúng là kẻ đê hèn, anh ta thều thào:
“Chí ít cũng phải làm một việc tốt?”.
Cơn gió khẳng định:
“Hãy làm việc tốt mà ngươi nghĩ và ngươi sẽ mãi mãi được vinh danh, xám hối của ngươi xóa nhòa những tội lỗi”.
Anh ta thở ra:
“Ta chẳng cần vinh danh, xóa tội lỗi là quá tốt rồi, nhưng hãy cho ta thêm chút thới gian”.
Cơn gió gật đầu và lượn đi.
Một tuần nghiền ngẫm một mình anh ta quyết định lớn – sẽ không làm người đê hèn. Anh ta vừa thề xong lòng thanh thản ngước lên nhìn trời mây thì lướt qua bên đối diện thấy một gương mặt thân quen, nhìn lại, người anh ta tự nhiên run run bật bật, trước mắt là hình bóng không thể nhạt phai trong mắt, trong đầu anh ta được, cô nàng tình đầu, anh ta đứng dậy bước qua:
“Em… khỏe không?”.
Nàng tình đầu đôi mắt đỏ hoe, chớp chớp:
“Dạ, em… khỏe… còn anh?”.
Anh ta ngồi xuống:
“Anh có lúc khỏe, có lúc mệt mỏi, nhưng hiện tại thì khỏe rồi và luôn nhớ tới em, em sống ra sao?”.
Cô nàng lý nhí:
“Em cũng vậy, luôn nhớ tới anh, em đã lập gia đình và có một đứa con nhưng không may ảnh đã mất trong một tai nạn, anh thì thế nào?”.
Anh ta chia sẽ:
“Chia buồn với em, mất mát quá lớn, anh thì vẫn cô độc, từ ngày xa nhau có vài mối tình nhưng chẳng đi tới đâu”.
Anh ta và nàng tình đầu trò chuyện rất lâu, hết cả buổi chiều cho tới khi trăng đã lên cao. Trăng lên ánh vàng rất đẹp, dưới dòng sông hai bên bờ hắt bóng ánh đèn vàng cũng rất đẹp, rất lung linh. Anh ta kể khá nhiều chuyện kể cả chuyện vì sao lại trốn mối tình đầu. Nàng tính đầu nhìn chăm chăm anh ta rất lâu rồi mở lời:
“Chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu”.
Anh ta định gật đầu sực nhớ lại anh ta nhẹ nhàng lắc đầu:
“Tiếc quá em à anh đã thề, có lẽ chúng ta có duyên nhưng không có phận”.
Nàng tính đầu tuy mắt rưng rưng nhưng đành chấp nhận, nàng biết người như anh ta là trọng lời thề:
“Có lẽ đó là số mệnh như vậy đã an bài, chúng ta hông có thời gian để thay đổi. Em và con tới thăm anh được chứ?”.
Anh ta gục gật:
“Dĩ nhiên là được”.
Trăng đã tới gần đỉnh đầu. Anh ta và nàng là hai người cuối cùng rời bờ sông. Anh ta dìu nàng trong cơn gió khẽ lay lay cành lá, và nụ hôn nàng đặt trên môi anh ta mới cảm nhận được thế nào là nụ hôn, hồn anh ta là cơn gió lâng lâng quyện vào hồn nàng.

***
Anh ta gặp bác sĩ Văn Khoa, anh ta nói ngay:
“Thưa bác sĩ, tui muốn dành bộ não cho thí nghiệm”.
Bác sĩ quá bất ngờ nên giãy nãy:
“Đâu có giỡn chơi được, không không, không tui chưa bao giờ có ý này hết”.
Anh ta hỏi với giọng rất cứng cỏi:
“Tại sao hông được?”.
Bác sĩ than vãn:
“Trời ơi! Tui biết giải thích sao đây, tui đâu chắc thành công, tui đâu thể giết cuộc sống của anh được, mỗi người sanh ra là để được sống”.
Anh ta hỏi lại:
“Vậy bác sĩ thì sao, rồi lỡ bác sĩ đào tạo học trò không kịp thì sao?”
Bác sĩ bối rối nhưng vẫn giữ ý mình:
“Hãy chờ thêm chút thời gian, tui đang đào tạo sắp thành với lại tui đã nói rồi, tui đã gần đủ một đời”.
Anh ta nhìn thẳng mắt bác sĩ:
“Bác sĩ có thấy thời gian ngừng lại để chờ đợi bao giờ chưa? và thưa với bác sĩ không nói về thời gian sống, chỉ nói về trải qua thì tui cũng đã nếm trải gần hết những hỉ nộ ái ố của cuộc đời và cả những giây phút hạnh phúc, như vậy cũng là quá đủ, chỉ có một điều tui chưa làm được điều gì tốt đẹp cả, vậy đây chắc chắn phải là lúc cần làm, ta không còn thời gian”.
Vị bác sĩ bần thần:
“Anh có biết là trước khi tiến hành thí nghiệm phải làm tê liệt toàn thân, toàn thân không còn cử động, chỉ còn mấp môi, cử động mắt và suy nghĩ…”.
Anh ta móc ra một tờ giấy đưa cho bác sĩ:
“Dạ thưa, đây là tờ cam kết quyền sử dụng thân xác này tùy nghi của bác sĩ dù sống hay đã chết”.
Bác sĩ vẫn không chấp nhận:
“Không, không, không thể được”.
Một tháng ròng rã ngày nào anh ta cũng tới thuyết phục bác sĩ Văn Khoa, có khi anh dắt cả mẹ con nàng tình đầu tới nữa. Với sự cứng cỏi và quyết đoán, cuối cùng vị bác sĩ phải bị thuyết phục, anh ta không còn sợ không thực hiện được lời thề.

***

Anh ta nằm bất động trong phòng thí nghiệm nhưng anh ta không cô đơn. Bác sĩ Văn Khoa và học trò chia ca theo dõi gần trọn thời gian cùng với hai mẹ con nàng tình đầu tới thăm thường xuyên, à mà còn máy móc ống dẫn đủ thức chụp đủ thứ cắm trên đầu, đủ thứ cắm khắp người anh ta nữa, chúng ở bên lâu cũng như bạn bè thân thuộc, anh ta cười thầm cho ý nghĩ này. Anh ta cũng không bị tách biệt mấy với thế giới bên ngoài bằng cái ti vi và cái máy vi tính mà bác sĩ đặt thiết kế riêng cho anh ta, sử dụng bằng giọng nói.
Ba tháng trôi qua chưa một dấu hiệu tiến triển. Bác sĩ đã đổi hai ba loại thuốc. Tháng thứ năm, một ngày bác sĩ bật dậy khỏi ghế rút tấm phim dưới kính hiển vi chạy vào, mừng rỡ:
“Có dấu hiệu rồi, có dấu hiệu rồi, tui vừa tăng liều lượng chất xâm nhập vào máu, thuốc đã đi tới được vùng bí hiểm này mà không bị đồng hóa, bị tan mất, đây nè anh thấy không?”.
Anh ta cũng vui mừng lắm:
“Thấy rồi, thưa bác sĩ, hy vọng tiếp tục có tiến triển bác sĩ sẽ bào chế được phương thuốc độc đáo”.
Bác sĩ gục gật:
“Hy vọng là vậy, phải cảm ơn anh trước tiên”.
Anh ta trả lời:
“Tất cả phải cảm ơn bác sĩ, một thế giới tốt đẹp hông còn xa nữa”.
Bác sĩ trở lại bàn làm việc:
“Anh cũng đừng quá mơ mộng để rồi thất vọng”.
Năm tháng sau trên bức vách cạnh bên anh ta là năm tấm phim, tấm phim gắn lên sau cái vùng xấu xa bị tan biến mất một ít cho tới cái thứ năm thì đã biến hoàn toàn. Anh ta vui quá đỗi:
“Có thể ăn mừng được rồi phải hông bác sĩ?”.
Bác sĩ khoan thai:
“Khoan đã, phải còn một thí nghiệm nữa, chờ coi thử vùng này có dấu hiệu mọc trở lại không đã và hồi sinh cho anh trở về nguyên trạng đến lúc đó ăn mừng cũng chưa muộn”.
Người học trò nói vô, anh ta chưa nghe người này nói chuyện gì khác ngoài chuyênn môn:
“Đã chín mươi phần trăm rồi, nếu nó có mọc trở lại thì tăng liều lượng hoặc tiêm liều nữa, chỉ cần tính toán định kỳ”.
Bác sĩ gật đầu:
“Một trong hai cách đó thôi”.
Bác sĩ và người học trò bước ra phòng ngoài, bác sĩ nói:
“Thôi anh về nghỉ ngơi đi, anh đã thức cả đêm hôm qua thêm cả ngày nay nữa, nhìn anh mệt mỏi lắm rồi”.
Bác sĩ vừa dứt câu thì anh ta nghe tiếng ngã cái rầm, anh ta lịnh cho các máy quay quanh phòng và điếng hồn không thể tin vào mắt mình, người ngã nằm vật ra giữa sàn là bác sĩ Văn Khoa, người bắt đầu co giựt, miệng sùi bọt mép, bác sĩ chỉ kịp nói câu cuối cùng: “Tại sao vậy, tại sao, tại sao phải giết tui” rồi tắt lịm. Người học trò rút cái ống tim cắm nơi cổ bác sĩ, tay nắm chặc thành nắm đấm vả mím môi tỏ vẻ đắc thắng.
Anh ta quá đau đớn, anh ta muốn nhắm nghiền mắt để không phải thấy cảnh này, hai dòng nước mắt không ngăn được trào chảy xuống. Anh ta lấy hết sức mấp mấp môi cho máy tính gởi những hình ảnh này cho nàng tình đầu. Người học trò nghe được quay người trừng trừng nhìn anh ta rồi lao lại hét lớn:
“Anh vừa làm gì, vừa làm gì?”.
Anh ta bình thản:
“Anh đã quên những máy quay rồi”.
Người học trò điên tiết xô đẩy đập đá máy vi tính và ti vi. Anh ta nói:
“Anh hãy trả lời câu hỏi của bác sĩ, tại sao?”.
Người học trò gầm lên:
“Công lao là của ta, của ta, đâu để ông ta hưởng trọn được”.
Anh ta nói khinh bỉ:
“Anh điên rồi, tham lam vị kỷ làm anh điên rồi”.
Người học trò cười ha ha:
“Ta điên, ta điên cũng được nhưng ta sẽ vĩ đại”.
Anh ta mỉa mai:
“Anh đã thất bại, chút xíu nữa thôi những hình ảnh này sẽ chứng minh anh là kẻ thất bại thảm hại”.
Người học trò lại gầm lên điên tiết:
“Mày, mày đã gởi đi, mày phải câm miệng, mày phải bị tê liệt cả khuôn mặt, rồi người ta sẽ tin tao – Người học trò lao lại rút ống tim tim anh ta một mũi, khuôn mặt anh ta lập tức đơ cứng, mắt sụp xuống, miệng không còn mấp máy. Người học trò la hét cuồng loạn: Người ta sẽ tin ta, người ta sẽ tin ta”. Hắn lảo đảo chạm vào mấy cái máy nằm ngổn ngang, dây đứt chạm điện bị nẹt lửa lẹt xẹt, trở thành “con mồi ngon” cho đòng điện, người hắn bị giựt bắn liên tục rồi đổ gục, máy móc nổ lụp bụp bung bể tung tóe…
Nàng tình đầu tới được nơi thì phòng thí nghiệm chỉ còn là một đống hoang tàn. Hai cái xác một nám đen như sét đánh và một cơ thể bất động thoi thóp thở.

***

Tiếng lào xào, gào thét, hú hí ghê rợn bay tới nhưng lần này anh ta không thấy lạnh buốt sống lưng, anh ta đã biết là gì rồi, cơn gió mang linh hồn chết đã trở lại.
Cơn gió hỏi:
“Anh đã biết được mình là ai chưa?”.
Anh ta đáp:
“Ta đã biết, ta đã biết tường tận hết rồi, cảm ơn ngươi đã cho ta thời gian, bây giờ ta ra đi cũng hông có gì hối hận, ta chỉ tiếc là sự việc của bác sĩ mà ta góp sức đã không thành”.
Cơn gió an ủi:
“Ngươi cũng đừng quá đau buồn, ta nghe nói là đã có định mệnh”.
Anh ta đồng ý:
“Có lẽ vậy”.
Cơn gió tiếp:
“Vậy bây giờ theo ta được rồi chứ?”.
Anh ta định ừ, chợt nhớ lại:
“Ngươi đã giúp ta nhiều xin giúp lần cuối cho trót, cho ta thêm chút xíu nữa thôi, ta biết nàng tình đầu của ta sẽ tới ngay bây giờ”.
Cơn giớ nghe nàng tình đầu nên thông cảm:
“Cũng được, nhưng ngươi đâu cử động gì được?”.
Anh ta nói luôn:
“Hay ngươi cho ta chút sinh lực đi, đủ cho ta ngọ ngoạy ta báo cho nàng ta thương yêu nàng lắm và nàng phải chấp nhận số phận thôi”.
Cơn gió mủi lòng:
“Ta phá lệ một lần vậy”.
Lát sau anh ta nghe hai tiếng bước chân như ngày hôm trước tới, vậy là của vị giáo sư và nàng tình đầu. Sau tiếng tra chìa mở khóa nàng đứng sát bên anh ta. Vị giáo sư khám và nhìn vô máy móc rồi lắc đầu:
“Dấu hiệu xấu rồi, không thể cứu vãng”.
Nàng tình đầu cầm tay anh ta, đưa lên môi lên mũi, chợt bàn tay từ lạnh ngắt chuyển dần sang nóng hòa lẫn những giọt nước mắt của nàng nhỏ xuống, mấy ngón tay anh ta ngọ ngoạy, nàng mừng rỡ tưởng chừng có tia hy vọng nhưng nàng chưa kịp kêu lên thì bàn tay im và bắt đầu chuyển lạnh trở lại. Biểu đồ trên máy nhảy cao mấy bước sóng rồi từ từ hạ xuống và tắt. Nàng hiểu thông điệp của anh ta gởi cho nàng, nàng thì thầm: “Hẹn gặp ở thế giới khác”.
Hồn anh ta tạm biệt cái xác mình rồi bay lên theo cơn gió mang linh hồn chết. Vút một cái anh ta đã ở trong bầu trời màu tối đen và bao la, xa xa hình như anh ta thấy một ngôi sao nhấp nháy đang chừng chờ tỏa sáng. / HẾT

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN (TT)

ledachoanghuu

Cò Lân nhắn cho anh ta muốn gặp, gặp cò Lân ngồi ở quán bên bờ sông thoáng mát rất đẹp, cò Lân nâng ly bia:
“Khỏe rồi phải hông, xong xuôi ngon lành hen”.
“Dạ, cũng tàm tạm, chú kêu con có gì hông?’.
Cò Lân cười:
“Từ từ, đâu còn có đó, ăn uống chút đi, kêu vài em phục vụ ngồi chung cho vui hen”.
Anh ta giãy nãy:
“Dạ thôi, con hông cần, chú kêu cho chú”.
Cò Lân vỗ vai anh ta:
“Cái thằng nhà quê một cục, mà kêu ra ngồi cho vui chớ mần ăn gì mà la bài bãi dữ vậy, có bóng hồng cho có không khí”.
Anh ta vẫn một mực:
“Dạ, con thôi, chú cứ kêu cho chú”.
Cò Lân thấy anh ta kiên quyết, đành thôi, kêu hai cô một ngồi cạnh mình một cho ông bạn giới thiệu làm sếp lớn tên Hưởng. Có Lân thủng thẳng:
“Nhà chú em mày xây kiểu đẹp quá chừng, ai cũng khen hết nước”.
Anh ta khiêm tốn:
“Dạ, cũng được được, may có thằng bạn giới thiệu thêm thằng bạn làm kiến trúc sư, chỗ bạn bè thâm tình nó vẽ hết ý”.
Cò Lân vỗ vỗ vai cô em phục vụ:
“Đó, ăn tiền là chỗ đó, như bờ vai em đây thấy hông, ai hổng mê, biết bao thằng chết cũng vì đây mà ra” – Cò Lân cười ha ha, xoa xoa vai em phục vụ, phía bên kia ông bạn cũng vậy, kề môi hun cái chóc vô má cô em bên mình, rồi đưa ngón tay cái lên:
“Cò Lân nói chí phải, chí phải, cái đẹp là số một, phải biết thưởng thức”.
Anh ta giả lả theo:
“Dạ, cái đẹp là phải mê”.
Cò Lân chỉ anh ta:
“Thằng em mày trúng mánh rồi đó nhen”.
Anh ta nhíu mày:
“Dạ, trúng gì chú?”.
“Thì căn nhà mới xây đó, có người mê mệt nên trả giá một trăm hai chục cây, gật đầu là họ chồng tiền tiền, đúng giá là một trăm vậy lời hai chục hông vô mánh là gì – Cò Lân tiếp: Một trăm hai chục cây, dành vài chục cất lại căn nhà còn vài chục đầu tư tiếp, đất cát đang lên, biết chỗ sẽ vô mánh lớn”.
Anh ta suy nghĩ:
“Nhưng mà con đâu có biết mấy vụ này, làm gì biết ở đâu”.
Có Lân nảy người:
“Cái thằng y như vợ thằng Đậu, khờ hết chỗ nói, bộ người ta sanh ra tự nhiên biết hết à, vậy cần gì trường lớp, cần gì học hỏi. Học trường đời cũng là học, học theo chú mày nè, đi theo chú mày nè thì từ từ sẽ biết, chú mày ngày xưa cũng vậy, có mấy lão tiền bối dẫn dắt rồi gặp thêm nhiều bạn bè mần ăn, gặp những sếp lớn, Trời! tối ngày ngồi ở đáy giếng riết có biết gì, có nhìn thấy Thái Sơn đâu, chú Hưởng đây mày biết làm gì hông, ổng làm trùm quy hoạch đó, ở đâu ổng hông biết, ở đâu ỏng hông rành, tao chơi là chơi trực tiếp như vậy mới khá chớ mậy, đúng hông anh Hưởng?”.
Ông Hưởng buông tay đang ôm riết cô em phục vụ, quay qua cười hề hề:
“Ai nói tui hổng nghe chớ anh nói sao trật được – Đưa tay chỉ qua bên kia sông ông nói tiếp: Đó, bên đó đó là tương lai, đã có hướng mở rộng qua bển nhưng chưa ai biết nhiều đâu, đất bên đó còn rẻ òm, đất như chổ nhà thằng này hồi trước, đất ao hồ với đất ruộng hông thôi”.
Cò Lân gục gật:
“Có dự án rồi hả anh?”.
Ông Hưởng gật đầu:
“Đang làm quy hoạch, đầu tư ngay bây giờ là vừa, nửa năm nữa thôi nó lên vùn vụt cho mà coi”.
Cò Lân quay qua hun cô phục vụ cái chóc:
“Hà hà hà, hun cái lấy hên coi, mai tui qua bển tui coi, tui mua đứt vài miếng – Quay qua anh ta, cò Lân nói: Tao biết chú mày còn sợ, cứ về suy nghĩ vài bữa, mày làm vài vố bằng cả đời mày đi cày, nhịp giò mà ăn, mà nói thiệt đi theo tao tao chỉ cho rồi tự làm ăn riêng, tự đầu tư chẳng có hùn hạp sinh mích lòng, chủ yếu đông đông cho có tụ nó vui, tao làm ăn uy tín chẳng lừa gạt ai”.
Anh ta gật đầu:
“Chú cho con vài bữa”.

***

Về nhà tiếp tục gát tay lên trán suy nghĩ, gát tay là cố tật không bỏ được. Lời vang vọng của cò Lân cũng không sai, chỉ có vụ lén phéng với em út, chơi bời, chuyện này thì anh ta chống chọi được. Anh ta áp vài tiêu chí phủ lên tên lý trí, dằng lòng tham lam, không vượt ranh giới phi pháp. Cuối cùng anh ta theo vậy mà làm, bán căn nhà đẹp, xây tiếp căn nhà mới và sang mấy miếng đất cạnh đất cò Lân và ông Hưởng, dĩ nhiên ông Hưởng đâu có ra mặt, đâu có đứng tên. Không nằm ngoài dự đoán, đất ngày càng lên chớ không giảm, những nơi trước còn như đồng hoang nay vụt biến thành đô thị, giá cả nhảy cóc lên trời. Anh ta cũng gần như một bước lên tới đỉnh.
Trong cuộc đời có những cái dài vô tận, không có giới hạn tận cùng. Ở trên đỉnh này ta lại thấy đỉnh khác. Và thông thường cái gì nó cũng phải tương hợp với nhau, ở dưới đáy xã hội thì anh ta gắn chặc với chiếc xe cừ tràm, lên đỉnh anh ta cũng phải đổi khác, phải vác vợt tenis đi đi về về trên chiếc xe cáu cạnh. Anh ta quen biết rộng hơn, cấp cao hơn. Danh dự cũng cần cao hơn, cần cắt đi cái đuôi là tay cò. Bây giờ phải là nhà môi giới, phải là công ty dịch vụ… Anh ta sai thằng em, đã thu nạp làm mấy đệ tử lâu nay:
“Ê, mai mày chạy lại thằng Báo hỏi cần bao nhiêu giấy tờ gì để lo một thể, bỏ bao nhiêu vô phong bì, làm nhanh cho tao ra cái giấy, sắm sửa máy móc bàn ghế văn phòng gì thì báo tao rồi làm luôn”.
Tay đệ tử dạ:
“Anh đứng làm giám đốc?”.
Anh ta vuốt râu:
“Hay mày thay tao đứng?”.
Tay đệ tử nhún vai:
“Anh nói giỡn hoài” – rồi cười hề hề chạy răm rắp.
Nửa tháng sau một văn phòng khang trang mọc lên. Trên giấy tờ bây giờ là chữ ký rẹt rẹt của anh ta cùng con dấu tròn đỏ chót, công ty TNHH dịch vụ… Ngày khai trương xe hơi đậu hàng hàng, lẳng hoa chúc mừng rợp trời, tiếng trống lân rộng ràng như ngày hội. Khui vài chai champagne nổ bóc bóc, bọt trào và bắn tia vút vút với tiệc đứng nhẹ nhàng, xong là cùng kéo ra nhà hàng, bia tuôn xối xả, tiếp ai còn nhã hứng thì tới tăng ba, quẹo vô chỗ có em út, vui chơi chút đỉnh. Nhóm anh ta đang nhậu nhẹt, ca hát, vài người chăm chú hú hí chợt bà chủ chạy ào lên, líu ríu:
“Mấy anh thông cảm, cho các em nó tạm nghỉ chút, chút thôi thì trở lại liền”.
Có người thắc mắc:
“Có chuyện gì, đang vui mà”.
Bà chủ nho nhỏ tiếp:
“Dạ, mấy anh thông cảm, kề bên nhà hàng giống mình đang bị kiểm tra, hốt mấy đứa, mình thì hông có gì tụi em lo rồi nhưng cũng tránh chút, được báo động tạm lánh, chút xong thì cho mấy em trở ra”.
Cò Lân phẩy tay:
“Tưởng khỉ mẹ gì, cứ chơi tiếp đi để tui lo, đừng làm mấy anh đây mắc hứng, mấy cái thằng bên đó làm ăn bố láo mới bị vậy chớ gì – Cò Lân móc điện thoại nói chuyện một hồi rồi đưa điện thoại cho bà chủ nói tiếp một chập, nói xong bà chủ rối rít:
“Dạ, em cảm ơn mấy anh, hông ngờ mấy anh quen lớn dữ, mấy anh cũng thứ dữ không đây, có gì nhờ mấy anh giúp đỡ thêm. Thôi mấy anh chơi tiếp, chầu này coi như em đãi, mấy đứa nhỏ phục vụ mấy anh tận tình nghe chưa, anh nào có nhã ý kiếm phòng riêng thì liệu mà tiếp đàng hoàng – bà ta cười cợt nhả: mấy anh đại gia đây sẵn lòng lo gì – Ba ta đưa tay xoẹt xoẹt kiểu đếm tiền cười he hé”.
Cò Lân khề khà:
“Để tui giới thiệu mấy mối, anh em lo cho đứng vững như bàn thạch, khỏi sợ kiểm tra kiểm chiết”.
Bà chủ rón rén chào đi ra, cảm ơn không ngớt…
Vài năm sau cơn sốt nhà đất chững lại nhưng với anh ta thì đều đều thăng tiến. Ai hỏi đường mần ăn anh ta gục gật: “Lai rai, lai rai đủ xài”.

***

Chuông điện thoại reng, cô trực bàn nghe máy, có người cần gặp giám đốc, anh ta cầm máy:
“Dạ, alô, tui nghe”.
Đầu dây bên kia:
“Tui đây, Phán đây, Phán lụi nhớ hông, Phán chỗ hay ngồi với cò Lân”.
Anh ta nhanh nhảu:
“Nhớ, nhớ chớ sao hông, lâu quá chưa gặp, anh dạo này khỏe hông?”.
Phán lụi trả lời:
“Khỏe, khỏe ru bà rù nên mới định gầy sòng rủ chú em mày ra chơi rồi sẵng bàn chút chuyện”.
Anh ta nói được, trưa gặp.
Trưa, đệ tử đưa anh ta tới, gặp Phán lụi đã ngồi chờ sẵn, tay bắt mặt mừng, Phán lụi khen:
“Ngày càng phong độ ra hen”.
Anh ta khen lại:
“Anh cũng vậy, làm ăn vẫn đều đều chớ anh”.
Phán lụi đưa ly:
“Cạn trăm trăm nghen, làm ăn cũng đều đều, mà mới có vụ này, dự án hơi lớn phải ba bốn người mới làm nổi nên định kéo chú mày vô, vụ này ngon hết ý, vô là trúng đậm”.
Anh ta cạn ly:
“Chơi thì chơi, bịnh gì cử”.
Phán lụi đập tay xuống bàn:
“Anh mày khoái mày chỗ đó, làm ăn phải vậy, bây giờ nhậu thôi, mai anh dẫn đi coi đất, hông ngon hông làm anh mày”.
Đúng hẹn sáng hôm sau anh ta cùng Phán lụi và mấy người nữa đi coi đất. Rảo một vòng quanh quanh đất muốn mỏi chân. Khu đất độ khoảng hai hecta, có nhiều ngôi nhà nhỏ chủ yếu là nhà lá và nhà cây gỗ lợp tôn, một vài căn nhà xây. Đi dạo đất này nhớ lại giống ngày nào ở quê, những ký ức ùa về nên anh ta có chút thơ thẩn, mọi người đi đã ra hết anh ta còn một mình lững thững, lâu sau mới trở ra tới căn nhà đầu đường đi vào, đang rất vui thì bất ngờ sựng lại, bên cạnh đường có hai người một già một trẻ đứng sát cổng chống tay tựa cây cuốc nhìn anh ta chằm chằm, anh chàng trẻ bặm môi với anh mắt đằng đằng sát khí. Anh ta khó hiểu đem chuyện hỏi, Phán lụi vỗ vai:
“Chuyện nhỏ, hai cha con cứng đầu đó hả rồi cũng phải mềm thôi, mày cứ để anh mày lo”.
Anh ta hỏi lại:
“Có chuyện gì?”.
Ba Sậu làm ăn chung đáp:
“Cả khu này ai cũng đồng ý bán hết rồi, anh mày đưa cái bản quy hoạch treo ra ai cũng ngán hết, chỉ còn hai cha con này thôi”.
Anh ta thắc mắc:
“Họ chưa chịu giá sao, mình nâng cho họ chút chớ có gì, hông mua được chỗ này thì bên trong coi như đâu giá trị, ủa mà nãy anh nói đã nằm trong quy hoạch?”.
Phán lụi cười khẩy:
“Thằng em mày tệ thiệt, chỗ đó mới ăn đậm, quy hoạch mình chạy điều chỉnh mấy hồi, còn chuyện giá cả thì một căn mình nâng gấp đôi cũng được nhưng hổng phải, hai cha con kêu đất hương hỏa, cha ông để lại phải giữ, mà nhà đó gần chục người chia hai phe, phe ăn chơi đòi bán còn phe ông bà già với thằng nhỏ và một hai người nữa thì giữ. Chú mày cứ yên tâm để anh mày lo, đã có cách nắm thóp phe kia”.
Ba Sậu hỏi:
“Mày có cách rồi hả Phán”.
Phán lụi hề hề:
“Đi theo tui về quán nhậu. tui cho thấy, Phán lụi này trăm mưu ngàn kế”.
Cả đám kéo nhau tới quán nhậu. phán lụi móc điện thoại ra bấm:
“Tài đại ca phải hông, Phán lụi nè?”.
Bên kia hỏi lại:
“Dạ, anh Phán có gì hông anh?”.
“Mày ra đây với anh mày chút coi, nhờ chút việc”.
Chừng mười lăm phút sau Tài đại ca tới, Ba Sậu chỉ vào cái ghế:
“Ngồi đi, chạy nhanh dữ đại ca”.
Tài đại ca kéo ghế:
“Mấy anh kêu em lại liền chớ đâu dám trễ, gặp mấy anh em là tiểu ca chớ làm gì còn đại ca”.
Cụng bia lốp cốp, Phán lụi mở lời:
“Tao có vụ này nhờ mày”.
Tài đại ca uống ừng ực, uống bia như nước lã:
“Mấy anh cứ nói, xử được là em xử”.
Phán lụi chậm rãi:
“Mày biết nhà cha Hai Nẫm gần xóm mày đó, có hai thằng con ăn chơi mượn tiền chị tao hông chịu trả…”.
Tài đại ca ngắt lời:
“Đ.m nhà Hai Nẫm đầu đường chớ đâu, đại ca để em, ba mươi giây nó trả hông thiếu một cắc, mấy thằng này bao lăm hơi”.
Phán lụi đưa tay cản lại:
“Hông hông, chưa cần đòi, nghe theo anh mày – Phán lụi móc ra hai cọc tiền dày, đầy qua cho Tài đại ca: Mày giữ một cọc anh em xài, cọc còn lại mày gài người cho hai anh em kia mượn”.
Tài đại ca thấy tiền mắt sáng rỡ:
“Nhiều quá đại ca”.
Phán lụi hất đầu:
“Bi nhiêu đó chưa ăn thua, xong vụ việc tao cho gấp mấy, mày cho nó mượn viết giấy đàng hoàng, chừng tháng sau kêu trả, nó lấy tiền đâu trả, tụi bây cho người xuống nhà quậy banh cho tao”.
Tài đại ca cười lớn:
“Nghề của em, mấy đại ca đừng lo, đ.m. quậy tới luôn hả?”.
Tài Phán gật đầu:
“Má nó quậy tới, có chuyện gì tụi bây tao lãnh, tao dàn xếp”.
Tài đại ca hề hề:
“Em hiểu mấy đại ca mà, em làm hông đẹp hông ăn tiền”.

***

Phán lụi cho kế thâm độc, anh ta đắn đo mấy bữa rồi gặp lại, anh ta nói thiệt tình:
“Anh Phán à, vụ này em thấy ngan ngán sao á”.
Phán lụi phì môi:
“Ngán ngán cái con mẹ gì, làm ăn là phải vậy, phải có kế phải có chước”.
Anh ta nhỏ nhẹ:
“Nhưng chước quỷ quá chẳng có hay”.
Phán lụi cằn nhằn thêm:
“Mày cứ lo nhiều thằng quỷ kế hà rầm, ăn thua đủ đầy đống, có chơi là phải có chịu”.
Anh ta mín môi:
“Hay anh cho em rút”.
Phán lụi trợn mắt:
“Nói chơi mậy, làm ăn gì kỳ cục, hứa phải có uy tín chớ, mày làm như cái chợ muốn vô thì vô muốn ra thì ra, rồi tao ăn nói với anh em sao đây?”.
Anh lý nhí:
“Em đâu có nghĩ làm như vậy”.
Phán lụi ngẫm nghĩ một hồi rồi xuống giọng:
“Tao cũng nói tình thiệt có mày hùn nữa mới đủ, phải chi mày nói sớm tao còn chạy được, giờ tao biết chạy đâu, thôi vầy mày cứ yên chí, mấy cái vụ này coi như mày hông dính tới mày chỉ bỏ tiền, tao lo hết tao chịu hết, dĩ nhiên xong chia thì thằng nào nhiều công sức thằng đó được chia nhiều, mày thấy sao?”.
Anh ta đã lỡ leo lưng cọp, đâu có thể nhảy xuống, cọp quay lại vồ không còn miếng xương, mưu ma chước quỷ trước mắt anh ta đó thôi, chẳng dám nghĩ ngợi thêm nữa anh ta đành miễng cưỡng gật đầu, hứa với mình sẽ một vụ này thôi không dính dáng Phán lụi nữa.
Tài đại ca theo y quỷ kế của Phán lụi cùng với sự tiếp tay của vài người công quyền chẳng bao lâu sau gia đình ông Hai Nẫm buột phải bán căn nhà. Nhưng đó chưa phải là nỗi bi đát, kết cục còn mang một nỗi đau tận cùng. Trong một phút nóng giận, người con út của ông Hai Nẫm, người cương quyết giữ lại mảnh đất hương quả của cha ông để có chỗ mà thờ tự đã ra tay oánh trọng thương một đàn em của Tài đại ca, nhận một bản án tù đè nặng lên người, thêm một bản án lương tâm, nhà tan cửa nát, nồi da xáo thịt, anh em gia đình từ mặt nhau, mỗi người mỗi ngã, cha mẹ già chẳng hưởng được phúc phải oằn lưng ra vào trại giam lo cho người con út. Và sau này những người ăn chơi tiền chia từ bán nhà chưa kịp ráo tay, xe mới chưa chạy tróc xi đã quay ra ở nhà thuê nhà mướn, chúi mũi xuống vũng bùn.
Phán lụi, Ba Sậu và bộ sậu hả hê với món lợi kếch xù. Ngày chia chác anh ta cũng ôm một bọc tiền, một bọc tiền tổ bố lại đè lòng nặng trĩu, duy chỉ có chút an ủi, anh ta đã âm thầm tự bỏ tiền chạy chọt, cái án dành cho con ông Hai Nẫm đã nhẹ đi bảy tám phần.

***

Anh ta trở lại với công việc như trước đây, cố quên phi vụ vừa qua với Phán lụi.
Một đêm yên lành, người rất thư thái anh ta bỗng gặp giấc mơ. Không phải là những cơn ác mộng như đã từng gặp, không phải thấy mình chết không toàn thây, không phải bị neo mình xuống chín tầng địa ngục, không phải bị quỷ dữ hay những đàn ma bu quanh cấu xé, xiết họng không còn thở… Giấc mơ này khi tỉnh giấc anh ta lại run cầm cập, người thất thần mất hồn vía, mồ hôi mồ kê vã ra như tắm bởi nó giống thật. Anh ta thấy mình nằm giữa cơn gió xoáy, gió xoáy cuồn cuộn nhiều vòng rất lâu rồi cuốn lên cao, anh ta bị cuốn theo trong vòng xoáy với bao quanh là những đồng tiền cũng bị cuốn tung theo mù mịt, chới với, lúc anh ta với tay chụp lấy những tờ tiền giữ khư khư, lúc anh ta buông xuôi, người lơ lửng lộn ngược lên xuống, lúc tìm chỗ bấu víu nhưng xung quanh chỉ là những bức tường thành vô hình, lúc anh ta muốn thoát ra khỏi vòng xoáy… Anh ta thức tỉnh giấc mơ vẫn chưa kết thúc, không biết mình ra sao, cơn gió xoáy như thế nào, lồm cồm ngồi dậy pha trà như ông cụ già không ngủ vì tuổi tác bởi anh ta nằm xuống chợp mắt thì ám ảnh giấc mơ lại hiện về, hiện về rõ y như ban đầu và không đoạn kết.
Nhấm từng ngụm trà thì sực nhớ tới những cơn gió và những linh hồn, anh ta đã quên bẵng bấy lâu nay. Anh ta gọi, và cơn gió xoáy xoáy tới, anh ta ôm mặt không dám dòm:
“Giấc mơ là sự thật, ta đang mang linh hồn của ngươi?”.
Cơn gió xoáy trả lời gọn lỏn:
“Phải”.
Anh ta bối rối:
“Ta phải làm gì bây giờ, ta phải sao?”.
Cơn gió lúc lắc như người ta lúc lắc bàn tay:
“Tùy anh mà thôi, ta không biết, ta đang trong cuộc chiến, ta mạnh thì ta thắng, ta yếu ta thua” – Cơn gió cười ha ha xoáy bay mất.
Anh ta sững người nhìn theo cơn gió, không nghĩ được điều gì, khuất cơn gió anh ta lại nhìn trời, hết trời rồi cuối xuống ôm đầu, có phần tuyệt vọng, chán chường.

***

Cả ngày hôm sau anh ta cứ tới lui, lui tới trong văn phòng, ai hỏi gì tự dưng anh ta cũng gắt gỏng thậm chí còn nộ nạt. Một thái độ mà chưa bao giờ nhân viên từng thấy, ai cũng muốn hỏi có chuyện gì, muốn chia sẻ nhưng vừa mở miệng đã bị anh ta chặn họng. Tay đệ tử ruột đi theo anh ta từ ngày đầu mon men lại:
“Dạ, có chuyện gì ghê gớm quá vậy anh?”.
Anh ta quay ngoắc lại:
“Chuyện gì hỏi làm chi… đi… – May vừa lúc đó có chuông điện thoại, cô trực bàn nói có cò Lân gọi. Anh ta sẵn giọng: nói hông có ở đây – suy nghĩ lại anh ta kêu để nghe: có gì hông chú Lân”
Cò Lân nói:
“Có chuyến đi Đà Lạt nghỉ ngơi, đi chơi với anh mày?”.
Anh ta nghe nghỉ ngơi, tránh xa cái xô bồ, cái cơn gió ám ảnh, nhưng hỏi lại:
“Đi đông hông, có đám Phán lụi hông?”.
Cò Lân đáp:
“Hông, đông làm gì mệt, có ba anh em thôi, thêm chú em mày là bốn hông có đám Phán lụi”.
Anh ta như vớt được phao cứu sinh:
“Đi luôn, chừng nào?”.
Cò Lân trả lời:
“Sáng mơi”.
Anh ta gật đầu:
“Rồi, sáng mơi gặp”.

***

Sáng sớm chiếc xe bảy chỗ láng cóng của cò Lân rà trước cửa, bóp kèn mấy tiếng, anh ta với tay lấy cái ba lô vọt ra nhảy lên. Trên xe ngoài cò Lân còn hai người nữa, đưa tay bắt anh ta cười:
“Trời, tưởng ai, chà cũng gần chục năm mới gặp lại hen, sao khỏe hông anh Mẫm, anh Hội?”.
Tay Mẫm mau mắn:
“Khỏe chớ, khỏe mới đi chơi được chớ”.
Anh ta tiếp:
“Giờ hai ông làm gì rồi?”.
Cò Lân ngồi ghế trước quay lại:
“Đù, hai thằng này giờ ngon, thằng Mẫm có bằng bác sĩ đàng hoàng, còn thành đại gia, có hàng chục cái đại lý thuốc tây chú mày chẳng biết gì sao?”.
Tay Mẫm đính chính:
“Bằng dược sĩ chú ơi, người ta kêu Mẫm dược đó”.
Cò Lân nói lại:
“Thì cũng gần như nhau, bác sĩ dược sĩ”.
Anh ta ngỡ ngàng:
“Hay quá vậy cha, nhớ lúc trước tui chỉ chỗ cho ông chạy cái bằng tốt nghiệp mười hai”.
Mẫm dược nhún vai:
“Thì chạy tiếp, có tiền mua tiên cũng được mà, mua xong lại làm ra tiền” – Mẫm dược cười ha ha. Anh ta nói vui:
“Cha bán thuốc mà cha biết đọc tên thuốc hông đó?”.
Cò Lân chen vô:
“Nó đọc được tao chết liền”.
Mẫm dược vỗ đùi cười the thé:
“Đó, chỗ đó đó, tui chẳng biết đọc tên thuốc chớ tay nào không muốn chết liền, muốn sống là phải tìm tới tui mua thuốc à nha, nhiều thuốc chỉ tui mới có à hông giỡn chơi đâu”.
Cò Lân hí hí:
“Thì mày cũng chạy, cũng kiếm mối ăn chia độc quyền”.
Mẫm dược chẳng ngần ngài:
“Thời buổi giờ cái gì hông chạy, à, thằng Hội hè này cũng vậy chớ gì, mẹ nó từ học chuyên tu tại chức khỉ gió gì đó giờ cũng sắp làm luận án tiến sĩ như ai”.
Hội hè nãy giờ ngồi mỉm cười lên tiếng:
“Cha nội, hồi học đại học có học đàng hoàng chớ hông như cha, chỉ khi lên cao học mới tà tà, nhậu nhẹt với mấy ông thầy là chính, còn để làm luận án tiến sĩ cũng chua bỏ mẹ, bộ lót tay ít à”.
Mẫm dược cười khà:
“Kệ mẹ đi, ai nói gì nói, giáo sư tiến sĩ giấy gì cũng được, có cái để lòe để làm ăn là ngon cơm”.
Cò Lân, Hội hè gục gật, anh ta dù buồn buồn cũng gục gật theo.

***

Xế chiều Đà Lạt mộng mơ xuất hiện trước tầm mắt. Xe tới một khách sạn sang trọng, bốn người bước ra dang tay hít mạnh bầu không khí. Anh ta thấy sảng khoái:
“Chà mùa thu Đà Lạt tuyệt vời!”.
Cò Lân lúng liếng:
“Vậy mới rủ chú em mày đi thưởng thức chớ”.
Chừng tiếng sau, tài xế đưa chiếc xe láng cóng vòng một vòng Đà Lạt rồi tấp vô một nhà sang trọng không kém ai.
Năm giờ rưỡi có hai vị khách xuất hiện. Cò Lân cho rót đầy ly rượu vang giới thiệu, chỉ người già hơn:
“Đây là anh Chín Của, ảnh cán bộ gộc, ở tuốt luốt trên á chớ hổng phải sở, phòng đâu à nha”.
Mẫm dược đưa ly cụng:
“Dạ, tụi em hân hạnh được gặp anh”.
Cò Lân chỉ tiếp người trẻ hơn:
“Chú này là chú Khoát, ở Sài Gòn mình luôn, kêu Khoát tham mưu, tham mưu có hạng, kiểu như ở nước ngoài người ta kêu là vận động hành lang”.
Khoát tham mưu đắc chí đưa ly cụng tiếp:
“Nâng ly chúc mừng hội ngộ”.
Khoái tham mưu trịnh trọng:
“Rất mừng được gặp anh em, tụi tui đi dự hội thảo trên Đà Lạt này, còn hai ngày, anh em ở chơi bao lâu?”.
Cò Lân thủng thẳng:
“Chú với anh Chín ở bao lâu tụi này ở bấy lâu, mà nói vậy nè, bữa nay lo hội thảo mệt rồi hông bàn chuyện làm ăn gì nghe, chơi xả cảng vài bữa đi, xong xuôi công việc rồi tính”.
Khoát tham mưu gật đầu:
“Ý anh đúng ý tui, giải trí cái đã”.
Vậy là cả bàn chỉ nói chuyện ăn nhậu và em út. Lúc ngà cò Lân rỉ tai anh ta:
“Mẹ, thằng này đao to búa lớn tỏ vẻ thấy ớn, muốn làm oai với thiên hạ, ở dưới kêu nó là thằng thầy dùi, Khoát dùi chớ mẹ gì”.

***

Hai ngày hôm sau lòng vòng cho hết Đà Lạt và nhậu nhẹt, ngày thứ ba tụ họp với băng Khoát dùi. Có Lân mở màn:
“Có phi vụ làm lớn gì mà mấy anh hú tụi này lên đây?”.
Chín Của trả lời:
“Đà Lạt mùa này mát mẻ, thư thả bàn chuyện làm ăn cho nó nên chuyện, chú Khoát vừa tham mưu cho tụi tui thấy có lý lắm, vụ này nếu thành, mà chắc phải thành chớ là cần rất nhiều vốn liếng, cần tập hợp nguồn vốn đó – Chỉ Khoát dùi, Chín của tiếp: Chú mày trình bày anh em nghe đi”.
Khoát dùi nhè nhẹ:
“Thằng Khoát này mà tham mưu là tính toán rất kỹ lắm, thấy ăn mới chơi, bảo đảm phải thành. Là vầy, các anh thấy hiện nay cả nước biết bao nhiêu cán bộ nhân viên nhà nước, người có công… được cấp nhà cho ở, cho thuê, nhiều lắm đúng hông. Mình chỉ cần tính tới những căn lớn, biệt thự. Nhiều căn ngon lắm ở trung tâm thành phố, ở ngay thị tứ nữa, giá cả đâu có ít, giá trị khỏi phải bàn. Mà giờ đùng cái nhà nước kêu lấy lại thì sao được, loạn lên liền à, người ta ở đâu, bán luôn thì người ta lấy tiền đâu mua, ngay cả theo giá của nhà nước, đa số những người làm lương ba cọc ba đồng, những cán bộ, người có công ngày trước có gì xơ múi, chấm mút được bao nhiêu, nếu cắc ca cắc củm cũng chỉ có dư chút đỉnh…”.
Chín Của chen vô:
“Chú em mày nói đúng như chú đây nghèo xác nghèo xơ”.
Cò Lân cười khà:
“Anh Chín mà nghèo hen, chục căn anh cũng có chớ nói chi một, mà chú Khoát nói tui thấy lại đi về chỗ cũ, tui hiểu chú là muốn những căn nhà đó…”
Chín Của ngắt lời:
“Anh nói quá, tui nghèo thiệt, thôi bỏ qua chuyện này, trở về chuyện tham mưu độc của chú Khoát, nói tiếp đi”.
Khoát dùi tiếp:
“Tham mưu với anh Chín tính là cứ cho hóa giá những nhà đó nhà nước được tiếng, có chế độ chính sách chăm lo chu toàn nhưng phải cho thời hạn ngắn thôi”.
Cò Lân đập tay xuống bàn:
“Hiểu chú rồi, thời gian ngắn là người ta hông đủ chạy vạy, mượn đầu này đầu kia để mà chồng đủ”.
Chín Của gật đầu:
“Hiểu ra rồi hen”.
Mẫm dược xen vô:
“Nhưng người ta vay ngân hàng?”.
Khoát dùi phẩy tay:
“Lấy cái gì thế chấp, nhà nhà nước chớ bộ cha nội”.
Mẫm dược gục gật:
“Ờ hén, rồi bước kế tiếp”.
Khoát dùi tiếp:
“Để tui nói hết đã mấy anh cho ý kiến, giá nhà hóa giá thì chỉ bằng góc giá thị trường, mình đưa ra bằng một nửa luôn nhà nước sẽ có lợi đôi điều, vừa có tiền vừa có tiếng, lợi nhuận mình có được cũng phải hứa chia bao nhiêu cho mấy ông ký duyệt thì sao hông thành được – Nghỉ nhấp ly bia, Khoát dùi búng tay cười hà: Bây giờ mới cần mấy ông nè, mấy ông cứ bỏ tiền ra, tui sẽ cho đội ngũ tới nói chuyện với họ, mình đi với người công quyền chỗ như anh Chín đây thì họ tin chắc. Mình sẽ ứng toàn bộ tiền để họ mua hóa giá nhưng với điều kiện xong phải bán lại cho mình, mình mua cao lên một bậc nữa, chắc chắn họ sẽ đống ý, có một khoản tiền mà lớn chớ đâu nhỏ còn hơn tự dưng mất trắng sao”.
Hội hè vỗ đùi cái bốp:
“Hay, cha này kế như thần, hay quá hay”.
Mẫm dược lẩm nhẩm:
“Tỷ như một căn như vậy hóa giá chừng năm trăm cây, đúng giá nhà nước chỉ chừng hai trăm, nhà nước có thêm ba trăm, mình mua lại tám trăm, người ta nháy mắt có ba trăm là quá ngon dễ hông chịu, sau mình bán lại hông dưới một ngàn, lời hai trăm nhưng lấy số nhiều, nhiều vô kể”.
Khoát dùi đắc chí cười he hé, cả bàn cùng cười theo, cò Lân gục gật:
“Diệu kế, diệu kế”.
Anh ta thắc mắc:
“Nhưng làm sao thay đổi giá, nhà nước có quy định giá cả hết trơn rồi”.
Chín Của ngồi gần vỗ vai anh ta:
“Chú mày còn nai quá, đã có mưu kế lớn, thì sẽ có sách lượt, có hàng hàng chiêu nhỏ đi kèm, thiếu gì cách, sửa cái này chút cái kia chút, thêm thắc cái nọ chút cái ấy chút là xong, mấy cái đó tui lo”.
Hội hè tán đồng:
“Nghề của anh Chín mà, ảnh lo tuốt luột – Hội hè cười hé hé: ấy ấy chút, ấy ấy còn gin ảnh còn có mà ”.
Chín Của được tâng càng khoái chí:
“Vậy đi nghen, mưu này tui khoái, làm êm đẹp bằng trí chẳng đính dáng gì với binh đao máu lửa, anh em cứ chuẩn bị vốn liếng ta oánh một trận, thắng lên luôn thiên đường, vô cạn hết nè, bây giờ chơi tới luôn”.
Cả bàn nâng ly vui như hội.

***
Trở về Sài Gòn ba bốn ngày sau anh ta còn chưa lấy lại nhịp, Sài Gòn nóng bức, tất bật, Đà Lạt thì thời gian chầm chậm trôi, người tĩnh lặng. Anh ta chạy ra bờ sông vừa hóng mát vừa đắm chìm với mưu kế của Khoát dùi. Đang ngồi trầm tư nhìn dòng sông êm đềm chảy thì tay đệ tử chở dì Năm su ào ào chạy tới, dì Năm bu lu bu loa:
“Chú ơi, cứu ổng với, cứu giúp với chú ơi”.
Anh ta thảng thốt”
“Có chuyện gì vậy dì, có chuyện gì dì từ từ nói”.
Dì Nằm mếu máo:
“Ổng bị bắt nhốt rồi, tui cũng chẳng biết chuyện gì nữa, người ta nói ổng lừa đảo”.
Anh ta không thể ngạc nhiên hơn:
“Chú Năm lừa đảo, chú Năm mà lừa đảo hả trời, làm gì có được, mà người ta nói chú lừa của ai”.
Dì Năm lắc đầu:
“Nói lừa tùm lum, lừa cả nhà nước”.
Anh Ta thở dài:
“Chắc người ta lộn hay sao đó dì ơi, không thể có được chuyện này, chú Năm con rành lắm, để con coi sao – Anh ta đứng dậy: Dì cứ yên tâm, để con lo”.
Chạy ngay lên gặp được chú Năm đang ngồi sau song sắt tiền tụy, thiểu não, anh ta nghẹn ngào:
“Con xin lỗi chú, bấy lâu nay cứ chạy theo mần ăn, chẳng ngó ngàng gì tới chú”.
Chú Năm cũng nghẹn ngào:
“Lỗi tại chú mà, cháu đã kêu chú về mà chú đâu có chịu, chú cũng đâu cần tiền gì nhiều, chú chạy xe ôm cho vui với mấy người mối quen kiếm tiền cà phê thuốc lá, hông ngờ một phút yếu lòng, ham damh mà ra nông nổi”.
“Chú bị gạt phải hông?”.
Chú Năm cúi đầu:
“Hổng biết có phải bị ăn bùa mê thuốc lú hông mà vậy, từng này tuổi đầu còn bị, thiệt là ê chề”.
Anh ta an ủi:
“Đừng nói vậy chú, bảy mươi chưa chắc là lành, chuyện là sao chú nói đi để con còn gỡ”.
Chú Năm lý nhí:
“Chú bị mụ mẫn với cái văn phòng đẹp mắt, cái thằng giả Việt kiều, mượn chú giấy tờ để đăng ký nhờ chú đứng làm giám đốc dùm, nó làm ăn gian dối lừa đảo, vay tiền đầu này đầu nọ tứ tung rồi biến mất để lại một đống cho chú, đã vậy chú còn lôi kéo thêm thằng bạn nữa, nó làm phó giám đốc, thiệt là oan khiêng”.
Anh ta hiều ra:
“Đúng là lừa đảo, chú chỉ bị lừa gạt thôi hông sao đâu chú, con sẽ cố lo chú khỏi tù tội, hậu quả con lo phần nào”.
Chú Năm cảm động:
“Chú cảm ơn cháu, cháu là người tốt”.
Chú Năm và ông bạn được thả nhưng cái nghiệt ngã thì chưa hết đeo bám. Một tuần sau bị cú sốc nặng, tiếng đời dèm pha, bạn chú Năm không chịu đựng nổi phải tìm tới cái chết. Anh ta và chú Năm tức tốc lên bện viện nơi lưu xác. Người bệnh viện cứ lấp la lấp lửng lúc khám ngiệm, lúc chưa, lúc chờ… Một người đàn ông chạy xe bảnh tỏn tới gặp, hỏi anh ta và chú Năm:
“Hai ông là người nhà của người tự tử vừa chết?”.
Anh ta và chú Năm gật đầu, anh ta đưa tờ giấy cười tươi:
“Tui là dịch vụ mai táng, tui đưa báo giá hai anh coi tham khảo bảo đảm giá mềm, hàng tốt, đầy đủ dịch vụ…”.
Anh ta lắc đầu:
“Xin anh để yên cho, ở đây đang bối rối lắm, cần lấy xác ra đã rồi tính”.
Người đàn ông sắt mặt lại:
“Tui nói hông nghe, ờ ở đó chờ tới tết công gô đi” – Ông ta rồ ga phóng vèo đi.
Anh ta lắc đầu:
“Vô cảm quá, họ không còn biết nỗi đau là gì”.
Chú Năm quay qua hỏi:
“Thằng chả nói vậy là ý gì hay là cấu kết với nhau, làm khó không cho lấy xác, bây giờ mà còn chưa khám nghiệm thì làm sao mà kịp giờ nhập quan, nhà đã coi ngày giờ rồi, tính sao đây cháu”.
Anh ta vỗ trán:
“Quên lửng, để con gọi cho mấy tay công an”.
Xác được lấy ra. Chú Năm lắc đầu:
“Ác giả ác báo, nó vô tới cả cái chốn này, đã chết oan nghiệt còn không được yên”.

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN (TT)

ledachoanghuu

… Bà con chộn rộn, bàn tán tối ngày chuyện nhà đất, đi đâu cũng nghe. Nhà đất lên vùn vụt. Người ta gọi là cơn sốt nhà đất. Có những ngày, sau giấc ngủ sáng thức dậy đã nghe giá cả lên gấp chục lần. Nhiều người đổi đời chỉ trong chốc lát. Bán miếng đất cất cái nhà, mua chiếc xe Dream láng cóng vểnh râu rong chơi.
Sáng anh ta đi làm ngang gặp chú Năm su, chú Năm kêu:
“Ê, chiều gặp quán nhỏ Út đẹt lai rai, chú hỏi chút chuyện”.
Anh ta dạ, hẹn chiều. Đi làm về hơi tối ghé quán chú Năm đã ngồi sẵn, quán nằm trước cửa bến xe, cô chủ quán chừng ba mươi vui tánh nhưng cũng thuộc hàng thứ dữ, phải vậy mới trị được dân cô hồn cát đảng không chớ, uống lưng tưng đứng dậy bỏ đi luôn sao.
Anh ta cạn ly rượu:
“Dạ, chú Năm hỏi con chuyện gì?”.
Chú Năm khà một tiếng:
“Cháu định bán hay định giữ ở”.
Anh ta ngờ ngợ:
“Dạ bán gì, giữ ở gì chú, hổng lẽ ý chú nói nhà…”.
Chú Năm ngơ ngác:
“Ủa chuyện nhà cửa chớ chuyện gì”.
Anh ta chưng hửng:
“Dạ, con có biết gì đâu, bán hay giữ là sao?”.
Chú Năm đánh tay cái bốp:
“Trời! vậy mà tưởng… hổm có mấy người đi lòng vòng hỏi chú, hỏi miếng đất và nhà của cháu, họ nói sẽ trả ba chục cây là mua được, chú tưởng họ gặp cháu rồi”.
Anh ta bật cười:
“Dạ, con đi làm suốt, bữa giờ có ai tới gì đâu, mà có chuyện gì con hông hỏi ý chú, nhà để ở chú ơi”.
“Ờ, vậy được, chú sợ con hoa mắt, có số tiền lớn mà, rồi quên hết chú cháu, bán luôn, với lại chú nghe nói còn lên nữa, chưa dừng lại, đừng bán uổng lắm”.
Anh ta gục gật:
“Dạ, con nghe lời chú, bán rồi mua đâu, hổm mua được mừng húm để bây giờ lấy gì mua được”.
Chú Năm gật đầu:
“Biết vậy là tốt”.
Cô chủ quán nghe loáng thoáng:
“Anh bán đất hả”.
Anh ta lắc đầu:
“Làm gì có, có cái nhà nhỏ xíu để ở”.
Cô Út đẹt tiếp:
“Chà, đang cơn sốt dữ, toàn nghe bán buôn nhà đất”.
Anh ta nhìn ra ngoài, tự nhiên thấy trống trống, có gì đó khác ngày thường, nói vu vơ:
“Ủa, thấy là lạ ta, thấy trống trải sao sao á”.
Cô Út rảnh tay, bỏ thêm cục đá vô ca trà, ngồi chung:
“Ờ, trống trải là phải rồi, người ta mới cho xe cạp kéo sập bức tường bao bến xe”.
Anh ta và chú Năm à lên:
“Hèn chi”.
Chú Năm nói tiếp:
“Chắc xây lại ha, tường thấy cũng mục chân rồi, biết bao nhiêu thằng đái tối ngày mà”.
Cô Út đẹt cười ha hả:
“Mấy cha khoái thoáng mát, có chỗ đâu chịu đi”.
Chú Năm chề môi:
“Có gì, ngoài đường có thấy cái toile nào đâu, trong bên có thì phải tốn tiền, người ta tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó cô ơi”.
Anh ta cười cười:
“Hết chỗ đi rồi”.
Cô Út xì một tiếng:
“Còn nhóc chỗ, cột điện gốc cây chi cha nội, à mà hông có xây lại chú Năm, nghe người ta nói sẽ làm đường, hổm rày mấy ông vác máy vác thước, dòm dòm đo đo hoài, nghe nói phóng con đường lớn từ ngoài cầu Bình Triệu đi băng qua, qua luôn đâu tới Hàng Xanh”.
Anh ta và chú Năm nhìn theo hướng tay cô Út chỉ, vậy băng ngang hướng nhà anh ta rồi. Chú Năm gục gật:
“Ờ, cũng có nghe loáng thoáng, bà con phỏng đoán nó đi như vầy như kia, coi nhà mình mất bao nhiêu, lời ra bao nhiêu, khu này sắp sửa ngon à nghe, à mà hổng chừng đường lộ băng qua nhà cháu đó, mơi mốt thành nhà mặt tiền, tha hồ phát”.
Anh ta có vẻ sốt ruột:
“Nếu mất có đền bù gì hông ta?”.
Cô Út gật đầu:
“Có chớ, nhưng nghe là tùy hà, đất cát ra sao, có giấy tờ đầy đủ hông, tùy theo mà người ta đền bù”.
Anh ta nghe càng thêm lo, định hỏi tiếp thì từ bên trong một toán đông người vác búa, toàn là búa tạ ào ào kéo về hướng chỗ bức tường. Chuyện này cũng thường xảy ra, kéo nhau đi uýnh lộn, đi thanh toán giữa băng này băng nọ cũng hà rầm mà, nhưng thường vác mã tấu, dao kiếm, gậy gộc chớ đâu vác búa tạ, anh ta thắc mắc:
“Chắc kéo đập luôn nhà quá”.
Cô Út cười:
“Hổng phải anh ơi, tụi nó đập tường lấy sắt đó, hay lắm nghe, mình ở đây chẳng để ý, xe vừa kéo ngã rật là thấy tụi nó có mặt cả bầy liền, chạy lại rần rần chiếm chỗ hết, lấy gạch kẻ phân định lằn ranh ghi tên hẳn hòi”
Cô Út nói xong là đám người bổ búa đùng đùng, sắt ra sắt, xà bần ra xà bần. Mấy người nhà gần xúc xà bần đổ vô sân nhà, đổ trước con đường sình lầy… Qua đêm, bức tường sạch sẽ không còn lại gì.
Anh ta biết thêm rằng đó là một trong nhiều cách kiếm tiền của dân xóm nhà lá.

***

Quá lo lắng, bữa sau xin nghỉ, ngồi cà phê với chú Năm su, anh ta nói:
“Con sợ quá chú Năm, sợ đường đi ngang nhà mất miếng đất, đền bù chẳng bao nhiêu”.
Chú Năm trấn an:
“Ui chà, đừng lo lắng quá, cái ao cháu rộng mênh mông, đường có băng ngang cũng hông mất hết, ta thành mặt tiền thì có giá gấp mấy, đường thì họ làm hông phải ngày một ngày hai đâu, chú biết nhiều đường vậy lắm rồi, từ lúc bắt đầu tính cho tới khi có đường chắc hai ba năm là lẹ lắm, bây giờ lo quá thì lên phường hỏi coi sao, có làm giấy tờ gì cho mình được hông”.
Nghe lời chú Năm anh ta chạy lên phường. Hết buổi sáng, buổi chiều gặp lại chú Năm hỏi liền:
“Sao, họ nói sao?”.
Anh ta rầu lắm, đáp:
“Dạ, thua rồi chú, làm giấy tờ hông được, họ kêu phải có hộ khẩu”.
Chú Năm đập tay xuống bàn cái bốp:
“Thì xin vô hộ khẩu, cháu ở đây cũng mấy năm rồi, kêu bà Tư làm chứng cho”.
Anh ta nói như mếu:
“Cũng hông được chú ơi, con hỏi luôn rồi, qua bên hộ tịch thì họ nói phải có nhà mới nhập được hộ khẩu”.
Chú Năm ngớ người:
“Quơ Trời! vậy là sao ta, tréo cẳng ngỗng hông, chưa có nhà làm sao có hộ khẩu, mà hông có hộ khẩu làm sao có nhà, quái lạ, hết chỗ nói”.
Anh ta than vãn:
“Chắc tiêu rồi chú ơi, giờ biết làm sao”.
Chú Năm vỗ vai anh ta:
“Uống cà phê cho bình tĩnh đi, kiếm đường binh coi… – Chú suy nghĩ một hồi chợt chú nói lớn: A, nhớ ra rồi, để chú hỏi bà này, bà chuyên chạy giấy tờ, bà quen dữ lắm”.
Anh ta lưỡng lự:
Có nên hông chú, làm phi pháp lỡ…”.
Chú Năm lắc đầu:
“Chớ giờ đâu có cách gì?”.
Anh ta ngẫm nghĩ:
“Để con tính lại đã”
Chú Năm gật đầu:
“Ờ, về suy nghĩ cho kỹ”.
Hai đêm nằm trằn trọc, anh ta không nghĩ ra cách nào. Còn làm phi pháp thì anh ta lại không muốn. Làm như vậy chẳng khác nào tà gian. Rồi lại sợ lỡ mất trắng thì sao, công sức chính anh ta gầy dựng, bỏ nơi bao năm gắn bó anh ta coi như quê hương thứ hai, bỏ gia đình cùng chịu khổ với cái xóm nhà lá mới có được. Mà đâu phải chỉ hai chỉ vàng, đã chí ít là ba chục cây rồi. Lại gát tay lên trán mà than trách, tại sao lại bị áp thêm cuộc chiến, cuộc chiến của kẻ ngay và tên tà gian. Cả hai đều là cốt nhục của mình, cốt nhục tương tàn. Thức gần trắng hai đêm rồi đổ gục lúc cuộc chiến lên đỉnh điểm anh ta thầm cầu mong cho tên tà gian biên khỏi cuộc đời.
Tỉnh giấc, lê tấm thân tàn héo gặp chú Năm, anh ta rên rỉ:
“Thôi vậy đi chú, chú kiếm bà gì đó hỏi lẹ lẹ luôn dùm con”.
Chú Năm dắt lại một người, chú Năm giới thiệu:
“Đó, thằng cháu tui cần làm giấy tờ, còn bà chị đây là bà chị chuyên chạy giấy tờ, hai cô cháu nói chuyện đi”.
Người đàn bà xởi lởi:
“Tui tên Lan, người ta kêu tui bà Lan cò, tui làm cò mà, vụ gì cũng làm được hết, vụ gì cũng chạy được hết, thời buổi giờ làm gì cũng phải chạy – Bà cười hề hề: Sao?, nó tui nghe”.
Anh ta kể lại chuyện của mình, chăm chú nghe xong bà Lan cò nói luôn:
“Được, chuyện của cháu là phải vô hộ khẩu trước rồi tính gì tính, hổng có là hổng có mần ăn gì hết, hổm có thằng như cháu, ở chui Sài Gòn mấy năm, ở quê bị cắt cha hộ khẩu, nó lấy lý lịch cũ rích thời nào đó ém ém sao qua mặt được, thi đại học đậu, học nửa chừng người ta kêu nộp hộ khẩu, chẳng có hộ khẩu bị đuổi thẳng cẳng”.
Anh ta nghe ớn lạnh:
“Mà làm mắc hông cô?”.
Bà Lan cò thản nhiên:
“Mắc à, làm thì làm được hết nhưng giấy tờ giờ gay lắm, phải có tiền”.
Anh ta hỏi tiếp:
“Cỡ nhiêu cô?”.
“Tính vô bao nhiêu khẩu”.
Anh ta nhẩm nhẩm:
“Bỏ bà chị đã đi Mỹ ra, dạ còn sáu khẩu”.
Bà Lan cò nói luôn:
“Một khẩu hai cây, sáu khẩu vị chi mười hai cây, nhà nhiều khẩu bớt cho còn chẳn chục”.
Anh ta trợn mắt:
“Chục cây lận hả cô, dữ vậy sao, con tưởng…”
Bà Lan ngắt lời:
“Tưởng sao, tưởng như cá mắm hả, tui làm là rẻ nhứt rồi đó, người ta làm ba cây kìa, làm chia năm sẽ bảy, đâu phải mình mình hưởng đâu nhen”.
Anh ta thè lưỡi:
“Dạ, con hông có ý đó, chỉ là con nghèo quá, hông có đủ tiền”.
Ba Lan cười:
“Nghèo mà mua được đất tổ chảng”.
Chú Năm nói đỡ:
“Nó hên chị ơi, mua nhằm lúc chưa có giá có hai chỉ vàng, còn riêng nó lang thang Sài Gòn một mình mấy năm đâu có nhờ vả gì gia đình, à mà nhà nó có gốc gát ở Sài Gòn có đỡ được gì hông chị”.
“Gốc gát sao?”.
“Dạ, nhà con trước ở đây, con sanh ra ở đây?”.
“Có giấy tờ gì hông, đi kinh tế mới hả?”.
“Dạ, kiểu vậy, còn giấy khai sanh”.
“Có giấy khai sanh thì được, nhưng mà nói trước hông giảm được bao nhiêu, cùng lắm là hai cây thôi đó nhe, nếu muốn làm thì đem giấy lại cho tui”.
Anh ta gục gật:
“Dạ, để con về quê lấy giấy tờ” – Anh ta nhẩm nhẩm: “hai năm làm rừng dư chừng ba cây, ở đây gần ba năm cũng suýt soát dư chừng đó, về nhà xin hay mượn má hai cây chắc là có, phải làm thôi mặc dù nó đáng giá cả gia tài”.
Bốn tháng trông ngóng thiệt là khá dài, chờ đợi lúc nào cũng thấy dài dù chỉ trong giây phút, anh ta mừng hết lớn nhận được cái sổ hộ khẩu. Kéo chú Năm su đi làm một trận linh đình liền, anh ta hả hê:
“Con chẳng phải giang hồ, chẳng bụi chẳng đời mà phải sống như kẻ ngoài vòng pháp luật, nay thì hết hén, là công dân thành phố đàng hoàng”.
Chú Năm nhắc nhở:
“Ờ, nhưng mà nhớ hông, tám cây vàng chớ ít à, hông có tiền thì đừng mong”.
Anh ta chựng lại:
“Dạ, mà còn cái vụ nhà nữa, đường thì chưa thấy gì, vẫn đo đo, đạc đạc, con dò la người ta nói đi trước đất mình thành mặt tiền”.
Chú Năm hỏi lại:
“Hỏi người đáng tin hông đó, hay mấy tay tàm xàm tàm đế”.
“Dạ, đúng nơi đúng chỗ chú ơi, hổm phải mất chầu cà phê, thêm gói ba số, mấy tay phóng đường giở bản vẽ cho coi luôn”.
Chú Năm cười xòa:
“Khá nghe, tiến bộ lắm rồi, giờ biết mua chuộc hen”.
Anh ta uống ly bia mà nghe mát lạnh:
“Bây giờ con mới thấy người ta nói thiệt đúng, đồng tiền đi trước đồng tiền khôn”.
Chú Năm hỏi tiếp:
“Hôm qua cầm hộ khẩu lên phường hỏi người ta nói sao”.
“Dạ, người ta nói để coi, cần rà soát kỹ càng, có gì người ta báo, họ cũng nói có bằng khoán thì dễ”.
Thấp thỏm chờ đợi hai tháng chẳng nghe hồi âm. Giá nhà đất vẫn tăng vùn vụt. Anh ta chạy tiếp lên phường và tiếp tục nhận câu trả lời cũ. Một tháng nữa, hai tháng nữa, ba tháng nữa, ba lần chạy nữa vẫn không nhận được câu trả lời nào khác với cùng gương mặt của cán bộ không thể tả được, không biểu lộ được điều gì, chẳng một nụ cười cũng chẳng bực bội quát tháo, anh ta nghĩ có lẽ họ tiếp xúc quá nhiều người nên chai lỳ, vô cảm.
Chú Năm gặp hỏi:
“Sao, giấy tờ nhà đất tới đâu”.
Anh ta lắc đầu:
“Chưa có gì sáng sủa hết chú ơi”.
“Có thường xuyên lên phường hông?”.
Anh ta lộ vẻ mệt mỏi:
“Dạ, con lên cái mặt quen luôn, chưa cần hỏi họ đã trả lời”.
“Người ta ngâm đó, làm gì có rà soát mà mất cả nửa năm, thiếu rồi”.
“Dạ, thiếu gì chú?”.
Chú Năm phì cười:
“Trời! cái thằng ngố thiệt, thiếu chất bôi trơn, quên rồi à, đồng tiền đi trước…”.
Anh ta ạ dài thiệt là dài:
“Con hậu đậu hết biết”.
Ba giò bốn cẳng mua cây thuốc ba số năm, lên lại phường, gặp cán bộ mấy tháng nay, anh cán bộ vừa thấy liền nói:
“Mới lên cách nay hai ba bữa, giờ lên hỏi nữa à”.
Anh ta để cây thuốc lấy tờ báo trên bàn che lại:
“Nhờ anh làm dùm em, em sẽ hậu tạ, bao nhiêu tiền anh nói để em liệu tính, liệu chạy”.
Anh cán bộ trừng mắt:
“Cái gì, ông nói cái gì, hối lộ à, muốn chết hả, muốn vô tù sao, tui đã nói là để đó tui xem xét, hàng ngàn cái hồ sơ chớ một mình anh hả, từ từ tui sẽ giải quyết hết”.
Anh ta hết hồn:
“Dạ, dạ, tui hổng có ý đó, chỉ là bồi dưỡng chút công sức của mấy anh cực nhọc”.
Anh cán bộ quát tiếp:
“Không có bồi dưỡng gì hết, cán bộ tụi tui làm ăn lương, làm vì dân chớ, công bộc của dân, phục vụ nhân dân anh nghe rõ chưa, về mau”.
Anh ta vừa lui vừa rối rít:
“Dạ, dạ, xin lỗi cán bộ, xin lỗi cán bộ”.
Anh cán bộ ế ế kêu mấy tiếng nho nhỏ, “gói… gói thuốc…” trong khi anh ta đã ra tới cổng biến mất dạng.
Thưa chuyện lại với chú Năm, chú Năm gõ mạnh tay xuống bàn:
“Thiệt là khờ hết mức, ai lại đi gặp trực tiếp như vậy, ở giữa công đường ban ngày ban mặt người ta chửi cho là đúng chớ còn gì”.
Anh ta thấy mình đúng là khờ thiệt:
“Ái dà, đúng là khờ quá, giờ phải làm sao chú, tới nhà buổi tối hả?”.
Chú Năm lắc đầu:
“Hông có được đâu, tới người ta cũng hông có tiếp, quên bà Lan cò rồi à, phải gặp bả”.
“Trời! con lú lẫn thiệt, quên trước quên sau”.
Bà Lan cò đi chơi xa, giới thiệu qua người khác, cũng là cò nhưng là ông, ông Lân cò. Ông Lân Cò hẹn ở quán nhậu. Anh ta và chú Năm chạy lại, ông Lân cò và bốn người nữa đã ngồi sẵn, ông Lân giới thiệu:
“Đây là anh Chính, anh Bá công an, anh Mến làm bên nhà đất, thằng này là thẳng Nghĩa lính tui, còn tui là Lân cò, kêu cò Lân hay hơn, cò Lân là cần lo, cần lo gì gặp tui là xong ráo, dễ như ăn cháo, chú với em mày cần gì nói nghe?”.
Anh ta nghe thất cười nhưng cũng sợ sệt, có cả công an ngồi nhậu, anh ta lý nhí:
“Dạ, ra nhậu chơi…”.
Cò Lân hiểu ý, chặn lại:
“Ui xì, hông có chi mà ngại, mà sợ, mấy anh đây là chỗ thâm tình với tui, coi như anh em, có gì cứ nói, mấy anh giúp đỡ thêm”.
Chú Năm trả lời thay:
“Dạ, hông dấu gì mấy anh, thằng cháu tui định nhờ làm giấy tờ nhà đất”.
Cò Lân vỗ tay vô đùi bôm bốp:
“Tưởng gì khó, tưởng khó như đi nước ngoài nước trong gì chớ, chyện này tui còn lo được huống hồ cái chuyện đồ quỷ dễ ẹt này, ngay gu của tui, ba mươi giây xong ngay, đâu đất cát ra sao, ở đâu?’.
Cò Lân nâng ly cụng lốp cốp, anh ta kể lại chuyện lên xuống phường và chỉ chỗ đất, cò Lân gục gật:
“Phải rồi, ai đi làm công không cho mấy ông, miếng đất này tui biết rồi, ngon đó, đường sắp mở lớn đi ngang thành ra mặt tiền, có giá dữ”.
Chú Năm hỏi:
“Tiền nong sao vậy anh”.
Cò lân nhẩm tính:
“Cả năm trăm mét vuông, cũng rộng, từ đất nông nghiệp lên đất nhà ở cũng căng, tốn bộn đó”.
Anh ta thấp thỏm:
“Chừng bao nhiêu chú?”.
Cò Lân trả lời:
“Mười lăm cây”.
Anh ta than thở:
“Chà, nhiều tiền quá, con hông kham nổi”.
Cò Lân nhắc khéo:
“Phải tìm đi, vay mượn đâu đó, làm giấy tờ đàng hoàng, giấy tay nguy hiểm, mất trắng có ngày”.
“Con biết vậy nhưng hông có chỗ nào mượn đây”.
Cò Lân suy nghĩ một hồi:
“Hay bán bớt đất đi, bán một nửa, làm giấy tờ còn dư cất nhà luôn, rộng ê hề mà”.
Anh ta nghe có lý, chú Năm cũng vậy:
“Có lý đó cháu, bán bớt làm cho xong, đâu ra đó”.
Anh ta gục gật hỏi luôn:
“Chú biết ai mua hông, giá cả…?”.
Cò Lân nâng ly cười ha ha:
“Biết ai mua hông hả, tui đây luôn chớ ai, để tính cho nhen, hai trăm rưỡi mét vuông, chưa giấy tờ, hồ chưa sang lấp, giá ở đó nay chừng tám chục cây, làm giấy nửa miếng của cháu hết bảy cây rưỡi, còn lại bảy mươi ba cây rưỡi, tui chung luôn bảy mươi lăm cây”.
Anh ta và chú Năm hẹn vài ba bữa trả lời.
Chú cháu lần hồi dọ giá, ngã giá cuối cùng chốt lại làm giao kèo, cò Lân mua tám chục cây vàng làm giấy nửa miếng luôn. Có rẻ đôi chút nhưng theo lời chú Năm làm cho chắc ăn, khỏi phải chạy vạy tiền nong, bán chỗ khác biết giấy má có dễ dàng, họ biết được chơi còn chết, tính già hóa non.
Giấy tờ nhà đất còn nhanh hơn hộ khẩu, chỉ ba tháng trông chờ là xong, lần nhậu có đầy đủ bá quan, anh ta nhận sổ mà thở phào nhẹ nhõm.
Rủng rỉnh tiền tính tới xây nhà, xây một căn trên một nửa đất, Anh ta cầm xấp giấy tờ lên quận xin cấp phép. Ngày đầu thiếu một giấy cần về bổ sung, hai ngày sau quay trở lại… thiếu thêm một giấy và tiếp tục thiếu mỗi lần một giấy cho tới… bốn lần nữa, chạy lên chạy xuống như cực hình, anh ta nản chí rồi cầu cứu có Lân. Gặp cò Lân thì chỉ cần ra quán nhậu. Cò Lân phán:
“Chạy tới lui hoài chi cho tiêu tốn công, tốn thời gian và tiền bạc lại thêm bực mình, thôi bỏ cha nó một lần nhờ mấy ổng làm cho, vụ này tao chỉ mày trực tiếp với anh Mến nhà đất luôn”.
Anh ta gặp chú Mến nhà đất, chú Mến gật đầu cái rụp, một cây, xuống khảo sát, nói là khảo sát chớ thực tế bản đồ hiện trạng có hết rồi, uống cà phê là chính và nhận tiền ứng trước. Chú Mến nhìn cái nhà trống không, hỏi:
“Nhìn kiểu này là biết điện nước xài ké nhà người ta phải hông?”.
“Dạ, chớ con làm gì có tiêu chuẩn, điện nước mắc thấy mồ, câu lại của người ta mà, cho xài là mừng hết lớn rồi”.
“Trả tiền mệt nghỉ hen, mà cái gì của mình mới khỏe, sau hông chạy làm luôn đi, làm luôn một lần cho nó xong xuôi, tui có quen mấy anh em bên điện lực với cấp nước”.
Anh ta nghe mừng quýnh:
“Vậy hả chú, vậy giúp con luôn đi chú”.
Chú Mến nói được:
“À, tốn tiền hơn xin giấy phép à nha, hổm tui giúp bên kia, hai thứ bốn cây, họ lo hết, dây, đồng hồ, đường ống…”.
Anh ta gãi đầu:
“Mắc hen nhưng thôi, chú cứ làm dùm con”.
Cất xong căn nhà một trệt một lầu, đưa cả nhà vô, đã đến lúc để ba má nghỉ ngơi, được phụng dưỡng. Thêm một lần chạy nữa, chạy chỗ cho hai chị anh ta đi dạy, để anh đi làm đi đứt thêm năm cây vàng. Kết cục cho vụ chạy mà không mỏi chân, chỉ có những cuộc chiến, cuộc hiến day dứt, có lẽ cuộc chiến day dứt lương tâm anh ta nhứt là cuộc chiến cuối giai đoạn này, anh ta buồn vô hạn nhưng vẫn không chống chọi nỗi cái thằng tà gian nó lấn át, anh ta thỏa hiệp với nó một cách đau đớn, hèn nhát, anh ta đã tiếp tay phá hoại cái ngành đào tạo để hình thành nên con người, dĩ nhiên chỉ cần nói vậy là tạm đủ, bởi con thú đâu có cần hình thành cả một hệ thống giáo dục đào tạo. Và chạy bắt đầu được vô trong vòng pháp luật cho tới tạm yên bề nhà cửa, rời xa chiếc xe cừ tràm, lo công việc, một gia tài không nhỏ đã bị tiêu tốn, hết hai mươi lăm cây rưỡi vàng ròng. “Chốt sổ” anh ta ngồi với chú Năm kiếm chút thanh thản trong câu bông lơn nghe trĩu nặng: “Năm trăm đồng một tô cháo lòng sớm mai, một chỉ vàng bốn trăm ngàn đồng, tính ra bao nhiêu tô cháo của hai mươi lăm cây ta?

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

NHỮNG CƠN GIÓ VÀ NHỮNG LINH HỒN

ledachoanghuu

Một năm ở xóm nhà lá với việc làm vựa cừ tràm trôi qua.
Một bữa sáng như bao buổi sáng, anh ta ra “thăm” cầu cá. Đi ngang thấy cắm cái bảng nhỏ trên bờ, cần bán nhà và ao, giá rẻ để trả nợ, anh ta nảy ý sao không coi thử, giá rẻ biết đâu chừng mua được tránh được cái xóm hoang tàn, bần cùng này. Dò hỏi cuối cùng lần ra gia chủ, cũng vì bài bạc, đề đóm mà mang nợ nần, bị xiết quá đành phải bán gấp, cái ao rộng chừng nửa sào trên có cái nhà lá nhỏ, giá hai chỉ rưỡi vàng y, anh ta gặp chú Năm su, ngồi nhâm nhi anh ta hỏi:
“Chú thấy sao, mua cái ao đó được hông chú, bị gì hông?”.
Chú Năm nói liền:
“Được đó cháu, có tiền thì mua đi, rẻ quá lại được ở riêng cho nó khỏe, đất có bằng khoán xưa sợ gì”.
Anh ta lưỡng lự:
“Tại con hổng có giấy tờ gì ráo, đâu có hộ khẩu hộ khiết gì, làm sao?”.
Chú Năm phẩy tay:
“Thì kêu viết giấy tay, kêu hai người, một bên đó, bên mình chú làm chứng cho, bây giờ người ta làm vậy hông chớ gì”.
Anh ta thấy có lý, về suy nghĩ thêm đêm đó, bữa sau cùng chú Năm qua trả giá chỉ còn hai chỉ, anh ta có căn nhà riêng sớm hôm đi về, đôi khi lai rai tại nhà.
Không còn phải trốn những cảnh hỗn tạp ở xóm nhà lá anh ta nhậu cũng bớt đi. Về nhà một mình lại thấy trống vắng, lạnh lẽo và buồn tẻ, anh ta nghĩ ra, à phải đăng ký học một lớp ban đêm, lớp tiếng anh trước nhứt là đỡ hiu quạnh sau có biết thêm cũng hay, sau này có khi cần tới.
Mỗi tuần ba buổi tối anh ta tới lớp, vài ba tháng sau có thêm vài người bạn, nhỏ hơn có, ngang bằng và lớn hơn có. Những buổi tan học lúc ghé quán cà phê, quán sinh tố lúc lại cà kê với ly bia ly rượu. Và anh ta lọt vào mắt xanh của một cô nàng rất dễ thương, nhìn thoáng qua dáng dấp cũng đủ biết là con nhà tiểu thơ đài cát chớ chưa cần nhìn chiếc xe Dream cáo cạnh của nàng. Cô nàng đang học đại học. Với người bình thường có thể nói là chuột đã sa hủ nếp. Anh ta thì không, mang tâm trạng nửa vui nửa buồn, vui lắm chứ, một gã cục mịch quê mùa lại được như vậy, có cô nàng xinh đẹp như vậy, ngược lại anh ta hay truy vấn lương tâm mình, cứ cho mình là kẻ không ra gì, đâu có xứng với nàng.
Một buổi tối học xong anh ta và nàng ghé quán nước. Nàng hai tay xoay xoay ly nước nói nhỏ nhẹ:
“Chủ nhựt tới kéo bạn bè về nhà anh chơi nghen”.
Anh ta chợt giựt thót người, về với căn nhà rách nát như cái ổ chuột vậy sao, về với cái cầu cá lỏm tỏm vậy à, anh ta ậm ờ:
“Ưm… ưm hông được đâu, chủ nhựt phải đi làm”.
Cô nàng xịu mặt:
“Chủ nhựt mà cũng đi làm sao, nghỉ một bữa cũng được mà?”.
Ngồi bối rối bóp bàn tay mình, những cục chai trong lòng bàn tay lại có cảm giác nổi đầy lên, nổi chạy theo dòng máu chặn ngang tim làm tim muốn ngừng đập, anh ta cuối đầu đáp lí nhí:
“Hổng được đâu, bà chủ khó tánh lắm, nghỉ là bị đuổi luôn”.
Cô nàng bực bội:
“Làm gì làm suốt vậy, chẳng lẽ hông được nghỉ ngày nào hết?”.
“Có chớ, lâu lâu được nghỉ, phải báo trước”.
Cô nàng nói tiếp:
“Mà anh làm gì chẳng cho em biết gì hà”.
Anh ta thở ra vẫn giọng lí nhí:
“Làm việc tệ nhứt ở đất này, việc hông ai chịu làm”.
Cô nàng quầy quẩy:
“Thì làm gì cũng là làm mà, quét đường cũng là làm chớ bộ, có đi ăn trộm ăn cướp đâu”.
Anh ta cười nhếch mép:
“Nói vậy thì làm gì có người khi dễ người”.
Cô nàng chưa chịu:
“Ai thay kệ người ta, em hông có vậy là được rồi”.
Anh ta lắc đầu:
“Đâu phải ai cũng như em, như vậy thì làm gì có người xấu, làm gì có bất công”.
Cô nàng nũng nịu:
“Thôi hổng thèm nói chuyện với anh nữa, thủ cựu quá đi… ơ, nhưng mà bữa nào phải xin nghỉ một bữa đó, để tụi em tới nhà chơi, làm tiệc tùng phá một bữa”.
Anh ta gật đầu miễn cưỡng:
“Ừ, để bữa nào đi”.

***

Về nhà, nằm gát tay lên trán anh ta cứ nghĩ hoài về chuyện mình và cô nàng, không thể xóa được cái phép so sánh cứ lẩn quẩn trong đầu. Gã ăn mày và nàng công chúa. Anh ta nằm trong thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng biết nên tiến hay nên lùi. Trằn trọc cho tới gần sáng mới chợp mắt. Rồi ngay cả trong giấc mơ cũng hiện ra chuyện này, anh ta thấy mình và cô nàng mỗi người đứng bên một bờ sông, dòng sông rộng, nước ào ào chảy xiết không có cách nào qua được, bên kia thì cô nàng kêu ơi ới, vẫy tay liên tục, anh ta đứng bên bờ này nhìn chăm chăm, nhìn chăm chăm hồi lâu thì bóng dáng cô nàng từ từ tan ra dần dần như sương khói…
Cả ngày hôm sau anh ta chất cừ tràm lên xe cứ đổ tới đổ lui. Anh làm chung thấy lạ:
“Mày sao vậy, người mất hồn vía vậy mậy, bị con nhỏ nào bắt mất hồn hả?”.
Anh ta chống chế:
“Dạ, làm gì có, tối hôm qua mất ngủ”.
Anh làm chung cười ha ha:
“Vậy mà còn chối hen, mất ngủ mà hông bị hớp hồn chớ còn gì nữa, vụ này tao rành lắm, tao cũng từng bị”.
“Vậy anh từng trải qua nhiều rồi hen, đụng vậy thì tính sao?”.
Anh làm chung cười hà hà bắt mạch:
“Dấu đầu lòi đuôi, đụng vậy là đụng sao, nói tao mới biết chớ”.
Anh ta gãi đầu:
“Có gì đâu, giả dụ hỏi chơi đó mà, thí dụ gặp hông hợp…?”.
Anh ngắt lời:
“Thôi đi, đừng làm bộ làm tịch nữa ông thần, nhìn người bần thần là tui biết liền, coi kìa con mắt cứ nhìm xa xa, nhìn đâu đâu không hà”.
Anh ta đành dịu giọng:
“Thì cứ cho là vậy đi”.
Anh làm chung tiếp:
“Nếu gặp cảnh này hả, ai sao tao hông biết, mỗi người mỗi tánh, riêng tao đâu đó rõ ràng, một tới luôn hai rút êm, khỏi sóng gió khổ lắm”.
Anh làm chung cười ha há, anh ta nghe cũng có lý, cười theo mà meo méo, đêm về lại vật vờ suy nghĩ, vật vờ với những giấc mơ ám ảnh.
Tối bữa sau anh ta đạp xe tới cổng trường, muốn quẹo vô rồi lại thôi, đạp băng qua luôn, quay đầu lại lại muốn quẹo vô rồi lại đạp băng đi. Lòng vòng mấy vòng trước cổng trường, anh ta lẩm bẩm, “cuộc chiến, phải, đã có cuộc chiến”. Cuộc chiến của ngay những người anh em, kẻ mang tên lý trí, kẻ có nhiều cái tên mỹ miều – nhịp đập thổn thức, tiếng gọi trong lòng ngực, vũ khúc bầu máu nóng… Gã mang bầu máu nóng đối lập một trời một vực với gã mang dòng máu lạnh xoáy quanh bộ óc. Một cuộc chiến tương tàn.
Mấy ngày sau cái vật vờ chưa buông tha, anh ta chặn đường anh bạn học khi vừa tan, kéo vào quán, việc đầu tiên là rót rượu, anh ta cạn ực liền, anh bạn hỏi:
“Hổm rày sao chẳng thấy đi học?’.
Anh ta ực tiếp một ly đáp gọn lỏn:
“Nghỉ luôn rồi”.
Anh bạn sững sờ:
“Sao lại nghỉ, đang học nửa chừng, có chuyện gì vậy?”.
Anh ta thở ra:
“Hông muốn đối mặt…”.
Anh bạn chặc lưỡi:
“Chà, tưởng chuyện gì, cãi nhau, giận nhau à, hèn gì thấy cô nàng buồn lắm”.
Anh ta lắc đầu:
“Chẳng có cãi, chẳng có gì”.
Anh bạn chẳng hiểu:
“Vậy chuyện gì, đang thấy vui quá chừng…”.
Anh ta thều thào:
“Giống chuyện cô bé lọ lem”.
Anh bạn bật người lên:
“Trời! thời buổi giờ còn đem chuyện cổ tích ra xài, thiệt tình, xưa lắm rồi cha nội ơi, tui thấy cô nàng làm gì có ý đó”.
Anh ta không thay đổi:
“Có xưa có nay, cuộc đời đâu chỉ mình nàng”.
Anh bạn lắc đầu quầy quẩy:
“Bó tay”.
Mấy bữa sau anh ta lại đón anh bạn, vừa ngồi xuống ghế, anh bạn tuôn ra:
“Ông gây tội lỗi quá, biết như vậy là ác lắm hông, cô nàng khóc suốt, sưng húp cả mắt, hỏi cùng đường nhưng có ai biết ông ở đâu”.
Anh ta có biết, đã len lén nhìn thấy mà, nghe anh bạn nói càng đau nhói, càng uống mạnh, anh ta gục mặt xuống:
“Rồi sẽ qua thôi, thời gian sẽ ghi dấu một kỷ niệm đẹp”.
Anh bạn bức bối:
“Kỷ niệm cái con khỉ, hết biết nói gì luôn, chẳng lẽ phải vậy, buột phải vậy?”.
Anh ta càng gục đầu lẩm bẩm”.
“Phải vậy thôi, đâu thể để hệ lụy cho nàng với gã ăn mày, đâu để nàng khổ được. Phải để cho thằng nhịp đập thổn thức nó chiến thắng”.
Anh ta không nói nữa lẳng lặng lấy xe đạp lòng vòng, đạp vô định. Và cứ lẩm bẩm: “Phải để cho thằng nhịp đập thổn thức nó chiến thắng, hãy để bầu máu nóng một lần thắng cuộc…”. Quái lạ sau lại là thắng trong khi đã tàn? Anh ta lý giải, chấp nhận hy sinh để thua cuộc là đã thắng.
Quay đầu xe về nhà, anh ta cố cười: “Dẫu sau cũng chỉ là mối tình đầu, mối tình đầu dễ có bao giờ đi tới đích”.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (tt)

ledachoanghuu

…Buồn bực, chán nản, vô vọng, nó như một cái xác lê lết. Trong giấc ngủ chập chờn thậm chí chẳng có giấc ngủ nào người vẫn cứ ẩn hiện mình ở Dốc Lết, bị ngập ngụa trong bùn lầy, bơi như những con bò kéo xe, không có những cú nện đùng đùng nhưng có một tấm lưới vô hình trùm kín mít người, ngột ngạt bí thở và không lối thoát còn hơn cả cực hình đòn roi.
Mấy tháng bị đè nặng như vậy nó không còn chiu đựng nổi, cuối cùng vùng dậy và quyết ra đi.
Một buổi chiều trời có chút mây lưa thưa, nó bước xuống xe, một cảnh tượng bát nháo, xô bồ hiện ra, người chạy tới chạy lui, xe cút kít đẩy chạy rần rần, người dỡ hàng, người bốc xếp, người bán hàng rong, bánh mì bán báo… Bao quanh chiếc xe nó vừa ngừng là đám người không đếm nổi, không nhìn rõ mặt được, chỉ vài người bặm trợn nổi bật lên, người níu người kéo, hỏi mà như ăn tươi nuốt sống khách vừa đặt chân xuống. Nó cố len lỏi lách ra khỏi đám đông, nó dễ hơn người khác, trên người độc một cái túi với vài bộ quần áo. Nó chui ra được bước nhanh ra khỏi cổng vẫn còn ba bốn cánh tay giựt ngược đi theo, léo nhéo bên tai, đi đâu, về đâu, tao chở rẻ cho, đ.m mày câm hả, hỏi hông nói mậy, khi dễ tụi tao hả mậy, nó cứ lắc đầu và lầm lũi bước gần cả nửa cây số. Chợt một cơn mưa đổ ào, vội nhảy vào hàng hiên trú mưa, một chiếc xe buýt chạy ngang, che khuất tầm nhìn của đám người bám theo, nó chạy mấy bước thấy cài hẻm nhỏ, quẹo vào ngay núp sát trong gốc cây còn nghe mấy tiếng vọng theo, đ.m nó đâu rồi, mới thất thì đây mà, đ.m. nó nhảy xe buýt rồi, đ.m mất công đi theo cả buổi, đ.m thằng láo cá… Cơn mưa cái ào cứu khỏi đám lùng bùng, nó cười thầm cảm ơn cơn mưa, thầm nghĩ vậy là đã biết thế nào là bất chợt mưa Sài Gòn, Sài Gòn chợt mưa chợt nắng mà ngày nhỏ nó không nhớ nổi hay cảm nhận hết.
Mưa dứt. Dòm trước ngó sau nó bước ra đường chính. Đi chừng dăm bước một người đàn ông ngồi trên chiếc xe Suzuki, người ta đặt cho nó cái tên quay ngược thời gian, Su trăm năm, một trăm năm về trước, người ngồi đong đưa cẳng ngoắc hỏi:
“Xe ôm hông cháu?”.
Nó nhìn người đàn ông chạy xe ôm, dáng vẻ thấy hiền lành nhưng vẫn lưỡng lự, lắc đầu bước qua, chừng như hiểu được, chú này bước xuống đi theo:
“Về đâu chú chở cho, chú lấy đúng giá, nói nghe được thì đi, hông thì thôi, chú chạy xe ở ngoài chớ hông phải trong bến hay gần bến”.
Vẫn còn lưỡng lự, mà có biết về đâu, nó cứ đi đại mà, lại không muốn phiền hà bà con ai cả, nó ậm ừ, người đàn ông nói tiếp:
“Chú nói thiệt đó, giúp giùm chú một cuốc”.
Nó buột miệng:
“Con chẳng biết đi đâu?”.
Chú chạy xe ôm trợn mắt:
“Cái thằng giỡn chơi hả, hay bỏ nhà đi bụi, đi bụi thì vô bến xe làm bụi đời, lang thang đây chi, vô đó rồi biết nghe con, thôi về nhà đi, nhà đâu chú chở về”.
Nó bật cười:
“Con hông có ý đi bụi”.
Chú chạy xe chưa hết tròn mắt:
“Là sao? Hông đi bụi mà hông biết đi đâu?’.
Nó thật thà:
“Con thấy chú hông giống mấy người trong bến, chú đừng gạt con nghe, chú chở con tới chỗ nào rai rai đi con hỏi chút chuyện”.
Chú chạy xe thấy lạ:
“Cháu cũng đừng có gạt chú à”.
Nó cười tiếp:
“Con gạt chú cái gì, chú kiếm quán quen của chú đi”.
Chú lấy xe đạp năm sáu cái nó mới nổ, nổ phù ra một làn khói đen sì, nó leo lên, chú chạy vèo lại con hẻm nhỏ có quán gỏi vịt, chú dựng xe:
“Quán nhỏ quen quen, rẻ rẻ, bữa nào dư chút đỉnh chú lại đây làm một xị với cặp cẳng, cái đầu. Nó kêu nột đĩa gỏi, dĩa lòng và hai tô cháu, chú nhìn nó:
“Chi dữ vậy, chút chút thôi”.
Nó mời chú ăn, nó vừa múc cháu húp rột rột vừa nói:
“Con đói quá húp miếng đã, chú cũng ăn đi”.
Chú gật đầu từ từ múc cháo:
“Chú thứ năm người ta kêu Năm su trăm năm, kêu gọn là Năm su, nghe giống năm xu ba cắc quá hen, thiệt đúng nghèo rớt mồng tơi”.
Nó gắp miếng thịt bỏ cho chú, nói y như người lớn:
“Nghèo giàu gì chú ơi, con cũng mạt nè – Nó kêu chị trong quán: quán có rượu gì vậy chị?”.
Chị cười:
“Dạ, đầy đủ hết anh, chuối hột, tắc kè, rượu gạo, Nàng hương, mà chú Năm hay uống chuối hột”.
Nó nghe tiếng dạ rồi đầy đủ hết anh, chợt giựt mình ngó chị chừng hai mươi mấy trân trân, hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi chớ đâu ít lại kêu nó bằng anh, hổng lẽ… Chị đang đứng chờ hỏi lại:
“Uống gì, làm gì mà dòm dữ vậy, lạ lắm sao?”.
Nó bị cắt dòng suy nghĩ sực nhớ lại:
“Vậy cho chuối hột đi – tự nhiên bật ra: tại chị đẹp quá!”.
Chị cười hà hà:
“Xạo quá cha nội, cha này tán gái chắc dẻo miệng lắm”.
Nó cười:
“Chưa một mảnh tình vắt vai”.
Rót rượu đầy nó mời:
“Dạ, con mời chú”.
Uống cạn chú Năm hỏi:
“Cháu ở đâu lang thang đây?”.
Nó đã húp sạch tô cháo:
“Con ở quê, à mà con trở lại Sài Gòn, nơi sanh của con mà”.
“Còn nhà cửa, còn ai trong này hông?”.
“Hông còn gì hết chú ơi”.
“Vậy giờ tính ở đâu?”.
“Dạ chưa biết, vậy con mới định hỏi chú, chú chắc rành biết có chỗ nào cho mướn rẻ rẻ, có chỗ nào kiếm gì làm chú chỉ cho con với”.
“Biết thì chú biết, nhưng rẻ thì phức tạp lắm, có chịu nổi hông?”.
Nó lắc lắc đầu, nhấm thêm ly rượu:
“Dạ, con bây giờ chuyện gì mà hông chịu được, quá nhiều chuyện trải qua rồi chú à”.
Chú Năm có vẻ không tin:
“Cháu trẻ vậy mà nói trải đời à”.
“Dạ, trải đời thì con hông dám nói, chỉ trải qua nhiều chuyện thôi”.
Chú Năm gật đầu:
“Thôi được, uống xong đi chú chở lại chỗ này, nói rồi đó nghe phức tạp lắm, còn việc thì… cháu có tiền hông, mua chiếc xe như chú mà chạy”.
Nó suy nghĩ một hồi:
“Dạ, chạy xe con chạy hông được đâu, con bon chen hông được với lại chưa rành đường xá”.
“Làm nặng được hông, việc nặng thì có, đẩy xe cừ tràm, đạp xe ba bánh giao hàng than củi…”.
Mấy việc này thì ăn thua gì với nó, nó dạ:
“Việc gì con làm cũng được hết”.
Tính tiền, nó dúi vô tay chú Năm ít tiền, chú Năm cản lại:
“Thôi thôi, cho chú nhậu vầy được rồi”.
Nó dúi vô túi bằn được:
“Chú giúp giùm con, giữa trời đất minh mông lạ lẫm này con chẳng biết dựa vào ai”.
Chú Năm chở nó vô hai ba cái hẻm ngoằn nghèo, dừng lại trước căn nhà tường nhưng cũng lụp xụp, lờ mờ với anh đèn hiu hắc trong nhà hửng ra, chú Năm kêu:
“Chị Tư ơi chị Tư, có nhà hông?”.
Một người đàn bà mở cửa cót két:
“Ai vậy, giờ khuya lắc còn kêu um sùm vậy?”.
Chú Năm đáp:
“Tui nè, Năm su nè, ghé hỏi chị còn căn nào cho mướn hông, có người hỏi – Chú Năm chỉ người đàn bà: Dì Tư, chủ mấy căn nhà trọ”.
Nó gật đầu chào, dì Tư nói giọng còn uể oải:
“Còn, còn căn trong cùng, ở mấy người?”.
Chú Năm trả lời luôn:
“Mình thằng nhỏ này thôi”.
Dì Tư ngó nó từ đầu tới cuối:
“Kham đủ tiền hôn, ở bao lâu, đừng nói ở vài bữa?”.
Nó dạ:
“Dạ, con có tiền, với lại con đi làm nữa mà”.
Dì Tư nói giá, bao điện nước, điện chỉ thắp sáng không nấu ăn, nấu uống, chú Năm nài giảm thêm chút ít, dì Tư gật đầu đồng ý kêu:
“Đi theo tui, coi được thì ở”.
Dì Tư dẫn vòng ra phía sau nhà, vô con hẻm nữa rồi bước lên cái cầu ván nhỏ xíu, chừng vừa đủ hai người qua lại không đụng, hai bên là hai dãy nhà lợp lá, vách cũng che bằng lá, đã chuyển màu bạc xỉn, qua khe ván hở thấy nhiều cây cọc cắm xuống, nó nghĩ vậy đây là dãy nhà sàn làm trên sông trên rạch gì đây. Ánh sáng cũng vàng vọt, hắc ra từ khe hở của vách lá, ngang qua một căn thì vọng ra tiếng chủi rủa: “Đ.m mày, mày là thằng đàn ông khốn nạn, đ.m mày đ. xứng làm chồng tao, đ.m. tao mong xe cán chết mẹ mày đi”, có tiếng phản pháo lè nhè: “Con đĩ, đ.m. im đi hông tao oánh chết mẹ bây giờ, đ.m giờ giấc người ta ngủ, đ.m. phá đám hoài”. Dì Tư lắc đầu:
“Tối ngày chửi lộn riết, thằng chồng lè nhè, con vợ bài bạc vậy mà đều đều lọt ra năm đứa”.
Dì Năm mở cửa căn nhà cuối, bước vô, căn nhà chừng chín mét vuông, gọi là nhà chớ khác gì căn chòi ở rẫy, còn tệ hơn đó chớ, dì Tư bật điện, ngọn đèn tròn chẳng sáng là bao, dì Tư hỏi:
“Đó, vậy đó, vừa ý thì ở, đặt cọc hai tháng, ở tháng nào trả tháng đó”.
Nó nhìn quanh có phần lưỡng lự, nhưng nghĩ lại giờ biết đi đâu, biết chỗ nào rẻ hơn nữa, nó gật đầu:
“Dạ được”.
Dì Tư tiếp:
“Chừng nào ở, có giấy tạm vắng hôn?”.
Nó móc bóp:
“Dạ, ở bây giờ luôn, con gởi tiền còn con chỉ có giấy chứng minh”.
“Vậy cũng được, ở đây nó hơi phức tạp, đừng có xét nét, có chuyện gì báo với dì”.
Nó dạ, chợt nó nhớ ra bởi nó đang mắc:
“Cầu tiêu ở đâu dì?:
Dì Tư mở cánh cửa sau:
“Đái thì đi xuống đây, đi cầu thì ra phía trước quẹo trái có cái cầu cá”.
Dì Tư bước ra, chú Năm cũng lui ra:
“Mai chú qua chở cháu đi”.
Nó dạ, chạy ào ra mở cửa sau.

***

Nó ngã người cái phịch xuống sàn gỗ oánh một giấc tới tờ mờ sáng. Bụng đòi phải cho ra ngoài, lò dò ra phía trước quẹo trái thấy được hai cái cầu phía trước sáu bảy người xếp hàng chờ, bụng chột quá khó chịu, nó ôm mà muốn nhảy dựng. Một người đứng gần lên tiếng:
“Qua bên kia đi, xa chút mà ít người”.
Người này quay đi, nó mon men đi theo. Băng qua con hẻm, quẹo vào bờ đất phía dưới còn mọc dừa nước, chừng gần nửa cây số xuất hiện một cái ao lớn với ba cây cầu, không có người, người đi trước bước vô một cái, nó nhảy vô cái bên kia. Vừa ngồi xuống cái cầu tạm bợ còn rung rinh bao quanh cũng bằng những tàu lá dừa nước thưa thớt, có chỗ mục rớt mất, thiệt là “thoáng”, từ bụng nó ào ào rớt tọt tọt, tủm tủm, nó chợt nghĩ, người ta nói cầu tủm cầu tọt quả chẳng sai. Cái độc đáo nữa vừa rớt xuống tới nơi thì đàn cá tra ùa lại đớp ùm ùm, có con còn bay lên cao dành mồi, quẫy nước bắn lên ầm ầm… Nó phì cười, chà nghe đâu những con cá mập ú đầy mỡ này cũng vô nhà hàng sang trọng chớ đâu giỡn.
Chú Năm su chở nó lại vựa cừ tràm, bà chủ vựa nhận ngay. Việc chỉ cực lúc cừ tràm về, ghe chở đầy cập bến, chuyển cừ suốt đêm còn bình thường chẳng có gì ghê gớm, có khách mua, hai người chất đầy xe ba gác đẩy tới rồi đạp về, chẳng thấm thía gì với ở rừng rú, không có khách thì ngồi chơi, cà phê cà pháo, oánh cờ.
Nó bước ra khỏi nhà trọ rất sớm, trở về ngả lưng thì rất trễ, và thường thì đã khật khà khật khưởng lúc với anh làm cùng lúc với chú Năm su, khi chỉ một mình. Cần trốn những cảnh ngao ngán mà thấy ngày này qua ngày nọ ngay xóm nhà trọ, nghĩ người ta nói tới xóm nhà lá là những xóm tồi tệ, tồi tàn chẳng có sai. Có đủ hết mọi thành phần bất hảo, già trẻ lớn bé, trai gái hay đàn bà, mới bảnh mắt là đã tụ tập phì phèo cầm bộ bài mà xòe, mà bốp chát ăn thua đủ, chiều chiều xoay qua đề đóm nằm mơ cầu thần, lần sổ ghi chi chít những con số, vài tay dựa cột ngồi thừ, lim dim thả làn khói hút chích như đang ngồi mơ mộng trên xứ sở thiên đường trong bộ da bọc xương, tiếng chửi rủa phát ra liên tù tì, cha mẹ chửi con cái, con cái cũng chẳng tha cha mẹ, trả treo như mèo và chó, vợ chồng chửi nhau, hàng xóm chửi nhau, thêm tiếng chửi của những người thu tiền góp, tiếng chửi thì không còn gì xấu xa hơn nữa, trần trụi hơn nữa, những bộ phận cần dấu nhứt trên cơ thể đều được phơi bày. Có một câu hỏi mà nó không có câu trả lời là họ lấy tiền ở đâu ra, họ làm cách nào và vài ba hôm thì nghe nói thằng này bị hốt, thằng kia bị bắt, con nọ bị tóm, nói xong là xong chẳng có cảm xúc biểu hiện buồn vui. Một vài cái áo trắng ôm tập vở xuất hiện hiếm hoi rồi lận trốn mất tăm giống nó âm thầm trầm lặng…
Một cơn mưa lớn đổ xuống khi đang đầy xe cừ, cơn mưa thấm làm nó ớn lạnh, muốn cảm, chiều tối đó nó về sớm, không ngồi quán, về nằm vật ra nhà trọ, miệng đắng chát, móc gói thuốc, thuốc sạch bách không còn một điếu, lê tấm thân cũng tồi tàn như xóm nhà lá ra đầu hẻm, tới xe thuốc bán đêm:
“Chị cho nửa gói con mèo”.
Chị bán hàng đon đả lấy thuốc:
“Dạ, thuốc đây anh”.
Nó quay trở về, tếp tục thả người xuống sàn, rít một hơi nhả làn khói lờ mờ bay lên mái nhà, thầm nghĩ, chà bây giờ đi đâu cũng nghe kêu anh hết rồi, nhiều người nhìn lớn chớ đâu nhỏ, mình lại chẳng bao giờ soi gương để nhìn rõ mặt như thế nào, chẳng thèm để ý, cứ cho mình còn nhỏ lắm, nó đưa tay lên xoa xoa cầm, xoa xoa quanh miệng, râu đã lởm chởm và cứng rồi chớ không còn lông măng… Một cơn gió thổi qua khe lá nó sực nhớ tới cơn gió mang hồn lững thững, đã lâu rồi từ ngày gặp cơn gió tới giờ chưa gặp lại, nó gọi một lúc sau cơn gió mang hồn lững thững bay tới. Cơn gió chào:
“Chào anh, lâu quá hông gặp, chà anh lớn và chững chạc hơn trước nhiều”.
Nó ngạc nhiên nên ngồi bật dậy:
“Sao khi không gọi mình là anh?”.
Cơn gió cười:
“Thì anh bây giờ lớn rồi, ra dáng thanh niên trai tráng. em đâu dám vô lễ”.
“Vậy mình hông còn lững thững nửa hả?”.
“Đúng rồi, em cũng hông còn theo anh nữa, em đã xong xứ mệnh của mình, chỉ còn chờ lần chia tay thôi nhưng đâu nghe anh gọi nên em lững thững sau lưng anh”.
Nó khoát khoát tay:
“Cho mình xin lỗi, mình hông nhớ”.
Cơn gió cười:
“Đâu có gì, vậy bây giờ em bàn giao lại được rồi”.
“Tiếp theo sẽ là gì, cơn gió mang hồn đàn ông à?”.
Cơn gió lắc đầu:
“Bây giờ thì hông chỉ một mà nhiều cơn gió, những cơn gió và những linh hồn đi bên anh”.
“Những cơn gió và những linh hồn mà hông phải là một?”.
“Phải, rất nhiều cơn gió, có cơn gió mang linh hồn tội lỗi, có cơn gió mang linh hồn thánh thiện, cơn gió mang hồn phiêu lãng, có cơn gió mang linh hồn chẳng thánh thiện cũng chẳng tội lỗi…”.
Nó lấy tay bóp trán:
“Ví như cơn gió xoáy, gió nghịch mùa, gió lãng đãng mộng mơ, gió đìu hiu, gió vấn vương…”
Cơn gió tiếp gật đầu:
“Ví như vậy”.
Nó gục gật:
“Sẽ có cuộc chiến giữa những cơn gió này, cơn gió nào thắng nó sẽ ngự trị linh hồn ta”.
Cơn gió đứng dậy vẫy tay:
“Anh nói chẳng sai, cuốc chiến tiếp nối cuộc chiến, khó bao giờ ngừng, thôi tới giờ em phải tạm biệt, chào anh, chúc anh may mắn”.
Nó chào cơn gió mang hồn lững thững rồi lại ngã vật ra, nhớ lại lời của cơn gió mà mường tượng tới tương lai. Rồi đây sẽ là cuộc chiến, cuộc chiến nào không khốc liệt, nó thở dài thanh vãn, chưa có cuộc chiến mà đã mệt mỏi, chán chường, đã nhận những thê lương, cuộc chiến thì sẽ ra sao nữa… Nó rút thêm điếu thuốc, rít liên tục, nhả khói bay không kịp tan, khói xám lờ mờ in cái mặt xám xịt nó phía trên, khói thuốc cuộn cuộn, một cơn gió thổi làm khói thuốc vần vũ, gương mặt nó như vùng vẫy, méo mó, nhìn hoài nó đâm chán, lắc đầu, thôi bỏ đi không nghĩ nữa, nghĩ chỉ thêm nát óc, chấp nhận đi, đương đầu tiếp thôi, đã sanh ra là một kiếp người…
Cơn gió lững thững một xưng anh hai xưng em, mọi người cùng lứa đã kêu bằng anh, nó khẳng định được một điều rằng mình đã lớn, cũng cần phải gọi là anh ta, không còn là nó nữa.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU