ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Tiếng nhạc của ta khác tiếng chuông. Đôi lúc ta ganh tị, ta gõ từng nốt nhạc một, từng nối nhạc một cách xa cỡ quãng tám, từng nốt nhạc một rơi nhưng không rớt xuống, lưng lửng rồi ngân ngân trong không gian.
Cu Sô rất khoái nghe tiếng chuông. Bất kề tiếng chuông nào, tiếng chuông từ giáo đường hay từ chùa chiền. Tiếng chuông đêm giao thừa đi vào giấc mơ của nó. Nó thấy mình như thiên thần đang được tiếng chuông đưa bồng bềnh trên đám mây trắng, mây bồng bềnh khắp nơi, nó khám phá được khắp nơi đẹp như trong trí tưởng tượng. Tiếng chuông lay động con người, nghe tiếng chuông như được phá tan sự u ám, lòng nhẹ nhàng thanh thản. Tiếng chuông theo vào giấc ngủ có lẽ do nó chú tâm lắng nghe, không bỏ xót tiếng nào. Đã lâu lắm rồi nó không được nghe. Nó hay tưởng nhớ lại từ xa trong rừng, rừng vọng, những tảng đá lớn, đá vọng văng vẳng tiếng chuông, rõ hơn là ở cánh đồng, đồng vọng thánh thót… Nó chẳng hiều tại sao người ta cấm tiếng chuông hay như vậy. Chỉ có đêm giao thừa thì có lẽ người ta cố lờ đi để cũng phải ăn tết, sẽ xử lý về sau.

Một lần cu Sô đã thấy màu trừng phạt, trừng phạt tới rợn người đối với đôi mắt nhỏ bé và còn đầy màu ngơ ngác của nó. Một anh du kích khoát súng gằn giọng hỏi một sư thầy:
“Ông đi đâu mà ăn bận kiểu gì kỳ cục quá hả?”
Sư thầy khất sĩ mặc tam Y và ôm bình bát đáp nhỏ nhẹ:
“Thưa, đi khất thực.”
Anh ta thúc họng súng vào lưng sư thầy, nạt nộ:
“Đi ăn mày nói mẹ đi ăn mày bày đặt khất với thực. Ông có biết việc này bị cấm không? không tu không hành gì cả, về nhà ngay.”
Sư thầy thản nhiên không đáp, tiếp bước đi đúng giới luật. Ngày hôm sau sư thầy đi ngang xóm dưới, anh du kích lại gặp, lần này thì không còn nói gì nữa, sư thầy bị gói gô đưa về trụ sở ủy ban, rồi cùng hai người cũng du kích tìm đâu đó được một mớ cứt gà sáp mà trét kín đầy mũi sư thầy. Sư thầy vẫn với gương mặt bình thản không nói lời nào, nhưng dĩ nhiên thở khó nhọc hơn bởi phải thở bằng miệng. Sự việc lặp đi lặp lại mấy lần chứ không phải một ngày một bữa, cuối cùng có lẽ cũng nhợn tay và ớn óc với mùi khiếp đảm, anh du kích giả ngó lơ không thấy mỗi khi giáp mặt sư thầy.
Tiếng chuông giao thừa vẫn đổ. Có như thế nào cũng không thể mãi mãi làm im bặt tiếng chuông.
“Mày chết xuống địa ngục, làm quỷ làm ma, không được đầu thai kiếp khác.” Nó nghe người ta chửi nhau câu này. Nó hỏi cha: “Là sao hở cha?”
Cha Cu Sô giải đáp:
“Ừ, đó là kiếp luân hồi, là tái sinh, con người chết đi là hóa thân đầu thai kiếp sau, người tốt kiếp sau sẽ là người tốt, người xấu sẽ đầu thai kiếp con vật, người quá xấu sẽ không được đầu thai mà bị đày đi trừng trị hay biến thành ma quỷ. Người thiệt tốt sẽ hóa thành thiên thần…”
Vậy là nó hiều, cần phải là người tốt, cần phải tu tâm dưỡng tánh, học hỏi ở những nơi có tiếng chuông ngân.

Đêm trăng, trăng rằm sáng vằng vặt là đêm đối xứng với đêm tối trời.
Đám con nít rủ nhau chạy ra lộ vui chơi thỏa thê ở những đêm trăng. Trên đường làng chạy ngang ngôi nhà tường hai mái ngói, nhà lớn hiếm hoi nơi đây, cái sân xi măng cũng lớn. Người ta trưng dụng một nửa căn nhà trên và cái sân, chừa lại nửa căn nhà sau và cái bếp cho gia chủ. Nửa căn trên, giữa hai cây cột gỗ tròn trơn láng, hai cây cột chính là cái tủ thờ trạm trổ hoa văn tinh xảo và cẩn xà cừ điệu nghệ, cùng với bộ tràng kỷ cũng chạm khắc tinh xảo hoa văn với cẩn xà cừ phía trước, bộ tràng kỷ để tiếp khách quý, trên đó đặt bộ ấm tách trà, bình tích bằng gốm tráng men xanh ngọc có vẽ hình dáng rồng bay phượng múa, duy chỉ có cái vỏ bình tích làm bằng vỏ trái dừa khô là nhìn dân dã bên cạnh cái vỏ bình đan bằng những sợi cói nhuộm nhiều màu, bên góc phải là bộ phản dày lên nước bóng như gương, chân con ngựa kê phản cũng chạm khắc cầu kỳ, bên góc trái là cái tủ búp phê chưng nhiều đồ sưu tầm, phía trên tường treo cái đồng hồ hộp gỗ cũ kỹ nhưng với nó đẹp lạ lùng, có con chim gật gù cú cu cúc cu báo mỗi giờ tiếng lảnh lót lảnh lót, đó là những thứ phải dọn đi cho trống. Từ ngày dọn trống trơn không biết gia chủ đem đi đâu, hay chất chồng vào nửa căn dưới.
Có lần nó nghe ông chủ nhà ca thán với cha mình:
“Không biết để đâu bây giờ, để hư thì tiếc đứt ruột, mà bán thì quá rẻ cũng quá tiếc. Nội tiền xe chở đi thành phố, thị xã cũng đủ nuốt hết trơn. Xe cộ kiếm hông ra.”
Cha nó chỉ biết lắc đầu:
“May mà chưa bị tịch thu. Rất nhiều người giàu có các nơi đã bị như vậy.”
Ông chủ nhà lắc đầu theo:
“Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.”
Nửa căn nhà trên bị trưng dụng làm kho, một bên chất lúa, chất bắp, một bên chất phân bón. Cái sân phơi nông sản và hội họp.
Cu Sô thấy hội họp nên không chạy theo ra lộ nữa, dừng ở căn nhà. Trong hàng hiên căn nhà kê bộ bàn ghế dài như bàn học sinh, bàn bốn năm đứa ngồi. Một ông cán bộ văn hóa thao thao rao giảng ngồi ở giữa. Một bên là một ông cầm viết hí hoáy không ngừng. Bên còn lại là một ông ngồi chống cằm, ánh mắt nhìn lên bầu trời xa xăm, lâu lâu bứt bứt mấy cọng râu, chẳng thấy ông làm gì, có lẽ ông là người làm chứng buổi rao giảng. Người đi dự họp, thực ra là đi nghe giảng ngồi bệt dưới sân. Một số người ở hàng đầu còn ngồi ngay thẳng, lui càng về sau càng siêu quẹo, nhiều người ngả tựa vào nhau, những hàng cuối có người nằm sài lai, gối đầu lên chân người kề bên, có người thiu thiu, có người ngáy khò. Màu của mệt mỏi và buồn ngủ tràn ngập. Nó không theo kịp sự thao thao bất tuyệt, chỉ lưu giữ một chút màu rao giảng: “Con người chỉ sống một lần. Chết là hết là về với tro bụi. Con người có số kiếp là dị đoan, là mê tín. Chủ thuyết duy tâm là sai trái. Chủ thuyết duy vật mới là kim chỉ nam mới cần áp dụng cho xã hội mới, tư tưởng mới, còn gọi là chủ thuyết vô thần…”.
Cu Sô không rõ chủ thuyết là gì, duy vật duy tâm là sao. Nhưng cũng nôm ra vài ba chữ, vô thần là không thần thánh, mê tín dị đoan là cuồng vọng, kiếp luân hồi vô nghĩa. Có điều lạ là không thấy chứng minh, chỉ thấy áp đặt. Hỏi ngược lại à? chứng minh có kiếp luân hồi? Chí ít ra nó cũng ngả lòng tin có ma quỷ hơn là không. Rồi sự đúc kết của dân gian hàng ngàn năm qua chứ không phải ngày một ngày hai, để người ta còn tin vào tiếng chuông, những hiện tượng lạ chưa lý giải. Điều quan trọng hơn là làm cho con người nhìn lại mình, giảm bớt điều xấu. Có mấy ai chưa bao giờ làm điều gì xấu? dám vỗ ngực đã đủ dũng khí ngăn cản bản thân mình để chưa bao giờ làm điều xấu dù có khi vào thế bi cùng, dù điều xấu nhỏ nhoi? Nó vẫn sân si giành dựt ngay cả trong gia đình dù không muốn chứ chưa nói tới bạn bè, người xa lạ. Một bữa giữa đêm mờ tối, giữa không gian thinh lặng vắng bóng người, nó biết chắc vậy, giữa đám rẫy bắp trái to tròn, đói, đói lả người nó muốn nhào ngay vào bẻ, vào ăn cắp để về nhai ngấu nghiến, thỏa cơn đói, biết chắc sẽ không ai phát hiện được nhưng nó chùn bước nghĩ về sự trừng phạt về sau, màu của sự trừng phạt và màu đói chiến đấu với nhau kịch liệt, cuối cùng màu trừng phạt thắng cuộc. Nó không tự hào, nó chỉ mừng mình không phạm phải điều tồi tệ nhờ có lòng tin. Nơi những tiếng chuông cho người ta lòng tin. Và cho cả sự tha thứ nếu sám hối khi lỡ vướng vào điều tồi tệ. Và nơi này giảng giải, hướng con người ta, nếu nhận ra thì họ tới chứ đâu có áp đặt, đâu có ràng buộc, ai muốn nghe chuông chùa thì nghe, ai muốn nghe chuông giáo đường thì nghe, còn những tiếng chuông khác nữa. Kể cả những người không nghe tiếng chuông nào vẫn không sao, vẫn là bạn bè, bằng hữu của nhau mà! Cu Sô ghi một màu mâu thuẫn rất lớn. Tư tưởng là của riêng mình, một đời sống thôi là của riêng mình, không để ai áp đặt như kiểu tình yêu tự do nhưng lại cấm đoán đức tin(?!).

Làng Bưng, đầu làng cu Sô có một con đường vào làng Bưng, làng Bưng ở cuối cánh đồng rộng là vùng trũng mọc những cây Trâm nước ngày xưa. Trâm nước nay còn một vài cây và một vài gốc lớn nằm trên một vài ụ đất như một dấu tích, một chứng nhân địa lý. Vào làng Bưng chỉ có những con đường xe bò, mùa nắng đầy gió bụi, mùa mưa thì sình lầy khó đi và hơi xa nên làng gần như tách biệt. Ngược lại dưới này rất trù phú, không khí mát mẻ gần như quanh năm, cây trái xum xuê xanh tốt, nhứt là những hàng dừa cao ngất nhà nào cũng có cả dãy cả vườn.
Một bữa, đầu đường vào làng Bưng bỗng chộn rộn. Một chiếc xe khách Hải Âu (xe khoảng 40 chỗ của Liên Xô, xe này thường để chở chuyên gia Liên Xô hay của nhà khách tỉnh, chở các đoàn tham quan công tác…), một chiếc xe Toyota 1500 màu trắng bốn chỗ ngồi, một chiếc U oát, lại xe UAZ – 469 của Liên Xô sản xuất, người ta gọi oát thay cho Watt, phát âm là Quát nhưng nhẹ hơn chứ không nặng như quát mắng, tỷ như ký lô oát chứ không là ký lô Watt, Oa (Qua) xin tơn từ Woshington … cùng hai chiếc xe lam (Lambro 550) dừng lại đậu tại đây. Một chập sau một đoàn người khá dài ăn mặc chỉnh tề từ bên trong đi ra. Không chỉ con nít mà cả người lớn cũng ra bên đường, bên cổng nhà nhìn xem. Một người nói:
“Đám hỏi, người ta bưng quả đi đám hỏi.”
Con nít xì xào:
“Đẹp quá chừng, đẹp quá xá, vui quá hen…”
Một người biết chuyện lên tiếng:
“À, đám hỏi của chú đó là công an huyện, là đội trưởng điều tra, nghe đâu sắp lên phó công an lận đó. Hỏi con gái ở xã kề mình.”
Mấy cô gái mới lớn cười hí hí:
“Hèn chi mần lớn dữ. Cả đoàn xe luôn. Ước chi làng mình cũng được vậy…”
Mấy chiếc xe nổ máy chạy đi. Một người nói nho nhỏ:
“Ờ hen, hèn gì mấy bữa nay tui nghe râm ran, to nhỏ, mấy ông nhà mình canh những ngày này đem lậu gỗ về. Người ta phải lo cho đám của ông lớn mà.”
Nhiều cái gật đầu nhè nhẹ đồng tình. Rồi tản ra ai về nhà nấy.

Đi làm rừng ngày càng khó khăn, ngày càng phải vào rừng sâu, bởi bị cấm. Kiểm lâm truy lùng bắt bớ gắt gao, bị bắt không chỉ bị tịch thu đồ nghề, lâm sản mà có khi còn bị đi tù, học tập cải tạo, lao động. Nhưng nhiều người vẫn phải làm, không làm thì chẳng biết làm gì nữa, lấy cái gì mà sống. Đưa gỗ về làng đêm khuya đêm hôm, có vài ba người về trước dò xét như trinh thám. Gỗ không đưa thẳng về mà tập kết ở Bàu Dài, ở bìa rừng cách làng một cánh rẫy, ngâm gỗ dưới bàu. Vài tháng sau ra chở về, có gặp kiểm lâm thì giải thích gỗ đã làm ngâm từ lâu, gỗ đã thấm bùn thâm đen. Về sau cũng bị tịch thu khi kiểm lâm bắt gặp, gỗ khai thác hồi trước đâu mà có đều đều. Dân làm rừng lại nghĩ cách, bó những cây tre hay le quanh khúc gỗ rồi ngâm, tre le không bị cấm khai thác. Qua được một số chuyến thì “tai vách mạch rừng”, bị khui bị bắt tiếp.
Đưa gỗ bằng xe bò về dễ bị phát hiện, khó trốn tránh. Vận chuyển người ta nghĩ ra chiếc xe đạp thồ. Chiếc xe đạp sườn ngang hàn thêm mấy cây sắt gân hay cặp những khúc gỗ cứng. Bỏ cái yên trên, cái yên sau hàn cứng ngang bằng cái sườn. Bánh xe thì căm của xe ba gác, vỏ bốn lớp bố bơm cứng ngắt, ấn tay không nhúc nhích. Khúc gỗ gát từ tay lái dài ra yên sau. Kẹp cột mấy cây bên hông giữ chặc lại. Cột thêm vào tay lái một khúc cây hoặc khúc gỗ cho dài thêm để cầm lái, đứng bên hông xe tay vịn gỗ mà đẩy đi. Nếu có người thì thêm một người phụ vịn và đẩy phía sau. Chở kiểu này nguy hiểm hơn, nhiều tai nạn thương tâm xảy đến.

Lưng lửng nửa tháng sau, cũng ngay tại chỗ đầu đường vào làng Bưng, bà con cũng chộn rộn chạy ra coi ngó. Nhưng lần này không phải những chiếc hôm bữa mà là một chiếc xe cứu thương và một chiếc U oát. Trên xe U oát bốn người mặc sắc phục công an xuống xe cũng là lúc xe cứu thương mở cửa sau. Một cỗ quan tài được đưa ra, người nằm trong quan tài chính là anh công an vừa làm đám hỏi. Bốn người cùng hai người trên xe cứu thương mặc blu trắng đưa quan tài vào làng. Cô gái vừa được dạm hỏi, chưa kịp mặc áo cưới không còn đủ sức lực, xỉu lên gục xuống được mọi người dìu đi theo sau cùng tiếng khóc thất thanh của những người nhà.
Hôm sau đi dự đám tang mọi người mới vỡ lẽ. Rằng anh tự tử bằng treo cổ. Nhưng điều này không ai tin cả. Người nhà lên tới nơi nhận được kết quả khám nghiệm sơ sài, cho nhìn sơ qua mặt rồi đóng nắp quan tài. Ba của anh uất nghẹn lẩm nhẩm với những ai ông gặp:
“Không thể nào, tui biết tính nó. Có oan khuất gì ở đây chắc chắn. Tự tự bằng treo cổ mà mặt mày vẫn còn tươi tỉnh, không dấu hiệu gì, máu không tụ bầm tím tái, không lè lưỡi… không thể nào…”
Cũng như ba anh, nhiều người cũng biết bản tánh bộc trực của anh, thậm chí có người còn gọi anh nhà Bôn-sê-vích, nên chắc chắn không tin. Trùng hợp với lúc này là có một đoàn xe tải chở gỗ lậu cả chục chiếc, mỗi chiếc chở năm, sáu khúc cây gỗ đường kính cả mét, dài trên năm chục thước, đi ngang bị chặn bắt. Được đưa về tạm giữ ở công an huyện. Rồi nghe có lịnh của cấp trên phải để cho đoàn xe đi. Cuộc họp ở huyện được tổ chức, nhiều người cấp trên ngả về hướng cho qua, nhưng anh một mực không chụi, phải xử lý đến nơi đến chốn dù của ai đi chăng nữa. Anh mất thì đoàn xe được cho khởi hành. Nhưng chuyện này lớn lao, bà con thậm chí không dám thì thào. Từ đó cũng dần quên lãng. Chỉ những người trong cuộc thì mang nặng nỗi đau oan khuất.
Cu Sô cùng đám con nít cũng chạy xuống lanh quanh đám tang nghe ngóng. Và nó vẽ thêm vào ký ức một màu đức tin, đức tin Bôn-sê-vích mà nó cũng có học loáng thoáng qua. Những đứa bạn thì tò mò là chính chứ chẳng hiều là mấy nên nó không trò chuyện được. Người lớn thì không thể hỏi. Bởi vậy chỉ còn thắc mắc ở trong đầu, vì sao đức tin này cũng bị triệt như người lớn xì xào? Và nó nhớ thêm lời của ông bác bị lấy nửa căn nhà, “Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.” Làng Bưng xa xôi một thuở cũng như vậy, nơi che chở cho rất nhiều cán bộ, những ngôi nhà ở làng Bưng như lọt giữa một cánh rừng rậm.

Có một màu in đậm trong trí não của Cu Sô là màu nắng. Nó gọi màu nắng là màu bao quát tất cả. Bầu trời chỉ là một phần chứ không là cái nền. Màu nắng mới là cái nền. Chi tiết thì vô vàng. Con người thường nhìn ngang tầm mắt nhưng vui buồn hay ngước nhìn lên, buồn thê thảm thì cuối nhìn xuống. Nó muốn lưu chi tiết từ trên cao xuống dần.
Nó hay ngã người tựa gốc cây rất bự ở giữa cánh đồng người ta giữ lại để lấy bóng mát. Khi thì có bạn bè khi thì không. Có bạn bè mà nó không trò chuyện, không vui chơi thì cũng coi như không có.
Cu Sô thích nhìn bầu trời trong xanh, cái nền nhỏ chứa những đám mây trắng khi đứng sựng khi bay bồng bềnh, khi bay vun vút, và những đám mây tơi như những sợi bông, như những bông mía, mây mỏng nhìn xuyên qua thấy nền xanh. Cái nền nhỏ không chỉ màu xanh, đôi khi chuyển màu xám và xám xịt, chuyển màu tối sầm thì không còn màu nắng. Những đám mây trong nền xám, xám xịt cũng xám và xám xịt, cũng có khi đứng sững, bay vun vút hoặc chậm rãi. Đó là bị màu gió chuyển đổi. Gió hiu hiu, gió nhè nhẹ, gió mạnh, gió vù vù… Ở nơi này nó chưa bao giờ thấy cơn gió bão táp, cuồng phong điên cuồng dai dẳng, vài lần những cơn gió dữ dội, cuốn xoáy đất cát, lá cỏ như luồng khói cuồn cuộn cuồng điêng phút chốc mà thôi. Nó biết những cơn gió làm nhiều đám mây thay đổi hình thù, điều này thì đám con nít thấy lạ, cứ nghĩ đám mây tự được tạo ra hình hài. Nó hay rủ và đám bạn rất vui, được nó chỉ lên những đám mây này, vừa vẽ theo vừa giải thích những hình đó. Khi thì cái nhà, khi thì bụi cây, khi thì hình những con thú, khi thì… bị cãi lại.
Một bữa có đứa cãi:
“Mày vẽ tầm bậy, mày vẽ trật lất.”
“Trật chỗ nào?”
“Hông trật à, tụi tao làm gì được cỡi trên những con bạch mã, mấy đứa con gái xấu quắc, đen thùi làm gì được ở trong vườn tiên?”
Nó cười hà, không màng lắm, với nó màu tiểm tô, màu tưởng tượng mới là số một, mấy đứa làm sao hiều thấu, đâu có đủ ước mơ, đâu đủ dũng khí để cho mình oai phong, lãng tử trên con tuấn mã bay khắp các phương trời, đâu biết sự hóa thân, vào vườn tiên sẽ hóa thân như tiên nữ. Nó đọc được trong các chuyện cổ tích là vậy và nhìn thấy những đứa con gái tìm ẩn vẻ đẹp, chỉ bị nắng trời phủ che nét đẹp mà thôi.
Những đám mây bay là đà ngang che đỉnh ngọn núi lớn nó rất khoái chí, đó thường là những ngày âm u, lắc rắc những hạt mưa suốt, đôi khi mưa lâm râm kéo dài cả tuần lễ cũng là báo hiệu thời tiết ảnh hưởng bão ở đâu đó. Những ngày nắng nóng, có cơn mưa lớn đổ xuống thì tại ngọn núi lớn này khí đá bốc lên, bay đi rất chậm ngỡ như những đám mây bồng bềnh bao bọc quanh đỉnh núi, cơn mưa nhỏ thì giống những đám phù vân, khí bốc lên và bay đi rồi tan rã mau lẹ, nó mường tượng núi là cái bếp lò bự bành ki tỏa đám khói lam chiều lớn thiệt là lớn.

Chim chóc gắn liền với nền bầu trời xanh và cả nền xám.
Bản nhạc ta xướng càng rộn ràng, rộn ràng chân sáo!
Một con chim trơ trọi bay trong nền xanh. Con chim bay một mình nhưng không biển hiện gì là cô độc. Chim bay một mình rất ít. Con quạ đen thùi lủi bay một mình săn mồi, cái cách của nó không bằng con diều hâu xám trắng, diều hâu dang cánh rộng không vẫy, lượn qua lượn lại rồi chúi mình lao vút xuống bắt con mồi trong chớp mắt. Chớp mắt, tích tắt, người ta rùng mình quả chẳng có gì sai, dĩ nhiên cũng phải đúng diễn biến. Chim đá nhau hiếm gặp. Nó chỉ gặp được những cặp chim cu, chim cút và chèo bẻo đá nhau. Chim chèo bẻo màu đen nhánh mình thon nhỏ, đuôi dài quần nhau đá, bay lên rượt xuống rất nhanh trên các tán cây nhỏ. Nhiều con chim lớn phải ngán chèo bẻo. Mùa cánh đồng, nương rẫy đơm bông kết trái, từng đàn chim két mình xanh mỏ vàng đông như kiến cỏ bay về rợp trời. Đàn cò trắng ở cánh đồng bưng lâu lâu cũng bay tới cánh đồng vàng. Đàn le le, vịt trời bay ngang, le le có lúc bay từng cặp, từng đôi. Chim bay đàn còn có đàng cưỡng, đàn cu… Chim cu rất nhác, tổ của nó chỉ lót sơ sài vài cọng rơm rạ, cỏ khô. Ngược lại thì con tu hú làm tổ kỹ càng đẹp mắt, tổ hu hú treo ngược trên ngọn tre, ngọn cây, lủng lẳng rất nhiều như những trái cây trên cành. Cu Sô đọc được trong chuyện cổ tích rằng ngày xưa tổ của con chim tu hú là của chim cu, trong lúc nó đi kiếm mồi thì bị tu hú chiếm mất, nên đành phải lót tạm để đẻ. Nó một vài lần đi theo đàn anh gác cu, con cu mồi trong cái lồng được bao bọc cây lá ngụy trang như đang đậu trên cành cây gù tiếng rất hay, dụ được chim bay tới, chim bên ngoài chẳng biết nó hiều được hay vô tình, bay nhảy, đá sập cánh cửa lồng rồi hoảng hồn vụt bay, cả ngày chầu chực như vậy có khi chẳng bắt được con nào. Về sau nó mới hiều được việc gác cu đứng thứ ba trong tứ đại ngu, “Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Bẫy chim cu không chỉ gác lồng mà còn giăng lưới, chim cu mồi gáy hay đã bị che mắt cho đi tới lui quẩn quanh bên lưới dụ bầy chim, con chim đã bị cắt cánh không thể bay lên, bầy chim bị dụ sà xuống, người ngồi núp trong lồng lớn ngụy trang cây lá kín mít chỉ việc giựt sập lưới bắt cả bầy. Chim cu cườm gáy hay thì tiếng hót của chính chòe than, chích chòe lửa lanh lảnh tuyệt vời. Chim cưỡng, chim sáo, chim két rất khôn, nuôi tập nói được, nhứt là chim nhồng nhưng chỉ mỗi con sáo là khá trung thành với chủ, vẫn ở bên chủ khi được cho ra ngoài nhảy tung tăng. Cu Sô khoái nhứt là những con chim nhỏ, chim se sẻ. Con chiền chiện vút lên thẳng đứng như chiếc trực thăng, lên cao nó không bay mà đứng tại chỗ vỗ cánh liên tục, hót líu lo líu lo rồi vút lên thêm chút, hạ xuống một chút, vút trở lên một chút, dừng lại vẫn líu lo líu lo… một vài con cất lên theo, vài con nhảy lưng tưng bên dưới có hót nhưng chừng như không dám vút lên đọ dáng. Con sơn ca không vút lên thẳng đứng mà bay uống lượn, cùng với họa mi cất tiếng hót là những nghệ sĩ của núi rừng, làng quê. Chim sâu rất dạng dĩ, nhảy nhót tung tăng trước mặt tìm mồi. Cũng nhỏ nhưng không được như những con se sẻ là con con chim cút, bị giăng bẫy bắt tàn canh. Những người săn chim cu, chim cút chuyên nghiệp giả tiếng chim để dụ giống như đúc. Một loài nữa là những con chim mía, mùa mía trổ bông những đàn chim mía dày đặc bay về nghỉ đêm trên những đám mía. Bình thường không ai giăng bắt nhưng kiệt quệ phải đành thôi. Từng con chim bị nhổ lông nhỏ chút xíu cỡ ngón tay cái bị nấu nướng nó thấy rất chạnh lòng.

Lưu giữ màu của chim muông nó kèm theo lưu giữ màu của cái nạn thun, cái dàn ná. Nạn thun săn chim chóc là chính và một số con thú nhỏ như thỏ sóc, gà rừng, nhím cheo… Các con thú đã dần dần hiếm. Người ta tới ở ngày càng đông, lấn vào bìa rừng, cùng với phá rừng làm nương rẫy, rừng lùi dần, thú rừng bỏ đi vô ngày một sâu hơn. Những lúc trước lâu lâu có con thú rừng lớn như nai, heo, đỏ… chạy lạc về làng, nay thì không còn, con nít trông ngóng như ngày nào để có thịt chỉ hoài công. Hay vào bìa rừng lấy củi, trên đường đi thấy dấu con trút (tê tê), con rùa, lần theo một hồi là gặp, lấy cành cây cưng cứng một chút chọt vào, con trút cuộn tròn cứng ngắt quanh cành cây, vậy là xách về có thịt vào loại hàng đứng nhứt, rùa thì không bắt làm gì, nếu rùa nhỏ bắt về cho con nít chơi vài bữa thì thả trở lại. Sau này thì gặp rùa là bắt tuốt, về bỏ vào trả muối hột mà rang cho rớt mai mà ăn, một số người không ăn vì nghe nói ăn rùa rất xui xẻo. Có một lần mấy đứa con nít mải mê rượt theo con nai con, vượt quá bìa rừng một chút thì gặp con trăn dài bảy tám thước, trăn ngoạm một con đỏ bự rồi nằm luôn, nuốt mới quá cuống họng trườn đi hổng nổi, nằm chờ xuống bụng cho tiêu, mấy đứa run bắn người phải chạy về kêu người lớn. Trăn được đưa về có thịt trăn lại được cả thịt đỏ còn tươi. Những chuyện như vầy cũng không bao giờ còn nữa. Thịt thú rừng lớn cũng không còn thấy săn được đưa về xẻ thịt chia hoặc bán rẻ ở làng như ngày trước, vẫn có những thợ săn vào rừng sâu săn bắt nhưng bán lén lút nơi nào đó.
Chuyện đi săn chỉ còn qua lời kể của ông Tiên. Tụi nó nghe vẫn mê tít và có chuyện vui vui.
Ông kể về ông thợ săn bằng phi lao rất thiện nghệ với đàn chó thiện chiến. Ông nổi tiếng không chỉ trong làng mà tiếng bay đi rất xa. Cây phi lao thường người ta làm bằng cán mây đã dẻo, ông làm bằng rễ cây sóng rắn thì càng dẻo gấp mấy lần. Cất công đào rễ cây sóng rắn và để có được cán gần bằng cùm tay, dài hơn hai thước tới ba thước cũng không phải dễ. Khi đi săn gặp con mồi, đàn chó sủa ăng ẳng gọi nhau phóng rượt đuổi như ngựa phi, chó thân nhỏ và uyển chuyển hơn, phi và luồng qua những chỗ hẹp bị vây từ cành cây bụi cỏ nhìn càng đẹp hơn cả ngựa, ông cầm phi lao phi theo cũng không thua gì, ông phóng phi lao siêu đẳng gần như đã phóng là bách phát bách trúng. Phi lao ghim vào thân con thú, thú càng chạy thì cán càng dẻo càng nhịp càng làm mũi tên sắt có ngạnh càng lún sâu, con thú càng mau đổ gục.
Ông kể tiếp những người đi săn bằng cách đánh bẫy cũng rất độc chiêu. Các loại bẫy như bẫy thòng lọng, bẫy sập, bẫy đè, bẫy hầm chông… Thợ săn rất rành rẽ, biết chỗ nào có nhiều loại thú nào, làm bẫy gì dễ bắt được. Bẫy thòng lọng thường bắt chim chóc, các loại thú nhỏ và loài bò sát. Bẫy sập bắt thú lớn hơn, thú trung trung, đôi khi cũng bắt được thú lớn, phần nhiều là bẫy sập cạp với hai hàm sắt nhọn cạp xiết cứng chân con thú. Bẫy đè cũng bắt thú trung bình, bẫy khá đơn giản, đặt mồi dụ dưới tảng đá hoặc khúc cây lớn được chống đỡ mong manh bằng một khúc cây nhỏ khác, thú vào ăn mồi đụng phải khúc cây này làm đá hoặc khúc cây bự sập chèn đè bên dưới. Bẫy hầm chông thường đề bắt thú lớn, nhứt là heo rừng độc chiếc. Heo rừng độc chiếc rất tinh khôn, không phải dễ bẫy. Bẫy được thường vào mùa nắng, nước chỉ còn lại ở các hốc khe suối hay các bàu. Nửa đêm heo ra uống nước. Có người đào hầm, đặt chông bên dưới, ngụy trang cỏ lá bên trên khó phát hiện và đường mòn dẫn vào, xung quanh rào chắn các ngả nhưng heo vẫn tìm đường tránh được và mũi nó rất thính, đánh hơi được hơi người dù đã qua hai ba ngày. Phải làm nhiều hầm, nhiều đường, kiên nhẫn dụ kha khá thời gian nó mới lọt bẫy.
Heo rừng còn cách khôn nữa là đào hang trong các hốc bụi tre. Có người chưa kinh nghiệm, gặp heo chạy tót vào hang, tưởng chắc mẫm, đặt bẫy rồi hun khói cho ngộp đằng nào hổng chạy ra. Nó có bung chạy ra nhưng ra… hang khác, hai hang thông nhau hình chữ u, chui vô một lỗ ra lỗ kia, phóng chạy mất tiêu.

Có hai đứa bưng mặt chạy ào từ bìa rừng về. Thở hổn hểnh và nằm vật ra bãi cỏ còn bị chọc ghẹo:
“Aha, thằng này cái miệng bự như mỏ heo.”
“Còn thằng kia mặt méo.”
Hai đứa bị ong chích mặt sưng chù vù. Cu Sô hỏi:
“Nhức hông tụi bây, ong gì vậy?”
“Nhức, nhưng cũng hông nhiều lắm, ong mật thôi. Tụi tao ỷ i hông đốt lửa, bị chích tè le. Tụi bây kiếm bó rạ đi, lại bắt chớ hông ong hút mật bỏ đi mất.”
“Ừ, ong mật thì không sao.”
Cả đám lại chạy theo hai đứa này và bắt được tổ ong khá bự, nhưng cũng không còn nhiều lắm. Nhưng chia nhau những giọt mật tinh khiết ngọt sớt cũng ngon lành.
Là loài có cánh nhưng mỏng và nhỏ nhắn, ong có trong màu bầu trời dưới mắt cu Sô. Những đàn ong mật ngọt ngào, những đàn ong ruồi đàn rất lớn cho mật cũng ngọt ngào và chích còn hiền hơn nữa, chỉ đau như kim châm và không sưng to. Những đàn ong có thêm chức năng thụ phấn cho hoa trái. Nhưng không hiền như ong mật, ong vò vẽ có tổ làm nhìn như vân gỗ khá đẹp lại chích gây thương tích, gấy sốt gây bịnh, bị chích nhiều còn gây ra cái chết đau thương. Ong vẫn còn nhiều ở bìa rừng, thỉnh thoảng ở làng, ở đồng vẫn bắt gặp.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Advertisements

2 thoughts on “ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

  1. lê ngọc duyên hằng nói:

    Cu Sô vô tư trong Nắng Vàng Tươi…
    Ngồi gốc Cổ Thụ Cây Cao bóng Cả…
    Tuổi Thơ chơi trò U Mọi,Lò Cò….
    Hồn nhiên vui đùa ước mơ vu vơ..
    …Trời xanh gió thổi mây bay lững lờ…
    Mây trắng mây xám đan thành giấc mơ…
    Những hình ảnh tưởng tượng cũng từ đó..
    Hiện ra trong ý nghĩ rất thực thà…
    …Kia- Bạch Mã hoàng tử và Công Chúa
    Nọ-Xe Loan Phụng phi nhanh đường xa…
    Công Chúa đen thui nhìn Xấu Xí quá!
    Bạn Sô trêu chọc trề môi dài ra..
    ….Gió thổi dịu êm ru mộng tuổi hoa…
    Khói bếp lò ,khói mây trời lan tỏa…
    Bay lên bay lên theo ước mơ xa…
    Vẽ vời trong trí bao điều kỳ lạ!
    ….Ngày mới tiếng chim trong vườn líu lo…
    Đủ các loài chim bay gợi chú ý…
    ”Bay vút bay thẳng loài chim Se Sẻ
    Chim Sáo có đôi chao liệng mau lẹ
    …..Chim Cút-Chèo bẽo-Chim Cu-Chim Đá….
    ”Đặc điểm mỗi con Tính Ý khác xa!”
    Nhắc đền Chim Nhớ Dàn Thun Cây Ná
    Tìm giết-nướng trui- chút buồn trong dạ!
    …”Rễ Cây SÓNG RẮN”dùng làm PHI LAO
    ”Bách phát bách trúng”Thiện Xạ thật Tài!
    NAI rừng đi LẠC đừng hòng thoát thân!
    HEO rừng -Bẫy SẬP gai chông gài cắm…
    ….RÙA ăn Xui nên đời còn may mắn!?
    Chuyện ONG RỪNG Chích thấy nhớ quá chừng!
    SƯNG mặt SỈA mày nhưng nhức vô cùng!
    ONG VÒ VẼ Chích càng đau kinh khủng!
    ”Xui rủi CHẾT NGƯỜI đừng nói BỊ THƯƠNG!?”

  2. lê ngọc duyên hằng nói:

    Nuôi giấu du kích CÓ CÔNG Cách Mạng…
    HỢPTÁC Làm Việc-Của Riêng NHƯ Chung…
    Nhà cao cửa rộng đóng góp THỰC-DỤNG…
    Toàn Tâm Toàn Ý BIỂU LỘ Sẵn Lòng…
    …NHÀ Trước chứa Nông Sản -Mùa Thu hoạch…
    SÂN Rộng dụng chỗ HỘI HỌP Truyền Thông…
    Phổ biến TINH THẦN Tham gia luôn ĐÔNG…
    Nhất những đêm TRĂNG SÁNG càng rộn ràng…
    ….Tủ Thờ-Cột Gỗ chạm trổ Long Phụng
    Ngoài VỎ DỪA trong Bình Tích sang trọng
    Vật dụng Thượng Lưu bỗng dưng NHƯ KHÔNG!
    ”Cái nhìn DỊ ỨNG-Đôi Mắt nhà NÔNG…?!”
    …Giàu phải ĐỒNG HÓA giống như Thường dân?
    Ván Ngựa-Trường Kỹ”AI cũng có thể NẰM?”
    ”Ngã ngớn- tênh hênh-thoải mái GÁC CHÂN?”
    -Thời đại ”Búa Liềm”-Lao động Vinh quang?
    …Cu Sô loanh quanh nơi chốn Hội Họp…
    Đức Tin ”Chúa-Phật-Tiên Thánh-VÔ THẦN…”
    Thắc mắc đủ thứ hỏi Ông nói rằng:
    Sống ÁC”Chết thành Ma không thành Nhân!”
    ….TIẾNG CHUÔNG Cảnh Tỉnh trở về ”BẢN THIỆN”
    Có Đức Tin LUÂN HỒI ”Người mới Hiền”
    [Không Tin gì cả ở cõi TÂM LINH
    Người HÀNH ÁC”Không nghĩ QUẢ XẤU NHẬN…]
    ….Làng Bưng-CÂY TRÂM NƯỚC như Chứng Nhân…
    Đất ĐỊA LÝ -Vùng khai sinh Hình Thành…
    Đã lưu dấu biết bao nhiêu SỰ KIỆN…
    Dấu Ấn không phai trong mỗi Trái Tim…
    …..Người Làng Bưng rất Lắm Chuyện Lắm Tình…
    Chuyện anh CÔNG AN đám HỎI rình rang…
    Chưa CƯỚI đã Treo Cổ-Buồn TỰ VẨN!
    Cô VỢ CHƯA CƯỚI”Xỉu lên Xỉu Xuống…!”
    …Bốn loại XE đưa ngày ĐẾN hí hửng
    ”Hải Âu-U Quát-Qua Xin Tơn-Xe Lam”
    VỀ buồn bã ĐI bằng chiếc XE TANG!
    Thiên hạ Làng Bưng râm ran TIẾNG ĐỒN….[tt]

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s