Tháng chạp cuối ơi buồn chết được

Tháng chạp cuối ơi buồn chết được
Nhành mai mưa đá héo queo rồi
Bánh tét dưa chua cùng kẹo mứt
Gom về cũng để tết nhìn chơi

Hồi trẻ mơ ơi trời viễn xứ
Phơi trong mưa tuyết ngẫm thơ nàng
Cỡi ngựa làm cao bồi Texas
Phì phèo cao tốc lái bon bon

Giờ tuyết vẫn rơi ngoài khung cửa
Người núp phòng riêng chat chit thơ
Rượu vẫn còn nguyên chưa mở nắp
Trên bàn gói thuốc rất bơ vơ

Trái tim khi đói tìm phương khác
Phương nào cũng rối loạn như tơ
Về với quạnh hiu đời tan nát
Mót đời như cuộc tú lơ khơ

Tháng chạp cuối ơi buồn chết được
Mà không buồn chết được bao giờ …

Nguyễn Hàn Chung

HỘI XUÂN MIỀN BẮC NGÀY ẤY

Tản Văn

Đây cả mùa xuân đã đến rồi
từng nhà mở cửa đón xuân tươi
từng cô em bé so màu áo
đôi má hồng lên nhí nhảnh cười.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Pháo nổ đâu đây khói ngợp trời
nhà nhà đoàn tụ dưới hoa tươi
lòng tôi như cánh hoa tiên ấy
một án thơ đề nét chẳng phai.

Nguyễn-Bính “ Thơ Xuân “

Mỗi độ xuân về . . .nhi đồng, thiếu niên thì nao nức đếm từng ngày đợi tết, thanh niên nam nữ thì xao xuyến trước hương xuân như không khí trong bài “ thơ xuân “ của Nguyễn-Bính. Riêng tầng lớp trung niên, thất thập cổ lai hy thì ngồi bên cốc trà, ly rượu để bâng khuâng hồi tưởng lại những xuân xưa, thầm tiếc cho những cái tết cổ truyền đã qua. Tết xưa có rất nhiều hội hè gọi là “Xuân Bách Hí “, xuân có trăm trò vui nồng nàn bản sắc dân tộc. Có xuân vui thật trữ tình, lãng mạn, có thú vui thật thanh tao, nho nhã. Nhưng mọi xuân vui đều mang một ý nghĩa quyện trong hồn thiêng sông núi trải dài từ bắc chí nam.
Với cuộc sống tất bật bộn bề hiện nay, tết chỉ thật sự đến vào ngày 30, mồng 1 nhưng với người xưa thì tết bắt đầu từ đêm 23, đêm cúng đưa ba Ông Táo về trời để tâu sớ mọi việc ở hạ giới với Ngọc-Hoàng. Thời ấy cách đây hơn thế kỷ, Trần-Tế-Xương đã nâng cốc chúc ba vua bếp trong nụ cười châm biếm, hóm hỉnh :

Ba ông Vua Bếp dạo chơi xuân
đội mũ đi hia chẳng mặc quần
Trời hỏi làm sao ăn vận thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân.
[ Vua Bếp Chơi Xuân – Trần-Tế-Xương ]
Sang ngày 24 AL là lễ khép ấn. Lễ khép ấn diễn ra thật long trọng từ triều đình cho đến các làng xã, những vị vua nhà Nguyễn thời ấy thì đóng lại ngọc tỷ, từ phủ huyện cho đến hương lý thì rửa sạch con triện bỏ vào tráp, bao nhiêu việc quan, việc dân xem như khép lại, nếu lỡ gặp việc trọng đại các quan bất đắc dĩ mới hành xử, còn những việc tuế toái như đánh lộn, trộm cắp, kiện cáo nợ nần . .thì tạm thời giam lại đó, đợi qua ba ngày tết chọn giờ lành ngày tốt mới gọi lên công đường khai ấn.
Sau ngày khép ấn các quan tha hồ vui chơi, rượu chè, cờ bạc, đàn ca xướng hát bằng thành quả của một năm thu hoạch của bàn dân thiên hạ. Cùng với ngày khép ấn thì bà con nhà nhà cũng khép lại bao việc ruộng nương, đồng án tứ cao nguyên cho đến biển xanh để chuẩn bị đón tết. Chùa chiền bắt đầu treo phướng, làng dựng nêu để dành đất với ma quỷ. [ thường các gia đình chiều 30 mới dựng nêu ]. Nhưng nàng xuân chỉ có quyền khai hoa nở nhụy khi có lệnh vua sau lễ ban sóc.

Xuân từ trong ấy mới ban ra
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tú Xương

Ban sóc là ngày nhà vua ban lịch có ấn tín cho tất cả thần dân biết thời điểm năm cũ chuyển sang năm mới bằng một cái lễ hết sức trọng thể ở hoàng cung. Triều đình Huế thời ấy, các quan từ huyện, phủ phải theo về tập trung hai hàng văn võ theo thứ tự phẩm trật. Ở giữa điện Thái-Hòa trên bệ cao có đặt một cái ngai sơn son thếp vàng, dù có vua hay không, các quan vẫn làm lễ hết sức cung kính như thể vua đang ngự ở đó. Xong lễ nghi mới được nhận lịch, đinh ninh rằng, nàng xuân sẽ theo lệnh vua nẩy lộc khắp nơi khắp chốn.
Sau lễ ban sóc, nhân dân mới tha hồ mua pháo, nấu bánh chưng, làm đủ loại bánh mứt theo phong tục mỗi miền, nhà nhà quét dọn, dựng nêu, treo câu đối . . .nợ nần chạy ngược chạy xuôi, bên đòi bên trả và cũng không thiếu cảnh cãi vả chưởi bới nhau cuối năm xôn xao cả góc làng góc xóm.
Nay trước thềm xuân Kỷ Hợi [ 2019 ] , mặc dầu ngày tết chưa tới nhưng sao những cánh mai vàng trước sân đã vội nở, lòng chợt bồi hồi nhớ lại những ngày xuân xửa xuân xưa với bao hội hè đã làm nao nức hồi hộp nhiều thế hệ cha ông. Bởi vậy xin gởi hồn về quá khứ để nhớ lại một vài hội lễ vui xuân của dân tộc ở miền bắc mỗi năm vào tết cổ truyền.
ĐÁNH VẬT:
Hội vật ở làng Mai-Động, tổ chức hằng năm vào mồng 4 – 5 – 6 tháng giêng AL, trong làng có đền thờ Bà Lê-Chân, nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng.
Thủa xa xưa, nữ tướng Lê-Chân đã tổ chức những hội vật để tuyển tướng. Khi quân của Mã-Viện sang xâm chiếm nước ta, Hai Bà Trưng đã sai Bà Lê-Chân cầm quân chống giặc ở hồ Lãng Bạc, Bà đã dũng cảm ngăn bước quân thù nhưng không chống nổi tài thao lược của Mã-Viện với hai phó tướng là Phù-Lạc Hầu Lưu-Long và Đốc-Lâu Đoàn-Chí. Cuối cùng Bà Lê-Chân phải rút quân về Mai-Động và tuẩn tiết ở đó. Dân làng Mai-Động lập đền thờ Bà và tôn làm Thượng Đẳng Phúc Thần Công-Chúa. Hằng năm sau tết Nguyên-Đán, dân làng mở hội “ Chọi Vật “ để tưởng nhớ những cuộc thi tuyển võ tướng của Bà Lê-Chân.
Vật là một môn võ kết hợp cả sức, miếng, thế rất được giới bình dân khâm phục. Thời bình đó là môn giải trí kích thích lòng người, còn thời chiến là môn võ để tự vệ và chiến đấu rất hữu hiệu. Ở những miền quê đất bắc, thanh niên trai tráng ai cũng có vài miếng võ vật. Ngày xưa có rất nhiều tay đô vật nổi tiếng như ở làng Chung Màu, làng Yên Xã tỉnh Bắc-Ninh, làng Vị-Thanh, làng Hội-Hạ ở Vĩnh-Yên, làng Mộ-Trạch ở Hưng-Yên, làng Mai-Động . . .
Đánh vật tất nhiên là dùng sức nhưng muốn thắng địch phải giỏi thế và dùng miếng mới quật ngã được đối thủ gọi là “ vật ngã trắng bụng “ hoặc nhấc bổng đối thủ lên mới gọi là thắng cuộc. Hội vật thường tổ chức trước đình làng, già trẻ lớn bé ai cũng nô nức cổ vũ. Giải vật gồm ba giải chính : Nhất, nhì, ba và nhiều giải hàng, giải hàng là giải khuyến khích, kích động tinh thần thượng võ, thường cho đấu trước khi diễn ra cuộc đấu chính. Ba giải chính đấu vào ngày chính hội, thường người chiến thắng năm trước giữ giải đợi đối thủ phá giải, nếu trong ba ngày không có ai thách đấu, theo luật, người giữ giải là người thắng cuộc tiếp tục giữ giải cho đến năm sau.
Thể thức vật là, hai bên đều trần truồng chỉ đóng một cái khố che bộ hạ. Khố của các đô vật có màu xanh, vàng, hồng điều bằng lụa, bằng nhiễu. Đó là những vuông nhiễu, lụa họ đã đoạt được trong những lần thắng giải trước đây. Khi vào cuộc đấu, hai đô vật phải bái vọng Thần-Hoàng của đình làng rồi mới diệu võ giương oai, xông vào ôm níu nhau dùng những miếng đòn quét ngáng cho đối thủ ngã xuống, hoặc dùng đầu húc vào bụng, nhấc bổng đối thủ lên. Có những đô vật thất thế phải vội nằm sấp xuống đất bò nhoài như con chạch mặc cho đối thủ tìm đủ mọi cách quật ngữa họ lên, rồi lựa lúc địch thủ hớ hênh họ bật dậy tiếp tục cuộc đấu. Lúc hai đô vật quần thảo, bà con ở ngoài chia làm hai phe, bên nầy bên kia la hét vang trời, còn các cụ đánh trống như thúc quân ra trận. Trên đài thường có một tuần đinh cầm cái trống quân chạy quanh hai đô vật đánh “ bùng ! bùng ! “ bên tai họ để “ thúc thúc ! giục giục ! “, tiếng trống càng dập dồn khi hai đô vật ra đòn ra thế quyết dành lấy giải vàng.
Ngày hội vật chính thực hào hứng làm xôn xao hồn xuân những ngày đầu năm mới.
Các giải chính có tỷ lệ :

Giải nhất trong 6 ngoài 5
Giải nhì trong 5 ngoài 4
Giải ba trong 4 ngoài 3
Theo luật chơi thì người giữ giải phải thắng luôn 6 đối thủ, còn người phá giải chỉ cần 5 thắng là đoạt được giải và các giải nhì ba cũng theo tỷ lệ như vậy. Lệ thường giải ba vật trước rồi đến giải nhì. Mỗi lần có đô vật thắng, làng đánh trống thật rộn ràng rồi đốt chúc mừng người chiến thắng một phong pháo.
Đến giải chính mới thật sự sôi nổi hào hứng. Khi hai đô vật đã loại hết đối thủ, họ ra đòn, lừa nhau từng động tác khiến người xem hồi hộp, thú vị tưởng chừng như chính mình đang tham dự cuộc đấu trong những ngày đầu xuân vậy.

ĐÁNH TRUNG BÌNH TIÊN:

Trung bình tiên là một cây thảo dài hơn hai sải tay, khi vào thế phải xuống trung bình tấn, thời trước ở miền bắc, thanh niên trai tráng rất mê luyện tập, tương truyền môn võ nầy có từ thời Vạn-Thắng-Vương Đinh-Bộ-Lĩnh, Ngài đã dùng thảo roi để luyện tập ba quân tướng sĩ và để nhớ lại thời cờ lau tập trận trong thủa còn chăn trâu.
Đánh trung bình tiên còn gọi là đánh thảo, đánh roi. Ở huyện Vũ-Tiên, tỉnh Thái-Bình có thảo đường Ô-Mê, tại phủ Vĩnh-Tường, tỉnh Vĩnh-Yên, thanh niên rất mê say môn võ trung bình tiên. Thường các làng xã tổ chức lễ hội vào mồng 6 tết. Đó là ngày hội kích thích tinh thần thượng võ, quy tụ nam phụ lão ấu khắp nơi về dự hội trong những ngày đầu năm mới.
Đánh trung bình tiên là hai võ sĩ thượng đài thi đấu, vũ khí là một cây gậy dài được bịt bằng vải để tránh nguy hiểm, đầu gậy được nhúng vào nước vôi để khi đánh trúng đối phương còn để lại dấu trên mình và lấy đó mà tính điểm. Ai đánh trúng đối thủ vào chỗ hiểm nhiều nơi trên thân thể thì ban giám khảo lấy đó mà tính điểm để quyết định người thắng cuộc, Thường trận đấu có nhiều hiệp được phân ra theo động tác của hai đối thủ. Trung bình tiên là môn võ hữu dụng trong thời chiến, một mình có thể chống cự được nhiều kẻ địch. Ông cha ta đã biến hóa thành thú vui lễ hội đầu xuân để giữ gìn khơi dậy bản lĩnh tự cường của dân tộc trước hiểm họa giặc phương bắc luôn luôn dòm ngó. Thời bình thanh niên rất ưa thích luyện tập để tham dự những ngày hội và để bảo vệ nhà cửa phòng khi có trộm cướp.
Với cây trung bình tiên bằng tre đặc, một người có thể tả xung hữu đột với bọn cướp hoặc đám côn đồ quậy phá, thời bình là môn võ đem thú vui trong lễ hội nhưng thời loạn trung bình tiên là môn võ hữu hiệu để chiến đấu với kẻ thù.

ĐÁNH PHẾT:

Đánh phết cũng như môn thể thao khúc côn cầu ngày nay, khác biệt là quả phết bằng gỗ to như bong bóng trâu thổi phồng, nặng như quả tạ. Người chơi phải thật khỏe mạnh mới đánh nổi, tương truyền đánh phết là môn thể thao ưa thích của Hai Bà Trưng, vừa để giải trí, vừa để cho ba quân luyện tập cơ thể để chiến đấu.
Gậy đánh phết là một gốc tre đào nguyên cả cây chặt dài khoảng 1m, vạt bỏ rễ lấy gốc cong cong, vì vậy người chơi phết phải khí lực mới vung được gậy phang vào phết. Chơi phết chia làm hai đội, phải chọn khu đất rộng, mỗi bên đào một cái hố tròn. Khi hai đội vào cuộc đấu phải lừa phết bằng gậy như cầu thủ lừa bóng, làm sao đánh phết rớt xuống hố mới được tính điểm, nhưng phải coi chừng khi tinh thần tranh thắng dâng cao thì những chiếc gậy tre kia sẽ trở thành quả chùy nguy hiểm, đối thủ nào không kịp né tránh những đối thủ phang trật vào phết thì chỉ có đường cấp cứu phải rời sân.
Thủa xa xưa khi nữ binh chơi phết Hai Bà Trưng thường ngự lãm treo giải thưởng để cổ động tinh thần tướng sĩ. Khi Hai Bà thua Mã-Viện nhảy xuống sông Hát-Giang tuẩn tiết, tướng sĩ của Hai Bà có nhiều người chết theo để giữ lòng trung. Tướng Cao-Nguyên sau khi trầm mình xác trôi về phủ Vĩnh-Tường ở Phong-Châu, dân làng Thượng-Lập vớt lên mai táng lập đền thờ. Những làng có thờ các danh tướng thời Hai Bà Trưng hằng năm đều tổ chức hội đánh phết để tưởng nhớ thời oanh liệt của đoàn nữ binh.
Ngày xưa chơi phết đều là đàn bà con gái nhưng về sau các làng Bình-Đại, Thượng-Lập . . .các cụ cho thanh niên trai tráng giả làm gái để chơi phết trong những lễ hội mùa xuân. Chơi phết là môn khí lực tràn trề sức sống, đúng như câu nói “ vui ra phết “. Những lễ hội đầu năm ở miền bắc ngày ấy đầy tinh thần thượng võ, tôi luyện dũng khí của dân tộc, hẳn đó cũng là một trong những tầm nhìn xa trông rộng của tiền nhân trước hiểm họa giặc Tàu luôn luôn mưu đồ xâm chiếm.

VƯƠNG KIỀU

XUÂN NHỚ

ngocbut


Thơ Huyền Chi-Trích trong tập Cởi Mở xuất bản năm 1952

Giá băng xuân đến thành đô,
Đêm nay không rượu giang hồ mà say!
Có nghìn tay nắm nghìn tay,
Lòng đang trĩu nặng một ngày xuân sang.
Ai xây trên cảnh hoang tàn,
Máu xương trên những mộng vàng mà vui!
Hương thề chưa cạn ly bôi,
Vội gì khi xếp những lời sắt đanh.
Mái đầu trai tráng đương xanh,
Có ai nỡ sống yên lành được đâu?
Gái lành đóng cửa vườn dâu,
Trai lành tô lại những màu sắc xưa…
Súng che tiếng pháo giao thừa,
Nửa đêm trừ tịch nghe mưa mái ngoài.
Đêm nay có vạn hồn trai,
Lắng mùa xuân đến lạc loài mà đau!
A ha! Mấy vận thơ sầu,
Vẫn không lấp được ngàn câu tâm tình.
Nghe đời réo khúc điêu linh,
Cười vang nuốt một bất bình xót xa.
Xuân về huyên náo phồn hoa,
Đào tươi như máu người ra sa trường.
Tanh tanh ly rượu đầy hương,
Có ai hiểu được nỗi buồn thiên thu?
Cố nhân đâu? Cố nhân chừ!
Mắt xanh đã nhắm ưu tư giữa đời.
Áo cơm chưa tủi kiếp người,
Thơ chưa chắc tả hết lời người xưa.
Mấy năm ly loạn chưa mờ,
Đời người không khác nước cờ đổi thay.
Lấy gì đã gọi là say,
Dăm ba đứa bạn của ngày ra đi…
Mấy năm xuân đến kinh kỳ,
Đứa xuôi, đứa ngược, nghĩa gì, chao ôi!
Giờ đây có lẽ xa xôi,
Bao nhiêu lòng vọng về tôi phút này,
Cười lên tan vỡ đêm nay,
Quay về quá khứ đón ngày xuân xưa…

Trầm hương toả đón giao thừa,
Chua cay nâng chén say mùa chiến chinh.

NGỌC BÚT

Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm


Gửi quê và bạn bè tôi

Ba mươi năm làm thân lữ thứ
Áo cơm xoay tít chốn thị thành
Lòng đâu lưu lạc mà xa xứ
Nên rượu giang hồ rót dửng dưng..

Tết đến ngâm tràn câu tống biệt
Xé lòng câu hát buổi ra đi
Đời không ly biệt làm sao biết
Tiếng gọi đò ơi lạnh bến về

Rượu có say đâu sầu nghiêng chén
Vẫn ướt đời buốt dập đôi môi
Nhớ quê muốn khóc thôi đành nén
Mà ngóng chân mây bật tiếng cười

…Gửi quê cuộc đời tôi lầm lỡ
Chỉ một lần cũng đủ trăm năm
Ngậm một trời đau nơi phố chợ
Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm..

Nguyễn Minh Phúc

Thả tờ lá biếc…

Mùa xuân
giã phố về non
núi xanh động biếc
đôi con bướm hồng
tơ trời sợi khói mênh mông
hay là bụi sóng dưới giòng thác reo
ta ngồi phiến đá cheo leo
ngó xuân biêng biếc trong veo lưng đồi

Mùa xuân
biệt núi ngàn khơi
về ngang phố cũ
đón mời bạn xưa
rượu hồng bếp lửa giao thừa
dường như ngoài ngõ chút mưa xuân đầu
ta ngồi đêm xuống đã lâu
nghe xuân khe khẻ hát câu mê tình

*

Mùa xuân
lễ lạc sân đình
rồng bay phượng múa
cung nghinh xếp hàng
đì đùng pháo nổ liên tràng
tụm năm tụm bảy bên đàng hò reo
ta ngồi một chỗ vắng teo
thấy con chim mộng bay vèo thực hư

Mùa xuân
đọc sách án thư
bỗng dưng mặc khải
khởi từ thiện tâm
lại rồi biệt phố âm thầm
về non thấp ngọn hương trầm tạ ơn
ta ngồi trên đỉnh cổ sơn
thả tờ lá biếc vào cơn mê hồng

Phạm Quang Trung

HỒ TRƯỜNG RÓT VỀ ĐÂU…

rượu này không rót về phương bắc
hướng giặc lăm le cướp nước tôi
rượu chẳng rót về phương nam
sợ mẹ và em tràn nước mắt

rượu chẳng rót về đông phương
nơi bầy sói lang đang xâu xé ..
rượu này không rót về tây phương
Nỗi nhục trăm năm chưa xóa hết

hồ trường! hồ trường!
nay biết rót về đâu?
hồ trường
không rót về đâu cả!
chỉ rót vào lòng cho bớt đau

và xin được rót vào đất Mẹ
ấm chút thịt xương anh em nằm
nơi ấy không còn phân biệt nữa
tất cả đều con của Mẹ thôi

ôi, những đứa con
hồn còn vất vưởng!
thiên địa mang mang
ai hồn tri kỷ?
hãy về đây
cùng nhau
cạn một hồ trường!

(bốn phương
tám hướng
trĩu buồn

còn phương
Thiên -Địa
mộng cuồng
hóa vui?)

TRẦN HỒ DŨNG
Saigon 2009 – Washington, Jan 2019 .

ĐOẠN TANG

Xả tang, người bình dân gọi thế. Đoạn hay xả đều có nghĩa là cắt đứt, bỏ đi. Anh em tôi, dâu rể, con cháu quay về VN để dự lễ đoạn tang của ông cụ. Sao không xả tang ở Mỹ, có người hỏi tôi. Thưa vì bà cụ muốn thế, và vì ông cụ hiện đang yên nghỉ tại nghĩa trang của một họ đạo.

Phong tục VN cho phép con cái đoạn tang sau một thời gian dăm ba năm. Trong thời gian này, con cái hạn chế những cuộc vui chơi, hội hè vì đang chịu tang lớn trong gia đình, và để tỏ lòng hiếu thảo. Sau lễ đoạn tang (tục xưa con cháu bỏ hết khăn tang vào một hũ hớn và đốt cháy ra tro), con cái vui vẻ quay trở lại nếp sống sinh hoạt bình thường. Đoạn tang mang ý nghĩa đó, chứ không phải dứt tang là cắt đứt mối liên hệ với kẻ quá cố. Theo đức tin, con cái phải luôn cầu nguyện cho cha mẹ đã nằm xuống cho đến lúc chết, vì đó là bổn phận theo điều răn thứ bốn, là hiếu thảo theo truyền thống văn hóa VN.

Phi trường TSN vẫn chật ních người. Nhà nước không lường được số lượng quá tải khi mở rộng vòng đai phi trường. Đường sá chỉ đến đó, trục lộ giao thông không kham nổi một lượng xe cộ chạy rầm rập ngày lẫn đêm. Tầm nhìn của những kẻ có trách nhiệm ở đâu đó chỉ một vài năm ngắn hạn. Cả một Saigòn bức nóng, ồn ào, ngột ngạt hơi thở như hai năm trước khi tôi về để tang ông cụ. Tất cả vẫn vậy, chẳng có gì thay đổi.

Vậy mà tôi nhận ra một thay đổi. Anh thuế quan xét giấy nhập cảnh tại hàng rào an ninh là một người miền Nam. Người Bắc dọn vào miền Nam sinh sống khá đông sau 75, nhưng chỉ có phi trường là nơi tập trung nhiều người Bắc nhất. Họ nắm giữ các chức vụ then chốt, chỉ nhường lại những công việc tầm thường cho người địa phương. Những lần trước về, khi bước đến quầy thuế quan, tôi đều bắt gặp ánh mắt dò xét, và giọng nói dấm dẳn thật lạ tai của người miền Bắc. Cặp mắt anh loang loáng đầy nghi kỵ đến nỗi tôi cứ tưởng mặt tôi dính nhọ. Cung cách hỏi của anh, “về làm gì, ở đâu,” (thường không có chủ từ) “ở bao lâu,” như quan tòa ngồi ngất ngưởng trên cao hạch sách phạm nhân. Tôi là công dân Mỹ lương thiện nên cứ bình thản trả lời từng câu hỏi cộc lốc. Cũng ngắn, gọn, vừa phải. Giọng vừa đủ nghe, nói không thêm, không bớt. Riêng âm giọng anh cao ngất, xoáy vào tai nghe như búa bổ. Bởi thế, những lần trước cứ bước ra khỏi hàng rào an ninh là đầu tôi nhức nhối khó chịu.

Lần này khác hẳn, anh thuế quan người miền Nam cất tiếng chào hỏi vợ chồng tôi thật lịch sự. Cũng từng ấy câu hỏi nhưng giọng anh nhã nhặn, nếu không nói là lễ phép. Không vồn vã, cũng không lãnh đạm, đúng cung cách của một người làm việc tại cửa công. Về nhà hỏi lại mấy chú em về dự lễ giỗ và được biết người xét giấy nhập cảnh đều là người miền Nam. Lúc về lại Mỹ, khi trình giấy tờ tôi cũng gặp một cô gái người miền Nam. Hóa ra hàng rào an ninh bây giờ hầu hết là người địa phương. Một thay đổi bất ngờ.

Giỗ đoạn tang xong, cả mấy anh em kéo nhau đi chơi Phú Quốc. Sân bay nội địa từ trước đến nay đều là người miền Nam. Tôi bắt gặp được sự thân quen thuở nào. Đáp máy bay nội địa lần đầu sau gần nửa thế kỷ, thế mà tôi có cảm giác như mới hôm qua, như tôi chưa hề rời mảnh đất thân yêu, dù chỉ một lần. Giọng anh tiếp viên của hãng VietJet trầm bổng bằng 2 thứ tiếng, Anh và Việt, thuần thục và trôi chảy như nhau. Dĩ nhiên, tôi khỏi cần giới thiệu, anh là người miền Nam chính gốc.

Ở Phú Quốc tôi được tin bà con Lộc Hưng bị cưỡng chế đất đai qua mạng FB. Hình ảnh một đứa bé ngồi trên bao tải đựng quần áo dưới mái hiên xiêu vẹo khiến lòng tôi chùng xuống. Đúng ra em được ngồi trên một chiếc ghế nào đó, kế chiếc bàn học. Đáng lẽ quần áo trong bao tải được treo lên móc. Nhưng nhà cửa không còn thì làm gì còn ghế. Tủ quần áo gẫy vụn nằm tả tơi trên nền đất khô thì làm gì còn móc để treo. Cả một cảnh hoang tàn trên một diện tích 220m vuông. Hơn một trăm gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, như vừa qua một trận thiên tai. Không, nhân tai. Ông trời hình như chịu thua cái ác của con người, ngoảnh mặt đi. Tết gần kề, gần nghìn nạn nhân không còn chỗ nương thân, nói gì hưởng Xuân. Chỉ thấy nỗi đau như hơn 50 năm về trước, Tết Mậu Thân. Màu tang trắng thấm máu đỏ nhuộm khắp xứ Huế. Lộc Hưng, 2019, cũng một màu trắng oan khiên. Những giọt nước mắt màu trắng đục rơi lã chã trên vùng đất bị cưỡng chế bởi nhà cầm quyền.

Phú Quốc sống cho khách du lịch. Nhà hàng, khách sạn, kể cả những resort, mọc lên san sát dọc theo bờ biển khu Dương Đông. Chợ Đêm rộn ràng tấp nập từ sẩm tối, một sắc thái đặc biệt của hòn đảo cực nam. Hải sản tươi rói, giá cả phải chăng, ăn ngon miệng. Tuy vậy, hòn đảo này còn khá hoang vu. Dọc trên đường từ phi trường về khách sạn, những khu rừng nhỏ còn đậm nét thiên nhiên chạy đều hai bên đường. Hệ thống du lịch hình như chưa phát triển đúng bài bản. Nhiều bãi biển vẫn còn buôn thúng bán bưng, chưa đi vào kế hoạch tầm cỡ. Có thể vì tầm nhìn của các viên chức nhà nước hạn chế, hoặc giả Phú Quốc sửa soạn trở thành đặc khu của Tàu nên nhà cầm quyền thấy không cần phát triển, dành việc phát triển cho nhà nước Tàu.

Vậy mà tôi cố ý tìm vẫn không thấy bóng một người Tàu nào. Có thể vì tôi chưa đến những khu resort đắt tiền, $500/đêm. Quanh tôi, chỉ thấy người miền Bắc. Họ từ miền cực bắc, lặn lội đến hòn đảo cực nam để kiếm sống. Tôi nhờ nhân viên khách sạn gọi một cuốc taxi đến cửa hàng ngọc trai Ngọc Hiền. Tài xế là một anh miền Bắc, trắng trẻo, mập mạp, thân nặng trĩu trên ghế. Anh hỏi tôi dấm dẳn, mặt lạnh lùng. Đoạn đường ngắn, chưa đến 4km nên tài xế và khách miệng ngậm hột thị. Đến nơi, tôi hỏi bao nhiêu? Anh chỉ ngón tay vào đồng hồ, chẳng buồn vén môi nói số tiền. Tôi trả tiền và biếu anh số tiền lẻ. Anh chộp lấy tờ giấy bạc không một lời cám ơn. Trên đường về, tôi gặp anh tài xế đen đủi, khẳng khiu. Giọng anh đơn đớt vùng Rạch Giá. Tôi lân la hỏi chuyện làm ăn. Anh tâm sự, mỗi ngày phải trả cho chủ (người miền Bắc) khoảng 450 nghìn, và ký một hợp đồng khoảng 5 tháng. Có ngày dư dả nuôi vợ và hai con, có ngày thiếu hụt phải oằn lưng trả nợ chủ. Không thể trả xe nếu chưa hết hạn hợp đồng. Bất thường, như cuộc sống của anh. Tiền trả chuyến về cũng bằng tiền chuyến đi. Dĩ nhiên, tôi biếu số tiền lẻ như ban sáng. Anh cám ơn chân tình. Xuống xe, tôi móc túi biếu anh thêm. Anh nắm lấy tay tôi cám ơn nồng nàn.

Trầm mình trong nước biển ấm vào buổi sáng trời se lạnh, nhìn về hướng Đông, nơi quê hương thứ hai đã ân cần nắm lấy tay tôi và chợt nghĩ ai sẽ nắm lấy những bàn tay gầy guộc của đồng bào Lộc Hưng? Tôi cố quên Lộc Hưng và dành thì giờ trọn vẹn với gia đình. Những ngày vui qua mau. Bay về đất liền sau mấy ngày đầm mình trong vũng nước mặn quê hương. Vừa bước ra khỏi cửa Tân Sơn Nhất đã nghe tiếng ồn ào của 2 thanh niên miền Bắc. “Bay lâu thế, tao chờ mày vãi l…” Lần đầu tiên tôi nghe nguyên văn một câu trách quá lạ tai. Anh nói oang oang, thật tự nhiên, thoải mái giữa chốn công cọng. Ông tiến sĩ tình dục học Thiên Nguyên đã khẳng định đó là nét văn hóa đặc thù (cứ tìm trên mạng sẽ thấy bài nói chuyện của ông tiến sĩ này) của người dân sống trong lòng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa “vãi l…” xuất phát từ miền Bắc sau 75 và du nhập vào Nam. Xem ra người miền Nam chẳng mặn mà gì với nét văn hóa đó. Sự vật biến đổi không ngừng, như tinh túy của nền văn hóa qua bốn nghìn năm kết tụ thành nền văn hóa vãi l…

Sàigòn vẫn sinh hoạt nhộn nhịp. Không một ai nói đến Lộc Hưng. Mấy người em tôi cũng chẳng biết gì về một khu đất vừa bị cưỡng chế. Tất cả đều im lìm, như tiếng than van uất nghẹn của dân Lộc Hưng.

Ngày tôi bỏ tang xuống cũng là ngày đồng bào Lộc Hưng khoác lên người mảnh khăn trắng của bất công, của uất ức, và của oan khiên.

Xin thêm lời cầu nguyện cho họ.

HẠ NGÔN

THÁNG CHẠP, TÔI VỀ…

Tháng chạp tôi về, qua chân cầu cũ
Chiều bâng khuâng, nghe sóng gọi tên người
Ừ nhỉ, em – mấy mươi năm dâu bể
Một đời người, nước có một dòng trôi?

Nhớ vàm sông, những ngày con nước đổ
Sóng chòng chành, ai khua nhịp qua sông
Xóm Chài xưa, em về trong mưa nhỏ
Một mình tôi, nhặt sợi tóc còn vương.

Tháng chạp tôi về, đi ngang đường nhỏ
Hàng hiên xưa, hoa dại khéo đợi chờ
Đâu cánh bướm của tôi thời bụi đỏ
Đã mang đi biền biệt một vần thơ.

Cám ơn người, trong ngăn đời khép kín
Tim vẫn còn giữ lửa để yêu thương
Bao vết chém cuộc đời – tôi nhẫn nhịn
Sẹo trăm năm, hằn chết thịt da buồn.

Tháng chạp tôi về, cơn mưa trái nết
Tập làm quen như ngựa chứng sân trường
Tình bất kham, bao lần lên cơn sốt
Qua bốn mùa vẫn tấy đỏ vết thương.

Không còn ai mơ màng qua ô cửa
Tôi là gì trong góc nhớ đời em
Năm tháng cũ giạt trôi tình hai đứa
Ngày cuối năm, tháng chạp biết ai đền?

NGUYỄN AN BÌNH