BUÔNG TAY CHO GIÓ…

1.
Phải vòng quanh địa ngục
Mới đến cửa thiên đàng
Đừng trách người ngã mạn
Hãy giận mình đa đoan…
Đường trần muôn vạn lối
Tìm nẻo về… tâm đăng?

2.
Giải oan một cuộc bể dâu.
Mưa và nước mắt ướt nhàu nhân sinh.
Giấc mơ biến hóa – hữu hình.
– Vô minh – thinh lặng đến nghìn kiếp sau.
Đường về cõi Giác lâu, mau?
Dù muôn lượng kiếp vẫn màu trắng mây.
Người là ai,
Ta là ai?
Trót mang lấy nghiệp, chông gai cũng đành!

3.
Bản chất của con người
Là nghi nghi hoặc hoặc
Nếu nghĩ họ là ma
Phải chăng mình là phật
Để rồi mỗi sát na
Tự hỏi: Đâu sự thật?

4.
ngưỡng vọng một đường bay
là thong dong tự tại
đứng dậy và bước đi
nhặt, buông đừng ngần ngại
ta tự giải thoát mình
ra khỏi vòng khổ ải
về ngủ dưới am mây
chiêm bao miền phương ngoại…

5.

Ra đi rồi lại trở về
Khác chăng là nỗi sầu chia cuối đường
Gió còn bay ngược mùi hương
Lời ly biệt cũng nhiều phương Đông, Đoài
Dù đau thốc những ai hoài
Phù du là giấc mộng dài Nam Kha.

Tôn Nữ Thu Dung

BÀI THƠ NĂM ĐOẠN

Bão không cánh mà bay suốt ba ngày rồi đó.  Mới vừa xanh thảm cỏ đã bạc đầu hết duyên!

Và những giọt mưa xuyên từng nhánh cây cành lá…Không phải mưa tầm tã mà tất cả đều buồn…

Hết bão thì tới sương mịt mờ tuần lễ tới!  Những hồi chuông quên gọi, có gọi cũng không nghe…

Một nửa lòng nhớ quê, nửa lòng cho hiện tại… Nhớ gì cũng xa ngái, nói gì chỉ tiếng mưa!

Anh gửi em bài thơ chỉ dài có năm đoạn coi như là năm tháng, thời gian, thương nhớ ơi!

Trần Vấn Lệ

KHI TÔI VỀ

khi tôi về năm tháng đã mù sương
từng giọt hoàng hôn rơi trên thành cổ
nghe mơ hồ có tiếng xe thổ mộ
dòng sông xưa đã xô lệch bãi bờ

khi tôi về thu xếp lại tuổi thơ
vết mực xanh chưa mờ trên tay áo
hoa phượng nở bên kia trời hư ảo
có bóng ai đi về cuối con đường

khi tôi về con sẻ nhỏ rưng buồn
chở lẻ loi về nơi cô quạnh
chở ký ức về một miền xa thẳm
có chiếc cầu tre lắt lẻo, bình yên…

NP phan

CUỐI ĐỜI

Cả hai đang sống trong khu dưỡng lão khá sang, có giàn bông giấy và hàng cây cọ quanh năm xanh tươi bao bọc. Phong cảnh vốn đã hữu tình lại càng thêm quyến rũ vì các cô giúp việc trong khu đều ăn mặc đồng phục, xinh tươi, ăn nói nhã nhặn lịch sự, di chuyển bằng xe điện loại nhỏ trong khắp khu vực. Người đàn bà, bà Nữ, quấn hờ mảnh khăn lụa màu hoa cà ngang đầu để che mớ tóc còn sót lại sau nhiều lần xạ trị. Người đàn ông, tên Nam, đứng ngoài cửa lưới nhìn vào và cất tiếng chào, “Tôi đây.”Hôm nay ông hẹn đến phòng bà sau lần gặp gỡ tình cờ tại phòng giải trí. Cả khu dưỡng lão có đến mấy trăm căn. Nhà một phòng, có sân trước vườn sau. Tuy nhỏ nhưng sạch sẽ và ngăn nắp. Ông sống trong khu dưỡng lão đã lâu, để xem, ít nhất hai năm nay. Còn bà Nữ, con cái mới đưa vào sống được hơn tháng. Ngay sau khi thấy bà, ông mon men làm quen và hẹn sẽ đến thăm. Bà Nữ đồng ý, và hôm nay, một ngày đẹp trời, ông mặc quần áo chỉnh tề đến thăm bà.“Cửa mở, mời ông vào,” bà Nữ vẫn ngồi trên chiếc ghế bành, gấp cuốn sách đang đọc dở dang, nói vọng ra. Bà nhìn ông đang khoan thai bước vào trong chiếc sơ-mi màu xanh nhạt, bỏ vào trong chiếc quần màu đen thẫm.“Sao hôm nay ông diện thế?”“Diện gì đâu. Tươm tất thì đúng hơn. Tôi mà diện bà không nhận ra tôi đâu.” Ông cười cười nhìn bà. Bà Nữ thích ông ở nụ cười. Khuôn mặt hằn nhiều vết nhăn, nhưng nụ cười của ông san bằng những vết nhăn đó, kể cả cái mũi cà chua trông khá vô duyên nằm giữa cặp lưỡng quyền cao. Ông từ tốn ngồi xuống chiếc ghế trước mặt bà. Bà Nữ thích dáng bề ngoài của ông Nam, trông thư sinh lịch lãm. Người ông toát ra một vẻ thông minh, ẩn dấu sau mái tóc bạc trắng. Nhưng bà thích nhất khi nghe ông nói chuyện. Ông nói chậm rãi. Giọng ông kể chuyện trầm và ấm, nghe như rót vào tai. Bà thích đọc sách, và khi nghe ông nói, bà cứ tưởng bà đang đọc một câu truyện tiểu thuyết trữ tình. Ông Nam bắt chuyện. “Tôi đoán đúng. Tôi gặp được người tâm đầu ý hợp để nói chuyện.” “Chuyện gì?” “Bất cứ chuyện gì, ngoài chuyện đánh gôn.” “Ông hên lắm. Tôi chẳng biết gôn giếc gì!” Bà đặt cuốn sách xuống chiếc bànnhỏ bên cạnh. Rồi bà ưỡn lưng, luồn bàn tay ra phía sau ấn ấn vào đốt xương cụt. Ngồi lâu một chút thì lưng mỏi, chân tê, đau cả bàn tọa. Bà đổi thế ngồi, hai chân đang vắt chữ ngũ đặt xuống song song. Vì lưng đau, bà duỗi người trên chiếc ghế nên trông cặp chân thuôn thuôn của bà hình như dài thêm ra. Dáng chừng bớt đau, bà ngồi thẳng dậy, ngả người vào lưng ghế, hai tay đặt hờ hững lên đùi “Ông vào đây lâu chưa?“ “Khoảng hai năm.” Bà Nữ vòng tai hay trước ngực. “Hôm nay giống như hẹn hò rồi. Ông nghĩ sao?” Ông thích cách hỏi của bà. Bà hỏi lửng lơ nhưng cả câu nói ngầm chứa một chuyện đã rồi. Khi hỏi, bà thường kèm theo ánh mắt sáng rực ở phía đuôi. Bà nhìn thẳng vào người đối diện khi nói chuyện, và lúc đặt câu hỏi, bà nhìn lướt bằng đuôi mắt khi hết câu. Và ý muốn chắc nịch của bà lộ ra từ đuôi mắt lá răm. Mảnh và sắc. Ông Nam hơi mất bình tĩnh.“Bà muốn thế thì tôi chiều theo ý bà.” Ông nhấn mạnh mấy chữ “chiều theo ý bà,” như ngầm bảo ông vẫn biết nịnh đầm. Đột nhiên, ông bối rối, đánh trống lảng.“Tuần tới có đoàn văn nghệ vào trình diễn, có cả khiêu vũ.” “Gì chứ văn nghệ văn gừng là tôi thích. Tôi hát nghe cũng được lắm.” Chẳng mấy chốc, ông Nam lấy lại dáng nhanh nhẹn, lịch thiệp cố hữu. “Tôi thích cách bà choàng tấm lụa qua đầu rồi thả hờ xuống ngực.” “Ô… kiểu này xưa rồi. Ông chưa thấy tôi đội tóc giả, mặc đầm, đi giày cao…” “Phụ nữ khó nhận ra họ đang đội tóc giả, nhưng cánh đàn ông nhìn thì biết ngay.” “Vì thế mà ông không chải tóc?” Ông Nam vuốt mớ tóc lởm chởm bên tai. “Không, tóc thật đấy chứ. Nếu xạ trị thì rụng hết chẳng còn một sợi. Nhưng tôi quyết định rồi, không mổ, cũng chẳng xạ trị. Tôi hỏi bà tuổi này còn xạ trị làm gì. Tôi hơn tám mươi, e không qua nếu nằm lên bàn mổ. Còn xạ trị thì chỉ chuốc lấy đau đớn. Nằm quằn quại vài ngày lại xạ trị. Cứ thế, thân xác đau đớn triền miên. Bác sĩ cho biết, xạ trị thành công 30%. Bà thấy không, còn 70% kia là cái chết. Trước sau gì cũng chết thì tại sao phải chịu đau đớn làm gì.” Ông thở dài. “Sống lâu phải khỏe kia, vì sống lâu càng dễ mắc bệnh lẫn, như ông Vong. Cả ngày mặc áo vét, cà-vạt đi tán tỉnh phụ nữ khắp khu nhưng lại không nhớ tên khu dưỡng lão, kể cả tên con cái.” “Ồ… ông Vong đến đây tuần trước, cũng ngồi chỗ ông đang ngồi. Mấy ngày nay lại xoắn lấy bà Lài, xem ra cũng được đôi.” Bà Nữ ngưng một chút rồi tiếp. “Tháng tới, tôi đúng tám hai.” Ông Nam nhìn bà, giọng ngạc nhiên. “Nhìn bà, ai dám nghĩ tám hai.” Ông Nam không ngờ nhìn bà Nữ trẻ nhiều hơn số tuổi. Nếp nhăn thì ai tránh được,nhưng khuôn mặt của bà thanh tú, sống mũi cao, và nhất là đôi mắt. Chính đôi mắt có sức thu hút lạ lùng, và toát ra một sức sống tiềm ẩn. Ánh mắt bà rạng rỡ, hình như lúc nào cũng có điều gì muốn thổ lộ. Ông nghĩ bà Nữ có duyên. Chính cái duyên vẫn ở lại với bà sau từng ấy tuổi tuy nhan sắc đã phai mờ. Thì đúng là ông xoắn lấy bà ngay lúc thấy bà ngồi đọc sách ở góc phòng, và ngước mắt lên thấy ông đang nhìn trộm bà. “Thật không ngờ trông bà trẻ hơn tuổi.” Bà nheo mắt. “Ông đoán chừng bao nhiêu? Bảy lăm không?”Tránh không trả lời câu hỏi, ông điềm đạm. “Để tôi nói bà nghe. Trong khu dưỡng lão này, bà là người thanh tú nhất. Tôi không nói nịnh, vì tôi ở đây đã hơn hai năm nên biết kẻ đến người đi. Mấy người giúp việc còn trẻ nhưng mấy ai dám so với bà. Còn mấy bà y tá nhìn càng chán. Họ chuyên về sức khỏe mà lại không lo xong chính cái thân của họ. Ở nhà thương mấy bà y tá cũng đến thế. Tôi nghiệm ra điều này, những người chuyên lo về y tế hầu như ai cũng mắc bệnh phì.” “Ông nằm nhà thương bao lâu?” “Cũng vào ra nhưng không lâu. Chỉ có khu dưỡng lão này là lâu nhất. Nơi này, họ nói đúng sách vở, ‘Một cuộc sống thanh thản xứng với phẩm giá của quý vị.’ Nói màu mè hoa mỹ chứ không có tiền thì đừng mơ ở một chỗ sang trọng như thế này. Tôi đã từng xây những dãy nhà sang trọng hơn đây nhiều.Tiền bạc không thiếu lúc ăn nên làm ra. Nhưng bà thấy không, khi vướng bệnh thì tiền của chẳng còn ý nghĩa gì nữa.” Ngả người ra sau, ông Nam nhìn bà. “Tôi biết bà đã có gia đình. Thế chồng bà làm gì?” “Kinh doanh bất động sản. Cũng hao hao giống nghề của ông.” Rồi không đợi ông hỏi, bà tiếp lời. “Ông nhà tôi mất nhanh lắm. Từ khi phát bệnh đến lúc đi chỉ vỏn vẹn có nửa năm. Để lại cho tôi hầu hết gia tài. Đến lượt tôi lại vướng bệnh. Trầm kha. Tôi nghĩ như ông, một khi vướng bệnh thì tất cả đều là phù du. Chỉ mong mỏi sức khỏe hồi phục, nhưng căn bệnh tàn ác phá hủy cơ thể rất nhanh, hầu như không thể gượng được nữa. Bây giờ tôi chỉ mong sức khỏe xuống chầm chậm, chứ chẳng còn mong hồi phục.” Ông nhìn quanh. Bàn ghế, tủ trà… đồ đạc trong nhà toàn thứ đắt tiền. Tiền bạc trong tay dư thừa, nhưng bà Nữ chỉ mong sống được ngày nào hay ngày đấy .“Bà cảm thấy ở đây vui không?” “Ý ông nói có thoải mái dễ chịu, phải không?” “Ý tôi muốn hỏi bà thấy cuộc sống ở đây thế nào?” Bà Nữ đảo mắt nhìn quanh. “Thì cũng được.” Ông nhìn sững bà. Hình như ông muốn hỏi điều gì đó nhưng cảm thấy không tiện nên ngần ngừ. Sau cùng, ông hỏi. “Bệnh làm bà đau đớn nhiều không?” “Tôi có thuốc giảm đau. Sáng, trưa, chiều… ba lần.” “Buổi chiều, bà cứ chiêu một ngụm vốt-ka cho thoải mái. Đừng để ý mấy lời khuyên của bác sĩ.” “Phải đợi đến chiều mới uống sao?” “Chẳng cần, tiện lúc nào uống lúc đó.” “Đúng thế. Tôi muốn uống lúc nào thì uống, miễn là phải vốt-ka của Nga.” Bà lấy thế rồi đứng dậy. Nhìn về phía tủ rượu, bà hỏi. “Ông muốn nhâm nhi một chút không?” Ông chưa kịp trả lời, bà đưa tay ngăn. “Ông cứ ngồi đấy. Chủ nhà phải tiếp khách chứ.” Nói xong, bà bước khoan thai về phía tủ rượu. Chiếc áo sơ-mi trắng kéo dài gần chấm gối, để lộ đôi chân trần thuôn thuôn. Thường phụ nữ ở tuổi này, gân xanh nổi lên cuồn cuộn như mạng nhện. Riêng đôi chân bà vẫn trắng hồng, chẳng biết bà có mang vớ chân không nữa. Ông tưởng tượng bà Nữ năm mươi năm về trước. Với cặp chân ống điếu, mái tóc nâu bóng, thân hình dong dỏng cao, dáng tự tin trong bước đi, và với cặp mắt lẳng nhìn đàn ông bằng đuôi mắt… không biết bà Nữ đã hớp hồn bao nhiêu người đàn ông đờ đẫn. Bà trở lại với hai ly pha lê, rượu vốt-ka trong suốt. Ông đỡ ly rượu từ bàn tay gầy guộc. Bà từ tốn ngồi xuống, mím môi nén cơn đau đến bất thần. Nhìn khuôn mặt nhăn nhúm, ông biết các tế bào ung thư đang dấy lên hành hạ bà. Rồi cơn đau chợt biến đi thình lình, bà nhìn ông bình thản như không hề đau đớn gì. Ông thấy trong đôi mắt sinh động, rực sức sống, một niềm tin nào đó thật mạnh mẽ.“ Ông có người đối ẩm chứ?” “Mấy ông chưa mắc bệnh lẫn, ngày ngày đánh gôn, và hễ ngồi xuống là nói chuyện gôn. Cứ làm như sống trên cõi đời này là để đánh gôn, ngoài thú đánh gôn ra chẳng còn gì khác. Những kẻ như thế thì làm sao ngồi nhâm nhi nói chuyện đời được.” Bà nhấp một ngụm. “Bác sĩ bảo ông sao? Bao lâu?” Ông Nam nhún vai. “Sáu tháng. Còn bà?” “Tôi ngắn hơn. Vài tháng. Mà không chừng vài năm.” “Bà sợ không?” “Trước thì có. Cả người run rẩy khi bác sĩ báo cho biết tin dữ. Nằm liệt giường đến mấy tuần. Bây giờ thì tôi thản nhiên nhìn căn bệnh. Đôi lúc nỗi sợ lại hiện về, như bóng ma, trong giấc ngủ. Tâm hồn tôi bình an lắm rồi. Sợ hãi không còn làm chủ hồn xác tôi được nữa.” Ông Nam tư lự. “Bà tìm cách sống với căn bệnh và nỗi sợ.” Bà nở nụ cười. “Cũng là một cách nói.”Ông tiếp lời, vẻ mặt đăm chiêu. “Cần tìm một ý nghĩa cho cuộc sống, rồi làm quen với ý nghĩa đó.” Ông trầm ngâm, giọng bình thản hơn bao giờ. “Riêng tôi không thể làm quen với cuộc sống trầm lặng, mỗi ngày lang thang đây đó, ngày lại ngày, chẳng làm gì.” Bà Nữ xoay xoay ly rượu trong tay, nét mặt trầm mặc. “Không hẳn là không làm gì. Chúng ta đang kiên nhẫn chờ đấy chứ!” Căn phòng chợt rơi vào thinh lặng. Cả hai tư lự không nói gì. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Ông Nam nhìn mông ra bãi cỏ sau nhà. Ánh nắng chan hòa trên thảm cỏ xanh. Khóm hoa Ngọc Nữ trắng nuốt ở góc vườn nở rực nhụy đỏ thắm, lung linh trong nắng. Bỗng nhiên, ông Nam cảm thấy cuộc đời này còn đáng sống lắm, cho dù căn bệnh đang ăn mòn dần cơ thể.Ông nhìn bà Nữ, giọng rắn rỏi. “Bà muốn rong chơi một chuyến không?” Bà nhíu mày, ngạc nhiên. “Ông nói sao?”“Ra khỏi chỗ này, đi đâu đó… mà đi đâu cũng được, miễn là thoát khỏi nơi này.”Bà Nữ ngồi thẳng người, đặt ly rượu xuống bàn, gật gật đầu. “Hay đấy! Phiêu du với ông một chuyến cũng thú lắm.”Nét mặt bà chợt tư lự như suy nghĩ điều gì thật lung. Cuối cùng, bà Nữ nhìn ông, giọng nhỏ nhẹ. “Hay là ông dọn sang đây sống với tôi. Ông nghĩ sao?”Cũng cách hỏi chết người đó. Đuôi mắt kéo dài theo câu hỏi. Hỏi nhưng thật ra như ngầm ra lệnh. Ông Nam cảm thấy đề nghị của bà Nữ nghe dễ thương quá đi chứ. Ông không hề nghĩ đến, hoặc giả không dám nghĩ đến thì đúng hơn.“ Ngủ chung giường chứ?” Đuôi mắt bà Nữ dài hơn bao giờ, “Đêm đầu tiên thì không!

HẢI NGỮ

TÓC MÂY

Chợt nhìn bóng khói chiều nay
Lòng bâng khuâng ngỡ tóc mây vai người
Tình hồng chưa kịp buồn vui
Hồn đâu san sẻ mắt môi xuân thì
Một mình mõi đếm bước đi
Ngày trôi đã muộn có khi chưa tàn
Cây trông ngọn lá đỏ vàng
Tôi ngờ em đã về ngang bến chiều.
Cuối mùa cỏ cháy nắng thiêu
Mờ xanh bóng núi cánh diều xa xăm
Tóc sầu từ ngọn tới chân
Hồn miên man gió bão gần gủi mưa.
Nhà ai rớt hạt cúc thưa
Còn xanh vạt cỏ đẩy đưa xa người
Buồn theo nắng rụng trên đồi
Em treo hạt bụi rủ lời chia đôi.
Tóc mây ngày ấy lên trời
Tôi đan sợi nắng đưa người qua sông
Còn dăm bọt sóng se lòng
Tình tôi thơ dại đèo bồng thanh tân.

NGUYỄN AN BÌNH

ĐÁY SÓNG

Cả đời anh uống ngụm nước trường giang
nếm vị chiều hôm của biển
không được ném thân vào đáy sóng
không nghe rong rêu từ nguồn cội sinh thành

Biển bao dung cả kẻ ác với mình
chấp nhận màu đêm và vị sáng
dù rất mong manh dễ đắm
vẫn đủ lực xuyên qua trùng điệp sâu dày

Dẫu chúng ta sống đủ mấy vạn ngày
vẫn là kẻ đứng trên bờ hữu hạn
phải bị nhấn xuống ngàn xa thăm thẳm
mới hiểu loài trai tích ngọc thế nào
( chỉ sợ khi trai tích đủ ngọc rồi
vẫn sống đời tôm cá )

Ở đáy sóng con người rất lạ
không cần ẩn dụ, hàm ngôn
thấy cõi mẹ cha, thấy nẻo mất còn
mà suốt cuộc người lội suối trèo non
vẫn mờ mờ tỏ tỏ

Cả đời anh, cùng lắm
chỉ nghe tiếng trường giang nổi gió
xua cánh buồm mặt nước lênh đênh
chẳng thế nào hiểu thấu lẽ vô biên
nếu không được ném thân vào đáy sóng

NGUYỄN HÀN CHUNG

CÁI BẾP CỦA BÀ

Nhà bà sửa sang lại hết, chỗ nhà bếp ngày xưa của bà cũng xây lại mới. Chú mua bếp ga về nấu thay cho cái bếp củi của bà. Bà làm nhà bếp lùi ra phía sau vườn. Vẫn mái tôn, vách ván, nền đất, cánh cửa sổ được mở ra bằng cách dở lên trên và chống một cái cây. Bà đâu biết nấu bếp ga. Củi cà phê đầy trong vườn, mỗi sáng sáng, chiều chiều bà ra vườn quét dọn và lượm củi khô vô để dành nấu. Gian bếp của bà có hai cái bếp kiềng ba chân. Bà đóng hai cây gỗ xuống nền đất để chặn đống củi cà phê cao nghệu. Ngo bà chẻ sẵn để trong lon sữa bò dành nhúm lửa. Bà có những cái soong màu đen, nhưng bà cũng có những cái soong rất trắng do khi nấu bà đặt miếng kê soong cho khỏi đen. Những cái soong màu đen của bà đều có vòng dây thép phía trên để xách không bị nhọ nồi dính tay. Bà làm một giàn bếp, trên đó bà để soong nồi hay các thứ linh tinh. Cá, thịt dành cho chó, mèo … bà treo trên giàn bếp này. Bà nói: “Muội khói ám vào, không bị hư”. Gian bếp của bà nhìn cái gì cũng thấy là lạ, hay hay.Những đứa cháu của bà từ thành phố về ăn tết cứ thích tùm tụm trong gian bếp của bà, vừa tán chuyện, vừa khêu bếp cho hồng ngọn lửa. Ngo sẵn trong lon sữa bò, củi cà phê dễ cháy, cứ thế đứa vụng về nhất cũng nhóm được bếp lửa.Buổi sáng dậy sớm, trời cao nguyên thật lạnh, co ro ra vườn nhìn ngắm những cây cà phê còn đọng sương đêm trên những tán lá. Mùi của đất, mùi lá mục, mùi của sương ban mai, không gian yên tĩnh nghe rõ từng tiếng giọt sương nhỏ trên lá, nhìn vào bếp bà đang lui cui nấu nước, thế là cả bọn kéo nhau vào bếp của bà, hơ đôi tay cho ấm. Tiếng lửa nổ lách tách, tiếng ấm nước reo reo, bà bắc ấm đổ vào bình thủy rồi bà nấu thêm ấm nữa. Bọn trẻ con giành nhau cho củi vào bếp, lấy cái ống thổi lửa chúm miệng thổi phù phù vào bếp làm bà phải mắng: “”Coi chừng tro bay đầy đầu”.Cá bà kho bằng nồi đất, ngon ơi là ngon. Miếng cá thấm gia vị vừa cứng, vừa thơm. Cơm bà nấu lúc nào cũng có cháy, miếng cơm cháy hơi sém, màu vàng nhạt, thơm mùi gạo mới, giòn giòn đứa nào cũng tranh nhau ăn cơm cháy chấm với nước cá kho.Bà lui cui dưới bếp suốt ngày, ai muốn nói chuyện gì với bà chỉ cần xuống bếp. Bà để sẵn mấy cái đòn bằng gỗ có mặt ngồi láng trơn để ngồi cho khỏi mỏi chân. Buổi sáng bà nấu nước, ba vào bếp nói chuyện với bà, tiếng bà trầm trầm, bỗng bỗng, cho dù ba đã lớn nhưng vẫn phải nghe lời khuyên nhủ của bà. Trong gian bếp ấm cúng này, mọi người nói chuyện không nhìn mặt nhau mà cùng nhìn vào cái bếp đang hồng ngọn lửa. Vừa nói chuyện, vừa cho củi vào bếp, lửa bùng lên thấy rõ gương mặt bà hiền từ, có những nếp nhăn thời gian, sao mà thật thân thương.Chiều nay bà bắt con gà mái tơ trong vườn để làm thịt thết đãi bọn trẻ con thành phố. Khói trong gian bếp của bà bay lên quyện vào ánh nắng vàng mong manh. Hoàng hôn buông xuống mang theo cái lạnh gai gai. Bọn trẻ con ùa vào gian bếp, tranh nhau thổi phù phù cho hồng ngọn lửa. Không nơi nào ấm bằng gian bếp của bà.

Đào thị Thanh Tuyền

CHIA TAY MÙA THU

Chiều
rưng rức hạt từ ly
nghe từ thiên cổ
bốn bề
mưa giăng
người đi
lỡ cuộc trăm năm
cõi xưa
rớt lại chút trăng
nhạt nhòa
Chiều gần mơ bóng thu xa
lòng ơi đã xế
bóng tà huy xưa
Vàng bay
vàng bay lưa thưa
ngậm ngùi lá
đợi bên bờ vô vi
ngực thầm thảng thốt
đôi khi
mùa thu
nhẹ lắm
người đi khẽ khàng…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

TRÒ CHƠI CỦA NGHIỆP

Nếu đi là chỉ khởi đầu
Con đường của nghiệp còn sâu dấu buồn
Càng xa càng thấy ngọn nguồn
Còn xa … xa lắm hồ truông còn dài
Con đường của nghiệp miệt mài
Trò chơi của nghiệp chưa phai kiếp người
Còn vay tiếng khóc nụ cười
Còn vay … vay trả đến mười … hạnh đau
Bây giờ đi chậm hay mau
Trời còn mưa sớm hay nhàu nắng trưa
Bây giờ chạng vạng chiều chưa
Trò chơi của nghiệp chỉ vừa … thoáng qua.

NGUYỄN TẤN CỨ

Người Đàn Bà Và Chiếc Dương Cầm

Ngoài cửa sổ gió trở mình, lại một buổi chiều xám xịt. Nàng tựa vào tường bâng quơ nhìn ra mảng trời xanh đang chuyển dần sang màu tối.

Từ ban công căn hộ tầng mười tám, nàng nhìn thấy thành phố dưới kia đang chìm dần vào mây. Gió len qua ô kính vỡ lâu ngày chưa thay, phát ra tiếng rú rít khiến chao đèn trong phòng nàng xoay tròn tròn, chiếc chuông gió rung leng keng. Tóc nàng xõa xượi, che kín gương mặt kiều diễm. Ai gặp nàng một lần cũng bị hút bởi gương mặt kín bưng và đôi mắt luôn nhìn xuống lơ đãng. Người trong khu chung cư này chưa ai nhìn rõ mặt nàng một lần dù nàng dọn đến ở đây đã ba năm.

Gió lặng dần, những đám mây đen sẫm sà xuống, sũng nước. Có lẽ sắp mưa. Nàng quay vào, đến bên chiếc dương cầm cũ kỹ,  kỷ vật quý giá- bao nhiêu lần chuyển nhà nàng vẫn mang nó theo

Nàng ngồi vào đàn dạo một khúc Chopin, bản Funeral March chầm chậm như ru dưới bàn tay gầy nổi những đường gân xanh mờ nhạt. Ngoài kia thành phố vừa lên đèn, căn phòng nàng chìm dần vào bóng tối. Giai điệu bản Funeral March trôi êm êm bỗng khựng lại, thanh âm bật ra như tiếng nấc. Nàng ngừng tay. Lạ thật! Hôm qua dạo đàn, thanh âm vẫn như mọi ngày, trước khi đi ngủ nàng cũng đã đậy nắp đàn cẩn thận. Nàng đi đi lại lại trong phòng ngó nghiêng rồi cúi gập người loay hoay lật thùng đàn nhìn vào. Lẽ nào lũ chít chít nghịch ngợm là nguyên nhân khiến thanh âm chiếc dương cầm của nàng trở nên lạc giọng? Bên trong, khung sắt và những sợi dây thép san sát nhau nhìn nàng lạnh lùng, những chiếc lò xo cũng không có dấu hiệu hỏng hóc. Nàng thừ người nhìn ra màn mưa dày đặc.

Nàng nằm đếm tiếng mưa lộp bộp bắn vào cửa kính, lại một đêm ngủ muộn. Nàng thức giấc, mặt trời đã lên cao, trên ban công chú chim nhà ai đi lạc đang hấp háy đôi mắt ngó nghiêng. Nàng chạy đến bên cửa sổ, thoáng thấy bóng nàng, chú chim vụt bay đi, gửi lại nàng tiếng hót véo von. Nàng ngây người nhìn đôi cánh bé xíu xa dần cho đến khi tan hẳn vào bầu trời. Nàng ra ban công, dưới kia dòng người vẫn nối nhau trôi qua chầm chậm. Lại một ngày.

Vào nhà, nàng đến bên chiếc dương cầm, tần ngần nhìn nó hồi lâu rồi rụt rè chạm vào phím. Âm thanh ghê rợn lại rít lên, lần này đanh hơn đêm qua. Nàng hoảng sợ lùi lại. Trên thùng đàn, thằng bé búp bê da màu nâu sẫm đang nháy mắt nhìn nàng tinh nghịch, cạnh đó năm chị em nhà Matryoshka đứng xếp hàng ngoan ngoãn chờ đợi. “Nào! Đàn cho chúng em nghe đi!”. Nàng lảo đảo ra khỏi phòng, sập cửa lại.

Định thần, việc đầu tiên nàng nghĩ là một người thợ chỉnh đàn. Phải rồi! Nàng có lưu số của họ. Nàng run rẩy với tay lấy điện thoại. Đây rồi! 0906… Nàng ấn phím gọi. Sau tiếng tít dài khô khốc, đầu bên kia một giọng nam trầm: “Alô! Tôi nghe!”. Tim nàng bỗng đập thình thịch. Nàng kể sự tình chiếc đàn của nàng, những đoạn kể chắp vá, lan man. Nàng kể rằng chiếc đàn bị hỏng từ đêm qua và nàng không hiểu sao nó lại như thế. Đến đoạn âm thanh trên phím nấc lên rồi nghẹn lại như ai đang khóc, giọng nàng trở nên thảng thốt. Đầu bên kia bỗng bật ra tiếng cười khùng khục: “Được rồi, dừng lại! Cho tôi địa chỉ”. Nàng “vâng” rồi đọc như một cái máy. Buông điện thoại, nàng nằm vật xuống sofa.

Hơn một tiếng trôi qua, bên ngoài có tiếng gõ thật khẽ. Nàng lao ra vặn nắm đấm cửa. Trước mặt nàng, một người đàn ông chừng năm mươi với bộ râu quai nón và đôi mắt nhỏ sau cặp kính, mái tóc bù xù buộc lại thành một túm phía sau gáy, chiếc túi dết trên lưng ông lỉnh kỉnh các thứ đồ nghề. Không đợi nàng nói gì thêm, ông chậm rãi đến bên chiếc dương cầm nhấc nắp hộp, khẽ chạm vào dãy phím. Nàng ngồi yên chăm chú nhìn ông làm việc. Dưới đôi tay ông âm thanh bật ra thánh thót như tiếng suối róc rách. Người đàn ông dừng tay, đôi mày khẽ nhíu lại nhìn nàng. Nàng vẫn ngồi bất động, ngơ ngác. Người đàn ông quay lại cúi nhìn dãy phím một lần nữa rồi chậm rãi đến bên chiếc túi soạn đồ nghề. Ông mở thùng đàn nhẹ nhàng nhấc ra ngoài, loay hoay một lúc ông nhón tay vào lấy ra một con búp bê bằng len, một con thỏ, một con voi, rồi một con cừu… Ông bày la liệt những con thú nhồi bông ra sàn nhà. Lần này ông quay lại nhìn nàng chăm chú, cái nhìn dừng lâu hơn ở đôi mắt nàng. Cúi xuống giấu cái cười vừa thoáng qua, ông nhẹ nhàng lắp các thứ lại vị trí cũ. Như thể tiện tay, ông nâng từng con thú nhồi bông lên ngắm nghía, phủi bụi bám rồi cẩn thận đặt chúng lên thùng đàn, cạnh thằng búp bê nghịch ngợm.

– Tôi về đây! Chào cô! – Giọng lơ lớ, ông nói rồi đứng lên ra cửa.

– Ồ! Ông không phải người Việt? – Nàng khẽ thốt lên – Khoan! Tôi còn chưa gửi tiền công…

– Không sao! Đàn của cô có bị gì đâu? – Người đàn ông nói rồi đi nhanh ra cửa, cũng còn kịp quay lại ném nhanh cho nàng một cái nháy mắt tạm biệt.

Cánh cửa khép lại, tiếng chân người đàn ông xa dần về phía thang máy.

Nàng ngơ ngác dõi theo tiếng giày ông xa dần. Tóc nàng vẫn xõa xượi, cổ áo trễ tràng trên đôi vai gầy, trông nàng mong manh và trơ trọi đến đáng thương. Ngoài cửa sổ, tiếng lao xao cũng ngừng bặt, những thanh âm đáng ghét mọi ngày sao hôm nay nàng lại cần nó đến thế! Nàng rón rén đến bên chiếc dương cầm run rẩy mở nắp. Những phím đàn nằm san sát như những quân cờ domino nhìn nàng giễu cợt. Nàng khẽ chạm vào. Âm thanh bật ra, lần này nghe như tiếng ú ớ của người bị bóp cổ. Nàng hét lên lùi vào tường thở dốc. Hoàn hồn, việc đầu tiên nàng lao đến chiếc điện thoại run rẩy bấm số, đầu bên kia vẫn giọng người đàn ông.

– Tôi đây!

– Ông giúp tôi! – Nàng van nài – Giúp tôi một lần nữa đi! Nó lại…

Đầu bên kia không có tiếng trả lời. Nàng thoáng nghe tiếng thở ra nhè nhẹ, sau đó là những tiếng tít dài.

Nàng ngồi bất động, mở to mắt nhìn ra cánh cửa đang khép hờ. Không hy vọng người chỉnh đàn sẽ trở lại, nhưng nàng vẫn đợi. Rất lâu, tiếng cốc cốc vang lên, lần này thật chậm. Người đàn ông bước vào và không nhìn nàng, ông đến thẳng chỗ chiếc dương cầm và ngồi xuống. Không ngẩng lên, nhưng ông biết nàng đang theo dõi từng cử động của ông. Ông lật nắp đàn, đôi tay lướt nhẹ lên phím như ru, thanh âm thánh thót ngân lên như nó vẫn luôn như thế. Người đàn ông dạo một giai điệu quen thuộc. Nàng đang lơ mơ bỗng bật dậy trân trối nhìn ông. Bất chợt ông khe khẽ hát Kareha chiru yuugure wa/ Kuruhi no samusa wo monogatari… Nàng lặng người. Ngoài cửa sổ gió lại phần phật thổi về, nàng nhìn thấy người đàn ông năm xưa của nàng đang ngồi giữa đêm đông, xung quanh tuyết phủ kín, dáng vẻ và gương mặt ông cô độc đến ám ảnh. Nàng run rẩy đến sau lưng ông… Bản Koibito Yo một thuở của nàng, những năm tháng trên xứ sở Phù Tang của nàng… Người đàn ông vẫn say sưa không hay biết nàng đang đứng sau lưng. Tiếng đàn vừa dứt, ông gục xuống, những sợi tóc dài che kín đôi bàn tay cũng đang run lẩy bẩy.

– Tôi… tôi – Nàng khẽ kêu lên rồi im bặt.

Người đàn ông từ từ ngẩng lên.

– Tôi không hiểu phép ma thuật nào đã đưa tôi đến đây, cho tôi lại được nhìn thấy cô ấy.

– Cô ấy là ai?

– Là… mẹ của con gái tôi, cô ấy… đã chết.

Nàng khẽ rùng mình, đôi mắt bỗng trở nên u tối như những vì sao đi lạc ngoài kia. Trước mặt nàng, người đàn ông mà chỉ mới đây thôi đến “chữa bệnh” cho chiếc dương cầm của nàng, giờ đã trở nên một hồ nước cô độc bị bủa vây bởi bóng tối. Và nàng, như một chiếc thuyền mắc cạn trên bãi cát mịt mờ. Người đàn ông quay lại nhìn nàng, trong màn chiều tối sẫm, mái tóc nàng rối tung như một đám rong hỗn độn.

– Người đàn ông của tôi cũng thường chơi bản nhạc đó, và… những con thú nhồi bông kia… – Nàng thẫn thờ nhìn ra cửa sổ lảm nhảm những câu không rõ nghĩa.

Người đàn ông đứng lên chầm chậm ra cửa.

– Tôi đã làm phiền ông… Tha lỗi cho tôi! – Nàng ngơ ngác nhìn cánh cửa đang từ từ khép lại.

Trong màn chiều, gương mặt nàng trắng bệch, thất thần như đứa trẻ đi lạc trong rừng. Cánh cửa vừa khép, người đàn ông lao vội về phía thang máy đang sập lại. Chỉ còn một mình, ông thoáng thấy chiếc gương thang máy phản chiếu một gương mặt rúm ró đến thảm hại. Ông đưa tay nắm bộ tóc giả giật xuống, bộ râu quai nón cũng rơi ra. Ông ôm mặt khóc nấc như đứa trẻ. Xuống hết thang máy, ông đi như chạy ra đến đường. Thành phố đột ngột mất điện, mọi thứ đang chìm dần trong bóng chiều chập choạng…

Loay hoay tìm cây nến đốt lên. Nàng lững thững ra ban công, nhìn xuống đường. Giữa dòng người đang ngược xuôi dưới kia, bóng một người đàn ông vội vã đi. Nàng mở to mắt kinh ngạc, dáng đi một người nàng chẳng thể lẫn vào đâu. Tại sao đến giờ nàng mới chợt nhận ra? Nàng tựa vào cửa, lặng đi.

Đêm sâu thẳm. Ngọn nến trên thùng đàn lụi dần, ánh sáng leo lét hắt bóng nàng lên tường, ma mị. Nàng sờ soạng tìm cây nến khác đốt lên. Như kẻ mộng du, nàng ngồi vào đàn lướt nhẹ đôi tay lên phím. Ngoài trời đêm gió lùa vào hất tung tấm vải phủ đàn, chiếc chuông gió lại xoay tít, leng keng. Thằng bé búp bê và năm chị em nhà Matryoshka rơi xuống sàn nhà, chỏng chơ. Lọ hoa bằng thủy tinh đã cạn nước cũng rơi xuống vỡ tan. Xác hoa hồng héo khô nát vụn dưới chân nàng. Nàng run rẩy nhìn xuống sàn nhà. Thằng bé búp bê lúc này gương mặt không còn nghịch ngợm, lém lỉnh, nó giương đôi mắt trừng trừng nhìn nàng, như căm giận. Nàng đưa tay ôm mặt. Nàng muốn trốn chạy nó. Ngoài kia đêm vẫn đen kịt, xung quanh chẳng còn một tiếng động nào để nàng được biết nàng là có thực. Tiếng chuông gió cũng thôi leng keng, mọi thứ yên ắng đến lạ thường. Bỗng một thanh âm cao vút bật lên, là ngón tay nàng lỡ chạm vào phím đàn. Nàng mở to mắt nhìn những phím đàn như một vị cứu tinh lúc này.

Kéo lại cái cổ áo trễ tràng, nàng vội vàng ngồi vào đàn, đôi tay đang tê cứng bỗng mềm mại lướt trên phím. Âm thanh xô dạt về, lại thánh thót, trong trẻo như xưa, như ngày nàng lên bảy tuổi, cha mang chiếc đàn này về nhà.

Dạo đoạn đầu bản Sad romance. Trước mắt nàng lại hiện lên một đêm mưa tơi bời. Và bóng người đàn ông dần xa khuất… Đôi tay nàng vẫn lướt đều trên phím. Càng về đêm, bản Sad romance càng da diết. Nàng ngập ngụa trong nỗi tê tái. Ngọn nến vẫn cháy rực và những ngón tay nàng bắt đầu tê dại. Nhưng nàng không thể dừng lại. Lúc này đây, nàng đang cần nó, đang cần một thứ tiếng động nào đó được phát ra, để nàng được biết nàng đang tồn tại và có thực trên cõi đời này. Nàng chẳng thể dừng lại, chẳng thể nào dừng lại được nữa… Đôi tay nàng vẫn trôi… Giai điệu cuối của Sad romance vẫn xô dạt về, du dương, không dứt.

Đồng hồ trên tường gõ bing boong. Một giờ sáng. Nàng gục xuống. Bàn tay trái đáng thương vẫn cố chạm lấy những phím đàn để thanh âm được cất lên, thứ mà nàng khao khát lúc này. Bàn tay phải tê dại, nàng vẫn cố níu lấy… rồi từ từ buông thõng.

Tiếng chuông điện thoại của nàng bỗng đổ dồn, rung bần bật từng hồi. Lặng ngắt. Một lúc, tiếng chuông lại rung lên lần nữa. Vẫn lặng ngắt. Bên kia đầu dây người chỉnh đàn vẫn kiên trì, ông run rẩy nhấn phím, từng số đến thuộc làu. Và chờ đợi. Tiếng tít… dài vẫn vang lên, khô khốc.

Ngoài kia gió lại trở mình, báo hiệu một cơn giông lại sắp sửa kéo về trên thành phố…

VŨ NGỌC GIAO