QUA NGÕ SƯƠNG TAN

 

Năm mươi năm trước . Ờ ! Lâu lắm
Từ thuở trăng khuya vắng nguyệt cầm
Từ thuở rượu buồn anh uống cạn
Em đi – về qua ngõ sương tan

Áo lụa Hà Đông hương mới lớn
Tay ngoan e ấp lá thư tình
Bài thơ mực tím – con bướm phượng
Em giữ hoài ” lưu bút ngày xanh ”

Năm mươi năm trước. Ờ ! Lâu lắm
Em ngồi chải tóc hết một thời
Giã biệt kinh kỳ anh ra trận
Tuổi hai mươi khắp nẻo sông hồ

Tuổi hai mươi nụ hôn rất vội
Lên môi trầm – ngực ngải em thơm
Anh nhớ mùa xưa trăng đã cũ
Rượu uống mềm môi bóng nguyệt rằm

Năm mươi năm trước. Ờ ! Lâu lắm
Anh tìm về qua ngõ sương tan
Sương tan khóc đời nhau lận đận
Là lúc thuyền quyên bước theo chồng

Là lúc sầu đời anh lưu lạc
Bến sông nào cũng khổ như nhau
Bến sông nào cũng chảy nước mắt
Qua ngõ sương tan bạc mái đầu.

Linh Phương

NHỮNG CHIẾC LÁ

 

Nhà viết kịch Lữ Kiều, từng có lần muốn viết một vở kịch không lời. Bối cảnh chỉ có một chiếc ghế dài.

Màn một: Có hai đứa bé, một trai và một gái ngồi trên ghế, phía sau là những khóm cây xanh non. Âm nhạc trẻ trung, tươi vui.

Màn hai: Một chàng trai, một cô gái, cùng ngồi trên ghế, những khóm cây bắt đầu lớn lên, ra hoa. Rất nhiều hoa. Âm thanh có thêm, tiếng trống, tiếng kèn.

Màn ba: Chàng và nàng đã là hai người đàn ông và đàn bà. Âm thanh nỉ non réo rắt bỡi tiếng violon. Những khóm cây trĩu quả.

Màn bốn: Một ông già, một bà già. Vài chiếc lá rơi. Rồi lá đổ muôn trùng. Lá phủ kín cả người họ, ngập tràn cả sân khấu trong tiếng nhạc trầm buồn của contre bass.

Vở kịch nếu được trình diễn, có thể coi như nghệ thuật sắp đặt và tên của nó là cuộc đời.

 

Cũng có một câu chuyện về những chai rượu như thế này:

Một nhóm bạn ở Mỹ trong thế chiến thứ hai, trước khi ra mặt trận, hẹn nhau ngày trở về sẽ gặp nhau một ngày nào đó, ở một nơi cũng nào đó, mỗi người nhớ mang theo một chai rượu để uống mừng.

Chiến tranh chấm dứt. Rất may là hãy còn đủ cả và không một ai bị thương. Họ gặp nhau rất vui, uống hết những chai rượu đã được mang tới.

Năm sau và nhiều năm sau nữa, họ vẫn gặp nhau, có cả vợ con, cùng uống mừng được sống thêm một tuổi.

Rồi có người chết, những chai rượu cứ ít dần đi. Sau còn hai, cuối cùng chỉ còn một. Người chủ của chai rượu buồn quá, không uống nổi. Ông ta dặn con, khi ông chết hãy mang chai rượu chôn theo ông.

Cũng vẫn là cuộc đời, vẫn là nghệ thuật sắp đặt, nhưng người nghệ sĩ dấu mặt kia chính là tạo hóa.

 

Những năm gần đây, bạn bè như những chiếc lá cứ rơi rụng dần. Cái chết của họ dù có tiếng khóc của vợ con, cũng chỉ gây nên một tiếng động rất khẽ như khi lá rơi chạm đất.

Cho dù nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được đưa tiễn đông đến hàng vạn người, hay cả ngàn người lặng lẽ đứng chào theo kiểu nhà binh nhạc sĩ đại tá Nguyễn Văn Đông, thì đối với cuộc tồn sinh cũng chẳng hơn gì nhạc sĩ Trúc Phương, chết trong đói nghèo và quên lãng.

Buồn là buồn cho những chiếc lá cứ rơi rụng dần, cho những chai rượu cứ ít dần đi. Nếu sau một trận chiến khốc liệt, chỉ còn một mình mình sống sót, thì đó là cái may hiếm có. Nhưng trong cuộc tồn sinh, nếu là chiếc lá cuối cùng, hay chai rượu cuối cùng, thì không còn nỗi buồn nào buồn hơn.

Vậy nên, giả sử 20 năm nữa mà vẫn còn sống, trong khi bạn bè đã về nước Chúa ráo trọi, thì dù cho chế độ này có tiêu tùng, cũng đâu có gì vui. Đâu có còn ai nữa để mà nâng ly chúc mừng. Một ly mình mà nhiều ly không thì uống để lam gì!

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, người viết rất hay về tuổi gió heo may, về già sao cho sướng, một hôm bàng hoàng nhận ra giờ mọi sự sao trở nên nhạt nhẽo, rồi lẩn thẩn tự hỏi xếp lại cái kệ sách này để làm gì, lục tìm những bức thư cũ, những bức ảnh cũ, cũng để làm gì? Suốt ngày ba tiếng để làm gì cứ gõ đều như tiếng kêu tích tắc của đồng hồ. Để làm gì?! Để làm gì?!

Thế, có nghĩa là đã tới lúc hết muốn sống nữa rồi, mới đó mà đã thấy mình đứng bên bờ huyệt chênh vênh. Cho nên nhiều người bảo sao mà muốn chết quá, là nói thiệt chứ không phải nói chơi.

Thế nhưng cắc cớ bảo những người muốn chết đó, thôi thì một hai ba chúng ta cùng chết, ai cũng bảo để coi lại đã, tưởng đã thu xếp xong xuôi từ lâu rồi mà hình như vẫn chưa, có vẻ như đâu đó còn có tiếng nức nở, ông ơi (hay bà ơi), ông chết đi thì tôi biết sống với ai!

Rắc rối là vậy đó. Con người có thể ví như chiếc lá, nhưng chết không như lá. Lá đổ muôn chiều nhưng con người thì xin đừng rơi rụng cùng một lúc.

 

27/8/2019

Khuất Đẩu

Về ngang thành phố cũ

 

Trời vẫn chưa vàng thu, đó em

Em
Cơn gió
Thổi buồn qua vách núi
Trời chưa thu
Xao xác lá tôi
vàng
Mây thiên cổ trôi hoài trời hư ảo
Thổi qua chiều tôi những giấc mộng chưa tan

Trời chưa thu mà rừng tôi xào xạc
Bước chân người xa vắng
Bóng hoàng hôn
Trời chưa thu mà sương mờ giăng mắc
Trải màu thu vời vợi bến sông buồn

Trời chưa thu mà bời bời tóc rối
Nắng chiều phai áo lụa ướp hương người
Ôi đá sỏi cũng ươm nồng men rượu
Rượu hoang đường chảy tận trái tim tôi

Em
Cơn gió
Thổi qua chiều cuối hạ
Mà thu tôi mềm quá nụ môi tình
Đừng vàng úa linh hồn tôi chiếc lá
Trên tay người tình ái vẫn còn xanh

Trời đã chưa vàng thu đó em!

 

 

Về ngang thành phố cũ

 

Rồi người trở về ngang thành phố cũ
Lòng hoang vu trong một giấc mơ buồn
Và nỗi nhớ chảy ùa theo nỗi nhớ
Như sóng chiều xao xác mấy triền sông

Con đường nhuộm nắng vàng xưa còn đó
Áo vàng xưa mờ mịt phía hoàng hôn
Ai nhặt nắng ướp thơm từng trang vở
Để bây giờ nắng rụng giữa trời không

Người qua phố kể chuyện buồn với phố
Kể một mình
Kể mãi
Một mình nghe
Kể với ghế bàn hiên chiều quán nhỏ
Chợt thấy tay mình năm ngón so le

Người qua phố kể chuyện tình với phố
Chỉ một mình, ngồi kể với trăm năm
Kể với hàng cây vàng xao xác lá
Chợt thấy lòng mình giá buốt căm căm.

Lê Văn Trung

Thứ Sáu Hôm Nào

Có phải sầu xanh ngọn cỏ không?
Em ơi! Hỏi nhé nụ môi hồng
Tại sao Xuân vẫn còn xanh biếc
Mà mắt em chừng thấp thoáng Đông?

Có phải sầu xanh mỗi ngón tay?
Em ơi! Hỏi nhé cuối chân mày
Tại sao Xuân vẫn còn xanh biếc
Mà tóc em vàng buổi sáng nay?

Có phải sầu xanh mỗi ngón chân?
Em ơi! Thương quá bước em gần
Quê Hương thì cứ xa ngàn dặm
Mình sẽ làm sao bớt nhớ nhung?

Em hỡi sầu xanh như khói sương
Hình như ta đứng ngã ba đường?
Một cơn gió Bấc lùa qua áo
Rớt đám mây kìa dưới gót son!

Em hỡi sầu xanh vút đỉnh sầu
Chia tay hai đứa sẽ về đâu?
Cỏ rồi sẽ úa mùa Thu tới
Tình cứ xanh nghen! Mỗi lá trầu…

Trần Vấn Lệ

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 2) – Quê ngoại của các con tôi

 

 

Tôi không đủ đức tính ngang tàng và bạo mồm bạo miệng như nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, để có thể tặng vợ bốn câu thơ trời ơi đất hỡi như thế này:

Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt

Nhưng vì sao ta lại yêu em?

Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột

Ta quàng xiên nên đã sa chân.

Tôi cũng sa chân nơi quê ngoại của các con tôi, nhưng không phải vì mắt em nhìn như là bẫy chuột, mà vì nơi đây có những hàng cau rất giống với quê nhà và vì lỡ kẹt không chịu trình diện quân dịch nên không thể rút chân đi đâu được.

Ở quê tôi không hiểu cái nước uống nó thế nào mà khi nói ai cũng ngửa cổ lên như khướu hót, cứ “dẩy na? dẩy na?”. Còn ở đây thì cổ như mắc nghẹn giống nhái kêu, các từ chứa âm a đều biến thành e, rằng đừng có nói léo, hãy đưa teo tờ béo!

Tuy nhiên ngẫu nhĩ trùng phùng cũng có được cái may, miền đất này rất thái hòa nên được gọi là Ninh Hòa, Khánh Hòa. Nhà thơ Quách Tấn còn gọi một cách rất thơm tho là xứ trầm hương.

Đúng là rừng núi ở xứ này từng có một thời lừng danh vì có rất nhiều trầm kỳ.

Có một loại cây tên cây  chỉ mọc ở rừng sâu, khi bị gió bão làm cho cành cội tơi bời, liền tiết ra một chất nhựa quý có vị cay cay đăng đắng, chữa bệnh hay một cách thần kỳ, nhất là đau bụng gió, nên được gọi là kỳ nam. Ngoài kỳ, còn có trầm, tuy không chữa được bệnh, nhưng đốt rất thơm. Cụ Nguyễn Du viết “đốt lò hương ấy so tơ phím này”, là đốt trầm.

Xưa, các cụ thường xông trầm khi đọc sách, thưởng trăng. Trung thu còn có thêm hương hoa cúc và hương mạch nha, lễ mễ công phu như trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân.

Những người đi tìm hương liệu cực kỳ quý hiếm ấy trong rừng sâu gọi là đi điệu. Điệu là phải mang tất cả đồ đoàng trên lưng như các bà mẹ Ra đê địu con, chứ không phải ăn chơi sành điệu. Họ là những người nghèo thường đi từng nhóm từ 3 đến 5 người, lặn lội trong rừng sâu núi cao cả tháng mới về.

Không phải người nào cũng trúng, tức là được ông bà thương cho gặp cây dó có kỳ. Thường là chỉ mót được chút ít của những người gặp may để sót lại. Có người đi cả đời vẫn chưa một lần gặp được. Rồi thương tật, rồi bệnh chống nước từ núi rừng mang về, kiếm được bao nhiêu trầm đều phải đổ ra mua thuốc, nghèo lại hoàn nghèo. “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt” là vì vậy

Xưa nhiều người đi lạc, đồn rằng để sống sót trong rừng phải ăn thịt sống, nên hóa thành …cọp! Tiếng đồn “cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận” biết đâu là từ những câu chuyện huyền hoặc như thế.

Có thể nói, đi tìm trầm không khác gì đi tìm cái chết, vì phải đối mặt với biết bao gian khổ, chết chóc. Ngoài việc tin vào “ông bà”, tin vào ở hiền gặp lành, còn phải tin vào bùa ngải, nên mới có thành ngữ ngậm ngải tìm trầm.

Nhưng đó là chuyện trước đây, giờ ít ai chịu khổ làm nghề đi điệu nữa. Một phần vì bao nhiêu cây dó, có kỳ hay không cũng bị chặt phá, đào cả gốc rễ, nên đi cả năm cũng chưa chắc “trúng”. Và phần lớn vì các tay đầu nậu vừa ăn trên đầu trên cổ họ, vừa ăn gian nói dối với người mua, đem chút ít kỳ thiệt đun ra nước rồi ngâm với gốc cây duối giả làm kỳ, hay nhét đinh nhét chì vào cho nặng cân. Các tay buôn kỳ từ Hồng Kông, Ả rập vì thế đều no no chạy dài.

Khánh Hòa chẳng những có rừng sâu mà còn có núi cao. Trên đỉnh nam Trường Sơn thường lẫn trong mây mờ, có hai tảng đá khổng lồ, nhìn xa trông giống như hai mẹ con đang đứng nhìn ra biển nên được gọi là đá Vọng Phu. Nhạc sĩ Lê Thương trong một lần đi ngang qua Khánh Hòa, trông thấy , đã đem xúc cảm từ Chinh phụ ngâm mà sáng tác nên trường ca hòn Vọng Phu bất hủ.

Trong số các con tôi có một đứa bảo với mẹ rằng, mỗi lần về quê nhìn thấy núi Vọng Phu con đều muốn khóc. Tiếc rằng cu cậu không có chút năng khiếu nào về âm nhạc và thơ thì bảo rằng làm cho lắm cũng chỉ nổi tiếng được vài câu mà thôi.

Nơi đây còn nổi tiếng với tháp Bà linh hiển ở Nha Trang. Tháp nằm bên bờ sông Cái, ngó xuống cầu Xóm Bóng và nhìn ra biển Đông sóng vỗ. Xưa, dân Chiêm rất giỏi nghề đi biển, sau khi vượt trùng khơi trở về, từ xa nhìn thấy ngọn tháp, là biết đã về đến quê hương.

Cũng giống như ở Bình Định, tháp là của người Hời. Khi chúa Nguyễn vượt qua ranh giới tại núi Đá Bia do Lê Thánh Tôn áp đặt, để dần dần chiếm trọn đất nước Chiêm, thì tháp Bà biến thành tháp của người Việt, thờ mẫu đọc theo giọng Việt là Thiên Y A Na.

Khi tôn tạo, để ra vẻ Hời, người ta xây thêm một cổng chào khum khum bằng gạch mộc, chẳng ra Hồi mà cũng chẳng phải Phật, trông rất nhếch nhác dị hợm.

Tượng của Po Anagar bằng trầm hương bị Pháp lấy mất đầu được thay bằng xi măng sơn phết lòe loẹt, mặc áo đội mũ như đồng bóng ngồi giữa khói hương mù mịt cho khách thập phương, phần lớn là vợ các quan to đương chức, xì xụp bái lạy xin giữ được ghế càng lâu càng tốt. Bên ngoài, một đám gái nõn nường phấn son diêm dúa giả Chiêm nữ uốn éo múa may, trong tiếng  trống mẹ trống con lum tum lắc cắc và phèn la não bạt tùng xèng…

Bảo rằng đấy là văn hóa truyền thống ngàn xưa, thì truyền thống ba rọi này đâu phải của người Chiêm!

Những dân Hời sống sót sau cuộc bại trận ở Đồ Bàn, chạy dạt vào miền đất sau núi Đá Bia ở Phú Yên, một lần nữa lại bị các đời chúa Nguyễn và nhất là vua Minh Mạng tận diệt, ai nộp được nhiều đầu lâu là được thăng cấp, nên có từ thủ cấp nghe rất rùng rợn

Giờ, chỉ còn co cụm một dúm tại các vùng đất đai khô cằn ở Phan Rang, sống còm cõi với những con dê và cừu ốm đói, không tìm ra cỏ phải ăn cả gai bàn chải. Thử hỏi có ai trong số họ đủ tiền và đủ quyền để được bước vào ngôi tháp của tổ tiên?

Càng nghĩ tôi càng thấy, những kẻ cầm quyền hiện giờ còn ác hơn cả vua chúa ngày xưa. Họ trâng tráo đến nỗi coi việc cướp đất như chuyện đã rồi, không cướp không được, và giả dối gọi dân tộc Hời là dân tộc anh em, như cách nhà họ Tập gọi Việt Nam là nước anh em. Thà gọi đích danh là dân tộc ít người còn dễ nghe hơn.

Vậy nên, nào có mong chi một lời xin lỗi!

Nhiều người bảo, đất Khánh Hòa như một nước Việt Nam thu nhỏ. Rất giàu và đẹp. Có rừng nhiều gỗ quý, có biển nhiều cá tôm, có ruộng lúa mênh mang, mà người dân lại hiền hòa. Dưới con mắt các nhà quân sự, còn có cảng Cam Ranh vừa sâu, vừa kín gió, mà Nga Mỹ và cả Trung Nhật đều thòm thèm. Về kinh tế, vịnh Văn Phong là nơi rất béo bở để xây dựng khu chế xuất, cho thuê đất lấy vàng.

Nếu không có cuộc xuống đường gần như cả nước ngày mồng 10 tháng sáu năm ngoái, thì mấy trăm vị dân biểu đã bấm nút ô kê rồi và nhiều tay cò đất đã trở thành đại tỷ phú!

Bãi biển Nha Trang và Dốc Lết, cát trắng và mịn, đi bên nhau dưới bóng dừa thật nên thơ. Giờ thì từng đoàn xe to kềnh và dài ngoằng từ Trung Quốc chạy sang, đổ xuống bãi biển hàng ngàn kẻ giàu mà chưa sang, có 6000 năm văn hiến nhưng thiếu văn hóa, quần cộc bụng mỡ nị nị ngộ ngộ ồn ào như cả một bầy chim cánh cụt.

Ai cũng kêu trời, chỉ có một nữ văn nhân xa xứ đến hơn 50 năm, về nước khen Việt Nam mình rất khôn ngoan biết cách moi tiền từ túi anh nhà giàu. Rằng, các em từ đây không phải xuống ruộng bị đỉa cắn, rằng ngày làm hai job trong nhà hàng máy lạnh mát mẻ, rằng Hoàng Sa, Trường Sa, giờ thêm bãi Tư Chính có bị lấy mất cũng được thôi, vì miếng ngon nằm phơi ra như thế ai mà chẳng thèm.

Còn có kẻ, chắc như đinh đóng cột là dư luận viên, thì tin những gì nị nói chứ không tin những gì nị làm, bảo rằng chỗ nào có Quảng là của ngộ lớ. Đã có Quảng Đông, Quảng Tây, thì Quảng Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi không của nị thì là của ai. Cũng như Vũng Tàu thì đứt đuôi con nòng nọc là của Tàu rồi!

Khom lưng quỳ gối hít đàn anh như thế, thì thôi rồi, con cháu tôi chắc sẽ thành dân Hời. Và khi đó, đúng là anh em vì cả hai cùng bị mất nước!

Khuất Đẩu

 

PHÂN ƯU

 

 

 

 

Nhận được tin buồn nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vừa giã biệt thế gian.
Ban Biên Tập TƯƠNG TRI, các thân hữu và độc giả xin chia sẻ nỗi đau buồn mất mát này cùng tang quyến.
Cầu chúc hương linh Anh an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.

ngọn roi tình

 

anh -một thằng thi sĩ
hồn cốt gửi đâu đâu
những niềm đau giấu kỹ…
trong tim khô nát nhau..

bao năm trời mê mải
anh đi tìm tình yêu
tưởng mình là Từ Hải
đêm mơ một dáng Kiều

hóa ra đời không vậy
anh quàng xiên ngã nhào
chỉ thấy toàn hư ảo
trong những lần chiêm bao

bao nhiêu năm lận đận
anh mới hiểu ra rằng
tình yêu không ban tặng
cho anh – người vận đen..

khi quanh anh cơm áo
khi đời anh gió giông
khi tình anh cơn bão
khi tuyệt vọng chất chồng

bài thơ như hạt cát
trôi giữa lòng đại dương
mà em là hoàng hạc
phải ở chốn thiên đường

đời không dung kẻ khó
nên vinh nhục là thường
sá chi tình dang dở
em đâm tràn vết thương..

chiều nay ngồi ngó núi
anh xé hết thơ tình
như xé đời lầm lủi
quất anh nghìn dấu đinh..

anh sẽ buồn như thể
không em – chiều lặng thinh
một anh ngồi rơi lệ
đau buốt ngọn roi tình…

nguyễn minh phúc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vậy thì em ở đâu

Trong lòng anh chật chội

Nên tháng ngày bên nhau

 

HOA GIẤY MÙA XƯA

một ngày tôi về qua phố lạ
chân quen thèm một giấc mơ trưa
bóng lá lao xao tràn ngõ vắng
dưới giàn hoa giấy…gió đong đưa…

tiếng chim nào hót trong vòm lá
hồn nhiên tôi nhớ dáng em xưa
hồn nhiên gió hát ru em ngủ
tóc chiều thơm ngát nắng lưa thưa.

rồi phố xa người…em vắng tôi
lạc loài câu hát cũ chơi vơi
tiếng chiều nhuộm tím giàn hoa giấy
tím cả hồn chiều hoa lá rơi.

phố lạ dường như đang ngủ mơ
để mầu hoa giấy tím bơ vơ
nắng đợi ngoài hiên…nhà khép cửa,
tiếng thời gian gọi chẳng ai thưa…

Hoàng Uyển Văn

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 1) – QUÊ HƯƠNG TÔI, XỨ DÂN HỜI

 

 

 

Tháp Đôi (Qui Nhơn)

Quê tôi, một miền quê thuần nông, nghèo nhưng không đến nỗi đói, nằm cạnh sông Kôn, con sông lớn nhất tỉnh Bình Định chảy qua thành Đồ Bàn với rất nhiều huyền thoại.
Từ hiên nhà nhìn ra, sáng chiều và ngay cả trong những đêm tối trời, tôi vẫn thấy tháp Bánh Ít ở trước mặt, như hai búp măng non mọc lên từ lòng đất.
Xa hơn về phía tây, vượt hẳn khỏi những lũy tre ở quê ngoại, là tháp Cánh Tiên rực vàng trong nắng sớm và đỏ thắm trong những buổi chiều tà.
Bên kia sông, cái bóng đồ sộ của một ngọn tháp không rõ tên ở xã Nhơn Thành lại in xuống nước rực rỡ như một khối ngọc khổng lồ.
Và khi đi vào cửa ngõ thành phố Qui Nhơn, lúc nào tôi cũng có cảm giác tháp Đôi như hai anh em song sinh dễ thương đang đứng đón chào.
Như vậy, bốn mặt đông tây nam bắc ở quê tôi đều có tháp. Tháp thờ những ai không biết vì trong lòng tháp trống không chỉ có những mảnh gạch vỡ và những con dơi bay lượn. Nhưng trong cảnh điêu tàn hiu hắt ấy nó vẫn không mất đi cái vẻ thiêng liêng rất hùng vĩ.
Những ngọn tháp đều xây trên những ngọn đồi thấp nhỏ, thuở ấy hãy còn hoang sơ lắm. Nhìn từ xa, trông giống như bầu vú của một người mẹ đang nằm mà tháp là cái núm be bé xinh xinh cho các con bú mớm.
Sự liên tượng ấy càng làm cho những ngọn tháp trở nên thân mật, gần gũi chứ không bí hiểm xa lạ.
Có vẻ như người xưa chung sức chung lòng, xây tháp là để ngợi ca cuộc sống bất diệt, chứ không phải vì sự bất tử của các pharaon như kim tự tháp ở Ai Cập.
Họ đổ mồ hôi, nhưng không đổ máu. Họ ca hát và nhảy múa sau khi hoàn thành chứ không khóc than rên rỉ dưới đòn roi.
Những ngọn tháp vì vậy hãy còn vươn lên mạnh mẽ dưới trời xanh, dù rằng những chủ nhân thật sự đã phiêu tán tận đâu đâu.
Dù là nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng tôi chỉ thấy ngậm ngùi chứ không dám tự hào. Vì những ngọn tháp đó là của dân Hời, đâu phải của ông cha tổ tiên tôi.
Cũng như tháp Eiffel là của người Pháp, tháp Big Ben là của người Anh, tượng Nữ thần Tự Do là của người Mỹ…Những di dân bất đắc dĩ người Việt cho dù nhận những nơi ấy làm quê hương thứ hai, cũng không thể và không nên tự hào. Con cháu họ 500 năm sau chắc vẫn còn thao thức tự hỏi quê hương đích thực của mình ở đâu?
Lần theo vết xe của lịch sử, tôi kinh hoàng nhận ra kinh thành Đồ Bàn, cách đây trên 500 năm, (1471) đã bị vua Lê Thánh Tôn cho quân lính san bằng, để lại ba mươi vạn thủ cấp và bắt đem đi hai mươi vạn nô lệ.
Có thể các nhà viết sử thời ấy đã thêm thắt thổi phồng để làm vừa lòng nhà vua. Nhưng dù thế nào, cũng đến non một nửa dân Hời bị bắt và bị giết. Vị vua được coi là anh minh nhất hóa ra là một kẻ xâm lược tàn bạo.
Sau cuộc chinh phạt, về nước vua liền xá tội cho các tù nhân bị án tử, đưa họ vào đất Đồ Bàn đầy những con ma không đầu, coi như tha chết nhưng lại bị lưu đày biệt xứ. Họ rất có thể là ông cha tổ tiên xa xôi của tôi.
Hình ảnh những thân người gầy còm, cổ mang gông chân mang xiềng, kết lại thành từng chùm, lê lết qua đèo qua phá, nhiều đêm lướt qua tâm trí tôi như những oan hồn trong thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du.
Cũng có thể, ông cha tổ tiên tôi là những dân nghèo từ các ruộng đồng chiêm trũng, từ những vùng sơn cước hay từ những miền nắng gió bão bùng ở châu Hoan châu Ái, bị vua quan ép buộc phải rời bỏ quê hương để vào nam khai phá vùng đất vừa mới chiếm được.
Họ cũng giống như những cư dân ở các thành phố miền nam bị chính quyền CS đưa đến các vùng rừng thiêng nước độc với mỹ danh rất kêu là đi kinh tế mới.
Số phận của ông cha tổ tiên tôi phải nói là cực cùng bi thảm. Không kể chết đường chết sá, chết bờ chết bụi, chết sông chết biển, nếu đem được tấm thân tàn tới được Đồ Bàn còn tanh mùi máu, thì còn phải chết vì đói, vì bị dân Hời nửa đêm mò tới cắt cổ để trả thù.
Trong số hàng vạn những con người cùng khổ ấy may ra chỉ còn sống sót được vài ngàn người.
Suốt ngày, dưới cái nắng cháy da cháy thịt hay trong cái lạnh thấu xương họ phải chôn lấp những xác chết đang thối rữa, thu nhặt những xương trắng phơi đầy đồng, rồi từ đó làm ra hạt lúa củ khoai, sống còm cõi trong nỗi nhớ quê da diết.
Đồ Bàn xưa cũng như Sài Gòn nay, một khi đổi chủ là bị thay tên đổi họ. Đã không còn là Chà Bàn của Chế Bồng Nga mà là Quy Nhơn biên trấn xa xôi của dòng họ nhà Lê, rồi của chúa Trịnh*.
Nhờ Trạng Trình mách bảo, Nguyễn Hoàng đã xin vào Hoành sơn, trở thành chúa Nguyễn chia đôi bờ cõi bắc nam. Được các hậu duệ chiêu dụ, các nhân tài miền bắc lần lượt trốn vào nam, biến Quy Nhơn trở thành nơi đất lành chim đậu. Trong số đó có Đào Duy Từ người đã xây lũy Thầy và lũy Trường Dục bên bờ sông Gianh và Hồ Phi Phúc lập nghiệp ở Tây Sơn thượng đạo, sản sinh ra Tây Sơn tam kiệt.
Khi đại binh của vua Quang Trung tiến ra đất Bắc, chắc thế nào cũng có cháu con của những người tù biệt xứ . Dù đã trải qua bao đời, nhưng cái giấc mộng về thăm cố hương cũng vẫn còn, nếu không muốn nói là cháy bỏng hơn bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà cuộc hành quân trở nên thần tốc: chỉ mới 5 ngày mà đã vào đến Thăng Long. Được bước đi trên đất cố đô giữa lúc máu quân thù chảy thành sông, xác thù chất thành gò, trong khí xuân thơm mùi thuốc súng, là cả một thoáng huy hoàng của họ.
Tôi nói một thoáng, vì sau đó Tây sơn sụp đổ, đất Qui nhơn lại máu chảy đầu rơi còn hơn cả lúc vua Lê chiếm được Đồ Bàn.
Thành Quy Nhơn lại bị đổi tên thành Bình Định và ấp Tây Sơn của Nguyễn Huệ bị đốt phá san bằng, chỉ sót lại một cây me con nay đã trở thành cổ thụ.
Nguyễn Ánh và triều Nguyễn sau đó đã tiến hành một cuộc trả thù tàn khốc và dai dẳng. Ngoài việc truy lùng những danh tướng như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và tất cả những ai cầm giáo theo Tây Sơn, còn cấm tiệt không được ai nhắc nhở đến họ.
Mãi 200 năm sau, bà tôi vẫn phải sợ hết hồn khi đứa cháu nhỏ là tôi, lúc học bài sử đã “rống” lên thật to: vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh…
“Gọi là ngụy chớ sao dám gọi là vua”, bà tôi khẽ khàng dặn cháu.
Cái từ “ngụy” đầy hận thù và khinh miệt ấy sau này được bên thắng cuộc tròng lên đầu lên cổ bên thua cuộc, xuất phát là từ đó.
Khi tôi được sinh ra và lớn lên, cái nỗi đau nhớ quê của tổ tiên cũng đã phai mờ dần. Và dân Hời cũng không còn một người nào sinh sống ở đất Đồ Bàn nữa. Nhưng cái tiếng Hời vẫn không mất đi. Nào hời hời khi mẹ ru con, nào ma Hời, mả Hời, vàng Hời, giếng Hời…
Tuy chưa hề trông thấy những con ma Hời sờ soạn dắt nhau đi như Chế Lan Viên đã thấy, nhưng tuổi thơ tôi vẫn luôn ám ảnh về bóng dáng của dân Hời. Tôi như thấy họ đang đóng gạch xây tháp, xuống sông lấy nước đi thành hàng dài, và mỗi lần soi mặt xuống giếng vuông của họ, tôi đều giật mình tưởng chừng như họ đang trốn núp đâu dưới đó…
Một đôi khi, có một vài người da nâu thẫm, mặc toàn đồ trắng, quấn khăn trắng đến các phiên chợ ngồi bán thuốc làm bằng rễ cây. Họ cười nói chào mời, nhưng trong đôi mắt họ vẫn chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn của những kẻ đã bị cướp mất quê hương.
Không ai viết lại được lịch sử, có nghĩa rằng, không ai có thể thay vua Lê trả lại thành Đồ Bàn cho họ. Nhưng sao không ai dám, như chính phủ New Zealand và Australia có một lời xin lỗi chân thành với thổ dân, vì ông cha họ đã tàn sát và xâm chiếm đất đai bạt ngàn của người bản xứ.
Chẳng những chúng ta nợ họ một lời xin lỗi, mà còn chịu ơn họ đời đời.
Chịu ơn những ngọn tháp, những tượng Chàm. Chịu ơn những những nỗi buồn và cả những nỗi nhục.
Để không bị như họ, chúng ta phải rút ra bài học mạnh mẽ hơn.
Rằng, đừng khóc cho quê hương, mà phải đứng dậy.
Lúc này, khi bọn Tàu phù đang lăm le xâm chiếm vùng trời vùng biển nước ta, ai có súng thì dùng súng, ai có dao thì dùng dao. Ai không có gì hết thì xuống đường và già như tôi, thì dùng bút.

Khuất Đẩu
5/9/2019

*Thành phố Qui Nhơn hiện giờ nằm cách thành cũ Đồ Bàn khoảng hơn 20km.

Trở về như một kẻ vô danh

 

Trăng khuyết

 

Năm mươi năm, dòng sông buồn, vẫn chảy
Chiếc thuyền xưa, bến cũ, chẳng quay về
Tôi khản giọng giữa đêm đời mưa lũ
Tiếng sóng nào mỏi mệt mấy bờ khuya

Năm mươi năm tôi đếm từng chiếc lá
Nỗi vàng phai rụng xuống buổi xa người
Khi đứng giữa vòng xoay đời xa lạ
Tôi rẽ phương nào cũng chạm lá tình phai

Năm mươi năm, một đời thơ lận đận
Tôi trở về không kịp nối lời thơ
Không kịp nhìn nỗi buồn đêm nguyệt lặn
Chén rượu người, tôi uống giữa cơn mơ

Năm mươi năm tôi trở về không kịp
Áo vàng phai từ buổi nguyệt chưa rằm
Năm mươi năm còn nguyên vành trăng khuyết
Là tình người đã khuyết cả trăm năm.

 

 Trở về như một kẻ vô danh

 

Người đã quên
Phố cũng phụ tình
Hỏi con đường cũ
Đường thay tên
Hàng cây năm trước chừng thay lá?
Rụng giữa hồn ta giọt lệ vàng

Cơn gió mùa xưa chừng cũng lạ
Thổi buốt vào ta những muộn phiền
Quán trọ!
Ta chỉ là khách lữ
Một tách trà thiu
Uống một mình!

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Năm mươi năm trước đây là đâu?
Chẳng lẽ đất trời tàn dâu bể
Lòng người đâu dễ còn bể dâu?

Này cô chủ quán cho ta hỏi
– Thuyền xưa còn đậu bến giang đầu
Tóc xưa giờ nhuộm màu thương hải
Thơ ta bèo giạt trôi phương nào?

Người đã quên!
Đành!
Thôi lãng quên!
Hỡi ơi sao phố cũng vong tình
Có thấy hồn ta nghìn năm cũ
Trở về như một kẻ vô danh?

Lê Văn Trung