M ẹ

phambichhuyen

Thật đáng yêu và cảm động, mỗi năm tại Hoa kỳ, vào tháng 5 người ta lại rộn ràng chào đón ngày Mothers’Day
Đã có bao nhiêu thơ ca ca ngợi về người mẹ, từ ngàn xưa cho đến ngày nay và mãi mãi mai sau, viết về mẹ vẫn là vô cùng.

Cho dù ở đâu, bất cứ một xứ sở, xã hội nào, văn minh hay lạc hậu, người Mẹ cũng vẫn là thần tượng vĩ đại nhất của con người. Mẹ là người sáng tạo ra nhân loại, ban phát tình yêu, ân sủng cho con người.
Vâng, tình mẫu tử bao giờ cũng là thứ tình cao cả thiêng liêng nhất trên thế gian này. Như một câu danh ngôn của thế giới “ Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt hảo nhất vẫn là trái tim của người mẹ”
Chẳng ai thay thế được mẹ. Chẳng ai đẹp bằng mẹ. Nhất là chẳng có ai hy sinh cho con tuyệt vời hơn mẹ, hơn cha …
Mẹ bao giờ cũng nhận về mình những nỗi bất hạnh, sự đau khổ, điều oan nghiệt và bất công có khi do chính những người con của mẹ gây nên.
Thiên chức làm mẹ từ nghìn xưa là niềm tự hào cao cả, kiêu hãnh và vinh quang mà mẹ cảm thấy hạnh phúc. Niềm sung sướng hạnh phúc nhất của mẹ phải chăng là cái khoảnh khắc nghe thấy tiếng khóc đầu tiên của đứa con vừa chào đời, thấy gương mặt con với cái nhìn đầu tiên. Mẹ quên cả sự đau đớn thể xác chỉ còn biết đứa con yêu, một thiên thần bé bỏng…
Mẹ nuôi con không kể nhọc nhằn bao ngày tháng.
Mùa xuân đến với trần gian tươi đẹp nhưng mùa xuân mỗi lần đến với mẹ là mỗi lần tóc mẹ, mắt mẹ lại nhạt phai…
Con lớn lên rồi rời xa tay mẹ
Mẹ vẫn cười nghiêng theo bóng đời con
Khi vấp ngã con gọi “Mẹ ơi” rất khẽ
Đỡ con lên, mẹ hỏi “có đau không?”

(Khuyết danh)
Bây giờ xin gửi đến quý bạn, quý em, các con cháu của tôi một câu chuyện cảm động và đầy ý nghĩa , đọc và sẽ …muốn khóc!
Câu chuyện mang một ý nghĩa rất cao cả.
Có những điều tưởng như nhỏ bé thôi nhưng nếu ta vô tình không để ý đến thì ta sẽ không nhận ra rằng hạnh phúc không ở đâu xa mà chính chỉ là những điều giản dị thôi.
Chỉ một câu nói rất hồn nhiên và quá đơn giản:”Thưa chú, Đây là nhà của mẹ cháu!” đã làm cho đau đớn biết bao trái tim của những người đang và đã sống.”
Sau đây là nội dung câu chuyện: Hoa hồng tặng Mẹ
Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh ở khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang khóc trên vỉa hè. Anh đến và hỏi : tại sao em lại khóc?
Cô bé nức nở trả lời:
– Cháu muốn mua một bông hồng để tặng mẹ cháu, nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi một bông hồng giá đến 2 đôla.
Anh mỉm cười và nói với nó:
– Đến đây, chú sẽ mua cho cháu
Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh trả lời:
-Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.
Rồi nó chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:
– Đây là nhà của mẹ cháu.
Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.
Lặng người chứng kiến cảnh cảm động đó, lập tức anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa đó.
***

“Hãy hành động và bày tỏ những tình cảm, yêu thương khi ta còn có thể và khi người nhận còn có thể cảm nhận được”

PHẠM BÍCH HUYỀN

…thi ca

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

anh làm thơ như lần đầu bỡ ngở
viết chưa xong lại ú ớ lần hai
lần mai mốt cũng là lần bất tận
nói bao nhiêu cũng chỉ có một vài …

mưa lác đác đã đành vai anh ướt
áo xanh như mộng ảo cũng dường như
em ướt tóc cho đất trời lại nắng
đời mơ hồ sao vẫn cứ trầm tư

ờ làm thơ chẳng phải là nghiệp dĩ
chẳng qua là một hơi thở bâng quơ
như sương , nắng bay qua cành qua lá
anh bay qua mặt đất cứ vật vờ

trong chiêm ngưỡng dung nhan là rất mực
thuở hồng quần em diễm nguyệt tròn trăng
những lúc bỗng …những lúc là ..anh nói
thơ anh trôi trôi mãi nhánh sông hằng

rồi mất dấu trong muôn trùng để lại
vệt nước khô hay tiếng lá hiên nhà
hay tiếng võng hay tiếng cười khúc khích
hay mầu môi chiêm ngưỡng nói không ra…

NGÔ YÊN THÁI

MỘT NỬA…

daolam

tôi về
tìm
một nửa tôi

mà nghe đắng chát
trên môi úa nhàu
tôi về tìm chút
hư hao
chút mong manh
nhớ
chút hờ hửng
quên
tôi về
tìm dốc đồi nghiêng
tìm cơn mưa tím
rừng thiêng gió ngàn
tôi về
mắt ướt hai hàng
tôi về
để thấy
nghìn trùng chia xa
tôi về
nhìn tôi lạ xa
tôi ơi !
một nửa …
chia xa mất rồi
tôi về
tẩm liệm buồn tôi
chao ôi!
phố núi
buồn người
tôi đi!

TÔI VỀ TÌM LẠI BÓNG TÔI
ĐỂ NGHE CÔI CÚT
GIỮA TRỜI QUẠNH HIU

DaoLam

BẢN ÂM

 

trusa

Mấy ngày nay tôi luôn mất ngủ. Không hẳn là tôi thức trắng đêm bởi tôi vẫn dễ dàng tìm vào giấc ngủ. Tôi chỉ ngủ được mươi phút thì sực tỉnh bởi tiếng mèo kêu. Tôi chẳng chắc có phải mèo lạc hay mèo hàng xóm, vô tình nhảy lạc và không tìm được lối về. Tôi đã đóng chặt cửa sổ, chùm chăn lên đầu nhưng tiếng kêu vẫn rít vào tai tôi. Khó chịu hơn là con mèo đó cứ nhè phòng của tôi mà kêu. Đêm đầu tiên tôi đã thức trắng.

Ngày hôm sau con mèo vẫn đứng trên mái và nhả những tiếng kêu chói tai vào cửa phòng tôi. Tôi đã định lấy một vật gì đó ném lên mái nhà nhằm đuổi nó đi nhưng khi mở cánh cửa sổ thì tôi chẳng tìm thấy chỗ con mèo. Rõ ràng tiếng kêu vẫn văng vẳng nhưng tôi không cách nào phát giác được nó. Sau khi đóng chặt cửa sổ, tôi đã lấy chiếc Headphone đeo vào tai. Nhạc không lời thừa sự du dương để ru ngủ tôi nhưng lại chẳng ngăn nổi sự len lỏi khó chịu của tiếng mèo kêu. Tôi chuyển sang Disco với mức volum tối đa. Tiếng kêu giảm đi phần nào nhưng thay vì con mèo quấy, tôi mất ngủ bởi tiếng nhạc chát chúa.

Một tiếng trôi qua, con mèo vẫn tiếp tục tấu lên thứ âm thanh quái gở. Tôi không lạ gì tiếng kêu loài mèo. Tôi không nói tiếng kêu nhắc nhở chủ nhân về giờ ăn vì đó đã là một nhẽ. Những tiếng kêu thảm thiết, rơi vào kí tự “Ngoao..” kéo dài và vỡ vụn giữa không trung như thế này thường là của đám mèo hoang. Con mèo chỉ có một mình và cả buổi tối chỉ rống lên những tiếng cô độc. Có thể nó đang cất tiếng gọi đồng loại của mình, tôi mong rằng vài phút nữa sẽ nghe thấy tiếng kêu hồi đáp của một con mèo khác. Như vậy con vật này sẽ trả giấc ngủ về với tôi.

Bản tin cuối ngày khép lại mọi chương trình truyền hình. Truyền hình cáp đang chiếu các bộ phim hành động. Kể cả khi tìm được chương trình mình yêu thích thì tôi cũng khó lòng xem một cách thoải mái. Con mèo kia vẫn ngự gần cửa phòng và quấy nhiễu tôi bằng tiếng kêu đáng nguyền rủa.

“Con chưa ngủ à?” – Cha tôi gọi cửa.

Tôi không đáp lời. Cha tôi gọi cửa thêm lần nữa, lần này ông nói lớn hơn. Cánh cửa vẫn khóa trái.

Tôi với tay tắt đèn. Cha tôi không gọi cửa nữa. Đợi thêm tầm mười phút, khi chắc chắn rằng ông ấy đã xuống nhà tôi mới bật đèn sáng trở lại.

Sau gần trăm cái hít đất cơ thể tôi bắt đầu mệt nhoài. Cặp mắt tôi từ chập tối đã nặng trĩu để sẵn sàng cho một giấc ngủ. Tôi là người dễ ngủ nên việc thức khuya quá thế này chẳng khác gì một cực hình. Có lẽ tập trung vào cái gì đó sẽ khiến tôi quên đi con mèo. Tôi với cuốn tạp chí phía góc tủ và bắt đầu đọc.

Trang nhất có đăng hình một người đàn ông. Người này rất giàu và có tiếng tăm.

Cách nhà tôi vài dãy phố có một cơ ngơi nhỏ của ông ấy.

*

“Tao không nghe thấy gì cả, còn việc đổi phòng thì mày quên đi.” – Lời anh hai đã kết thúc mọi thương lượng.

Phòng anh hai dán chật cứng những bức tranh trừu tượng không màu. Tranh ảnh hay bất cứ thứ gì về nghệ thuật không bao giờ là niềm đam mê của tôi. Những bức tranh với đủ hình thù lập phương, chữ nhật này khiến tôi ngái ngủ, nhưng nếu cách ly được với tiếng con mèo thì đây sẽ là nơi trú ẩn tốt. Phòng tôi ở áp chót mái nhà nên nếu con mèo có gào lên tôi vẫn sẽ mất ngủ. Tầng hai chắc cũng nghe thấy nhưng âm thanh sẽ bị giảm đi nhiều vì tường ngăn giữa các tầng trong nhà thường rất dày, cũng bởi lý do này mà nhiều lần anh hai đã làm tình với bạn gái ngay trong phòng. Tôi chưa bao giờ có nhu cầu với đàn bà. Và thật lạ khi anh hai tôi lại lấy việc cuồng hoan làm một thú vui, một nhiệm vụ không thể bê trễ. “Mình lẩn thẩn mất rồi” – Tôi tự nói trong đầu – Tại sao gần đây lại suy nghĩ lắm thế nhỉ.”

Tôi kết thúc mọi suy nghĩ bằng lời yêu cầu về việc nhượng phòng.

“Em muốn thuê, anh ra giá đi.”

“Tao đã nói là không. Mà hôm nay mày sao vậy, không giống mày gì cả.”

*

Tôi không nhìn thấy con mèo đó, cho dù đã phải mạo hiểm leo lên mái nhà trong lúc nửa đêm. Tiếng kêu vẫn vọng quanh đây nhưng tôi không xác định được từ hướng nào.

Trước đó tôi có uống hai viên thuốc ngủ, giờ thì thuốc bắt đầu có tác dụng. Kê gối lên đầu, tôi bắt đầu giấc ngủ của mình. Quãng chừng mười phút thì tôi bị giật dậy bởi tiếng mèo. Tôi hoàn toàn tỉnh táo, hệt như vừa bị ai đó dội nước lạnh vào. Hai viên thuốc có lẽ vẫn chưa đủ liều nên tôi đã uống thêm hai viên nữa, nhưng tình trạng cũng không khá hơn lúc trước là mấy. Giấc ngủ của tôi chỉ kéo dài thêm một lúc. Tôi dám chắc mình chẳng ngủ đủ nửa tiếng vì nếu như vậy, dù có bị dựng dậy bất chợt tôi cũng đã khỏe khoắn hơn. Chiếc máy nghe nhạc ở kia và tôi lại mở nó. Rock, Pop, Ballad, Disco…Có đủ loại nhạc nhưng chúng sẽ chẳng giúp tình trạng của tôi khá hơn. Tôi cũng không muốn ra đường giờ này. Đã một giờ sáng, mấy quán ăn gần nhà còn mở nhưng tôi không đói, cũng không muốn ngồi đó để nghe những câu chuyện vô bổ của các thực khách. Sau những tiếng “Ngoao…” nối dài, là một dãy những âm kêu nhỏ hơn. Chốc chốc, chỉ là tiếng “Meo…” thông thường. Rồi, cũng chỉ chốc lát con mèo chợt gầm gừ và gào rống như đang hú dưới mặt trăng. Tôi như bị chẻ xác trong tiếng mèo kêu.

Hôm nay anh hai tôi dẫn bạn gái về nhà. Giờ này nếu chưa ngủ có lẽ họ vẫn đang say xưa trong trò chơi thân xác. Người phụ nữ này có lẽ là một người khác, tôi cũng chẳng nhớ rõ lắm về bạn gái của anh hai. Với anh hai, người tình chỉ có một nhưng mang nhiều thân xác.
“Ngớ ngẩn thật.”- Tôi tự lẩm bẩm- “Mình lại nghĩ đi đâu thế này?”

Nằm trong chăn hồi lâu, tôi ngồi dậy. Tiếng mèo kêu vẫn xoáy vào lỗ tai, hồ như tôi chỉ nghe thấy mỗi âm thanh đó. Cái tiếng kêu này xuyên thấu vào tôi, tạo thành một luồng gió miên man bất tận. Xương cốt, thậm chí ngũ tạng tôi đều cảm nhận được sự hiện diện của nó. Việc mất ngủ quá lâu khiến tôi khó chịu. Đôi mắt tôi vẫn chưa thâm quầng nhưng những đường máu ở đồng tử đã vằn vện thành các nhúm rễ cây. Tôi dùng tới viên thuốc ngủ thứ năm. Tôi nằm lên giường, phủ tấm chăn, rồi cả cái gối lên đầu. Cái âm thanh đó vẫn chưa buông tha tôi. Con mèo đó, rồi tôi sẽ tóm được và bẻ gãy cổ nó để không bao giờ nó có thể làm phiền tôi.

Và cuối cùng, tôi lại phải tìm tới chiếc máy nghe nhạc vốn đã mở sẵn.

Một bản disco thật mạnh với volum ở mức tối đa. Tôi hát theo nhưng vì không thuộc lời nên tôi hát sai cả. Thường ngày tôi không thế này bao giờ nhưng ít nhất, vào lúc này cái trò kỳ quặc này sẽ giúp tôi quên đi tiếng con mèo.

*

Tôi xin nghỉ một ngày để chuẩn bị một cái bẫy. Tôi mua thật nhiều cá, loại vẫn còn tươi ở chợ về. Sau khi kho cá lên, tôi đã nhét vào trong bụng mỗi con vài viên bả chuột. Tôi sẽ rải số cá này lên mái nhà và gần bậu cửa sổ phòng mình. Chỉ cần con mèo đánh hơi và gặm lấy, dù chỉ một miếng, tôi đã có thể yên tâm mà ngon giấc. Để tránh trường hợp con mèo này quá tinh quái sẽ tránh phần dính bả chuột ra, tôi đã rắc lên mình tất cả con cá một lớp thuốc mê. Nếu chất độc không giết được nó thì nó sẽ gục ngã bởi cái bẫy thứ hai. Chỗ thuốc mê này quá đủ để nó phải li bì cả ngày và khi đó, với một con dao thật sắc tôi sẽ cắt phăng đầu nó đi.
Cha tôi nói về việc tôi kho cá còn tôi thì không đáp lời. Ngày trước nhà tôi có thuê người giúp việc để lo việc cơm nước, dọn dẹp nhà cửa. Mấy người đó chỉ làm được một tuần thì xin nghỉ. Tới giờ thì chúng tôi tự lo lấy việc ăn uống. Bữa sáng và trưa tự túc, bữa tối do tôi nấu hoặc gọi cơm bụi. Rất ít khi ba cha con ăn cùng mâm. Anh hai thường gom đủ cơm, thức ăn vào bát rồi mang lên phòng. Cha tôi thường đi đâu đó. Lúc tôi xong bữa cha về và bắt đầu bữa tối của riêng mình. Bát đũa ai ăn người nấy rửa.

Ngày hôm nay anh hai dắt một cô bạn gái khác về. Ả kém tuổi tôi và son phấn lòe loẹt. Gặp cha ả không chào, anh hai tôi cũng không nhắc ả về chuyện đó. Hai người cùng đi lên phòng. Tối nay tôi sẽ đợi con mèo sập bẫy, còn anh hai và ả kia cũng sẽ bắt đầu cuộc chơi của mình.
Mùi cá tanh nồng nặc khắp phòng. Tôi chẳng thể xịt thuốc khử mùi được vì rất có thể con mèo sẽ ngửi ra mùi lạ. Từ rất sớm tôi đã nghe thấy tiếng mèo kêu. Có một vài tiếng phàn nàn về mùi cá của hàng xóm. Con mèo đó đến sớm hơn mọi khi có lẽ một phần do ngửi thấy mùi thức ăn. Tôi không mở cửa, cả tối chỉ tập trung lắng nghe mọi động tĩnh ở ngoài. Kim đồng hồ đã nhích qua vài số nhưng đáp lại tôi vẫn chỉ là tiếng mèo rống. Thứ âm thanh này rít vào căn phòng và cứa vào màng nhĩ tôi. Tiếng kêu kéo thành từng chập, chẳng nghỉ lấy một giây. Vậy ra cái bẫy của tôi đã vô tác dụng.

Tôi đấm vỡ cửa kính phòng. Cánh cửa vỡ tung ra, các mảnh thủy tinh văng khắp nơi. Vì không còn sự che chắn nào nên mùi tanh xộc cả vào phòng và khiến tôi phát mửa. Hai hàm răng tôi nghiến lại. Một cửa kính vỡ, hay thậm chí toàn bộ cửa kính ở ngôi nhà này vỡ hết cũng không cách nào khiến tôi bình tâm trở lại. Tiếng vỡ của các mảnh thủy tinh đánh thức vài hộ gia đình nhưng lại chẳng đánh bật nổi tiếng con mèo kia. Nó vẫn ở gần đây và trêu ngươi tôi bằng tiếng kêu khốn nạn.

“Anh hai.” – Tôi đấm cửa phòng anh hai.

“Chuyện gì!” – Anh hai nói vọng ra.

“Anh có nghe thấy không, tiếng con mèo đó.” – Tôi nói thật lớn để anh hai không bỏ sót được chữ nào.

“Tao không nghe thấy gì.”

“Có mà. Em nghe rất rõ.”

“Gần đây mày sao thế. Lên phòng đi ngủ đi.”

Phòng anh hai vẫn mù đặc một màu đen. Không hề có tiếng người phụ nữ mà anh hai đưa về. Có lẽ sau khi thỏa thê anh hai đã tống cổ ả.

*

Mỗi ngày tôi chỉ ngủ được vài tiếng. Đấy là lúc tôi ngồi trên xe bus, vào giờ nghỉ trưa hoặc khi tảng sáng. Con mèo kia vẫn chưa chịu rời đi. Tôi đã hỏi thăm mấy người hàng xóm ở cạnh nhà, không ai nuôi mèo cả. Các khu phố khác thì đã có người bị mất mèo nhưng đấy là chuyện vài năm về trước. Việc dò hỏi mấy người này gần như vô ích vì tôi chẳng rõ con mèo đó trông thế nào. Những đặc điểm cơ bản về màu lông, kích thước hay chủng loại tôi đều không nắm rõ. Điều tôi rõ nhất là tiếng kêu của nó rất lớn. Một người đã nói với tôi rằng rất có thể đang mùa động đực và con mèo đó đang dùng tiếng kêu để thu hút bạn tình. Tôi đã xem một cuốn băng nghiên cứu về mèo thì thấy rằng tiếng kêu trong mùa động đực chói tai, thảm thiết hơn. Nếu nói là tiếng kêu của một con mèo lạc thì cũng không hẳn vì thường những con mèo đi lạc ít khi chỉ đứng một nơi kêu, vả lại tiếng kêu cũng bi thống, da diết hơn. Con mèo đứng trước của phòng tôi không nằm vào hai loại đó. Tiếng kêu của nó trầm đục và luôn kéo dài. Hồ như vang vào tai tôi thì vỡ vụn ra, tạo thành các mảnh âm với thứ tự lộn xộn. Với một người đã quá lâu sống trong im lặng như tôi thì đây chẳng khác nào một sự đày đọa. Cái tiếng kêu đó ngày một dày đặc và không chỉ vang vào hàng đêm nữa. Đã có lúc nó vang lên vào lúc trời sáng, lúc xế chiều, ngay cả khi đang tắm tôi vẫn nghe thấy. Rất có thể đây là một biểu hiện của căn bệnh tâm thần. Và tôi thường phì cười với cái suy nghĩ khôi hài này. “Mình nghe quá nhiều. Phải rồi, chỉ do mình phải nghe nó quá nhiều.”

Cách nhà tôi hai dãy phố có một khu công trình cao tầng đang xây dở. Toàn thể công trình đã được mười tầng. Nếu nơi này hoàn thiện thì chắc chắn sẽ trở thành khu chọc trời duy nhất của thành phố. Nhưng giờ thì nó đã trở thành một khu bỏ hoang. Tôi leo qua biển cấm để vào trong. Hàng tấn khối gạch đá xếp ngổn ngang, mùi vôi vữa, đất cát vẩn lên khiến tôi thấy khó thở. Đây không phải lần đầu tiên tôi vào đây, cách vài tháng tôi lại tìm đến đây.

Mây đen che mù trời.Trong màn mây âm u. nửa mảnh trăng lộ ra. Gió chỉ thoang thoảng, vừa đủ để làm dịch chuyển những chiếc lá cây. Tôi thật mong tới một trận gió thật mạnh thổi bay tất cả mây đen. Như vậy tôi sẽ có thể ngắm trọn vẹn ánh trăng cùng hàng ngàn ngọn đèn nhỏ đang nhấp nháy quanh giải ngân hà.

Tôi không nghe thấy tiếng của con mèo nữa nhưng một thứ âm thanh khác đã thế chỗ cho nó. Không phải tiếng gió thổi, càng không phải tiếng rao từ một chiếc xe bán đồ ăn dạo. Âm thanh vọng từ góc sân thượng. Ở đó có đặt các thanh sắt, phông bạt. Tôi thấy rất rõ bên trong cái ngách nhỏ được tạo ra bởi sự sắp xếp của đống phế liệu có một bóng người. Người này quỳ dưới đất, quay lưng ra ngoài.
“Này!”
Người đó không đáp lời và vẫn giữ nguyên tư thế đó. Bật hệ thống đèn pin trên điện thoại lên, tôi chĩa đèn vào người này. Đấy là một người đàn ông, tôi chắc chắn. Ông ta dí sát đầu vào bờ tường, thi thoảng thì rên rỉ.

Tôi gọi lớn hơn nhưng ông ta vẫn im lặng.

Vài ngày sau tôi vẫn nhìn thấy người đàn ông này trên sân thượng của khu nhà.

Ông ta vẫn giữ cái tư thế úp mặt vào bờ tường. Đây không phải một tội phạm đang lẩn trốn và phải chịu sự dày vò của lương tri, cũng không hoàn toàn là một người vô gia cư bởi bộ áo ông ta mặc thuộc loại đắt tiền. Thân hình ông ấy nếu đứng thẳng lên thì cũng rất cao lớn.
Đáng ra tôi sẽ bỏ mặc ông ta nếu hôm đó ông ta không gào lên. Sau tiếng gào tôi nghe thấy tiếng khóc. Thứ âm thanh ủy mị đầy đau đớn này đã níu chân tôi lại.

“Ông sao vậy.” – Tôi gọi thật lớn.

Vẫn chỉ có tiếng khóc. Sau đó người đàn ông húc trán vào tường.

Tôi đặt tay lên vai ông ta và kéo ra ngoài. Dưới ánh trăng lúc mờ lúc tỏ khuôn mặt ông ấy lộ dần ra. Tôi chưa kịp giật mình vì gương mặt này thì đã bị đẩy ra.

“Để tôi yên.” – Ông ấy nói vậy và chui vào cái ngách, trở lại với thế quỳ gối quái gở của mình.
Tôi trở về mang theo gương mặt của người đàn ông.

*

Anh hai tôi đang là tù nhân của dục vọng. Một lần, anh hai đã nói với tôi rằng các bức tranh treo trong phòng đều vẽ những trạng thái tình dục. Tất cả chúng đều do anh hai vẽ và cũng bởi thế nó mang tinh thần của anh hai. “Tình dục giải phóng mọi cơn đói.” – Anh hai nói thế đấy. Những bức tranh đều không được tô màu. Trên trang giấy chỉ có những khối hình vẽ theo phương thức lập dị. Một bức chỉ có mấy vòng tròn tròng vào nhau được tô đen, có bức chỉ thấy những khối lập phương xếp cạnh nhau như một biểu tượng trong hình học, một bức khác chỉ rặt những đường ngoằn ngoèo như con rắn đang cuộn mình…
“Mày không hiểu đâu, con người khởi sinh từ tình dục. Chỉ có xác chết mới chối bỏ tình dục. Nếu Zues cấm dục thì loài người chỉ toàn ô hợp. Một thiên sử đục màu. Không có Persues, cũng chẳng có Hercules…”

“Chẳng phải đâu! Đó chỉ là sự vong thân trong tội lỗi.” – Ý nghĩ vọt khỏi đầu tôi bằng một tiếng nói đanh như chém đá. Tôi vẫn ở phòng mình. Ngày đó tôi chỉ nghe vậy rồi im lặng. Từ trước chẳng bao giờ tôi trò chuyện quá nhiều với anh hai. Tôi tưởng rằng mình đã quên sạch những chuyện này. Tôi muốn gặp anh hai.

Cửa phòng anh hai đã khóa trái. Đèn bên trong vẫn sáng, tôi biết anh hai còn bên trong. Tiếng gọi của tôi không được đáp lại. Ngày hôm nay anh hai không dắt cô bạn gái nào về nên tôi tin trong phòng chỉ có mình anh ấy. Nếu không bận bịu với đàn bà thì chẳng có lý do nào anh hai lại tránh mặt tôi.

“Anh có trong đó không!”

Tôi đấm cửa. Cú đấm của tôi chỉ khiến cánh cửa rung lên chứ không làm anh hai rời bỏ căn phòng.

“Con sao vậy.” – Cha gọi tôi từ phía sau.

“Con muốn gặp anh hai.” – Tôi nói.

“Có chuyện gì?” – Cha tôi nói, ông nhìn thẳng vào tôi.

“Con muốn gặp anh hai, thế thôi!”

Tôi gọi thêm một lần nữa. Đèn bên trong phụt tắt. Không rõ vì lý do gì mà tôi thấy quặn thắt một nỗi buồn.

“Gần đây con khác đi nhiều quá.”

“Khác thế nào?” – Tôi hỏi.

“Khác! Khác… – Cha tôi thở dài, nói trong ngao ngán.

*

Một lần nữa tôi nhìn thấy người đàn ông đó. Không phải một buổi đêm khác trên tầng thượng của khu công trình bỏ hoang. Như sợ rằng mình đã nhìn lầm hoặc đây vốn chỉ là sự tương đồng thường thấy của các nét trên khuôn mặt nên tôi đã nhìn bức ảnh trên tờ tạp chí thêm một lúc nữa. Rõ ràng là ông ta. Người đàn ông giàu có và quyền lực nhất trong giới kinh doanh. Cách nhà tôi hai dãy phố có một biệt thự đứng tên ông ta. Mặc dù cái biệt thự đó chẳng ai ở nhưng cách lâu lâu tôi lại thấy ông ấy lái xe vào đó. Luôn có một ông già ra mở cửa với sự khúm núm, dè dặt. Nếu tay chụp ảnh có chỉnh sửa và xóa đi vết bầm đỏ trên trán người đàn ông thì tôi sẽ chẳng nhận ra. Với những gì tôi tìm kiếm trên báo, các trang tin tức thì người đàn ông này được gọi là cá voi sát thủ. Bởi sự từng trải, cũng như lọc lõi và biết cách đưa con mồi vào thế trận của mình. Gia sản ông ấy rất nhiều và con cháu cũng rất đông. Việc cặp bồ là hiển nhiên nhưng chẳng ai trong số những người quanh ông ta tư lợi được gì cho bản thân. Tất cả tài khoản, nhà cửa đều mang tên ông ta. Lô đất quanh chỗ tôi hay thậm chí là cả ngôi nhà này, nếu muốn có, ông ấy chỉ cần gọi một cú điện…Nhưng không biết tại sao vào hàng đêm ông ấy lại leo lên khu công trình bỏ hoang rồi co ro vào một góc. Với quyền lực như thế…

Mười hai giờ đêm, tôi ra khỏi nhà. Gần đây tôi ít nghe thấy tiếng mèo kêu. Cách vài ba bữa, có khi cả tuần tôi mới nghe thấy. Những tiếng kêu cũng không dồn dập và khiến tôi khó chịu nữa. Có lẽ tôi đã bắt đầu quen với âm thanh này. Nếp sinh hoạt ngày trước của tôi không trở lại nữa. Tôi vẫn khó ngủ nhưng không phải vì tiếng của con mèo. Trong đầu tôi luôn có vô vàn những suy nghĩ chồng chéo lên nhau và không ngừng phân tán. Thay vì để mình quên đi, tôi hòa vào chúng và gỡ từng mảnh suy nghĩ ra để ngẫm nghĩ, mong tìm ra một lời giải đáp. Tôi không thường mất nhiều thời gian cho những việc thế này. Sự bình thản của tôi bay biến đâu rồi. Hay đây chính là sự thay đổi mà cha và anh hai đã nhắc đến ở tôi.

Người đàn ông vẫn ở đó, trong cái ngách chật chội được tạo ra bởi các khối sắt vụn chồng chéo lên nhau. Gương mặt uy nghiêm khiến một số đông phải thu mình trong chiếc mai rùa đâu mất rồi. Cả thế đứng ngạo nghễ của người đứng trên những khốn đốn về vật chất cũng chẳng còn nữa. Trước mắt tôi đây chỉ là một phận người nhỏ bé đang côi cút trong bóng tối.
“Tôi biết ông. Rất nhiều người biết ông.”

Người đàn ông vẫn quỳ như vậy, có lẽ nước mắt ông ấy đã chảy sạch nên tôi chỉ nghe thấy những tiếng sụt sịt.

“Này ông, chúng ta nói chuyện với nhau được không?”

“Để tôi yên.” – Ông ta nói.

“Cút đi.” – Người đàn ông quát lớn khi tay tôi vỗ lên vai.

Tôi bị hất văng ra ngoài.

Người đàn ông chợt cong người xuống, hai tay ôm ghì lấy đầu. Tôi nghe thấy tiếng nấc. Ông ấy co quắp trong góc tối. Những tiếng nấc rơi vào bóng tối.

“Để tao yên…Chỉ một chốc…”

Ông ta ôm đầu mà gào như thế. Tiếng vọng thăm thẳm như người ta thổi tù và. Một hồi thì cụt hết. Cái đầu người đàn ông va mạnh vào vách tường.

Tôi nhìn người đàn ông thêm một lúc, rồi từng bước lùi dần về phía sau cho tới lúc chạm cầu thang.

Tôi trở về theo lối cầu thang. Vừa bám tay vịn tôi vừa bước ngược. Chẳng thể thấy người đàn ông kia vì tôi đã ở tầng dưới.

Không còn tiếng mèo kêu nữa, có lẽ rằng con vật đó đã tìm thấy bầy đàn hoặc không thì đã quá mệt mỏi và yên giấc ở một xó xỉnh nào đó. Đôi mắt tôi đã khép chặt, cơ thể cũng buông lỏng sẵn sàng cho một giấc ngủ nhưng chính tôi đã không cho mình được yên. Những gì về người đàn ông vẫn thôi thúc trong suy nghĩ tôi. Tôi không muốn dập nó đi…

*

Người đàn bà bị tôi tống khỏi nhà bằng một cái tát in rõ năm đầu ngón tay. Trước khi biến khỏi phòng, ả không quên nguýt lườm và chửi thề tôi. Ả chửi vọng từ xa, và bước đi thật nhanh. Ả vẫn dè chừng cái tát của tôi. Anh hai không ngăn nổi tôi, việc sa đà vào đàn bà đã khiến anh không còn nhiều sức lực, dù là để bảo vệ bạn tình của mình..

“Mày làm cái quái gì vậy.” – Anh hai quát lớn.

“Đã mười năm rồi. Cứ thế này mãi sao.” – Tôi nói.

Anh hai tôi phì cười. Và nói “Mày phá cửa phòng rồi đuổi người tình của tao đi. Thật ra mày muốn gì đây?”

Tôi kéo chiếc ghế lại gần và ngồi xuống. Trong căn phòng, bủa vây quanh tôi vẫn là các bức tranh không màu. Phòng anh hai ngoài chiếc giường, một cái tủ nhỏ thì chỉ có tranh và hàng chồng tạp chí khiêu dâm được đặt mua ở nước ngoài.

“Anh cần một người đàn bà chứ không cần một con điếm.”

Anh hai đã quá đờ đẫn rồi, và tôi muốn anh ấy tỉnh táo hơn để có thể cùng tôi nói chuyện, như hai người đàn ông.

“Một người vợ, và một mái nhà sẽ cần với anh lúc này.” – Tôi nhấn mạnh từng chữ.

“Mày nghĩ mày là Norn sao! Đây là cuộc sống của tao và chỉ mình tao có thể can thiệp vào.”

“Em là em trai anh, em phải có trách nhiệm với anh.”

“Mang cái trách nhiệm mà mày nói biến khỏi mắt tao đi.” – Anh hai cười lớn, và chỉ tay về phía tôi – “Không ai có thể cản tao sống! KHÔNG AI CẢ…Mày hiểu chưa!”

Anh hai bị hụt hơi và bắt đầu ho. Mắt anh hai vẫn chĩa về phía tôi, trừng trừng với đầy phẫn nộ.

Tôi đã ra khỏi phòng, như điều anh hai muốn. Cánh cửa phòng chính tay tôi phá tung nhưng anh hai sẽ chẳng vì vậy mà ra ngoài. Và tôi biết còn lâu lắm anh hai mới ra ngoài.

Tôi gặp cha dưới tầng một. Cuộc tranh luận giữa tôi và anh hai ắt hẳn đã đánh động tới ông. Nhưng ông vẫn lặng thinh. Người cha của tôi trước giờ chỉ im lặng, kể cả việc anh hai biến căn phòng mình thành một nấm mồ ông vẫn im lặng.

“Ai mà ở mãi một chỗ được…” Cha tôi lẩm bẩm một mình. Ông ấy tránh mọi câu hỏi của tôi bằng những cái vỗ trán.

Cha tôi với điều khiển, bật kênh bóng đá, volum mở to dần và chạm ở mức 100.

Tôi ra khỏi nhà.

*
“Người đàn ông đã chết.”- Tôi đọc được tin này trên một trang rao vặt. Mọi tờ báo đều đăng tin này thế nên đây chẳng phải sự đặt điều. Tôi đã trở lại khu nhà bỏ hoang như để chắc chắn hơn. Cái hốc còn đấy. Không có người. Chỉ có tôi. Người đàn ông lạ đã chết. Hôm đấy là lần cuối cùng tôi gặp ông ta. Sự kiện này đã gây xôn xao dư luận. Có ti tỉ lời bàn tán quanh cái chết của người đàn ông và tôi không quan tâm tới nó, cái tôi muốn biết nhất bây giờ là về chính tôi.

Bởi tôi thấy rã rời, vì con người xa lạ, chỉ gặp gỡ đôi lần.

“Ông ấy đã chết…Đã chết…” – Tôi lầm bầm một mình. Lồng ngực tôi nhức mỏi. Nhiều cơn đau cuộn trào thành sóng, vọng thân mình tôi. Người đàn ông đã theo bảy tiếng éc. Sao tôi đau đớn đến thế này. Thật điên rồ.

“Chết thì có gì lạ. Ai mà sống mãi được chứ.” – Anh hai nói.

“Con khóc đấy ư, trước giờ con đâu có khóc.” – Cha tôi nói.

“Ông ấy đã kết thúc cuộc đời mình bằng một cú nhảy từ sân thượng tổng công ty.” – Tôi nói thật lớn để anh hai và cha có thể nghe thấy – “ Có bao nhiêu người bàn tán quanh xác chết của ông ấy, và có con mắt nào chịu thương xót ông ấy…”

“À, có chứ! – Vẫn là tiếng nói của tôi. – “Sẽ có người còn gào rống lên đấy chứ. Xác ông ấy nào có nguyên vẹn…”

Mấy người hàng xóm quát tháo vì bị tôi làm ồn.

Cha tôi ngồi phòng dưới, ông ấy không trả lời, cũng sẽ không lên phòng tôi bất kể việc tôi có gào lớn tới mức đánh động tới tổ dân phòng.

“Em trai tao đâu rồi, còn mày là ai ?” – Anh hai tôi nói và tặc lưỡi.

“Người em của anh, hắn như thế nào?” – Tôi hỏi. Và anh trai tôi đã lật cánh cửa đã bị tôi làm hỏng ra. Anh ấy nhìn tôi, cái nhìn hoang dại và đờ đẫn của một con bệnh.

“Em trai tao…”- Anh hai im lặng một lúc, và nói “Nó rất ngoan.”

Cuộc trò chuyện đứt ở đó.

Tối hôm đó tôi đã ở trên phòng. Cơn gió lật tung trang báo, ở một mục nhỏ có ghi

“Ông X còn nằm ở nhà xác, người nhà chưa…”

Không thể đánh rơi, dù nửa hạt nước mắt. Buồng ngực tôi còn rệu rã. Ngũ tạng bã ra, luôn âm ỉ và thấy đau đáu. Tất cả vì đàn ông lạ. Tôi ngồi nép vào góc căn phòng đã tắt hết đèn. Hình ảnh về người đàn ông, cái tư thế gục mình trong bóng tối đeo bám lấy tôi. Chúng bện chặt tôi và tôi cũng không muốn bứt khỏi chúng.

“Chết, đã chết rồi…Mà mình…” – Tiếng nói lập bập hồi lâu trong cặp môi khô rát.

Tiếng mèo không vang lên nữa. Con vật chắc đi mất rồi. Bây giờ, trong gian buồng không có lấy nửa mảnh sáng này chỉ có mình tôi. Ngả người ra sau, lưng tôi chạm vào vách tường. Tôi ngẩng đầu lên, trước mặt vẫn chỉ một màn tối âm âm.

Tôi im lặng và cứ như vậy, giữ cái tư thế im lặng.

*

Tôi ở trong phòng cả một ngày. Khuya hôm sau tôi quyết định ra khỏi phòng.

“Ông X không trò chuyện với ai ngày hôm đấy. Nhân viên gọi và ông ta dường như đã lờ hết.” – Một mẩu tin, có vẻ đã cũ chợt ló trong đầu.

Phòng anh hai còn sáng đèn. Thứ âm thanh bao gồm tiếng cót két của chân giường, cả tiếng cười man rợ lẫn tiếng kêu gào vì đau đớn giúp tôi biết được hiện trạng trong phòng. Tôi đứng trước cửa một lúc lâu. Cửa phòng chưa thay và tôi có thể dễ dàng đẩy nó ra để vào bên trong.

Ngón tay tôi vừa chạm vào nắm cửa liền khững lại. Anh trai và người đàn bà, hai thân hình trần truồng đang chặt vào nhau như muốn đồng hóa làm một. Hai người họ, với đầy đủ đam mê đang tròng lên cổ nhau chiếc gông mang ấn phong của cõi quỷ. Tiếng rú đầy khoái lạc vang ra từ hai cái miệng đã chấm dứt sự ghé thăm cuối cùng của tôi. Tôi đi thật nhanh và thật khẽ để không làm phiền tới họ.

Cha tôi ngồi dưới tầng một. Luôn là như vậy, ông thường thức rất khuya. Hôm nay ông không xem đá bóng hay đọc báo. Ông uống rượu với một cái cốc thật lớn.
“Con định đi sao ?” – Cha tôi nói khi nhìn thấy tôi

Tôi gật đầu.

“Cha biết rồi con sẽ đi.” – Cha tôi nói.

“Con sẽ trở về thăm nhà.” – Tôi nói.

“Nhà. Đâu mới là nhà…”

“Cha bảo trọng.”

“Đi đi. Tìm lối mà đi đi.”

Đi vài bước, tôi ngoái lại nhìn cha một lần cuối cùng. Chút rượu cuối cùng đã trút cả vào cốc. Cha không nhìn tôi. Ông uống cạn cốc rượu bằng một hơi thật dài.

Ra khỏi cánh cửa, tôi nghe thấy một tiếng vang. Thứ gì đấy đã rơi và vỡ ra. Một cái chai, bát sứ, cốc phale hoặc một miếng kính, đại loại vậy.

Khuya rồi, mây mù phủ cuồn cuộn, che lấp cả mặt trăng. Ánh sao cũng nhòa đi bởi lớp mây quá dày. Ngọn đèn đường nhấp nháy hồi lâu rồi tắt phụt.

Tôi nghe thấy những âm vang trên mái nhà. Gió…Chỉ là tiếng gió cọ trên mái hiên. Không còn tiếng mèo. Tôi im lặng trong giây lát.

“Không tìm thấy thông tin gì về nguyên nhân cái chết. Xét nghiệm cho thấy ông X không dùng ma túy hay có dấu hiệu của bệnh nan y. “Vấn đề chỉ ở màng nhĩ.” – Bác sỹ A quả quyết – Màng nhĩ của ông X đã bị tổn thương nghiêm trọng. Bởi một vật thật sắc…”Không hề có dấu hiệu bị tra tấn. Không phải mưu sát. Và có thể là một tai nạn. Sân thượng tổng công ty không có rào chắn, và tường thấp tới mức bước qua là rơi. Một nhân chứng A cho biết nhiều tuần trước ông X có nói rằng có tiếng trong đầu …”

Bài của báo nào đây. Chịu thôi. Lá cải thì chỉ thế. Kẻ lạ đã chết và đang nằm trong một cái giường lạnh. Nhà xác không chối ai cả. Chỉ là thêm một cái xác, và hầm chật hơn.

Người tôi trườn dài xuống. Trời quá tối để thấy chút bóng quét mặt đất. Tôi đạp lên bóng tối và đi tiếp, theo đường mái nhà.

Tru Sa

CUỐI ĐỜI MỘT NGƯỜI LÍNH

DSC_2530-2

 

” ...Tôi xin bạn hãy tạt vào mặt tôi những chậu nước…tôi muốn gội rửa…đằng nào cũng là ơn mưa móc…
Bao giờ gạn đục khơi trong
Người ta mới hiểu được lòng người ta…” ( Trần Vấn Lệ)
Một tập thơ lung linh và long lanh nước mắt.
Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

 

DSC00421

Sắp Tới Ngày Của Mẹ

trantrungta

Tôi có không nhiều bạn,
đúng hơn mươi người thôi,
lang bạt mười phương trời;
tôi trong mười phương đó…

Chúng tôi, mây gặp gió…
thì tan như khói sương;
nếu có còn nhớ thương…
thì hẹn nhau kiếp khác!

Cùng nòi giống Âu Lạc,
đành đau nỗi lạc đàn.
Cùng là người Việt Nam…
vượt xuống Nam kiếm sống!

Chúng tôi không hy vọng
có ngày đứng dưới cờ
như xưa trong nắng mưa,
như xưa trên chiến địa…

Nhiều khi cắn lóng mía
nghĩ tới lóng xương người,
không thể khóc thì cười:
cuộc biển dâu, đành vậy!

Lòng ai cũng nát bấy,
gặp thì trút vào bia,
nâng cốc lên cùng chia…
tiếng thở dài thậm thượt!

Ôi chao người một nước
chừ hóa kẻ-đồng-hương!
Nam Bắc dãi giang sơn…
chừ là làng xóm nhỏ!

Phan Bội Châu thương chó,
lập mộ cho chó già.
Ai thương nhỉ chúng ta:
cái bình tro lạnh ngắt?

“Đảng Phái còn, nước mất,
Đảng Phái mất, nước còn”.
Một Đảng đã quá buồn,
thêm Đảng buồn thêm nữa?

Phan Bội Châu nói, chớ /
không phải tôi, đâu, nha!
Tan nát cuộc nước nhà…
tiếc chi tình bạn hữu?

Dù sao…tay cứ níu
khói sương xứ người ta…
Dù sao còn thấy hoa,
nhớ lại thời trai trẻ!

Sắp tới ngày-của-Mẹ,
thương lắm Mẹ Âu Cơ,
nhớ lắm cái bóng cờ
phất phơ chiều biên ải…

Trần Trung Tá

Những Bình Minh

aminh

Ngày xửa ngày xưa…

Mọi câu chuyện đều sinh ra từ dòng chữ này.

Ngày xửa ngày xưa…Làng tôi thờ Phượng Hoàng. Ngày nay, làng tôi thờ Phượng Hoàng. Làng tôi là làng Phượng Hoàng.

Chuyện kể rằng, làng tôi từ xưa bị bao phủ bởi đám mây nghìn năm tuổi. Ngày cũng như đêm, đều một màu om om. Một ngày, Phượng Hoàng từ phương xa bay tới, kịch chiến và xé tan đám mây ma. Một số người kể rằng nguyên hình của đám mây là một con rắn khổng lồ. Phượng Hoàng đã bắt rắn. Rồi thì, Phượng Hoàng nhổ lông để hóa phép xây nhà, Phượng Hoàng đuổi thổ phỉ hay Phượng Hoàng…Đại loại là làng tôi từng chịu ơn Phượng Hoàng nhiều năm về trước.

Tượng Phượng Hoàng dựng chính giữa làng. Nơi đây là đường đất, cũng là con đường lớn của làng. Không ai biết người đã tạc ra tượng Phượng Hoàng. Tảng đá dùng để tạc hình Phượng, là nơi Phượng Hoàng đã bay đến. Quanh con đường có nhiều cây dại. Những cây cao quá, cỡ đại thụ đều bị chặt. Những cây tầm vóc vừa vừa, cỡ cây khế ba năm tuổi cũng đều bị đốn. Ngay đến những cây cao quá một mét cũng không được giữ. Nhờ thế đường cái rộng hơn. Dù còn lầy lội, nhiều lúc bị vấp, chảy máu chân vì những hòn đá cạnh sắc.

Tượng Phượng Hoàng cao hơn một mét. Phượng Hoàng đứng khép cánh, dân làng kể nếu cánh Phượng mở ra, ngài sẽ bay mất. Cổ cao, giống với loài Hạc, mỏ Phượng Hoàng khép và cái đầu nghếch lên trời. Phượng Hoàng đứng trên một bệ đá. Cái bệ chẳng cao lắm nhưng khiến Phượng Hoàng cao hơn. Đôi chân Phượng Hoàng duỗi thẳng, theo thế đứng. Tôi đếm được năm móng chân vuốt sắc. Bốn hướng ra ngoài, ngón cuối cùng, to nhất thì quặp ở sau. Đuôi Phượng trải xuống, quét đất. Bức tượng được tạc đã lâu nên nhiều lớp đã bị nứt, bị rêu phủ và xạm đen. Nếu ai túc trực ở đường cái, sẽ còn có thể nhìn thấy mặt trời mọc và lặn theo hướng nhìn của Phượng Hoàng. Chính Ngọ, lúc mặt trời đã ngự trên ghế vua và nắm mọi quyền bính. Lửa nắng phả xuống và dát lên tượng Phượng Hoàng. Đầu Phượng Hoàng chỉ lên mặt trời, cái mỏ được tạc nhọn như mũi tên Hậu Nghệ. Nếu là mùa hè, những ngày trưa bốn mươi độ sờ vào mặt tượng còn thấy bỏng tay. Mẹ tôi kể, vào một mùa hè, có người đã bốc cháy trước tượng. Người đấy không cứu được, vì vừa bị cháy, lại thiếu nước trong hàng tiếng đồng hồ nằm ngất ngoài đường cái. Những lúc Phượng Hoàng tắm gội trong nắng mặt trời thì chẳng ai đến gần được. Lúc nắng dịu và tan chảy vào lòng đỏ mặt trời thì Phượng Hoàng cũng trở nên hiền hòa. Dân làng có thể đến gần tượng, khấn vái, thắp hương, khách thập phương có thể chụp ảnh hay vẽ truyền thần.

Như mọi đứa trẻ con trong làng, em trai tôi mỗi lúc đi ngủ đều được nghe kể chuyện. Mẹ tôi kể. Mẹ đi vắng, thì tôi kể. Luôn là chuyện về Phượng Hoàng. Câu chuyện truyền thống mà mỗi người dân trong làng đều phải nằm lòng là về Phượng Hoàng đuổi mây đen. Tôi thắc mắc rằng liệu em tôi có nằm mơ thấy Phượng Hoàng không. Tôi không hỏi. Em tôi cũng chẳng kể. Tôi vẫn nằm mơ thấy được Phượng Hoàng chở trên lưng. Một Phượng Hoàng thứ thiệt, có thể vỗ cánh bay. Đấy là giấc mơ thời trẻ con. Giờ, tôi lớn hơn và chẳng bao giờ mơ thấy Phượng Hoàng. Vài người đã ước được một lần nhìn thấy Phượng Hoàng. Một số đã rời làng để tìm kiếm Phượng Hoàng. Số khác thì vẫn ở lại làng, ngày ngày qua lại chỗ bức tượng để cầu khấn mong một ngày được mãn nhãn. Mẹ tôi cũng mong được nhìn thấy Phượng Hoàng. Tôi không mong lắm, nhưng nếu ngày nào đấy Phượng Hoàng có bay qua làng, tôi sẽ là người đầu tiên nhìn lên trời.

Người làng vẽ hình Phượng Hoàng vào mỗi dịp tết, lễ hội để treo bán. Quanh làng không thiếu những chỗ bày bán tượng phượng Hoàng đẽo bằng gỗ, rèn bằng sắt, tạc trên bình gốm, mặt dây chuyền, vòng, nhẫn. Mọi hình ảnh đều trong một khuôn đúc. Phượng Hoàng khép cánh và ngẩng cao đầu. Mỗi người trong làng đều có một bức tranh Phượng Hoàng trong nhà. Ai sùng tín sẽ nhờ thợ đúc tượng để thờ. Nhà tôi cũng có tranh Phượng Hoàng. Bức vẽ đã gần trăm năm, tính từ đời ông đến đời cha và tôi. Bởi đã lâu, nên tranh nhiều chỗ rách, mờ màu. Nhà tôi không thay tranh mới. Phần vì đây là bức tranh có tuổi. Phần khác do bức tranh treo trong phòng thờ, ít nhiều có linh khí. Nghe mẹ kể thì sau khi mua tranh, ông tôi đã đến tượng Phượng Hoàng để khấn vái.

“Tại sao Phượng Hoàng không tung cánh.”

“Phượng Hoàng sẽ bay đi.”

“Phượng Hoàng vốn bay đi rồi.”

“Ngài sẽ quay lại làng.”

Vài người trong làng nói rằng mình đã thấy Phượng Hoàng. Đều là nói phét và chẳng ai tin. Cũng chẳng biết ai trong số những người đã bỏ làng đi đã thấy Phượng Hoàng. Chắc là không. Các câu chuyện cổ ghi rằng Phượng Hoàng bay về phương Bắc, bay thẳng lên trời, biến mất trên trời hoặc bay vòng vèo rồi biến mất, cũng trên trời. Khó để biết phương trời Phượng Hoàng đã bay đến. Ngày, tháng, năm cứ thế trôi và đóng dày thành nhiều mộ bia. Lúc các chứng tích bị thời gian phủ bụi, cạy xóa thì cũng là lúc các dị bản ra đời. Càng về sau, tôi càng được nghe nhiều chuyện về Phượng Hoàng. Trong câu chuyện Phượng Hoàng đuổi mây đen, ngoài việc đám mấy phát tích ra con rắn lớn tôi còn được nghe về một trận đại dịch màu đen, bầy quỷ từ địa ngục…Còn có người nói Phượng Hoàng đã chết trong trận đánh với đám mây đen. Nơi dựng tượng là nơi Phượng Hoàng ngã xuống. Cái dị bản này đã được kéo dài thêm bằng một dị bản khác rằng “Phượng Hoàng bị thương, máu ngài đổ xuống bãi đá găm, tạo thành đường cái. Sau đấy Phượng Hoàng bay về trời. Nơi ngài bay lên, người dân tạc tượng để nhớ ơn…”
Nếu nhìn thấy Phượng Hoàng, chết không đọa Địa Ngục. Máu Phượng Hoàng mang đến bất tử- Tôi nghe kể lại thế. Từng có vua chúa muốn săn lấy Phượng Hoàng. Những đế vương muốn hóa rồng bằng máu Phượng. Rồi, từng người một già nua và chết trong bệnh tật. Làng tôi từng có người mong được nếm thử máu Phượng Hoàng. Gã nói “Chỉ cần nửa giọt dính vào lưỡi, thế thôi.” Chẳng ai tán đồng và đã đấm vào mặt, đá đít gã khỏi làng. Tôi chẳng chắc còn có thêm ai nghĩ như gã hồ đồ đấy không. Nhưng Phượng Hoàng. Đấy vẫn là nguồn sống của làng tôi. Một ông cụ làng tôi, lúc chết đã không nhắm được mắt vì vẫn chưa được thấy Phượng Hoàng. Nhiều người, vẫn trằn trọc ngày đêm mong được thấy Phượng Hoàng. Cuối làng, có một thầy giáo dạy vẽ. Ông ấy cũng là người mê mẩn Phượng Hoàng. Vẽ rất nhiều tranh Phượng Hoàng. Vẽ trên giấy, trên vải, lên tường, mặt bàn, tủ gụ, cánh cửa, tự xăm vẽ lên thân mình…Người ta kháo rằng ông ấy có hơn một nghìn bức tranh vẽ Phượng. Bức vẽ Phượng Hoàng khép cánh như bức tượng ở đường cái, hay một hình xòe cánh, cưỡi mây, bay trong cơn gió. Người thầy giáo đấy đã hóa điên. Bởi ông ta đã canh ở đường cái một tháng trời. Không ăn không ngủ, và chỉ có cây bút và xấp giấy mang theo. Hồ như, ông ấy muốn bắt bằng được thời khắc tượng chuyển mình. Chẳng nghe ai khuyên bảo, người thầy cứ ngồi trước tượng. Không ăn, không uống. Sáng sớm, người làng thấy ông liếm sương trên mỗi chiếc lá. Có người bảo ông còn hớp nắng sớm, nuốt gió để lấy sức. Sau một đêm dông, chẳng ai nhận ra ông ấy. Tóc ông xổ dài chạm đất, những sợi mỏng, xám bệch. Mặt người thầy teo tóp và khô khốc như vỏ cây. Hai hàm răng người thầy đánh vào nhau và ăn nghiến như cánh cổng chốt nhiều lớp. Chỉ hai bờ môi bập ra bập vào. Trong đêm tối, người làng thấy ông thầy ôm đầu, chạy tứ tung. “…À…” – Chỉ một tiếng đấy. Tiếng khá to, như hơi nén trong chai đột ngột mở nút. Người làng vốn đang tản mác liền được đánh động. Tất cả đi về nơi vang ra tiếng người. Người thầy biến mất. Tôi hỏi mấy người già và gom về một mớ các câu trả lời. Bị mây đen bắt, thấy tiếng không thấy người, rơi xuống vực, ngã xuống giếng, ngã xuống sông, chạy sang làng bên, Phượng Hoàng đã chở đi…Nhiều người bảo tôi rằng họ không biết. Mẹ tôi không có mặt trong đội tìm kiếm. Có người bảo đã thấy bà. Mẹ nói, chỉ đi ngó qua vì hiếu kì, và tôi tin.

Mẹ luôn kể cho tôi về Phượng Hoàng. Ngày bé, Phượng Hoàng dỗ tôi ngủ đêm. Lúc lớn hơn, tôi vẫn được nghe chuyện. Tôi thuộc làu rồi. Nhiều năm sau mỗi buổi tối tôi kể chuyện Phượng Hoàng cho mẹ nhưng không hẳn chỉ cho mẹ. Ngày ấy, mẹ mang bầu. Cha tôi đã bỏ nhà đi khi tôi mười tháng tuổi. Ông đi tìm Phượng Hoàng. Vậy là ông đã về. Rồi lại đi ngay. Những dèm pha chẳng nghĩa lý gì khi ngày ngày mẹ vẫn đến đường cái. Cúng vái Phượng Hoàng thật lâu, và từng ngày một. Ngày mẹ trở dạ, bà đã trốn khỏi viện xá và hạ sinh em tôi ở đường cái. Tượng Phượng Hoàng thành bà đỡ. Em tôi chào đời dưới chân tượng và được tắm nắng mặt trời. Mẹ tôi bồng em. Người làng tôi đã đưa mẹ và em về nhà, và chăm sóc, cho sữa, cho đường. Không còn ai độc miệng với đứa em đã chào đời của tôi. Họ bảo mẹ đẻ được Phượng con.

Em tôi chẳng phải truyền nhân của Phượng Hoàng.

“Phượng Hoàng không có mắt.”

“Có chứ!”

“Không thấy tròng mắt.”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mắt nào là trời? Mắt nào là trăng?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng bên nào? Mặt trời bên nào?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng màu gì? Mặt trời màu chi?”

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Những tháng hè nắng đổ lửa, tượng luôn nóng hôi hổi. Đông đến, đường cái hun hút gió, Phượng Hoàng vẫn ngạo nghễ đứng. Bốn bề tượng lúc đấy lạnh băng. Người làng bảo rằng “Ban ngày Phượng Hoàng sưởi nắng mặt trời, đêm hong mình dưới trăng.” Mỏ Phượng luôn nghếch lên, chỉ trời và chỉ trăng. Người dân xếp hàng khấn vái. Lúc đông, lúc vắng, khi chen chúc, lúc xô đẩy, ngã lăn lộn, rồi về cả. Chỉ mình tôi đứng lại. Ngửa cổ nhìn lên. Đã bao năm trôi qua rồi. Tượng Phượng Hoàng đứng khép cánh nghểnh cổ. Nhiều lớp tượng đã phủ rêu xanh. Đôi chỗ đen nhọ vì bụi bặm và khói hương. Những cơn mưa dềnh mặt ruộng, ngập đến cổ chân không rửa trôi hết được những uế tạp trên mình Phượng Hoàng. Bởi thời gian, dù là đá hoa cương cũng sẽ bị bào hóa. Đi vòng quanh tượng, thấy nhiều mẩu lông đã ram ráp, mòn đi hoặc rụng, vỡ. Mắt Phượng Hoàng chẳng có tròng. Chỉ một màu tượng đá, do người tạc. Màu mắt nào thì hợp với Phượng Hoàng đây. Tranh về Phượng Hoàng, đều bỏ trống màu mắt. Chẳng màu, cũng chẳng tròng. Người thầy giáo điên, trước đó vẽ nhiều về Phượng Hoàng, hẳn từng điểm mắt.

Ngoài số tranh vẽ biếu, bán hay treo trong trường thì chẳng còn bức nào. Một trận hỏa hoạn cuối năm nọ đã thiêu trụi cái nhà cấp bốn của ông thầy. Tranh trong nhà thành tro. Số tranh khác thì Phượng Hoàng chưa được chấm màu mắt. Mắt để trống, như bức tranh truyền thống về Phượng Hoàng được vẽ lại từ bức tượng tạc lại trong huyền thoại xửa xưa.

Tôi mở sách. Kể cho em tôi về chuyện Phượng Hoàng.

Hết chuyện. Em tôi ngủ, nhưng vẫn chưa ngủ.

“Ngày mai lớp em có tiết kiểm tra họa. Vẽ tại lớp. Vẽ gì hả anh? Đề tự do.” – Em tôi nói.

“Thích gì vẽ nấy.” – Tôi bảo.

“Nhưng vẽ gì bây giờ.”

“Vẽ Phượng Hoàng.” – Tôi bảo. Buột miệng.

Tôi vờ ngáy. Em tôi hỏi thêm một hai câu. Rồi cũng ngủ. Chẳng biết nó có thật sự ngủ chưa vì chốc lát lại trở mình. Chăn của tôi bị nó kéo hết.

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh. Mặt trời từ từ ngoi lên. Mỏ Phượng Hoàng khép nhọn như kim chỉ Nam nhích lên mặt trời.

Người làng ra đồng. Họ đi qua tượng. Ai cũng khấn, mong đến một mùa bội thu.

Cũng ở đường cái. Một người lạ mặt đi lòng vòng nửa ngày trời. Ông ta trạc ngũ tuần. Râu ria xồm xoàm. Ăn mặc theo kiểu thầy cúng. Vai khoác theo một cái túi vải thổ cẩm. Một khách thập phương. Làng tôi nào có cấm khách thăm thú.

“Sẽ được thấy Phượng Hoàng.” – Đó là lời kháo nhau. Tin lan khắp làng chưa đến nửa ngày. Dân làng tôi. Từ trưởng làng, các trưởng họ, người làm ruộng, kẻ mở cửa hàng, ông chủ cho thuê đất, thợ làm thuê, người làm cán bộ trên xã, thầy giáo, bọn học sinh, các cụ ông cụ bà tuổi thượng tuế…Đều nhao nhác. Nghe đâu đến bọn trẻ con mới sinh hoặc còn trong bụng mẹ, thành hình hoặc chưa thành hình đều biết chuyện. Họ nói với nhau. Dò hỏi. Rồi tìm đến vị pháp sư.

Nghe kể xong về giai thoại Phượng Hoàng. Ông thầy xem tượng, nói “Tượng bao nhiêu năm tuổi.”

“Lâu rồi.”

“Cụ thể?”

“Chẳng biết. Lúc đẻ ra là thấy rồi.”

“Được trăm năm không?”

“Hay vài trăm năm?”

“Chả rõ, từ ngày xửa ngày xưa.”

“Chắc chẳng đến một nghìn năm. Trăm tuổi là có linh khí rồi.”

Dân làng tôi nhao nhao. Ai cũng rạng rỡ. Người đến ngày một đông. Đường cái chật cứng người.

Trưởng làng phải cho người dàn xếp hàng lối. Bảo rằng bà con không được làm loạn. Mấy cụ già ốm yếu chẳng ngại trời trở gió vì rằng chỉ cần nhìn thấy Phượng Hoàng thì chết ngay cũng được. Ông thầy cần lộ phí. Dân làng chấp thuận. Ông thầy lại nói, tay bấm bấm “Bắc phương vị…”

Đánh chén xong, ông thầy làm lễ. Ngay ở đường cái. Chính nơi đặt tượng.

Dân làng đứng đông, tạo thành nhiều hàng dài. Ai cũng háo hức. Chẳng ai chịu im lặng. Người nào người nấy nói lớn tướng. Có người cười. Tôi đứng cùng em mình. Mẹ tôi ở hàng sau. Có người mang giấy bút để phác lại cảnh có một không hai. Lúc đấy đã chiều muộn. Mặt trời nhạt màu, chầm chậm trượt xuống. Một giấc băng hà ngắn sẽ bắt đầu và trăng lên thiết triều.

Tượng Phượng Hoàng vẫn khép cánh. Đầu nhướn cao. Chốc nữa, Phượng Hoàng thật sự sẽ bay đến và đứng trên tượng? Hay bay quanh làng? Không khéo đến ngày hôm sau dân làng tôi có thể nhìn xa ngàn dặm.

Ông thầy đóng năm cọc tre quanh tượng Phượng Hoàng. Những cánh sao thành hình và đổ ngược hằn trên mặt đất. Ông thầy vẽ bằng ngón út để móng dài. Một số cốc, bình, mấy nén hương được lấy từ cái túi thổ cẩm. Cốc, bình úp hết xuống đất. Đáy các cốc, bình được đục các lỗ nhỏ. Ông thầy cắm ngược các que hương và đốt từ chân. Lửa nhai chân hương, lớn phổng một chốc rồi lịm tắt và hóa khói. Luồng khói nghi ngút, uống cả cơn gió và bay quanh nghi lễ như bầy rắn trắng. Ông thầy niệm tiếng chú. Vừa niệm, vừa đi quanh. Một cán gậy được buộc hàng mớ quả chuông vang inh ỏi. Cán gậy chúc lên trời. Niệm, đi quanh, rồi lại niệm. Vẩy nước lên tượng. Chẳng biết bao lâu. Lúc đầu còn có người coi. Sau, số thì buồn ngủ, số thì lẩm bẩm.

Ông thầy vã cả mồ hôi. Ông ta vẫn niệm. Vẩy nước. Lắc gậy chuông. Đốt thêm cả hương. Chẳng có gì.

“Đồ bố láo.”

“Có chó gì, thằng lừa đảo.”

“Về thôi. Mệt cả người.”

“Xéo khỏi làng tao.”

Người này người kia hùng hổ. Ông thầy vẫn tiếp tục nghi lễ dù không gian đã xáo trộn. Mấy hàng người vỡ thành nhiều hàng. Sóng người chen chúc. Chân nọ đạp vào chân kia. Đầu va vào nhau. Tiếng trẻ con khóc. Một cái cùi chỏ va vào mắt làm tôi nổ đom đóm. Một vài người nhặt đá ném ông thầy. Có người ném cả dép, cành cây, cả lõi ngô, củ khoai ăn dở. Trưởng làng hô hoán gì đấy. Không ai ngăn nổi dân làng đang giận đùng đùng. Trận phép của pháp sư bị đạp đổ. Tay tôi vẫn nắm vào tay em mình. Đám đông tràn như vỡ trận nên tôi chẳng thấy ông thầy đâu nữa. Không rõ ông ta còn kẹt trong đám người hay lẩn mất rồi. Vì đường đã chật bởi nhiều người chen chúc nhau để lách vào chỗ rộng, mong về nhà nên tôi và em tôi đứng lại. Ngồi nghỉ dưới một tảng đá. Em tôi rúc vào người, có lẽ vì chưa bao giờ thấy dân làng chen lấn như hôm nay. Trời còn chưa đen hoàn toàn. Mặt trời còn lưng chừng núi. Hẳn phải bảy giờ chiều. Mặt trời vẫn bập bềnh thế, cứ như bị neo lại.

Một tiếng gì đấy bổ xuống làng tôi. Dân làng đang nhốn nháo bỗng im phăng phắc. Có người kêu lên, chỉ tượng. Lại một người nữa. Dân làng đứng lại. Ai đang đi về cũng quay trở lại. Những nhóm lẻ nối thành hàng, dồn thành biển người rồi nhìn tượng.

Tượng Phượng Hoàng đang nhúc nhích. Đôi cánh vốn khép lay lay như cánh hoa gặp gió. Dân làng nín lặng. Đôi cánh chưa xòe lên. Tượng lay mình. Em tôi đòi nhìn. Tôi cõng em lên cổ. Một số người lẩm bẩm cầu khấn. Ai quỳ thì níu người bên cạnh quỳ theo. Các cụ già mắt sáng quắc. Có người vái lên vái xuống, vì vung tay cao nên đập vào người phía sau.

Tượng lay mình vài cái. Đôi cánh khép xòe chầm chậm.

Chẳng phải tượng đá. Là Phượng Hoàng. Phượng Hoàng hiển linh. Phượng Hoàng thức giấc. Và Phượng Hoàng, đang ngày một to lớn.

Cái đầu vốn nghếch lên trời hàng trăm năm, giờ nhìn xuống. Tôi nhìn lên. Không hề thấy màu mắt Phượng Hoàng. Hẳn ngài có mắt. Đôi mắt rất to, thậm chí to hơn cái đầu tôi. Nhưng chẳng thấy màu gì. Cặp mắt đấy, như hai cái hốc đen. Chỉ một màu đen, dày và hoăm hoắm như miệng giếng. Bộ lông Phượng Hoàng mọc dày thêm. Những sợi lông mới mọc chổng ra, đâm tứ phía. Bộ vuốt chân Phượng Hoàng ngày một dài, nhọn và khum cong. Cái mỏ vốn khép cứng giờ tách đôi ra, nhìn sắc như cây kéo. Lúc đôi cánh Phượng Hoàng giương lên, chẳng ai còn thấy gì nữa. Sau tiếng vỗ cánh, một cơn gió mạnh xốc đến, buốt lạnh đến tận chân răng. Không ai thấy gì nữa. Phượng Hoàng cất cánh và đổ bóng đen xuống đường cái. Một tiếng rú rồi chìm mất. Lại một tiếng rú khác. Tiếng vỗ cánh vẫn phần phật. Có tiếng kêu cứu. Tiếng từ dưới vọng cao lên. Một số người loay hoay. Rồi bị trượt ngã vì giẫm vào vật lạ. Bị ai đấy va vào, tôi ngã văng. Không thấy đau, cũng không chạm đất vì tôi nằm ngã lên một vật mềm mềm. Sờ soạng trên vật đấy tôi nắn thấy những đốt ngón tay lạnh. Mùi tanh sôi sục khắp nơi. Rồi tôi nắm thấy một vật dài như sợi dây nhưng trơn trượt. Nắn tay quanh vật dài, thấy nó lòng thòng, mềm nhũn và ươn ướt. Tôi kéo mạnh, vật đấy đứt tung ra cùng một tiếng rên khẽ. Tiếng hô hoán không thoát khỏi màn đêm quá bao la như sa mạc. Tiếng kêu đổ lên nhau. Người người chạy đi nhưng chỉ va vào nhau. Rồi từng người một bị một vật sắc, với đầy sức mạnh nâng lên cao để lúc sau bị quẳng xuống khi đã nát bét.

Tôi không tìm được em mình. Tôi ôm đầu chạy. Dân làng tôi cũng ôm đầu chạy. Chẳng ai thấy nhau. Thân người cứ va nhau bôm bốp rồi văng lăn lóc.

“Đám mây ma.”

“Phượng Hoàng, cứu chúng con.”

“Con ơi…”

“Mẹ ơi…”

“Phượng Hoàng…”

Chúng tôi kêu mãi Phượng Hoàng. Định quỳ gối cầu khấn nhưng chẳng ai còn nhớ tượng Phượng Hoàng đặt ở đâu, phương nào, Nam hay Bắc…Bị trượt ngã, tôi cảm thấy như có một vật khổng lồ đang lơ lửng trên đầu. Tiếng quạt gió. Thân người tôi bị bóp chặt, xương bị vò nát bét. Tôi hộc máu. Cả người tôi phóng vọt lên cao. Không phải tôi bay. Người tôi nát nhừ rồi. Tôi bị cắp.

“…À” – Tiếng bên cạnh tôi. Lúc quờ tay, tôi nắm được một bàn tay bé xíu, hệt như tay em tôi. “…À” – Tiếng của tôi. Và tiếng bên dưới cũng vang như thế. Những chữ “…À” vọt từ từng cái miệng dân làng tôi. Từng chữ nối nhau vang. Từng người nối nhau, để cái tiếng đấy chạy ra ngoài. Tiếng đổ ào ạt như con sóng bộc vỡ sâu lòng đất.

Bất chợt, tôi giật bắn người và tỉnh giấc. Thân mình ướt nhẹp, lạnh buốt như băng đá. Ngoài trời thui đen. Dường như đêm vẫn còn. Nhoài khỏi giường. Tôi bật hết đèn, thắp đủ loại nến. Cái gì đốt được cứ đốt, miễn là đánh thành ánh sáng.

Mẹ tôi dậy rồi. Em tôi cũng thế. Nhìn họ trắng bệch, run rẩy như vừa chui ra từ băng tuyết.

“Mẹ ơi…”

“Con ơi…”

“Anh ơi..”

Không ai nói thêm gì. Tiếng ai cũng khàn đi. Một lần lặp lại như thế, rồi dừng lại và tiếp tục lặp lại.
Sau đấy, từng nhà trong làng sáng đèn. Bật điện, đốt đuốc, soi đèn pin. Làng tôi như chẩy hội. Người làng đổ ra đường. Mẹ tôi cũng cầm đèn pin rồi ra ngoài.

Ngày hôm sau. Làng tôi tìm thấy một xác chết dưới ruộng. Không nhận diện được vì cái xác đã biến dạng. Thối hoắc và nhão nhoét. Cứ như bị ném vào cối giã. Cạnh xác chết, có một cái túi thổ cẩm. Trong túi rỗng tuyếch. Dân làng điểm mặt chẳng thiếu ai. Hẳn đây là một khách vãng lai. Đêm hôm qua làng tôi có sét đánh. Dân làng kháo nhau. Có khi nào người này bị sét đánh.

Thiên Lôi không chỉ phóng một lần sét. Tượng Phượng Hoàng bị sét cắt trúng. Dân làng kháo nhau thế. Ra đường cái. Tượng Phượng Hoàng vẫn còn, nhưng đen nhẻm. Không phải kẻ ngỗ ngược nào đã hất bùn, trát nhọ nồi hay đổ sơn đen lên tượng. Dân làng đã lau rửa bằng nước giếng, cả nước pha vỏ bưởi nhưng màu đen vẫn dày như bóng tối. Sấm sét không làm vỡ hay làm tượng sứt mẻ mà chỉ khiến bức tượng đen sì như nhuộm mực tầu. Nắng mặt trời Chính Ngọ cũng không làm mờ màu đen trên tượng. Tượng đen đổ bóng đen.

Chuyện tối qua không ai nhắc. Không ai gợi chuyện. Hoặc gợi rồi lờ đi.

Cái xác lạ được dân làng mai táng. Vì không rõ danh tính nên không lập bia. Chỉ đào một cái hố thật sâu, quấn chiếu xác rồi chôn. Trên mộ phần có gieo ít hạt giống. Mấy năm nữa là cây sẽ xanh tươi.

Người làng tôi, bị khàn giọng. Kể sau một đêm. Tiếng nói ra đặc sệt, ngắt quãng như hụt hơi. Một tiếng “À.” thốt ra rồi đứt phựt. Chữ À không ai nói nữa và dần lãng quên từ một buổi sáng. Có gì đâu mà phải à lên…

Tượng Phượng Hoàng vẫn ngạo nghễ ở đường cái. Dù tượng giờ đây đã đen tới mức chỉ như một cái bóng chim Phượng Hoàng. Dân làng đi qua đường cái rụt rè hơn. Không ai trò chuyện to cả. Đi xe qua phải dắt. Trâu, bò đều phải rọ mõm. Lúc đi qua tượng ai nấy đều lúi húi, chân tay bủn rủn như sốt rét. Có người đánh rơi cả cuốc. Nhắc đến Phượng Hoàng, người già đến trẻ em đều ngắt ngứ. Trẻ con im lặng, còn người lớn kể về giai thoại Phượng Hoàng đuổi mây đen. Kể nhát gừng từng câu từng câu. Người ta thờ Phượng Hoàng tại nhà, và nhà nào cũng thế. Nhang khói thường xuyên. Nhà tôi cũng thờ. Ảnh thờ là bức tranh cổ từ thời ông tôi. Mẹ thờ Phượng Hoàng trên ban thờ tổ, xếp gian giữa. Lúc qua đường cái, nếu đứng quá gần tượng Phượng Hoàng ai cũng mường tượng đầu Phượng Hoàng không ngẩng cao, mỏ chỉ trời chỉ trăng nữa mà cúi xuống. Đôi cánh tượng xòe rộng, Phượng Hoàng vỗ cánh…Nghĩ đến đấy, và ai nấy đều té ngửa.

Tiết kiểm tra vẽ tại lớp, em tôi ăn trứng ngỗng. Lớp em tôi đều vẽ Phượng Hoàng. Em tôi cũng vẽ Phượng Hoàng. Cô giáo lớp em đã gọi điện và mời họp phụ huynh. Mẹ bảo đáng lẽ tranh em đẹp nhất nhưng cuối tiết em đã tô đen hình Phượng Hoàng. Em tô mạnh tay, màu in thấu cả trang giấy và dính nhớp mặt bàn. Phượng Hoàng mà em vẽ xòe cánh. Em tôi không vẽ lại, cô giáo nhắc nhở gia đình bảo ban về ý thức học của em.

Dân làng gần đây mắc chứng khó ngủ vào buổi đêm. Ai cũng lăm lăm quyển sách để đọc cho dễ ngủ. Sách viết về giai thoại làng này : Phượng Hoàng. Người làng tôi đã tập hợp mọi chuyện về Phượng Hoàng và đóng quyển. Nhà nào cũng có. Đọc rồi ngủ. Hàng sáng, mắt ai cũng thâm quầng.
Mẹ tôi ngủ sớm. Trước lúc ngủ, mẹ căn dặn tôi kể chuyện dỗ em tôi ngủ. Tôi cầm sách, trang về Phượng Hoàng được đánh dấu bằng nếp gấp. Em tôi lắc. Tôi chưa kể. Em tôi chui vào chăn, chùm kín người và nằm vo tròn trong lớp chăn.

“Ngày xửa ngày xưa…”

Đọc đến đấy. Tôi chợt nghĩ đến người thầy giáo vẽ Phượng Hoàng. Nơi ông ta biến mất, là ở đường cái, tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Vì tay tôi lơi ra, nên quyển sách trượt rơi xuống. Trang sách về Phượng Hoàng mở toang dưới nền nhà. Mồ hôi tay tôi in dấu trên mặt giấy.

Ngày xửa ngày xưa. Chuyện bắt đầu…

Á Minh

Bức tranh.

trachantranhuuhoi

 

-Hình như cậu thích tranh ?
Luận nhìn quanh xem câu hỏi ấy phát ra từ đâu, khi biết chắc là từ ông già bất động trên chiếc xe lăn, Luận cúi đầu chào kính rồi nói:
-Vâng, cháu có thích thật, nhưng chỉ ngắm thôi chứ chưa hề mua một bức nào !
-Tại sao?
-Tranh giống như phụ nữ đẹp nhưng kiêu kỳ, muốn đến với họ thì phải có tiền, mà cháu thì nghèo!
Một tràng cười phát ra từ chiếc xe lăn. Âm thanh dòn dội vào các ngóc ngách của quán vắng, làm Luận thấy rờn rợn.
-Sao hả Bác?
-Hai mươi hai năm trước tôi cũng nói câu này, nhưng là nói với một người phụ nữ.
Luận rụt rè:
-Dạ…
Lại im lặng, im lặng như mọi khi. Chỉ còn tiếng nhạc nhè nhẹ.
Hơn sáu tháng nay, Kể từ ngày ra tòa chia tay với người vợ gần mười lăm năm chung sống không lấy gì làm hòa thuận, điều đau nhất của anh trong cuộc ly hôn này là không dành được quyền nuôi đứa con ! Anh trở thành một kẻ độc thân ở tuổi bốn mươi ba ! Luận chọn quán cà phê này trú thân, ngoài căn nhà trọ chật hẹp, cũng ấm cúng vì nó thích hợp với mẫu người cô độc như anh. Quán này cũng thế, sâu, hẹp nhưng ấm áp, vắng và nhiều tranh…Chủ quán, một thiếu phụ, chỉ xuất hiện khi có khách vào, pha cà phê xong là biến mất, còn lại ông già bất động trên chiếc xe lăn, ngồi trầm tư như thế suốt ngày, hiếm khi nghe ông nói gì, ông ở đó như một pho tượng, khách vào, ra không hề nghĩ đến sự hiện hữu của ông !
Luận cũng quen dần và cảm thấy những bức tranh trên tường ý nghĩa hơn cả sự tồn tại im lìm đó !
Hôm nay, pho tượng ấy đột ngột mở lời khi anh đang lơ đãng ngắm bức tranh chép lại của Levitan, “ Ngày nắng”. Treo gần cửa ra vào.
-Cậu biết gì về hội họa?
-Dạ hầu như không biết chút gì !
Lại một tràng cười….
Luận bối rối không vì kiến thức ít ỏi của minh mà vì câu hỏi đến từ một người mà anh vừa mới đây thôi, cảm thấy thú vị, tò mò…
-Tôi cũng đã nói như cậu !
-Với ai ạ?
-Bà ấy! Chủ nhật này cậu có đến đây không ?
-Thưa.. ngày mai ?
-Ngày mai là chủ nhật rồi à? Tôi quên mất ngày tháng ! Ừ, ngày mai cậu đến chứ?
-Dạ vâng, cháu đến, buổi chiều được không Bác?
-Được.
Lại im lặng, một khoảng lặng mênh mông….
oOo
Người đàn bà rời mắt khỏi giá vẽ, ngước mắt nhìn người khách vừa vào phòng :
-Ông muốn mua tranh ?
Người khách trung niên bối rối :
-Tôi muốn một bức sơn dầu, khoảng 0m70 – 0m90.
-Vậy là ông cần kích cỡ hơn tác giả và trường phái?!
Người đàn ông bối rối chưa biết nói gì thì một câu hỏi tiếp, lạnh lùng:
-Ông không thích hội họa?
-Thời trẻ tôi có thích, nhưng chưa bao giờ có đủ tiền để mua một bức tranh nào!
Một nụ cười thoảng nhẹ trên đôi môi người phụ nữ:
-Thế sao?!
-Bà hỏi gì ạ?
-Như vậy rồi ông không tìm hiểu gì về tranh, về hội họa nữa ư?
-Vâng, hoàn toàn không biết gì!
-Tôi không nghĩ thế, ít ra thì ông biết thích tranh sơn dầu…
Câu nói như khuyến khích người đàn ông mạnh dạn thêm một chút:
-Tôi thích tranh sơn dầu về tĩnh vật hoặc chân dung. Với tôi, màu sắc vẫn là chính.
Người phụ nữ cười thành tiếng:
-Khó cho ông rồi, những phòng chép tranh chỉ chép toàn tranh phong cảnh để dễ bán. Ông có muốn đặt một bức theo ý mình không? Khá lâu mới lấy và giá tiền cũng cao hơn.
-Vâng thế cũng được, tôi không vội, miễn là đẹp.
Người phụ nữ nhìn vào mắt ông. Đôi mắt buồn của người đàn ông góa vợ mười sáu năm nay bỗng xuyến xao pha chút trìu mến, khiến người đàn bà bối rối, lãng tránh bằng cách lật những bức tranh mẫu trong cuốn album dày cộm…
oOo
-Bức tranh đầu tiên tôi đặt là một giỏ hoa, chép theo mẫu của Rachel Ruysch. Treo đối diện cửa sổ thứ nhất đó.
Luận nhìn theo hướng ông già vừa nói. Bức tranh vẽ giỏ hoa với màu nền tối, nhưng những đóa hoa thì rực rỡ, trắng nhạt và hồng. Mặc dù treo đối diện, ngang với cửa sổ, vẫn không sáng lên được bao nhiêu!
-Rồi những bức kế tiếp…Tôi đến phòng tranh thường hơn.
-Những bức tranh trong quán này đều do bà ấy vẽ, thưa bác?
-Ừ, trong hơn một năm, bà ấy chỉ vẽ cho tôi. Bà ấy tự chọn mẫu, còn tôi, tôi thì chỉ cần được đến đó, ngồi xem bà ấy vẽ.
-Bác đã trở thành…người giàu ?
-Tiền bán căn nhà của tôi ở Đà Nẵng, mua lại căn nhà này, mở cái quán cho con gái, tôi vẫn còn tiền để sống. Những bức tranh chép bây giờ không còn là một cái gì quá cao để tôi không thể mua nổi ! Nhưng cái chính là do… bà ấy vẽ. Ông già khoa tay quanh tường… Được mười một bức thì bà ấy không vẽ nữa !
Luận nhìn ông già định hỏi, nhưng gương mặt của ông già đã chìm trong một nỗi buồn vừa ập đến sau câu nói. Quán như trống trải hơn, tối hơn và im lặng hơn…
Bên ngoài cửa sổ, chiều xuống trên dàn hoa pháo, nơi cánh cổng nhà bên cạnh.
Im lặng, Luận nhìn vu vơ những bức tranh…
-Tôi có chuyện phải về Đà Nẵng, mười hai ngày sau trở lại thì bà ấy đã chết, bà ấy bị Ung thư đại tràng giai đoạn cuối trước khi tôi đến đó. Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, nơi đứa con trai đã có gia đình ở cùng bà ấy. Cậu ta trao cho tôi một bức tranh :
-Mẹ tôi bảo trao lại cho ông và dặn ông thay khung cho bức tranh.
Luận bật hỏi và lập tức đưa mắt nhìn bức “Người đàn bà xa lạ“ của Kramskoi treo đối diện:
-Bức tranh nào ạ?
-Không có ở đây, “Bà ấy” ở trong phòng của tôi. Khi thay khung, tôi thấy bức thư của bà ấy.
Im lặng lại bao trùm căn phòng, Luận nhìn những bức tranh giờ như những mảng màu loang lỗ quanh tường, mắt anh không tập trung được vào một chỗ nào. Khi quay lại nhìn ông già, anh có cảm giác như ông đã ngủ, đầu gục xuống lọt vào đôi vai gầy…Luận rụt rè đến bên tấm thân bất động:
-Bác có …khỏe …không ạ ?
Ông già ngẩng đầu nhìn Luận, gương mặt ông như nhão ra với những giọt nước mắt. Tiếng nói của ông bất ngờ vang lên, rõ ràng, tương phản với vẻ yếu ớt của cơ thể:
-Nếu tôi trao toàn bộ tranh cho cậu, cậu có đồng ý không?
-Sao, Bác không thích nữa à?
-Tôi vẫn quý chúng như những đứa con, nhưng tôi phải vào Viện Dưỡng Lão !
-Ở đâu ạ?
-Ở Long Thành. Tôi có cô em tu ở một ngôi chùa dưới ấy. “Viện mồ côi” thì đúng hơn.
-Thế con gái bác, chị ấy?
-Tôi làm khổ nó đủ rồi. Từ ngày bị tai biến, mười sáu năm nó phải chăm sóc tôi, không nghĩ chi đến chuyện chồng con, nó trở thành gái già khi nào không hay! Giờ nó gặp một Việt kiều góa vợ, tôi muốn nó xuất cảnh theo chồng.
oOo

Cuối cùng thì chiếc xe chở hàng thuê cũng vào được con hẻm chật chội nơi căn phòng trọ. Hai ngày bận rộn với việc tháo gỡ, đóng gói cẩn thận những bức tranh, Luận ở trong tâm trạng ray rứt, mâu thuẫn. Phần thì xót xa với hoàn cảnh của ông già, đàng khác, anh mừng vì bỗng dung lại có được những bức tranh….Nghĩ đến chuyện phải treo những bức tranh này lên bức tường nham nhở của phòng trọ mà não lòng.
Không nôn nóng với những bức đã thấy hàng ngày trong quán, anh hồi hộp đặt bức tranh “Người phụ nữ đợi chết” lên bàn. Báu vật của ông già là bức chân dung một người phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, chính là người đã chép lại những bức tranh. Bức tranh thật đẹp, trong không gian dịu dịu của buổi xế chiều, một gương mặt phụ nữ trong chiếc mũ len màu nâu trùm kín đầu, bên khung cửa sổ, đôi tay khoanh hờ hững, ánh sáng chếch tôn lên chiếc mũi thanh tú. ” Bà ấy đây sao !” Luận buột miệng không hoàn toàn là bởi nét đẹp của người thiếu phụ mà do đôi mắt buồn, đăm chiêu của người phụ nữ vẫn hài hòa được với đôi môi mỏng, mĩm cười như khinh bạc thách thức.
Một linh cảm mơ hồ đều gì đó thật buồn, thật xót xa ập đến trong tâm hồn Luận làm anh xao xuyến lo âu khi chợt nhớ lại lời ông già:
-Tôi đã “sống” với bà ấy hơn hai mươi năm. Giờ thì tôi không cần gì nữa, Tôi vào viện mồ côi nhưng rồi cũng sẽ không phiền ai… Bức thư vẫn ở đằng sau bức tranh. Cậu cứ giữ lấy tất cả, tôi không nỡ đốt nó !
Luận run run lật úp bức tranh, mở lưng tìm lá thư. Một tờ giấy gấp tư, như được dán vào khung vải:
oOo

Ngày … tháng … năm 1993.

Này, người đàn ông vô duyên !
Tôi đã nghĩ như thế từ khi gặp ông, cho đến lúc này, hơn một năm và trong những ngày cuối cùng của đời mình, khi những tế bào ung thư đã di căn và hủy hoại hầu hết các bộ phận trong cơ thể, gây nên những cơn đau thật khủng khiếp! Tôi vẫn gọi ông như thế.”người đàn ông vô duyên”.
Trước hết, tôi cảm ơn ông đã đi xa đúng lúc để tôi không ray rứt vì sao không có ông bên cạnh, không ngóng đợi trông mong như những ngày ông thỉnh thoảng bận việc, không đến phòng vẽ .
Tôi gọi ông là người đàn ông vô duyên bởi: Ông đến và làm tôi xao lòng khi vừa phát hiên ra căn bệnh chết người một tuần lễ. Tôi quyết định không phẫu thuật hay đều trị vì nó đã ở giai đoạn cuối. có nghĩa là tôi không còn sống được bao lâu!
Trong đôi mắt ông từ lần gặp đầu tiên ấy, tôi đọc được một điều là Tôi sẽ yêu ông, và ngược lại.
Nhưng ông có thấy vô duyên không khi không hề có đoạn kết trọn vẹn cho cuộc tình này. Ông vẫn không biết gì, nhưng tôi, tôi biết sẽ phải xa ông khi tình yêu vừa đến! lẽ ra lúc này chính tôi phải nhận lấy hai chữ “vô duyên” nhưng tôi vẫn gọi như vậy, bởi nó mang nghĩa định mệnh cho cả hai chúng ta. Vâng, đó là một định mệnh!
Bức tranh này tôi vẽ cho người đàn ông vô duyên của tôi, một bức tranh duy nhất tôi vẽ chứ không chép. Hai tháng sau khi đã trải qua lo âu, sợ hãi tột cùng…, thật lạ, tôi lại trở nên bình thản, chấp nhận ngày nó đến. Tôi đặt tên cho bức tranh là ”Người thiếu phụ đợi chết”. Hãy nhìn màu xám nhạt của bầu trời, ông sẽ thấy…Ông cũng cứ gọi như thế nhé.
Thông thường, người bị ung thư, đều trị bằng phương pháp hóa trị đều rụng hết tóc, tôi không hóa trị, nhưng tôi muốn ở trong tâm trạng thường trực đối mặt với căn bệnh khi vẽ, chiếc mũ len trùm kín đầu có làm ông hình dung được điều đó không?!
Không biết lúc nào thì cái chết đến để giải thoát cho tôi khỏi những cơn đau! Ôi, tôi tiếc biết mấy những phút giây gần gũi bên ông, êm đềm quá, yên bình quá… sẽ không bao giờ có được nữa!
Đau quá! Tôi… tôi… vĩnh biệt ông thôi…! Người đàn ông vô duyên.

Luận vẫn cầm là thư trong tay, với lòng dạ bần thần. Anh muốn nhanh chóng tìm đến ngôi chùa nào đó ở Long Thành, nói với ông già rằng anh sẽ thay con gái ông chăm sóc ông, cùng ông sống với những tháng ngày còn lại với các bức tranh. Nhưng anh vẫn ngồi bất động. Hình ảnh ông già ở nơi nào đó gục đầu thì thào “Tôi…tôi đến với bà đây, chờ nhé” như rõ mồn một trong đầu anh!

Trạch An -Trần Hữu Hội

(Sài Gòn , ngày 20 tháng 3 năm 2014)

Buồn chi ga núi

 

truongdinhtuan

về đâu hai đường thẳng song song
đừng, ảo ảnh đùn mây nghi ngút
đừng, nhớ thêm khói chiều ga núi
{bay lên từ đâu mấy ngón tay}

ta ngồi tựa vào vách dĩ vãng
đá nghìn năm dựng cuối chân trời
em có còn thương thân ngựa ngã
ở bên rừng gọi nắng mai ơi

toa tàu rỗng cũng không chứa hết
những hoàng hôn tím lịm hoàng hôn
gùi sao hết nỗi ngày mường mán
chờ mưa rừng đếm giọt mưa xa

chẳng còn hành trang mà chất chứa
hồn như bộ lạc nằm chiêm bao
chảy về đâu cũng khe với suối
em có còn thương cỏ lao đao

trương đình tuấn

MỘT NGÀY NÀO NHƯ THỂ NGÀY XƯA

nguyenngocnghia

Anh chợt ngã vào đêm
Bờ cỏ mượt mênh mang niên thiếu
để vội thấy em tan
tan
tan nhanh
hòa vào chuỗi hoài niệm phục sinh bất tuyệt
dường như
áo trắng em lẩn khuất đâu đây
dường như
đêm hân hoan soi gương thầm thì
sóng sánh chút phiêu bồng lặng lẽ
ngày tháng nào
ngày tháng nào đã nhẹ cánh thiên di?
Tạ ơn
tạ ơn một ngày
em chấp chới giữa vườn quên lãng
cát vàng bỏng rát ngực hoàng hôn
khao khát hồn nhiên
một thời lãng mạn
đôi mắt dõi theo thoáng bụi hồng
Tạ ơn
tạ ơn chút trăm năm quá ngắn
quẩn quanh
cũng chỉ một vòng quay
anh đứng giữa lưng chừng bờ ngạo mạn
lúng túng chân mềm
vướng lọn tóc bay.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(04.2015)