Cơn thèm!

trachantranhuuhoi

Lảo Ngô kéo cao cái cùm, len trong đám trúc ngổn ngang, đến chỗ Trần, lấm lét nhìn quanh rồi thì thầm vào tai:
-Chú Trần bị kỷ luật, vào lại biệt giam!
Nói xong, lão ngồi xuống, vừa gom mớ dăm bào trúc, vừa nhéo vào ngón chân út của Trần, Trần cúi xuống nhìn thì thấy lão nhét vào đống Trúc chưa bào của Trần một gói nhỏ, xong, lão ôm một ôm trúc đã bào, khó khăn len qua các tù nhân đang ngồi cắm cúi bào trúc, đến cho vào đống đã bào xong ở cuối sân. Vừa đi, vừa kéo lê chiếc cùm kêu lẻng kẻng.
Trần cúi xuống chân, nắn cái gói nhỏ rồi cho vào túi. Đường tán, chừng mười tán đường. Chắc là lão biết bị kỷ luật đồng nghĩa với cắt thăm nuôi nên giúp Trần. Lão không có thăm nuôi, kiếm đâu ra đường mà cho, Trần thấy thương lão!
Từ hôm chuyển từ trại huyện xuống, Trần bị đưa ngay vào biệt giam, nằm trong đó đúng một năm hai tháng, trận đau bụng đi kiết tháng trước giúp anh được ra ngoài, vào nhà A. Ăn cháo mấy ngày, anh phục hồi dần, rồi được cùng bạn tù cạo trúc. Trại nhận cạo và cưa trúc cho các HTX mành trúc xuất khẩu. Công việc so ra khá nhẹ nhàng. Ngồi trên chiếc ghế thấp, duỗi thẳng chân, kẹp đầu cây trúc vào ngón cái và ngón trỏ chân, một tay nắm phần gốc, một tay cạo. Dao được làm bằng thép, lấy nơi ba lô của lính, phải mài thật bén, càng bén càng tốt. Trần không biết lấy ở đâu ra mà nhiều thép ba lô thế, người nào cũng có hai ba cái dao! Ngày đầu được cùng anh em cạo trúc, một bạn tù cho anh hai cái, hắn ta là một tay anh chị ở ga Tháp Chàm, lãnh án hai mươi năm vì tội cướp phòng tài chính! Thời hắn bị bắt chưa có ngân hàng và kho bạc, mọi tiền nong đều do phòng tài chính nắm giữ.
Tin vào lại biệt giam làm Trần lo lắng băn khoăn, lão Ngô không cho biết kỷ luật vì sao!
Lão Ngô bị án chung thân. Trước khi vào tù, lão là trưởng trạm vật tư. Can tội giết vợ, tham ô và hủ hóa.
Từ ngày có án, một chân lão bị đeo thường xuyên chiếc cùm nhỏ, nặng chừng một ký. Là cán bộ từ miền Bắc vào, tuổi cao và ở trại cũng đã lâu nên được cán bộ trại cho làm tạp vụ, tự do đi lại nơi này nơi kia, có khi được làm các công việc giấy tờ dùm cán bộ, gần gũi cán bộ trại nên tin mà lão cho Trần biết chắc chắn là chính xác.
oOo
Lão Ngô từng ở biệt giam với Trần trước khi ra tòa lãnh án chung thân.
Ngày lão chuyển vào phòng ở cùng Trần, các bạn tù trong biệt giam gõ tường bảo với Trần là “cẩn thận, ăng ten”. Trần ngại ngần nên chỉ trò chuyện cầm chừng. Đến bữa cơm, lão như thủ thân thủ phận không có thăm nuôi, bảo Trần:
-Chú chia cơm đi.
Nhìn lão, Trần ước chừng mình chỉ bằng con lão nên lung túng không biết xưng hô thế nào cho phải, anh bèn gọi bằng chú:
-Chú Ngô chia đi, tôi sao cũng được.
Lão lấy muỗng ém ém lên ơ cơm rồi vạch một đường chia ra làm hai rất thành thạo, xúc cẩn thận một bên vào chiếc tô nhựa rồi lấy chén nước muối ngồi ăn. Trần cũng lấy tô của mình xúc đúng bốn muỗng như mọi khi rồi đẩy ơ cơm về phía lão:
-Chú Ngô ăn thêm cơm đi, tôi chỉ ăn chừng này, với lại ăn chung thức ăn cùng nhau cho vui, còn thì ăn mà hết thì cùng ăn nước muối.
Nói xong, Trần đẩy chén thịt ngâm nước mắm về phía lão. Lão tròn mắt ngạc nhiên:
-Chú ăn ít thế!
Trần chỉ ăn bốn muỗng một bữa, xúc ngang cả độn, Trần tập cho bao tử quen dần bởi anh nghỉ là tội “phản cách mạng” của mình chí ít cũng mười năm trở lên, lại nữa trại ít tù chính tri, phần nhiều là hình sự. Nếu cỡ đó thì phải chuyển đi trại Bộ.
Trại Bộ là các trại tù do Bộ Nội Vụ quản lý. Trần biết nếu chuyển đi xa thì anh không hy vọng gì mẹ anh đi thăm nuôi được, tập thiếu thốn cho quen!
Buổi sáng, khi tù phục vụ đưa nước sôi đến, Ngô lấy nước vào, Trần lấy hai cái bánh tráng mì bẻ vụn vào chiếc thau nhựa, cho nước sôi vào, lấy cái quạt đậy lại cho bánh nỡ ra rồi mời lão Ngô cùng ăn sáng. Lão lại lần nữa ngạc nhiên:
-Chú Trần ăn đi, tôi không có thăm nuôi nên không ăn sáng quen rồi!
-Mẹ tôi thường thăm một trăm cái bánh tráng mì, ăn hai người cũng đủ tháng mà chú Ngô. Tôi ở trong này với ai cũng vậy, toàn dân “mồ côi” và cùng ăn chung.
Trần múc một chén rồi đẩy cái thau về phía Lão, lão với lấy cái tô nhựa nhưng Trần bảo:
-Tôi thế này là vừa, chú Ngô ăn luôn trong thau cho khỏi rửa thêm cái tô.
-Chú Trần này, không biết chú bao nhiêu tuổi, nhưng cứ gọi tôi bằng anh cho thân mật. Tôi không có con trai, con gái tôi cũng ba mươi rồi, nó có chồng có con ngoài Bắc!
-Tôi còn thua cô ấy hai tuổi mà chú!
-Chậc, chú cứ gọi tôi bằng anh cho tình cảm, tôi thích thế. Từ ngày vào tù, chưa ai cho tôi ăn chung, chưa ai tốt với tôi như chú. Chú có nghe tên thằng Túc chung vụ vượt biên với thằng Bá không?
Vụ vượt biên này rúng động cả tỉnh Thuận Hải. (*) Hai ghe gần một trăm hai chục người, bị bắt ngoài Vạn Giã, Tuy Hòa. Bá là chủ mấy chiếc xe đò, giàu có tiếng ở Vân Sơn, móc nồi với Túc là xã đội trưởng du kích, móc nối thêm hai chủ ghe. Vừa đúng lúc tập kết đủ người, lên ghe xong thì công an biên phòng xuất hiện. Trên ghe có mấy du kích mang theo súng, bắn trả công an biên phòng rồi cho nổ máy chạy bừa ra khơi, không kịp lấy dầu chôn từ trước. Hôm sau thì hết dầu, lênh đênh rồi tấp vào Vạn Giã.
Hôm công an Tuy Hòa di lý vào ban đêm, biệt giam bị náo động, một phòng nhốt thêm hai người, có phòng ba người…Năm người trong căn phòng bốn mét vuông. Chỉ có cách ngồi bó gối mà ngủ!
-Có nghe tên nhưng chưa ở chung với nó, mà sao anh Ngô?
-Nó thăm nuôi cả núi đồ ăn, mỗi lần đồ vào là chật phòng, nhưng nó bần ghê gớm! Dạo đó tôi bị ghẻ đầy người. ở ngoài đang đầy đủ, vào trong này thiếu thốn mọi thứ, tôi thèm, cái gì cũng thèm, nhất là đường. Có hôm nó vừa nhận thăm nuôi, nó ăn như gấu những thức ăn mà gia đình gởi ăn liền: Xôi, thịt gà, bánh mì thịt…Tôi thèm quá, xin nó miếng bánh mì nhưng nó im lặng, ngồi ăn như không nghe thấy gì. Đến lúc soạn đồ để đưa ra ngoài phòng, thấy nó cầm bị đường cát chừng hai ký lô. Tôi chịu hết nổi, nói với nó:
-Tôi thèm đường quá, chú Túc cho tôi xin một muỗng! Nó nhìn tôi rồi mở bị đường, lấy cái muỗng, tôi mừng lắm, nhưng chú biết sao không? Nó trở cái cán muỗng, múc cho tôi một cái, tôi thèm quá nên dơ cả hai tay, hứng lấy rồi cho tất vào mồm. Trời, ngọt ơi là ngọt!
oOo
Ăn cơm trưa xong, một cán bộ trại đến nói gì đó với nhà trưởng, nhà trưởng đến nói với Trần “chuẩn bị đồ đạc”. cả phòng xì xào mặc dù đã quá quen với những lần chuyển phòng, chuyển trại như vây. Đã cuồi tháng nên đồ thăm nuôi chẳng còn gì, mười tán đường lão Ngô cho sáng nay là “tài sản” quý nhất. Anh đang xếp mùng mền, mấy cái chén, cái ca…vào giỏ lác thì Kiệt đi ngang lén thả vào giỏ một gói nhỏ, Trần nhìn qua đoán là thuốc tây, loại vitamin tổng hợp. Kiệt là kỷ sư nông nghiệp trước 1975, được lưu dụng ở trung tâm bông vải, bị tội tham ô cùng nhiều người khác. Kiệt lớn hơn Trần, ít nói chuyện với ai, nhưng lại mến và thường chuyện trò với anh.
Người dẫn anh trở vào biệt giam không phải là cán bộ mà là Hòa, tù phục vụ biệt giam. Trần đã ở biệt giam khá lâu nên thành người quen. Khi đi ngang cột cờ, khuất tầm mắt cán bộ, vừa đi hắn vừa cằn nhằn trong họng:
-Nói tiếng nước ngoài chi vậy?!
-Có nói đâu?!
-Có người báo!
Nội quy trại, điều thứ hai là: Không được nói tiếng Dân Tộc hoặc tiếng Nước Ngoài trong trại. Trần cố nhớ nhưng chưa nhớ ra được. Trước đây ở ngoài đời cũng như khi vào tù, anh không nói tiếng nước ngoài bao giờ bởi ngoại ngữ anh không khá, thế thì…thôi đúng rồi, Kiệt, hôm trước Kiệt vừa ngồi cạo trúc vừa kể cho anh nghe chuyện gia đình mình, khi nói đến ba mẹ anh chia tay nhau, Kiệt đã dùng từ “break up”. Chỉ có thế mà cũng có người nghe, báo cáo!
Cửa phòng đóng lại sau lưng cùng tiếng khóa lách cách.
Chung phòng với Trần là một người trạc tuổi anh, tên Toàn, đội trưởng xây dựng của Trung Tâm Bông Vải, cùng vụ với Kiệt. Tiếng gõ tường liên tục “thăm hỏi”, nhưng hắn ngồi yên không trả lời, thấy hắn dè chừng anh cũng tảng lờ không chú ý.
Khác với Trần, hắn thích nằm trên bệ, anh lau qua rồi trải chiếu ở phần dưới. Anh hỏi Toàn:
-Ai vừa ở với anh Toàn vậy?
-Thằng chó con.
“Chó con” là Cao Gia Kiên, chừng mười ba tuổi, hắn cùng anh ruột mình là Cao Gia Phú mười sáu tuổi. Cả hai chờ lúc mẹ đi vắng, trói ông bà nội vào giường rồi phá khóa tủ“cướp” tiền. Ông nội “chó con” là người Quảng Đông. Chàng thanh niên gốc Hoa này đến Phan Rang làm phu bốc vác, rồi sau thầu vệ sinh chợ. Khi lập gia đình thì đã là triệu phú. Năm 1975, hai đứa con gái di tản theo chồng, con trai út, cha của Kiên và Phú đi cải tạo vì ghiền ma túy ở Sông Lũy, ông mất sạch vì bị đánh tư sản. Cơn đột quy cùng nỗi buồn làm ông suy sụp, đã vây, hai thằng cháu nội còn hành hạ ông. May còn có con dâu thảo sớm hôm…
“Vụ cướp” xảy ra buổi sáng thì chiều lại hai “tên cướp” bị bắt khi đang ăn bánh căng ở bến xe. Hơn một năm rưởi rồi mà chưa ra tòa lãnh án vì cả hai còn quá nhỏ. Thằng anh được đi lao động tự giác, theo các tù nhân khác đi trồng rau muống, rau dền…”Chó con” trước đây cũng đươc ở ngoài, đi lại thoải mái. Mấy tháng trước, hắn lẻn vào nhà y tá trại, ăn cắp hai ký thịt heo và túi thuốc Đông y, toàn là Xuyên tâm liên, Tăng lực…cho ai cũng không dám lấy, hắn bèn luộc hai kg thịt định rủ anh cùng ăn một trận cho đã thèm, nhưng đang luộc thì bị phát hiện, vào lại biệt giam.
oOo
Ở trong tù, ngoài hình phạt tháng, năm, tòa gọi gắn với tội mà tù nhân đã phạm, còn có những hình phạt khác của trại giam như: Cắt thăm nuôi, ăn cháo lỏng, còng hai tay ra sau lưng, cùm một chân và cùm hai chân với loại cùm 4 kg…
Trần đã từng bị ăn cháo lỏng kèm theo cắt thăm nuôi trong thời gian hỏi cung, cháo là nước gạo lấy từ khi cơm mới sôi, hai ngày ăn cháo lỏng là kiệt sức, chỉ nằm mà tơ tưởng tới chén cơm độn!
Hình phạt còng hai tay ra sau lưng thì nhẹ nhàng nhưng khó chịu, bình thường ngứa đâu gãi đó theo phản xạ, ít khi ta để ý, nhưng khi hai tay bị còng, chỗ nào trên cơ thể cũng ngứa, bạn tù gãi cho vài lần, còn thì cứ uốn éo như con sâu, đêm đến không tài ngủ được!
Trần nằm nghe tiếng gõ cạch cạch từ phòng bên trong lúc Toàn đứng dậy móc mùng. Hắn chỉ móc hai mối dây phía bên ngoài, hai mối trong không móc mà buông xuống thành một bức màn che giữa Trần và hắn. Trần thấy lạ nhưng hắn ít nói nên anh không hỏi, anh phe phẩy chiếc quạt, cố đoán ai đã báo cáo mình…
Nửa đêm Trần nghe tiếng Toàn trở mình rồi rón rén ngồi dậy, hắn ngồi thật lâu, Trần nghe tiếng gì như tiếng bóc bị giấy bóng, lát sau nghe tiếng nhai nhóp nhép thật khẽ, anh cố ngủ lại nhưng không tài nào ngủ được, trong đầu anh hiên rõ hình ảnh chiếc miệng Toàn đang nhai, anh đoán là chuối ép ngào đường, miếng chuối vàng lườm, mềm, cùng tiếng nhai rõ hơn, anh cảm thấy được cả vị ngọt của chuối!
Cơn thèm làm nước miếng trong miệng Trần ứa ra. Anh còn nguyên mười tán đường lão Ngô cho lúc sáng, lại còn vitamin tổng hợp chưa dùng, anh định để dành đến khi nào quá kiệt quệ sẽ dùng. Trần nghỉ vẫn vơ để quên đi tiếng nhóp nhép của Toàn nhưng anh bất lực, tiếng nhóp nhép càng nghe rõ hơn!
Anh không nghỉ đến chuyện xin Toàn, chưa bao giờ anh xin một cái gì, của bất cứ ai từ ngày vào tù. Thấy nhiều bạn tù thèm ăn và cái ăn trở thành nỗi nhục nhả, hèn hạ, với cả những tay anh chị lẫy lừng ngoài đời làm anh tự hứa là sẽ không bao giờ xin ai. Cái thèm thuồng và quyết tâm không mở miệng xin Toàn một miếng chuối thì anh khống chế được, nhưng nước miếng trong miệng thì cứ ứa ra, lý trí anh không tài nào ngăn được, nó làm anh phải nuốt liên hồi!
Tự nhiên Trần nghỉ đến lão Ngô và các bạn tù mà thương họ, cảm thương cái thèm bản năng, rất người, ai cũng trải qua khi rơi vào hoàn cảnh này.

Sài gòn. Tháng 7. 2015.
Trạch An-Trần Hữu Hội

(*) Thuận Hải: Gồm ba tỉnh ghép lại: Ninh Thuân-Bình Thuận và Hàm thuận.

Nước có còn xanh

lesa

Nụ hôn em quá mỏng
Sao ướt mãi đời nhau
Đêm gối đầu xác chữ
Đắng từng hạt chiêm bao

Nước xanh rứt một dòng
Một dòng xanh mặc thẳm
Ta con thuyền úp mặt
Đằm vết chém trăm năm.
Đêm chập chùng vó dựng
Người xưa ơi đâu rồi

LÊ SA

Tháng Bảy Thưa Em Thơ Tháng Bảy

tranvanle

Tháng Bảy đang đi vào cuối tháng
Trời buồn có vẻ sắp sang Thu
Lá vàng lác đác rơi đây đó
Con ngõ buồn hiu…nhớ một người!

Tháng Bảy hàng năm…là tháng Bảy
Lòng mình tháng Bảy đã bao năm?
Cau vườn Nam Phổ chừ đang chín
Mộ Ngoại, cau rơi lót chỗ nằm?

Tháng Bảy hẹn nhau về với Huế
Bạn bè…lác đác lá vàng rơi
Thương sao những nụ hoa còn nở
Mà thiếu từ lâu những nụ cười!

Tháng Bảy, thưa em trời tháng Bảy
Thưa trời không nỡ, cứ thưa em!
Em là nỗi-nhớ-hoài-nguyên-vẹn
Và mỗi ngày anh một nhớ thêm!

Tháng Bảy đìu hiu cánh cửa phòng
Mở ra, trời đất vẫn mênh mông
Bao la, thấy Huế dòng Hương Thủy
Thấy những con thuyền chở ngập trăng!

Tháng Bảy, thưa em Thơ-Tháng-Bảy
Anh làm cho Nguyệt-Mỗi-Bình-Minh
Sáng nay làm vậy nghe mình khóc
Không phải! Chuông Chùa bay tiếng Kinh…

Tháng Bảy, chuông Chùa bay rất xa
Rồi tan, tan mất cuối sơn hà
Đầu non cuối biển nằm trong mắt
Anh gửi về em một đóa hoa!

Trần Vấn Lệ

NGHÌN NĂM BIẾT CÓ NGHÌN NĂM NỮA.

phamkhanhvu

Có khi tôi ngủ mà tôi biết
Cũng có khi lòng tôi dửng dưng
Buổi sáng mang thùng ra tưới đất
Đất cười một nụ quá ung dung

Cũng có khi lòng tôi rách rưới
Buổi chiều mây khói tụ sau nhà
Tôi nhớ người như tôi nhớ bóng
Tôi đứng một mình tôi hát ca

Có khi tôi thức tôi không biết
Con mắt tròn xoe trong bóng đêm
Vượn hú đâu mà nghe ảo não
Tôi khóc vùi cùng nỗi êm đềm

Có hôm mang vở lên trường học
Tôi ngủ quên trời đất cay nồng
Tôi mơ tôi bước ra đời sống
Giật mình thức dậy hóa ra không

Tháng ngày tôi xếp vào trong gối
Tôi mộng hàng đêm rất tự nhiên
Tôi bước trong đời không có thực
Nên suốt đời chỉ thấy ưu phiền

Khi tôi thong dong nằm nghe nhạc
Tôi tưởng người ấm áp bên mình
Nhạc ru từng nỗi buồn cao thấp
Tôi ru người bằng mộng tinh anh

Có hôm ra trước sân nhà vắng
Tôi ngó trăng và trăng ngó tôi
Một lúc tôi nghe đầu choáng váng
Tôi khóc mà trăng cứ mỉm cười

Cứ uống cà phê là bỗng nhớ
Tôi nằm chết ngất giữa tình say
Tôi cười có lúc tôi không biết
Cho nắng bò lên mỗi ngón tay

Có lúc tôi ôm đầu tôi hát
Tôi hát và tôi êm ái nghe
Đời nhiều khi buồn như mây nổi
Từ độ nào tim lạc lối về

Nhiều lúc tôi bực mình muốn khóc
Tôi hỏi tôi này hai mươi năm
Bao nhiêu ngày tháng mòn trên tóc
Chẳng lúc nào vui cứ mãi buồn

Có hôm tôi đứng bên bờ suối
Nước trôi mà tôi thì đứng im
Cành thông gió tạt còn nghiêng ngã
Tôi đứng mình tôi rất tự nhiên

Tôi cứ vô tình tôi không biết
Tôi đứng mong manh giữa cuộc đời
Lũ chim ngu dốt òa lên khóc
Tôi ngã vào dòng nước chảy xuôi

Một ngày tôi đứng quay đầu lại
Bên kia là rừng núi điệp trùng
Bên này cả đời tôi sóng vỗ
Sóng vỗ nghìn năm rất dửng dưng

Tôi ở giữa đời tôi lạc lõng
Người bỏ đi rồi ai nữa đâu
Tôi hái hoa vàng tôi khóc lóc
Còn lại chút gì để nhớ nhau

Có khi tôi gọi người rền rĩ
Người ơi người xa biệt chốn nào
Tháng ngày tôi chất vào trong bếp
Tôi đốt cho lòng tôi bớt đau

Tôi đi hiu quạnh trong đời sống
Có ai về dìu lại bước chân
Nghìn năm rồi có nghìn năm nữa
Tôi vẫn ngồi ôm suốt căn phần

Chắc rồi tôi chết tôi không biết
Sớm mai này xin chớ ai buồn
Cho tôi hổ thẹn về với đất
Tháng ngày còn lại ném sau lưng…

PHẠM KHÁNH VŨ (1974)

LEV.

nguyendinhbon

Nhân cách là thứ mà con người cần cấp thiết bảo tồn

Lev mang hai dòng máu Việt- Nhật. Cha nó là con chó cỏ, mẹ nó là nàng tiểu thư Nhật rất dễ thương. Chủ của cả cha và mẹ nó đều là hàng xóm nhà anh. Cái hẻm rộng tiếp giáp với con đường lớn nơi anh ở có đủ thành phần. Những căn nhà được phân lô trước năm 1975 thường có một cái sân rộng. Thành phố dần thay đổi, những người nghèo bán nhà cho những người khá hơn, thường ở phía Bắc vào để “di cư” ra ngoại ô nhưng cũng có những người “bám trụ” ở lại. Anh sống trong căn nhà thừa kế từ cha mẹ. Quanh anh hàng xóm đủ mọi thành phần nhưng có một điểm chung: ai cũng thích nuôi chó. Tùy theo thu nhập, các gia đình giàu nuôi đủ giống chó từ Nhật, Trung Quốc, Mỹ… có giá trị vài triệu đến vài chục triệu một con, nhưng cũng có những gia đình sống lâu năm tại đây, còn giữ mối quan hệ với những vùng quê, nuôi những con chó Việt.

Sống điềm đạm, anh có mối quan hệ tốt với tất cả mọi người, cố gắng tránh xung đột với hàng xóm. Trước đây nhà anh cũng nuôi chó, một con chó của bạn bè cho, chẳng biết thuộc giống gì vì nó có bộ lông màu vàng, hơi xù nhưng khá cao lớn. Một buổi sáng, khi vừa mở cửa, con chó lách cổng chạy ra ngoài, nghe vù một cái, ẳng một tiếng cùng tiếng xe máy rồ ga, con chó biến mất trước mắt anh!

Vợ không nói gì, hai đứa con buồn hết mấy buổi, rồi cũng thôi, xung quanh hàng xóm, nạn trộm chó vẫn diễn ra hằng ngày.

Định không nuôi nữa thì một sáng Chủ nhật uống cà phê cóc trước hẻm, Nhân, một hàng xóm trẻ người Bắc, làm việc trong sân bay, mới về ở trong xóm mấy năm nói với anh: “Con chó nhà em nó “lỡ dại” với con chó nhà bên cạnh, đẻ ra một lứa không thuần, em tặng bác một con, bác nuôi cho vui nhé!”. Chó nhà Nhân là loại chó Nhật, trắng muốt, xinh xắn, vợ chồng Nhân cưng nựng như con, đi đâu cũng chở theo trên chiếc tay ga đời mới, không biết tại sao lại đi “tò te” với mấy con chó cỏ thường chạy nhong nhong ngoài đường, và hậu quả là một đàn con loang lổ, vàng vện đủ màu!

Ngay trưa hôm đó, Nhân mang qua cho anh một con chó nhỏ, bộ lông đốm trắng đen pha tạp nhưng dễ thương như mọi chó con trên đời, vừa thấy nó các con anh thích liền. Anh nhận, cám ơn Nhân.

Anh mê văn chương cổ điển Nga, nên khi các con hỏi đặt tên gì, anh nghĩ ngay đến Lev Tolstoi, và nói tên là “Lev”. Các con anh hỏi “lev” nghĩa là gì, anh nói nghĩa là sư tử. Nhìn con chó nhỏ xíu, rằn ri, hai đứa nhỏ cười khúc khích, nhưng đồng ý cái tên.

Lev lớn dần lên và trở thành con chó nghịch ngợm, đáng yêu. Nó cực kỳ khôn, khi nó gặm giày của vợ anh, chỉ một lần bị đánh vào mỏm là từ đó nó bỏ tật. Anh đi uống cà phê, nó tung tăng chạy theo, nằm dưới chân anh, kê đầu vào đôi dép, mắt lung linh nhìn anh, ai cũng khen nó đẹp. Một vài năm sau, nó đã là một thành viên bé nhỏ thân thiết trong gia đình. Hình như nó hiểu từng tính nết của mỗi người. Với anh nó thuần phục, với các con anh nó nhí nhảnh, với vợ anh nó nhỏng nhẻo. Đặc biệt khi quán cà phê cóc không còn bán nữa, sáng sớm anh pha cà phê uống tại nhà, trong phòng ăn, nó vẫn nằm dưới chân anh, nhưng khi nghe có tiếng động ngoài cổng sắt, nó phóng vụt ra, và khi nó quay vào, nhìn anh ngoe nguẩy cái đuôi, anh có thể hiểu ý nó là gì. Nếu là người đi ghi điện nước sớm, nó sẽ đến, khều nhẹ vào chân anh, nếu có con chuột cống nào đó núp dưới chỗ đồng hồ nước, nó sẽ sủa vài tiếng, và nếu người giao báo hằng ngày, vứt tờ báo qua cổng, nó sẽ “gâu gâu” rất dễ thương. Anh nghĩ có lẽ giữa Lev và anh, dần thiết lập một sự giao cảm không cần qua ngôn ngữ.

Nhưng số Lev đen đủi. Dù anh đã chích ngừa đúng theo khuyến cáo từ Phòng thú y quận, sống với gia đình chưa tròn ba năm thì nó bị bệnh. Đầu tiên nó liệt một chân sau, dáng đi khập khiểng, sau đó liệt luôn chân còn lại, và dù anh đã ẳm nó đi rất nhiều bác sĩ thú y, chích nhiều loại thuốc, nó đã thành một con chó tàn tật. Từ ngày bệnh, Lev buồn rầu hẳn. Nó chọn một góc sân, nằm im, đôi mắt ướt buồn bã ít khi nhìn ra xa. Mùa hè, khi vợ và các con về quê, anh thức khuya đọc sách thường nghe nó khóc. Đúng, không phải tiếng rên vì đau, mà là tiếng khóc. Nó ư ử nhưng anh có thể cảm được cái tiếng đó thoát ra, cùng với những giọt nước mắt Lev đang rơi…

Anh thương nó, cả gia đình đều buồn, nhưng cũng đành chịu. Hai ngày anh tắm nó một lần, mua những loại dầu tắm thơm cho nó, với ý nghĩ, lỡ một ngày nó chết, cũng sẽ ra đi nhẹ nhàng, sạch sẽ.

Lại một mùa hè đến. Vợ và các con anh như thường lệ, thu xếp về quê. Bọn trẻ nhà anh không học thêm như bạn bè, anh muốn các con có một tuổi thơ đúng nghĩa. Nhà ngoại chúng ở miền Tây, có một khu vườn rộng, về quê giống như du lịch dã ngoại không tốn tiền, lại được nâng niu chiều chuộng, tại sao phải bắt chúng cắm đầu vào những bức tường ngột ngạt nơi thành phố?

Còn lại mình anh và con Lev. Bọn trẻ vừa đi thì bệnh nó càng nặng. Nó chỉ đủ sức liếm vào tay anh vài cái như hàm ơn khi anh tắm cho nó. Đôi mắt đầy ghèn, thân hình chỉ con da bọc xương. Rồi gần như nó không còn lết người đi được nữa, căn bệnh liệt quái ác chắc đã lan đến xương sống. Nhưng về đêm, chắc đau đớn lắm, nó rên rỉ rất nhiều, gần như cả đêm, bất kỳ lúc nào thức dậy, anh cũng nghe nó khóc, anh nghĩ nó sắp chết, và không biết sẽ chôn nó nơi đâu. Sài Gòn không có nơi chôn vật nuôi, thường phải nhờ những người thu gom rác, họ nói sẽ đem ra Hóc Môn, Củ Chi chôn giùm, với điều kiện gia chủ gửi cho họ một số tiền không nhỏ…

Một buổi sáng, chú Tư sống trong căn nhà trọ cách nhà anh mấy căn, một người đàn ông độc thân thường nhậu nhẹt nhưng cũng hiền lành, vừa thấy anh bước ra đã nói: “Nhà chú có con chó bệnh gần chết đúng không? Tui nghe nó rên rỉ cả đêm!” “Dạ đúng, nó bệnh nặng lắm rồi, em nghĩ nó sắp chết!”. Chú Tư không cần anh cho phép, bước vào sân, nhìn con chó nằm bẹp dí, nước dãi xì ra đầy miệng, nói: “Nó sắp chết rồi, hình như ngưng thở rồi nè”. Anh nói: “Chưa mà anh Tư, mới nghe nó rên” “Kiểu này chắc không sống được buổi sáng nay, tui đang rảnh, chú có cần chôn nó không, tui đi chôn nó cho!” “Nhưng nó chưa chết hẳn mà? “Gần rồi, nếu chú muốn nhờ thì tui làm giùm cho, đưa tui một trăm cà phê, mai tui không rảnh đâu”

Anh nhìn con Lev, đầu nó gục xuống tấm thảm. Mắt nó nhắm, thân hình hơi co giật. Chắc nó sắp chết. Nếu hôm nay không nhờ người đàn ông này, sáng mai lại năn nỉ mấy người thu gom rác, tiền nhiều hơn mà có khi họ còn không chịu mang đi.

Anh ngồi xuống, đụng khẻ vào nó. Nó vẫn nhắm mắt, không nhúc nhích. Anh chặt lưỡi: “Ừ, thôi anh Tư mang nó đi giùm. Nhớ chừng nào nó chết mới chôn nha anh Tư!” “Yên tâm, yên tâm. Nhà em gái tui ở Hóc Môn, bữa nay ra đó chơi mới làm giùm chú. Để tui về lấy cái bao”.

Anh vuốt tay trên đầu con Lev. Nó vẫn nằm yên. Chắc nó chết hoặc sắp chết thật rồi. Anh cố tự an ủi lương tâm mình. Người đàn ông đã quay lại với chiếc xe máy cà tàng . Anh không dám nhìn khi ông ta đưa con Lev vào cái bao tải, móc túi đưa cho ông một trăm ngàn.

Rảnh rổi, cả buổi anh ngồi cà phê với bạn bè. Trưa ăn cơm luôn tại quán. Anh không muốn về căn nhà vắng, giờ ngay cả con Lev cũng đã không còn.

Bốn giờ chiều, đang định về nhà tắm rửa thì điện thọai reo. Trung, bạn thân từ thời học đại học gọi. Giọng Trung hồ hỡi: “Mày chạy ngay ra sân bay. Quán Cây Xoài nghen. Thằng Tuấn mới lên, tao với nó đang chờ”.

Về nhà thì cũng không có ai. Thôi ra quán làm vài chai với bạn bè cũng được. Với lại lâu rồi cũng không gặp bạn bè cũ. Tuấn nghe nói vừa đổ vỡ gia đình. Không thể từ chối độ nhậu này rồi!

Anh chạy ra quán Cây Xoài. Quán thịt chó bình dân nổi danh Sài Gòn mà thời sinh viên ít tiền bọn anh vẫn ghé. Tuấn và Trung đã chờ sẵn, có thêm một người bạn mới. Mồi nhậu, bia đã đầy bàn. Tay bắt mặt mừng xong, vừa ngồi xuống anh nghe mắc tiểu vì hình như trưa đến giờ quên đi. Anh nói: “Tao đi rửa mặt chút, sáng giờ chưa về nhà”. Trung cười vang: “Tao biết, vợ mày dẫn mấy đứa nhỏ về quê đúng không, sáng giờ em út chớ gì!”.

Anh bước ra sau. Toilet phải đi ngang qua bếp. Anh vào đi tiểu, cảm thấy nhẹ nhàng. Anh bước ra, dừng lại chỗ lavabo. Đang rửa mặt anh bỗng giật mình nghe tiếng rên rỉ quen thuộc nơi chuồng nhốt những con chó chờ giết mổ. Chưa quay lại anh đã bàng hoàng. Rồi anh cũng quay lại, bước từng bước đến cái chuồng nhốt bốn năm con chó. Trời ơi, anh như xây xẩm mặt mày. Trước mắt anh, trong cái chuồng chật hẹp và dơ bẩn bằng sắt, con Lev đang nằm đó. Nó đã nhận ra anh, nó đang giương đôi mắt đục lờ đờ nhìn anh, miệng nó đầy nhải nhớt nhưng vẫn còn đủ sức rên khe khẻ. Từ trong đôi mắt không còn sinh khí đó, một giọt nước mắt chó rơi ra…

Anh trân trối nhìn con chó của mình. Rồi anh bước vụt ra, suýt va vào người thanh niên phục vụ đang bước vào. Anh đi lướt qua bàn bạn bè, nói với lại “Tao có một cuộc gọi rất quan trọng. Xin lỗi bọn mày, tao phải về đây!”

Anh lao xe ra khỏi quán, anh không biết chạy đi đâu!

Nguyễn Đình Bổn

Chạm Thu

nguyenlienchau

Chạm thu, lòng gợn heo may
Nghe thời gian đọng hai tay lá vàng
Se se gió gọi mùa sang
Trường ơi nỗi nhớ lỡ làng cúc xưa

Chạm thu, chao cánh chim thơ
Rót từng âm vọng xuống mùa buồn tênh
Ngờ tình đã ngủ vào quên
Đâu hay thu vẫn lênh đênh tóc người

Chạm thu, nắng úa hiên ngồi
Vàng phai ngọn lá ngang trời nhớ thương
Chiều nay áo trắng lạ thường
Cúc xưa giờ nở lạc vườn nhà ai?

Em xa, như tiếng thở dài
Đường tôi quạnh quẽ hai vai cỏ gầy
Xin mùa thôi bớt heo may
Vàng nguyên cúc nhớ những ngày chạm thu.

Nguyễn Liên Châu

TIỄN BIỆT

nguyensa

Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi
Muôn vị hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi

Người về trên một giòng sông xanh
Trên một con tàu hay một ga mông mênh
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh

Sao người đi sâu vào không gian trong
Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông
Và sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song

Người về chiều nắng hay đêm sương
Người về đò dọc hay đò ngang
Câu thơ sẽ là lời hò hẹn
Nhưng nói làm gì tôi xin khoan

Nhưng người về đâu, người về đâu
Để nước sông Seine bỡ ngỡ chảy quanh cầu
Sao người không là vì sao nhỏ
Để cho tôi nhìn trong đêm thâu

Sao người không là một cung đàn
Cho lòng tôi mềm trong tiếng than
Khi trăng chảy lạnh từng chân tóc
Khi gió se trùng muôn không gian

Sao người không là một con đường
Sao tôi không là một ga nhỏ
Mà cũng có những giờ gặp gỡ
Cũng có những giờ chia tan?

Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui
Áo không có màu nên áo cũng chưa phai
Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ:
Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

NGUYÊN SA

Mãi dâng cho đời bài tình ca Đất Phương Nam.

phamhoainhan

Tui ngồi buồn, làm toán cộng toán trừ thì thấy vầy:
Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh được ghi là bắt đầu từ năm 1627, lấy sông Gianh chia đôi Đàng Ngoài và Đàng Trong. Thiệt ra là cuộc phân tranh có từ trước đó nữa – chắc là năm 1600, khi Nguyễn Hoàng trốn về Nam, không theo lệnh Trịnh Tùng nữa. Nhưng thôi, cứ lấy mốc 1627 khi có con sông chia đôi đất nước vậy.
Ta cũng lấy luôn mốc 1627 là mốc khởi đầu của Nam bộ đi cho gọn, vì cùng lúc đó các chúa Nguyễn mới mở mang bờ cõi về phương Nam, còn trước đó làm gì có!

Từ đó, cho dù lưu dân Nam bộ có gốc gác từ Đàng Ngoài, nhưng các thế hệ người dân lớn lên mà không hề có sự giao tiếp văn hóa với phía Bắc, bởi vì đôi miền đã bị ngăn cách bởi sông Gianh. Điều này kéo dài mãi tới năm 1802, khi Gia Long thống nhất giang sơn. 1802 trừ đi 1627 là 175 năm. Trong 175 năm đó vì không có giao lưu văn hóa, nên nếp sống, tâm tính, suy nghĩ của cư dân Nam bộ đâu có giống Bắc bộ.

Cứ tạm cho là trong triều đại nhà Nguyễn đất nước thống nhất đi, Bắc Trung Nam cùng nhau gặp gỡ đi, thì thời kỳ kéo dài bao lâu?
– Tới năm 1858 Pháp đã xâm lược Việt Nam. 1862 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông. 1867 chiếm tiếp 3 tỉnh miền Tây. Từ 1867 Nam kỳ là xứ thuộc địa, nghĩa là tách hẳn ra khỏi Bắc và Trung, giống như là một đất nước khác, theo chính sách chia để trị của Pháp. Nếu tính mốc 1867 thì thời kỳ 2 miền Nam Bắc giao lưu văn hóa tự do với nhau là 1867 – 1802 = 65 năm.
– Thời kỳ thuộc địa Nam kỳ theo sử sách là tới năm 1945, là năm độc lập. Thế nhưng thật ra ngay sau đó vẫn là chiến tranh và 2 miền không thông thương được mãi cho đến 1954. Rồi từ 1954 đến 1975 vẫn là phân chia Nam – Bắc. 1975 – 1867 = 108 năm. Hơn một thế kỷ ấy, Nam vẫn đi đường Nam, Bắc đi đường Bắc.
– Tính suốt từ 1627 tới 1975 là 348 năm thì có tới 283 năm miền Nam được sinh ra và lớn lên tách biệt hẳn với miền Bắc, chỉ có 65 năm có giao lưu văn hóa mà thôi.
– Nếu tính tới bây giờ, 40 năm thống nhất đất nước thì có 105 năm giao lưu văn hóa Bắc Nam và tới 283 năm không có giao lưu, gần gấp 3 lần!

Tui không nói miền Bắc tốt hơn hay miền Nam tốt hơn, Hà Nội văn minh hơn hay Sài Gòn văn minh hơn. Tui chỉ muốn nói là với thời gian cách biệt lâu như vậy thì Nam là Nam, Bắc là Bắc, đâu có giống nhau đâu!

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”

Dạ, hổng dám cãi, Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một chắc chắn đúng rồi, nhưng trong nước Việt Nam ấy thì Nam là Nam, Bắc là Bắc, phải hông à?

Còn hỏi rằng tui thích Nam hay thích Bắc, thì tui là dân Nam bộ, câu trả lời dễ biết quá mà!

Phạm Hoài Nhân ‘s blog

THÁNG BẢY VÀNG ÚA

trananh

tháng Bảy đưa một nhát kéo
cắt phăng bức tranh kỷ niệm
em đã nằm ngoài khung ảnh
một nửa gương mặt màu
thủy tinh xanh

tháng Bảy chảy một dòng sâu
xác hoa khô gầy tan dưới gót
mùa hạ tròn như viên bi ve
lăn trên bàn tay nhói buốt

tháng Bảy nhổ mảnh – dằm – dĩ – vãng
quằn – quại – trong – xương
một nửa của Khổ đau
có lẽ đâu lại là
Hạnh phúc ?
bằng một nửa lòng thủy chung
vàng úa
em tưới anh
những tia nhìn
đằm đìa
phản trắc.

Trần Anh

GHI VỘI Ở ĐÀ NẴNG

trandzalu

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Giữa vô biên treo phận người hữu hạn
Mà mắt nhìn tha thiết đến trăm năm…

Em nhỏ nhẹ nói cười nơi cố quận
Sao nao lòng đến cả nắng phương nam?
Anh cũng chết bên bến bờ mộng mị
Khi sông Hàn còn dậy sóng đa đoan!

Một hai bữa bên áo người xanh thẳm
Cũng đủ một đời sông suối trôi đi
Em thầm thì đến nghìn khuya thương nhớ
Để ai kia bóng lạnh quán kinh kỳ…

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Mai ra đi chắc là sẽ rất buồn
Buồn lây cả mắt môi người ở lại…

Trần Dzạ Lữ