Nước có còn xanh

lesa

Nụ hôn em quá mỏng
Sao ướt mãi đời nhau
Đêm gối đầu xác chữ
Đắng từng hạt chiêm bao

Nước xanh rứt một dòng
Một dòng xanh mặc thẳm
Ta con thuyền úp mặt
Đằm vết chém trăm năm.
Đêm chập chùng vó dựng
Người xưa ơi đâu rồi

LÊ SA

Tháng Bảy Thưa Em Thơ Tháng Bảy

tranvanle

Tháng Bảy đang đi vào cuối tháng
Trời buồn có vẻ sắp sang Thu
Lá vàng lác đác rơi đây đó
Con ngõ buồn hiu…nhớ một người!

Tháng Bảy hàng năm…là tháng Bảy
Lòng mình tháng Bảy đã bao năm?
Cau vườn Nam Phổ chừ đang chín
Mộ Ngoại, cau rơi lót chỗ nằm?

Tháng Bảy hẹn nhau về với Huế
Bạn bè…lác đác lá vàng rơi
Thương sao những nụ hoa còn nở
Mà thiếu từ lâu những nụ cười!

Tháng Bảy, thưa em trời tháng Bảy
Thưa trời không nỡ, cứ thưa em!
Em là nỗi-nhớ-hoài-nguyên-vẹn
Và mỗi ngày anh một nhớ thêm!

Tháng Bảy đìu hiu cánh cửa phòng
Mở ra, trời đất vẫn mênh mông
Bao la, thấy Huế dòng Hương Thủy
Thấy những con thuyền chở ngập trăng!

Tháng Bảy, thưa em Thơ-Tháng-Bảy
Anh làm cho Nguyệt-Mỗi-Bình-Minh
Sáng nay làm vậy nghe mình khóc
Không phải! Chuông Chùa bay tiếng Kinh…

Tháng Bảy, chuông Chùa bay rất xa
Rồi tan, tan mất cuối sơn hà
Đầu non cuối biển nằm trong mắt
Anh gửi về em một đóa hoa!

Trần Vấn Lệ

NGHÌN NĂM BIẾT CÓ NGHÌN NĂM NỮA.

phamkhanhvu

Có khi tôi ngủ mà tôi biết
Cũng có khi lòng tôi dửng dưng
Buổi sáng mang thùng ra tưới đất
Đất cười một nụ quá ung dung

Cũng có khi lòng tôi rách rưới
Buổi chiều mây khói tụ sau nhà
Tôi nhớ người như tôi nhớ bóng
Tôi đứng một mình tôi hát ca

Có khi tôi thức tôi không biết
Con mắt tròn xoe trong bóng đêm
Vượn hú đâu mà nghe ảo não
Tôi khóc vùi cùng nỗi êm đềm

Có hôm mang vở lên trường học
Tôi ngủ quên trời đất cay nồng
Tôi mơ tôi bước ra đời sống
Giật mình thức dậy hóa ra không

Tháng ngày tôi xếp vào trong gối
Tôi mộng hàng đêm rất tự nhiên
Tôi bước trong đời không có thực
Nên suốt đời chỉ thấy ưu phiền

Khi tôi thong dong nằm nghe nhạc
Tôi tưởng người ấm áp bên mình
Nhạc ru từng nỗi buồn cao thấp
Tôi ru người bằng mộng tinh anh

Có hôm ra trước sân nhà vắng
Tôi ngó trăng và trăng ngó tôi
Một lúc tôi nghe đầu choáng váng
Tôi khóc mà trăng cứ mỉm cười

Cứ uống cà phê là bỗng nhớ
Tôi nằm chết ngất giữa tình say
Tôi cười có lúc tôi không biết
Cho nắng bò lên mỗi ngón tay

Có lúc tôi ôm đầu tôi hát
Tôi hát và tôi êm ái nghe
Đời nhiều khi buồn như mây nổi
Từ độ nào tim lạc lối về

Nhiều lúc tôi bực mình muốn khóc
Tôi hỏi tôi này hai mươi năm
Bao nhiêu ngày tháng mòn trên tóc
Chẳng lúc nào vui cứ mãi buồn

Có hôm tôi đứng bên bờ suối
Nước trôi mà tôi thì đứng im
Cành thông gió tạt còn nghiêng ngã
Tôi đứng mình tôi rất tự nhiên

Tôi cứ vô tình tôi không biết
Tôi đứng mong manh giữa cuộc đời
Lũ chim ngu dốt òa lên khóc
Tôi ngã vào dòng nước chảy xuôi

Một ngày tôi đứng quay đầu lại
Bên kia là rừng núi điệp trùng
Bên này cả đời tôi sóng vỗ
Sóng vỗ nghìn năm rất dửng dưng

Tôi ở giữa đời tôi lạc lõng
Người bỏ đi rồi ai nữa đâu
Tôi hái hoa vàng tôi khóc lóc
Còn lại chút gì để nhớ nhau

Có khi tôi gọi người rền rĩ
Người ơi người xa biệt chốn nào
Tháng ngày tôi chất vào trong bếp
Tôi đốt cho lòng tôi bớt đau

Tôi đi hiu quạnh trong đời sống
Có ai về dìu lại bước chân
Nghìn năm rồi có nghìn năm nữa
Tôi vẫn ngồi ôm suốt căn phần

Chắc rồi tôi chết tôi không biết
Sớm mai này xin chớ ai buồn
Cho tôi hổ thẹn về với đất
Tháng ngày còn lại ném sau lưng…

PHẠM KHÁNH VŨ (1974)

LEV.

nguyendinhbon

Nhân cách là thứ mà con người cần cấp thiết bảo tồn

Lev mang hai dòng máu Việt- Nhật. Cha nó là con chó cỏ, mẹ nó là nàng tiểu thư Nhật rất dễ thương. Chủ của cả cha và mẹ nó đều là hàng xóm nhà anh. Cái hẻm rộng tiếp giáp với con đường lớn nơi anh ở có đủ thành phần. Những căn nhà được phân lô trước năm 1975 thường có một cái sân rộng. Thành phố dần thay đổi, những người nghèo bán nhà cho những người khá hơn, thường ở phía Bắc vào để “di cư” ra ngoại ô nhưng cũng có những người “bám trụ” ở lại. Anh sống trong căn nhà thừa kế từ cha mẹ. Quanh anh hàng xóm đủ mọi thành phần nhưng có một điểm chung: ai cũng thích nuôi chó. Tùy theo thu nhập, các gia đình giàu nuôi đủ giống chó từ Nhật, Trung Quốc, Mỹ… có giá trị vài triệu đến vài chục triệu một con, nhưng cũng có những gia đình sống lâu năm tại đây, còn giữ mối quan hệ với những vùng quê, nuôi những con chó Việt.

Sống điềm đạm, anh có mối quan hệ tốt với tất cả mọi người, cố gắng tránh xung đột với hàng xóm. Trước đây nhà anh cũng nuôi chó, một con chó của bạn bè cho, chẳng biết thuộc giống gì vì nó có bộ lông màu vàng, hơi xù nhưng khá cao lớn. Một buổi sáng, khi vừa mở cửa, con chó lách cổng chạy ra ngoài, nghe vù một cái, ẳng một tiếng cùng tiếng xe máy rồ ga, con chó biến mất trước mắt anh!

Vợ không nói gì, hai đứa con buồn hết mấy buổi, rồi cũng thôi, xung quanh hàng xóm, nạn trộm chó vẫn diễn ra hằng ngày.

Định không nuôi nữa thì một sáng Chủ nhật uống cà phê cóc trước hẻm, Nhân, một hàng xóm trẻ người Bắc, làm việc trong sân bay, mới về ở trong xóm mấy năm nói với anh: “Con chó nhà em nó “lỡ dại” với con chó nhà bên cạnh, đẻ ra một lứa không thuần, em tặng bác một con, bác nuôi cho vui nhé!”. Chó nhà Nhân là loại chó Nhật, trắng muốt, xinh xắn, vợ chồng Nhân cưng nựng như con, đi đâu cũng chở theo trên chiếc tay ga đời mới, không biết tại sao lại đi “tò te” với mấy con chó cỏ thường chạy nhong nhong ngoài đường, và hậu quả là một đàn con loang lổ, vàng vện đủ màu!

Ngay trưa hôm đó, Nhân mang qua cho anh một con chó nhỏ, bộ lông đốm trắng đen pha tạp nhưng dễ thương như mọi chó con trên đời, vừa thấy nó các con anh thích liền. Anh nhận, cám ơn Nhân.

Anh mê văn chương cổ điển Nga, nên khi các con hỏi đặt tên gì, anh nghĩ ngay đến Lev Tolstoi, và nói tên là “Lev”. Các con anh hỏi “lev” nghĩa là gì, anh nói nghĩa là sư tử. Nhìn con chó nhỏ xíu, rằn ri, hai đứa nhỏ cười khúc khích, nhưng đồng ý cái tên.

Lev lớn dần lên và trở thành con chó nghịch ngợm, đáng yêu. Nó cực kỳ khôn, khi nó gặm giày của vợ anh, chỉ một lần bị đánh vào mỏm là từ đó nó bỏ tật. Anh đi uống cà phê, nó tung tăng chạy theo, nằm dưới chân anh, kê đầu vào đôi dép, mắt lung linh nhìn anh, ai cũng khen nó đẹp. Một vài năm sau, nó đã là một thành viên bé nhỏ thân thiết trong gia đình. Hình như nó hiểu từng tính nết của mỗi người. Với anh nó thuần phục, với các con anh nó nhí nhảnh, với vợ anh nó nhỏng nhẻo. Đặc biệt khi quán cà phê cóc không còn bán nữa, sáng sớm anh pha cà phê uống tại nhà, trong phòng ăn, nó vẫn nằm dưới chân anh, nhưng khi nghe có tiếng động ngoài cổng sắt, nó phóng vụt ra, và khi nó quay vào, nhìn anh ngoe nguẩy cái đuôi, anh có thể hiểu ý nó là gì. Nếu là người đi ghi điện nước sớm, nó sẽ đến, khều nhẹ vào chân anh, nếu có con chuột cống nào đó núp dưới chỗ đồng hồ nước, nó sẽ sủa vài tiếng, và nếu người giao báo hằng ngày, vứt tờ báo qua cổng, nó sẽ “gâu gâu” rất dễ thương. Anh nghĩ có lẽ giữa Lev và anh, dần thiết lập một sự giao cảm không cần qua ngôn ngữ.

Nhưng số Lev đen đủi. Dù anh đã chích ngừa đúng theo khuyến cáo từ Phòng thú y quận, sống với gia đình chưa tròn ba năm thì nó bị bệnh. Đầu tiên nó liệt một chân sau, dáng đi khập khiểng, sau đó liệt luôn chân còn lại, và dù anh đã ẳm nó đi rất nhiều bác sĩ thú y, chích nhiều loại thuốc, nó đã thành một con chó tàn tật. Từ ngày bệnh, Lev buồn rầu hẳn. Nó chọn một góc sân, nằm im, đôi mắt ướt buồn bã ít khi nhìn ra xa. Mùa hè, khi vợ và các con về quê, anh thức khuya đọc sách thường nghe nó khóc. Đúng, không phải tiếng rên vì đau, mà là tiếng khóc. Nó ư ử nhưng anh có thể cảm được cái tiếng đó thoát ra, cùng với những giọt nước mắt Lev đang rơi…

Anh thương nó, cả gia đình đều buồn, nhưng cũng đành chịu. Hai ngày anh tắm nó một lần, mua những loại dầu tắm thơm cho nó, với ý nghĩ, lỡ một ngày nó chết, cũng sẽ ra đi nhẹ nhàng, sạch sẽ.

Lại một mùa hè đến. Vợ và các con anh như thường lệ, thu xếp về quê. Bọn trẻ nhà anh không học thêm như bạn bè, anh muốn các con có một tuổi thơ đúng nghĩa. Nhà ngoại chúng ở miền Tây, có một khu vườn rộng, về quê giống như du lịch dã ngoại không tốn tiền, lại được nâng niu chiều chuộng, tại sao phải bắt chúng cắm đầu vào những bức tường ngột ngạt nơi thành phố?

Còn lại mình anh và con Lev. Bọn trẻ vừa đi thì bệnh nó càng nặng. Nó chỉ đủ sức liếm vào tay anh vài cái như hàm ơn khi anh tắm cho nó. Đôi mắt đầy ghèn, thân hình chỉ con da bọc xương. Rồi gần như nó không còn lết người đi được nữa, căn bệnh liệt quái ác chắc đã lan đến xương sống. Nhưng về đêm, chắc đau đớn lắm, nó rên rỉ rất nhiều, gần như cả đêm, bất kỳ lúc nào thức dậy, anh cũng nghe nó khóc, anh nghĩ nó sắp chết, và không biết sẽ chôn nó nơi đâu. Sài Gòn không có nơi chôn vật nuôi, thường phải nhờ những người thu gom rác, họ nói sẽ đem ra Hóc Môn, Củ Chi chôn giùm, với điều kiện gia chủ gửi cho họ một số tiền không nhỏ…

Một buổi sáng, chú Tư sống trong căn nhà trọ cách nhà anh mấy căn, một người đàn ông độc thân thường nhậu nhẹt nhưng cũng hiền lành, vừa thấy anh bước ra đã nói: “Nhà chú có con chó bệnh gần chết đúng không? Tui nghe nó rên rỉ cả đêm!” “Dạ đúng, nó bệnh nặng lắm rồi, em nghĩ nó sắp chết!”. Chú Tư không cần anh cho phép, bước vào sân, nhìn con chó nằm bẹp dí, nước dãi xì ra đầy miệng, nói: “Nó sắp chết rồi, hình như ngưng thở rồi nè”. Anh nói: “Chưa mà anh Tư, mới nghe nó rên” “Kiểu này chắc không sống được buổi sáng nay, tui đang rảnh, chú có cần chôn nó không, tui đi chôn nó cho!” “Nhưng nó chưa chết hẳn mà? “Gần rồi, nếu chú muốn nhờ thì tui làm giùm cho, đưa tui một trăm cà phê, mai tui không rảnh đâu”

Anh nhìn con Lev, đầu nó gục xuống tấm thảm. Mắt nó nhắm, thân hình hơi co giật. Chắc nó sắp chết. Nếu hôm nay không nhờ người đàn ông này, sáng mai lại năn nỉ mấy người thu gom rác, tiền nhiều hơn mà có khi họ còn không chịu mang đi.

Anh ngồi xuống, đụng khẻ vào nó. Nó vẫn nhắm mắt, không nhúc nhích. Anh chặt lưỡi: “Ừ, thôi anh Tư mang nó đi giùm. Nhớ chừng nào nó chết mới chôn nha anh Tư!” “Yên tâm, yên tâm. Nhà em gái tui ở Hóc Môn, bữa nay ra đó chơi mới làm giùm chú. Để tui về lấy cái bao”.

Anh vuốt tay trên đầu con Lev. Nó vẫn nằm yên. Chắc nó chết hoặc sắp chết thật rồi. Anh cố tự an ủi lương tâm mình. Người đàn ông đã quay lại với chiếc xe máy cà tàng . Anh không dám nhìn khi ông ta đưa con Lev vào cái bao tải, móc túi đưa cho ông một trăm ngàn.

Rảnh rổi, cả buổi anh ngồi cà phê với bạn bè. Trưa ăn cơm luôn tại quán. Anh không muốn về căn nhà vắng, giờ ngay cả con Lev cũng đã không còn.

Bốn giờ chiều, đang định về nhà tắm rửa thì điện thọai reo. Trung, bạn thân từ thời học đại học gọi. Giọng Trung hồ hỡi: “Mày chạy ngay ra sân bay. Quán Cây Xoài nghen. Thằng Tuấn mới lên, tao với nó đang chờ”.

Về nhà thì cũng không có ai. Thôi ra quán làm vài chai với bạn bè cũng được. Với lại lâu rồi cũng không gặp bạn bè cũ. Tuấn nghe nói vừa đổ vỡ gia đình. Không thể từ chối độ nhậu này rồi!

Anh chạy ra quán Cây Xoài. Quán thịt chó bình dân nổi danh Sài Gòn mà thời sinh viên ít tiền bọn anh vẫn ghé. Tuấn và Trung đã chờ sẵn, có thêm một người bạn mới. Mồi nhậu, bia đã đầy bàn. Tay bắt mặt mừng xong, vừa ngồi xuống anh nghe mắc tiểu vì hình như trưa đến giờ quên đi. Anh nói: “Tao đi rửa mặt chút, sáng giờ chưa về nhà”. Trung cười vang: “Tao biết, vợ mày dẫn mấy đứa nhỏ về quê đúng không, sáng giờ em út chớ gì!”.

Anh bước ra sau. Toilet phải đi ngang qua bếp. Anh vào đi tiểu, cảm thấy nhẹ nhàng. Anh bước ra, dừng lại chỗ lavabo. Đang rửa mặt anh bỗng giật mình nghe tiếng rên rỉ quen thuộc nơi chuồng nhốt những con chó chờ giết mổ. Chưa quay lại anh đã bàng hoàng. Rồi anh cũng quay lại, bước từng bước đến cái chuồng nhốt bốn năm con chó. Trời ơi, anh như xây xẩm mặt mày. Trước mắt anh, trong cái chuồng chật hẹp và dơ bẩn bằng sắt, con Lev đang nằm đó. Nó đã nhận ra anh, nó đang giương đôi mắt đục lờ đờ nhìn anh, miệng nó đầy nhải nhớt nhưng vẫn còn đủ sức rên khe khẻ. Từ trong đôi mắt không còn sinh khí đó, một giọt nước mắt chó rơi ra…

Anh trân trối nhìn con chó của mình. Rồi anh bước vụt ra, suýt va vào người thanh niên phục vụ đang bước vào. Anh đi lướt qua bàn bạn bè, nói với lại “Tao có một cuộc gọi rất quan trọng. Xin lỗi bọn mày, tao phải về đây!”

Anh lao xe ra khỏi quán, anh không biết chạy đi đâu!

Nguyễn Đình Bổn

Chạm Thu

nguyenlienchau

Chạm thu, lòng gợn heo may
Nghe thời gian đọng hai tay lá vàng
Se se gió gọi mùa sang
Trường ơi nỗi nhớ lỡ làng cúc xưa

Chạm thu, chao cánh chim thơ
Rót từng âm vọng xuống mùa buồn tênh
Ngờ tình đã ngủ vào quên
Đâu hay thu vẫn lênh đênh tóc người

Chạm thu, nắng úa hiên ngồi
Vàng phai ngọn lá ngang trời nhớ thương
Chiều nay áo trắng lạ thường
Cúc xưa giờ nở lạc vườn nhà ai?

Em xa, như tiếng thở dài
Đường tôi quạnh quẽ hai vai cỏ gầy
Xin mùa thôi bớt heo may
Vàng nguyên cúc nhớ những ngày chạm thu.

Nguyễn Liên Châu

TIỄN BIỆT

nguyensa

Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi
Muôn vị hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi

Người về trên một giòng sông xanh
Trên một con tàu hay một ga mông mênh
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh

Sao người đi sâu vào không gian trong
Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông
Và sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song

Người về chiều nắng hay đêm sương
Người về đò dọc hay đò ngang
Câu thơ sẽ là lời hò hẹn
Nhưng nói làm gì tôi xin khoan

Nhưng người về đâu, người về đâu
Để nước sông Seine bỡ ngỡ chảy quanh cầu
Sao người không là vì sao nhỏ
Để cho tôi nhìn trong đêm thâu

Sao người không là một cung đàn
Cho lòng tôi mềm trong tiếng than
Khi trăng chảy lạnh từng chân tóc
Khi gió se trùng muôn không gian

Sao người không là một con đường
Sao tôi không là một ga nhỏ
Mà cũng có những giờ gặp gỡ
Cũng có những giờ chia tan?

Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui
Áo không có màu nên áo cũng chưa phai
Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ:
Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

NGUYÊN SA

Mãi dâng cho đời bài tình ca Đất Phương Nam.

phamhoainhan

Tui ngồi buồn, làm toán cộng toán trừ thì thấy vầy:
Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh được ghi là bắt đầu từ năm 1627, lấy sông Gianh chia đôi Đàng Ngoài và Đàng Trong. Thiệt ra là cuộc phân tranh có từ trước đó nữa – chắc là năm 1600, khi Nguyễn Hoàng trốn về Nam, không theo lệnh Trịnh Tùng nữa. Nhưng thôi, cứ lấy mốc 1627 khi có con sông chia đôi đất nước vậy.
Ta cũng lấy luôn mốc 1627 là mốc khởi đầu của Nam bộ đi cho gọn, vì cùng lúc đó các chúa Nguyễn mới mở mang bờ cõi về phương Nam, còn trước đó làm gì có!

Từ đó, cho dù lưu dân Nam bộ có gốc gác từ Đàng Ngoài, nhưng các thế hệ người dân lớn lên mà không hề có sự giao tiếp văn hóa với phía Bắc, bởi vì đôi miền đã bị ngăn cách bởi sông Gianh. Điều này kéo dài mãi tới năm 1802, khi Gia Long thống nhất giang sơn. 1802 trừ đi 1627 là 175 năm. Trong 175 năm đó vì không có giao lưu văn hóa, nên nếp sống, tâm tính, suy nghĩ của cư dân Nam bộ đâu có giống Bắc bộ.

Cứ tạm cho là trong triều đại nhà Nguyễn đất nước thống nhất đi, Bắc Trung Nam cùng nhau gặp gỡ đi, thì thời kỳ kéo dài bao lâu?
– Tới năm 1858 Pháp đã xâm lược Việt Nam. 1862 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông. 1867 chiếm tiếp 3 tỉnh miền Tây. Từ 1867 Nam kỳ là xứ thuộc địa, nghĩa là tách hẳn ra khỏi Bắc và Trung, giống như là một đất nước khác, theo chính sách chia để trị của Pháp. Nếu tính mốc 1867 thì thời kỳ 2 miền Nam Bắc giao lưu văn hóa tự do với nhau là 1867 – 1802 = 65 năm.
– Thời kỳ thuộc địa Nam kỳ theo sử sách là tới năm 1945, là năm độc lập. Thế nhưng thật ra ngay sau đó vẫn là chiến tranh và 2 miền không thông thương được mãi cho đến 1954. Rồi từ 1954 đến 1975 vẫn là phân chia Nam – Bắc. 1975 – 1867 = 108 năm. Hơn một thế kỷ ấy, Nam vẫn đi đường Nam, Bắc đi đường Bắc.
– Tính suốt từ 1627 tới 1975 là 348 năm thì có tới 283 năm miền Nam được sinh ra và lớn lên tách biệt hẳn với miền Bắc, chỉ có 65 năm có giao lưu văn hóa mà thôi.
– Nếu tính tới bây giờ, 40 năm thống nhất đất nước thì có 105 năm giao lưu văn hóa Bắc Nam và tới 283 năm không có giao lưu, gần gấp 3 lần!

Tui không nói miền Bắc tốt hơn hay miền Nam tốt hơn, Hà Nội văn minh hơn hay Sài Gòn văn minh hơn. Tui chỉ muốn nói là với thời gian cách biệt lâu như vậy thì Nam là Nam, Bắc là Bắc, đâu có giống nhau đâu!

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”

Dạ, hổng dám cãi, Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một chắc chắn đúng rồi, nhưng trong nước Việt Nam ấy thì Nam là Nam, Bắc là Bắc, phải hông à?

Còn hỏi rằng tui thích Nam hay thích Bắc, thì tui là dân Nam bộ, câu trả lời dễ biết quá mà!

Phạm Hoài Nhân ‘s blog

THÁNG BẢY VÀNG ÚA

trananh

tháng Bảy đưa một nhát kéo
cắt phăng bức tranh kỷ niệm
em đã nằm ngoài khung ảnh
một nửa gương mặt màu
thủy tinh xanh

tháng Bảy chảy một dòng sâu
xác hoa khô gầy tan dưới gót
mùa hạ tròn như viên bi ve
lăn trên bàn tay nhói buốt

tháng Bảy nhổ mảnh – dằm – dĩ – vãng
quằn – quại – trong – xương
một nửa của Khổ đau
có lẽ đâu lại là
Hạnh phúc ?
bằng một nửa lòng thủy chung
vàng úa
em tưới anh
những tia nhìn
đằm đìa
phản trắc.

Trần Anh

GHI VỘI Ở ĐÀ NẴNG

trandzalu

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Giữa vô biên treo phận người hữu hạn
Mà mắt nhìn tha thiết đến trăm năm…

Em nhỏ nhẹ nói cười nơi cố quận
Sao nao lòng đến cả nắng phương nam?
Anh cũng chết bên bến bờ mộng mị
Khi sông Hàn còn dậy sóng đa đoan!

Một hai bữa bên áo người xanh thẳm
Cũng đủ một đời sông suối trôi đi
Em thầm thì đến nghìn khuya thương nhớ
Để ai kia bóng lạnh quán kinh kỳ…

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Mai ra đi chắc là sẽ rất buồn
Buồn lây cả mắt môi người ở lại…

Trần Dzạ Lữ

CƯỠI NGỌN SẤM (13)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 8

Đoạn kết của một khởi đầu

Cuối hè 1967

Quyết định của Đại úy John Ripley để Trung sĩ mới thăng cấp Chuck Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 sau biến cố đầu tháng Tư, cái sự kiện đã làm thiệt mạng vị Trung đội trưởng cũ, cho đến hết nhiệm vụ tác chiến của anh không phải do muốn tiết kiệm tiền thuế hay do lòng thận trọng. Mặc dù người thọ thuế Mỹ, nhất là binh đoàn TQLC có thể tiết kiệm được khoản tiền lương sai biệt 109,50 đô-la mỗi tháng (thời giá năm 1967) giữa một Trung sĩ và một Thiếu úy trong vòng năm tháng trời, John Ripley đã quyết định điều này vì anh nhận ra tài năng của Chuck Goggin.

Trở về từ Hawaii

Mặc dù đã trải qua những thời gian hạnh phúc và lãng mạn trong khoảng thời gian 115 tiếng đồng hồ đầu của thời hạn 120 giờ, tạm xa vắng cái viễn ảnh khủng khiếp là John Ripley có thể bị thiệt mạng trong địa ngục của Vùng I Chiến Thuật, nhưng những giây phút cuối cùng tại Honolulu đã khiến cho cặp tình nhân trẻ trở về với cái thực tế không hay. Khi họ trở lại trung tâm tiếp đón của trại Ft. DeRussy để từ giã nhau, John và Moline Ripley, giống như các cặp khác, đều ý thức rằng vòng tay ôm cuối cùng có thể sẽ là một nụ hôn, một vòng tay ôm hay một lời nói “anh yêu em” cho một lần cuối. Trong giây phút cuối, nỗi đau khổ của biệt ly dường như đã xóa đi khoảng thời gian sung sướng và hạnh phúc ban đầu, hoặc lấn áp luôn cả chúng nữa.

Lúc này thì bề ngoài họ có vẻ săn dòn hơn lúc mới đến, da dẻ bị cháy nắng lẫn với những khoảng da bị sạm đen đi. Họ không còn ngượng ngùng trong những bộ đồ thời trang lòe loẹt aloha nữa và rất tự nhiên như ở nhà vậy. Tuy nhiên nỗi sầu biệt ly khá hiển nhiên ai cũng có thể nhận ra được. Những giọt lệ rơi và tiếng nức nở chỉ làm tạm nguôi ngoai cõi lòng đứt ruột của họ.

Theo qui lệ thì các chàng trai ra đi trước, cũng bằng những chiếc xe buýt tại trại Ft. DeRussy mà chẳng bao lâu trước đó mới đổ xuống bến những quân nhân và TQLC còn tươi tỉnh để họ bắt đầu một qui trình y hệt như những người kém hạnh phúc hơn vừa chấm dứt xong kỳ nghỉ phép của họ. Tại đúng cái chỗ mà năm ngày trước “aloha” có nghĩa là “chào mừng,” nơi mà mùi hương vòng hoa leis cùng với mùi nước hoa xức đặc biệt, cũng cái chốn mà nhạc Hawaii cùng hòa quyện với nhau để nói lên ý nghĩa chờ đợi những giây phút hạnh phúc, thì nay tất cả những sự kiện đó lại làm cho chữ “aloha” đổi nghĩa thành “tạm biệt.”

Từ Waikiki các quân nhân đi ngược về hướng phi trường. Chuyến xe đưa họ, lẻ bóng một mình, đi trở qua các địa điểm mà chỉ vài ngày trước họ đã xây dựng biết bao nhiêu là kỷ niệm trìu mến. Sau đó thì họ đáp các chuyến bay bao thuê dân sự mới đến vài giờ trước đó từ Việt Nam sang. Quang cảnh chung trên các chuyến bay về hướng Tây chẳng có gì là vui vẻ cả. Ít ra thì Đại úy Ripley còn có dịp tâm sự với vài người bạn mà anh mới quen trong chuyến bay từ Việt Nam qua Honolulu. Cùng với ba sĩ quan TQLC nữa, một Đại úy và hai Trung úy, họ tự mệnh danh là bốn chàng “Ngự Lâm Pháo Thủ.”

Moline Ripley ở lại một mình. Nàng không có sự lựa chọn nào khác và buộc lòng phải chịu đựng cho qua đi nỗi buồn. Sự cô đơn tại thiên đường là một trải nghiệm đau đớn nhưng là cái giá phải trả và nàng phải cắn răng trả cho xong. Giống như tất cả các phụ nữ khác đồng thuyền đồng hội, Moline cũng phải thực hiện những điều cần phải làm và chịu đựng những gì cần phải chịu đựng.

Nỗi biệt ly đau lòng mà những cặp vợ chồng trong nhóm “Ngự Lâm Pháo Thủ” của Ripley không hề là những cảm xúc có tính cách bông đùa hay trẻ con. Đối với hai trong số bốn người vợ thì rốt cuộc chuyến nghỉ phép của chồng đã trở thành là đoạn cuối của con đường đời họ. Trong vòng sáu tuần sau đó, hai trong số bốn sĩ quan TQLC kia đã bị tử trận.

Sự việc John Ripley trở lại mặt trận hoàn toàn không có gì trở ngại, ngoại trừ việc cố tạm quên đi một số kỷ niệm tuyệt vời của chuyến đi nghỉ phép nhằm tập trung vào nhiệm vụ trong suốt thời hạn nhiệm kỳ còn lại. Cường độ và sự tàn bạo của các trận đánh mà Đại đội Lima tham dự không hề thuyên giảm. Trận giao tranh trong cái ngày của tháng Ba mà Chuck Goggin trở thành Trung đội trưởng chỉ là một đoạn phim có thể cắt ra từ bất kỳ chỗ nào trong một cuốn phim hiện thực với những màn cường điệu được chiếu đi chiếu lại không có đoạn kết. Tất cả mọi người đều có cùng một sự suy nghĩ, từ viên chỉ huy cho đến người lính trơn, họ đều quyết tâm sống còn sau mọi cuộc đụng độ. Trừ phi người lính bị thiệt mạng hay bị trọng thương, anh ta chỉ biết chờ đợi những trận đánh kế tiếp cho đến khi nào hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ của mình.

Tốc độ xoay vòng về nhân sự của các Đại đội với quân số hơn 50 người của 18 Tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 1 và 3 TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I Chiến Thuật vào khoảng giữa năm 1967 thật chóng mặt. Cứ mỗi tuần trôi qua lại càng có nhiều TQLC bị thiệt mạng hay bị thương hơn. Sự khát máu của chiến tranh đối với cấp chỉ huy các đơn vị nhỏ không hề giảm cường độ. Tại vị trí chỉ huy các cấp Đại đội và Trung đội dường như có một cánh cửa mở xoành xoạch với những sĩ quan mới, khỏe mạnh đi vào và những người bị gãy đổ hoàn toàn hay từng phần loạng quạng bước ra.

Theo diễn tiến thường lệ của các biến cố, Đại đội Lima được bổ sung tương đối đầy đủ sĩ quan và hạ sĩ quan. Có một điều lạ là Đại úy Ripley luôn thuyên chuyển họ qua các Trung đội 2, Trung đội 3 và Trung đội Pháo binh. Trung sĩ Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 và không ai phàn nàn điều gì cả.

Nhiệm vụ của Trung sĩ Goggin với cương vị sĩ quan chỉ huy của Trung đội 1 không hề nhàn rỗi chút nào. Trong một ngày khi anh đã nắm Trung đội gần được sáu tuần thì toàn bộ Đại đội được lệnh thực hiện một cuộc di hành tuần tiễu và tảo thanh sâu trong khu vực phía Tây của con đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc hành quân được thực hiện bằng đường bộ vào khoảng 25 đến 30 dặm trong một ngày trời. Đại đội Lima đã đạt gần đến mục tiêu trong ngày 13 tháng Tư năm 1967, sâu trong vùng đất địch. Trung đội 1 đi tiên phong trong suốt buổi sáng và chẳng may một trinh sát đã bị trúng đạn mất mạng trong buổi sáng hôm đó. Cuộc hành quân lục soát con đường mòn vẫn tiến hành và thi thể anh được bốn đồng đội TQLC thay phiên nhau từng toán mang theo trong tấm poncho đưọc gấp đôi.

Tàng cây trong rừng già quá dày đặc để tản thương như thường lệ nên họ cố gắng mang xác bạn ngược về hướng cũ, vừa đi vừa hết sức nâng niu và trân trọng thân xác của đồng đội. Trong một lúc thay đổi người khiêng, không rõ vì nguyên nhân nào hay vì ai đạp phải, khi chuyển vị trí để đổi phiên, một trái mìn bên cạnh con đường mòn chợt phát nổ. Cả bốn TQLC lãnh đủ sức nổ và miểng của trái mìn trong đó Trung đội trưởng Chuck Goggin trúng phần nặng nhất. Địa điểm tải thương còn cách xa đến hàng dặm và vì đoàn quân còn dưới tàng cây nên trực thăng tản thương không thể đáp xuống được. Cách duy nhất cho Chuck Goggin là đành phải tiếp tục đi bộ mà thôi. Do đó anh buộc lòng phải bước đi trong sự đau đớn thêm ba hay bốn dặm nữa.

Phương cách tản thương vào thời kỳ đặc biệt đó không giống như các đoạn phim trên truyền hình mà dân chúng tại nhà vẫn thường được xem. Lúc đó chẳng hề có trực thăng chờ sẵn để bốc ngay Trung sĩ Goggin và các thương binh về hậu cứ cho các bác sĩ giải phẫu tài giỏi của Hải quân chữa trị cấp tốc.

Sau khi Đại đội Lima đi bộ nốt đoạn cuối dài ba bốn dặm về đến điểm hẹn thì người chết và các thương binh được mang lên xe vận tải chạy ngược về Cà Lũ theo quốc lộ 9. Những người không bị thương thì tiếp tục phải cuốc bộ.

Trung sĩ Goggin bị trúng tổng cộng 14 miểng mìn trên đôi chân, sau lưng và một mảng vai trái. Anh may mắn không bị tàn phế nhờ cái ba lô đã lãnh phần lớn của cú nổ. Chuyến xe vận tải về Cà Lũ còn được thay bằng một chuyến xe bầm dập nữa chạy tiếp trên quốc lộ 9 về hướng Đông cho đến Đông Hà. Tại đó anh được khiêng vào một trạm xá dã chiến tầm thường của Hải quân để được mổ và gắp miểng mìn ra khỏi cơ thể.

Từ trạm xá dã chiến đó, sau cùng Trung sĩ Goggin được bốc trực thăng về một bệnh viện Hải quân ở Đà Nẵng để được săn sóc về một vấn đề quan trọng hơn nữa là nguy cơ bị nhiễm trùng. Nhằm tránh chuyện này, các bác sĩ quyết định chưa khâu các vết thương của Goggin lại vội. Do đó mỗi ngày hai lần trong vòng một tuần lễ rưỡi, Chuck buộc lòng phải chịu đựng sự kỳ cọ , rửa ráy và sát trùng của từng vết thương một trong số 14 lỗ thủng trên thân thể. Cách chữa trị này còn tệ hại gấp mấy lần cơn đau của chấn thương ban đầu.

Trong lúc còn là thương binh trong bệnh viện Hải quân tại Đà Nẵng thì có một vị tướng TQLC đã đến thăm Chuck và gắn cho anh một Chiến Thương Bội Tinh. Chẳng may là lúc ông tướng đến thăm thì Chuck còn đang nửa tỉnh nửa mê và chỉ được hay về cuộc thăm viếng sau khi anh tỉnh dậy và thấy cái huy chương ghim trên tấm chăn.

Sau khi các bác sĩ đã hài lòng là nguy cơ nhiễm trùng đã qua, Chuck được khâu các vết thương lại và bốc bằng trực thăng ra tàu bệnh viện USS (AH-16) để dưỡng sức và hồi phục. Mặc dù anh rất trân trọng môi trường yên tĩnh, chăn nệm sạch sẽ và thức ăn ngon lành nhưng Chuck cảm thấy chán muốn chết. Trong khi anh đang nằm không chẳng phải làm gì thì anh chứng kiến nhiều đồng đội cùng Đại đội Lima đã bị đụng độ nặng nề hơn nữa trong lúc anh vắng mặt. Anh biết rằng anh phải trở về đơn vị mà thôi. Phải trở về ngay lập tức. Và anh xoay sở sao đó nên được trả về khá sớm.

Trong lúc Trung sĩ Goggin vắng mặt thì Đại đội Lima nhận được một Thiếu úy mới được thuyên chuyển đến Trung đội 1. Chuck không thấy có vấn đề gì cả. Lúc trở về anh tự động nhận lãnh vai trò Trung sĩ của Trung đội và vui vẻ giúp ý kiến cho vị chỉ huy mới.

Tuy nhiên viên Thiếu úy này chỉ kéo nổi non một tháng thì bị gục ngã bởi bệnh sốt rét. Vào cuối tháng 5 thì Trung sĩ Goggin một lần nữa lại trở thành Trung đội trưởng.

Đại úy Ripley không phải là người duy nhất nhận ra giá trị của Trung sĩ Goggin đối với binh đoàn TQLC. Ngay khi trở về nhiệm vụ, Chuck đã được mời làm sĩ quan. Mặc dù rất trân trọng niềm hãnh diện và lòng tin đã được đặt vào nơi mình, Chuck Goggin vẫn bám víu vào giấc mơ trở lại với bóng chày nếu anh không bị tử trận hay bị trọng thương. Anh từ chối lời mời một cách chân thành vì nếu nhận, anh sẽ phải ở lại phục vụ thêm một năm nữa, điều này giống như thiên thu trong ngành thể thao chuyên nghiệp.

Đoạn kết của các Trinh Sát Ripley

Hầu hết mọi chốn tại Việt Nam và chắc chắn là toàn bộ khu vực phía bắc Vùng I Chiến Thuật mà Đại đội Lima đã chiến đấu trong suốt thời kỳ Ripley làm chỉ huy, thuộc về loại các khu vực thường được gọi là “nằm giữa hoang vu.” Ngay cả cái huy hoàng tương đối của đồi Cà Lũ, bản doanh của Đại đội với các tiện nghi chưa bằng một xóm nghèo tại quê nhà nhưng đã là một ốc đảo đối với các TQLC của Lima rồi, cũng hoàn toàn đúng như sự nhìn nhận của mọi người; chỉ là “một cõi hoang vu…” mà thôi.

Trong khoảng thời gian từ 12 đến 13 tháng tại Việt Nam, John Ripley đã làm Đại đội trưởng Đại đội 6, làm “bố già” cho Đại đội Lima, Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ. Cùng hoàn cảnh với anh bạn đồng đội trẻ Chuck Goggin, anh cũng muốn sống sót và rời khỏi Việt Nam. Hơn bao giờ hết, anh nhớ vợ vô cùng và muốn ôm đứa con trai vào lòng, đứa con giờ đây chắc không còn nhớ bố nó nữa. Nhưng cường độ thường nhật của chiến trận, nhu cầu chỉ huy đã đòi hỏi anh phải tập trung toàn bộ 100% tâm trí và thời gian đến mức anh không còn chút thời gian nào để suy nghĩ về vấn đề ra đi nữa. John Ripley phải dốc hết tất cả sức lực và khả năng để Đại đội Lima có thể sống sót được và còn phải chiến thắng nữa.

Nhiệm kỳ thông thường của một Đại úy Đại đội trưởng là tối đa sáu tháng trời, nếu anh ta không bị tử trận hay bị trọng thương trước thời hạn đó. Chiến tranh đã lấy đi mạng sống của các sĩ quan bộ binh trẻ, đặc biệt là cấp úy nhanh đến nỗi có quá nhiều đại đội để mà chọn lựa. Được chỉ huy một trong các đơn vị tác chiến đó là một đặc ân trong binh đoàn TQLC thành thử bộ tư lệnh đã có đủ sự sáng suốt để bổ nhiệm các đại úy có khả năng vào những vị trí đó.

Đại úy John Ripley thuộc vào một số nhỏ thành phần các sĩ quan trẻ được toàn quyền hành động vì đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc cho đến khi nào bắt buộc phải cho họ về vườn. Trong khoảng thời gian 12 tháng Ripley chỉ huy Đại đội Lima, đặc biệt từ đầu tháng Ba cho đến tháng Mười Một, cuộc chiến gần như không ngừng nghỉ. Rất ít người tại nhà, mặc dù khi số lượng thiệt hại về nhân mạng ngày càng tăng cao, có thể hiểu rõ và cảm nhận được sự tàn bạo và cường độ mà các TQLC và binh sĩ khác đã phải chạm trán thường xuyên, đặc biệt là tại Vùng I Chiến Thuật.

Cho đến đầu 1967 thì Đại úy Ripley bắt đầu quan sát thấy sự thành kiến của giới truyền thông phương Tây về những sự kiện đã xảy ra và những gì họ tường thuật cũng như không tường thuật lại. Họ quan niệm là những hành động thường xuyên khủng bố dân làng Việt Nam của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt không có giá trị về thông tin. John Ripley đã nổi điên lên với các ký giả khi báo chí Mỹ từ chối không tường thuật sự vụ đã có vài TQLC bị kẻ thù bắt sống và đóng đinh họ như Chúa Giê-Su vào thân cây ngay bên ngoài vị trí phòng thủ gần Cồn Thiên để các binh sĩ Mỹ nghe thấy tiếng kêu la đau đớn cho đến chết của họ.

Trong thời hạn một năm mà John Ripley làm Đại đội trưởng, quân số Đại đội Lima 6 đã xoay vòng hơn ba lần. Đơn vị anh đã chịu thiệt hại hơn 300%. Hầu hết đều bị thương như bản thân anh và Chuck Goggin, những thương binh được gởi về hậu phương trong một thời gian và sau đó trở lại đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Nhiều TQLC của Lima đã trải qua hành trình này hơn một lần. Đại úy Ripley, được ân thưởng duy nhất một Chiến Thương Bội Tinh trong chu kỳ nhiệm vụ này, đã bị thương ba lần. Ngoài những thương vong trong giao chiến, Đại đội Lima đã mất sáu mươi người trong cùng thời kỳ đó, do sốt rét.

Từ lúc John Ripley làm Đại đội trưởng cho đến khi anh rời khỏi nhiệm vụ chiến đấu, cuộc chiến tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật đã từ mức độ nóng bỏng tăng lên cường độ cực nóng. Cứ mỗi lần hành quân là có đụng độ. Mỗi lần chạm trán với bộ đội Bắc Việt, TQLC đều chịu tổn thất nhưng mỗi lần đánh nhau họ đều thắng. Quân Bắc Việt là những chiến sĩ giỏi, không ai phủ nhận điều đó, nhưng họ không đủ sức cầm cự nổi với TQLC Hoa Kỳ. Lúc John Ripley từ giã Việt Nam để trở về nhà thì quân lực Hoa Kỳ đang chiến thắng kẻ thù.

Mặc dù rất khổ tâm khi phải trao quyền chỉ huy Đại đội Lima lại cho người khác nhưng John Ripley biết đấy là chuyện không thể tránh khỏi. Giấc mơ trở về với vợ con như trong mọi câu chuyện thần tiên có hậu chỉ có thể được thực hiện nếu anh chịu rời bỏ chiến trường.

Sau khi tháng nghỉ phép với gia đình chấm dứt và tình cha con với đứa con trai Stephen đã được kết nối lại mỹ mãn, John Ripley được phái đi học một khóa huấn luyện ngắn hạn sáu tháng về Hành Quân Đổ Bộ tại Quantico. Đây là một lớp học mà binh đoàn TQLC Hoa Kỳ gởi các Đại úy có triển vọng nhất đi thụ huấn. Sau đó anh được bổ nhiệm về Bộ Tư Lệnh binh đoàn TQLC tại Washington, DC. với tư cách giám sát viên cho các Thiếu úy bộ binh. Nhiệm vụ này trên thực tế là một quân vụ cố vấn và là gạch nối giữa các sĩ quan chuyên nghiệp và binh đoàn TQLC. Trách nhiệm của họ là điều hòa nhu cầu của binh đoàn và ước nguyện được phục vụ của các thành viên. Tuy nhiên trong thời kỳ Đại úy John Ripley làm giám sát viên, công việc của anh không có gì nhức đầu cả vì hầu hết tất cả các sĩ quan cần bổ nhiệm đều được phái đi Việt Nam.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM