Huế say

dulehue

Không có mặt trời trong ngực nhớ
Quên rồi chiến mã với binh đao
Ngây ngây rượu uống say tầm gửi
Gió thoảng trần gian một chút tình

Ta rót đều ly đầy phận bạc
Buồn đã hư hao vạn buổi chiều
Giọng ai sát khí vương lời hát
Vỡ vụn ngày tôi đoạn tháng người

Em điểm trang bằng nỗi cô đơn
Xót xa xưa gương lược giận hờn
Sầu vay ngọn gió thời con gái
Khuy áo cài quanh những nhớ câm

Mưa vẫn còn rơi trên tóc Huế
Rằm vẫn còn trăng vọng tiếng chuông
Mùa đông tím rịm hương tình tứ
Ái ngại màu môi quá ngậm ngùi

Bèo bọt biển đời muôn hạt cát
Mỏi mòn mõ gõ dội cơn mê
Lên chùa mới thấy ta phàm tục
Chay tịnh tình em được mấy mùa

Một kinh đô mơ hồ cổ kính
Một hoàng thành rêu phủ truân chuyên
Một em mờ ảo đêm hoàng hậu
Môi nhẹ liêu trai giấu giọng cười

Sương khói mù khơi vòng nghiệp chướng
Yêu người ta ngải ngậm trăm năm
Một mai xa lắc rừng đâu biết
Cỏ mọc hương trầm trong tối tăm

Không có gì và chẳng còn chi
Còn ta dại dột rượu nâng ly
Bao nhiêu nghiệt ngã lùa vô chén
Cạn tuốt mùa đông cổ lụy đời.

dulehue.

THỦY TINH TAN VỠ(tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 12:

Phi nhiều lần nói với tôi :
-Độ này anh Cao hay giao du với tụi Lộc Thọ… Không hiểu anh có ý định gì không ?
Tôi không trả lời Phi , tôi biết tụi Lộc Thọ giàu có mà vẫn canh cánh một nỗi ra đi nhưng rất nhát… Có thể Cao quan tâm đến họ trong việc làm ăn… cũng có thể Cao quan tâm về mặt tình cảm… các cô gái nhà Lộc Thọ đã một thời là hoa khôi của thành phố biển… Tôi hết còn thắc mắc về những mối liên lạc của Cao với bất kỳ ai… Anh cứ làm bất cứ việc gì miễn lương tâm anh yên ổn và thoải mái… Anh hãy vui chơi sau những phút giây căng thẳng mệt nhoài… Anh hãy bám víu lấy mọi hoàn cảnh , mọi cơ may để cảm thấy cuộc đời còn ít nhiều tươi đẹp …
Nói vậy thôi, có phải đâu lòng tôi dửng dưng như những lời tôi nói! Tôi đau lắm… những mãnh thủy tinh vỡ tan sắc nhọn cứ chạm vào tôi rướm máu dù tôi có nghiêng về bất cứ đâu… Từ thâm tâm tôi vẫn ray rứt một nỗi thống khổ âm thầm. Tôi lại nuối tiếc khoảng thời gian trước đó, khi Cao còn nằm dài bệnh hoạn mà công việc thì bủa vây tới tấp… Anh đã không hề muốn tôi dính líu đến những công việc nguy hiểm, đánh đổi bằng tim, óc, máu và nước mắt… Anh chỉ coi tôi như con búp bê để đặt vào tủ kính làm cảnh, để chìu chuộng và thương yêu, để lúc nào tôi cũng yếu đuối cần đến một bờ vai che chở, để lúc nào tôi cũng phải dựa vào anh.
Nhiều lần , tôi phải năn nỉ Cao để tôi đi thay:
-Anh đang bệnh, hơn nữa anh cứ tới lui chỗ đó nhiều lần, quen mặt quá họ sẽ để ý. Để Diệp đi thế cho
-Diệp biết gì mà đi ?
-Thì anh bày cho Diệp những câu sẽ hỏi họ, và Diệp chú ý nhớ những câu họ trả lời để về nói lại với anh.
-Không đơn giản vậy đâu Diệp… Điều duy nhất lúc này là Diệp phải tỏ ra can trường chuyên cần tập lại những đòn thế anh đã dạy để các em bắt chước, phải khỏe mạnh để chúng ta có thể lên đường bất cứ lúc nào …
Nhưng những việc dễ dàng khác tôi vẫn có thể đi thay anh dù từ lúc tôi bước chân đi đến lúc thấy mặt tôi trở về, anh mới thôi thấp thỏm lo lắng đợi chờ để thở phào nhẹ nhỏm… Như lần tôi đi nhận chiếc hải bàn từ Tuy An về. ( anh không thể ra Tuy An với một cánh tay băng bó và cột lên cổ…) chiếc xe đò cà tàng hư lên hư xuống đến 10 giờ tối mới về đến Nha Trang và tôi thì ngồi chung với đám vịt, gà, đường , gạo… Trời mưa như trút nước, cũng may cơn mưa xối xả đã trôi đi hết mùi hôi trên người tôi để khi anh ra bến xe đứng đợi thấy tôi ướt đẫm anh đã ôm chặt tôi, xót xa :
– Lạnh không , Diệp ơi , lạnh không ?
tôi chẳng nhớ gì tới chiếc hải bàn giấu trong giỏ lát giữa mớ đậu xanh mà chỉ nghĩ: may quá , anh đã không nghe mùi gà vịt trên người mình…
Tôi cằn nhằn :
-Anh điên cũng vừa thôi chứ , mưa mà ra chờ làm gì ?
Lúc này anh mới nhớ :
– Anh lo quá, xe trễ tới 4 tiếng. Chỉ sợ Diệp gặp điều bất trắc thì anh chết mất .
-Không điều xấu nào có thể xảy ra với Diệp cả. Cạnh Diệp luôn có những thiên thần hộ mệnh
-Được rồi, được rồi, Diệp cất nó ở đâu ?
-Trong giỏ lát nè, có một mớ đậu xanh để nấu chè ăn cả năm. Tụi quản lý thị trường còn chọc Diệp đúng là dân… buôn bán nhỏ, có mấy kí đậu xanh mà cũng bày đặt đi buôn! Nhưng mà về nhà đi , đừng có đứng đây mà thầm thầm thì thì như tụi ăn trộm chuyền hàng vậy!!!
Cao cốc đầu tôi , choàng chiếc áo đi mưa cho tôi rồi chở tôi về .
Tôi đã có những phút giây rất hồi hộp nhưng không hề lo sợ vì có Cao bên cạnh… Cao không bao giờ để ai ăn hiếp hay chọc giận tôi… Hồi còn nhỏ, bọn con trai nhìn tôi e dè vì nghĩ rằng tôi võ nghệ cao cường khi thấy tôi mỗi đêm cứ mặc bộ võ phục thật đẹp, trắng tinh đến… điểm danh các lớp… Lớn một chút , bọn con trai lại ngán vì cạnh tôi luôn có một…võ đường… Ôi bọn con trai thật ngây thơ, chúng đâu hề biết rằng chỉ một thế PHỤC HỔ thôi mà tôi tập nhiều năm vẫn chưa thành thục với bao nhiêu là nước mắt …

CHƯƠNG 13 :

Tôi chưa làm được việc gì cho ra hồn ra vía thì những vụ vượt biên ít hẵn đi… Mọi người ồ ạt đóng tiền xin đi theo kiểu bán chính thức của người Việt gốc Hoa để có một mức độ an toàn hơn chút đỉnh( vì số vàng đóng sẽ gấp ba hoặc hơn thế nhiều nếu bạn không phải gốc Hoa mà muốn đi theo kiểu này!)
Phi rất rành những tuy dô kết hợp giữa chính quyền và dân chạy mánh. Phi có thể giới thiệu một gia đình chính cống nạn kiều sẵn sàng cho bạn nhập hộ khẩu với giá nhiều cây! Phi có thể giới thiệu một người đồng ý làm hôn thú với bạn cũng với một cái giá trên trời khác( dĩ nhiên Phi bỏ túi cũng tương đương số tiền chung chi cho họ…) Phi đâm ra giàu có, quen biết rộng rãi, từ quan to đến dân cù bơ cù bất… Giữa lúc tôi nghèo nhất thì Phi giới thiệu cho tôi nhiều chỗ dạy anh văn cấp tốc… tôi dạy không kịp thở theo cái giáo án Phi gia … Tôi rất yêu nghề nên bị Phi cằn nhằn mãi… Nhiều người Hoa không biết viết tiếng Việt, họ chỉ muốn những câu đàm thoại thông dụng nhất thôi. Tưởng gì , dạy như dạy cho con nhồng tập nói, rất đơn giản, nhanh chóng mãn khóa này, mở tiếp khóa khác… vậy mà nhiều học trò cũng cứ thương, cứ nhớ( mới đây, đi Las Vegas chơi, gặp một ông học trò cũ cứ nằn nì cô giáo bỏ khách sạn đang ở đi, tới chỗ ngộ , ngộ free toàn bộ… nhưng cô giáo hơi xấu hổ vì lúc ấy dạy chỉ vì tiền, không toàn tâm toàn ý nên ba chục năm rồi ông học trò cũng nói tiếng Mỹ giọng tàu chay… bèn thanks a lot và tiếc nuối chối từ!)
Những ngày tháng đó qua đã lâu nhưng sao vẫn cứ lặp đi lặp lại hoài trong từng giấc mộng, những người quen cũ cùng đi chung một đoạn đường dài thật nhiều kỷ niệm… Không ai nhắc đến Cao trong thời gian này…cứ y như Cao đã mất tăm trong đời sống. Phi nói: “ Diệp không cần cố gắng lắm để quên, phải không ?” Câu nói như một lời trách móc nhẹ nhàng…
Tôi không quên Cao, không bao giờ quên được, nhưng tôi như con nhím, phải tự bảo vệ mình bằng những chiếc gai… Tôi không quên Cao, chuyện của tôi và Cao cả thành phố này ai mà không biết, dù đôi khi chỉ là nghe những lời đồn đãi… Nguyễn Khoa Hoàng Diệp, cô bé thi sĩ, cô bé “ nhìn phải nheo mắt cho khỏi chói “ không phải vì đẹp đến nỗi nghiêng nước nghiêng thành mà chỉ là vì những huyền thoại hư thực vây quanh…

Tôn Nữ Thu Dung

KHÚC HÁT XA NGƯỜI

tranvannghia

Gió đến , gió đi ,thương đời gió
Ở lại , đắm buồn ,Thị xã mưa
Đèn khuya thấp thỏm lên cơn sốt
Lạnh chỗ ngồi đêm, quán cóc chờ

Dốc đổ , bụi nghiêng , bờ nhiễu động
Xô về lệch bóng nhớ liêu xiêu
Lấy tay che mắt tìm giữa phố
Lặng trắng mây bay nghẹn cả chiều

Tôi vẫn lang thang làm khách lạ
Khói xe lạc bến đợi em về
Có tiếng gọi thầm trên môi ấm
Biết còn ai đợi, biết ai nghe ?

Dăm chiếc lá mùa tan tác rụng
Ngỏ nhà cổng khoá nắng về đâu ?
Nhón ngó sân rêu mờ dấu dép
Cháy tan tôi chết với tình đầu

TRẦN VĂN NGHĨA

ĐỐI ẨM VỚI HỒ LY.

tonnuthudung

Trăng nhà ai kín cổng
Vườn khuya không dáng người
Rượu đầy ly nỗi nhớ
Bến đợi tàn sương rơi

Đèn hao gầy sợi bấc
Bóng chập chờn cô đơn
Tóc dài em gối mộng
Giấc mơ là hư không

Trái sầu đông vô vị
Đóa quỳnh hoa đợi chờ
Tôi ném vào tâm ý
Để thành người ngu ngơ

Em quá xa-tôi đợi
Em quá gần-tôi đau
Nhớ màu môi vời vợi
Thơm chút tình phấn hoa

Bụi mận gai chim hót
Nửa đêm giọng u hoài
Ngồi nghe mưa rơi lạnh
Rượu buồn mơ liêu trai

Em tan theo bụi mưa
Sao lòng tôi tiếc nuối
Đọc hoài trang kinh xưa
Ngậm ngùi nghe sóng dội

Đêm hoang màu u tịch
Dáng Hồ Ly xa vời
Gió lay mùi cổ tích
Lạnh một thời không nguôi…

Tôn Nữ Thu Dung

Như những hoàng hôn bỏ mặt trời

nguyentatnhien

Tôi bắt đầu yêu hay bắt đầu dự tính?
(Dự tính nào cũng thật ngây thơ!)
Tôi bắt đầu ngây thơ hay bắt đầu già?
(Khi mặc cả tình yêu cũng thù hận)

Xin đánh đổi cuộc đời này (lận đận)
Bằng phút giây cầm được tay người

Em còn đứng bên dòng sông ngát lạnh
Cho đầy hồn mơ ước viễn vông
Tôi còn đứng bên dòng sông giá lạnh
Cho một mưu toan tự tử âm thầm

Ngày sắp hết, năm sắp hết
Thời gian nào cho bốn mắt ta xanh?
Thời gian nào đưa ta về địa ngục?
(Những kẻ yêu nhau chẳng có thiên đàng)

Thế nào rồi em cũng bỏ tôi
Như những hoàng hôn bỏ mặt trời

Khi tôi thốt lời tình như bảo vật
Em ngu si nên từ chối dễ dàng
Tôi ngu si nên làm người không tiếc của
(Hai kẻ ngu si khó sống gần)

Thế nào rồi em cũng giết tôi
Xin hận thù em suốt quãng đời

Tôi bắt đầu yêu hay bắt đầu dự tính?
(Dự tính nào cũng thật ngây thơ)
Tôi bắt đầu ngây thơ hay bắt đầu già?
(Khi mặc cả tình yêu cũng thù hận)

Như loài thiêu thân mê lửa ngọn
Buổi yêu em, tôi hăng hái lìa trần

NGUYỄN TẤT NHIÊN

TÔI VÀ NGÔI NHÀ CÓ VẦNG TRĂNG KHUYẾT

daolam

Tôi có thói quen buổi tối ít khi ra khỏi nhà, ngoại trừ lúc có công việc gì đó cần thiết. Với tôi không gian quen thuộc, gần gũi là căn phòng riêng của mình. Ở đó như một ốc đảo riêng biệt, tách hẳn cái nhộn nhịp ngoài kia bởi bên ngoài cánh cửa là thế giới khác, thế giới của những xô bồ nhộn nhịp, của bon chen đố kỵ, rất khó để tôi hoà mình vào được.
Tôi yêu căn phòng của mình. Ở đây tôi được tự do, không bị ràng buộc bất cứ điều gì, tôi mặc sức vung vãi, nào sách, truyện, thơ, nhạc, lên giường, thậm chí cả vỏ bao thuốc lá và vài vỏ chai bia nằm vùi dưới góc giường, mà không sợ ai dòm ngó, có những cục đá cảnh, vài bức tranh, vài tấm thư pháp, bình hoa, tất cả quá đổi thân quen, đến độ mỗi lúc đi đâu xa vài ba hôm là tôi lại thấy nhớ, thấy nôn nao, rồi lại muốn quay về, về để được nằm dài trên chiếc giường quen thuộc, quàng tay ôm chiếc gối vào lòng, nhắm mắt trong tiếng nhạc ru êm nhẹ nhàng, dẫn tôi vào trạng thái thả lỏng. Những lúc như thế, tôi rất hạnh phúc vì không còn nghĩ đến điều gì, tôi gạt bỏ tất cả, tạm quên tất cả, mong tìm thấy cho mình hai chữ an nhiên. Đó là những khoảnh khắc tôi được sống với chính mình, cho dù có thể là ngắn ngũi nhưng với tôi nó quý giá đến ngần nào.

Có những đêm tôi choàng thức dậy, sau một giấc ngủ vùi thường là không dài. Cái thói quen ít ngủ không phải bây chừ mới có mà từ ngày con gái, tôi vẫn đã như vậy. Những lúc như thế, tôi không bao giờ bật đèn, trong cái ánh sáng vàng vọt, mụ mị từ ngọn đèn đường hắt lên, tôi thích một mình loanh quanh từ phòng ngoài vào phòng trong và ngược lại, để nhìn ra khoảng không bốn phía từ những vách tường bằng kính chỉ cần kéo bức màn lên là tôi có thể cảm nhận hết thành phố về đêm với muôn sắc muôn màu.
Tôi thích sống trong trạng thái lặng yên này, để nghe cái cảm giác cô đơn ùa về chiếm ngự tâm hồn mình như một chất men tạo cơn say, ấm áp mà buồn bã, gần gũi mà lạ xa.
Những đêm trời có trăng, bầu trời trong vắt một màu, những ngọn đèn dưới thấp lung linh rực rỡ sắc màu cho tôi cảm giác thật dễ chịu, lúc đó mọi bực bội lo toan gần như tan biến, trong tôi chỉ còn lại ánh trăng hòa vào hơi thở của chính mình.
Ở đây, có một đêm đã lâu, tôi không còn nhớ bắt đầu từ đêm nào, ngày nào, tôi đã tìm thấy cho riêng mình – một vầng trăng khuyết. Lúc đầu khi nhìn về phía dòng sông Hàn tôi thấy trong cái khoảng cách mơ hồ đó xuất hiện một vầng trăng khuyết lung linh kỳ ảo đến lạ lùng. Tôi đã lặng yên, ngắm nhìn rồi chìm sâu trong một vùng ký ức…

Tôi nhớ Đà Lạt đến nao lòng, nhớ những ngày còn con gái học trò, nhớ những đêm cả bọn lang thang quanh bờ Hồ Xuân Hương, qua những con đường ngào ngạt mùi Ngọc Lan, ướt sũng sương rơi trên vai lạnh, những cơn mưa phùn rất nhẹ, nhẹ đến nỗi đội đầu mà đi chỉ thấy lấm tấm như hơi sương, hồn nhiên với những trò nghịch ngợm của một thời mới lớn.
Nhớ căn phòng nhỏ trên lầu3 bên hông cầu thang từ Hoà Bình vào chợ. Mùa đông, buổi sáng mở cửa sổ là căn phòng tràn ngập sương mù ướt đẫm chiếu chăn, lạnh đến nỗi hai bàn tay lồng vào nhau không đủ ấm, thích nhất những sớm mai, chiều, vàng nắng, từ cửa sổ nhìn ra thoai thoải hai bên sườn dốc những nụ hoa Bồ Công Anh nở trắng bạt ngàn chỉ cần một cơn gió thoảng qua, cả một mãng trắng tinh, nhường lại cho một thảm nhung xanh màu cỏ biếc những cánh hoa li ti bay cả một khoảng trời phố, xoay tròn ngộ nghĩnh như một trò chơi, đó là một khoảng trời rất xanh trong miền ký ức tuổi thơ tôi.

Đêm nay. Nhờ vầng trăng khuyết trước mặt, tôi nghiệm ra trong cái im lặng đêm thẩm sâu của thành phố về khuya, khiến lòng tôi luôn luôn xao động, những nỗi buồn không biết từ đâu ùa về. Có lẽ đôi khi mình đã vô tình bỏ quên những kỷ niệm đẹp, khi mà có dịp trở lại tôi và khoảng trống mơ hồ quấn quít bên nhau, những mãng sáng tối của cuộc đời tự dưng ập về réo gọi. Cuộc đời không cho mình những ngày vui trọn vẹn, không cho mình những niềm vui tròn đầy, cho nên chỉ còn biết trang trải, gởi gắm vào những con chữ, mong tìm chút thảnh thơi.

Phải mất một thời gian dài, tôi mới để ý vầng trăng khuyết ấy, đêm nào cũng đứng yên một vị trí, không xê dịch thay đổi. Sau này tôi mới hiểu, đó chỉ là một ngọn đèn có lẽ từ sân thượng một ngôi nhà cao tầng nào đó, mà chủ nhân đã vô tình hay cố ý gởi gắm cảm xúc mình vào trong đó.
Phát hiện này không làm tôi bất ngờ, vì thực ra tất cả chúng ta đang sống trong một thế giới ảo, lẫn lộn giữa thực hư hư thực.
Ý niệm trong tôi luôn trung thành với mình là niềm vui mỗi khi kéo tấm màn lên, trước mắt tôi là hạnh phúc là niềm vui quen thuộc ùa về, cho tôi cảm giác lâng lâng gần gũi cũng có đêm chủ nhân vì một lý do gì không vui, đã dắt vầngtrăng dạo chơi đâu đó và như thế nỗi hụt hẩng, trống vắng lẫn buồn bã khiến tôi không muốn làm bất cứ một điều gì hết, ngoài sự chờ đợi điều kỳ diệu sẽ mang về trả lại tôi vầng trăng khuyết yêu thương.
Với tôi những đêm trăng luôn mang đến cho mình những cảm xúc tuyệt diệu, có thể đó là nỗi buồn, có thế đó là niềm vui. Hơn thế, những đêm trăng khuyết có sức hấp dẫn riêng, quyến rũ và lôi cuốn tôi vào những cơn mơ. Tôi nghĩ. Ai cũng có một cái gì đó cho riêng mình.
Với tôi. Vầng trăng khuyết mỗi đêm từ căn phòng mình nhìn ra, tôi thấy gần gũi, tin yêu để gởi gắm vào đó một chút riêng tư của chính mình.
TÔI TÌM THẤY TÔI .
TỪ NGÔI NHÀ CÓ VẦNG TRĂNG KHUYẾT.

DaoLam

CƯỠI NGỌN SÓNG 22

cuoingonsam

richardbotkin
Chương 17

Kinh Kông vẫn sống mãi!

Tiến trình để anh chàng Đại úy trẻ George Philip làm quen với cái thế giới tương đối hạn hẹp của các cố vấn TQLC Hoa Kỳ mất vào khoảng năm ngày tại Sài Gòn. Nhịp độ của công việc tại cái hậu phương được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” này vào thời điểm cuối hè 1971 thật khác xa với những gì anh nhớ lại từ lần điên loạn đầu tiên khi anh mới đến Đà Nẵng vào năm 1968.

Trong năm ngày nhàn rỗi này, George gặp hết tất cả các cố vấn đang ở Sài Gòn và được tường trình về các cuộc hành quân của binh chủng TQLC Việt Nam. Anh cũng giải quyết cho hết các thủ tục giấy tờ và các chuyện riêng tư. Hằng ngày anh theo dõi các cuộc điện đàm giữa bộ tư lệnh và các đơn vị ngoài mặt trận cách xa đó gần ba trăm dặm đường. Trong những lần đi chơi tối tại câu lạc bộ Hòa Bình George tiếp tục uống bia và vui chơi cùng cái nhóm mà anh mới được gia nhập vào. Anh cũng nhận ra, qua cung cách lịch sự đặc biệt mà những người dân bình thường đã biểu lộ ra khi tiếp xúc với họ, là người Việt rất kính trọng các sĩ quan Hoa Kỳ trong bộ quân phục rằn ri của TQLC Việt Nam.

Khi mọi chuyện đã xong xuôi, George được lệnh mang túi bưu tín để chuyển cho các cố vấn Hoa Kỳ đang ở phía Bắc. Anh xách túi hành trang và lên xe ra phi trường Tân Sơn Nhất. Lúc này thì anh đã quen với vấn đề lưu thông của Sài Gòn rồi. Chuyến xe jeep ra phi trường có vẻ đỡ căng thẳng hơn lần đi vào chỉ vài ngày trước đó.

Anh đáp một chiếc máy bay vận tải C-123 chở đầy lính TQLC Việt Nam, một vài phụ nữ đi thăm chồng con, cùng với một mớ gà vịt và heo. Anh lại thong dong lên đường ra mặt trận tuốt ngoài Vùng I Chiến Thuật, lần này với tư cách cố vấn quân sự Hoa Kỳ.

Vào mùa Hè 1971, công tác phòng thủ phần cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật do Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH và ba lữ đoàn TQLC Việt Nam luân chuyển nhau đảm trách. Vùng trách nhiệm bao gồm các lãnh thổ tiếp giáp với khu phi-quân-sự và khu vực phía Đông của biên giới Lào, kể cả Khe Sanh mà trước kia thuộc trách nhiệm phòng thủ của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ (Sư Đoàn 1 phụ trách khu vực phía Nam của Sư Đoàn 3).

Sư Đoàn 3 BB VNCH là một sư đoàn được thành lập sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 và gồm các binh lính được động viên hầu hết từ các tỉnh chung quanh vùng cực Bắc này. Sư Đoàn 3 BB cũng được ngầm hiểu là đơn vị chứa các thành phần bất mãn với chính quyền và các lao công đào binh. Vì là một đơn vị lớn xa Sài Gòn nhất, họ được điều ra đây với mục đích bị trừng phạt và cũng khó mà trốn đi đâu nổi ngoại trừ đào ngũ qua phía Bắc Việt thay vì phục vụ đàng hoàng trong quân ngũ.

Các lữ đoàn TQLC (mỗi lữ đoàn gồm ba tiểu đoàn tác chiến, một tiểu đoàn pháo binh, các đơn vị yểm trợ khác nhau và một bộ tư lệnh tương đối gọn nhẹ so với tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ), đã mang lại thế quân bằng cho khả năng mong manh của các đơn vị địa phương VNCH, và trở thành các trụ cột chống đỡ cho chính phủ và dân chúng đang trông mong vào họ nhằm ngăn chận không cho Cộng sản tràn vào phía Nam của vùng phi-quân-sự. Thông thường, các lữ đoàn TQLC Việt Nam hoạt động trong ba tháng tại đây trước khi được hoán chuyển về Sài Gòn và Thủ Đức để dưỡng quân, nghỉ phép và tiếp liệu trong một tháng. Mục đích của chuyện này nhằm luôn luôn có hai trong số ba lữ đoàn, hay ít nhất là có hai trong số ba tiểu đoàn của mỗi lữ đoàn sẵn sàng ứng chiến bất cứ lúc nào.

Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC Việt Nam hiện là đơn vị hỏa lực cho Lữ Đoàn 369. Đó cũng chính là đơn vị mà George Philip đã được bổ nhiệm làm cố vấn. Do tình hình không có đụng độ nhiều lắm nên anh được điều về Pháo Đội B để quan sát và phụ trách phối hợp hỏa lực yểm trợ nếu tình hình đột nhiên biến động.

Pháo Đội B hiện trấn giữ căn cứ hỏa lực Gio Linh ở tận cùng cực Bắc của miền Nam Việt Nam. Nằm vào khoảng vài cây số về phía Bắc của Đông Hà, Gio Linh là thị trấn cuối cùng của Quốc Lộ 1 hướng về khu phi-quân-sự, là điểm tận cùng, điểm xa nhất từ Sài Gòn không nằm trong vùng địch. Trên bản đồ quân sự, Gio Linh được gọi là A-2 hay Alpha 2 và chỉ là một gạch nhỏ của một phân tây nằm ngay sát phía Nam vùng phi-quân-sự. Ngay khi chiếc xe jeep bắt đầu lăn bánh chở George lên căn cứ A-2, mặc dù vắng tiếng súng nhưng George thấy rõ là anh đang đi vào vùng có kẻ thù rồi. Sài Gòn và cuộc sống thành thị đã cách rời hàng triệu dặm xa xôi.

Từ vị trí các hầm trú ẩn kiên cố cũ – có một cái được xây dựng từ thời Tây – và các đài quan sát, nằm trên vùng đất cao ngay phía Đông của Quốc Lộ 1, các TQLC Việt Nam và cố vấn Hoa Kỳ có thể nhìn thấy vượt qua sông Bến Hải, biên giới chính thức giữa hai nước Việt Nam, cái lá cờ Bắc Việt tung bay vật vờ trong bầu không khí ẩm ướt. Khi hai bên không nhả đạn vào nhau, vả lại sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhịp độ chiến sự nay đã giảm đi đột ngột, tại đây dường như có một sự thỏa thuận ngưng bắn ngầm, không chính thức và rất kỳ khôi.

Một toán riêng gồm năm người thuộc hỏa lực hải quân Hoa Kỳ được kết hợp với Pháo Đội B. Họ được trang bị các thiết bị tối tân nhất như ống nhòm nhìn trong bóng đêm và máy xác định vị trí bằng hệ thống laser. Những thiết bị này có lẽ cân nặng khoảng 50 cân Anh, không rõ có hiệu quả hay không nhưng chắc chắn đã nâng tính sát hại lên một mức cao hơn vì căn cứ A-2 và các vùng lân cận nằm trong tầm bắn của các chiến hạm Hoa Kỳ đang lởn vởn ngoài khơi bờ biển phía Bắc. Đối với George thì được nói chuyện với các quân nhân người Mỹ cũng khá thú vị.

Cho đến đầu tháng Chín thì George đã khá quen thuộc với các công việc thường lệ. Anh đã học hỏi và hiểu được nhiệm vụ của một cố vấn quân sự, cũng như mọi thứ khác phải ra sao. Anh đã trở thành một chiến sĩ kỳ cựu… thêm một lần nữa. Như dự tính mong muốn và theo đúng thời hạn, anh đã tạo được tình thân với các chiến sĩ Việt Nam và hứng thú khi làm việc với anh chàng truyền tin. Anh cũng hoàn thành được phần đóng góp của mình trong nỗ lực yểm trợ hỏa lực đồng minh. Anh chỉ cảm thấy hơi kỳ lạ là tuy ở ngay sát cạnh khu phi-quân-sự, trong tầm hoạt động và quan sát của kẻ thù mà không bị đụng độ thường xuyên hơn. Thế nhưng, mặc dù George đã có ý tưởng này hay các ý nghĩ kỳ quặc nào khác nữa, anh vẫn phải tự nhủ là anh đang ở Việt Nam.

Các kinh nghiệm và kỳ vọng tại Việt Nam của người Mỹ bị hạn chế bởi kinh nghiệm của họ như tại các nơi khác. Hoa Kỳ được an toàn không bị xâm lăng nhờ hai đại dương làm trái đệm thành thử cho đến mùa Hè 1971 không còn ai đang sống trong “pháo đài Hoa Kỳ” có thể nhớ nổi những thảm họa của cuộc Nội Chiến như thế nào. Các binh sĩ của đất nước đều đi ra ngoài lãnh thổ quốc gia để chiến đầu cho nền dân chủ. Những người còn lại trong nước, đặc biệt là trong Thế Chiến thứ Hai thì được tuyên truyền mạnh mẽ về nhu cầu phải làm cho thế giới an toàn hơn về tinh thần dân chủ. Là những người dân thường, họ làm việc cật lực ngoài giờ để tạo ra các máy bay ném bom, các chiến xa và tầu chiến nhằm áp đảo khối Trục.

Tất cả cho nền Dân Chủ! Bức tranh nổi tiếng và được lan truyền rộng rãi “Bốn Thứ Tự Do” (Four Freedoms) của họa sĩ Norman Rockwell là một thiên tài về kỹ thuật tuyên truyền đã nói lên ý thức quốc gia, sự nhận thức về công lý và tính hào hiệp, lòng yêu nước của người dân Mỹ mà không ai có thể làm nổi. Bức tranh này đã lấy cảm hứng từ một bài diễn văn của Tổng thống Franklin D. Roosevelt vào năm 1941 và được đăng lần đầu tiên trên tờ Saturday Evening Post năm 1943. Ngay cả trong những giây phút đen tối nhất sau ngày 7 tháng 12 năm 1941 – trước cuộc đột kích Doolittle, trước trận đánh Midway và cuộc xâm lăng Bắc Phi – rất ít người Mỹ, ngoại trừ những người sinh sống tại Hawaii, có thể nghĩ rằng sẽ có một cuộc chiến tranh trên bộ xảy ra trong tương lai do kẻ thù xâm lược đất nước. Những người ở trong nước thì hiếm khi còn mang nỗi lo trực tiếp đến an ninh của họ.

Người Mỹ trong nước trải qua suốt cuộc Chiến Tranh Lạnh đã sống trong mối hiểm họa có thể bị hủy diệt đồng loạt một cách chắc chắn do người Xô Viết nhưng lại không bị mối nguy lũ quỷ đỏ sẽ xuất hiện trên ngưỡng cửa tại các thành phố Detroit, Denver hay Duluth của họ. Trong khi đó thì những bậc cha mẹ và con cái họ sống trên mảnh đất Việt Nam Cộng Hòa lại không hề có được sự yên tâm như vậy.

Điều mà người Mỹ không nhận thức được là trong khi họ đi truyền bá một cách ngây thơ các lý tưởng của dân chủ và kinh tế tự do thì họ đã không cảm nhận được đất nước họ đã được một sự đặc ân và các nhu cầu bình an của người dân thường được đặt cao hơn là các tư tưởng về nhân quyền và tự do cá nhân. Người Cộng sản không bị những ràng buộc như vậy. Kẻ thù Cộng sản phương Bắc không bị ai xâm chiếm trong cuộc chiến này và họ chỉ bị ảnh hưởng một cách hạn chế bởi những cuộc ném bom của Hoa Kỳ. Họ hiểu rất rõ hiệu quả của sự khủng bố nhằm lôi kéo dân chúng ra khỏi tầm kiểm soát của người Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà họ cho là tay sai của Hoa Kỳ. Điều mừng nhất là cho đến mùa Hè 1971, các nỗ lực và khả năng khủng bố của Cộng sản đã bị suy giảm đáng kể. Niềm tin vào chính quyền và hiệu năng của các lực lượng quân sự của VNCH đã không bị rơi vào tay các lãnh tụ của Hà Nội.

Công việc thường lệ tại căn cứ Alpha 2

Cuộc sống của một cố vấn quân sự Hoa Kỳ trong binh chủng TQLC Việt Nam cần một số điều chỉnh nhất định. Mặc dù có những sự khó khăn rõ rệt vì sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nhưng đồng thời cũng có những lợi điểm khác thường. Trong cơ chế tổ chức về cấp bậc, binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã huấn luyện các tân binh từ lúc họ được tuyển dụng tại Parris Island hay San Diego về sự kính trọng cấp trên nhưng cũng đồng thời nhấn mạnh về tinh thần trách nhiệm của một thuộc cấp. Nhu cầu bảo đảm an sinh cho binh lính luôn luôn được đặt sau mục tiêu phải chu toàn nhiệm vụ đã giao phó. Các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ phải là người có mặt đầu tiên ngoài mặt trận và là người cuối cùng rời trận địa. Họ phải là người lãnh đạo nổi bật ngoài tiền tuyến trong mọi tình huống. Quan niệm này đã được thể hiện ra trong các mặt khác của nghệ thuật chỉ huy, bao gồm những chuyện như binh lính được chăm lo trước các sĩ quan v.v… Các cấp chỉ huy được cấp dưới hỗ trợ trong phạm vi để hoàn thành nhiệm vụ mà thôi. Sự giúp đỡ này không bao hàm chuyện phải hầu hạ cá nhân. Làm tôi tớ là chuyện bị ghét cay ghét đắng trong văn hóa quân sự của người Mỹ.

Làm việc chung với TQLC Việt Nam thì hơi khác một chút. Văn hóa Á châu chịu ảnh hưởng bởi những điều khác với người Mỹ vẫn thường biết, ít bình đẳng hơn do tinh thần sùng bái thượng cấp đã luôn luôn hiện diện trong mọi tầng lớp chỉ huy quân sự.

Tất cả các sĩ quan, kể cả các sĩ quan cấp úy trong quân đội Việt Nam đều có người phục vụ riêng. Được bổ nhiệm để theo giúp một sĩ quan, chẳng hạn như làm nhân viên truyền tin, làm vệ sĩ hay tùy viên – gọi là “tà-loọc” hay “cowboy” theo lối Mỹ – không bị coi là một công việc khúm núm hay “nâng bi.” Được gia nhập vào nhóm “tùy tùng” của thượng cấp tức là đã thuộc vào thành phần chỉ huy, giống như là gia nhập vào nhóm cốt lõi rồi. Cho dù là công việc gì đi chăng nữa, đó là một nhiệm vụ quan trọng và đầy danh dự.

Với trách nhiệm của mình, George Philip không có một nhân viên truyền tin riêng và những chuyện này anh có thể làm lấy một mình được. Tuy nhiên anh được phân bổ một người phục vụ riêng. Hạ sĩ Tường tương đối khá lớn tuổi so với cấp bậc (anh này có một người con trai là quân nhân VNCH đang phục vụ đâu đó tại Việt Nam) nhưng anh chu toàn trách nhiệm “tà-loọc” cho Đại úy Philip một cách tận tụy và chuyên nghiệp. Tường không bao giờ xin Đại úy Philip đặc ân nào cả và luôn luôn trân trọng những gì mà George đã giúp anh, chẳng hạn như mua cho anh mấy bao thuốc lá Mỹ. Hai người rất hợp nhau và lo cho nhau với sự tương kính và trân quý thật tình.

Mỗi buổi sáng thức dậy Đại úy Philip có thể tin tưởng chắc chắn, giống như mặt trời bao giờ cũng phải mọc, là sẽ có một tô súp nóng và một chậu nước nóng để anh cạo râu. Nếu Hạ sĩ Tường cảm thấy đêm hôm trước đôi giầy của xếp có vẻ dơ rồi thì sáng hôm sau chúng đã sạch bong và để sẵn sàng bên chân giường bất cứ lúc nào anh thức dậy. Cho dù có pháo binh bắn yểm trợ cho các đơn vị hay mọi chuyện đang yên tĩnh thì Hạ sĩ Tường luôn luôn chu toàn nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Bất thường tại căn cứ A-2

Bất cứ một người nào có thể nghĩ đến hai ý tưởng trọng đại kế tiếp nhau cùng một lúc thì đều hiểu ngay chiến tranh là địa ngục và chiến tranh là kỳ cục. Một điều chắc chắn là những ai biết đọc và biết nghe đều nhận thức ra rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cái gì đó vượt khỏi sự suy nghĩ thông thường của mọi người. Một điều làm cho cuộc chiến Việt Nam càng bất thường đến gần như phi lý nữa là cho đến mùa Hè 1971 đối với những người Mỹ còn hiện diện, cùng với sự giảm thiểu nhanh chóng những người phục vụ tại Đông Nam Á, họ vẫn làm mọi thứ cho tới cùng để giúp đỡ nhau, có khi trong những tình huống lạ lùng có thể là buồn cười nữa.

Số là, dù còn trẻ và khỏe mạnh, chưa đầy 27 tuổi nhưng Đại úy George Philip lại bị bệnh trĩ, nhưng cũng nhẹ thôi. Mặc dù nó không nguy hiểm gì đến tính mạng hay có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phối hợp hỏa lực yểm trợ như anh vẫn làm từ trước tới nay, nhưng đó cũng là một vấn đề khó khăn đối với anh. Tóm lại, có thể vì sự căng thẳng trong chiến sự hay vì chế độ ẩm thực không được hoàn hảo, bệnh trĩ đã hành hạ George Philip. Chứng bệnh này kèm theo triệu chứng đau đớn, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Không chút mắc cở, anh bốc máy gọi ngay về tổng hành dinh Lữ đoàn hỏi xem ai có thứ gì cho anh không?

Thật là ngạc nhiên khi không đầy một tiếng đồng hồ sau, có một chiếc trực thăng Huey thuộc một đơn vị Không kỵ của quân đội Hoa Kỳ gọi đến xin đáp xuống sân bay căn cứ A-2 với một bưu kiện cho Đại úy Philip. George chạy vội đến chiếc trực thăng mới đáp xuống nhưng chưa tắt máy. Anh cúi đầu để tránh cánh quạt máy bay còn đang quay và tiến tới cánh cửa bên phía tay phi công phụ. Lúc anh đến, vẫn còn cúi rạp, tay phi công đầu đội nón bay che cả mắt, cười toe trao cho anh qua cánh cửa nhỏ một tấm bưu thiếp của binh đoàn Không kỵ và một tuýp thuốc nhỏ trị bệnh trĩ hiệu Preparation H. Sau đó, viên phi công chào anh bạn TQLC mới quen, tống ga và cất cánh đi một cách nhanh chóng. George tự nhủ không biết Thượng nghĩ sĩ William Proxmire, người nổi tiếng đã thông đồng với chính phủ trong việc gian lận, lãng phí và lạm quyền sẽ nghĩ sao nếu biết về sự việc này.

Đại úy Philip giống như phần lớn các TQLC khác cùng địa vị, tỏ ra rất trân trọng lòng dũng cảm được thể hiện bởi các TQLC Hoa Kỳ hay Việt Nam, hay cả những đơn vị khác mà giới TQLC thường cho là không ngang tầm cỡ với mình. George Philip tin chắc là nếu tính chung cả nhóm thì có lẽ “lũ” điên khùng và can đảm nhất trên toàn Việt Nam phải là các hạ sĩ quan kỳ cựu lái trực thăng Hueys. Anh đã từng chứng kiến trong quá khứ nhiều trường hợp các tay này dám bay vào những vùng mà những người có đầu óc bình thường đều phải từ chối. Đối với anh và nhiều người khác nữa thì đó là một điều yên tâm khi biết rằng luôn luôn có các trực thăng quân đội ứng chiến gần đó để đáp ứng các yêu cầu về tản thương khẩn cấp, bắn hỏa lực hay tiếp liệu, kể cả chuyện bị bệnh trĩ luôn.

Đại úy Philip cũng rất trân trọng Hải quân. Trong những tháng đầu tiên tại căn cứ Alpha 2, anh và nhóm Hỏa Lực Hải Quân đã điều phối khá nhiều công tác bắn yểm trợ từ các tuần dương hạm và khu trục hạm khác nhau đậu ngoài khơi. Có lẽ vì cha anh đã từng là hạm trưởng chiến hạm khi ông bị tử trận trong Thế Chiến Thứ Hai thành thử anh dành nhiều tình cảm cho những chiếc tầu anh không thể thấy được từ các vị trí hầm trú ẩn gần khu phi-quân-sự trong căn cứ A-2. Anh luôn luôn tin tưởng là họ sẵn sàng đáp ứng khi có yêu cầu và rất mong có dịp được thăm họ.

Từ lúc người Mỹ đổ bộ lần đầu tiên lên Việt Nam vào đầu năm 1965, lớp phòng thủ hỏa lực phụ trội bởi các đơn vị hải quân hoạt động trong tầm hải pháo của hàng chục chiếc tầu của Đệ Thất Hạm Đội là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của người Mỹ chống lại Cộng sản. Khi phần lớn các đơn vị tác chiến của Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam vào giữa năm 1971, các chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội đã ở lại để giữ nguyên mức yểm trợ cho các đơn vị TQLC VNCH hoạt động gần bờ biển. Hiện nay vì không còn bao nhiêu người Mỹ phụ trách công tác yểm trợ này nữa thành thử mối quan hệ giữa những người Mỹ ở trên đất liền và ngoài khơi đã trở nên chặt chẽ và thân thiện hơn.

Cũng chẳng có gì lạ là, trong một ngày nắng ấm, khi mọi chuyện vẫn vô sự, viên sĩ quan liên lạc hỏa lực hải quân trên chiến hạm USS Rupertus (DD-851) gọi điện thoại vào bờ và hỏi George Philip có muốn bay lên thăm chiếc tầu gần đây vẫn từng giúp bắn yểm trợ hỏa lực hay không? Dĩ nhiên là Đại úy Philip chụp lấy cơ hội ngay lập tức. Anh dụ khị phi hành đoàn một chiếc Huey đưa anh ra tầu. Đây là lần đầu tiên phi hành đoàn Huey thử đáp xuống một chiến hạm đang lênh đênh trên biển thành thử cũng không phải là chuyện dễ dàng gì. Tuy nhiên nhóm phi hành đoàn này đã không hề ngại ngùng đáp ngay xuống con tầu mà còn tham gia vào đoàn thăm viếng chiếc Rupertus rồi cùng đi ăn trưa nữa.

Ngày hôm đó, điều làm George khoái trí nhất là sau khi đã quá ớn với các bữa ăn dã chiến của Hạ sĩ Tường rồi, anh lại có dịp được ngồi đàng hoàng với tấm khăn trải bàn thật sự, được ăn với bộ muỗng nĩa bạc thứ thiệt và – tuồng như anh đã qua đời và lên thiên đàng vậy – được ăn tráng miệng bằng kem lạnh thỏa thích. Khi đến giờ chia tay, viên hạm trưởng còn tặng cho mỗi vị khách một cái bật lửa có huy hiệu của chiếc Rupertus gắn trên đó và một hộp thịt bí-tết đông lạnh nữa.

Để đáp lại tấm thịnh tình theo đúng phong cách TQLC Hoa Kỳ, George mời lại viên chỉ huy chiếm hạm cho một sĩ quan lên bờ thăm căn cứ Alpha 2 trong một ngày trời để quan sát cuộc chiến trên bộ và đời sống của các chiến binh TQLC như thế nào. Khi anh chàng chuẩn úy hải quân đó trở về tầu chắc hẳn sẽ có khối chuyện chiến sự để mà kể lại, và có thể kể cho cả con cháu của anh sau nầy nữa. Những chuyện đó đã diễn ra trong những ngày tốt đẹp khi chưa có biến cố xấu nào đáng kể xảy ra.

Kể ra thì không phải tất cả mọi điều đều là chuyện đùa vui, ngay cả những khi chúng có dính dáng đến vui chơi. Thậm chí khi không có đụng độ với quân Bắc Việt, luôn luôn có những sự kiện xảy ra nhắc nhở mọi người rằng cuộc sống trên bờ cũng nghiêm trọng như thế nào.

Chuyện xảy ra là có một anh lính trẻ thuộc một trong các tiểu đoàn TQLC Việt Nam đóng gần căn cứ Alpha 2 đã thua một số tiền khá lớn khi chơi bạc với đồng đội. Viên Trung đội trưởng ra lệnh anh phải trả nợ khi hay tin anh muốn quỵt món tiền này. Trong một phút điên rồ tối hôm đó, hắn đã ném một quả lựu đạn vào trong lều của Trung đội trưởng làm chết một sĩ quan và làm bị thương nhiều người khác.

Sáng hôm sau, trước mặt toàn tiểu đoàn, phạm nhân nay vừa bị tuyên án tử hình và loại ra khỏi binh chủng TQLC, bị bắt phải tự đào lấy hố chôn để khi bị tiểu đội hành quyết bắn chết, thân xác anh sẽ rớt xuống hố làm công việc mai táng dễ dàng hơn. Các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ thường tránh có mặt trong những buổi xét xử kiểu TQLC như vậy và điều này khiến họ luôn luôn nhớ rằng họ đang ở Việt Nam.

pic2 (800 x 800)

Dòng Sông Thuở Ấy Lênh Đênh Mất Rồi

hoaikhanh

Thôi dòng sông đã xa rồi
Vầng trăng đành cũng một đời âm u
Với tay không vỗ sương mù
Đời còn vây những ngục tù đó em
Thôi về im lặng nghe đêm
Sương trên thành phố đã tìm bóng trăng
Cuộc đời chưa thoát căn phần
Những ngày những tháng đến dần quạnh hiu
Và đi trên những buổi chiều
Dường nghe nước lũ dâng triều cô đơn
Trên tay nghe bước chân chồn
Bãi xa vọng lại một hồn đau thương
Làm chi để dấu trên đường
Bước chân ngày ấy đã cuồng gió lên
Thôi em đời một lần quên
Dòng sông thuở ấy lênh đênh mất rồi
Đưa tay tìm bóng xa xôi
Biết mình vẫn sống một đời khói sương

HOÀI KHANH

VỀ ĐÂY ANH BIẾT BUỒN HƠN TRƯỚC

linhphuong

Về đây anh biết buồn hơn trước
Mấy mươi năm hoa rụng mất rồi
Mấy mươi năm gió chiều Đông Bắc
Thổi tạt lòng anh nhớ một người

Về đây anh biết mùa xưa cũ
Đâu phải mùa xưa của thuở nào
Áo lụa qua cầu em tóc rối
Buổi biệt kinh kỳ buôn buốt đau

Có phải vì em còn viễn xứ
Mấy mươi năm anh mãi đợi chờ
Chao ơi ! Đã tan thành mây khói
Mộng hoài hương xa lắc- xa lơ

Có phải con đường em sáu ngả
Sáu ngả đời anh chẳng lối ra
Ngày nắng tàn phai theo sắc lá
Chớm thu vàng vắng bóng em qua

Về đây anh biết thời mới lớn
Bụi phấn rơi đầy vai tiểu thư
Về đây anh biết tình lận đận
Rượu uống mềm môi vẫn ngậm ngùi

LINH PHƯƠNG

VỠ LÒNG CHO MỘT NGƯỜI CON GÁI MỸ

dutule

1.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
anh vẫn phải trở về quê hương anh
cái dải đất nóng khô cong hình chữ S
cái dải đất không lớn bằng tiểu bang California của xứ sở em
(nơi anh đã sống những ngày đầu tiên và tập ăn, tập nói theo lối Mỹ)
cái dải đất rách nát nghèo đói vì chiến tranh
liên tiếp trên hai mươi năm
dù anh không bao giờ quên được em
trong đêm nhạc của ngày Hội Mùa Thu
ngày kỷ niệm 50 năm tiến bộ của các trại chủ miền Indiana
và nhất là anh không thể nào quên được
lúc Hội Mùa Thu bế mạc
em đã cùng Jana
ôm đàn chạy ra kiếm anh và một thanh niên Việt Nam khác
trên chuyến xe buýt chở đầy sinh viên
của các quốc gia đồng minh với Mỹ
trong sương mù giá buốt một đêm chớm thu
em ngơ ngác như một con bò non tội nghiệp
ôi những bước chân son
chạy đau nền cỏ lạnh
và những ngón tay run
xóa nhanh lớp nước mờ cửa kính
để nhìn rõ mặt nhau
anh đã đứng lên đẩy kính xe thò hẳn đầu ra ngoài
cùng em nói chuyện
và người bạn của anh đã phải gào lên
“tôi từ Việt Nam tới”
để trả lời cho một câu hỏi của Jana, bạn em
ôi Donna, Donna
phải là người Việt Nam
em mới hiểu được nỗi xúc động rưng rưng của anh
khi nghe thấy tên gọi quê hương mình
dạt lùa trong một khoảng không gian đẫm mù sương muối
át cả trăm ngàn tiếng động cơ máy nổ chung quanh

2.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng trở về
vì như em đã biết
quê hương anh trên bốn ngàn năm lập quốc
trên bốn ngàn năm không ngừng đánh đuổi ngoại xâm
trong đó có gần một ngàn năm bị Tàu đô hộ
và ngót trăm năm làm thuộc địa của Tây
nhưng dân tộc anh không bao giờ bị đồng hóa
bởi dân tộc anh là một giống dân quật cường
tuy hiền lành và rất nhiều tình cảm
mặc dù anh không thể quên
những lần gọi điện thoại cho em
trong những phòng điện thoại công cộng
với mười xu cho một cuộc nói chuyện kéo dài tối đa 7 phút
và đôi khi máy đã chẳng trả lại cho anh mười xu
như điều đã ghi trong bảng chỉ dẫn
mỗi khi không liên lạc được
không phải anh tiếc mười xu đâu, Donna
dù mười xu tính ra tiền Việt Nam
những trên hai mươi đồng theo giá chợ đen cơ đó
với hai mươi đồng Việt Nam xưa
anh có thể ăn một bữa cơm tạm no
hay thừa để mua một bao thuốc lá
nhưng kể từ khi có người Mỹ sang chiến đấu
bên cạnh quân đội của nước anh
thì với hai mươi đồng anh đã không đủ mua một gói thuốc

3.
không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh vẫn trở về quê hương
nơi mẹ già anh đã một đời ăn cơm chan bằng nước mắt
nơi anh em, nơi chú bác, cô dì, gần xa ruột thịt
đã và còn đang từng giờ gục ngã
chiến đấu cho sự trường tồn
và lý tưởng tự do của giòng giống
mặc dù ngay khi anh vừa bước chân xuống phi trường Sài gòn
anh có thể chết tan thây
vì một miếng plastic
một trái mìn nổ chậm
hay một quả đạn từ xa
của người anh em bên kia bắn tới
mặc dù anh không thể quên
đôi mắt em xanh như những cánh đồng hai mùa trĩu hạt
và mái tóc em óng vàng
xõa tung trên đôi vai gầy cổ tròn ngấn trắng
mặc dù anh không thể quên
lòng tốt của ba mẹ em
dành cho anh một người Việt nam cô đơn lạc lõng

và anh cũng không thể quên
những lá thư của em
như có đem theo cả tiếng cười vô tư giòn tan
vỡ cao trên những hàng cây phong úa vàng lá chín
ôi những nụ hôn thầm
trong đêm nào rét ngọt

4.
không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì trên đất Mỹ
thì anh cũng trở về
quê hương anh với trăm ngàn đời khốn khó
nơi anh sống chui rúc như chuột
trong một căn nhà tôn, vách ván
nơi người yêu anh
đang từng phút giây mong đợi
(nàng cũng có một mái tóc dài thả xõa như em)
nàng cũng có một đôi mắt mở to sáng trong nhẫn nhục
tất nhiên tóc và mắt của nàng thì đen
và da vàng cũng hệt như anh
nàng có may mắn
hơn khá nhiều người khác
ở chỗ còn được đi học
nghĩa là chưa đến nỗi phải tập nói O.K
để đi bán bar hay làm sở ngoại quốc
nhưng suốt một đời nàng không được như em
có những ngày hội vui
để đem đàn tới cùng bè bạn hòa nhạc
vì nàng cũng như bất cứ một người Việt Nam nào đó
đã sớm biết đến chiến tranh
từ trong bụng mẹ
rồi lớn lên cùng lửa đạn điêu tàn
và ngay trong tình yêu
(nàng cũng chịu biết bao điều nhục nhã)

5.
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ một thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
quê hương anh ruộng cằn đất cỗi
người chưa lớn đã già
trẻ chưa cao đã cọc
dù anh sẽ chẳng bao giờ quên em
đôi mắt xanh, mái tóc vàng và những ngón chân ngà
chạy nhanh trên nền cỏ lạnh
và tất nhiên sẽ về cùng anh
là những tấm ảnh em cho
với xấp thư thơm mùi lúa mạch
anh sẽ mãi ngóng trông
một ngày nào em đặt chân lên quê hương anh nhỏ bé
anh hy vọng ngày đó
những hố bom hố mìn
đã được lấp bằng
cho rất nhiều hoa nở
để mỗi bước chân đi
em sẽ thấy xứ sở anh có phần đẹp hơn nước Mỹ
để em sẽ nhận ra
không ở đâu có thể có được
một giống dân hiền lành nhưng quả cảm
một giống dân cần cù nhẫn nại
và dễ mến như dân tộc anh
biết chừng đâu khi ấy
em sẽ chẳng chọn quê hương anh
như một tổ quốc thứ hai
khởi đầu một cuộc định cư vĩnh viễn
ôi Donna, Donna Ostermeyer
hoài hoài sương mù trong anh một đêm mùa thu tay vẫy
một đêm ngời giọng hát vỡ trên cao
ôi Donna, Donna Ostermeyer
em có hiểu chút gì
những điều anh mới nói?

DU TỬ LÊ
(Indiana, tháng 9-69)