TA VỀ PHỐ CŨ

truongdinhphuong

Ta về phố cũ
Tìm em
Tìm cơn mưa cũ ướt mềm bờ vai
Cửa nhà ai
mở quên cài
Mà câu thơ cũ
thở dài ngoài hiên
Mắt ai
đăm đắm
dịu hiền
Trời xanh thăm thẳm
nối liền đường xanh
Bâng khuâng ta bước không đành
Ngẩn ngơ mấy nhịp chòng chành
cầu xưa !

Trương Đình Phượng

Mẹ và Quê Hương

trantrungdao

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống 8 năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo

SẮC NHỚ

nguyenlienchau

Bầy sẻ cũ đã lìa xa mái phố
Mây trắng giờ tụ xám lặng hiên xưa
Tôi trở lại.Hát ngu ngơ và nhớ
Những tháng ngày ngồi ngóng một cơn mưa

Hoa vẫn nở nhưng sắc vàng đã nhạt
Dòng thư yêu cũng nhoè mực lâu rồi
Cỏ ngượng ngập cố níu màu xanh lại
Ngậm ngùi ai thả sợi khói lên trời

Biết bao giờ bàn tay nhau chạm lại
Dù nhẹ thôi cung phách bản đàn xưa
Em đã xa… nghĩa là không trở lại
Để hiên tôi rơi rụng những âm thừa

Tôi trở lại…Hát ngu ngơ. Và nhớ
Ánh đèn vàng ấm áp suốt mùa thi
Không có em mỗi mình tôi tựa cửa
Phía hoàng hôn tím ngắt bóng chiều đi

Bầy sẻ cũ đã cùng em đi mất
Hiên xưa thèm đến khát một lời chim
Tôi lặng lẽ thả khói vào mây xám
Nhận ra hoa vàng sắc nhớ im lìm.

Nguyễn Liên Châu

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

LƯỚI KHUYA

Quên trong đêm. Quay về tìm
Ú tim tay gió, chân biền biệt sương
Ập òa ra, hoá nỗi buồn
Vậy mà đã nhọc công bương chải về
Bây giờ mắc giữa lưới khuya

ĐƯỜNG XA

Mũi tên nào để vết thương
Thôi thì đau, để nhẹ nhàng cái vay
Hạt vơi đong nỗi hạt đầy
Ơn trời, mưa bóng mưa mây thôi mà
Đi thôi. Đường hãy còn xa…

PHÂN VÂN

Một nghìn bước để tới đây
Để nghe một cõi mộng này, là tôi
Một nghìn bước nữa, hay thôi?
Một nghìn bước tưởng xa xôi …bỗng gần,
Chỉ là có chút phân vân…

Nguyễn thị Khánh Minh

Màu khăn quàng cổ

tranhoaithu

Trong một bài viết đăng trên nguyệt san KBC , nhan đề:
“Tiểu Đoàn 35 BĐQ Chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn Trong Đợt 2 Mậu Thân 1968” tác giả Văn Lang nói về viên tiểu đoàn trưởng Hồ văn Hòa như sau:
“đó là con mãnh hổ đầu đàn của TĐ35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đã tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên…”
Là người trong cuộc, chúng tôi xin được bổ túc cũng như nói rõ thêm về màu khăn quảng cổ được nhắc trong bài viết.
– Thứ nhất, đơn vị mà thiếu tá Hòa chỉ huy trước khi được bốc về giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 35 BĐQ là đại đội 405 thám kích/SĐ 22 BB.
– Màu của chiếc khăn quàng cổ gồm hai màu: Đen và đỏ.
Màu đen tượng trưng cho bóng tối. Và màu đỏ tượng trưng máu. Bởi vì thám kích chúng tôi là binh chủng hay hoạt động về ban đêm, lợi dung bóng tối để mà thực hiện những chuyến đi như đột kích, xâm nhập mật khu hay săn tin tức tình báo…
– Đại úy Thành chớ không phải đại úy Trinh. Ông là người đã có công rất lớn trong việc thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của sư đoàn để ứng phó với chiến trường miền núi..
– Ngoài thành tích là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH, Thiếu tá Hòa còn là một sĩ quan trẻ được thăng cấp nhanh nhất của QLVNCH . Chỉ trong vòng hai tháng, ông được lên hai cấp . Cả hai lần đều xảy ra trong thời gian ông làm đại đội trưởng 405 Thám kích, cả hai lần được gắn từ mặt trận bởi một vị tướng có tiếng là khó nhất là tướng Đỗ Cao Trí.

***

Nói đến khăn choàng cổ, thường thường người ta hay liên tưởng đến tướng Kỳ và những chàng phi công hào hoa với chiếc khăn choàng bằng lụa tím, khẩu súng ngắn kiểu cao bồi đeo lủng lẳng ở ngang lưng và bộ đồ bay oai phong lẫm liệt.
Trách chi mấy nàng một thời chết mê chết mệt vì hình ảnh hào kiệt nhưng đầy lãng mạn đó,
Còn chiếc khăn quàng cổ của đại đội 405 thám kích và sau này của tiểu đoàn 35 Biệt Đông quân chỉ là một chiếc khăn vải được hậu cứ phát cho người lính khi họ về trình diện đơn vị. Nó như là một biểu tượng của đơn vị. Nó chỉ được choàng khi đi hành quân. Nó chẳng đẹp đẽ gì, trái lại đầy mồ hôi, bụi, khói, bùn sình… Nếu mà choàng nó quanh cổ mà đi dạo phố với em, chắc chẳng giống ai, trong khi khăn choàng phải là khăn lụa, màu tím như chúng ta vẫn thường thấy .
Thế mà Thiếu tá Hòa lại mang nó về cho đơn vị mới của ông, và cả tôi, khi xuất bản cuốn Đại Đội cũ và trang sách cũ lại dùng hai màu đen và đỏ kia để làm bìa. Tại sao ?

DSC_3347-2

Có người chê tôi trình bày kém, không nghệ thuật chút nào. Phải có tranh hình của một họa sĩ nổi tiếng. Chứ nhìn vào thấy một màu máu dưới màu đen ghê rợn như lòng địa phủ. Nhưng xin hãy thông cảm cho tôi. Nếu thiếu tá Hòa đã mang vào đời binh nghiệp của ông cái màu khăn quàng , thì tôi cũng mang nó vào cuộc đời văn chương chữ nghĩa của tôi, như nhà thơ Charles Schwidersk xây những căn phòng trong tâm tưởng ông qua bài thơ “ For my scouts (Cho những người bạn thám kích của tôi) :

I have built a house within my heart where all of my Highland Scouts live.
Each one has a permanent room though all of the windows are draped in black and the tenants are never coming back.
(For my scouts)

Tạm dịch:
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại

Từ người cựu chiến binh Hoa Kỳ xây ngôi nhà nhiều phòng cho những người bạn thám kích chúng tôi, mặc dù, ông chỉ sống với họ lúc họ hành quân. Hết hành quân ông trở về bản doanh dành cho cố vấn. , đến một Hồ văn Hòa, mang cái khăn choàng cổ một bên là màu đen và một bên là màu đỏ của đại đội cũ. và tôi, mang chúng cho bìa sách cũng như vào trong suốt những tác phẩm văn chương của mình… Những điều ấy chứng tỏ chúng tôi có một mái nhà chung, để mà nương tựa trong lúc cô đơn, trong lúc tuyệt vọng, trong lúc cảm thấy nghị lực không còn đủ sức để chống chọi với cuộc đời…
Như những ngày tháng bây giờ.
Tôi không cần những danh ngôn như người lính già không bao giờ chết, họ chỉ… gì gì đấy không cần nhớ, cần biết, mà nhớ biết để làm gì. Hay anh không chết đâu anh… Bởi vì tôi đã có một thứ để hãnh diện rồi:
Đó là chiếc khăn choàng bằng vải mà tôi đã mang nó trong suốt gần 4 năm ở 405 thám kích.

Trần Hoài Thư

CƯỠI NGỌN SẤM 21

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 16

Trở lại mặt trận, thế là xong

Mặc dù có chiến tranh hay không, nhưng một khi được đi học tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng DLI, bạn không thể nào mà không tìm dịp để đi một vòng vui chơi ở Carmel và Monterey, ấy thế mà George Philip chỉ chực ra đi. Anh đã chứng kiến quá nhiều cảnh chết chóc và hoang tàn rồi, đã được thỏa mãn đầy đủ tất cả những sự háo hức mà một người chiến sĩ thường gặp trước trận thử lửa đầu tiên. Anh đã từng tự nhủ: “liệu mình có đủ nghị lực hay không? Và có dám cầm súng đứng lên hay không?” Anh tự biết là mình đã trải qua những thứ đó rồi.

Cuộc chiến đã gần tàn và George không có nhiệm vụ phải trở lại Việt Nam nữa. Đối với hầu hết các quân nhân chuyên nghiệp Hoa Kỳ thì chiến tranh đã chấm dứt. Những cơ hội để được phục vụ, trừ các phi công và phi hành đoàn ra, đều đã bị cắt giảm đáng kể. Đối với các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ thì nhiệm vụ cố vấn là nhu cầu đứng đắn duy nhất còn sót lại, ngoại trừ một số trách nhiệm đặc biệt khác. Nhưng TQLC là nghề của George và việc trở lại chiến trường chỉ là một nghĩa cử cao quý đáng phải làm mà thôi. Ngoài ra, dư luận chung trong nước có khuynh hướng ghét giới quân đội làm George rất chán nản. Mấy tay nhạc sĩ phản chiến như Neil Young, Joan Baez và bầu đoàn của họ chắc chẳng bao giờ đi vào Vùng I Chiến Thuật hay bất cứ nơi nào mà George sẽ phục vụ với những người bạn mới trong TQLC Việt Nam. Nhiệm vụ như một người cố vấn là một chuyện có ý nghĩa và đầy sức sống mà anh có thể đảm đương được.

George được thăng cấp Đại úy ngay trước khi hoàn tất khóa học tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng. Anh tận dụng một tháng phép được cấp thêm một lần nữa trước khi trở lại Đông Nam Á.

Chuyến công tác lần thứ hai này ít ồn ào và không quá căng thẳng như lần trước. Hiện nay không còn bao nhiêu người Mỹ hiện diện nữa thành thử anh gần như là chỉ có một mình trong chuyến bay và có thời giờ để suy ngẫm về hoàn cảnh riêng của mình. Anh cười thầm trong bụng khi nhớ lại chuyến đầu tiên anh đi Việt Nam vào đầu năm 1968. Lúc đó anh chỉ sợ là đã quá trễ và không có dịp tham gia vào cuộc chiến. Giờ đây, ngót bốn năm sau, anh đang trở lại một cuộc chiến tranh mà dưới quan điểm riêng của anh, vẫn chưa thấy được đoạn kết trong tầm nhìn đâu cả.

Tái hồi với Vùng I Chiến Thuật

Đời sống của các TQLC và binh lính Hoa Kỳ tại Việt Nam là một cuộc chiến đấu không ngừng với phong thổ địa lý. Điều này đặc biệt đúng đối với các đơn vị bộ binh vì họ phải luôn chịu đựng các yếu tố về sức nóng, bụi bặm, ẩm ướt, dơ dáy, đói khát và nỗi sợ hãi thường trực. Yếu tố thời gian cũng không kém phần nguy hiểm như kẻ thù quân Bắc Việt và nó dường như ngừng trôi trong khi các biến cố trong nước tưởng chừng như chuyển động với tốc độ chóng mặt, chắc chắn là ngoài sức tưởng tượng của họ.

Nỗi ám ảnh lớn nhất đối với người lính là tại quê nhà các người yêu hay vợ trẻ có thể thoát ra khỏi cái vũ trụ mà họ đang sống và xoay trở trong đó. Trong một số chiến binh còn có nỗi lo, cũng có thể pha chút giận dữ, khi những người thân không thể nào hiểu nổi sự độc nhất vô nhị của mối căng thẳng trong chiến trận tại Việt Nam.

Một điều khác thường nữa là cuộc sống của những người dân mà tài sản của họ lọt vào những nơi mà chiến tranh đang xảy ra. Đối với một số người sống nơi thành thị và hầu hết những người dân ở thôn quê, họ là thành phần chính của văn hóa Việt Nam, cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn như thường lệ. Cho dù cảm tình của họ dành cho chính phủ VNCH, hay cho Cộng sản, đơn giản hơn là họ chỉ muốn được yên thân, người dân thường chỉ muốn có cơm ăn áo mặc, nhà ở và những thứ khác cần thiết cho cuộc sống.

Nhà văn nổi tiếng người Nga Fyodor Dostoevsky đã nhận xét con người là một sinh vật có khả năng thích ứng với tất cả mọi thứ. Có vẻ như ông đã mô tả những người dân thường Việt Nam sống tại nông thôn. Họ đã từng chịu đựng bao nhiêu thế hệ rồi và sẽ tiếp tục còn phải chịu đựng thêm mãi.

Trong các làng mạc và xã ấp hẻo lánh tại vùng phía Bắc miền Nam Việt Nam, cuộc sống hằng ngày xoay quanh việc cóp nhặt các nguồn lợi được cung cấp từ mảnh đất nghèo nàn và khô cằn. Gạo là mạch sống của mọi thứ. Trồng cấy, chăm sóc, gặt đập và giã gạo là đặc biệt quan trọng cho mọi cuộc sống. Ngoài lúa gạo ra, người nông dân còn nuôi thêm gà vịt, thỉnh thoảng một vài con heo và chài lưới bắt cá bất cứ chỗ nào có thể bắt được – cá biển, cá sông, rạch, cá từ các cánh đồng ngập nước hay những vũng nước tạo ra bởi mưa lũ nhiệt đới, bất kể ở đâu. Cá hầu như là nguồn cung cấp chất đạm chính ở khắp nơi.

Đối với những người Mỹ nào không thông cảm nổi sự dè dặt một cách khó hiểu của văn hóa Đông phương thì dân Việt Nam có vẻ chỉ là một phần vô hồn trong cái môi trường khắc nghiệt mà họ đã quá quen thuộc với những sự kinh hoàng của chiến tranh đang vây bủa. Khi một TQLC hay chiến sĩ Hoa Kỳ bình an sau chu kỳ nhiệm vụ của mình và trở về nhà thì những người dân địa phương nơi đó vẫn phải ở lại chốn cũ và sống tiếp trong cơn ác mộng mà những người Mỹ đã trải qua tại Việt Nam. Đối với người lính VNCH là những người có liên quan nhiều nhất đến cuộc chiến thì hầu hết bị người Mỹ bỏ quên hay không chú ý đến.

Hẳn nhiên là với địa vị một sĩ quan cấp úy, George Philip không biết nhiều về sự liên hệ chặt chẽ giữa binh đoàn TQLC Hoa Kỳ và binh chủng TQLC Việt Nam đã có từ năm 1954, lúc mà anh chỉ mới học đến lớp bốn. Rất ít người Mỹ, ngay cả những người đã từng tham dự mật thiết vào cuộc chiến từ 1965 đến 1971 biết được điều đó. Hầu hết chỉ biết đến “những kinh nghiệm về Việt Nam” trong đó sự liên quan của họ đối với quân lực VNCH hay binh chủng TQLC Việt Nam ở mức rất hạn chế.

Vào thời điểm anh đến phi trường Tân Sơn Nhất ở ngoại ô Sài Gòn để bắt đầu nhiệm vụ lần thứ hai của mình, Đại úy George Philip đã được huấn luyện cấp tốc về ngôn ngữ và văn hóa cần thiết. Trong số gần 400.000 TQLC Hoa Kỳ đã đến và đi khỏi Việt Nam tính đến giữa năm 1971, chỉ có non 600 người được bổ nhiệm làm cố vấn.

Nhiệm vụ cố vấn cho binh chủng TQLC Việt Nam là một trách nhiệm khá lạ lùng. Đến năm 1971, các cấp chỉ huy của chín Tiểu đoàn tác chiến và ba Tiểu đoàn pháo binh đều là Thiếu tá (cấp số của quân đội Hoa Kỳ là Trung tá). Trong khi hầu hết các sĩ quan Hoa Kỳ nhận nhiệm vụ cố vấn đều đã trải qua ít nhất một chu kỳ nhiệm vụ thì tất cả các cấp chỉ huy của các Tiểu đoàn VNCH đều khởi đầu binh nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Do họ chưa chết hay chưa bị trọng thương và vì cuộc chiến chưa chấm dứt, họ vẫn phải tại ngũ trong cái nhiệm vụ duy nhất và liên tục của họ.

Theo nhu cầu tác chiến của TQLC Việt Nam, mỗi Tiểu đoàn cần đến hai sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ. Thông thường ngoài mặt trận, các Tiểu đoàn TQLC Việt Nam được chia ra thành hai bộ phận chỉ huy. Bộ phận đầu được gọi là ban chỉ huy Alpha, gồm sĩ quan Tiểu đoàn trưởng và sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ thâm niên nhất, thường là một Đại úy hay Thiếu tá. Bộ phận thứ hai được chỉ huy bởi Tiểu đoàn phó. Nhóm thứ hai này gọi là ban chỉ huy Bravo, được thành lập với mục đích là trong trường hợp ban chỉ huy Alpha bị tiêu diệt hay bất khiển dụng thì Tiểu đoàn phó có thể lên thay thế. Quyền chỉ huy được phân chia như vậy có thể bảo đảm là kẻ thù không dễ dàng gì làm tê liệt toàn bộ cơ cấu tổ chức của một tiểu đoàn. Nếu tiểu đoàn có một cố vấn quân sự Hoa Kỳ thứ hai thì người này đi theo Tiểu đoàn phó và thường mang cấp bậc Đại úy hoặc kém thâm niên hơn người kia nếu cùng cấp bậc.

Một trong những điều tâm lý động viên tinh thần lớn nhất cho các binh sĩ là cho họ khái niệm là họ thuộc vào thành phần của một gia đình hay một nhóm mà mọi đồng đội có thể hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Tình huynh đệ chi binh đã được nâng lên ở (một) mức cao nhất không thấy nơi các đơn vị khác. Hầu như mọi người đã thể hiện lòng dũng cảm không phải vì phục tùng hay nhắm hưởng bổng lộc mà chỉ vì họ muốn bảo bọc lẫn nhau. Ít nhiều, nhiệm vụ cố vấn đã làm phức tạp thêm khái niệm này.

Các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ phần nào đã thoát ra khỏi những mối liên hệ chặt chẽ họ đã từng có với những người mà họ đã phục vụ chung, đã từng chỉ huy hay từng dưới quyền chỉ huy.

Với nhiệm vụ cố vấn, họ không có quyền hạn thật sự và vì là người Mỹ, mặc dù đã được huấn luyện về ngôn ngữ, hầu hết cũng chưa có đủ khả năng để trao đổi một cách chân thành và sâu sắc nhất với những quân nhân mà họ chia sẻ các khó khăn của cuộc đời lính chiến. Không thế nào mà không phải trải qua những giây phút cô đơn, nhất là khi khả năng của họ lúc ban đầu đang bị những người họ làm cố vấn và các binh sĩ chung quanh đánh giá một cách lạnh nhạt. Thể tạng những người Hoa Kỳ cao lớn và lông lá cũng là một đề tài để họ quan sát.

Mỗi một Tiểu đoàn trưởng TQLC Việt Nam đều có ít nhất là tám đến mười năm tác chiến lâu hơn so với một cố vấn Hoa Kỳ thâm niên và lão luyện nhất. Do đó kinh nghiệm chiến đấu không phải là mặt mạnh của các cố vấn Hoa Kỳ.

Dù không thâm niên bằng nhưng nhu cầu cần cố vấn Hoa Kỳ rất cao vì họ được sống trong một văn hóa đã thấm nhuần các khái niệm thực tế về sự phối hợp và sử dụng hỏa lực một cách có hiệu quả. Ngay cả trong một vài trường hợp hiếm hoi, dù sĩ quan Việt Nam không ưa các cố vấn đi theo họ lắm nhưng họ không bao giờ chê các phương tiện hỏa lực mà cố vấn Hoa Kỳ nắm trong tay.

Ngoài khả năng có thể gọi hỏa lực yểm trợ cần thiết khi được yêu cầu và đòi hỏi, các cố vấn Hoa Kỳ đều phải nhớ, giống như khi họ còn chỉ huy trung đội và đại đội, rằng họ luôn luôn bị những người chung quanh quan sát họ. Tâm trạng cô đơn của người cố vấn còn tăng thêm vì sự khác biệt tương đối so với các binh sĩ Việt Nam mà họ đang phục vụ và sống chung với nhau.

Cho đến năm 1971, TQLC Việt Nam đã có được một khả năng về pháo binh khá hùng hậu. Điều mà họ chưa có, và có lẽ không bao giờ có được là một hạm đội hải quân với số lượng vô giới hạn về đạn hải pháo bắn đi từ các hộ tống hạm và chiến hạm như Hải quân Hoa Kỳ. Họ cũng không thể nào có nổi một không lực với khả năng thả một khối lượng bom như một cuộc không tập ARCLIGHT B-52 hay bất kỳ phóng pháo – chiến đấu cơ nào khác mà Không Lực Hoa Kỳ đang có trong tay.

Mặc dù cố vấn Hoa Kỳ có thể được châm chước về những phong cách khác lạ của người ngoại quốc, đặc biệt nếu anh là người giỏi hoặc anh hòa đồng tốt với những người anh trực tiếp làm việc chung, chẳng hạn như nhân viên truyền tin và đám lính “ba trợn,” tức những người mà các lời rỉ tai tốt hay xấu sẽ được lan truyền tới những người khác trong tiểu đoàn, anh vẫn luôn luôn phải nhớ anh là ai và đang ở đâu.

Trên thực tế, cố vấn Hoa Kỳ ngoài chuyện phải can trường và tuyệt giỏi về công tác phối hợp hỏa lực yểm trợ, còn phải là viên “đại sứ” Hoa Kỳ trong bộ quân phục rằn ri của TQLC Việt Nam nữa. Trong mọi tình huống, cố vấn Hoa Kỳ phải biết thông cảm với những sắc thái văn hóa và sự khác biệt giữa những gì anh vẫn làm lúc còn là TQLC Hoa Kỳ và những chuyện cần làm bây giờ trong binh chủng TQLC Việt Nam. Quan trọng hơn hết là anh phải biết thế nào là “thể diện” và “giữ thể diện.”

Khuynh hướng của người Mỹ muốn giải quyết các vấn đề một cách trực tiếp và chóng vánh nhất thường đi ngược lại với phong thái Khổng giáo. Những vi phạm nghiêm trọng đến các điều nhạy cảm về văn hóa một cách nghịch lý có thể thành một vấn đề lớn. Một cố vấn khôn ngoan cần phải biết cách đối phó với những vấn đề này mọi lúc, mỗi ngày.

Tất cả các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ đã từng làm việc chung với TQLC Việt Nam đều trải qua những giai đoạn bị cô lập và lẻ loi, mặc dù là sau này họ có thể gần gũi với các đồng đội TQLC Việt Nam hơn. Điều này khiến cho tình bạn giữa các cố vấn Hoa Kỳ với nhau vô cùng quan trọng, nhất là trong thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh đã khiến cho sự hiện diện của người Mỹ trên đất nước mà họ đang giúp đỡ càng lúc càng vắng dần. Khi các đơn vị được nghỉ ngơi dưỡng quân tại Thủ Đức gần Sài Gòn thì các sĩ quan Hoa Kỳ thường tìm gặp nhau ngoài giờ làm việc. Chính trong một dịp như vậy mà Đại úy George Philip đã gặp được một số người mà sau này trở thành những người bạn thân thiết nhất.

Bằng trực giác và được nghe qua những mẩu chuyện cũng như lời đồn đãi trước khi đến Việt Nam, George tin chắc là hầu hết các cố vấn Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam đều là những tay chiến binh kỳ cựu, những kỳ tích chân chính được lưu truyền trong tập thể TQLC Hoa Kỳ. Trong hai cuộc Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai, những nhân vật như John Ripley, Ray Smith, Walt Boomer và nhiều người nổi danh can trường khác nữa luôn luôn được dư luận Hoa Kỳ trân trọng và ghi nhận. Cuộc chiến này thì khác hẳn. Trong khi ai cũng biết đến Trung úy Calley và những hành động bỉ ổi của hắn tại Mỹ Lai thì chỉ có cái nhóm nhỏ chuyên nghiệp mới biết đến ai là những thủ lĩnh thật sự và những hành động dũng cảm nào mà họ đã thực hiện được.

George cảm thấy rằng trong chu kỳ nhiệm vụ trước đây, khi anh là TQLC Hoa Kỳ đánh nhau trên Vùng I Chiến Thuật thì cũng giống như anh tham dự một đội bóng loại xoàng. Nay làm cố vấn Hoa Kỳ, anh hiểu ra là anh đã được tham gia vào một đội siêu đẳng. Nhóm “cầu thủ” tài danh mà binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã tập hợp cho nhiệm vụ đặc biệt này là những sĩ quan trẻ tài ba nhất. George tự cảm thấy vừa khiêm tốn vừa hãnh diện.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn

Cho đến mùa Hè năm 1971 có vào khoảng hơn 200 triệu người Hoa Kỳ chưa bao giờ đổ mồ hôi hay xương máu ngày nào tại Đông Nam Á. Do đó, đối với hầu hết trong số họ, Việt Nam chỉ là một sự phiền nhiễu vu vơ gây ra sự bực mình hằng đêm khi xem truyền hình hoặc chỉ là một vấn đề làm khó chịu và gây thất vọng.

Đối với những người trong nước, cuộc chiến Việt Nam vẫn còn ảnh hưởng đến họ và làm họ thay đổi theo những chiều hướng rất khó diễn tả, khó lường được và cũng khó hiểu nữa. Những sự thay đổi và biến động hiện nay trong xã hội, phong trào nhân quyền, tệ nạn ma túy, cách mạng về tình dục, sự bất tuân mọi hình thức của quyền lực chính quyền, tất cả những thứ đó dường như quyện vào nhau và là thành phần của một hiện tượng Việt Nam lớn hơn bao trùm tất cả lứa tuổi đủ già dặn để nhớ lại là đã xem được những cuốn phim như “Leave it to Beaver” hay “The Adventures of Ozzie and Harriet” trước khi những cuốn phim này được mang ra chiếu lại.

Cho đến mùa Hè năm 1971, nước Mỹ đã bắt đầu bước qua trang sử mới. Số người Mỹ còn ở lại Việt Nam mang cái ảo tưởng là mức độ rủi ro của họ không đáng kể vì chỉ có một số ít trong số hơn 100 ngàn người còn ở lại Việt Nam được lãnh các nhiệm vụ nguy hiểm. Lệnh động viên vẫn còn hiệu lực nhưng đã tiết giảm dần. Số lượng tổn thất giảm đáng kể so với các năm 1968 và 1969. Ngay cả âm nhạc cũng có vẻ đã vượt qua thời kỳ chiến tranh vì những bản nhạc phản chiến cũng đã ít dần đi.

Cho đến mùa Hè 1971 rõ ràng là tương lai của nước Mỹ không có hình ảnh của Việt Nam trong đó nữa. Tuy nhiên các kỷ niệm về Việt Nam vẫn còn trong kính chiếu hậu, nhất là đối với các thanh niên đã từng qua đó, đã trở về và đang cố gắng mưu cầu lại cuộc sống bình thường, bất kể những ước vọng đó như thế nào.

Trong số khoảng 43.000 người được động viên vào binh đoàn TQLC Hoa Kỳ thì có rất ít người được chỉ huy một trung đội tác chiến. Mặc dù không có hồ sơ ghi chép chính xác nhưng có lẽ Chuck Goggin là người đã nắm kỷ lục thời gian nhanh nhất từ Hạ sĩ lên Trung sĩ chỉ trong vòng hai tháng, và đã được nắm quyền chỉ huy trung đội.

Chiến Thương Bội Tinh duy nhất mà anh đã được trao tặng mặc dù anh đã bị thương ba lần khác nhau bởi đạn thù đã nói lên cái thói quen của những chiến sĩ như anh. Họ vẫn thường từ chối không chịu cho tản thương hay công nhận là đã bị thương mà chỉ muốn ở lại chiến đấu cùng với đồng đội trong rừng đang cần đến họ.

Đại đội trưởng John Ripley đã đề nghị anh được huân chương Silver Star nhưng sau đó nó đã bị hạ xuống còn huy chương Bronze Star vì trong thời gian đó cấp chỉ huy của Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 rất bủn xỉn trong việc tưởng thưởng các loại huy chương anh dũng.

Được giải ngũ vào ngày 10 tháng Hai năm 1968, gần hai năm sau ngày nhập ngũ, Chuck Goggin đến Vero Beach, Florida chín ngày sau đó để tham dự khóa tập luyện mùa Xuân với đội bóng chày Dodgers. Trong khi các đồng đội cũ của anh còn ở Việt Nam và tham dự hàng loạt trận đánh kể từ cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân thì giờ đây Chuck sống ngoài lề và tách ra khỏi những chuyện đó. Hiện anh cũng có những “trận đánh” riêng của anh để được ở lại trong đội bóng.

Trong phạm vi các cầu thủ đội bóng chày có rất ít hay hầu như không có các cuộc trao đổi về chiến tranh tại Việt Nam thành thử chẳng ai màng tới chuyện Chuck đã làm gì trong thời gian đó. Chuyện duy nhất mọi người quan tâm là không phải đi Việt Nam. Trên thực tế, anh biết nhiều cầu thủ đã cố ý tham gia các đơn vị trừ bị hay Vệ Binh Quốc Gia chỉ vì muốn tránh bị phục vụ tại Việt Nam. Huy chương này hay huy chương kia chẳng có nghĩa lý gì đối với những người chỉ muốn theo đuổi những mục đích vinh thân phì gia.

Từ kỳ tập luyện mùa Xuân năm 1968 cho mãi đến mùa Hè 1971, cuộc sống của Chuck không sôi nổi như các cuộc hành quân tại Vùng I Chiến Thuật mà chỉ là một sự mờ ảo của những hoạt động không dứt của một thế giới xoay quanh môn bóng chày. Tiếp theo khóa huấn luyện mùa Xuân đầu tiên, anh chơi cho đội tuyển hạng AA tại Albuquerque suốt mùa hè, còn mùa Đông thì tại Arizona, nơi anh được Tommy Lasorda dìu dắt, một người mà anh đặc biệt quý mến. Năm sau, cũng trong tổ chức của Dodgers và vẫn dưới quyền huấn luyện của Lasorda, anh chơi cho đội AAA tại Spokane. Sau đó anh được hoán đổi cho tổ chức Pirates để Dodgers lấy về một tay ném bóng trẻ hơn, là Jim Bunning.

Chuck Goggin chơi cho các đội AA và AAA của Columbus, Charleston, Waterbury tại Connecticut và còn dành thời gian để chơi cho đội Mexico trong mùa Đông nữa. Trong suốt thời gian đó, qua biết bao nhiêu lần bị chấn thương trong đó có một lần bị gãy cổ chân khá nặng, Chuck Goggin vẫn chịu đựng được và cố gắng vươn lên cao. Anh hy vọng anh sẽ được vào đội tuyển các đội ngoại hạng.

Cho đến mùa Hè năm 1971 thì hầu như không có ngày nào trôi qua mà Chuck không nghĩ về thời gian anh phục vụ tại Việt Nam mặc dù anh không hề kể lại cho ai nghe về kinh nghiệm của anh về Việt Nam bao giờ.

Cho đến mùa Hè năm 1971 Chuck Goggin đã gắn chặt đời mình vào bóng chày và lập gia đình với một cô dâu mới. Anh đã đoạn tuyệt với quá khứ. Anh không hề tiếc nuối thời gian qua tại Việt Nam nhưng anh vui là đối với anh, đó chỉ là kỷ niệm và không phải là cuộc sống hiện tại nữa.

Việt Nam… Phần hai

Chuyến bay đến Tân Sơn Nhất không xảy ra biến cố gì. Trong lần nhiệm vụ trước, Đại úy George Philip chưa bao giờ xuống đến Sài Gòn. Tất cả kinh nghiệm của anh với Việt Nam, giống như các TQLC Hoa Kỳ khác, là đến, chiến đấu và ra đi, mọi chuyện đều xảy ra tuốt phía Bắc và trong phạm vi Vùng I Chiến Thuật.

Lúc đến nơi, George được hai người cố vấn đồng đội ra đón và giúp làm các thủ tục cần thiết tại phi trường. Ngoại trừ đây đó có những vị trí được tấn bao cát dọc theo bên đường đưa vào thành phố cùng sự hiện diện của quân nhân và cảnh sát Việt Nam, người ta cũng khó mà biết là vào thời điểm tháng Tám 1971, chiến tranh vẫn còn đang xảy ra.

Thành phố Sài Gòn náo nhiệt với cuộc sống và buôn bán. George Philip rất thích ngắm cảnh và sự náo nhiệt của đường phố nhưng anh lại rất hãi hùng về cách lái xe của dân chúng. Anh tưởng chừng như có thể bị tử thương ngay trong ngày đầu tiên khi vừa lái ra khỏi phi trường.

Từ phi trường họ lái thẳng về Bộ Tư Lệnh TQLC Việt Nam ngay trung tâm Sài Gòn. George được viên chỉ huy phó cố vấn đón tiếp. Anh cũng được phát đồ trận rằn ri (George đã gởi kích thước của mình đến trước để thợ may sẵn sàng quân phục khi anh đến nơi là có ngay) và cái nón bê-rê đặc biệt mà anh sẽ đội trong suốt một năm phục vụ. Vì đã trễ rồi và vì đằng nào những thủ tục giấy tờ và thời gian hội nhập cũng phải mất vài ngày thành thử George được cho về nhằm kịp lấy phòng tại khách sạn Splendid, cũng trong trung tâm thành phố, nơi mà hầu hết cố vấn Hoa Kỳ đang trú ngụ.

Mặc dù rất mệt nhưng anh cũng gia nhập một nhóm cố vấn gồm các Thiếu tá và Đại úy, tất cả đều thâm niên hơn anh. Họ mới trở về từ mặt trận và rủ nhau đi câu lạc bộ Hòa Bình, một chốn ưa thích tại Sài Gòn mà các cố vấn Hoa Kỳ thường chọn để lui tới. Ngay từ lúc anh mới ngồi xuống và chưa kịp uống ngụm bia đầu tiên, anh đã thấy rõ ràng là cái nhóm sĩ quan TQLC Hoa Kỳ này hết sức đặc biệt rồi. Anh hiểu ngay là anh đang nhập bọn với những nhân vật tên tuổi. Tâm trạng anh giống như đã được gia nhập vào nhóm Robin Hood của thế kỷ 20. Nhóm người thần kỳ này là một kinh nghiệm duy nhất từ trước đến nay đối với anh.

Anh định cáo lui sớm để nghỉ ngơi hầu lấy lại sức vì sự sai biệt về múi giờ đã làm anh thiếu ngủ và trong máy bay anh cũng không ngủ được bao lâu. Thiếu tá Andy DeBona *, một trong những người kỳ diệu nhất trong nhóm, có thể tượng trưng cho nhân vật Little John trong chuyện Robin Hood, đã phản đối ý định của viên Đại úy trẻ không muốn ở lại suốt buổi tối với nhóm. Lúc George đứng dậy lễ phép muốn cáo từ, Thiếu tá DeBona hỏi anh:

“Anh định đi đâu đấy?”

George cố giải thích.

“Dẹp đi ngay. Anh phải ở đây uống với chúng tôi đã.”

Thế là George bị kẹt lại. Tất cả những gì viên Đại úy trẻ có thể đáp lại cũng chỉ tương tự như tâm trạng của một sinh viên sĩ quan Hải quân đối với cấp trên:

“Xin tuân lệnh thượng cấp.”

__________________________________________________________

* Vào tháng Chín năm 1967, Andy DeBona là Đại đội trưởng Đại đội M, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ. Anh được tưởng thưởng huân chương Navy Cross vì lòng dũng cảm đặc biệt trong trận đánh đẫm máu với bộ đội Bắc Việt tại Cồn Thiên. DeBona đã là một huyền thoại lúc anh còn trong TQLC Hoa Kỳ. Những hành động của anh khi làm cố vấn quân sự cho Tiểu Đoàn 7 TQLC Việt Nam còn làm cho anh nổi danh thêm với tư cách là một người chiến sĩ.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

NHỮNG THẬP KỈ BUỒN

phuonguy

em hỏi: chiều có tím không?
ừ không em, ngày không tím
nơi anh ngồi chỉ cơn mưa trắng xiên ngang
em hỏi: mùa gì đó anh?
ừ em, mùa vô vi em ạ
những con đường manh nha không chịu trôi đến tận cùng
en hỏi : anh đang làm gì đó
còn làm gì được đâu em
khi ngã đường bít lối
Anh chỉ mở hộp kí ức ra xem
không phải chiếc hộp Pandora để em còn háo hức
chỉ bóng đêm vỡ li ti trên câu nói mớ ban ngày
cháy trong gân lá
một xế chiều rách rưới
kí ức mờ chỉ có chập chùng mây

Trong nghĩa địa những dụ ngôn đi lạc
đeo băng đen lời bịt mắt chối từ
anh đã dối trong ngàn muôn thập kỉ
bụi niềm vui nham nhở giữa âm u
em đừng hỏi về những ngày sau nữa
có những dự trù đau
mùa hè câm vào một chiều đỏ lửa
chỉ còn rì rầm tiếng nói ngàn lau
em đừng khóc bài thơ tình khản tiếng
mùa qua mùa nhưng nhức khô rang
dẫu có biết trăm ngàn lần sự thật
cũng không thể cầm một tiếng nói
xanh trên vết tích thời gian…

Hoàng Phương Uy

I HAVE A DREAM : BÀI DIỄN VĂN BẤT HỦ VỀ “GIẤC MƠ” CỦA MỤC SƯ LUTHER KING

Ngày 28/8/1963, mục sư Martin Luther King, một nhà hoạt động vì dân quyền, chống phân biệt chủng tộc, đã đọc bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ” tại Đài tưởng niệm Lincoln (Washington D.C, Mỹ) trước hàng nghìn người tham gia cuộc tuần hành đến Washington vì việc làm và tự do.

martin1-96e81-crop1385543111650p

Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại mà chúng ta giờ đây đứng dưới bóng của ông, đã ký một bản Tuyên ngôn giải phóng. Tuyên ngôn lịch sử này đã trở thành ngọn đuốc hy vọng cho hàng triệu nô lệ da đen, những người bị thiêu đốt trong ngọn lửa của sự bất công. Nó đến như vầng dương chấm dứt đêm dài tăm tối. Nhưng một trăm năm sau, chúng ta lại đang phải đối mặt với một sự thật bi kịch khác, người da đen vẫn chưa được tự do.
Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị kéo lê bởi xiềng xích của sự cách ngăn và cùm gông của nạn kỳ thị. Một trăm năm sau, người da đen vẫn đang phải sống trên hoang đảo nghèo đói giữa biển cả phồn vinh. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tiều tụy lang thang nơi góc phố tối tăm trên đất Mỹ, chỉ thấy chính họ là kẻ lưu vong trên ngay mảnh đất quê hương mình.
Bởi vậy, chúng ta cùng nhau có mặt tại đây hôm nay, cất chung tiếng nói về điều kiện thương tâm của chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã tới thủ đô để đòi một khoản nợ. Khi các kiến trúc sư của nền dân chủ Mỹ viết những lời tuyệt đẹp cho bản Hiến pháp và Tuyên bố Độc lập, họ đã ký nhận vào một tờ tín phiếu, theo đó mọi công dân Mỹ đều có quyền thừa kế.
Tờ tín phiếu này mang theo một lời hứa hẹn rằng mọi người dân đều được đảm bảo quyền không thể tách rời là quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hôm nay, thực tế hiển nhiên cho thấy nước Mỹ đã thất hứa vì rằng màu da của người dân Mỹ lại bị xem là rào cản trong việc sử dụng tờ tín phiếu này. Thay vì trân trọng trách nhiệm thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã trao cho người dân da đen một tờ séc khống không có giá trị thanh toán. Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng công lý đã bị phá sản. Chúng ta không tin rằng quốc gia không có đủ ngân quỹ trong hầm dự trữ chứa đầy những cơ hội của đất nước này.
Bởi vậy, chúng ta đến đây để đòi nợ, một khoản nợ về quyền tự do và sự đảm bảo về công lý. Chúng ta có mặt tại nơi linh thiêng này để nhắc nhở nước Mỹ về sự cấp thiết trong thời điểm hiện nay. Lúc này không phải là thời điểm của sự nhượng bộ thỏa hiệp hay xoa dịu bằng những viên thuốc an thần. Giờ là thời điểm mở tung cánh cửa cơ hội cho tất cả những người con của Chúa. Giờ là thời khắc đưa dân tộc ta từ vũng lầy của bất công kỳ thị tới một nền tảng vững chắc của tình đoàn kết anh em.
Sẽ là tai họa cho cả dân tộc nếu lờ đi tính cấp bách của thời cuộc hiện nay và đánh giá thấp lòng quyết tâm của người dân da đen. Không khí ngột ngạt oi bức chứa đầy sự bất bình trong mùa hè này chưa thể qua đi tới khi có được làn gió thu của tự do và công bằng tiếp sinh lực. Những ai có hy vọng rằng người da đen cần phải xả bớt sự căng thẳng và hài lòng với những gì đã có sẽ bị vỡ mộng nếu như đất nước này trở lại với công việc như thường ngày. Nước Mỹ sẽ chưa thể bình yên, chừng nào người da đen chưa giành được quyền công dân của mình.
Cơn lốc của cuộc nổi dậy sẽ tiếp tục làm lung lay nền móng của quốc gia này cho tới ngày thấy được ánh sáng của công lý. Trong quá trình đấu tranh giành lại vị trí xứng đáng cho mình, chúng ta không cho phép mình mắc phải những hành động sai lầm. Hãy đừng thỏa mãn cơn khát bằng chén hận thù và đắng cay.
Chúng ta phải xây dựng các cuộc tranh đấu của mình trên nền tảng của các giá trị và nguyên tắc. Chúng ta không cho phép những chống đối biến thái thành các cuộc xung đột bạo lực. Chúng ta phải đứng trên tầm cao của sự hòa trộn tâm lực và trí lực.
Tính chiến đấu thấm nhuần trong đông đảo người dân da đen không được làm cho chúng ta mất lòng tin vào những người da trắng. Rất nhiều những người anh em da trắng, như bằng chứng sự có mặt của các bạn ở đây hôm nay, đã cho thấy vận mệnh của các bạn cũng là vận mệnh của chúng ta và tự do của các bạn cũng gắn liền với tự do của chúng ta.
Chúng ta không thể bước những bước đơn độc.
Mỗi bước đi, chúng ta phải nối vòng tay bè bạn cùng đồng hành.
Chúng ta không thể quay trở lại.
Có những người đang hỏi bạn, “Rồi chừng nào bạn mới yên lòng?”, Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yên lòng khi mà ta không thể tìm được một nơi trú ngụ trong một nhà nghỉ bên đường hay tại một khách sạn trong thành phố sau chuyến đi mỏi mệt. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào sự di chuyển của một người da đen vẫn đơn giản chỉ là từ một khu ghetto nhỏ sang một khu ghetto lớn hơn. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào một người Negro ở Mississipi còn chưa được quyền đi bầu cử, khi một người da đen ở New York còn tin rằng anh ta chẳng có gì để đi bầu. Không, không, chúng ta không yên lòng, và chúng ta sẽ chưa thể yên lòng cho tới ngày công lý được tuôn tràn như dòng thác, và công bằng sẽ như một dòng sông cuộn chảy.
Tôi biết có những bạn tới đây vượt qua những nỗi khổ đau, gian nan thử thách. Có những bạn mới vừa ra khỏi xà lim. Có những bạn đến từ những nơi mà cuộc tìm kiếm tự do của bạn bị chà đạp bởi sự ngược đãi cuồng bạo và bị cản trở bởi sự tàn bạo của cảnh sát. Các bạn đã trở thành những người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau. Tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng sự thống khổ oan ức là cứu thế.
Trở về Mississippi, trở về Alabama, trở về Georgia, trở về Louisiana, trở về với những khu nhà ổ chuột ở các thành phố phía bắc của chúng ta, chúng ta tin rằng bằng cách nào đó tình trạng này có thể và sẽ đươc thay đổi.
Hãy đừng đắm mình trong nỗi tuyệt vọng.
Hôm nay, tôi muốn nói với các bạn rằng, dù hiện tại có muôn vàn khó khăn và nỗi bức xúc, tôi vẫn luôn mang trong mình một giấc mơ. Đó là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ nước Mỹ.
Trong giấc mơ của tôi, tới một ngày đất nước này sẽ cùng đứng lên và sống một cuộc sống với niềm tin “Chúng ta coi sự thực này là điều hiển nhiên: con người sinh ra là bình đẳng”.
Giấc mơ của tôi là một ngày kia, trên những ngọn đồi ở Georgia, những đứa con của những người nô lệ và những đứa con của những người chủ nô trước đây sẽ cùng ngồi bên chiếc bàn thân thiện của tình anh em.
Trong giấc mơ của tôi, thậm chí một ngày kia, bang Mississippi, một hoang mạc ngột ngạt trong bầu không khí của bất công và kỳ thị, sẽ biến thành một ốc đảo của tự do và công bằng.
Trong giấc mơ của tôi, 4 đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong một đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da.
Ngày hôm nay, tôi có một giấc mơ!.
Tôi mơ một ngày kia bang Alabama, nơi vị thống đốc hiện thời đang luôn mồm nói về quyền can thiệp và vô hiệu hóa sẽ trở thành nơi các trẻ trai và trẻ gái da đen cùng nắm tay các bạn da trắng như anh em một nhà.
Hôm nay, tôi có một giấc mơ!.
Tôi mơ một ngày kia các thung lũng rồi sẽ được lấp đầy, những quả đồi, ngọn núi sẽ được san bằng, mặt đất gồ ghề sẽ trở nên phẳng phiu, những góc quanh co sẽ được uốn thẳng tắp, và sự huy hoàng của Thiên Chúa sẽ được bộc lộ và mọi người cùng thấy.
Đó là hy vọng của chúng ta. Đó là niềm tin tôi sẽ mang theo về miền Nam.
Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể đập nát núi tuyệt vọng thành những viên đá hi vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những tiếng kêu bất hòa trong lòng dân tộc thành bản giao hưởng êm ái của tình đoàn kết anh em. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ cùng sát cánh bên nhau, cùng nguyện cầu, cùng chiến đấu, cùng vào nhà lao, cùng đứng lên vì tự do, vì chúng ta biết rõ một ngày kia chúng ta sẽ tự do.
Đó sẽ là ngày tất cả những người con của Chúa cùng hòa chung một bài ca: “Quê hương tôi, miền đất thân yêu của sự tự do, của người tôi hát. Miền đất nơi cha tôi đã nằm xuống, miền đất niềm tự hào của những người hành hương, từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do”.
Và nếu nước Mỹ là một đất nước vĩ đại, điều đó nhất định phải trở thành sự thực.
Hãy để tự do ngân lên từ những ngọn núi khổng lồ ở New Hampshire.
Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi hùng vĩ vùng New York.
Hãy để tự do ngân lên trên những vùng cao Alleghenies miền Pennsylvania!
Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi Rockies tuyết phủ của Colorado!
Hãy để tự do ngân lên trên những núi đồi tròn trịa của California!
Không chỉ thế,
Hãy để tự do ngân lên từ những đỉnh núi Stone Moutain của Georgia!
Hãy để tự do ngân lên trên ngọn Lookout Moutain của Tennessee!
Hãy để tự do ngân lên từ mọi triền đồi và vùng đất cao ở Mississippi.
Từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do.
Khi chúng ta để tự do ngân lên, khi tự do ngân lên từ mọi làng quê, mọi thôn xóm, mọi thành phố và tiểu bang, chúng ta sẽ có thể làm cho ngày ấy đến thật nhanh, ngày mà mọi đứa con của Thiên Chúa, dù da trắng hay da đen, Do Thái hay không phải Do Thái, người theo đạo Tin Lành hay công giáo La Mã, tất cả sẽ cùng nối vòng tay hát vang lời ca linh thiêng của người da đen:
“Tự do đã đến, tự do đã đến, xin cảm ơn Đức Chúa toàn năng, cuối cùng chúng ta đã tự do!”.

LUTHER KING

TẨY TRẦN (8)

tranhoaithu

Trong nursing home này tôi có hai người bạn già
Một người Mỹ đen ngồi xe lăn mà cứ cúi đầu nhìn xuống
Một người Mỹ trắng râu tóc trắng phơ
Tôi xem họ là bạn cố tri
Gặp họ từ xa tôi chụm chân đứng nghiêm chào tay
Tôi thấy đôi mắt lão già Mỹ đen sáng như hỏa châu
Giữa màu da đen như đêm địa ngục
Tôi thấy cả nụ cười của lão
Với hàm răng thật trắng
Đầu lão ngẫng lên,
như một người chẳng có gì bệnh họan

Còn lão Mỹ trắng thì ngồi trên xe lăn nhìn tôi và hô lên
(Dĩ nhiên bằng tiếng Mỹ)
Nghiêm !
Nghỉ !
Tôi làm theo lệnh hô của lão ta
như một chú lính trong quân trường
Tôi thấy lão rất hân hoan
Mắt sáng ngời

Rõ ràng, máu nóng chảy lại trong người chúng tôi
Giữa một nơi ảm đạm
Vậy mà máu không nóng khi tôi vào phòng 31
Tôi không thể đứng thẳng
chào tay định mệnh em
Tôi không thể thao diễn nghỉ
Trước thân cây sắp hết nhựa đời màu xanh của em

Tôi không thể nhìn thẳng
Khi chiếc đầu em ngỏeo qua bên phải
Khi đôi mắt em thất thần
không phải long lanh như ánh hỏa châu
Mà như ánh đèn cầy leo lét

Tôi chỉ biết cúi đầu
Quay lưng,

Máu nóng bây giờ là nước mắt.

Trần Hoài Thư ( Blog Trần Hoài Thư và Thư Quán Bản Thảo)

Trời cố xứ

nguyenbacson

Gởi Thức, Hoàng và Tân

Trời mưa ở Nha Trang làm tôi nhớ bạn đến rơi nước mắt
Khi thấy rượu tràn sôi vành ly
Hoa sứ đỏ rụng nhiều xui tôi nhớ ngày đi trọ học
Nhà em láng giềng cửa sổ mở đêm khuya
Tưởng tượng có người thanh niên ngồi im trong quán gió
Khi chuyến xe đò tách bến trong mưa
Chuyến xe chở người đàn bà mang áo khoác
Tóc dài như tóc của em xưa
Tôi sợ tình yêu như sợ nhìn về viễn kiếp
Tôi ngại quê nhà nhưng lại hoài hương

Biết đâu mẹ tôi không đang sơn xanh ngôi nhà, mở toang từng cánh cửa
Mong bóng tôi bỗng hiện cuối con đường
Nơi cổ thành kia tôi đã lớn khôn đã cười đã khóc
Đã đem lòng thương mến Cúc Hoa em
Đã sống âm thầm những năm bất khuất
Soi chiếu đời với những que diêm
Tưởng tượng giữa trưa có người thanh niên nghe tiếng con gà trống gáy
Nghĩ đời mình trôi dạt biết bao nhiêu
Máu tôi lẫn máu người du mục
Nhưng lòng tôi e gió thổi đìu hiu
Các con ơi, tưởng tượng ba mỗi ngày ôm theo nón sắt
Đứng chờ xe trước ngã ba đường
Phải lộn sòng theo gái giang hồ và những tay mổ mật
Các con sẽ thấy lòng người đen bạc ở quê hương
Cổ thành kia ơi, cổ thành bạc bẽo
Đuổi xua người trai trẻ mến thương người
Vì sao người thành ra bãi rác
Thành ra nơi đĩ điếm chuột heo ruồi

Các con, thế nào ba cũng dọn nhà đi viễn xứ
Dù tình quê hương rất khó nguôi khuây
Nhưng nghĩ giòng sông đã nhơ, lòng người đã đục
Đâu có người thương tiếc đám mây bay

Nguyễn Bắc Sơn