Trả Được Mối Thù!

diemchaunguyen

(Truyện ngắn xã hội hiện thực)

Đã bao năm nay, đi làm Nail cho mụ chủ hà khắc, Thu thường mong mỏi có ngày trả cho được cái thù nhục nhã đã mang nặng trong lòng! Cho dù bên ngoài lúc nào Thu cũng phải làm mặt giả nai, rất tử tế và tình cảm với bả, lý do là mong bà đừng đuổi việc!
Không hiểu sao trong tiệm có bao nhiêu là thợ, mà bả không ghét lại ghét mình? Phải chi Thu là một người chảnh chẹo, thích khoa trương hay đua đòi khiến bà ngứa mắt cho cam! Đàng nầy Thu lúc nào cũng bình thường, áo quần sạch sẽ chứ không mốt miếc gì cả! Thời trang của Thu thường là quần Jean xanh đậm hoặc lợt, áo sơ mi trắng, đen hay xanh da trời, thế thôi, vài màu ít kiểu…
Có điều bà chủ tên Thoa và Thu lại nhìn hơi giống nhau về nhân dáng, công tâm mà nói thì Thu dễ thương hơn bà, tính tình lại hiền lành và có mái tóc bồng bềnh nghệ sỹ… trong lúc bà Thoa tóc tém, rất chưng diện, đánh phấn thoa son kiểu cọ hàng hiệu thay đổi mỗi ngày.
Nhưng dù có tiền, bà lại không phải là người biết cách làm đẹp! Quần áo mua hàng hiệu, nhưng không hợp với tuổi tác và nhân dáng của bà. Còn son phấn thì bà trát cho nhiều lên mặt, tô xanh tô đỏ như phường tuồng, không khéo tay và thiếu thẩm mỹ! Dầu thơm bà xức quá nhiều, khiến đôi khi nức mũi người khác!
Thu có dáng của một qúy bà phong lưu dù Thu nghèo, còn bà Thoa thì lắm tiền nhưng nhìn có vẻ rẻ tiền! Đó là lời phê bình của những cô biết ăn diện vào làm, bị bà đuổi việc, đã tức giận mà thốt lên như vậy!
Điều bà Thoa bực mình nhất mỗi khi người ta lầm Thu là bà chủ! Điều nầy khiến bà thấy mình bị xúc phạm nặng nề!
– Nghĩ sao vậy Trời! Tui ngồi đây mà lại hỏi bên đó là sao!
Thu cũng lật đật đính chính:
– Dạ, tôi chỉ là thợ, không phải bà chủ!
Nói xong nàng vội nhìn xuống, cắm cúi tiếp tục với công việc của mình!
Bà Thoa nhìn Thu khinh khi ra mặt. Dù không ưa Thu, nhưng bà chưa sa thải lý do dễ hiểu là Thu đi làm đúng giờ, không hay lấy cớ nghĩ việc tầm bậy, chưa bao giờ bị khách khó chịu xài xể, và Thu còn nói tiếng Mỹ lưu loát trong tiệm, gặp chuyện gì khó xử với khách hàng ngoại quốc… là Thu phải đứng ra dàn xếp cho êm…
Nhờ điều đó mà bà Thoa còn dung dưỡng cho Thu. Nếu trường hợp bà có tay thợ nào tin cẩn và biết rành tiếng Mỹ, chắc Thu đã không còn ngồi đây!
Nhiều khi bực mình chuyện gì, thấy Thu đi qua, bà bĩu môi, khơi khơi phát ngôn:
– Lúc nào cũng có nhiêu đó… đúng là hãm tài… cục nợ đời trời bắt tui phải gánh hay sao vậy ta!!!
Đôi môi bà trề ra sau câu nói. Nhiều khi Thu tức, muốn hỏi:
– “Bà nói vậy là có ý gì? Bà ám chỉ ai???”
Nhưng Thu đã cố dằn miệng, vì bà ta không nói thẳng tên, hơi đâu mà tức cho thiệt thân!
Thấy Thu lì mặt ra, bà Thoa càng bực hơn! Bà cho rằng Thu coi thường mình… Bà chì chiết thêm vài câu nữa cho đã miệng, và rốt cuộc trong tiệm cũng không ai hiểu bà muốn ám chỉ cái gì!
Vừa dũa nail, Thu vừa suy nghĩ nát óc, không biết mình phải làm nghề ngỗng gì cho có tiền ngoài nghề làm Nail! Thu có hai đứa con phải nuôi, thằng Phước mười lăm và con Hiếu mười bốn tuổi. Cũng may là chúng nó tự lo cho bản thân được, nên Thu mới cắm đầu cắm cổ mà kiếm tiền!
Bị chồng bỏ từ mấy năm nay, khi Thu sống chết miệt mài với nghề nail để kiếm tiền, vì nàng bị thất nghiệp, đi kiếm hãng điện khác không ai mướn!
Ông chồng Thu thấy vợ cứ lo đi làm thì chán, kiếm cớ theo bạn bè về thăm Việt Nam, được các em gái o bế, chàng trở lại Mỹ Quốc đòi xé hôn thú với vợ, dứt áo một mình ra đi không thương tiếc, cũng không đòi chia con chia của!
Chàng dư biết của không có để mà chia! Ngôi nhà thì ở mướn, tiền mỗi tháng chàng đưa cho vợ có bảy trăm, coi như hùn trả tiền nhà tiền cơm… Con thì đi học trường chính phủ không phải tốn kém, vợ làm nail lậu vì trả tiền mặt, không khai báo gì hết.
Thu lo chi tiêu trong nhà, tiền nàng kiếm được chồng không biết chính xác là bao nhiêu, nhưng anh ta nghĩ rằng nhiều lắm, cho nên số tiền chàng đưa coi như là OK, bởi chàng nghĩ Thu kiếm cả bốn năm ngàn một tháng, quá nhiều còn gì!
Thực tế thì từ ngày nền tài chính thế giới đi xuống, thì Thu cao lắm có được ngàn rưỡi một tháng, ít nhưng đâu phải là thời làm nail huy hoàng như xưa mà muốn cho đầy túi. Nhiều người tay nghề vụng thì đói thê thảm, chẳng ai thèm thuê! Mình vậy mà có khách, còn may mắn, chỉ bực là mụ chủ cứ chiếu tướng hoài!
Thu ngồi làm việc, vừa nói chuyện với khách, đôi khi lại mơ màng nghĩ đến việc mình trở nên giàu xụ, có một cơ sở làm ăn lớn… Lúc đó khỏi còn lo lắng chuyện tiền bạc như hiện nay! Và mối hận thằng chồng bạc bẽo không đoái hoài đến con cái, mối thù con mụ chủ hay hạch hoẹ và luôn mắng Thu như tát nước… bà sẽ cho chúng mày biết thế nào là lễ độ, lẽ phải!
Nghĩ vậy cho đỡ tức, chứ cho dù giàu thiệt, thì chắc Thu sẽ chẳng bao giờ đi kiếm ai mà trả thù cả, vì cái tính Thu vốn hiền lành xưa nay. Ngày xưa mẹ vẫn nói Thu lúc nào cũng hay cười và lành tính, có lẽ sau nầy cuộc đời sẽ sung sướng!
Nhưng làm thế nào để giàu đây?
Tiếng chị bạn ngồi kế bên đang nói chuyện với bà Mỹ:
– Mega Millions nay lên đến hơn ba trăm triệu rồi, bà có mua chưa?
Bà Mỹ có vẻ không hứng thú:
– Thế à, tôi không chơi đâu, tôi thấy khó trúng lắm!
– Tui mua năm đồng, còn ông chồng tui thì tuần nào cũng tốn cả hai chục để chơi vé số đấy!
– Thế cơ à, tôi thấy trúng số khó còn hơn là bị sét đánh đấy!
Nghe bà Mỹ nói, Thu thấy buồn cười! Nếu bà không mua số, thì làm sao trúng! Mà trúng thì cũng có thể do hên xui, làm gì mà cho là khó… Cũng có nhiều người Việt Nam được trúng số đấy thôi!
Có lần Thu nhớ một cô bạn đã nói với Thu rằng:
– Số phận của những người trúng số sau đó đa số đều bi thảm, không tốt chút nào… Trúng số là tới số!
Dù không chơi số, nhưng Thu không chịu lý lẽ đó, nàng cãi:
– Thu nghĩ có đa số người trúng số do họ nghèo, trúng được mẻ lớn, theo thói thường là lao đầu vào ăn chơi trác táng, nhất là rượu chè, hút sách, bài bạc… cho bỏ những ngày cực khổ… thì chỉ vài năm sau là hết tiền, lại thân tàn ma dại còn hơn xưa… nếu họ biết tính toán, đầu tư, làm phước để lấy đức… thì đâu đến nỗi! Cũng có nhiều người giàu trúng, họ biết thuê luật sư lo giùm mớ tiền, chẳng những không bị phiền toái, mà còn khuếch trương thêm cơ sở, thảnh thơi với cuộc sống giàu có… dĩ nhiên là đa số họ cũng đều giúp cho nhiều cơ quan từ thiện… của trên trời rơi xuống phải chia bớt, không nên giữ một mình!
Mặc cho những lời bàn ra tán vào, từ đó Thu chịu khó bỏ ra hai đồng mỗi tuần để mua vé số. Phải, không mua số thì lấy đâu mà trúng! Mấy đứa nhỏ ngạc nhiên đôi khi thấy Thu thường chịu khó đừng xe ở mấy chợ để vào mua vé số, chúng bàn tán:
– Khó trúng lắm mẹ ơi…
– Con thấy vé mẹ cứ dục lung tung, mua chi cho uổng tiền!
Mấy đứa nhỏ nhận xét đúng. Thu nhớ mua vé, nhưng lại hay quên dò số. Có khi tấm vé số bỏ bóp nầy bóp nọ rồi quên, những cái bóp mà nàng thay đổi hàng ngày, là thú đam mê trong đời Thu…!
Có khi Thu cũng chăm chỉ ngồi dò, nhưng được vài lần lại nản, mua thì mua và chẳng bao giờ theo sát chuyện dò vé…
– Cả mấy triệu người mua vé số mỗi tuần… bon chen với bao nhiêu đó người, khác nào mò kim đáy biển!
Thôi kệ, mò cũng được, chỉ tốn hai đồng không bao nhiêu. Biết đâu cây kim lại nhảy vào tay mình thì sao!
Ngày mai là ngày bà chủ đãi tiệc kỷ niệm 10 năm mở cửa tiệm. Chẳng phải bà chủ tốt lành gì mà đãi ăn mọi người chi cho tốn kém. Chỉ vì bà mới lượm được trong “parking” một chiếc nhẫn xoàn của ai làm rơi, bà đưa vào tiệm vàng hỏi cho biết đồ thật hay giả, và bán được ba ngàn đô.
Với của lượm nầy, bà bèn ăn mừng bằng cách đi cắt mỡ hai mí mắt cho trẻ trung và nhìn trong sáng hơn, còn dư hai ngàn thì đãi bọn thợ ăn một bữa để khánh thành cặp mắt, và nghe những lời khen sẽ tới tấp gởi cho bà…
Nghĩ đến đó là bà khoái rồi.
Bà Thoa đứng trước gương tô xanh lè hai mí mắt của mình! Trong những màu dùng cho mắt, bà thấy màu xanh blue là bà thích nhất. Nhìn vô là biết có trang điểm. Bà kẻ lên hai mí đường line màu đen, nhưng mỗi khi tô, tay bà cứ run rẩy, nên vệt kẻ lem luốc chứ không ngay hàng thẳng lối như người ta!
Cuối cùng thì bà cũng hài lòng với cặp mắt mới của mình!
Chọn chiếc áo hở vai hoa hòe đủ màu khoác vào, trông bà nổi lắm. Những người biết ăn mặc hay Thu mà thấy, có thể nghĩ rằng bà là một con két xứ nóng di động!
– Nếu bả biết thời trang, thì bả trông sẽ qúy phái hơn là ăn mặc hở hang như thế!
Thằng Ryan nó rất thân với Thu, từng phê bình rằng:
– Bà Loan có tiền mà nhà quê!
– Ê… coi chừng bả nghe là toi đời!
– Nói thiệt chứ bộ!
– Mày ngon thì mày làm đi, phê bình người ta hoài… mà mầy thì cũng có bảnh bao gì đâu mà nói ai!
– Tui có tiền đâu mà diện hả bà!
Thu phán:
– Đợi đấy, khi nào trúng số tao sẽ chia cho mầy 1 triệu, để mày mua nhà, mua xe, và mở tiệm riêng cho mầy, tha hồ ăn diện, cua đào…
– Tui mà có tiền thì tui sẽ mua một cái nhà nhỏ để ở, và tui cho trẻ em mồ côi, người già neo đơn…
– Cha, mày tốt quá há… chứ không phải chui vô sòng bài ngay à?
– Muốn biết tui có tốt hay không, thì chị cứ cho tui một triệu đi, tui làm cho chị coi! Không có tiền tui mới vô sòng bài ăn chực, coi văn nghệ chùa… có tiền vô đó làm chi cho nó thu tóm hết!
– Hãy đợi đấy…
Câu nói nầy Thu chẳng lấy gì làm chắc chắn cho lắm! Mụ chủ thì lúc nào cũng nhìn Thu với cặp mắt hổng ưa, còn ông chồng cũ ngoài những cô bồ sơ cua bên VN, thì nay cặp bồ với một bà rất đô con, kèm theo đức tính dữ như chằng, họ đi đâu cũng có nhau, dính như đôi sam… Cứ nghĩ đến là Thu sôi gan! Cho dù không còn một chút tình cảm nào sót lại trong lòng!
Thu ước ao một ngày nào đó, mình sẽ ngồi vào chiếc xe chiến, như Phantom Rolls Royce, yểu điệu từ trên xe bước xuống, quần áo bóp xách sang trọng, mùi dầu thơm bay thoảng ngạt ngào hương… cho mụ chủ và tên cựu chồng nhà nó lé mắt chơi!
Bà chủ đã cho dẹp lại căn phòng thành khoảng trống vuông vức khá lớn, một chiếc bàn hình chữ nhật có phủ khăn trắng bên trên, bày những thức ăn được “order” từ những người nấu nướng tại gia mang đến.
Thu nhìn vào những khay thức ăn, thấy có con heo sữa quay dòn rụm, bánh bao, xôi gấc, gỏi chân gà, bánh mì, cơm chiên, tôm chiên dòn, và cái bánh kem to tổ bố. Nàng ghé tai Ryan:
– Hôm nay mày tha hồ ăn, đồ ăn nhìn ngon.
– Tui có mang theo mấy cái bao ny lông sạch, chút nữa có gì dư, tui lấy về cho bạn và mai ăn tiếp!
Thu trố mắt:
– Lấy vậy không sợ người ta cười cho thúi đầu à?
Ryan biũ môi:
– Ai cũng sợ cười thúi đầu như bà… thì đồ ăn bỏ tội, tui “chụp giựt” lấy cho mấy người bạn “homeless”, và cất mai ăn…
– Gì mà dùng danh từ “chụp giựt” nghe ghê vậy mày!
– Bà nầy ngây thơ! Bà thấy cứ cái gì free là người ta nhào vô tranh dành… ai cũng như bà thì không có chiến tranh! Lát nữa bà cũng dành cho tôi vài thứ nghe…
Thu suy nghĩ, thấy thằng nầy nói cũng có lý! Bà Thoa thì chắc chắn là không phải dân chịu thương chịu khó, thu lượm đồ ăn dư và cất tủ lạnh ăn dần! Thế nào hôm nay bả cũng sai mấy người thợ thu dọn, chia nhau mang về mà ăn.
Trong số thợ, thì ai cũng ăn diện nhưng tinh thần nhường nhịn thì phải coi lại! Chút nữa, chắc là Thu sẽ lấy cho thằng Ryan vài cái bánh bao và ít xôi.
Bà Thoa mở lời:
– Hôm nay chị muốn mời mấy cưng là vì cám ơn Trời Phật đã cho tiệm của chị sống được lâu dài, mới đó mà mười năm rồi… Cám ơn mấy cưng đã làm với chị, nhất là chị Tám đã ở đây năm năm…
– Chúc chị ngày càng trẻ đẹp…
– Nhìn chị cứ y như là con gái!
– Tướng chị Thoa số sướng hiện rõ ra mặt… đời chị được sống trong lá ngọc cành vàng… nhiều người nhờ phước đức của chị
Nghe cô Tim khen lộ liễu. Thằng Ryan ngứa miệng:
– Nếu không lượm được cái nhẫn, chị có đãi tụi em không?
Bà Thoa hơi quê, nhưng làm tỉnh:
– Thì đó, cũng nhờ nó mà mình ăn một bữa thoả thê hôm nay. Nào, mời mấy cưng nhập tiệc…
Chỉ đợi có thế, bà con thi hành lời mời ngay. Thằng Ryan hỏi đúng, nếu không lượm được của rơi, chắc chắn không đời nào bà đãi nhân viên cả! Ngu sao móc tiền túi cho tụi nó ăn! Cái tính của bà lâu nay là chỉ chi cho bản thân của mình thôi!
Vì vậy tuy cho là thằng Ryan cà chớn, nhưng bà Thoa không giận nó, vì nó hỏi đúng quá! Bà cần những người tính nết như nó để hiểu thêm về nhân viên … Trong đám nầy có ai dám làm phiền lòng bà đâu… nếu không nói là luôn nịnh nọt để công việc của họ được thoải mái.
Lúc về, Thu xách tong teng bịch đựng ba cái bánh bao, còn xôi gấc thì không có phần, vì người ta đã chia nhau hết mất rồi. Nhưng Thu có bốn cái giò heo nho nhỏ, do chị Tám bỏ vào bao cho Thu:
– Lấy mấy cái giò nầy về hầm khoai tây cũng ngon đó em…
Thu hơi mắc cở, lí nhí:
– Cám ơn chị.
Gặp thằng Ryan ngoài bãi đậu xe, Thu đưa cái bao cho nó:
– Em có lấy được thức ăn nhiều không? Đồ ăn dư quá trời!
– Có chứ, em chạy ra chỗ mấy người bạn “homeless” ngay bây giờ, cám ơn chị.
Nhờ vậy mà Thu bớt mặc cảm khi cầm cái bao đồ ăn thừa nãy giờ! Thu nhớ rõ cặp mắt bà Loan sắc lạnh chiếu tướng vào Thu rất soi mói, khi thấy nàng bốc ba cái bánh bao bỏ vào bịch, cái bịch ny long thằng Ryan đưa cho Thu giữ trước đó!
– Nhà quê… đi ăn tiệc mà đem bao ny lông theo! chuẩn bị sẵn sàng dữ hén!
Bà Loan nói ra câu bà nghĩ thầm trong đầu! Thu định trả đũa thì thằng Ryan trờ tới, hất nhẹ tay nàng một cái, như nhắc nhở “một câu nhịn chín sự lành…”. Nhìn mắt thằng Ryan nháy lia, Thu hạ cơn tức, làm mặt lỳ quay ra.
Phải chi mình giàu, mình trúng số thì Thu sẽ nói lý lẽ với con mụ cà chớn nầy cho biết mặt! Rồi không thèm làm ở đây nữa, có khi mình còn mua bứt cái tiệm của nó, cho nó biết thân! Không biết bao giờ mình mới được trúng số đây!
Bà Thoa chỉ cà khịa với Thu thôi, hôm nay là ngày vui, bà mặc kệ cho đám nhân viên dọn dẹp và thâu tóm đồ ăn. Bà biết đưa về để vào tủ lạnh thì cũng được, nhưng rồi không ai ăn lại mất công dục uổng! Lâu lâu bà cũng muốn cho nhân viên có cơ hội như được của chùa, để họ vui.
Nhìn họ chia chác đồ ăn, bà cảm thấy như đang làm chuyện phước thiện, vì vậy bà khoan khoái, hài lòng.
Đưa cho Ryan cái bịch đồ ăn xong, Thu chậm rãi lái xe về nhà. Ngày nào cũng lái cái xe cà rịch cà tang nầy… thấy chán!
Vừa ngừng xe lại, Thu thấy hai đứa con ló mặt ra cửa:
– Có gì ăn không mẹ?
– Sáng nay mẹ chiên cơm trên bếp đó, sao không ăn đi…
– Con không thích lạp xưởng… mẹ cho tiền con đi ra đầu đường mua gà chiên đi mẹ.
Thu gắt:
– Nghèo mà cứ muốn chơi sang!
Nói vậy, nhưng nàng cũng móc ra tờ mười đồng đưa cho hai đứa! Tội nghiệp, ăn cơm chiên mì gói mãi, cũng chán!
Vào nhà, Thu rót ly rượu vang to bưng ra ngồi xuống bàn máy nốc một hơi ngon lành! Lúc nãy Thu cũng đã uống mấy ly, có vẻ mệt rồi… uống thêm cho đã khát và dễ ngủ!
Thấy có tờ vé số ở trên bàn… “Chắc con Hiếu lại tìm thấy vé số trong bóp nàng, lấy ra bỏ đây cho Thu nhớ mà dò”… Mở Internet, Thu bắt đầu dò số, và nàng chợt nghe tim đập thình thịch, trợn tròn mắt khi nhìn thấy những con số ở tấm vé giống y như trên màn ảnh.
– Trời ơi, tôi trúng số rồi….
Phải trấn tỉnh lắm Thu mới thấy con tim mình bớt nhảy mạnh. Thành triệu phú rồi…. Phải làm gì bây giờ? Bao nhiêu khôn ngoan trong đầu Thu bay đi mất trơn, nàng chẳng biết làm cái gì, chỉ còn bàn tay rung rẩy nắm khư khư tờ vé số, làm như sợ nó tan biết đi vậy!
Không thể cho hai con biết được! Cứ từ từ, để các con sinh hoạt như ngày thường… Mai, mình sẽ hỏi người quen làm ở văn phòng luật sư…
Giờ thì Thu đang đứng trước mặt con mụ chủ dễ ghét, nàng bắt đầu tấn công trong lúc con mụ đang há hốc miệng, trợn mắt mà nghe:
– Tôi nói cho bà biết, bà thưởng bà giàu lắm hả? Thật ra thì bà không đáng xách dép cho người ta! Bà quen thói ăn hiếp tôi vì thấy tôi hay nhịn bà…. Hãy nhìn bà kìa, son phấn không biết đánh, nhìn thấy gớm, mắt xanh lè như con tắc kè bảy màu, quần áo thì giống như đồ của bọn con nít tuổi “teen”, nhìn bà tôi chỉ muốn đá cho một phát!!! Có tiền mà không biết gì là đẹp, chỉ biết a dua theo thời… kêu tôi là thầy thì tôi sẽ dạy cho mà làm đẹp… Kiểu của bà thấy gớm… không tin hỏi tụi nó coi, mấy người ở đây sợ bà đuổi việc nên phải nịnh bà thôi… Phải không mấy anh chị em?
Thu nhìn quanh, chẳng ai dám biểu đồng tình, nàng hét lên:
– Nói thật đi, rồi tôi sẽ tặng cho mỗi người vài ngàn đô xài chơi…
Chẳng mặt nào dám lên tiếng! Thu tức quá, biết vậy đi lãnh tiền trước rồi chửi con mụ chủ sau! Giờ chỉ có mấy chục trong bóp, có đâu mà lôi ra cho bà con tin là mình giàu đây!
Bất ngờ, mụ chủ đứng bậy dậy, tay xỉa sói vào mặt Thu:
– Mầy là con cà chớn, khốn nạn… mày là cái gì mà dám chê tao hả mậy???
Miệng nói, tay bà túm lấy Thu…nàng hoảng hốt quơ quào, vung tay tát bốp bốp vào mặt bà ta được hai cái, thì nghe tiếng con Hiếu và thằng Phước gọi lớn:
– Mẹ ơi, mẹ sao vậy… vô phòng ngủ đi mẹ…
Thu mở mắt ra, miệng thều thào:
– Để mẹ cho con mụ nầy một bài học cho nó chừa… không phải sợ nó nữa… mình trúng số giàu rồi con ơi…
– Trúng số gì mẹ? Hôm qua mẹ dò số rồi, có trúng đâu!
– Cái vé số trúng mới đây đâu rồi?
– Vé nào?
Thì ra là Thu vừa nằm mơ! Nàng mới trải qua một giấc mộng sôi động mà trong đời sống thường nhật không bao giờ dám bày tỏ! Thu vào phòng, hai mắt nhíu lại, nhưng cũng hơi tỉnh mà nghĩ ra rằng:
– Giấc mơ sôi động cũng làm mình hả dạ lắm rồi…

Diễm Châu Nguyễn

Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương

trantrungdao

Một ngày hè như thế này 29 năm trước, người anh cùng sở làm và cũng cùng quê Đà Nẵng ghé qua hỏi tôi có thích đi Côn Đảo một chuyến với anh. Không giống như khi được các anh chị khác rủ đi thăm miền bắc trong những lần họ nghỉ phép về thăm nhà mà tôi đã từ chối trước đây, Côn Đảo có một hấp lực cực mạnh khiến tôi gật đầu không chút gì ngần ngại. Chiếc ghe vượt biên anh đóng sắp hoàn tất và đã hứa dành cho tôi một chỗ. Nghĩ đến việc ra đi không hẹn ngày trở lại, thăm Côn Đảo là dịp hiếm hoi không thể bỏ qua. Côn Đảo là đất lịch sử của cách mạng Việt Nam, điểm hẹn của những tâm hồn yêu nước và cũng là nơi nhà cách mạng Phan Chu Trinh từng tả “Bốn mặt dày vò oai sóng gió / Một mình che chở tội non sông” trong bài thơ “Đập đá Côn Lôn” nổi tiếng của ông. Người anh cùng sở làm lo hết các phương tiện cần thiết, và như thế chúng tôi đi. Anh có vài việc phải đi, còn tôi chỉ đi theo cho biết chứ không làm gì cả.

Khi anh làm xong việc, thời gian còn lại anh em chúng tôi đi vài nơi trên đảo. Côn Đảo ngày chúng tôi đến còn rất hoang vắng. Những khu tù chính trị đã giải tán từ lâu. Tù chính trị mới không bị đưa ra đây mà vào Chí Hòa, Phan Đăng Lưu hay các trại tù miền Bắc. Các khu trại giam Côn Đảo đã trở thành một viện bảo tàng nhưng ít có người thăm. Bên cạnh những xà lim nơi các đảng viên Cộng sản cấp trung ương từng bị giam giữ, Côn Đảo còn có những khu nổi tiếng vì được báo chí phản chiến Mỹ và Việt khai thác tận tình như chuồng cọp, chuồng bò. Khu chuồng cọp được xây từ thời thực dân, cũ kỹ, kích thước rộng bằng những lớp học nối tiếp nhau. Đặc điểm của khu chuồng cọp là phòng giam không có mái che mà chỉ có những bờ tường dày và thanh sắt lớn. Chị coi sóc ở đây, vốn là một tù nhân Côn Đảo, cho biết trên bờ tường dựng sẵn nhiều thùng vôi bột, nếu tù nhân la ó, phản đối, trật tự tù sẽ đổ vôi xuống.

Trên đường ra về chúng tôi đi theo chị coi sóc nhà tù đến nghĩa địa Hàng Dương. Nắng đã dịu nhiều. Mặt trời đang xuống dần bên kia đỉnh núi. Được gọi là Hàng Dương có lẽ vì chung quanh nghĩa địa có rất nhiều dương liễu. Nghĩa địa có nhiều khu. Mỗi khu có vài trăm ngôi mộ. Chị trịnh trọng giới thiệu một ngôi mộ mà chị gọi là rất linh thiêng: mộ chị Võ Thị Sáu. Tôi không biết gì nhiều về chị Sáu ngoài bản nhạc bắt đầu với “Mùa lêkima nở, ở quê tôi miền đất đỏ” và đọc đâu đó chuyện chị bị xử bắn khi còn trong tuổi vị thành niên. Tấm bia trên mộ chị Sáu hướng về phía biển và nỗi bật lên vì ngày đó đã được xây cao hơn các ngôi mộ khác. Phía sau mộ chị Sáu có một cây dương liễu cụt ngọn, cằn cỗi, trên tàn cây có những chồi xanh nhú lên. Việc một cây bị chặt ngọn nên sinh ra những nhánh non là chuyện bình thường nhưng qua lời giải thích của chị hướng dẫn thì đó là một điều kỳ diệu, một dấu chứng linh thiêng, điềm báo của một cái cũ tàn đi nhưng những cái mới ra đời. Ngay cả một cây dương liễu cũng được giải thích bằng lý luận và niềm tin Cộng Sản.

Anh tôi không thích cảnh nghĩa trang buồn tẻ nên đã đi dạo nơi khác. Cả chị hướng dẫn cũng đi ra ngoài. Tôi ngồi một mình nhìn mấy trăm ngôi mộ, có tên và không tên, được đắp và không được đắp, cao thấp không đều. Bên cạnh một số mộ có bia, tên tuổi và vừa được chỉnh trang, hẳn là của các đảng viên Cộng sản cao cấp, rất nhiều ngôi mộ không có ngay cả tấm thẻ gỗ ghi tên, cỏ mọc đầy sau nhiều năm chưa được một lần chăm sóc. Phần lớn các ngôi mộ trong nghĩa địa Hàng Dương là dấu tích tàn ác của thực dân Pháp. Thời Việt Nam Cộng hòa, chuyện ở tù Côn Đảo cho đến chết là chuyện hiếm hoi. Hầu hết tù chính trị chỉ ở một thời gian ngắn trước khi được đưa ra Thạch Hản, Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Bồng Sơn để trao trả về phía bên kia như đã ghi lại một cách chi tiết trong tác phẩm ký sự Tù binh và hòa bình của nhà văn Phan Nhật Nam.

Hôm qua, khi bắt đầu viết bài này tôi vào Google tìm mộ chị Võ Thị Sáu. Cây dương liễu đã chết và được thay vào đó bằng cây phượng đỏ. Ngôi mộ của chị cũng được xây bằng đá đen, cao hơn ngôi mộ cũ nhiều và không phải sơn màu vôi trắng như lần tôi đến. Nghĩa địa Hàng Dương bây giờ là một trung tâm du lịch, màu sắc lòe loẹt, không còn những mộ cỏ hoang vu, những con đường đất hẹp và những hàng dương cằn cỗi chung quanh. Tôi không cảm thấy chút nào xúc động khi nhìn lại cảnh nghĩa địa Hàng Dương mà chỉ tội nghiệp cho các em học sinh đang sắp hàng vào xem các di tích được gọi là cách mạng ở Côn Đảo. Các em đi xem kịch mà tưởng mình đang tìm về lịch sử cha ông.

Một trong những đặc điểm của chế độ Cộng sản là lừa dối. Không phải chỉ Việt Nam mà mọi quốc gia Cộng sản đều như thế. Khi chế độ Cộng sản Đông Đức sụp đổ, báo chí khám phá trong cơ sở dữ liệu của cơ quan an ninh Stasi một hệ thống lừa dối có tầm vóc quy mô ngoài giới hạn đạo đức của con người. Việc nghi kỵ, lừa dối không chỉ ở nằm trong hệ thống đảng, các cơ quan nhà nước, mà cả trong mỗi gia đình ruột thịt, máu mủ thân yêu. Anh lừa dối em. Vợ lừa dối chồng. Cha mẹ lừa dối con cái. Cháu chắt lừa dối ông bà. Lừa dối là phương tiện duy nhất để tồn tại trong xã hội Cộng Sản.

Tại Việt Nam cũng thế. Vở kịch tuyên truyền mà Đảng đã đóng suốt mấy chục năm qua làm thui chột nhận thức của nhiều thế hệ Việt Nam. Từ chuyện Lê Văn Tám lấy thân mình làm đuốc đến chuyện Tôn Đức Thắng kéo cờ Cộng sản trên Hắc Hải đều là những chuyện hoang đường nhưng nghe riết cũng quen tai, nghe riết nên tin là chuyện thật.

Có một thời không ít người dân miền bắc còn tin rằng những khẩu CKC, AK47 của mấy chị dân quân đã từng bắn hạ những F-4 Fantom, F-111 của Mỹ. Theo lời kể của cựu Thiếu Tướng Yevgeni Antonov, nguyên trưởng đoàn cố vấn quân sự của Liên Xô tại Việt Nam trong một bài báo trên tờ Pravda nhân dịp đánh dấu 30 năm cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, Liên Xô đã gởi nguyên một trung đoàn phòng không với đầy đủ vũ khí và trang bị sang Việt Nam tham chiến và 13 người lính phòng không Liên Xô đã chết trên đất bắc. Những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, kể cả chiếc chiến đấu cơ F4 Fantom của Thượng Nghị Sĩ John McCain (đúng ra là A-4 Skyhawk theo tiểu sử của Thượng Nghị Sĩ John McCain), cũng từ hỏa tiễn của các đơn vị Hồng quân Liên Xô chứ không phải từ “Bộ đội phòng không anh hùng”, nói chi là các chị dân quân núp bên bờ ruộng như trong mấy bức ảnh tuyên truyền của đảng.

Cũng theo lời kể của cựu trung tướng Liên Xô Yevgeni Antonov, chỉ huy lực lượng phòng không Liên Xô tại Việt Nam từ 1969 đến 1970, Việt Nam chỉ là một phòng thí nghiệm cho vũ khí Liên Xô. Họ muốn đích thân xử dụng vũ khí để chuẩn bị cho việc máy bay Mỹ và NATO oanh tạc vào nội địa Liên Xô trong trường hợp có chiến tranh giữa hai khối sau này. Cuộc chiến đã tàn, chế độ cũng đã tan, ngọn đèn đời sắp tắt, những người lính già Nga chẳng bị áp lực nào để phải nói dối, để tuyên truyền, để bảo vệ cho đảng, hay cho cả chính mình. Họ chỉ còn kỷ niệm, và kỷ niệm của tuổi về chiều thường thành thật, trong sáng như những ngày mới lớn.

Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung Quốc. Tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

Máu đổ, thây rơi, nhà tan, cửa nát ở Hà Nội, Hải Phòng là điều có thật. Những mất mát đau thương vô cùng to lớn của đồng bào miền Bắc đã chịu đựng dưới đạn bom Mỹ là điều có thật. Căm thù, phẫn uất vì thế là những phản ứng tự nhiên. Tuy nhiên không phải chỉ vì đế quốc Mỹ đã đơn phương xâm lược Việt Nam như các thế hệ sinh viên học sinh đã và đang được dạy. Hơn ba mươi năm là một thời gian đủ dài để đồng bào miền bắc, các thế hệ trẻ miền bắc có gia đình chịu đựng đau thương bất hạnh trong chiến tranh, nhìn lại cuộc chiến một cách khách quan và so sánh với thực tế đất nước để qua đó biết rõ những ai và học thuyết nào chính là nguyên nhân của chiến tranh, độc tài và chậm tiến hôm nay.

Đảng Cộng sản có thể tùy thích tạo ra hàng trăm đảng viên cỡ Lê Văn Tám, Tôn Đức Thắng. Đó là chuyện nội bộ của đảng nhưng họ không có quyền biến Côn Đảo thành tài sản riêng của đảng, không có quyền mê hoặc của các thế hệ trẻ Việt Nam bằng các mẫu chuyện hoang đường kiểu Lê Văn Tám như bộ máy tuyên truyền Liên Xô đã từng tô điểm lên một cậu bé nhà nông Pavlik Morozov bất hiếu trước đây. Côn Đảo cũng không phải là đất hương hỏa của Marx, Lenin để lại cho đảng Cộng sản Việt Nam mà là đất thiêng của cách mạng Việt Nam nơi nhiều thế hệ đã lấy xương thịt mình làm phân bón cho mầm xanh tương lai dân tộc.

Trong nghĩa địa Hàng Dương, bên chiếc cầu đá phía bên phải dinh chúa đảo, trước những xà lim chật hẹp, một ngày không xa, các thế hệ Việt Nam sẽ đến đó, không phải để nghe kể công, nghe tuyên truyền mà đến để im lặng cúi đầu tưởng niệm các anh hùng dân tộc.

Họ là ai? Họ là những đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội, Phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân, Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính, Dân Xã Đảng, Đảng Lập hiến, Đại Việt Duy dân và nhiều tổ chức, phong trào không Cộng sản khác.

Họ là ai? Họ là tín đồ các tôn giáo, nhất là Cao Đài và Hòa Hảo, hai tôn giáo được ra đời tại miền Nam, có truyền thống kiên quyết chống cả thực dân lẫn Cộng sản.

Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết vài lần trên diễn đàn này, việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con giòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Ông bà chúng ta có súng dùng súng, có gậy dùng gậy, và trong nhiều trường hợp chỉ là những bàn tay không gầy yếu.

Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phác , nhưng công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay.

Tôi tin, phần lớn những người yêu nước đã chết trong giấc mơ về một Việt Nam hòa bình, độc lập chứ không phải trong giấc mơ về một xã hội Cộng sản đại đồng. Người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, dân tộc sẽ ghi ơn họ một cách công bằng.

Tôi tin, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Đảo. Ngoài một Nguyễn An Ninh để lại thịt xương, một Trần Cao Vân, một Phan Chu Trinh để lại những bài thơ viết bằng máu và mồ hôi trong những ngày đập đá, còn có hàng ngàn, hàng vạn đồng bào đã chết trong âm thầm, không để lại họ tên.

Nhưng cho dù họ có để lại đủ họ tên đi nữa, các thế hệ Việt Nam sau 1975 cũng không có quyền biết đến họ, không có cơ hội để cám ơn họ, để thắp một nén hương, và phần mộ họ một mai có thể sẽ bị san bằng theo mưa nắng. Đảng Cộng sản không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn cố tình nhuộm đỏ cả lịch sử.

Côn Đảo ngày nay gắn liền với tên tuổi của các đảng viên Cộng sản trung ương Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Hà Huy Tập, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Lê Quang Vịnh v.v. Các em học sinh đang sắp hàng chờ vào xem những xà lim kia làm sao biết được, với số đảng viên vỏn vẹn 5 ngàn vào mùa thu 1945, đảng Cộng Sản, dù bị bỏ tù và chết gấp mười lần trong hai cuộc chiến, cũng không thể bằng với con số khoảng 200 ngàn người Việt Nam yêu nước đã từng ở tù Côn Đảo theo nhiều nguồn ước lượng.

Các em cũng không biết rằng hàng trăm lãnh tụ cách mạng không Cộng sản mà đức độ và tài năng bao trùm nhiều lãnh vực như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v., đã không ở tù hay chết ngoài Côn Đảo chỉ vì họ bị Cộng sản thủ tiêu ngay tại đất liền.

Khác với đảng Cộng sản được thành lập từ nước ngoài theo chỉ thị của quốc tế Cộng sản và nhiều đảng viên được đưa sang Trung Quốc, Liên Xô huấn luyện một cách bài bản nhằm thực hiện các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn của trung ương đảng đề ra, phần lớn đảng phái không Cộng sản đã sinh ra và lớn lên ngay trong lòng dân tộc với tất cả khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt. Họ không chỉ bị chết dưới lưỡi đao phong kiến, máy chém thực dân mà còn chết trong bàn tay của những người cùng máu mủ với mình.

Đọc lại diễn tiến của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, quá trình thành lập các đảng phái không Cộng sản và lắng nghe các nhà cách mạng trải lòng qua thơ văn đẫm đầy máu lệ, mới cảm thấy lòng yêu nước của thế hệ cha ông thật vô bờ bến.

Bằng hành trang duy nhất trên vai là lòng yêu nước, các nhà cách mạng không Cộng sản dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc trên chuyến xe chạy bằng máu của chính mình.

Chiều mùa hè năm đó, lần đầu tiên trong đời tôi xúc động đứng im lặng trước anh linh của những anh hùng đã ngã xuống cho độc lập tự do thật sự của dân tộc. Xương thịt của những người đã hy sinh từ phong trào kháng thuế miền Trung, Hà Thành đầu độc, khởi nghĩa Duy Tân, Thái Nguyên, Yên Bái hẳn đã hòa tan vào lòng đất mẹ nhưng anh linh họ vẫn là ngọn đuốc soi sáng giấc mơ Việt Nam độc lập, tự chủ của dân tộc.

Như tôi có lần đã viết. Giấc của họ là giấc mơ của những người để lưng trần, tóc cắt ngắn, đóng khố che thân, dắt bầy con, vượt bao nhiêu núi rừng ghềnh thác trong cuộc nam tiến đầy gian nan nhưng vô cùng hiển hách, từ dọc bờ Dương Tử di dân xuống lưu vực sông Hồng cách đây gần 50 thế kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ tộc Bách Việt khác đã hoàn toàn bị tiêu diệt hay đồng hóa vào những tỉnh, những huyện như Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay, giòng giống Lạc Việt qua bao độ thăng trầm, vẫn tồn tại và trưởng thành như một nước Việt Nam.

Giấc mơ của họ là giấc mơ của những người đã tạo nên nền văn minh Việt Nam rất sớm. Nơi đó, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên, tổ tiên chúng ta đã biết trồng cây ăn trái, biết làm đồ gốm, biết đẽo đá thành những lưỡi cuốc nhọn, biết đắp đất ngăn bờ để đưa nước sông vào ruộng. Tổ tiên chúng ta đã biết xây dựng các cơ xấu xã hội, lấy thôn làng làm căn bản, lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế, lấy tình nghĩa đồng bào làm sức mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên (một mẹ trăm con, chung cùng bọc trứng) làm nơi nương tựa tinh thần. Những hình ảnh thân thương quen thuộc của cây đa, bến nước, sân đình gắn liền trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.

Giấc mơ của họ là giấc mơ của một dân tộc hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường, nhà Minh qua bốn lần bắc thuộc với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất.

Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên đã đổ xuống trước các cuộc xâm lăng của các triều đại Bắc phương khác.

Lịch sử bao giờ cũng mang tính kế tục nhưng trước hết là lịch sử của thời đại. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm để hoàn thành những trách nhiệm mà lịch sử giao phó cho thời đại của họ nhưng dù không hoàn thành, ngọn đuốc lịch sử vẫn phải được chuyển sang bàn tay thế hệ khác. Giấc mơ về Việt Nam tự do, dân chủ và giàu mạnh dù sớm hay muộn sẽ phải thành hiện thực.

Thời gian gần đây, tôi có dịp đọc nhiều bài viết từ những tấm lòng đang băn khoăn vì đất nước. Phần lớn bắt đầu bằng nhóm chữ “chưa bao giờ …như hôm nay”. Chưa bao giờ con người Việt Nam bị khinh thường như hôm nay. Chưa bao giờ lãnh thổ Việt Nam bị chiếm đoạt trắng trợn như hôm nay. Chưa bao giờ chủ quyền đất nước bị đe dọa như hôm nay. Chưa bao giờ tài nguyên thiên nhiên bị thất thoát như hôm nay. Tất cả đều đúng cả. Tôi chỉ muốn thêm vào một “chưa bao giờ” nữa, đó là, chưa bao giờ ranh giới giữa dân tộc và phản dân tộc rõ ràng như hôm nay. Biên giới đó rõ ràng đến mức một người Việt Nam có thể chọn lựa đứng về phía chính nghĩa, phía dân tộc mà không phải lo lầm lỡ về sau.

Giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn một con đường riêng của họ. Con đường đảng chọn cũng rất rõ ràng: phát triển đất nước theo định hướng Trung Quốc và cùng lúc bằng mọi giá duy trì chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam.

Bộ chính trị trung ương đảng Cộng sản Việt Nam không phải là những người không biết suy nghĩ, không thấy đúng, thấy sai và thậm chí có rất nhiều cơ hội để sửa sai nhưng quyền lợi cá nhân, phe nhóm và đảng đã che khuất sự sống còn và tương lai đất nước.

Nhân dân Việt Nam chịu đựng quá nhiều rồi, nhượng bộ quá nhiều rồi, lùi bước quá nhiều rồi. Từ xâm lăng Hoàng Sa đến chiến tranh biên giới, các trận đánh khu vực Lão Sơn, lấn chiếm Trường Sa, bắn chết ngư dân Thanh Hóa và hôm nay Bauxite. Chỉ một thời gian ngắn thôi mà nhìn ra biển, nhìn lên núi, nhìn xuống phố, nhìn qua sông, đâu đâu cũng thấy hàng Trung Quốc, đất Trung Quốc, đảo Trung Quốc, người Trung Quốc, vài chục năm nữa đất nước sẽ ra sao?

Tại sao Trung Quốc không bắn thủng tàu, không ăn cướp tài sản, đất đai của Thái Lan, Philippines hay ngay cả của đàn em Bắc Hàn một cách công khai, lộ liễu như họ đã và đang làm đối với Việt Nam? Một người có ý thức nào cũng biết, đơn giản bởi vì giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc sống trong gan ruột của giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam những kẻ không còn một chọn lựa nào khác ngoài việc núp dưới chiếc dù Trung Quốc.

Như tôi có lần mách nước cho bà con ngư dân trong bài “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa”, cách hay nhất để khỏi bị hải quân Trung Quốc bắn chết là khi tàu đánh cá vừa ra khỏi cửa biển thì xin các bác làm ơn hạ cái lá cờ gọi là “cờ tổ quốc” xuống dùm. Nếu phải treo thì treo đại một lá cờ Phi, cờ Thái Lan, cờ Nhật lên mũi tàu. Nói ra thì cho là phản động nhưng tin tôi đi, làm như thế bà con ngư dân mới hy vọng còn đường trở về với vợ con.

Thời điểm 1958, Pháp đã rút đi và Mỹ thì chưa đến mà Phạm Văn Đồng, còn có thể thay mặt cho 11 ủy viên bộ chính tri, hạ bút ký một văn kiện nhục nhã như thế thì với hoàn cảnh phe Cộng sản chỉ còn lại năm anh em trên một chiếc xe tang, trong đó có đến bốn em đang lâm cảnh hàn vi đói khát, thì chuyện gì mà họ không dám làm. Lê Khả Phiêu, trong giai đoạn tìm về chủ cũ năm 1991, cũng có thể đã ký những văn bản tương tự như văn bản của Phạm Văn Đồng, khác chăng, “đồng chí Phạm Văn Đồng bị lộ” và “đồng chí Lê Khả Phiêu chưa bị lộ” mà thôi.

Người Do Thái nguyền rủa Hitler, nhân loại kết án Hitler, nhưng nhân dân Đức trước khi có thái độ tương tự, họ phải biết trách các thế hệ Đức trong thập niên 30 của thế kỷ 20, bởi vì chính dân Đức thời đó bằng con đường bầu cử hợp pháp đã đồng ý đặt mình dưới sự lãnh đạo của Hitler và đảng Quốc Xã. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ bầu đảng Cộng sản để lãnh đạo nhưng chắc chắn cũng sẽ phải trả lời cho các thế hệ mai sau về thái độ thờ ơ, thỏa hiệp, yếu hèn của các thế hệ hôm nay trước tình trạng băng hoại đạo đức, lạc hậu kinh tế, thất thoát tài nguyên, mất mát lãnh thổ và suy yếu chủ quyền đất nước.

Trần Trung Đạo

HẠT MƯA XANH

truongdinhtuan

chưa đủ hay sao hồn gió cát
còn mong còn ngóng cơn mưa về
qua sông ướt át ngày chưa tạnh
qua núi xanh rì xanh ngõ mê

có rắc thì rắc thêm mưa bụi
mù đường chẳng thấy dốc quì hoa
anh lạt phai vàng màu nắng lụa
cho đậm trầm hương em bữa qua

là chảy ngang đây một nhánh sông
chiều lam ám khói hồn mục đồng
đếm dấu chân trâu mà ngồi đợi
chim bay trời tây tìm trời đông

mưa bụi chắc không làm ướt áo
không lạnh đầy vai lá nhớ quên
ngậm cả trời vui đi qua đó
môi nhớ cười thả hạt mưa xanh

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Khúc tháng chín

dutule

Này tháng chín, mùa thu về rất sẽ
Em biết không? Tôi kẻ đứng bên đường
Hồn tháng chạp, cuối đời khua tiếng gậy
Em từ tâm có đủ lượng bao dung?

Này tháng chín, mùa thu về như thể
Giữa đêm qua, có kẻ lén vào
Vườn hạnh phúc một người đang tập nói
Chàng phục sinh như một giấc mơ

Này tháng chín, mùa thu hồng, lối biếc
Mưa ở đâu? Ướt trí nhớ ai?
Chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn
Em bên này có lạnh đôi bàn tay?

Này tháng chín, mùa thu về rất mới
Bởi hôm qua có kẻ qua đời
Hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
Em xạ hương từ quá khứ tôi

Này tháng chín, này em, này tháng chín
Em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường
Hồn hải điển có bao giờ qui thuận
Bỗng bình minh như một cửa gương

Này tháng chín, lược đời tôi, hãy chải
Và cho tôi sợi tóc cuối chân ngày
Đêm tháng chạp tôi sẽ ngồi nối lại
Những con đường (những sợi tóc rơi)

Những con đường mãi mãi chả ai thôi
Quên nhắc đến bởi chính hồn em đó
Này tháng chín, nghe không lời nói nhỏ:
“Hoàng hôn em, tôi gửi một que… diêm”

Du Tử Lê

ĐÊM CỎ TUYẾT

kiettan

Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bầm lá gan.

CA DAO

Tôi dắt Tuyết xuống bờ đê. Mùa gặt đã qua từ lâu, ruộng khô chỉ còn lác đác một vài gốc rạ. Trăng lưỡi liềm kín đáo ngọt ngào. Tình nhân yêu nhau, trăng yêu tình nhân, từ muôn thuở. Nhưng có chắc tôi yêu Tuyết? Còn Tuyết? Có lẽ. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì với tôi lúc này. Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu.

Tôi tìm một lùm cây có bãi cỏ kéo Tuyết ngồi xuống. Trước mặt là con rạch nhỏ. Nước nhiều hay ít, tôi không để ý. Có lấp lánh ánh trăng hay không, tôi cũng không biết. Quanh tôi có dế than rỉ rả, vạc kêu não nùng không, tôi cũng không biết. Tôi chỉ có một mục tiêu duy nhất: Tuyết.

Khi nãy trên đường từ cầu Bắc chạy về, Tuyết bảo tôi dừng vespa, vì nàng “mắc” lắm rồi. Trước đó hai đứa tôi ăn cháo trắng hột vịt muối, uống trà đá ly cối, hèn gì! Tôi còn đang loay hoay dựng xe thì Tuyết đã chạy ù xuống ruộng. Tôi bị kích thích, tim đập mạnh như bước hụt, chới với. Phần nhạy cảm nhất của con trai mười tám tuổi trổi đậy. Chẳng phải riêng tôi. Mấy chiếc xe hơi chạy ngang, thắng gấp, tiếng bánh xe cày trên mặt đường rít nghe ê răng. Không có tai nạn. Cũng may. Khi sắp trở vào thành phố Vĩnh Long, tôi quẹo xe ở ngã ba và trực chỉ hướng Cần Thơ. Tôi đậu xe ở gần ruộng dưa gang và dắt Tuyết xuống bờ đê. Tuyết ngoan ngoãn đi theo, thỉnh thoảng cười rúc rích. Còn tôi thì chẳng thiết gì đến cười nói, thần kinh bị kích thích căng thẳng, có lẽ mặt tôi lúc đó hắc ám lắm. Câu quảng cáo in trên toa thuốc bổ thận chắc cũng đúng đến chín phần: “Phàm một con hai cẩu đến mùa rượng đực, ngày đêm chỉ nghĩ đến chuyện giao cấu, không thiết gì đến ăn uống, nghỉ ngơi… “

Tôi tìm lùm cây khuất, tự mặt đường ngó vào không thấy phía sau. Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đóa hoa thầm kín của nàng. Mềm mại, ấm áp, trơn ướt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. Cứ gọi là hạnh phúc, dù tôi chẳng có định nghĩa nào về hạnh phúc. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với đóa hoa thầm kín của đàn bà thân mật, chi tiết và trọn vẹn đến như vậy. Cả người tôi cháy thành một khối cảm giác đê mê. Tôi đã biến mất.

Sau cơn cảm xúc mãnh liệt, tôi vội vã, hấp tấp. Tôi loay hoay, luống cuống, bộp chộp. Tôi trật ngã, thiếu chút nữa lăn tuốt xuống rạch nước. Tuyết kịp nắm vai áo tôi giữ lại. Tôi nằm bẹp trên người nàng, hùng hục, hổn hển. Ngay lúc đó trời có sập đề tôi chết tốt tôi cũng không màng. Tôi ôm nàng cứng ngắc. Tuyết lầm thầm: “Anh làm gì… dữ.. . vậy… gì dữ vậy?” Tiếng nói nàng đứt quãng theo nhịp của tôi. Còn phải hỏi! giá mà lúc đó miệng anh rộng đến có thể nuốt chửng được em thì anh cũng nuốt tuốt tuột cho đã cơn dục tình.

Và cơn dục tình của tôi đã được thỏa mãn. Khi đó tôi mới nghĩ đến hôn nàng. Tôi áp môi trên má nóng hổi của Tuyết và hít chùn chụt. Nàng vuốt ve lưng tôi và trách mát: “Anh này đồ quỉ! Đã chưa?” và nàng cười rúc rích. Tôi ngồi dậy. Ánh trăng mát mẻ trên thân thể nàng thật tuyệt vời và hấp dẫn. Mùi ân ái còn thoang thoảng. Tuyết hối tôi:

– Thôi mình đi về, không có chị Tư chỉ la em. Hồi nãy xin phép đi có một giờ mà đi quá mạng, hết lên Cầu Bắc rồi lại ghé đây.

Tôi cố tình chọc Tuyết:

– Em nóng ruột thì ra đón xe đò về trước đi.

Nàng la:

– Đồ quỉ! Thôi đừng có cù nhây, đưa em về sớm, mai mốt chị Tư còn cho đi chơi. Tối nay thứ bảy đông khách mà quán chỉ có mình chỉ với con Liên, lo hổng xuể.

Tôi vừa cặp xe vào hông quán, quả nhiên chị Tư Tùng đã cất tiếng:

– Dữ thần hông! Đi đâu mà mất biệt làm chị lo muốn chết. Cậu chở nó đi đâu vậy?

Tôi phịa đại:

– Thì cũng chạy gần gần đây thôi. Nhưng hồi nãy lên tới cầu Tân Bình thì xe bị bể bánh…

– Thôi cậu đừng có nói dóc. Cái tuồng đó tôi rành quá mà!

Rồi chỉ vào bánh xe sơ-cua gắn trên chiếc vespa, chị hỏi:

– Vậy chớ cái gì đây? Còn mới tinh mà nói bể.

Tôi giả lả:

– Thôi mà chi. Em biết trễ sợ chị la nên nói gỡ gạc vậy thôi, chị thông cảm.

– Ai mà dám la cậu. Mà thôi mấy người cũng lớn rồi muốn làm gì đó thì làm. Hồi nãy tui sợ không biết có tai nạn dọc đường gì không mà đi lâu quá, cả hơn hai tiếng đồng hồ nên mới nói vậy… Cậu cũng biết tui thương con Tuyết lắm, coi nó như em ruột, gia đình không có nên…

Lúc đó khách quen tới, chỉ đon đả chạy ra chào khách. Tôi thừa dịp thoát thân, chạy qua phía bên kia quán, kéo ghế ngồi ở bàn đặt cạnh bờ sông. Gió từ bên cù lao An Thành thổi qua mát mẻ. Những giề lục bình chỉ còn là những khối đen lững lờ trên dòng nước. Nhìn Tuyết chạy lăng xăng khui nước, chặt dừa, xay rau má, lòng tôi tràn đầy hạnh phúc và thương mến. Thỉnh thoảng nàng liếc tôi và cười ỏn ẻn, đồng lõa. Chập sau nàng đem tới cho tôi một ly cối nước cam-sô-đa với hai tròng đỏ hột gà lờ đờ, nàng nói:

– Anh uống đi, bổ lắm!

– Bổ là có chuyện nữa!

– Đồ quỉ!

Chị Tư cưng Tuyết cũng phải. Nhan sắc nàng cũng đại khái thôi, nhưng thịt da mơn mởn dễ nhìn, cười lúm đồng tiền có duyên tuy hai răng trước có kẽ hở. Nàng hay cười nói vui vẻ nên kéo khách cho chị Tư cũng bộn – trong đó có tôi. Khi đó tôi vừa đậu xong tú tài đôi, về Vĩnh Long nghỉ hè. Ban ngày tôi họp bạn đánh đàn hoặc đi thăm người yêu nữ sinh, hoặc ngủ li bì. Ban đêm tôi la cà . Chị Tư thì tôi biết từ hồi còn học đệ tứ, thuở tôi bắt đầu mặc quần đa-cờ-rông láng coóng, thắt dây nịt nhỏ, chải đầu trét bi-dăng-tin và đi giầy mỏ vịt. Hồi đó xuống quán là để uống nước dừa, ăn cơm gà rô-ti, tán dóc với bạn bè và theo dõi đàn anh tán gái để chờ ngày xuống núi hành đạo (hay hành lạc?) . Nói quán nghe rườm rà chớ thiệt ra đó chỉ là một cái chòi bằng thiếc khi giương thì mở ra bốn phía, khi sập xuống thì kín mít. Tuyết nằm ngủ bên trong với Liên, trên một diện tích khoảng hai thước x hai thước. Quán nằm phía cuối chợ cùng với ba quán khác, hai quán bán cơm, một quán bán nước cạnh tranh với chị Tư. Bàn ghế bắc xung quanh quán, không có vị trí nhất đinh. Tôi thường xuống quán rà rà để được ngửi mùi nem nướng hay thịt bò xào. Mùi thơm ngọt ngào sực nức, khói tỏa mịt mù và thú vị biết bao! Tôi không ăn vì sợ ăn sẽ đâm ngán cái thú ngửi mùi đó. Tôi như một cô hồn thưởng thức đồ cúng. Tôi hạnh phúc mà không hay, có lẽ nhờ vậy mà hạnh phúc. Khi hay, hạnh phúc tan biến.

Sống như con nít ngây ngô, ngơ ngác, lúc nào cũng khám phá, khám phá nào cũng tuyệt vời. Tôi khám phá đàn bà như con nít trước một rương đồ chơi bí mật. Lắm lúc tôi cười, nhiều khi tôi khóc. Tôi mê đàn bà, tôi tội nghiệp tôi, thằng ngốc tử. Tôi tội nghiệp các nàng đã trót yêu thằng ngốc tử.

Dĩ nhiên nếu chỉ ngửi thôi thì làm sao sống nổi. Tôi cũng có ăn. Tôi khoái nhứt món hủ tiếu “đầu trọc”. Không phải ăn rồi là rụng tóc trọc đầu, mà bởi món này do một ông chệt đầu trọc gánh đi bán dạo, gõ nhịp lắc-cắc-cụp trên hai miếng tre ngắn đã lên nước. Hủ tiếu khô của ông có nước xốt gì nâu nâu sền sệt chan lên ăn là hết xẩy. Xế trưa tôi một tô, Tuyết một tô, ních vô là thấy hạnh phúc nằm trong tầm tay, đâu cần gì phải đi hành hương xa xôi trắc trở. Lại thêm giọng cười rúc rích của Tuyết giữa trưa nắng rạng rỡ miền Nam, với ngần ấy thứ mà không ngửi thấy hạnh phúc thì dù có tu chín kiếp cũng coi như huề cả làng. Chị Tư không thích hủ tiếu nên thường làm một tô mì hai vắt, cũng mì khô có nước xốt mầu nhiệm đó chan lên. Chị buôn bán nhưng tánh chị thật thà. Da chị ngăm đen, môi dầy, mũi lân và. . . đa tình. Tụi tôi biết vậy nên dụ dỗ kép Thế xuống quán. Kép này là một tay tứ chiếng giang hồ lấy đĩ làm vợ, cao lớn đẹp trai, có nụ cười lém như Gene Kelly. Chị Tư chíp lắm. Mà khi chị đã chịu đèn rồi thì tụi tôi dễ bề làm ăn với Tuyết và Liên. Có quá quắt thì chị cũng làm ngơ. Có chở đi quá giờ thì chị cũng xí xóa. Dẫu giận mấy, có “anh Thế” xuống là xong ngay. Thành thử tôi cũng được rảnh chưn rảnh tay “một mình thong thả mần ăn, khỏe quơ chài kéo mệt quăng câu dầm… “

Lúc đầu tôi xuống quán bên kia. Một tối Tuyết ngó tôi nheo mắt cười tình mấy cái là tôi di cư luôn qua quán chị Tư. Tuyết làm bộ hỏi:

– Anh ghé chơi một chút rồi dọt qua bên kia hả?

– Không, anh lấy cơm tháng ở đây luôn.

Nàng cười rúc rích:

– Anh giỏi tài ba xạo!

Tôi cũng chỉ biết nhăn răng ra cười trừ. Rồi tôi tán tỉnh Tuyết ra sao tôi cũng không nhớ rõ. Tôi vốn đã ít nói. Mà cuộc trao đổi văn nghệ giữa một cậu tú mới toanh và một em bé bán nước dừa chắc cũng không có câu nào đáng đi vào văn học sử. Nhưng hai đưa cũng khắng khít nhau ra rít, đâu cần gì phải vô vọng cổ hay thao thức viết thư tình.

Có lần tôi tò mò hỏi Tuyết:

– Em có yêu anh không?

– Em hổng biết, nhưng em khoái anh!

– Khoái ở chỗ nào?

– Tại anh có hàm răng bẹt-lông, cười có duyên thấy ghét.

Perlon là hiệu kem đánh răng đang được quảng cáo thời đó, với một nụ cười duyên dáng và hàm răng đẹp. Tôi có ngó vô kiếng cười thử, thấy răng mình to và hơi gie ra đằng trước, không có gì đáng ca ngợi. Anh tôi bảo mày hô ống điếu (?) nên cười có duyên ngầm (?). Chắc tại tôi có cái duyên “ống điếu” nên Tuyết đâm mê.

Còn tôi, tôi thèm muốn Tuyết. Yêu? Gọi thế nào cũng được, có đặt tên cho tình cảm hay không thì nó cũng vậy thôi. Riêng tôi, tôi không quan niệm tình yêu mà không có tình dục. Nếu ép tôi bỏ bớt một thứ, có lẽ tôi sẽ giữ lại tình dục. Tôi thường ngạo mấy cô tình nhân khi nàng từ chối tình dục: “Em yêu anh bằng linh hồn còn xác thịt em để cho người khác? Nếu vậy hãy cho phần thứ hai anh trả lại em tình yêu.” Kết quả tôi lại bi rầy: “Anh khôn thấy mồ ?” (Té ra yêu bằng linh hồn là ngu lắm sao . ) Tôi bị rầy là nàng đã hiểu. Xong. Thành thử tôi chỉ có một tình yêu duy nhất không có tình dục, đó là lúc tôi học tú tài một ở Mỹ Tho và yêu Hoa. Không phải tôi thánh thiện mà vì lúc đó tôi chưa thành quỉ. Chưa gặp dịp có lẽ.

Cùng lúc dâm lụy với Tuyết, tôi lại thánh thiện với Ánh, người yêu nữ sinh. Tôi tới nhà Ánh ngồi chơi, rất mực là thư sinh ngoan ngoãn. Nói chuyện gì tôi cũng không nhớ rõ. Nhưng nghĩ cũng phục tôi luôn. Nói gì mà nói nhây hàng giờ, ngày này qua ngày khác, mà không sờ mó mân mê gì cả. Phục lăn. Nhưng xét ra cũng chẳng có gì đáng phục. Tôi đã no nê dục tình với Tuyết, hơi sức đâu mà mơ ước chuyện gì khác. “Phàm một con hải cẩu… ” nhưng tiếc thay tôi chưa bằng được con hải cẩu. Tôi chẳng bao giờ hẹn Ánh nơi chốn tối tăm nào khác bên lùm bên bụi hay (người hẹn cùng ta đến) bên lùm chuối…

Mỗi tuần tôi phải dắt Ánh đi coi phim Ấn Độ một lần, với bà má vốn mê phim Ấn Độ. Tôi thường bẻ một chùm bông thiên lý đem theo. Khi trên màn ảnh hoàng tử và công chúa bắt đầu nắm tay nhau ca múa và lắc lắc cái bụng là tôi ngủ gật với mùi thơm ngầy ngật của hoa lý ở đầu mũi. Nhưng tôi được an ủi lúc ra về. Ánh theo má đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Trăng lên cao, ngọn dừa dật dờ lấp lánh, dáng Ánh gầy gầy, bóng Ánh ngã trên đường nhẹ hổng như vết chim bay. Tôi nghĩ nàng chỉ cần đập cánh là có thể bay lên trời, bỏ tôi lại cõi trần gian dâm dật này cho Tuyết với đôi mông trắng hếu. Có lẽ tôi sẽ khóc, nhưng rất bằng lòng. Tình thực tôi cũng chẳng giấu diếm gì Ánh. Tôi nói tôi ngủ với mấy cô bán quán. Ánh không tin và cho rằng tôi nói vậy để lấy le. Đến một hôm, Ánh bắt gặp tôi chở Tuyết chạy ngang nhà, nàng mới bắt đầu ngờ vực là tôi nói… thiệt.

Mà trong cái tỉnh nhỏ xíu này, đi một vòng là gặp nhau hết, nói gì đi quanh quẩn năm này tháng nọ. Một đêm gần Tết, tự nhiên Tuyết nổi hứng thay áo dài mới xanh lè quê một cục, nhứt quyết đòi tôi chở đi chơi. Tôi thấy Tuyết vui nên cũng chiều ý. Tôi chạy lòng vòng lạng quạng. Bỗng Tuyết đòi đi nhà thờ gần cầu Cái Cá. Nhà của Ánh ngay dưới dốc cầu. Tôi bấn quá, mà từ chối sợ em buồn. Tết nhất rồi, ai nỡ làm vậy. Nhưng lỡ Ánh bắt gặp, chạy ra níu áo rồi mới tính sao đây? Di nhân nan ! Di nhân nan ! Gần tới cầu tôi nảy ra sáng kiến (nhờ ơn trên?). Tôi khóa ga xăng giả bộ xe lên dốc không nổi. Tôi bảo Tuyết xuống và đi bộ qua cầu vô nhà thờ trước chờ tôi. Chùi bu-di xong xe sẽ vọt ngon lành như trước, tôi qua sau. Tôi rất ghét nói dóc. Nhưng nói dóc với Tuyết tôi không thấy lương tâm bị cắn rứt một chút nào hết.

Tuyết bỏ gia đình đi hoang năm mười sáu tuổi. Tuyết cùng một tuổi với tôi. Gia đình Tuyết ở Gò Công. Tôi không rõ lý do ra đi của nàng, hay nàng đã kể rồi mà tôi không nhớ. Tôi cũng chẳng để ý. Ôm được Tuyết, vật với Tuyết trên bờ cỏ đối với tôi là quá đủ. Nếu có ai dọa sao chổi xẹt xuống làm tan băng hà ở Bắc cực, nước sẽ dâng lên cao ba thước khắp địa cầu, tôi cũng coi như pha. Chỉ cần bụi cỏ đen và đôi vú trần của nàng, kỳ dư tôi chẳng ăn nhập gì với quả đất quay nhanh hay chậm. Tôi là một vệ tinh vô danh tiểu tốt quay xung quanh ngực và mông nàng, quay điên cuồng và hạnh phúc. Cho đến ngày nổ tung trên trục quay hay cho đến lúc tôi lạc quỹ đạo đâm sầm vào hành tinh mẹ và cả hai đều bốc cháy tan tành, trả lại bụi sao cho ngân hà, cho nguyên thủy, cho thuở khai thiên lập địa, không có âm không có dương, không có tôi không có nàng, không có đam mê không có dâm luyến, tôi với nàng chỉ là một. (Bởi duyên cớ nào khiến ta thành hai?)

Khi trước tôi ở nhà má tôi, gần rạp hát. Mùa hè năm đó tôi dời đô về nhà ba tôi ở dốc Cầu Lộ cho dễ bề hành hiệp. Nhà ba tôi là một tiệm mộc nên giường chõng tha hồ. Đi chơi khuya về thấy mùng giăng sẵn, dở lên không thấy ai là cứ chun vào ngủ. Tối tối tôi đi đón Tuyết về. Có lúc trời nóng gặp ba tôi còn ngồi ngoài hàng ba phơi bụng hút ống vổ, nàng khẽ cúi đầu:

– Dạ, chào bác.

Ba tôi cười khì khì đồng lõa, hỏi vớ vẩn:

– Tiết đó hả? Lóng rày bán khá không cháu?

– Dạ khá.

– Cháu khá mà bác coi bộ thằng Kiệt nó hơi xanh.

– Dạ… Tuyết ấp úng.

Tôi đỡ lời:

– Tuyết có cho tui uống cam sô-đa hột gà hoài đó chớ.

Tuyết quay lại la tôi:

– Đồ quỉ!

Một bận tờ mờ sáng chúng tôi còn mê mệt ôm nhau ngủ thì ba tôi lay dậy:

– Mau mau! Vọt? Má mày tới!

Tôi còn đang lính quýnh, ba tôi kéo Tuyết chạy ra nhà sau, giấu nàng trong cầu tiêu. Tôi giả bộ ngủ tiếp. Má tôi (có lẽ ai mét) ập vào kinh lý. Bà dở mùng thấy thằng quý tử say ngủ chèo queo một mình nên yên bụng bỏ ra về. Tôi ra cầu tiêu kiếm Tuyết. Sau hồi chới với chúng tôi ôm nhau cười ngất. Nàng hỏi:

– Sao má anh khó quá vậy?

Tôi vớt vát:

– Chắc bả canh ông già chớ đâu phải rình anh.

– Vậy mà làm em cũng hết hồn.

Ba tôi trấn an:

– Ôi! Hơi sức nào mà lo. Bề gì đã có tao đứng mũi chịu sào. Cùng lắm là bả bắt thằng Kiệt về nhà dưới ngủ, không cho ngủ ở nhà tao nữa.

– Ý! Đâu có được.

Tôi phản đối tức khắc. Nhưng cũng may, mọi việc vẫn cứ diễn tiến như trước, đêm đêm tôi đi đón Tuyết về. Đêm nào tôi ngủ quên thì Tuyết tự động ngồi xe xích lô về. Tuổi mười tám sao hăng quá sức, đêm nào cũng như đêm nấy. Tôi thấy đời tôi quá đầy đủ, không dư không thiếu một chỗ nào. Đôi khi quá hăng say, tôi đã được một anh thợ của ba tôi lưu ý.

– Thầy Sáu ác quá! Cái đi-quăng bữa nay giao cho người ta mà thầy làm sao ố hết trọi, báo hại tôi phải cạo sơn lại.

Rồi anh ta chỉ mấy vết vân vân trên mặt gỗ sơn làm tôi cũng hơi quê, nhưng cũng hãnh diện ngầm (sự hãnh diện ích kỷ của con thú đực).

Một đêm, sau khi rời thân thể Tuyết, tôi lò dò bước xuống giường xỏ đôi guốc định ra nhà sau tè một phát trước khi đi ngủ. Bỗng nhiên trong bóng tối có một bàn tay nắm tôi kéo lại rồi giọng anh tôi rỉ vào tai tôi:

– Mầy để đó cho tao.

Tôi chưa kịp phản ứng thì hắn đã xô tôi ra rồi trèo lên giường dở mùng chun vô. Tôi lớ ngớ đi ra nhà sau ngồi chờ, trong lòng bứt rứt. Có tiếng la ó dẫy dụa. Chập sau anh tôi tuột xuống giường vòng ra sau nhà đi về. Tôi rón rén trở lại bên Tuyết. Nàng nằm quay mặt vô vách. Nàng không nói gì tôi cũng không dám lên tiếng. Tôi thiếp ngủ trong niềm ăn năn và ghen tức lẫn lộn. Khi tỉnh đậy không thấy Tuyết đâu nữa. Tôi nghĩ bụng nếu phen này mà Tuyết bỏ tôi thì tôi sẽ kiếm thằng cha anh của tôi xin tí huyết.

Buổi trưa tôi xuống quán gặp Tuyết đang ngồi ăn cơm với chị Tư và Liên. Chị Tư mời lơi:

– Cậu Kiệt ăn cơm.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi kéo ghế xáp vô bàn ăn liền. Để kiểm điểm, tôi gọi thêm một dĩa phá lấu. Tôi gắp một miếng ngon bỏ vào chén cho Tuyết. Tuyết cũng gắp lại cho tôi một miếng và cười rúc rích. Tôi biết như vậy là huề. Tôi được thể kể thêm chuyện tiếu lâm cho mọi người cười cho vui bữa.

Ăn xong Tuyết kéo tôi ra bàn gần bờ sông ngồi hóng mát. Tuyết đi thẳng vào chuyện đêm qua:

– Sao hồi hôm anh làm kỳ vậy? Em mắc cỡ muốn chết.

Mặt Tuyết đỏ gấc, cả vành tai cũng đỏ.

– Em thương anh mà sao anh làm kỳ vậy?

Tôi sượng trân, không biết trả lời ra sao. Tôi ấp úng:

– Anh cũng thấy kỳ thiệt… Nhưng chuyện xảy ra quá bất ngờ, anh đâu có muốn như vậy. Em giận anh lắm hả?

Nàng ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi cảm động nắm lấy tay nàng. Nàng liếc tôi cười mỉm:

– Thôi bỏ qua chuyện đó. Mà anh đừng có làm vậy nữa nghen. Em thương anh chớ đâu có thương anh Lộc, bộ anh không biết sao?

– Anh biết chớ… Thôi anh xin lỗi em.

Tôi nói tôi biết chớ thiệt ra tôi chẳng biết khỉ mẹ gì hết. Tôi là thằng ngốc tử. Cho tới bây giờ khi tổng kết tình hình quốc tế, quốc nội và tâm lý ái tình đời mình, tôi chẳng biết tôi có yêu ai không nữa. Tôi đam mê, nhiều lúc muốn tự vận thì có. Yêu? (còn phải hỏi lại). Biểu tôi đinh nghĩa tình yêu, tôi cũng bí luôn. Sau một lúc con thuyền tròng trành, tôi và Tuyết trở lại khắng khít nhau như trước. Như không có chuyện gì xảy ra. Tôi lấy thêm một quyết đinh sáng suốt: Nếu thằng cha anh tôi còn dở trò lạng quạng là tôi sẽ quyết liệt mời hắn đi chỗ khác chơi. Bằng võ lực nếu cần. “Ối thôi tôi mời cậu đi ra cho lẹ, nếu còn ở đây ắt sanh tử với tôi?“. Hắn cũng nằm lòng câu hát đó.

Mùa hè trời oi bức nên Tuyết thường đòi đi tắm, hoặc trước hoặc sau khi làm tình. Có khi cả trước lẫn sau khi làm tình. Sau nhà tôi là một sàn nước, trên có để mấy cái lu. Thợ thuyền thường mặc quần xà lỏn tắm lộ thiên trên sàn nếu làm biếng tắm sông. Lần nào Tuyểt về với tôi cũng quá nửa đêm, lối xóm ngủ hết. Tuyết trần truồng như nhộng tắm lộ thiên. Tôi có cái thú đứng ngắm Tuyết tắm. Thân thể Tuyết trắng muốt và ngực Tuyết no tròn, đứng sững đẹp tuyệt. Đã bao lần tôi ngã chết trên đó. Mà rủi có chết luôn tôi cũng không hối tiếc. Canh khuya dế kêu rỉ rả. Khi nàng xối nước ào một cái thì lũ dế im tiếng. Khi nàng kỳ cọ thì tiếng dế lại trổi lên. Có nhạc, có mỹ nhân, nghê thường là đó. Nếu Tuyết biết ăn nói văn chương và biết gảy đàn, tôi sẽ ngờ nàng là hồ ly tinh. Ôi con hồ ly yêu dấu. Tiếng em kỳ cọ trên thân ngà ngọc nghe sao mà dâm tuyệt!

Tôi khổ sở nhất là lúc mỗi tháng Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến mấy ngày. Vào thời kỳ này đàn bà hay quạu quọ mà tôi còn quạu hơn Tuyết. Tôi đứng ngồi không yên như bị táo bón, nhăn nhăn nhó nhó như khỉ ăn ớt. Khi nàng hạ cờ là tôi mừng quýnh như con nít má đi chợ về. Nàng lại có dịp la tôi: “Đồ qui, làm gì dữ vậy?” Nàng treo cờ tôi khổ sở. Nhưng nàng không treo cờ, lại là một nỗi bận tâm khác. Một lần nàng nói nhỏ với tôi:

– Sao tháng này em trễ quá, có hơn hai tuần rồi. Rủi em cấn rồi làm sao hả anh?

Đã không lo, trái lại tôi còn thấy vui:

– Cấn rồi thì mang bầu.

– Mang bầu kỳ chết.

– Mang bầu thì đẻ chớ kỳ gì.

– Đẻ rồi làm sao?

– Đẻ rồi thì nuôi chớ làm sao.

– Anh này nói nghe dễ ợt. Lấy gì mà nuôi đây chớ?

– Thì lấy cái này…

Tôi đặt tay lên vú nàng. Nàng hất tay tôi ra:

– Đồ quỉ!

Thấy tôi cười khì khì nàng cũng tủm tỉm cười theo, hai má đỏ rực.

Cách tuần sau, một đêm tôi thiếp ngủ, giật mình không thấy Tuyết bên cạnh, tôi hơi lo sao đêm nay nàng không về. Trưa hôm sau xuống quán chỉ thấy một mình chị Tư. Tôi hỏi Tuyết đâu.

– Tuyết nó đang nằm trong quán.

Tôi chui vào quán thẩy Tuyết nằm co. Tôi đỡ Tuyết dậy hỏi:

– Em bịnh hả?

Tuyết xanh ẻo thều thào:

– Em mệt.

Chị Tư nói thêm:

– Tuyết nó bi thuốc hành nên mệt.

Cách đây mấy bữa, tôi đã nghe chị Tư bàn lén với Tuyết về vụ đó. Tôi nắm vai Tuyết lắc lắc:

– Em phá thai phải không?

Tuyết cúi đầu không nói. Cơn giận đột nhiên bốc dậy trong tôi bừng bừng. Tôi xáng Tuyết một bạt tai ngã chúi vô góc quán rồi đứng dậy. Tuyết gục đầu, nước dãi nàng chảy ra ở miệng. Biểu diễn xong màn tặc-dăng nổi giận, tôi nhảy lên vespa rồ ga phóng đi thẳng. Tôi chạy lòng vòng một hồi rồi trực chỉ ngã ba Cần Thơ. Tôi chui vào một cái nhà sàn gọi bia ra uống. Bà chủ quán còn trẻ, mặc quần áo xốc xếch, một tay bồng nách thằng con lem luốc, một tay bào nước đá. Tôi vụt hối hận chua xót. Tôi bỏ chai bia rồi phóng xe trở lại quán chị Tư. Nghe tiếng xe đậu lại, Tuyết lồm cồm bò dậy ra đứng vịn ở cửa quán. Mắt nàng đỏ hoe, tóc tai bù xù. Tôi ăn năn quá đỗi. Tôi chỉ muốn chạy thẳng ra bờ sông và nhảy ùm xuống dòng nước đục (không phải để tự vận). Tôi muốn lội băng qua con sông lớn, cho tới cù lao An Thành bên kia, tôi leo lên đó trốn hết mọi người, ẩn dật ở cù lao, biến thành con xà niêng hay con dã nhơn gì đó, cho không còn ai nhận ra tôi, cho Tuyết không còn bao giờ nhận ra tôi, gã bạch diện thư sinh sau cái bộ mặt lông lá. Môi Tuyết khô queo, tay nàng run rẩy. Trời nắng chang chang. Hai đứa ngó nhau rưng rưng nước mắt.

Rồi mùa hè qua. Nắng hết vàng rực. Phượng vĩ hết đỏ. Dế hết còn gáy ở sàn nước. Tuyết hết còn khỏa thân tắm lộ thiên. Và tôi cũng bi đuổi ra khỏi nghê thường. Hai đứa còn khắng khít, nhưng nàng ở lại quán, còn tôi lên Sàigòn bước vào đại học. Sau khi đậu tú tài, tôi thi rớt liên miên. Thi công chánh: rớt. Thi trường điện: rớt! Thi sư phạm: rớt ! Thi quân y: đậu. Và đậu hạng nhất, ngành nha khoa. Ba tôi vốn ghét nghề “nhổ răng và thiến heo” của đám hành nghề dạo trong xóm nên ông chửi tôi tàn canh gió lạnh vì tôi thi đậu ngành nhổ răng. Ông nói:

– Tao với má mày gia tài còn có mấy cái răng ăn cháo bộ mày tính học về nhổ luôn cho hết hả? Rồi bà con đau bụng đẻ rước mày tới mày nhổ răng cho chết luôn hay sao? Mầy học cái nghề gì mà ác ôn quá vậy?

Tôi nản quá nên bỏ ngành quân nha. Tôi lêu bêu vào năm đầu đại học khoa học. Tôi lạc lõng, mất hướng. Tôi chỉ mong cuối tuần về để vọt về Vĩnh Long. Có lúc kẹt xe, tôi về tới thành phố đã tối mò. Tôi ghé nhà Ánh trước vì gần bến xe. Nhà nàng ngủ sớm (ông già làm thầy giáo). Một tay gõ cửa mà tay kia tôi còn lận theo khúc bánh mì thịt chưa kịp ăn. Bà chị ra mở cửa la lên:

. Ánh ơi! Thằng Kiệt nó về.

Ánh chạy ra mừng rỡ. Tôi ghé vào nói chuyện láp dáp một chút rồi vọt, hẹn bữa sau trở lại. Tôi kêu xe lôi đi thẳng xuống quán, và trên đường tôi tạt ngang báo cho ba tôi biết tối nay tôi ghé ngủ nhà để ổng cho đem mùng ra tối về có mà giăng. Thấy tôi về Tuyết cũng mừng lắm. Lại một tô hủ tiếu “đầu trọc”, một ly cam sô-đa hột gà. Và tôi lại chết thiếp trên ngực hồ ly, bằng lòng, hạnh phúc.

Có dạo bận học quá, cả tháng không về được, tôi nhận được thư Tuyết. Nàng viết: “.. Anh biết hông, mỗi bữa chiều em bắt ghế ra ngồi trước quán ngó ra ngoài đường thấy người ta đi qua đi lại, em nhớ anh thấy mồ. Lúc nào anh học thuộc bài hết rồi thì anh mau mau về đây cho em thả mãn… “

Trong thơ nàng kèm theo một tấm hình sau lưng có viết mấy chữ: “Em xin tặng anh một đá hoa hồng để làm kỳ nhiễm. Tuyết. “

Kỳ nhiễm? hay kỷ niệm? Tôi đoán lờ mờ. Chữ nghĩa không làm tôi bận tâm, nhưng khi nhìn tôi đâm lo. Thường mấy cô nữ sinh cầm nhánh bông hay đóa hoa để làm duyên khi chụp hình. Đàng này Tuyết cầm hẳn chậu bông đưa thẳng ra một bên, phía trên có cụm hoa hồng bằng nhựa màu. Tôi chỉ sợ nàng mỏi tay buông ra bất tử thì đổ nợ. Thà nàng giả bộ leo lên máy bay ló đầu ra chụp hình như ông anh tôi mà còn khá hơn. Cầm chậu bông kiểu này là chết kiểu con người ta. Bữa nọ thằng bạn lục bóp tôi, lôi ra tấm hình Tuyết, ngắm xong, đọc xong, nó bèn ngửa mặt lên trời cười hô hố, chảy cả nước mắt nước mũi. Tôi quê quá nên từ đó giấu biệt hình nàng.

Trở lại việc học vấn của tôi. Trong cái rủi mà cũng có cái may. Nhờ phất phơ như vậy mà tôi được đi du học. Số là bữa nọ đi lơ ngơ trong Chợ Lớn tôi gặp lại một thằng bạn cũ khá thân. Nó kéo tôi về nhà ở đường Da Bà Bầu tán dóc. Khi mở hộc tủ tìm cây viết nó chợt à một tiếng rồi lôi ra một xấp giấy đưa cho tôi. Đó là đơn xin đi du học ở Canada. Nó nói tao quá tuổi rồi xin không được, mày nhỏ hơn tao hai tuổi, đậu hai tú tài hạng bình thứ xin có hy vọng lắm. Tôi nhắm mắt điền đơn, nộp đại rồi quên bẵng. Năm tháng sau, đùng một cái tôi được mời khám sức khỏe, làm thủ tục xuất dương: tôi đã được chọn. Tôi cầm tấm giấy mời chới với. Có bao giờ tôi nghĩ tới hay mơ ước chuyện xuất dương. Nhà tôi không giàu, ba má tôi dốt nát. Tôi là một thứ cao bồi hương thôn. Dù tôi có bận quần jean cao bồi đi nữa là cũng để chà lết ở miệt vườn. Thế giới của tôi có cù lao An Thành, có cây da Cửa Hữu, có cái miễu Bà, có cầu Cái Cá, có bến xe đò. Và có cái quán nước của chị Tư Tùng. Và trong quán nước có Tuyết, dĩ nhiên. Tôi không muốn đi đâu hết. Tôi tấn thối lưỡng nan. Ông anh thứ ba (không phải Lộc) của tôi biết vậy nên đặc cách cho một lâu la của ông ta dắt tôi đi làm hết mọi giấy tờ. Thành thử tôi kẹt cứng ngắc, tôi chẳng biết gì về Canada ráo, từ nguồn gốc cho tới ngôn ngữ. Má tôi hỏi:

– Nghe anh Ba mày nói mày sắp đi Ca Bá Đại hả? Nghe nói ở đó nước ngập quanh năm mày qua bên đó làm chi vậy?

Tôi bí. Phải chi bà hỏi ở chợ Vĩnh Long có mấy cái quán cóc, quán nào bán cơm quán nào bán nước, quán nào có mẩy cô, tên gì, mấy tuổi tôi bảo đảm trả lời rót rót, đúng đến chín chục phần trăm.

Nhưng rồi mọi việc cứ tuần tự diễn tiến, theo một trật tự bất kham. Bánh xe du học cứ lăn tới và kéo tôi ra khỏi cái cứ địa “cao bồi hương thôn” mặc tình cho tôi trì níu lại. Còn ba tháng nữa sẽ xuất dương, rồi hai tháng, rồi một tháng, rồi nửa tháng. Rồi chỉ còn một tuần lễ. Tuyết có theo dõi tình hình quốc nội do Lộc báo cáo nên nàng cũng khăn gói lên Sài gòn để gặp tôi vì tuần chót tôi kẹt luôn ở thủ đô để lo giấy tờ, thủ tục, thông hành, hối đoái v.v.. Một tối, nàng hẹn gặp tôi trước rạp Khải Hoàn, không phải để coi hát, mà là để giã biệt. Đúng hẹn, tôi dắt Tuyết qua chợ Thái Bình ngang mặt rạp. Nàng đi guốc mộc xanh, bận quần sa-teng trắng, áo xá xị màu hường lợt. Lần đầu tiên tôi để ý nàng vẽ mắt đen, tô son nhạt và đeo bông tòn teng. Coi cũng hấp dẫn lắm. Nhưng tôi thích Tuyết ở truồng đứng xối nước ở nhà sàn hơn. Tuy nhiên tôi cũng khen nàng một câu lấy lòng.

Tôi đề nghị nàng kiểm một cái gì ăn đã, vì lúc đó đã hơn mười giờ đêm mà tôi chưa ăn gì từ chiều. Nàng đồng ý. Tôi hỏi nàng muốn ăn gì, nàng đáp tùy ý anh, em không đói. Không có hủ tiếu đầu trọc, tôi đề nghị nàng ăn mì ở một cái xe đẩy trong chợ. Xe cẩn kiếng đủ màu kể lại sự tích Tam Quốc có Quan Công mặt đỏ, sau nồi xúp nghi ngút là một xì thầu bụng phệ, không trọc đầu, nhưng tôi tin tưởng. Tôi kêu một tô mì đặc biệt có mì và hoành thánh trộn lẫn. Còn nàng, một chai xá xị Con Nai. Bụng đói nên tôi cúi gầm đầu ăn một mách gần hết mới ngửng lên gợi chuyện:

– Em lên đây hồi nào?

– Hồi chiều hôm qua.

– Lên đây em ở đâu?

– Ở đậu nhà bà dì con Liên trong chợ Bàn Cờ. Còn anh, bữa nào thì đi Da… Cá Đại, hay cái gì Da Da đó?

– Bữa nay thứ ba. Còn đúng một tuần nữa thì anh đi. Đi Gia Nã Đại.

– Cái gì Gia?

– Gia Nã Đại.

– Ờ vậy hả? Gia Nã Đại! Cái tên gì kỳ thấy mồ, nói muốn trẹo bản họng. Nghe nói bên đó đất thấp nước ngập dữ lắm phải hông?

Không biết ai đồn cắc cớ như vậy. Tuyết cũng hỏi một câu y chang như má tôi. Tôi giải thích: “Em đừng có lộn Gia Nã Đại với xứ Hòa Lan”. Nàng càng mù tịt thêm nên tôi lảng sang chuyện khác:

– Em có tính ở lại Sài gòn để đưa anh lên máy bay luôn không?

– Ý, đâu được? Chị Tư bi cúm hổm rày nằm liệt địa, quán chỉ có mình con Liên coi, bê búi lắm. Sáng mai em phải về. Hơn nữa…

Nàng ngập ngừng:

– … hơn nữa gia đình anh, em chỉ biết có ba anh và anh Lộc. Má anh lại khó nữa, khi không em nhào vô đưa anh đi coi kỳ chết.

Thiệt ra nếu nàng đòi đưa tôi ra tận phi trường mới là đổ nợ. Vì hôm đó sẽ có Ánh tiễn tôi, chương trình đã in như vậy rồi, cáo phó đâu có kịp nữa. Tôi dò dẫm:

– Em về dưới rồi tính làm cái gì ăn?

– Thì bán quán chớ làm cái gì?

– Bộ em tính bán quán hoài sao?

– Không bán quán chớ anh biểu em làm cái gì bây giờ?

Tôi ỡm ờ:

– Thì chờ anh học thành tài về nước cưới em.

Nàng ngó tôi hoài nghi:

– Anh đừng có nói cà rỡn. Bản mặt anh mà cưới em.

Tôi kênh kênh:

– Thiệt chớ! Em mà dám chờ thì anh cũng dám cưới cho mà coi.

Nàng nghiêm mặt (ít khi tôi thấy nàng nghiêm như vậy) làm thằng nhỏ hơi teo:

– Hồi thở giờ em có biểu anh cưới em lúc nào đâu mà bữa nay anh phát thinh nói kỳ cục vậy?

Mắt nàng hoe đỏ. Tôi sợ nàng khóc bất tử nên gạt ngang:

– Em không tin thì thôi anh không nói nữa.

Nàng dụi dụi mũi, ngần ngừ:

– Mà em hỏi thiệt, anh có thương em hông?

– Có nói em cũng không tin nên anh không nói.

Nàng nài nỉ:

– Hồi nào tới giờ em đâu có hỏi, bữa nay em mới hỏi thiệt anh chớ có thương em hông đó?

– Thương chớ. Thương đứt ruột.

Thấy nàng chưa chịu tin, tôi đưa một ngón tay lên thề:

– Đứa nào nói láo cho ông Táo đội nồi cơm.

– Anh thiệt ba xạo.

Nàng cười, tôi cũng cười theo. Nàng cười là tôi đỡ lo. Nàng cười là tôi đã được tha thứ, chấp nhận. Tôi nắm tay nàng ngó trân trân:

– Bữa nay em đẹp lắm… Anh muốn ngủ với em một đêm chót.

Nàng ngần ngừ:

– Bộ anh tính đem em về ngủ nhà anh hả?

– Anh tá túc nhà anh Ba của anh. Má anh cũng ngủ ở đó . Anh về nhà em được không?

– Ý, nhà dì con Liên em đâu có quen. Hơn nữa nhà có chút xíu, dỉ ngủ trên gác còn em ngủ bộ vạt ở dưới với đứa nhỏ. Anh tới đó làm quỉ đâu có được.

Chợt ngó lên trời, tôi đề nghị:

– Hôm nay có trăng lưỡi liềm, hay anh chở em dạo một vòng ra Bình Điền, ở đó có cây cối…

Nàng gạt ngang:

– Ở dưới mình khác, ở đây khác. Anh làm bậy bạ lính bắt là hết đi Gia Cái Đại luôn. Anh ẩu tả, bữa đó ở Cầu Bắc về anh thiệt thành quỉ. . . Em mà níu anh không kịp là anh lọt tuốt xuống mương rồi!

Nàng cười rúc rích. Lời Tuyết nói vô tình càng kích thích tôi mãnh liệt. Tôi nhớ rõ lắm, tôi nhớ rõ hết, tôi nhớ đóa hoa thầm kín của nàng lần đầu tiên dưới bàn tay tôi mân mê, sục sạo, tôi nhớ bụi cỏ đen, tôi nhớ ánh trăng mát mẻ trên thân dưới lồ lộ của nàng. Tôi thèm muốn điên cuồng, tôi thèm thuồng muốn chết. Tôi cúi đầu tiu nghỉu, như những lần Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến. Nàng ngó tôi một hồi coi bộ không êm. Nàng kêu tính tiền, nàng trả tiền rồi nói:

– Thôi mình về anh, khuya rồi.

Thấy tôi cứ ngồi đực mặt ra đó, nàng nắm tay tôi kéo đi, nói nhỏ:

– Thì anh về với em, về Bàn Cờ.

Tôi riu ríu theo nàng. Về tới đầu xóm, nàng biểu tôi dừng xe lại, tắt máy, rồi dắt xe theo nàng. Đi quanh co một hồi tới một căn nhà lợp tôn nàng ra dấu là đã tới. Tôi dựng xe và theo nàng đi vòng cửa sau mở khóa vào nhà. Bên trong chỉ có một bóng đèn đỏ thắp tù mù. Bốn phía vắng lặng. Nàng chỉ ngón tay lên gác rồi đưa lên môi ra dấu cho tôi giữ im lặng. Tôi tuột giầy ra. Nàng nắm tay tôi dắt vào nhà tắm nhỏ hẹp, bên trong kê một cái lu nước và một cái khạp thấp. Nàng khép cửa lại, tối om tôi không thấy gì hết. Tôi nghe tiếng sột soạt. Tôi cũng trút bỏ quần áo theo nàng. Tôi mở hờ cửa cho ánh sáng đỏ lọt vào. Ánh sáng đỏ trên da lụa càng tăng thêm kích thích, tôi muốn cắn lên đó. Nàng còn mặc áo. Tôi đâu chịu như vậy Ngón tay tôi lần mò mở nút áo rồi cởi bộ nịt vú của nàng. Tôi mở rộng cửa phòng tắm cho ánh sáng tù mù vào đầy. Tôi hạnh phúc muốn phát điên. Tôi sắp nổ tung như một bóng đèn quá cường độ. Tôi đè nàng ưỡn người trên lu nước và tôi làm tình với nàng ở tư thế đó. Tư thế bất tiện mà tuyệt vời. Ngực nàng rung rinh, đôi bông tai nàng lắc lư, đôi mắt nàng khép hờ mở nửa cánh thiên đường cho tôi lọt vào (và lạy trời cho tôi đừng lọt ra nữa). Trong trận mưa dục tình tôi hôn nàng khắp mình mẩy (tôi chưa hề hôn nàng như vậy). Hai đứa ôm riết, không muốn rời, không nỡ rời, không chịu rời …. Tuyết! Tuyết! Tuyết!

Buổi chiều hôm sau đứng ở bao lơn, tôi chợt nhận thức Tuyết đã lọt khỏi tầm tay tôi biệt mù. Nàng đang ở đâu đó bên bờ Tiền Giang có gió mát, trăng thanh, hay đang nằm dật dựa trong quán hay nàng đang chặt dừa, xay rau má xôn xao giữa đám khói tỏa mịt mù của sườn nướng, nem nướng. Tôi chợt lo sợ vu vơ. Tôi lo sẽ không bao giờ còn gặp lại nàng nữa.

Nhà anh Ba tôi đường Hùng Vương, cạnh đường rầy xe lửa. Bên kia đường là dãy bàng cao, rất cao, lá lớn xào xạc. Buổi chiều sắp hết, trời chạng vạng. Cơn mưa chiều vội vã đến rồi vội vã đi. Gió không có hướng nhất định, lay lắc lá bàng, nước rơi lộp độp. Tôi chợt sợ hãi, ruột quặn thắt. Bên tôi không có Tuyết, không có Ánh. Mai mốt đây không có người tình quán nước, không có người yêu nữ sinh, chắc tôi không sống nổi (tôi nghĩ vậy).

Trong cơn bàng hoàng, đầu tôi lởn vởn bài thơ tôi muốn viết tặng người yêu và người tình:

Tôi đã khóc như thành đô đã khóc
Mưa chiều nay đánh đẳm ngõ đi về
Dãy bàng cao u đọng chút sầu tê
Và rỏ lệ như lòng tôi đã khóc

Tôi sẽ chết như hoàng hôn đã tắt
Mây bay đi không cuốn được u hoài
Chớm đêm về mưa gió sẽ chia tay
Cho lá nhớ mưa buồn dâng ướt mắt…

Rồi tôi đi du học. Những năm lang thang ở xứ người, tôi đã yêu những người đàn bà khác, ôm ấp những bộ ngực khác, mân mê những bụi cỏ sắc màu khác, chết giấc bên cạnh những hồ ly tinh khác. Tôi quên bẵng Tuyết. Có lúc tôi yêu đời, có lúc tôi muốn tự vận. Nhưng may mắn tôi còn sống sót về nước sống giai đoạn bi thương của xứ sở – cùng những hồ ly khác nữa của quê hương, giữa cái chết và cái sống dằng co mỗi giờ mỗi phút.

Ngày về, một nửa những người khi trước đưa tôi đi đã ra đón tôi. Có ba tôi, có má tôi, có Ánh, có Lộc v.v… Dĩ nhiên không có Tuyết. Mọi người kéo về nhà anh Ba tôi ăn mừng. Tôi mệt quá lăn ra ngủ một giấc, mơ thấy những chuyện trên trời dưới đất. Bữa chiều, tôi đang đứng bên đường rầy xe lửa, chợt ba tôi đến bên cạnh tôi, hỏi:

– Ờ Kiệt, mày còn nhớ con nhỏ Tiết không Kiệt?

Tôi giật mình:

– Nhớ chớ ba. Tui nhớ chớ. Bộ nó còn bán quán hả?

Ba tôi lắc đầu:

– Nó đã đi lấy chồng.

Tim tôi chợt nhói. Ba tôi nói tiếp:

– Tội nghiệp! Con nhỏ đó có lòng lắm. Nó ghé thăm tao hoài và bận nào nó cũng hỏi thăm mày. Hai năm trước, lúc đi lấy chồng nó có lại nhà mình lựa mua cái tủ ba buồng chở về Tân Bình. Chồng nó có tuổi, góa vợ, buôn bán coi mòi cũng khá. Năm rồi nó mang bầu nhưng rủi ro có chửa ngoài tử cung. Khi hay được đem vô nhà thương thì trễ quá cứu không kịp…

Mình mẩy tôi vụt lạnh ngắt, xây xẩm. Tôi băng qua bên kia đường Hùng Vương, đi dọc hết dãy bàng cao rồi chui vào một quán nhỏ. Bên ly bia tôi ngồi khóc lặng lẽ. Tôi muốn dằn cơn khóc mà nước mắt cứ vọt ra. Tay bưng mặt, tay ôm bụng, tôi tưởng chừng ruột gan mình đang đứt ra từng đoạn một. Tôi giận tôi, tôi giận đời sống, tôi giận đủ thứ. Sao đành để Tuyết nhận chịu bất công như vậy? Trong lúc nàng đi lấy chồng đàng hoàng (không phải với thẳng giỏi tài ba xạo như tôi), muốn làm ăn đàng hoàng, muốn có con đàng hoàng thì nàng lại lăn đùng ra chết. Chết tức tưởi. Dãy bàng cao còn đó, thơ học trò tôi tính tặng nàng hãy còn đó, dù chẳng bao giờ nàng đọc, có đọc cũng chẳng bao giờ nàng thích:

Đốt hoàng hôn vỡ thành theo khói thuốc
Ai dày vò mà khói thuốc cong queo
Gió cuốn vội vàng mây phải bay theo
Và tôi gục ngã như hoàng hôn dẫy chết.

Nhưng không phải tôi, mà là “nàng đã gục ngã như hoàng hôn dẫy chết”. Tôi thương Tuyết bạc phước của tôi, tôi nghĩ đến những người gái đĩ bất hạnh. Không bao giờ tôi còn được cái thú viết vớ va vớ vẩn để tặng nàng như thưở còn là học trò nữa. Tuyết ơi là Tuyết ơi!

Thôi nhé em về yên Xóm Cỏ
Sự đời đã trải cuộc yêu đương
Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió
Cho nắm xương tàn được nở hương
(1)

KIỆT TẤN

(1) Thơ Hoàng Hải Thủy

NHỮNG NGÀY VẮNG EM…

vuhytrieu

Vắng em ngày tháng buồn tênh
Nắng rơi lúc nhớ lúc quên hiên nhà
Vắng em cây chẳng trổ hoa
Vẩn vơ đứng nép góc nhà buồn thiu
Vắng em chiều ngẩn ngơ chiều
Buông vài chiếc lá quạnh hiu sau vườn
Vắng em vạc chẳng kêu sương
Nửa khuya trăng nhạt nhoà vươn cuối trời
Vắng em gió cũng chơi vơi
Thổi ngàn thương nhớ cho tôi muộn phiền
Vắng em lạnh cả ngàn phương
Gối chăn ủ dột chiếu giường bơ vơ
Vắng em đêm cũng ơ hờ
Mộng rơi rớt mộng bơ thờ giấc yêu
Vắng em vắng cả mọi điều
Em đi mang cả trời yêu đi cùng…

Vũ Hy Triệu

CÚC HƯƠNG

levanhieu

Lang thang trên đồi cúc
Nghe như thu mới về
Chợt chút gì thoảng nhẹ
Lời em bay đi xa.

Biết mùa thu đã qua
Anh vẫn tìm đồi cúc
Hóa ra thăm thẳm rừng
Mùa đông còn trổ búp.

Còn trỗ vàng sắc thu
Còn níu nương sợi gió
Vương vương trong sương mù
ẩn chìm bao dặm cỏ.

Ta lật tìm dấu chân
Tìm bóng thu xa hút.
Bàng hoàng trước mùa đông,
Phỉnh phờ ta lời cúc.

LÊ VĂN HIẾU

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

 

ledachoanghuu

Anh ta bay là đà, nói với chính mình, “ta về với tuổi thơ thì ta gọi ta bằng nó và tự gật đầu, “vậy đi”.
Trước lúc cơn gió mang linh hồn chết bay ra khỏi căn phòng có nói sẽ ngao du Sài Gòn, nghe tên này rất quen, bay dạo một vòng thấy vùng đất cũng rất quen thuộc vậy là nó biết đang ở trên vùng đất Sài Gòn. Vừa bay lang thang vừa tìm kiếm có gì quen nữa không, rồi từ xa xa một cơn gió nhỏ bay tới và ngoắc ngoắc, nó bay lại với đôi mắt tròn xoe, cơn gió nhỏ cười hì hì:
“Chào bạn, bạn nhớ tui hông?”.
Nó lắc đầu:
“Mình không nhớ”.
Cơn gió nói tiếp:
“Không sao, để mình nhắc lại, mình là cơn gió mang hồn tuổi thơ của bạn, mình đi chung hết quãng đời tuổi thơ của bạn đó”.
Nó hỏi lại cho chắc:
“Vậy bạn biết và nhớ hết quãng đời này của mình?”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ gật đầu:
“Phải, bây giờ bạn không nhớ, nhưng bạn muốn nhớ lại hông?”.
Nó đáp ngay:
“Rất muốn, rất nóng lòng nữa là đằng khác”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ nắm tay nó:
“Được, vậy để mình nhắc để bạn nhớ lại nghen”.
Nó gật đầu:
“Cảm ơn bạn!”.
Cơn gió tiếp tục:
“Ở đây ngày trước gọi chung là thành phố Sài Gòn, còn được gọi là vùng đất lành chim đậu”.
Nó reo lên:
“Ấy dà, hèn gì mình nghe tiếng Sài Gòn rất quen, Sài Gòn đẹp lắm phải hông?”.
Cơn gió gục gật:
“Phải, rất đẹp, bạn sanh ra ở ngoại ô của thành phố, ở Hóc Môn thuộc vùng Gia Định, để mình đưa bạn về đó ngay bây giờ”.
Cơn gió kéo nó đi, bay về nơi chôn nhau cắt rún của nó. Và quả tình vùng quê yêu dấu rất đẹp và hiền hòa, nó bay tới đây bỗng dưng trong đầu nó hiện ra mồn một tuổi thơ của nó. Nó reo lên:
“Ý dà, mình nhớ ra rồi – Nó chỉ về hướng có mấy dãy nhà: đằng kia là nhà mình kìa”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ ngừng lại:
“Bạn nhớ rồi hả, chắc từ từ rồi sẽ nhớ hết, thôi bây giờ mình có công chuyện phải đi, chừng nào cần thì cứ gọi cho mình, chúc may mắn”.
Nó ôm chầm cơn gió mang hốn tuổi thơ:
“Cảm ơn bạn nhiều lắm!”.

***

Chạy về tới nhà, gặp má mình đang ngồi với chiếc máy may, nó khoanh tay:
“Thưa má! con mới về”.
Má nó nhìn lên:
“Tổ cha bây, xin đi chơi chút mà giờ mới về”.
Nó cười hề hề:
“Dạ, con xin lỗi con quên nói, mấy anh ở xóm trên kêu lên làm lồng đèn mai đi chơi Tết Trung Thu, tụi con ráng làm cho gần xong, buổi chiều mai má cho con đi làm tiếp rồi tối đi chơi luôn nghen má”.
Má nó gật đầu:
“Ờ, vậy thì được, thôi giờ xuống tắm rửa đi, chờ chút ba con về rồi dọn cơm cùng ăn”.
Nó dạ và chạy xuống sau nhà tắm rửa. Nhà chỉ là căn nhà trệt nhưng khá rộng rãi nằm trong một dãy mà bên ngoài nhà nào cũng giống nhau. Có lần nó hỏi:
“Sao người ta làm nhà giống nhau vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, làm một kiểu cho nhanh với lại làm như vậy để nhận biết đây là khu riêng, dành cho những gia đình như mình là làm trong trại gia binh”.
Nó hỏi tiếp:
“Ba làm gì trong đó vậy?”.
Ba nó cười:
“Ba làm bàn giấy”
Nó đoán thử:
“Giống như cô giáo của con?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, giông giống vậy”.
Ba nó làm bàn giấy trong trại gia binh có tên là Quan Trung, người ta gọi tắt của Trung tâm huấn luyện Quốc Gia Quan Trung. Còn má ở nhà đi chợ, nấu cơm nước, lúc rảnh rang thì sửa đồ cho những người lính ở trong đó, nó biết thêm sơ sơ vậy.
Học bài xong lên giường nằm nhưng chưa ngủ được, nó nghĩ thêm cái gì để làm cho cái lồng đèn đẹp hơn, mấy anh chị lớn chỉ làm cái khung sườn dán giấy và kêu tự trang trí sao ai đẹp sẽ có thêm quà. Nó nằm cạnh bên cửa sổ miên man suy nghĩ một hồi thì những cơn gió thổi tới, gió nhè nhẹ ru nó chìm vào giấc ngủ.
Đêm Trung Thu, trăng rằm lên sáng rực, tròn quay. Đám tụi nhỏ nó đã làm xong hết các lồng đèn, ui cha đứa nào làm cũng đẹp hết. Mấy anh chị quẹt lửa thắp dùm những ngọn đèn cầy bên trong làm lồng đèn sáng lung linh, rồi mấy anh chị dẫn đầu thành đoàn, tụi nó tung tăng đi theo sau cùng hát bài Rước Đèn Tháng Tám:
Tết Trung Thu rước đèn đi chơi,
em rước đèn đi khắp phố phường.
Lòng vui sướng với đèm cầm tay,
em múa ca trong ánh trăng rằm.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến cung trăng.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến chị Hằng...”
Đoàn kéo đi khắp mấy xóm. Sau đó tụ tập lại bãi đất trống, ngồi xúm xít dưới gốc cây xoài chớ hổng có cây đa, tiếp tục cùng hát bài Thằng Cuội:
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to, co thằng Cuội già, ôm một mối mơ.
Lặng yên ta nói Cuội nghe.
Ở Cung trăng mãi làm chi?
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to…”
Hát xong mấy anh chị phát bánh Trung Thu ăn thiệt là ngon còn được nghe kể chuyện sự tích Chú Cuội rất hay nữa. Đêm Trung Thu quá là vui!…
Nó đã nhập học được hơn nửa tháng.
Năm nay nó đang học lớp ba. Bước vô lớp học, câu đầu tiên nó thấy phía trên tấm bảng là: “Tiên học lễ hậu học văn”, hai bên vách là hai câu: “Kính trên nhường dưới – Kính thầy, quý bạn” và “Học thầy không tầy học bạn”. Được cô giáo dạy: Đối với Cha Mẹ, anh chị phải “Đi thưa về trình”. Khi gặp người lớn, học sinh đều phải lễ phép chào kính. Mỗi lần đi ngang trước mặt người lớn phải cúi đầu, khi Cha Mẹ tiếp khách không được ngồi nghe, không được hỏi leo hay nói leo chuyện với khách của Cha Mẹ mình. Mỗi khi đi ra đường, thấy các cụ già yếu, người tàn tật phải dìu dắt băng qua đường, hay tránh những chỗ khó đi, gặp người bị nạn phải lập tức giúp đỡ, thấy có cuộc chào cờ phải lập tức dừng chân ngả nón, mũ đứng trong tư thế trang nghiêm, kính cẩn cho đến khi chào cờ xong, gặp đám tang cũng vậy, ngã nón cúi đầu chờ đám đi qua. Không bao giờ được phép đứng trước cửa nhà người khác nhìn vào, như vậy là bất lịch sự. Không được nói những lời lẽ thô tục, không được vô lễ với bất cứ ai. Khi lượm được của rơi, phải đem trình thầy cô, để thầy cô tìm cách trả lại cho người bị đánh rơi…
Hàng ngày cô luôn luôn nhắc nhở học sinh: “Có học phải có hành”. Những em nào thực hành đúng như những điều đã học, sẽ được cô cho điểm tốt, hoặc ngược lại, sẽ bị ghi điểm xấu và ba học sinh đứng đầu lớp, mỗi người sẽ nhận được một Bảng Danh Dự cuối tháng. Mỗi lần nhận được Bảng Danh Dự là má nó thưởng quà cho nhiều lắm.
Nó học thuộc lòng nhiều bài ca dao như:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Gia Huấn Ca của Ức Trai Nguyễn Trãi:
“Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mò,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa.
Rồi thuộc luôn cả bài Quê Tôi anh nó học trước ở lớp bốn để lại nữa, anh nó học trên hai lớp:
Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân,
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.
Đi học còn được học làm toán, khoa học thường thức, sửa địa, hội họa rồi có khi ra ngoài tập thể dục, nhưng nó thích nhứt là môn Quốc văn. Giờ tập làm luận văn cô cho đề bài tả cảnh tả người, con vật này nọ nó rất mê.
Đi học rất khoái, chỉ ớn ông thầy giám thị, ổng nghiêm nghị không bao giờ thấy nở nụ cười, ổng chắp tay sau đít đi lòng vòng, những lúc xếp hàng chào cờ hay vô lớp đứa nào lộn xộn ổng ton cho một ba ton dễ hổng xưng đít thì thôi á.
Đi học một buổi còn một buổi thả sức rong chơi chạy nhảy với đám bạn cùng xóm, có khi kéo cả bầy qua xóm khác cùng chơi nhiều trò, tạt lon, cướp cờ, bắn bi, đá banh… Phía sau dãy nhà không xa là những cánh đồng lúa và những vườn trồng rau, trồng ớt, trồng bông rất đẹp nữa. Tụi nó cũng hay ra đây men theo bờ ruộng bắt chuồn chuồn, bắt dế, bắt bướm về chơi.
Một bữa nhận được Bản Danh Dự, ra về nó mừng quýnh chạy một mạch tới nhà luôn. Về tới nhà, thấy má đang ở dưới bếp, nó chạy ào xuống lấy ra khoe:
“Má ơi! con được Bản Danh Dự nè!”.
Má nó đang làm lỡ tay cũng buông, hun nó cái chóc rồi khen:
“Con giỏi lắm! ráng giỏi hoài vậy nghen, má thương và thưởng”.
Nó dạ một tiếng to, vui hết cỡ.
Chiều gần tối ba đi làm về, má lại lấy Bảng Danh Dự ra khoe với ba nó:
“Nè, thằng con ông nó lãnh được nè!”.
Ba bồng thốc nó lên quay một vòng, sướng đã đời, hạ xuống, ba nó nói giông giống má:
“Ừ, con giỏi lắm, mai chủ nhựt ba cho đi chơi”.
Nghe được đi chơi nó mừng líu ríu:
“Dạ, đi chơi ở đâu vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, mai ba chở hai anh em xuống Sài Gòn coi đá banh”.
Chiều chủ nhựt được ba lấy chiếc xe Mobylette chở hai anh em đi coi đá banh. Dưới Sài Gòn nhà cao lắm, người đông đúc, nhiều xe hơi chạy qua lại tấp nập luôn. Ba nó dẫn hai anh em vô trong sân, Trời! cái sân rộng mênh mông vậy mà chật cứng người coi, người ta la rần trời đất khi hai đội ra sân, mấy chú đá banh hay quá chừng, hai anh em coi không chớp mắt. Nghĩ giữa hiệp được mua cho hai anh em hai cây cà rem mát lạnh, mút ngọt sớt. Ra về ba cha còn bàn tán về trận đá banh suốt dọc đường không dứt.
Về đến nhà là đèn đã lên ngọn sáng trưng. Được má thưởng nữa chớ, một bữa tối ngon lành. Má đi chợ Bà Điểm mua vịt cỏ về trộn gỏi, nấu cháo, vịt cỏ ở đây là số một. Anh chị em tụi nó được uống nước xá xị còn ba má thì cụng ly với lave con cọp* (*bia con cọp) vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả.
Rồi một bữa ba má nó nói hôm nay nghỉ học. Má với mấy chị chộn rộn xếp quần áo và những bị cơm sấy, mì gói cùng một bịch cơm rang vào ba lô, trời vừa sáng cả nhà kéo nhau ra đường trừ ba, má nó nói đi tản cư tránh đạn còn ba phải vào trong trại. Ra đường cũng quá chừng người gồng gánh, vác ba lô cùng đi về một hướng cách nhà mấy cây số tụ tập ở một ngôi nhà lớn lắm, ai nấy vẻ mặt lo lắng, rầu rĩ mặc cho lũ con nít chạy nhảy vui đùa. Chơi mệt vào lục đồ ăn, lấy ra được một thanh sôcôla, nó nhớ lại một bữa mấy đứa đang đi học về thì có một chiếc xe ríp (jeep) chạy qua rồi ngừng lại, trên xe có một ông da trắng bóc, cao to nhảy xuống, ổng hỏi giọng lơ lớ:
“Các cháu đi học về hả?”.
Tụi nó đồng thanh thưa:
“Dạ thưa, tụi con đi học về”.
Ổng cười tươi và lấy một bịch sôcôla chia cho mỗi đứa mấy thỏi và dặn:
“Các cháu ngoan lắm, học cho giỏi nghen”.
Tụi nó dạ và cảm ơn xong, ổng xoa đầu và lên xe thì nghe chú lái xe nói:
“Dạ, đại úy coi bộ khoái trẻ con”.
Ổng cười đáp lại:
“Phải, mình rất mê trẻ con, trẻ con rất dễ thương, hồn nhiên và ngây thơ, mình ước gì không lớn lên mà mãi mãi là trẻ con”.
Xe chạy đi rồi tụi nó còn thắc mắc hoài, cái ông này lạ, sao lại không muốn lớn lên trong khi con nít muốn lớn nhanh ào ào lên bằng mấy ổng.
Tới chiều có thông báo không có chuyện gì xảy ra. Bà con lục tục trở về, ai về nhà nấy. Về nhà thì ba đã ở nhà, vẫn y xì như lúc đi hổng có gì khác. Ba má nó thầm thì, “hổng có oánh nhau như thông báo”. Nó cũng chẳng hiểu gì, ai oánh với ai chẳng biết.
Ngày tháng tuổi thơ êm đềm, có lẽ vậy mà tụi con nít thấy trôi qua rất chậm, tụi nó đâu muốn vậy, muốn mau tới Tết, mau tới nghỉ hè để được rong chơi cả ngày, được đi đây đi đó.
Rồi một ngày gần tới nghỉ hè, đang trong lớp học, thì nghe một tiếng nổ uỳnh thiệt lớn, cô trò chạy ào ra coi, cách xa có cột khói đen nghịt bốc lên cao. Sau đó có thông báo cho nghỉ về nhà. Trên đường về tụi nó thấy nhiều người hớn hở ra mặt, có người còn hét lớn, “hòa bình rồi”, “thống nhứt rồi bà con ơi”, “hết chiến tranh khói lửa rồi”. Về tới nhà, ba nó cũng có mặt, thường ngày ba nó ở trong trại giờ này, nó hỏi:
“Ba hổng có đi làm hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, từ giờ ba không đi làm lính nữa, ba không vô trong đó nữa, đất nước mình hòa bình rồi con à”.
Đã nghe loáng thoáng, nó hiểu thêm, à chiến tranh là đi lính xung trận bắn giết nhau, chết chóc và đau thương.
Buổi chiều ngày hôm đó và mấy ngày sau nữa, ngoài đường người nườm nượp rầm rập kéo ngang qua nhà đi thẳng tới trại gia binh. Người đi bộ, người đi xe Honda, người kéo xe kéo, xe kút kít* và cả xe lam**, (*Xe đẩy hai bánh thường dùng trong chợ, **Lambro 550 dùng chở khách, chở hàng gần lúc bấy giờ) khi trở ra người đi bộ thì vác, ôm, các loại xe thì chất lỉnh kỉnh đủ thứ, bao bì, bàn ghế, máy móc, tôn lợp nhà rồi những cuộn dây thép gai… Ở nhà thì lạ, ba má nó lấy đồ của mấy chú lính đổ hết xuống cái giếng ở sau nhà, cái giếng sâu chừng ba bốn thước vậy mà gần đầy luôn, rồi mà sao nhà nó không ai vào lấy đồ như người ta, nó hỏi:
“Người ta lấy cái gì vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, trong trại có cái kho, người ta phá kho lấy đồ đó, mấy cái bao là gạo, đường, còn mấy đồ kia con nhìn là biết rồi chớ gì?”.
Nó nói dạ biết rồi hỏi tiếp:
“Sao nhà mình hổng ai vô lấy?”.
Ba nó giải thích:
“Những người đó người ta kêu là hôi của, gần giống đi ăn trộm, như vậy là không tốt, nên mình không được làm, đói cho sạch con à”.
Nó hiểu rồi, cô nó cũng dạy như vậy mà.
Nhà trường đóng cửa, phải nghỉ học, nó nhớ lớp nhớ cô giáo và nhớ cả ông thầy giám thị.
Độ chừng hơn tháng sau, sáng sớm một chiếc xe cam nhông* (*xe tải chở hàng hóa) đậu xịch trước cửa, bác tài xế và chú lơ xe* (*phụ xe) nhảy xuống chạy vào nhà hỏi:
“Đâu anh, đồ đạc nào đâu anh?”.
Ba nó chỉ đồ đạc đã đóng gói, vô rương, chất đầy trong nhà:
“Đó, chừng đó đó, có mấy cái rương đựng chén dĩa kiểu, anh để cẩn thận dùm”.
Bác tài xế dạ:
“Chà đồ nhiều quá chớ, chất phải mất hết cả buổi, vậy sáng mai mình lên đường hen”.
Ba nó gật đầu:
“Theo anh tính vậy”.
Ba má với mấy chị phụ chuyển đồ lên xe. Nó chẳng biết ất giáp gì, mon men hỏi chị:
“Nhà mình làm gì vậy chị?”.
Chị trả lời:
“Chuẩn bị về quê”.
Nó hỏi tiếp:
“Quê ở đâu lận?”.
“Ở Quảng Nam”.
“Ủa, sao phải về đó làm chi?”
Chị nó ký đầu nó cái cốc:
“Con nít biết gì hỏi nhiều, đi chơi đi”.
Nó tấm tức chạy một mạch ra đồng. Hỏi mấy chị thì ai cũng nói con nít biết gì mà hỏi, mai mốt lớn sẽ biết. Nhưng nó vẫn thắc mắc sao phải đổ đồ xuống giếng, uổng quá chừng, rồi bây giờ phải bỏ nơi này mà đi, nơi nó sanh ra đẹp đẽ là vậy mà. Nó kêu cơn gió tuổi thơ lại, nó hỏi:
“Cơn gió tuổi thơ ơi, sao lại có chuyện kỳ cục vậy?”.
Cơn gió tuổi thơ lắc đầu:
“Mình cũng như bạn thôi, hổng hiểu chuyện người lớn, chỉ biết chuyện của tụi mình”
Nó buồn hiu, cơn gió cũng buồn theo thổi hiu hiu, ngồi đờ dẫn nhìn vườn ớt trái ra chín đỏ, rụng đầy mà chẳng ai buồn hái, lát sau đành chia tay cơn gió tuổi thơ, một mình lủi thủi trở về.
Sáng sớm hôm sau, ba má kêu dậy sớm, súc miệng rửa mặt xong xuôi thì bác tài xế tới, bác tài liềng thoắn:
“Rồi lên đường thôi”.
Ba đỡ nó và anh nó lên cái cầu thang bên hông đầu xe, phía bên trên có cái cửa nhỏ chui vô trong thùng phía sau, như cái sàn gát trong thùng mà ngồi, má và mấy chị leo theo sau, ba ngồi phía trước với bác tài. Xe lăn bánh, không còn thấy gì nữa nơi này.

***

Chiếc xe chầm chậm và đều đều chạy. Xe khá êm, chỉ lâu lâu mới thấy người nghiêng qua nghiêng lại hay tuột lên tuột xuống, có lẽ là qua những khúc cua hay lên xuống dốc, ngồi bên trong đoán chừng vậy chớ đâu thấy gì. Nó có cảm giác như đang ở bên trong căn gác xếp tối tăm, chỉ có vài tia sáng chiếu qua những khe hở thùng xe. Khi ánh sáng không còn nữa, xung quanh tối thui mịt mờ mới nghĩ là đêm đã buông xuống. Phân biệt được ngày hay đêm khi xe dừng để ăn cơm nước mà thôi. Lúc nó thức lúc nó ngủ trong bức tranh tối tranh mờ mờ như vậy. Thời gian trôi qua thiệt chậm chạp, không biết mấy ngày mấy đêm đã qua, như cả tháng trời.
Rồi cũng tới lúc xe ngừng hẳn. Má nó thò đầu ra cái cửa sổ nói với vô:
“Tới rồi đó các con, mình về tới quê rồi, xuống các con ơi!”.
Ba và chú lơ xe đã xuống trước, dang tay đón đỡ từng đứa một xuống khỏi căn gác bịt bùng. Một làng quê yên bình hiện ra trước mắt, cũng giông giống nơi nó sanh ra, chỉ có nhà cửa là ít hơn, cách xa xa mới có một mái nhà. Đồ đạc được chuyển xuống bên vệ đường. Trong lúc chuyển đồ có vài người từ trong nhà gần bên chạy ra, mấy người vui mừng tranh nhau hỏi tới tấp:
“A, cô dượng Tư mới về hả?”.
Ba má nó vừa cười vừa gật đầu:
“Ừ, vừa về tới”.
“Ủa, cô dượng về răng* (sao) không nói, không tin* (nhắn tin) chi cho ai biết hết rứa* (vậy)?”.
Má nó chưng hửng:
“Cô có đánh điện tín về rồi mà, không ai nhận được hết sao?”.
Mấy người trải lời:
“Dạ, có nhận chi mô* (đâu), có ai biết chi mô”.
Một bà lớn tuổi, mái tóc đã bạc màu chạy tới:
“Con Tư đó hả, hai vợ chồng bây mới về đó hả?”.
Ba má nó lại dạ:
“Dạ thưa cô tụi con vừa về tới, cô khỏe luôn chớ cô?”.
“Cô khỏe”.
Ba má nó nói tiếp:
“Dạ, chính quyền mới trong đó nói chừ giải phóng, hết chiến tranh rồi, ai có quê thì về quê mà mần ăn”.
Người lớn tuổi mà ba má nó xưng là cô hỏi tiếp:
“Chớ bây về tính ở mô, răng chẳng tin cho bà con chi hết vậy?”.
Ba má nó càng chưng hửng, hỏi lại:
“Ủa, vậy là răng, thì đất cát nhà mình xưa thì mình ở chớ có chi lạ rứa cô?”.
Bà cô nói giọng buồn buồn:
“Bây đi lâu quá, bây chẳng biết chi hết, đất cát còn chi nữa”.
Má nó trợn tròn mắt:
“Cô nói vậy là răng?”.
Bà cô ngồi phịch xuống đất, đôi mắt rưng rưng:
“Bây ơi, khổ quá chẳng biết chi, cha mẹ bây mất, rồi anh em bây mỗi đứa mỗi nơi đi lánh nạn, đi làm ăn nơi khác, người ta nói cha mẹ bây là địa chủ ngày trước, từ đó đất cát ruộng vườn một số người chiếm một số chính quyền tịch thu xung công hết rồi”.
Nghe nói xong má nó cũng ngồi phịch xuống ôm mặt rưng rưng, ba, mấy chị thì đứng như trời trồng. Lát sau ba nó lên tiếng giọng nghèn nghẹn:
“Thiệt vậy hả cô, chắc để con chạy lên chính quyền hỏi cho kỹ, chừng đâu họ chỉ giữ dùm rồi giờ trả lại cho mình”.
Bà cô ngồi ôm má nó:
“Ừ, bây lên hỏi thử răng chớ cô thấy không dễ đâu”.
Mặt trời lên chừng nửa buổi sáng mà nó thấy như nắng gay gắt, nắng chiếu thẳng mặt, nắng muốn thiêu đốt mấy má con nó ra thành tro tàn, thiêu đứa con của quê hương lưu lạc trở về, như đứa con mang đầy tội lỗi, mặc cho má nó tấm tức, than trời than đất và hỏi vì sao, không một câu trả lời từ bất cứ ai, ông Trời chắc ở xa thăm thẳm…
Ba nó trở lại, trên nét mặt hằn nét vừa buồn vừa hậm hực. Má nó nhào tới hỏi:
“Sao rồi ông?”.
Ông lắc đầu:
“Không xong rồi, họ nói đã làm sổ sách chia hết từ xưa nên đâu thể có cách nào”.
Má nó hỏi dồn:
“Vậy giờ tính sao, làm cách nào đây, làm cách chi đây?”.
Ba nó nói tiếp:
“Thôi, cứ bình tĩnh đã. Bây chừ xin cô Bảy tạm thời cho mẹ con nó tá túc nghỉ chân đỡ, con chạy về bên nội coi ra răng”.
Bà cô Bảy gật đầu:
“Ờ, bây vô nhà nghỉ để thằng Tư về bên đó coi ra răng rồi tính”.
Ba nó lấy mấy tấm bạt phủ che đồ đạt lại xong rồi nổ máy chiếc Mobylette vọt đi. Má con lững thững đi theo bà cô Bảy.
Xế chiều ba nó quay trở lại cùng với bốn người kéo hai chiếc xe kéo. Má nó bươn bươn chạy ra, nghe ba chậm rãi nói:
“Đất cát của ông nội mấy đứa bên đó cũng bị lấy hết rồi…”.
Má nó đang lo lắng càng thêm xịu xuống chưa kịp nói gì thì ba nó nói tiếp:
“Nhưng còn may, cô Ba kêu cho miếng đất cất cái nhà, còn vài sào ruộng cô giữ lại của ông nội lấy lại làm đỡ rồi tính tiếp, bây chừ cô Bảy cho mẹ con nó ở tạm vài bữa, con về cất xong nhà rồi qua đón về cô Bảy nghe”.
Bà cô Bảy ừ:
“Thằng Tư tính vậy cũng được”.
Má nó suy nghĩ một hồi rồi đáp:
“Thôi, vậy mẹ con tui về bển luôn đi, tui coi có phụ được gì thì phụ, về lấy mấy tấm bạt che trại ở tạm cũng không sao”.
Ba nó gật đầu:
“Vậy cũng được, thôi ra chất đồ lên cộ* (xe kéo) để họ kéo về”.
Chất đồ xong ba nó thưa cô Bảy về, lấy xe chở hai anh em đi trước, rồi quay lại đón dần dần mấy chị và má nó. Bốn người kéo cộ chở đồ cọc cạch đến khi trăng lên cao mới tới nơi. Bên này cách nhỗ bà cô Bảy gần hai chục cây số.

***

Miếng đất bà cô Ba là em ông nội cho nằm gần bờ sông, cách chừng một trăm thước. Cạnh dòng sông có bãi cát dài, dòng sông rộng và rất thơ mộng, nhìn qua bờ bên kia có những lũy tre xanh ngắt xen lẫn những đám lau sậy, nước trôi êm đềm như dải lụa. Được ví von như lụa bởi có những đoạn trên bãi bồi trồng rất nhiều cây dâu cho lá tằm ăn và nhả tơ, những sợi tơ óng ả dệt thành dải lụa không khác gì dòng chảy dòng sông gợn sóng lăn tăn trong những buổi chiều dưới ánh nắng vàng. Đó là dòng sông Thu Bồn nổi tiếng khắp nơi.
Buổi sáng sau giấc ngủ dài bù cho mấy ngày mệt mỏi, nó thức dậy thì đã thấy đông đúc gần cả chục người lớn đục đục đẽo đẽo những cây gỗ, lâu lâu có vài người kéo cộ trên chất đầy cây gỗ đem lại. Vừa làm mấy bác mấy chú chuyện trò rôm rả lắm mà nó không hiểu được bởi không nghe được tiếng nói, tiếng rất lạ, như tới nửa buổi sáng hay chiều, má nó đem đồ ăn dặm thì hay nghe nói en en đi, rồi cùng ngồi vào ăn, có chú chỉ chú khác, thèng ni cà chớn cà chố, nó cũng chẳng hiểu gì luôn, dần dà sau này nó mới quen dần, à thì ra là phát âm có khác, âm a thành âm e, oa thành ô…
Phía trước miếng đất khoảng hai trăm tước là con đường đi ngang, đường vắng lặng, ít người qua lại, lâu thiệt là lâu mới có tiếng xe chạy tới. Băng qua con đường là cánh đồng trồng lúa, nhưng ruộng lúa từng miếng nhỏ nằm cao thấp khác nhau chớ không lớn và bằng phẳng trải rộng như ở Hóc Môn. Nhà cửa cũng xa xa cách chừng năm chục tới một trăm thước mới có một ngôi nhà, vườn xung quanh nhà cũng có vườn cây mít xoài… nhưng không nhiều lắm, đất còn để trồng bắp trồng khoai… Nhìn xa xa qua cánh đồng lúa là những gò cao, rất nhiều ngôi mộ màu xám xám đen đen ở trên đất gò này.
Anh em nó ngày ngày chạy nhảy tung tăng trên cánh đồng hòa cùng với màu xanh của đồng lúa có khi còn bắt được con ốc con cua. Buổi chiều chờ trời mát là chạy ra lăn đùng đùng trên bãi cát rồi ùm ùm xuống sông mà tắm táp, chiều chiều xuống là nhiều người ra sông tắm giặt và chơi đùa.
Khoảng chừng mười ngày sau là ngôi nhà gỗ lợp tôn được cất xong. Ngôi nhà xoay hướng ra bờ sông hứng gió. Má nó cùng mấy chị sắp xếp đồ đạc giường chõng gọn gàng trong nhà. Cái đi văng lớn ngồi được cả chục người thì để phía trước nhà dưới gốc cây nho nhỏ, chiều tối ba nó và mấy chú bà con, chòm xóm hay ngồi uống trà nói chuyện, có khi nhâm nhi ly rượu gạo.
Mấy miếng ruộng bà cô Ba đưa lại, ngày ngày ba má và mấy chị ra cuốc lật rồi cho nước xâm xấp vào để đó, nó thấy vậy hỏi ba nó:
“Sao cuốc lên rồi để vậy làm gì vậy ba?”.
Ba nó cười:
“À, để chừng hơn tháng cho nó mềm mình bang ra cấy lúa, lúa là những cây ba gieo trên luống nhỏ đó”.
“Còn kêu là gieo mạ phải hông ba”.
Ba nó ừ
“Đúng rồi”.
Ông nội nó về. Cả nhà vui lắm. Ông nội rảnh rỗi hay đi chặc tre về chẻ nan đang những cái rổ để xài. Một bữa ba hỏi ông nội:
“Cha à, con thấy gần mé sông phía dưới còn đám đất cỏ lau sậy um tùm cũng khá rộng mà bỏ hoang, chưa ai làm gì, mình xuống đó phát hoang để trồng bắp trồng khoai được hông cha?”.
Ông nội nghĩ một lát sau nói lại:
“Cha nghĩ chắc được chớ, đất hoang mình khai phá thôi”.
Ba nó gục gật:
“Dưới đó sát mé sông dễ tưới, trồng mùa nào cũng được, vậy vài bữa con xuống đó phát cỏ”.
Ông nội ở nữa tháng sau ông kêu lên nhà cô Út đâu trên núi ở nhà chơi với đứa con nhỏ của cô vừa coi nhà dùm để cô đi làm.
Mấy bữa sau ba nó cầm rựa dài mà đi phát lau sậy, có ngày tụi nó lon ton chạy theo chơi, cũng không có xa mấy, chừng nữa cây số. Được mấy ngày thì một buổi tối ăn cơm xong má nó chìa tờ giấy:
“Ông à, sáng mai ở nhà họ kêu lên xã, có giấy mời gởi nè”.
Ba nó hỏi:
“Có biết kêu lên làm gì hông?”.
Má lắc đầu:
“Hổng biết nữa, họ chẳn nói gì, đưa giấy rồi đi”.
Ba thắc mắc:
“Kêu lên làm gì ta, hổng lẽ cái vụ phát hoang dưới mé sông?”.
Sáng mai ba nó lên xã. Tới trưa về mặt mày hầm hầm bực bội. Má thấy lạ:
“Có chuyện gì vậy ông, hổng lẽ họ phạt…”.
Ba giọng gắt gỏng:
“Chẳng phải chuyện đó, chuyện phát hoang họ nói cứ làm, nhưng ngày từ mai phải lên xã ít nhứt là hai tuần để học tập cải tạo, cải tiết gì đó chẳng biết nữa”.
Má nhíu mày khó hiểu:
“Học tập cái gì vậy trời, đã về mần ruộng mà còn học tập cái gì hổng biết nữa”.
Ba nó tiếp:
“Thì tui cũng nói vậy nhưng họ có nghe gì, thằng lính quèn lính quyết gì, ngồi bàn giấy bàn má gì cũng phải học tập hết ráo, họ nói chính sách là vậy, đành chịu chớ sao, chỉ hai tuần thôi, cãi họ gông cổ luôn thì khổ”.
Sáng chiều hai buổi lên xã học tập cải tạo, có bữa tối trên cái đi văng trước nhà, ba nó với vài chú uống rượu nói chuyện nho nhỏ:
Một chú hỏi:
“Anh lên trên xã học cái chi vậy?”.
Ba nó uống ực ly rượu, nhìn đăm chiêu xa xa một hồi rồi trả lời:
“Học tập tương tử để thành con người mới của xã hội mới, bởi tui là người ngụy quân ngụy quyền, biết vậy thôi chớ học cái gì tui có nghe lọt lỗ tai, nhớ được gì”.
Một chú hỏi tiếp:
“Chi lạ rứa?”.
Một chú xen vô:
“Nghe nói mấy đứa dạy còn choi choi phải hông?”.
Ba gật gù:
“Mấy đứa ở làng mình đây chớ đâu, ngày xưa lúc tụi mình lớn tụi nó còn con nít, chẳng học hành chi đó, bây giờ cầm giấy tờ đọc chữ được chữ mất ai hiểu cho thấu, với lại ngồi học mà lo đất cát ruộng vườn chưa làm được gì thì sao mà tập trung cho được”.
Mấy chú gật đầu, ừ à, một chú cười nho nhỏ:
“Mấy thằng này đọc còn đánh vần mà, nó theo vô rừng đánh nhau thời gian đâu đi học”.
Ba nó rót rượu mời mấy chú cụng ly:
“Thôi kệ, ngồi cho qua ngày lấy cái chứng nhận xong về làm ăn, mà bỏ mấy chuyện này đi nói chuyện khác cho vui”.
Ba nó về cầm theo tờ giấy chứng nhận hoàn tất lớp học cải tạo. Má vui mừng lắm:
“Vậy là xong hả ông?”.
Tiếng thở dài phát ra:
“Chưa đâu, mỗi tuần phải lên trình diện ít nhứt một ngày nữa”.
Má nó cũng thở hắc, không nói gì nữa.
Hết học tập, tiếp tục phát lau sậy mé bờ sông, cả tuần được khoảng đất rộng, ba nó nhẩm nhẩm chắc cỡ bốn sào* (*một sào ở xứ Quảng tính bằng 500m vuông). Lau sậy khô châm lửa đốt cho cháy hết. Bữa đốt vào ban đêm lửa thì khỏi nói, sáng cả một vùng trời, khói đen bay mịt mù. Sáng ra đất biến thành màu đen cùng một lớp tro trên mặt đất. Sau đó ba nó cuốc lỗ cách nhau chừng ba bốn tất, má và các chị bỏ phân và bỏ ba bốn hột giống bắp xuống lỗ rồi lắp lại, gánh nước từ dưới sông lên tưới vào. Mấy ngày sau hột giống nảy mầm lên cây bắp non màu xanh lợt. Lúc này luống mạ cũng lên cao, bắt đầu bang đất cuốc lật hổm trước, anh em tụi nó lội xuống chơi thấy đất sình sình mền nhão, má nó cùng các chị tiếp tục nhổ mạ đập đập vào cẳng chân cho bung hết đất bám vào rễ, bó thành từng bó bằng cỡ ống tre to, cắt đầu lúa đem thảy xuống ruộng lội xuống mà cấy. Tuần sau thì lúa nảy ngọn trở lại, lên xanh mơn mởm, những ngọn gió thổi lúa bay nhấp nhô như những ngọn sóng con sông Thu Bồn phía sau nhà nhìn mát mắt.
Vậy là hơn hai tháng trôi qua kể từ ngày cất xong ngôi nhà.
Ba nó đi thăm vườn bắp về cười cười nói với má nó:
“Bắp lúa đều lên xanh tốt, lạy trời cứ như vậy”.
Má nó gật đầu xong lại thở ra, nói nho nhỏ:
“Nhưng mà cũng gay đó ông ơi! Tiền dự trữ sắp hết rồi, chắc phải bán bớt đồ đạc”.
Ba nó cũng thở ra:
“Chắc phải vậy, bà tính sao thì tính, ráng tới mùa thu hoạch là khỏe”.
Má và chị Hai khiêng cái rương nói đi Đà Nẵng. Khi về thì không còn cái rương mà thay bằng hai bao gạo lớn, một giỏ đầy đồ ăn, bánh kẹo cho anh em nó rất khoái, nhưng thấy má buồn buồn chớ không vui, nó hỏi:
“Sao thấy má buồn buồn, má giận gì tụi mình…?”.
Anh nó gạt ngang:
“Hổng có đâu, má đâu có giận gì ai, má buồn là tại phải bán đồ quý giá cất bao lâu nay đó mậy”.
Nó hiểu ra là vậy, chút chút buồn buồn theo.
Mấy tháng lặng lẽ trôi qua. Có lúc nó hỏi:
“Ủa, sao mình hổng được đi học vậy?”.
Anh nó ký đầu cái cốc:
“Mày ngu quá, đang nghỉ hè mà, hết hè thì đi học lại”.
Tới gần cuối tháng chín vẫn không thấy được đi học, nó lại hỏi, được anh trả lời:
“Năm nay người ta nói sẽ nhập học trễ, chừng nào có trường lớp, thầy cô thì thông báo nhập học”.
Rồi cả tuần mưa ập đến, mưa có lúc lớn lúc nhỏ nhưng dầm dề mưa suốt không dứt, bầu trời lúc nào cũng xám xịt mây, ba nó thở than:
“Mưa gì mưa dữ thúi đất luôn, chẳng làm ăn được gì”.
Bà cô Tư mặc áo tơi* (*áo mưa chằm bằng lá buông) chạy qua nói giọng hớt hải:
“Ủa, thằng Hai mi* (mày) bỏ bắp bỏ lúa răng, muốn chết đói cả lũ hỉ*?.(*hả)
Ba nó ngạc nhiên:
“Cô Tư nói vậy là răng con chẳng hiểu?”.
Bà Cô Tư giải thích:
“Trời! bây quên hết trơn rồi, thời tiết này là sắp có bão và lụt lớn tới, sao không ra bẻ bắp gặt lúa về, để đó cho nó trôi hết làm răng”.
Ba nó hỏi lại:
“Nhưng mọi năm con thấy tháng mười mới có lụt mà cô”.
Bà cô Tư dậm chưn* (*chân):
“Theo trời thôi mi ơi, mưa ri* (này) là năm ni* (nay) lụt tới sớm, lo mà thu hoạch đi”.
Ba nó hỏi nữa:
“Dạ, bắp thì được rồi nhưng lúa chưa chín hết rồi răng cô?”.
Bà cô Tư phẩy tay:
“Được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lúa bây gần chín vậy là được rồi tuy chưa chắc hột lắm còn hơn để nước cuốn trôi hết, bao nhiêu công sức bỏ ra đó, gặt về nhớ trải ra cho ráo đừng để cho lên mộng”.
Ba nó dạ, rồi cùng má và mấy chị mặc áo tơi đi trong mưa bẻ bắp về trước. Bẻ cả ngày cũng xong, bắp đem về treo đầy trên mấy mấy cây tre nhỏ gát ngang mái nhà thành cái giàn. Ngày hôm sao bắt đầu có gió, nhưng cứ mặc, tiếp tục gặt và đập lúa trong mưa lâm thâm. Hôm sau nữa mưa và gió lớn hơn, vừa gặt lúa vừa thu người, co ro hết cỡ để tránh gió, gặt được mớ lúa phải ngưng, để xuống vuốt nước mưa tràn trên mặt, anh em nó cũng chạy ra phụ ôm lúa về, cái bồ đập lúa được chuyển vào nhà để đập, đỡ ướt lúa nhiều lần. Buổi tối lúa chưa đập xong thì lấy chưn cùng xúm lại đạp, nghiến cho rơi hột lúa ra khỏi cành.
Ba ngày gặt lúa đã xong, ngoài trời gió và mưa ngày càng lớn, mưa quất trên mái tôn lộp độp như có ai quăng đá cục lên, gió thì thổi rùng rùng, có những chỗ tôn bung lên kêu bần bật không ngớt. Trong lúc má và mấy chị cho lúa đã ráo vào bao chất lên gát bằng mấy tấm ván và ngồi cào tới cào lui cho lúa ướt khô thì ba nó chạy ra ngoài bãi xúc cát cho vào bao chất đầy lên mái tôn và lấy cây chống xung quanh nhà.
Một ngày vất vả nữa trôi qua. Vừa cơm nước xong nằm ngả lưng cho bớt mệt mỏi thì nghe tiếng kêu lớn của bà cô Tư:
“Thằng Hai có nhà hông hay đi mô rồi?”.
Ba nó bật dậy:
“Dạ, con có ở nhà cô Tư”.
“Có ở nhà răng chừ chưa đưa vợ con vô Gò, muốn chết trôi cả lũ hỉ?”.
“Dạ, con thấy nước chưa lớn con định sáng mai đi”.
Bà cô Tư thở hổn hển, la lớn:
“Đi ngay bây chừ, ở ngoài đường nước lên rồi, nửa đêm ni là nước lên nước tràn xuống đầy, chờ tới sáng có chìm lỉm trong nước, đi mau chớ có nói năng chi nữa”.
Ba nó dạ, chạy ra đường, nước đã tới ống quyển, quay trở vô trong nhà, nói trong lo lắng:
“Chà ngoài bãi chưa thấy nước dâng nhiều sao phía ngoài này lại đầy nước, hổng hiểu được, thôi lấy gạo, đồ ăn và củi cùng mùng mền lên xuồng đi vô Gò nhanh thôi”.
Giữa đêm tối mưa gió ba nó đẩy chiếc xuồng chở đồ và hai anh em nhắm hướng Gò mà đi trong ánh đèn bão má nó cầm lội nước bì bõm cùng mấy chị. Không ai nói tiếng nào, chỉ nghe tiếng mưa và tiếng gió rít hãi hùng trong mịt mùng thăm thẳm.
Đến được Gò, Gò là đồi đất cao trên đó có dãy nhà xây kiên cố. Trong dãy nhà người lớn nhỏ nằm ngồi la liệt, dáng ai nấy bơ phờ mệt mỏi. Cũng không ai nói gì nhiều, chỉ hỏi thăm những người mới tới. Vài người lớn đi lại ngoài hành lang nói vài câu bâng quơ như sao mà mưa bão hoài, chừng nào dứt đây không biết… Bên trong nhà lâu lâu có tiếng con nít khóc thét lên rồi tiếng dỗ dành, hát ru của người mẹ dưới ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét, lúc trồi lúc sụt muốn phụt tắt ngúm liền bởi gió thổi phần phật liên hồi. Mí mắt nó cứ kéo cụp xuống, muốn mở ra cho bớt sợ nhưng không được, nhưng muốn ngủ cũng không xong, bên tai tiếng mưa rào rào, tiếng gió lúc hú ù ù, lúc rít kèn lẹt cứ dội vào, nó thấy như đang đứng trong vòng vây của bầy quỹ dữ, màn đêm lại chắn ngang mắt không biết đường đâu chạy trốn hay tìm cách chống đỡ. Nỗi sợ lại chồng chất nỗi sợ khi nó nghe một người lớn nói:
“Bão lớn sắp đến rồi”.
Có người hỏi:
“Bão lớn lắm hả chú”.
“Tui đoán khá lớn”.
“Lâu hông vậy chú?”.
“Chắc cỡ hơn hai tiếng”.
“Chà, cũng lâu quá, chẳng biết nhà cửa ra răng”.
Nhiều tiếng thở dài.
Nó kêu gọi cơn gió tuổi thơ, dù biết khó hỏi được gì lúc này nhưng chí ít cũng có chút chia sẽ bớt đi sợ hãi. Gọi mấy lần chẳng thấy bóng dáng cơn gió đâu hết, nó thầm nghĩ chắc cơn gió tuổi thơ đã bị chặn mất lối đi rồi.
Chợt căn nhà trở nên im ắng, nó càng thấy lạ, vừa mới nghe bão sắp tới mà, nhưng vừa mở mắt chưa kịp định thần thì tiếng gió ầm ầm dữ dội ập vô rồi tiếp nối tiếp nối không ngớt. Mọi người bắt đầu lục tục ngồi dậy, co ro xúm xít sát vô trong góc, trong bờ tường và sát bên nhau. Tiếng khóc trẻ con ré lên chỉ nghe e é, không còn lớn giữa cơn gió hung hãn quất đùng đùng trên mái nhà, cánh cửa sổ bung đập cái rầm làm ai nấy điếng hồn trước khi có người chạy lại đóng chặt vào. Bây giờ thì nó có cảm giác như đang đứng giữa những bầy quỹ đang quần đang lồng lộn uýnh nhau tơi tả, cuộc chiến bất phân thắng bại cứ kéo dài, kéo dài không thấy hồi kết…
Cuối cùng đúng như đoán của người có giọng lớn tuổi, khoảng hơn hai tiếng đồng hồ sau thì mưa và gió nhỏ dần rồi ngưng hẳn. Bầu trời bớt tối mịt mùng, có ửng sáng nhưng yên ắng đến lạ thường, không nghe dù là tiếng động nhỏ, có lẽ tiếng ầm ầm dữ dội đã lấn át làm lỗ tai đã đặc khàn. Tiếng người lớn tuổi phát ra:
“Bão đã đi qua rồi”.
Có người tiếp theo:
“Ơn trời đất”.
Nó nghe giọng ba nó hỏi:
“Nhưng còn lụt, theo anh thì chừng nào rút hết?”.
“Tối mai mới rút hết”.
Mệt mỏi lắm rồi, không thể chống lại nữa, nó vùi vào giấc ngủ.
Giựt mình tỉnh dậy thì đã gần trưa, trời có nắng hanh, không còn mưa gió, nó uể oải bước ra ngoài. Đập vô mắt là cảnh vật xung quanh xác xơ, vài cây lớn bị trốc gốc nằm chỏng chơ, nghiêng ngã, cỏ nằm rạp xuống đất với xác lá phủ đầy, xa xa phía dưới Gò nước ngập màu đục ngầu, chỉ thấy nước toàn nước, nước đang chảy kéo từng đám cỏ bụi cây trôi theo lừ đừ, trên bầu trời đã có vài con chim bay qua lại, có một đàn sáu con giống như trong câu đố – đi trước là trước hai con, đi sau là sau hai con, đi giữa là giữa hai con, hỏi bầy chim có mấy con, nó nghĩ tới câu đố mẹo nên người thấy vui vui hơn chút đỉnh và chạy ra trước sân hòa vô đám con nít đang chạy nhảy chơi đùa có anh nó nữa. Ở hành lang những người đàn ông ngồi từng cụm bàn tán chuyện trò, mấy bà mấy cô thì nấu cơm, luột khoai lang khoai mì, rang bắp, giã muối đậu muối mè…
Đến chiều thì nước rút mạnh, những bụi cỏ, xác cây lá dính chùm thành từng đống theo nước cuốn chảy ào ào. Có vài người chèo xuồng tới lui, xuồng dập dền lên xuống rất nguy hiểm, nó hỏi ba nó:
“Người ta làm gì ngoài đó vậy ba?”.
Ba nó đáp:
“À, có người chắc về nhà lấy đồ đạc, còn có người thì giăng bắt cá, nước lũ tràn về mang theo nhiều cá lắm”.
Nó hỏi tiếp:
“Dạ, chừng nào mình về nhà vậy ba?”.
“Sáng mai con à”.
“Vậy là ngủ ở đây một đêm nữa?”.
“Ừ, ngủ thêm một đêm nữa”.
Đêm đó nó ngủ một mạch cho tới lúc sáng bạch không biết trời trăng mây gió gì, vừa thức giấc đã thấy đồ đạc được gói ghém xong xuôi và kêu đi về luôn. Ở nhà quanh cảnh còn tệ hơn ở trên Gò, xác củi khô, xác đủ thứ loại, giấy báo, bao bịch, lá cây và cả những con cá, con chuột chết nằm la liệt cho tới tận ngoài bãi sông. Căn nhà nó thì còn nguyên vẹn mà trên đường về thấy rất nhiều nhà tốc mái bay tứ tung. Ba nó biểu:
“Bà với mấy đứa coi lúa má ra sao, đem ra phơi nắng đi, tui đi gom củi trôi về đây, để người ta gom hết, với lại dọn mớ rác, xác chết”.
Má nó ừ. Hai anh em chạy theo ba nó ra gom củi khô ngoài bãi. Ra ngoài thì đã có vài người đang gom, củi khô củi mục rất nhiều, chất thành mấy đống rồi đem từ từ vô nhà, ba nó hỏi tiếp:
“Lúa má ra sao?”.
Má nó đang lấy cào cào cho lớp lúa ở dưới lên trên, quay qua trả lời:
“Cũng chưa đến nỗi nào, chỉ vài bao ướt nhứt nức mộng sơ sơ, nhưng còn ăn được, lúa hườm hườm* (gần chín) thì chín rồi”.
“Hột lép nhiều hông bà?”.
“Cũng hông bao nhiêu”.
“Vậy là đỡ rồi”.
Hết buổi sáng với vụ củi, buổi chiều vác chài lưới ra sông, ba nó vừa đi vừa nói trong khi hai anh em lẽo đẽo theo sau cầm cái thùng gánh nước:
“Sau lũ lụt cá tôm nhiều lắm, ba kiếm mớ tôm kêu má bây nấu mì Quảng bù những ngày cực quá”.
Nó mừng rơn, chưa được ăn mì Quảng nấu tôm lần nào chỉ nghe là ngon. Ngoài sông cũng rất nhiều người chài lưới, người chài gần bờ, người chèo ghe xuồng ra giữ dòng. Và đúng lắm, cá tôm nhiều quá chừng, không lâu sau ba nó kéo được hai thùng gánh nước gần đầy và gần rổ rá tôm. Nó thấy cá rô thì nó biết nhưng nhiều con khác thì không, chỉ con cá hỏi anh nó:
“Con này là con cá gì?”.
Bị anh ký đầu cái cốc:
“Dễ ẹt mà hổng biết, cá gáy còn kêu cá chép đó”.
“Con này?”.
” Cá hanh”.
“Còn mấy con kia?”.
“À, đây là cá diếc, con này cá mòi, còn đây con cá bống…”.
Nó đọc một lèo:
“Bống bống bang bang lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”.
Nó vừa đọc xong thì có người reo lên:
“Ý chà, cá bự quá!”.
Anh em nó quay qua nhìn thì giữa dòng, một chú đang ngoắc mấy chú khác lại kéo lưới phụ, con cá lớn vùng vẫy dãy đành đạch liên hồi, cả buổi sau ba người mới kéo lên được chiếc nghe, chèo vô trong bờ, mọi người xúm xít lại coi, con cá bự thiệt, dài cả thước, bề ngang bự còn hơn cái mình của nó, có người nói mấy chục ký luôn. Ai nấy hớn hở vui mừng. Ba nó nói:
“Vậy là mùa cá lũ lụt năm nay trúng rồi”.
Nhiều người đồng tình:
“Ờ, bù bớt mất mát cũng đỡ khổ”.

***

Chiều hôm sau, cả nhà cùng xúm xít phụ với má nấu mì Quảng. Nấu mì Quảng thì từ xay bột bằng cối đá cho tới tráng bánh đều tự tay ở nhà làm, má nó tráng bánh như tráng bánh tráng, nhưng tráng hai lớp nên nó dầy rồi lấy cây tim làm bằng cật tre* (phần vỏ ngoài của cây tre, cứng và dẻo) vót mỏng như cái nan sọt vô lấy bánh ra. Bột xay bằng gạo Nàng Hương nên có màu đo đỏ, chị nó thoa một lớp dầu phụng* (phộng, dầu làm từ hạt đậu phộng) cho khỏi dính rồi xếp cỡ bánh gần gang tay, lấy con dao dài chắn lụp cụp thành những sợi nhỏ. Nước nhưn má nó nấu bay thơm lừng, đặc ngào thịt tôm cá, ba nó thì xắt lõi cây chuối hột trộn với bắp chuối bàu sợi và rau húng lá tròn tròn nho nhỏ, lá tía tô, giá… làm rau sống mà anh em cùng lặt phụ.
Xong xuôi cả nhà cùng ngồi trên cái đi văng cùng ăn và chuyện trò, mì rất ngon, nó càng thấy ngon hơn được ngồi ăn trong cái không khí dịu mát, trước nhà dòng sông êm đềm trôi không dấu hiệu gì cơn lũ lụt vừa đi qua và không ai muốn nhắc lại. Ăn gần xong thì có một người ôm cái cặp táp đi vô nhà, hỏi:
“Chà, cả nhà đang ăn cơm hỉ?”.
Ba má nó dạ, rồi chào lại:
“Chú mới tới, chú ngồi ăn cơm luôn với tụi cháu?”.
Đây là ông chú bà con xa, là chú của ba nó nhưng ổng còn rất trẻ, độ chừng hai mươi mấy thôi. Ba nó thứ hai má nó thứ tư, ở bên nội thì kêu theo ba, bên ngoại kêu theo má. Ba nó là trưởng Tộc nên dù vai vế nhỏ nhưng với nhiều người vai vế lớn hơn lại lớn tuổi hơn rất nhiều. Ông chú phẩy tay:
“Tui mới ăn rồi”.
Ba nó bỏ lở nữa chừng bữa ăn, đi vô nhà rót trà mời chú:
“Chú qua chơi”.
Ông chú gật đầu ra vẻ trịnh trọng:
“À, ghé thăm, sẵn tiện hỏi việc ni”.
“Dạ, việc chi rứa chú?”.
Ông chú mở cái cặp táp lôi ra mớ giấy báo nhào nát, có tờ rách te tua, gương mặt sắt lại, ổng hỏi:
“Cái ni chắc của anh Hai, anh mới ở Sài Gòn về mới có thứ ni chớ ở đây làm chi ai có hỉ?”.
Ba nó cầm mớ giấy báo lật qua lật lại:
“Dạ đúng rồi, đợt lũ lụt vừa rồi chắc nó trôi bay tứ tán”.
Ông chú vẫn với gương mặt đó, lấy lại xấp báo:
“Nhiều người lượm lặt giao cho tui họ nói anh Hai còn tư tưởng chế độ Ngụy nên mới xài mấy thứ này”.
Ba nó ngạc nhiên:
“Nhưng cháu dùng làm mồi lửa đốt củi nấu cơm nước mà chú”.
Ông chú vẻ mặt không thay đổi, còn đanh lại lạnh hơn:
“Người ta đâu có biết anh Hai làm cái gì, họ thấy thì họ nói tàng trữ văn hóa phẩm phản động, đồi trụy thôi, với lại cũng không được xử dụng bất cứ đồ gì của chế độ Ngụy hết, như vậy là phạm pháp”.
Ba nó lo lắng:
“Chà, cháu hông biết, nay chú nói cháu nghe, thôi để cháu đốt hết” – Ba nó với tay qua ông chú: “Cho cháu xin cháu đốt luôn”.
Ông chú cất xấp báo vô trong cặp:
“Răng mà được, người ta nói đây là bằng chứng phải giữ, mai là chủ nhật nghỉ, sáng thứ hai mời anh Hai lên xã làm việc”.
Ba nó càng lo lắng:
“Vậy là răng chú, chú nói đỡ cho…”
Ông chú cắt ngang:
“Đâu có được, nguyên tắc là nguyên tắc, tui làm sai ai chịu cho tui, cứ vậy sáng thứ hai lên, thôi tui về”.
Ông chú đứng dậy cái rẹt bước ra. Ba nó bước theo thẩn thờ như người mất hồn rồi ngồi phịch xuống đi văng. Má nó thấy lạ, hỏi:
“Có chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó thở hắt ra. Má nó nói tiếp:
“Thôi ăn tiếp đi, để tui làm tô khác, tô nãy nguội ngắt rồi”.
Ba nó bóp trán, lắc đầu:
“Trời đánh còn tránh bữa ăn, ăn chi nổi nữa mà ăn. Muốn về quê với Tổ Tiên, với bà với con, muốn có cuộc sống yên ổn mà chẳng dễ, sao khó quá ngay trên mảnh đất quê mình”.
Ba nó kể lại chuyện ông chú đem đến vừa rồi. Má nó trấn an:
“Chắc hông sao đâu, ông lên họ nói ba điều bốn chuyện rồi cho về thôi mà”.
Ba nó lắc đầu:
“Biết đâu được, hổng chừng học bắt bỏ tù luôn thì làm sao? mấy bữa đi học tập họ ăn nói hùng hồn lắm”.
Má nó tiếp:
“Trên xã cũng bà con hông mà”.
“Còn gì bà với con, hồi nãy tui nói chưa ráo nước miếng là bị xắn ngang, còn tệ hơn người ngoài, thô dẹp mâm đi, tui suy nghĩ cái đã” – Ba nói với vô trong: “lấy cho ba bình trà ra đây”.
Ba nó nhấm từng ngụm trà ngồi đăm chiêu suy nghĩ lung lắm. Ánh trăng vàng vọt chiếu lên mái tóc ông trong đêm tối mà ngỡ như bạc cả mái đầu. Má và mấy chị ngồi im thin thít kề bên. Hồi lâu sau ba nó quay qua:
“Bà còn nhiều ít tiền”.
“Chẳng bao nhiêu hết, tiền chợ búa chừng một hai tháng, mà ông hỏi lằm chi?”.
Ba nó nhắm thêm ngụm trà:
“Chắc phả bán thêm đồ đạc, mai tui đi Đà Nẵng mà tui đâu biết bán đồ, hay bà đưa tui mấy chỉ vàng”.
“Để làm gì?”.
“Đi thôi, trở lại Sài Gòn thôi, bán mấy chỉ vàng làm lộ phí, chịu hết nổi rồi, nhứt định…”.
Má nó ngắt lời:
“Ông nói thiệt chớ?”.
“Thiệt, nhứt định phải đi”.
Má nó chần chừ:
“Ông nói chắc hả, mới về chưa bao lâu…”
Mấy chị chen vô:
“Thôi má ơi, tụi con thấy ba nói đúng đó, người ta đâu có muốn mình ở”.
“Nhưng…” – Má nó định nói nữa, ba nó cản lại:
“Không nhưng nhị gì nữa, phải đi thôi, sáng mai tui đi Đà Nẵng kiếm xe, ở nhà bà và mấy đứa đóng gói đồ đạc, tối tui đưa xe về âm thầm mà đi trong đêm, cả nhà không được nói gì hết nghe hông, mấy đứa hông được để bất cứ ai biết, họ biết quy tội cho ba bắt là cái chắc”.
Sáng ba nó dậy đi rất sớm, khi trời còn tờ mờ chưa sáng hẳn. Nó cũng không ngủ được, chạy một mạch ra bãi cát ngồi trước bờ sông, nó kêu cơn gió mang hốn tuổi thơ tới, nó nói:
“Tao lại phải sắp đi nữa rồi”.
Cơn gió nói buồn buồn:
“Đi thiệt hả? đi đâu?”.
“À, trở lại nơi tao sanh ra”.
“Ở đó có giống đây hông?”.
“Cũng quê quê như vầy, nhưng gần nhà không có sông”.
Nó hỏi lại cơn gió:
“Sao người ta lại làm khó nhau, tao nghe ba tao nói vậy?”.
Cơn gió rít rít như thể đang nhíu mày:
“Chẳng biết nữa, chắc tại người ta lớn rồi, lớn rồi tánh tình khác chớ hông như trẻ thơ tụi mình”.
Nó à:
“Chắc vậy” – Nó chợt nhớ tới ông trắng bóc ngồi trên xe ríp nói không muốn lớn lên, nó hiểu hiểu ra phần nào, làm nó lừng khừng nửa muốn lớn nửa muốn không, nó hỏi cơn tiếp:
“Mày có muốn lớn lên hông?”.
Cơn gió đáp ngay:
“Hông, mình chẳng muốn lớn lên, mình thích vui chơi như thế này”.
Nó gục gật với cơn gió mang hồn tuổi thơ:
“Chắc vậy là hay nhứt”.
Lăn dài ra bãi cát chơi đùa với cơn gió tuổi thơ, nó sẽ xa nơi này mà không biết bao giờ gặp lại chỉ sau đêm nay thôi…

Lê Đắc Hoàng Hựu

TÍNH CHUYỆN PHẢI QUẤY

thuyvi

11910623_891595764229131_429398460_n (1)
” Em yêu ơi… Bọn cộng sản ác ôn chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Thủ Tướng Phan Huy Quát của chúng ta ở Nhà Tù Chí Hoà, chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên của chúng ta ở một trại tù khổ sai miền Bắc. Không phải chúng chỉ bỏ tù, chúng chỉ giết có hai ông ấy, chúng bỏ tù 5,546,834 nhân vật quốc gia của chúng ta, chúng giết 3,765, 832 người trong số đó. Anh không thù, anh không hận chúng nó sao được!
Dzậy mà em thấy đấy, ở Mỹ này có những thằng dám mở mồm bảo, khuyên anh “Quên hận thù bọn cộng sản đi. Ðừng kể chuyện Tù Ðầy nữa!” Những thằng khốn nạn ấy không bằng loài chó!
Anh sẽ còn tính chuyện phải quấy với những thằng khốn kiếp đó dài dài …”

Những dòng chữ của Công tử Hà Đông gửi cho vợ nghe thật cảm khái. Tôi cho đây là một sự tử tế, là sự dõng dạc nói lên trách nhiệm của mình.
Những năm gần đây, trong Cộng đồng, xuất hiện nhiều tên bất lương vô liêm sĩ, những tên thân mật với bọn nhúng máu đồng bào vô tội hiu hiu tự đắc.
Một trong những loại bất lương mà ông Huy Phương đề cập trong bài “Mậu Thân và nỗi đau của Huế”:”Nỗi đau của Huế còn rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ý thức của một vài cá nhân người Huế, đã vì sợ hãi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đã tiếp đón đãi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, hòa giải nhưng sự thật là đã xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đã gánh chịu nỗi tang tóc Mậu Thân vì chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác…”.
Qua đoạn viết trên, người đọc biết tác giả nói ai. Tiếp đó một bài “ Oan Khuất Mậu Thân. Cần Một Lời Xin Lỗi” của Trần Kiêm Đoàn viết trong dịp đón Tết Nhâm Thìn khiến người ta đặt liền câu hỏi: Có phải Trần Kiêm Đoàn áy náy về những việc làm trong quá khứ? Hay vì run sợ thuyết nhân quả của nhà Phật? Hay vì trắng mắt thấy rõ dã tâm của bọn Cộng Sản đã hối hận viết bài này? (http://trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/oankhuatmauthan.html )
Tuy nhiên, bài viết của Trần Kiêm Đoàn không thuyết phục được những người chính nghĩa bởi những biện bạch nhập nhằng một cách cố ý nên người ta ngoài sự bất bình, thất vọng còn có sự phẫn nộ.
Sự phẫn nộ vì những tội ác giết hàng ngàn dân Huế của bọn Việt Cộng, và bọn Việt Cộng Nằm Vùng tày trời như thế, tàn ác như thế, rành rành như thế mà Trần Kiêm Đoàn hạ bút: Cần một lời xin lỗi?
Tôi muốn hỏi: Trần Kiêm Đoàn. Ai cần? Ai xin lỗi?
Hẵn nhiều người còn nhớ, sau khi cộng sản Miền Bắc cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Cộng Nằm Vùng giết hàng ngàn dân vô tội ở Huế, giết một cách tàn ác, thê thảm, khát máu, ghê rợn chưa từng có trên đất Huế (Cuộc thảm sát con dân Việt Nam của thực dân Pháp trong cuộc nổi dậy của triều đình Huế ngày 23 tháng 5, 1885 cũng không thể nào so sánh nỗi với sự tàn ác đẫm máu của cộng sản Việt Nam đối với ngay chính con dân đồng tộc Việt Nam ruột thịt ! )
Sau khi hành quyết hàng ngàn người dân Huế, không những cộng sản lạnh lùng bất nhân phủi tay, mà chúng lại còn ném lên những thân xác đau thuơng tức tưởi của con dân Huế những chửi rủa đốn mạt, tục tĩu, vô luân, láo khoét chưa hề thấy trong đạo đức văn hóa truyền thống Việt Nam: nào là “bọn phản quốc”…”bọn ác ôn, giết người, cướp của”…”bọn liếm giày đế quốc” v.v…để chỉ vào các xác trẻ em, học sinh, sinh viên, bà mẹ, đàn ông, ông già bà cả bị chúng tàn sát tập thể, mà không một ai có được tấc sắt trong tay!
Sau khi kéo lê cái chính sách tuyệt cấm mọi sự thờ phụng công cộng trên khắp Huế cho những nấm mồ hoang tập thể vô thừa nhận-đặc biệt là Nghĩa Trang Ba Tầng hai bên đường Nam Giao đã tàn lạnh khói huơng từ hơn hơn 35 năm nay-(nói để ông Trần Kiêm Đoàn nghiệm sự đời là quân Pháp nó còn tôn trọng văn hóa thờ phụng của Việt Nam ta còn hơn cả nhà nước cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì trong hai giai đoạn đô hộ VN của Pháp, người dân Huế luôn có tự do tổ chức lễ cầu vía Âm Hồn hàng năm vào ngày 23-5 cho các vong hồn tử sĩ trong cuộc nổi dậy của quan quân triều đình Huế năm 1885.)
Thế rồi bỗng một ngày một nhà giáo sư tên Trần Kiêm Đoàn tự dưng xướng lên”Cần một lời xin lỗi !”
Tôi thật sững sờ tự hỏi cái hành động trớ trêu này sao lại có thể có từ một con người có cơ may ăn học như Trần Kiêm Đoàn! Nghĩ vậy tôi càng thấy thương tiếc cho những người dân oan không có được một chữ học ở trường thế mà vẫn biết đứng lên chống bất công. Họ ý thức được thế nào là Công Lý đấy, ông Trần Kiêm Đoàn ạ!
Và thay vì để ông Trần Kiêm Đoàn nói “Cần một lời xin lỗi “, có lẽ đã đến lúc những trí thức mê muội như ông Đoàn và những kẻ đồng loài nên thẹn thùa trước những con dân Việt Nam chất phác, chính trực đó để những oan hồn Mậu Thân Huế nói lên được tiếng Giải Oan cho chính mình: ” Cần Một Lời Công Lý!”.
Một lời công lý cho nỗi đau của Huế trước nhất là hài tội những thằng mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”* giết hàng ngàn dân Huế vào năm 1968, giờ còn nhởn nhơ nhe răng cười cợt *
Hài tội chúng bằng cách thu thập nhân chứng, tài liệu, viết lại, lưu lại những tội ác để không gì xoá được-Cho dù 10 năm, 20 năm, vài chục năm sau, hay hàng trăm năm sau… khi nhắc “Thảm Sát Mậu Thân” hậu thế sẽ nhớ ngay tên những tay đồ tể giết dân Huế một cách ghê rợn bằng cách đập đầu, xỏ xâu, chôn sống luôn cả những người đàn bà, những trẻ thơ và những người già vô tội. Không những thế, chuyện phải làm tiếp tục là đưa chúng nó, đưa tội ác chúng nó ra toà án Quốc Tế.
“Giết tù binh hay tù nhân chiến tranh và thường dân là phạm vào tội ác chiến tranh”. Không phải Trần Kiêm Đoàn có lần đã nói về điều này sao!?
Tôi sẽ tiếp tục tính chuyện phải quấy với mấy tên Việt Cộng giết người vô tội này dài dài
* Chữ của nhà văn Huy Phương

thuyvi

CHẠNG VẠNG

phuongxichlo

Chạng vạng đất
Chạng vạng trời
Tình tôi chạng vạng trong thời xa em
Mắt nhìn chạng vạng hơi men
Miệng đời chạng vạng chê khen tiếng lời
Tuổi tên chạng vạng
Quên rồi
Đường đi chạng vạng biết nơi mô về?
Tháng ngày chạng vạng cơn mê
Oán ân chạng vạng
Bốn bề đong đưa
Đôi khi chạng vạng vần thơ
Làm sao soi đến bến bờ tương lai
Xin trăng sáng trọn đêm dài
Vén
Màng chạng vạng
Phủ dày hồn tôi.

PHƯƠNG XÍCH LÔ