NHỮNG PHƯƠNG THỨC SINH RA VÀ CHỂT

truongdinhphuong

Sinh ra từ biển
và chết trên đất liền
những cơn bão hả hê sống đời kẻ hủy diệt !

Sinh ra từ đất
và chết trên những chiếc bình sặc sỡ
loài hoa tự nguyện hiến dâng !

sinh ra từ đắng cay đời mẹ
và mặn chát đời cha
rồi chết trên manh chiếu giấc mơ dang dở
con người bỏ lạc chính mình

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Alexandre de Rhodes

giao-si-dac-lo

Đúng ngày 5 tháng 11 năm 2015, bên cạnh một tấm bia mộ, nếu có, với hàng chữ như thế này:

Alexandre de Rhodes
15-3-1591 Avignon, France
5-11-1660 Isfahan, Persia

nếu còn đọc được, ở trong một khu nghĩa địa cổ, nếu còn hiện diện, ở cái xứ Iran, sẽ không có một vòng hoa, một bó hoa, hay ngay cả một bông hoa nhỏ nào hết dành cho người nằm dưới mộ.

Ông là Elexandre de Rhodes, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon, nước Pháp, gia nhập dòng Tên tại Roma, được chỉ định truyền giáo tại Ma Cao rồi sang Việt Nam truyền đạo hơn 20 năm, học tiếng Việt rồi đi khắp nơi từ Nam ra Bắc, từ Đàng Trong tới Đàng Ngoài giảng đạo. 6 lần bị trục xuất và cả 6 lần ông đều tìm cách trở về, để rồi bị mang bản án tử hình rồi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam vĩnh viễn.

Hơn 20 năm ở Việt Nam, ông không để lại một công trình gì lớn cho giáo hội, ngoài một cuốn từ điển để đời, cho cái xứ sở không muốn ông hiện diện, không chấp nhận và ngay cả muốn lấy đi mạng sống của ông.

Cuốn Từ Điển Việt Bồ La dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó.

Cũng vì cuốn từ điển này mà cách viết của một dân tộc luôn luôn tự hào với “bốn ngàn năm văn hiến” phải đổi thay.

Cũng vì cuốn từ điển này mà ông bị đội thêm trên đầu cái mũ tiếp tay cho thực dân xâm lược.

Cũng vì cuốn tự điển này mà ông được trao tặng bằng sáng chế.

Alexandre de Rhodes có phải là người “sáng chế” ra chữ quốc ngữ? Ông không phải là người “sáng chế” ra chữ quốc ngữ. Ông chỉ là người “tổng hợp” và có “tham vọng” làm cho chữ quốc ngữ phát triển rộng hơn ra ngoài cái mục đích ban đầu của những người sáng chế ra là những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chỉ để dành dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo mới đến Việt Nam. Sáu lần ông bị trục xuất, sáu lần ông đều kiếm mọi cách để trở về, và lần cuối cùng bắt buộc phải ra đi, sau khi cái bản án tử hình treo trên cổ, ông vẫn tìm mọi cách trở lại Việt Nam mà không thành, là đủ thấy cái “ý đồ” và “tham vọng” của ông đối với chữ quốc ngữ như thế nào.

Không có công trình “tổng hợp” lại những công trình của những vị khác của ông thì người Pháp không thể lợi dụng để thay thế chữ Tàu và chữ Nôm. Ý đồ “xấu xa” “thâm độc” của thực dân Pháp vô hình trung lại làm lợi cho người Việt, có một thứ chữ viết vừa dễ học và vừa dễ viết.

Những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chỉ sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Alexandre de Rhodes chỉ tổng hợp và viết ra cuốn từ điển. Còn ai mới là người làm cho chữ quốc ngữ phát triển rộng rãi và trở thành một thứ chữ viết chính thức cho Việt Nam ngày nay? Oái oăm thay lại chính là thực dân Pháp với công trình “tổng hợp” của Alexandre de Rhodes.

Không có thực dân Pháp và không có công trình “tổng hợp” của Alexandre de Rhodes, Việt Nam tới thế kỷ 21 này vẫn còn phải sử dụng thứ chữ viết của người Tàu, dù có viết bằng chữ Nôm cho “đậm đà bản sắc dân tộc”, chữ viết không hoàn toàn Tàu 100% nhưng vẫn cứ là chữ Tàu.

Không có thực dân Pháp và Alexandre de Rhodes, không có chữ quốc ngữ, Việt Nam giờ đã là anh em thắm thiết tình hữu nghị keo sơn mặn nồng với người anh cả phương Bắc Trung Hoa. Dù có nói thứ tiếng khác nhau nhưng sẽ cùng viết thứ chữ như nhau. Dù có nói tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Tiều, tiếng Ngô, tiếng Mân, tiếng Việt thì cũng cùng viết một thứ chữ như nhau là chữ HÁN.

Và biết đâu chừng giờ này đâu có cái cảnh biểu tình phản đối đuổi “TÀU KHỰA VỀ NƯỚC”

TƯƠNG TRI

CƯỜI NGHIÊNG NGỬA BÓNG

 

phuongtan

Sao Phương không về cho anh yên ngủ
Trở giấc thương hoài buồn hoài khôn nguôi
Mây trắng bay bay mây trắng ngậm ngùi
Cười lên cho cao cười nghiêng ngửa bóng.

Cười lên cho cao cười sao đủ ấm
Sao Phương không về cho anh ngủ yên
Hồn thôi xanh xao hồn ôm mộng hiền
Anh lùa trăng sao lùa chim ca hát.
Lùa áo Phương bay lùa môi ngào ngạt
Rồi ngắt đêm sâu cài lên mắt Phương
Cho mắt Phương sầu, sầu xui nhớ nhung.

Chúng mình ngoan em đất trời xao xuyến
Chúng mình ngoan em rì rào trò chuyện
Tròn tiếp lời ru, lời ru thiên đàng
Chúng mình yêu nhau, yêu nhau mênh mang.

Sao Phương không về cho anh yên ngủ
Mộng mị chập chờn se sắt châu thân
Sao Phương không về còn chi ngại ngần
Tình ngẩn ngơ trôi dập dờn con sóng.

Cười lên cho cao cười nghiêng ngửa bóng
Cười lên cho cao cười sao đủ ấm
Sao Phương không về cho anh ngủ yên…

PHƯƠNG TẤN

(Đà Nẵng 1960)

VÀI DÒNG VỀ TÁC GIẢ
Tên thật Nguyễn Tấn Phương sinh năm 1946 tại Đà Nẵng.

* Các bút hiệu đã ký:
Phương Tấn, Nguyễn Tấn Phương, Hồ Tịch Tịnh, Thích Như Nghi, Người Thành Phố, Chị Ngọc Ngà, Phương Phương…

* Các báo đã cộng tác:
Tuổi Xanh, Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa, Tinh Hoa, Áo Trắng, Mây Hồng, Phượng Hồng, Thằng Bờm, Phổ Thông, Mai, Thời Nay, Bách Khoa, Văn, Văn Học, Dân Ta, Ngàn Khơi, Khởi Hành, Hồn Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Lý Tưởng (Không Quân), Quật Khởi, Cấp Tiến, Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Đàn, Độc Lập, Ngôn Luận, Dân Chủ, Thế Đứng, Vận Động, Sóng, Bạn, Bạn Trẻ, Công Luận, Thực Tế, Gió Mới, Đối Thoại (Đại học Văn khoa Sàigòn), Lập Trường, Sức Mạnh, Mối Dây (Hướng Đạo), Kiến Thức Ngày Nay, Văn Nghệ & Đời Sống, Điện Ảnh-Kịch Trường, Văn Tuyển, Văn Chương, Thư Quán Bản Thảo (Hoa Kỳ), Thế Giới Văn Học (Hoa Kỳ), Văn Hữu (Hoa Kỳ), Người Việt (Hoa Kỳ)…

* Chủ bút các tạp chí:
– Sau Lưng Các Người (1963)
– Cùng Khổ (1968)
– Ngôn Ngữ (1973)
* Tác phẩm đã xuất bản:
– Rừng (thơ in chung 1963)
– Vỡ (thơ in chung 1965),
– Nhân Chứng (thơ in chung 1967)
– Thơ Tình Của Một Thi Sĩ Việt Nam Trên Đất Mỹ (in và phát hành tại Hoa Kỳ tháng 1
năm 1970, tái bản tại Việt Nam tháng 3 năm 1970)
– Khổ Lụy (thơ 1971)
– Trai Việt Gái Mỹ (bút ký 1972)
– Hòa Bình, Ta Mơ Thấy Em (bút ký 1974).

* Hiện định cư tại Hoa Kỳ.

Mất tích

nguyendanhlam

Anh Hai mất tích. Ấy là việc cả nhà biết sau ba ngày anh không ló mặt khỏi phòng. Bà giúp việc báo trong bữa tối:
– Không biết thằng Hai đi đâu, mấy đêm rồi tui không thấy nó về ăn cơm?
– Chắc lại đi đâu đó với đám bạn. Nó đòi tôi tiền mua cái xe mới. Nhưng tôi chưa cho. Nó có vẻ vùng vằng- Mẹ bảo.
– Bà lên phòng nó một lần nữa coi sao- Ba đặt cái điện thoại vừa bấm tin sang bên.
Bà giúp việc đi lên. Báo phòng vẫn khóa. Mẹ bảo:
– Hay lấy cái chìa dự phòng mở thử coi?
Cửa phòng mở. Cả nhà thấy chiếc xe được dựng ngay cạnh giường ngủ, trước dàn máy tính. Trong phòng còn váng vất mùi thuốc lá, hình như từ cái gạt tàn đặt gần bàn phím bay lên. Song không có điếu thuốc nào đang cháy dở trên đó.
Chẳng một tin nhắn hay thư từ để lại. Cái điện thoại anh Hai vẫn dùng đặt cạnh gối nằm, pin vẫn còn. Áo quần bận dở treo nguyên trên móc. Vấn đề đầu tiên ai cũng thắc mắc, tại sao cái xe nằm đó. Đúng loại xe anh Hai xin tiền mẹ mua. Vóc dáng cỗ máy vô cùng đồ sộ. Phòng anh Hai ở lầu ba. Nếu muốn khiêng cái xe lên, đặt đúng vị trí ấy cũng cần tới ba bốn người hò hét. Trong khi bà giúp việc bảo, tui chỉ ra đến chợ đầu hẻm là xa nhất, chưa bao giờ đi quá nửa tiếng đồng hồ.
Sự việc được trình báo. Nhà chức trách cho người tới làm việc. Mọi địa chỉ bạn bè anh Hai được lần tìm. Tất cả những nơi anh thường ghé đều bị xới tung. Kết quả nhà chức trách báo, vẫn là không.

Mẹ bảo, chờ ít hôm nữa coi sao. Ba, theo lời ông nói, đã bỏ hẹn mấy đối tác, vì chẳng còn đầu óc đâu để làm việc. Song cũng chẳng mấy khi ông có mặt ở nhà. Nửa đêm tài xế thả trước cổng, ông xách cái cặp lảo đảo lên phòng. Mấy phút sau nghe tiếng ọe lồng lộn. Bà giúp việc thất thần đi lên. Mẹ hậm hực với màn xức dầu, lầm bầm chửi vu vơ.
– Bà chửi ai chớ hả?- Tiếng ba từ phòng vọng ra- Nó đòi cái xe thì cho mẹ nó đi. Tôi biết bao giờ bà chẳng cho nó. Nhiều cái nó xin còn động trời hơn. Tôi nói nhất định không cho, rồi bà cũng dấm dúi cho. Kiểu này nó “dằn mặt” bà, mua cái xe ném trong phòng rồi bỏ đi, chớ không có nguyên nhân nào khác.
– Ông có bao giờ hé cho tôi số tiền nào vô cớ? Đến một cắc cũng phải giải trình đầy đủ, thậm chí đưa lại từng tờ hóa đơn. Thêm nữa, ông tối ngày ngoài đường, có biết gì việc nhà mà nói. Con ông mấy đứa, ông còn không rành nữa đó.
Lại tiếng ba ọe lồng lộn, rên hừ hừ. Cô nhét cặp phone vô tai. Mấy bản nhạc số đứt đoạn. Chẳng mấy khi cô gặp mặt anh Hai. Mỗi anh em một phòng, giờ giấc mỗi người một kiểu.
Đã nửa tháng trời qua đi. Ba bảo:
– Bà lên đài truyền hình với mấy tờ báo nhắn tin thử coi sao?
Mẹ bảo:
– Tôi loay hoay tối ngày. Thêm nữa cũng có biết đài báo ở đâu mà loan tin? Còn chi phí nữa. Ông muốn chi bao nhiêu, lên đó mà chi trực tiếp. Rồi lại còn bắt tôi đi lấy hóa đơn.
Bà giúp việc bảo:
– Hay ông bà để tui đi. Đài báo chắc họ có hóa đơn đàng hoàng. Chỉ có điều không biết rao như thế nào?
– Bà cứ lên đó, mấy mẫu tìm người mất tích họ có cả. Cứ điền tên thằng Hai với địa chỉ nhà mình vô.
Bà giúp việc đi.
Đài truyền hình phát tin nhắn. Mấy tờ báo đăng rao vặt. Con ở đâu mau về. Ba mẹ tha thứ mọi lỗi lầm. Mẹ đang bệnh nặng… Chẳng một hồi âm. Mẹ đã đi gần hết mấy cái chùa trong bán kính ba trăm cây số, theo chỉ bảo của mấy bà cùng câu lạc bộ thể dục buổi sáng. Anh Hai chẳng về.
Tròn một tháng ngày anh Hai mất tích. Bà giúp việc nửa đêm bỗng dựng cả nhà dậy:
– Tui nghe có tiếng game vẳng ra từ phòng nó. Rồi tiếng gì như thể tiếng xe máy đang nổ.
Cả nhà lên thang gác. Áp tai vào cửa phòng. Đúng những âm thanh quen thuộc từ khi anh Hai còn ở nhà. Cửa phòng được mở. Một mùi ẩm mốc ùa ra, dù đèn bật sáng. Chiếc xe vẫn lừng lững ở vị trí ấy. Màn hình máy tính lặng câm. Mẹ nhòm gầm giường. Ba lầm bầm:
– Cái giường cách đất có mười phân, nó có là thánh mà chui vào đó.
– Thế ông không nghe rõ tiếng gì à? Cái phòng kín thế này, nó còn trốn chỗ nào nữa?
Cô không thể phủ nhận thính giác mình. Mọi người đều vậy. Nhưng có lẽ chỉ là một cơn ảo giác tập thể.
– Bà có mở đèn trong này không thế?- Mẹ hỏi bà giúp việc.
– Tui vẫn tắt chớ có mở bao giờ đâu, phòng chẳng có ai, mở làm gì cho tốn điện.
– Nhưng rõ ràng hồi nãy đèn mở?
– Quả thực tui cũng đang thắc mắc về điều đó…
Một cơn rùng lạnh chạy dọc sống lưng cô. Hay tất cả chỉ là những lớp ảo giác chồng lên nhau? Cô về phòng. Suốt từ đó đến sáng dở giấc. Những tiếng động, rất rõ ràng từ phòng anh Hai tiếp tục vẳng xuống. Mẹ đi lên đi xuống mấy lần. Ba nửa nằm nửa ngồi nơi cái đi-văng trong phòng khách. Bà giúp việc bắt đầu nấu bữa sáng từ lúc ba giờ.

Những ngày kế tiếp, ba về thưa thớt hơn. Ông bảo, tôi phải đi, nó có thể về lại, chứ những cơ hội làm ăn nếu đi sẽ chẳng dễ gì đến lại. Những ngày hiếm hoi ông về nhà, tiếng cãi vã lại vẳng ra từ phòng ba mẹ. Cô nghe hết. Hình như mẹ hồ nghi ông có một gia đình khác. Một đứa con trai ở đâu đó để ông chuyển hướng “đầu tư”.
Ngày giỗ ông nội. Ba đứng trước bàn thờ khấn:
– Con có lỗi với ba. Con không giữ được đứa cháu đích tôn. Ba sống khôn thác thiêng, xin phù hộ cả nhà.
Cô đứng gần ba. Nghe chữ “đích tôn”, bèn trở về phòng.
Trong bữa ăn, mẹ đột nhiên bảo:
– Ông phải cho tôi mã số két sắt. Ông đi tối ngày, lỡ có việc gì, tôi chẳng biết xoay xở thế nào.
Ba cứng người trong giây lát. Giọng ông gằn lại:
– Bộ bà muốn tôi chết bất đắc kì tử hay sao mà lại đề nghị ngang xương như thế?
– Dù gì tôi cũng là vợ ông. Cái két ấy để trong phòng ông, cũng là phòng tôi suốt bao năm nay. Vậy mà chưa một lần tôi thấy nó hé mở.
– Nếu không phải là tôi giữ mã số cái két ấy, giờ nó rỗng tuếch ra rồi. Mà tôi có giữ riêng cho mình đâu? Bà, chúng nó, cần tiền xài, tôi vẫn đưa đủ cơ mà?
– Đưa, nhưng một cắc cũng ghi hóa đơn, cũng cộng trừ, số má- Mẹ nhếch mép.
– Đấy, cũng chính vì thế mà nó còn, nó có nhiều thêm lên. Công việc của tôi dĩ nhiên phải là những con số rồi. Tiền không phải là số thì là gì?
– Thế đưa cho người khác ông có lấy hóa đơn không?- Mẹ cười cười.
Ba buông xoảng chén đũa.
– Bà nghi ngờ tôi chứ gì. Tôi thừa biết. Nhưng tôi thề trước bàn thờ cha tôi cho bà hay, tôi chẳng có ba cái máu me lăng nhăng ấy. Tôi không như bao thằng dại gái khác, làm cả đời, rồi để cho gái nó “hút máu”.
Ba ngậm cây tăm bước ra vườn ngoài. Trên bàn thờ ông nội mấy nén nhang cháy cong cong.
Từ đêm đó, mẹ ôm đồ xuống ngủ nơi cái phòng vẫn dùng đón khách tới lưu trú ở lầu dưới. Nó vốn bỏ trống hầu như quanh năm.
***

Và ba mất tích. Thường ba có thể đi suốt tuần, nhưng bao giờ cũng báo. Nhưng lần này ông đi đã mười hôm. Điện thoại luôn ngoài vùng phủ sóng. Hộ chiếu ông không bỏ két sắt, vẫn nằm tủ ngoài. Chứng tỏ ông không xuất cảnh. Bà liền gọi gã tài. Gã cũng ngớ ra:
– Con tưởng chú đi công tác nước ngoài. Đêm cuối cùng chở chú về, con vẫn bỏ xe ngoài bãi gởi, rồi không thấy chú gọi. Thường chú vẫn đi bất ngờ, chỉ khi nào cần mới kêu con đánh xe qua.
– Mày chạy liền ra bãi, coi chiếc xe còn đó không?
Gã tài đi ngay. Mười lăm phút sau báo lại, xe vẫn còn. Những cuộc điện thoại dồn dập tới mọi ngõ ngách. Vô vọng. Nhưng bằng tính toán của mình, mẹ chưa báo nhà chức trách. Những mối quan hệ làm ăn nhằng nhịt của ông, nếu để nhà chức trách nhảy vào, đôi khi sẽ rắc rối. Không loại trừ đây là sự mất tích có chủ đích của ông. Mẹ bàng hoàng nhớ tới cái két sắt.
Cái két sắt vẫn ở đó, câm lặng trong hốc tường. Bà bảo bà giúp việc:
– Bà đi tìm ngay một thằng thợ, tới mở cái két ra cho tôi.
Thợ mở két sắt tới. Lần mò một hồi, mồ hôi nhễ nhại, gã thở ra:
– Cái két này lạ lắm cô…
– Là sao?
– Hình như nó không có cửa.
– Như thế là sao?
– Dạ, rõ ràng nó không có cửa mà đúc liền thành một khối.
– Cửa kia thôi. Làm gì có két không cửa. Không có cửa người ta bỏ đồ vô ngõ nào?- Mẹ trợn mắt.
– Nhưng đó chỉ là cửa giả. Quả tình nó được đúc liền.
– Vậy thì đục nó ra.
– Với bề dày thế này- Gã gõ gõ vào cái két, lắng nghe- Muốn phá được chắc phải dùng… mìn cô ạ.
Mẹ dường như phát điên.
– Anh nói giỡn à? Cứ khoan vô thử coi?
Gã thợ mở máy khoan. Mũi khoan tóe lửa như ủi vào kim cương. Vài phút sau, đầu mũi khoan phẳng lì. Gã thợ thở ra:
– Con đầu hàng.
Trong nhà chỉ còn toàn phụ nữ. Sự việc anh Hai và ba mất tích nhiều người đã biết, khiến mẹ lo lắng về khả năng an ninh. Nhưng báo nhà chức trách vẫn là điều bà chưa tính đến. Gọi gã tài xế tới ngủ canh, cũng không phải giải pháp hay. Mẹ mua về hàng loạt ống khóa. Lắp thêm còi báo động.
Đêm ấy, những tiếng động lạ lại vẳng ra từ phòng ba. Tiếng đi lại, tiếng thở phì phì, tiếng ọe. Và đèn mở, dù trước đó đã được tắt.
– Cái nhà này bị ma ám rồi. Để tao về lại phòng ngủ- Mẹ ôm mớ mền gối trở về phòng cũ.
Bà liệng tấm nệm mỏng nằm ngay cửa cái két, mở máy lạnh, chùm mền kín mít.
Bà giúp việc run rẩy:
– Bà có cần tui lên đó ngủ chung không?
– Không, tôi xưa nay chẳng sợ gì ma cỏ. Bà cứ ở dưới ấy.

Rạng ngày, cô xách giỏ tham gia chuyến du lịch biển cùng đám bạn. Xe đi hai trăm cây, mẹ gọi vào điện thoại.
– Mày biến đâu sáng giờ?
– Con đi chơi xa. Ở nhà đến điên mất.
– Nhà đã vắng người. Cái két vẫn ở đây. Mày biến đi luôn, để hai cái thân già ngồi canh, chúng nó vào giết sạch thì sao?
– Mẹ thuê người đến mà canh. Sức con làm gì được nếu chúng nó đã cướp.
– Thuê ai? Tin ai được mà thuê? Rồi chính cái đám mình thuê nó giết mình thì sao?
– Con chả biết. Con không chịu nổi nữa rồi- Cô rút phone khỏi tai. Mặc tiếng bà vẫn léo nhéo thêm một lúc.
Rạng ngày, khi gã bạn trai đang hì hục lần thứ ba trong căn phòng tối mờ, ì ầm tiếng sóng, cái màn hình điện thoại của cô lóe sáng, chớp liên tục trên đầu nằm.
– Mẹ kiếp, sao em để điện thoại giờ này?
Cô nhắm nghiền mắt:
– Em quên.
– Kệ nó đi.
– Ừ- Cô nhét cái điện thoại dưới gối.
Gã xong. Cô quờ cái điện thoại. Mấy cuộc gọi nhỡ. Toàn số máy nhà. Cô gọi lại.
– Bà đi đâu mất rồi cô ơi. Đêm qua tui ngủ với bà trong phòng. Mới thiếp đi một lúc, mở mắt ra bà đã biến mất- Giọng bà giúp việc run bần bật.
– Anh lấy xe chở em về thành phố trước tụi nó.
– Cái gì, giờ này về á hả? Anh đang mệt lả ra nè.
– Nếu anh không chở, em phải ra đường bắt xe thôi. Đến lượt bà già mất tích rồi.
– Chắc bả đi đâu đó.
– Nhưng ở nhà chỉ còn mỗi bà giúp việc, với chừng ấy tài sản. Em cũng chẳng biết bả từ đâu ra. Mối mẹ em mướn. Lỡ có chuyện gì.
Quá trưa, xe về đến cổng. Bà giúp việc kê ghế ngồi bên thềm.
Gã bạn trai theo hai người lên phòng. Hai tấm nệm mỏng, cùng mền gối vẫn còn nguyên. Tấm của mẹ trước két sắt. Tấm của bà giúp việc kề cánh cửa ra vào phòng.
– Đó, tui nằm chỗ này. Làm sao bà có thể mở cửa ra ngoài mà tui không hay?
– Vậy mẹ tôi đi đâu?
– Tui sợ lắm cô ạ. Nói ra thấy kì, nhưng cứ như… bà đã biến mất vào trong chiếc két vậy. Cô nhìn đi, đôi dép bà vẫn mang trong phòng nằm ngay cửa chiếc két. Cứ như bà bỏ đó, bước vào trong.
– Ảo giác. Tất cả chỉ là ảo giác thôi. Tôi đang mơ hay tỉnh vậy nè? Hả hả?- Cô lắc lắc gã bạn trai.
– Em bình tĩnh đã.
Bà giúp việc thì thào:
– Thêm nữa, sau khi phát hiện bà mất tích, tui đang đi lòng vòng trong nhà kiếm, bỗng nghe tiếng ông bà cãi nhau trong phòng. Tui chạy lên. Tiếng ấy vẳng ra từ phía cái két. Còn trên phòng cậu Hai, cái xe ấy nó vẫn nổ máy. Nhưng vào thì không có gì.

Gã bạn trai về, cô như người rơi khỏi mép vực, chới với, chẳng còn nơi bám víu. Bà giúp việc làm cơm trong nhà bếp, chợt kêu ối. Cô lao vào. Bà đang bụm ngón tay, máu chảy ròng ròng.
– Bà còn cơm nước làm gì nữa. Có ai ăn đâu?
– Dù gì cô cũng phải ăn. Nếu không bệnh mất.
– Tôi chẳng ăn uống gì nữa đâu. Bà cứ nằm mà nghỉ.
Cô lên phòng. Mặc tất cả, chốt kín cửa, ngủ vùi sau hai ngày mỏi mệt. Gần chín giờ tối, cô xuống thang. Bà giúp việc ngồi như cái bóng nơi phòng khách, mắt hướng ra phía cổng. Thấy cô, bà ngước ánh nhìn mệt mỏi.
– Tui nói ra thiệt không phải. Nhưng tình cảnh này khiến tui không thể chịu đựng nổi nữa…
– Ý bà muốn về quê?
– Không- Bà quơ quơ cánh tay trong không khí, rồi khựng lại giữa chừng- Tui về rồi cô ở với ai?
– Bà không phải lo việc ấy. Đến tôi còn xì- trét, bà lớn tuổi rồi, lỡ đâu căng thẳng gục xuống thì thêm khổ. Lúc ấy tôi cũng chẳng biết xử trí thế nào. Nên bà cứ về quê là tốt nhất.
– Cô ở lại một mình sao?
– Việc ấy bà không phải lo. Mà như bà nói, ba mẹ tôi còn trong cái két. Anh Hai tôi vẫn ở trong phòng. Tôi có một mình đâu.
Đêm ấy bà giúp việc lục tục dọn đồ. Rạng ngày bà gõ cửa phòng cô, òa khóc. Cô tiễn bà ra cổng. Trời còn mờ sáng. Gã bạn trai hẳn chưa dậy để cô có thể nhắn tin.

Cái ghế đá bên cánh cổng đồ sộ ướt hơi khuya, cô ngồi như hóa thạch. Những tiếng động mơ hồ vẫn từ tầng cao căn nhà vọng xuống.
Trưa ấy, gã bạn trai cô lái xe tới. Xách từ khoang chở đồ phía sau xuống cái va li nhỏ, gã cười cười:
– Anh ở tạm với em. Càng tự do chớ sao. Qua một thời gian rồi tính.
– Nhà này không có garage. Xe ba em còn phải bỏ ngoài bãi.
– Thì cứ để xe trong sân, chỗ này. Anh có ở lâu đâu mà lo.
– Sao anh bảo, chỉ cặp gương chiếu hậu xe anh đã mắc bằng cái xe máy. Lỡ mất mát gì thì sao?
– Ờ thì vậy. Cổng nhà em có chuông báo động, đúng không?
– Nghe mẹ em bảo, gắn rồi.
Gã lao vào cô ngay bậc cầu thang. Cô ngã người nghiêng xuống, nhắm mắt. Ngày đầu tiên, hắn đòi hỏi cô bốn năm lần. Một tuần qua đi, nhịp độ ấy giữ đều. Cô mặc đồ, cởi đồ như một cái máy mỗi khi hắn ập lại. Những lúc tàn canh, bợt bã, sức nặng của hắn khiến cô nghẹt thở.
Đêm ấy, khi lồng ngực bị chèn cứng, cô mở mắt, thấy một chiếc xe hơi đang đè xuống người mình.

NGUYỄN DANH LAM

Người tình Sài gòn

tranngochuong

Sài gòn cho anh người tình,
Ân cần đã đến bên anh dịu dàng.
Nghĩ đời lạnh gió mùa sang,
Có em một đóa hoàng lan nguyệt rằm.

Cười anh chi phút ngại ngần,
Vườn hoa bướm lạc phân vân cửa ngoài.
Cho anh hết dịu êm đầy,
Ngực thơm anh thở, tay say anh cầm.

Em cho anh trẻ vô ngần,
Câu thơ bay bổng thoảng gần, thoảng xa.
Nghe yêu quấn quýt làn da,
Thơm nồng tóc ngắn em là mùi hương.

Vòng ôm trà sữa tâm hồn,
Ơn em anh nợ môi hôn sâu đằm.
Tình non như một chồi xuân,
Ơn em anh nợ ái ân mặn mà.

Vai mềm ngực nở hương hoa,
Cỏ ngoan xanh biếc như là trong mơ.
Sài Gòn ơi có bất ngờ,
Anh đang thức giữa cõi thơ ngỡ ngàng.

Trần Ngọc Hưởng

NHỚ PHƯƠNG NAM

lephuhai

Ta ngồi nhớ phương nam
Tháng mười con nước nổi
Người đàn bà tóc rối
Ru hời tháng năm xưa

Ngồi bên võng đong đưa
Tiếng trẻ khuya khát sữa
À ơi còn đâu nữa
Dĩ vãng vết rong rêu

Đã có những ngày yêu
Có những đêm thương nhớ
Rồi có khi rạn vỡ
Ly chén buồn chông chênh

Hát điệu lý mình ên
Bao kẻ buồn riêng phận
Ta biết mình lận đận
Thương nhớ chỉ lặng thinh

Ờ thôi cứ lặng thinh
Nói ra càng khắc khoải
Tiếng ọ chiều xa ngái
Con trâu đồng xanh thơ

Gởi lại một giấc mơ
Có ngày xưa con gái
Có ngày xưa bé dại
Phố nhỏ bước chân thưa

Gởi lại những cơn mưa
Chợt đi rồi chợt đến
Gởi một lời thương mến
Bây giờ và mai kia.

Lê Phú Hải

MƠ VỀ HOÀNG SA

phantranghy

Lão Ban, nhân vật trong một truyện ngắn của tôi, hẹn gặp tôi để trò chuyện. Biết tôi là nhà giáo, nhà văn viết về lão, lão lấy làm vui vì có người hiểu lão. Tôi được biết chính lão đã có ý kiến với Ban biên tập http://www.hoangsa.danang.gov.vn đưa truyện ấy vào trang mạng. Và cũng từ đấy, tôi trở thành bạn của lão.
Tôi đến thăm lão vào một buổi chiều tháng Ba. Ngôi nhà hai tầng nằm trong kiệt đường Nguyễn Công Trứ. Không gian vắng. Chỉ có chút nắng cuối ngày le lói trên khoảng sân nhỏ trồng ít cây cải, mồng tơi. Đứng trước cổng nhà lão, tôi đưa tay bấm chuông. Tôi đưa mắt nhìn vào trong chẳng thấy bóng dáng ai cả. Vẫn im lặng. Lại bấm chuông. Chờ đợi. Một lát sau, có tiếng: “Ai rứa?”. Tôi nhướng mắt nhìn vào. Một bóng già lững chững bước ra. Tôi biết chính là lão. Nhưng giả đò làm im để xem lão có nhận ra tôi không.
Lão mở cổng, đưa mắt nhìn tôi. Tôi lên tiếng trước:
– Chào bác! Bác có nhận ra tôi không?
Lão cười, nụ cười vui khi lâu ngày có người ghé thăm:
– Ôi, ai đây ta? Đúng là thầy rồi. Sao bữa ni thầy mới tới – Không đợi tôi trả lời, lão nói tiếp, giọng vui vui – Mời thầy vô!
Tôi chưa kịp dạ, lão lại nắm tay tôi kéo vào nhà.
Gian phòng khách của nhà lão sáng lên khi lão bật điện. Lão lên tiếng:
– Thú thật với thầy: Ở nhà một mình, tôi cũng nhác bật điện dù có hơi tối. Thường thì tôi mở ti vi. Để có tiếng nói, có tiếng người, cho đỡ buồn. Nhưng mấy hôm nay, hơi mệt nên tôi cũng không mở.
Quả thật như lời lão nói, có chút vắng lặng. Tôi nhìn kỹ phòng khách. Trên tường có treo một số hình chụp. Thấy tôi nhìn những hình ấy, lão đứng lên, lại sát một tấm hình rồi nói: “Đây là hình tôi chụp khi tôi làm khí tượng ở Hoàng Sa”. Như có dịp ôn lại những gì đã qua, lão chỉ tiếp một bức hình, nói: “Còn đây là hình con trai tôi, thằng Vũ, đi lính hải quân đóng ở Trường Sa, mà như thầy đã biết rồi đó, nó hy sinh ở Gạc Ma năm 1988”. Tôi thấy mắt lão rơm rớm. Một chút trầm lắng như buổi chiều tàn ở đây. Tôi muốn xua cái im lặng, bèn chỉ bức hình khác, lên tiếng: “Còn đây là hình Phong, phải không bác?”. Nghe tôi hỏi, lão đưa tay quẹt mắt, ra vẻ sung sướng lắm. Lão khoe: “Thằng Phong, cháu nội tôi đó. Mà thầy cũng biết nó rồi mà”.
Quả thật, tôi đã biết Phong trên các báo cùng những trang mạng viết về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông… Tôi cũng có lần trò chuyện với Phong khi cậu ta chuẩn bị tư liệu làm đề tài nghiên cứu. Tôi nắm tay lão, nói:
– Tôi có biết Phong. Vừa rồi, cậu ta thuyết trình về đề tài Biển Đông thành công. Xin chúc mừng bác.
Lão cười hãnh diện:
– Các thầy ở Sài Gòn đánh giá cao lắm. Tôi cũng mừng thầy ạ.
Tôi nắm tay lão, niềm vui trong chúng tôi như nhân đôi. Tôi cười, nói:
– Qua đợt hội thảo vừa rồi, nhiều đồng bào, học giả, luật sư trong nước và ngoài nước đánh giá rất cao.
Nghe tôi nói như vậy, mắt lão như sáng lên. Và lão nói một mạch như thể những lời sau lão đã thuộc lòng: “Đề tài này cùng với các chứng cứ, tư liệu lịch sử khác, chắc chắn khẳng định thêm chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam mình. Thầy biết không, tôi lấy làm vui khi bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, tặng cho Tập Cận Bình bản đồ Trung Quốc mà biên giới cực nam là đảo Hải Nam. Tôi tin trước sau gì của Caesa phải trả lại cho Caesa thôi. Trước sau như một, Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”.
Nghe lão nói, tôi cũng tin là vậy. Người dân Đà Nẵng cũng tin là vậy. Và tôi tin ai là con Lạc, cháu Hồng, ai là người yêu nước Việt Nam cũng tin là vậy. Tôi tiếp lời lão:
– Bác nói thế là phải. Rõ ràng mình đầy đủ bằng chứng, pháp lý. Nhưng phải chờ thời cơ thôi.
Lão gật đầu. Chợt tôi nghe tiếng thở dài của lão:
– Tôi thú thật với thầy, tuổi gần đất xa trời, tôi lại nhớ đảo lắm, nhớ Hoàng Sa lắm. Tôi mong có ngày về lại Hoàng Sa. Giờ, chỉ biết buồn thôi thầy ạ.
Tôi gật đầu đồng tình. Tôi thấy lão nhìn thẳng vào mắt tôi. Lão không nói, nhưng qua ánh mắt lão, tôi như nghe tiếng từ trái tim của người từng ở Hoàng Sa. Tôi nghe rõ nhịp đập của trái tim lão. Tôi cũng nghe rõ nhịp đập của tim tôi như hòa cùng nhịp đập của bao anh hùng, chiến sĩ, của bao ngư dân, bao đồng bào thôi thúc lòng mình: “Phải về lại Hoàng Sa. Đó là lẽ tất nhiên”.
Tôi nhớ lại, rất nhiều lần thì phải. Khi học sinh hỏi về Hoàng Sa, tôi đã nói rõ cho các em biết đó là một phần máu thịt của Tổ quốc. Đó là đất đảo, biển trời của dân tộc Việt Nam. Tôi cũng nói rõ cho các em biết từ xưa cha ông ta từng trấn giữ xứ này. Hoàng Sa vẫn mãi ngời ngời trong lịch sử dân tộc. Máu cha ông, xương cốt cha ông còn nằm ở Hoàng Sa. Biết là vậy. Nhưng không thể không đau xót khi quê hương của mình bị kẻ khác cưỡng chiếm.
Chợt điện thoại rung. Tôi xin phép lão nghe. Tôi lấy điện thoại từ túi quần ra nghe. Biết là ở Nhà xuất bản gọi điện. Họ xin lỗi tôi về việc họ đặt cho tôi một bút danh khác vào truyện ngắn “Đau đáu Hoàng Sa” của tôi. Tôi chủ động tắt máy khi họ xin lỗi xong.
Cất điện thoại vào túi, tôi nghe lão ho. Lão nói trong cơn ho:
– Càng ngày tôi thấy mình càng yếu. Nhiều điều muốn làm cho xong, nhưng vẫn chưa xong. Tôi thấy lo lo, thầy ạ.
Vừa nói lão vừa đưa tay che miệng. Tôi chú ý từng cử chỉ của lão. Quả là lão già, lại yếu nữa. Tôi động viên lão:
– Sống thọ như bác là quý lắm rồi. Mà bác còn lo chuyện chi nữa?
Lão lại ho. Rồi thở. Lão gắng tiếp chuyện:
– Không phải tôi lo cho cái mạng sống của tôi. Tôi lo là lo chưa làm tròn với lời tự hứa của mình.
Tôi an ủi:
– Bác cứ nghỉ cho khỏe. Chuyện chi rồi cũng sẽ qua thôi.
Tôi đứng lên, lại ngồi sát lão, nắm tay lão, tâm tình:
– Xin lỗi bác. Bác có thể cho tôi hỏi bác hứa chuyện chi rứa?
Lão cười buồn:
– Như tôi đã tâm sự là mong có ngày tôi sẽ về lại Hoàng Sa, nơi tôi làm việc trước đây. Không biết tôi có về được không?
Tôi vẫn nắm tay lão như muốn nói rằng lão cứ tin là có ngày ấy. Lão bỏ tay tôi ra, đưa tay chống xuống ghế, đứng lên. Lão tiếp lời:
– Thầy có rảnh không? Tôi muốn thầy xem cái ni, chắc thầy sẽ hiểu tôi hơn.
Tôi cười gật đầu:
– Dạ, nếu bác cho phép.
Rồi lão lọ mọ vào trong. Một lát trở ra. Trên tay lão là chiếc chìa khóa. Lão lại tủ sách. Tra chìa vào ổ khóa, mở tủ. Tôi chú ý thấy lão lấy cuốn album. Lão lên tiếng:
– Đây, tất cả ở trong cuốn ni đó thầy. Xin thầy bằng lòng nghe tôi kể nghe.
Nghe lão nói thế, tôi lấy làm vui.
Ngồi cạnh lão, tôi xem từng bức ảnh. Những bức ảnh đen trắng, có chỗ nhòe. Lão khoe. Nào là chỗ làm việc của lão ở trạm khí tượng. Này là lão đang múc nước ở giếng được chụp lại. Có vài bức ảnh lão chụp chung với lính. Lão nói với tôi, những người ấy là bạn thân của lão ở đảo. Giờ họ đã yên phận của họ rồi. Tôi thấy lão như muốn khóc. Lão kể, máu của những người ấy đã hòa vào đất đảo Hoàng Sa trong cuộc Hải chiến 1974. Lão kể. lúc ấy lão chỉ biết muốn hét thật to muốn gào thật lớn trước họng súng của quân thù. Nhưng lão không chết. Lão bị bắt. Sau đó được trao trả.
Ngồi xem một lúc, lão lên tiếng:
– Thầy biết không, tôi như thuộc những dòng chữ của thằng Vũ viết trong nhật ký: “Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu…”.
Lão đứng lên, lại tủ, lấy ra một cuốn tập, nói với tôi:
– Đây là cuốn nhật ký của Vũ. Những gì còn lại của nó.
– Bác có thể cho tôi coi được không?
– Được thôi. Nếu thầy muốn coi.
Tôi lật từng trang nhật ký. Nét chữ đẹp, cứng rắn. Chỉ là tình cảm của Vũ. Nào là nhớ vợ, nhớ con khi làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Nào là đối đầu với sóng to, bão dữ. Nào là thiếu nước. Nào là yêu đảo, coi đảo là nhà. Không biết bao nhiêu thứ nào là… Tất cả chỉ là lòng của người lính đảo.
Trong nhật ký, tôi thấy có một trang, dưới những hàng chữ gạch chân bằng mực đỏ có ghi lại lời mà lão vừa nhắc lại khi nãy. Tôi mở tiếp, lại thấy trang vẽ bản đồ Việt Nam và vùng biển Đông có hai trái tim. Một trái tim ghi Hoàng Sa. Còn lại ghi Trường Sa. Và ở dưới ghi câu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”.
Đang xem, tôi nghe điện thoại rung. Tôi xin lỗi lão, rồi mở nghe. Phước gọi điện nói là có Khiêm và một số bạn mời tôi uống cà phê vào chủ nhật đến. Chả là có chút tiền nhuận bút, gặp anh em văn nghệ cho vui. Tôi nói là sẽ đến.
Bỏ điện thoại vào túi quần, tôi nhìn đồng hồ, trò chuyện với lão cũng đã lâu, tôi bèn chào lão ra về. Lão tiễn tôi ra tận cổng.
Lão nhắc lại:
– Khi nào rảnh, thầy nhớ lại nhà tôi chơi nghe!
Tôi đưa hai tay lắc lắc tay lão, nói:
– Dạ, tôi sẽ ghé thăm bác mà.
Tôi tạm biệt lão. Ra về mà lòng những vấn vương những gì lão kể…
Được nghỉ hè, tôi có rảnh đôi chút. Tôi không bận giữ cháu, cũng không bận dạy hè. Đang đọc sách, có điện thoại. Tôi mở máy. Lão Ban gọi. Lão mời tôi đến nhà lão chơi. Tôi hẹn là sẽ đến thăm lão.
Đúng hẹn, tôi đến thăm lão. Lão mừng ra mặt. Tôi thấy lão khỏe hơn đợt trước.
Lão rót trà mời tôi uống. Thực sự tôi chẳng ghiền trà, nhưng khi nghe lão nói trà ni là do Phong, cháu nội lão mới gửi về. Lão được dịp khoe với tôi là Phong đang qua Pháp, rồi sau đó sang Mỹ nói chuyện về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Có lẽ người già thường hay kể về quá khứ của mình. Và lão cũng thế. Như mọi lần, lão kể những gì lão nhớ. Lão kể, hai tuần trước lão sốt li bì, tưởng chết đi được.Tôi nghe thế, xin lỗi lão là không biết lão ốm, nên không thể đến thăm. Lão cười chọc tôi: “Không biết thì không có lỗi mà thầy”. Tôi cũng cười vui khi nghe lão nói thế.
Rồi lão kể giấc mơ về lại Hoàng Sa. Lão nhớ đâu kể đó. Kể hồi ra đảo khi làm công tác khí tượng. Kể thằng Vũ biết cười khi có con ốc mà lão mang về từ Hoàng Sa. Rồi lão kể lão mơ về lại Hoàng Sa trong niềm vui khôn tả. Lão như thấy lại cái giếng nước, nhớ lại bạn bè thuở nọ ở Hoàng Sa.
Lão kể ngày ấy sẽ đến. Dẫu mai này, lão từ giã cõi đời này, thì con cháu lão cũng sẽ thay lão về lại Hoàng Sa. Lão khoe với tôi là con cháu lão sẽ đưa lão, có thể là di ảnh của lão về lại cái giếng ngày xưa, về lại mảnh đất lão làm khí tượng ngày nào.
Tôi nghe lão kể, thấy trước mắt tôi không chỉ có lão, con cháu lão, và kể cả tôi, mà thấy cả gần trăm triệu người Việt về lại Hoàng Sa.
Tôi thầm gọi: Hoàng Sa ơi, hẹn ngày về lại Hoàng Sa!

Năm 2014
Phan Trang Hy

THU PHÂN

dangphuphong

Mưa thật nhỏ nhưng hồn ta lụt
Thu Phân lá úa khóc tơ trời
Năm tháng trói chân nằm góc phố
Giòng sông xưa mấy lúc đầy vơi.

Hoang vu mắt biếc đêm Ai Cập
Em nhỏ lòng ta hạt long lanh
Tinh khiết như sương trên đỉnh núi
Thành Troy có cháy vẫn còn em.

Phóng tay hào phóng thu còn mãi
Giòng sữa miên man chảy xuống đời
Em nẩy mầm non xanh vũ trụ
Em cười cho tất cả chơi vơi.

Tay vỗ giấc mơ. Tay múa kiếm
Lăng ba vi bộ giỡn đùa thu
Dốc ngược Thu Phân thành Hạ Chí
Cho đời tròn trịa khối tình thu.

Tóc xanh còn ngát hương hoa bưởi
Em dại khờ chi chút phấn son
Nưả ở nưả về tâm bất định
Sương thu chợt xuống lúc hoàng hôn.

Đặng Phú Phong

Mầu tẩm liệm.

 

luutrongtuong

Mầu trắng dãi khăn sô
Hay mầu đen tang tóc.
Mầu trắng cánh thiên thần
Hay mầu than địa ngục?
Mầu tẩm liệm là mầu nâu của đất
Hay mầu xanh âu yếm của chân trời.
Là mầu đỏ hỏa thiêu ngột ngạt
Hay mầu tro lạnh ngắt đáy biển khơi?

Ôi, mầu tẩm liệm ta đang khoác lên người
Áo thụng dài xanh khăn đóng tím
Với nụ cười giã từ trần thế giữa cơn say.
Mầu tẩm liệm, nắp quan tài đóng kín
Giữ tình xưa hoan lạc khỏi xa bay.
Mầu tẩm liệm phải chăng là mất mát
Hay khởi đầu cho cụộc sống ngày mai?
Mầu tẩm liệm bi ai hay hạnh ngộ.
Mà giọng cười tiếng khóc chẳng ai hay.
Có biết chăng chỉ người trong huyệt mộ.
Trắng đen vàng một giãi chẳng tận cùng
Xanh trắng đỏ ái ân còn rực rỡ.
Ðầu non xa mầu áo liệm đang chờ.

Ta ướm thử lên người cơn mộng mị
Sao nghe êm như có một bàn tay
Rất quen thuộc, xa xăm và mềm mại
Làm mây che vuốt mắt cuộc tình đầy.

Mầu tẩm liệm khoác lên mình tê tái
Ngoài hành lang sương mở lối dẫn đường
Nghe hiu hắt lòng trần còn bận bịu
Tiếng khóc ai lạc lõng giữa hồi chuông.

Trong tẩm liệm vẫn còn hơi dan díu
Vải mới xạc xào như cởi áo tân hôn.
Mầu tẩm liệm ăn năn cùng tội lỗi
Mặc một lần qua ngọn ải tục tiên.

Lưu Trọng Tưởng
(GÓC ĐỜI TÔI)

KHÁCH LẠ

nguyentancu

Bước ra khỏi nhà thờ tôi là con chiên ghẻ
Đi ra khỏi căn nhà kia tôi là người khách lạ
Rời khỏi căn phố kia tôi là tên lưu lạc
Và rời khỏi đất nước nây – tôi là kẻ lưu vong
.
Rời khỏi tình yêu của em
Tôi thành người phụ bạc
Rời khỏi thân xác của em
Tôi dục vọng khốn cùng
.
Tôi rời khỏi tôi
Vô luân khủng khiếp
Tôi không phải là . . . tôi
Khi đã đánh mất tôi rồi
.
Nếu ngày mai kia tôi lưu lạc nơi nào
Không thể tin tôi trở thành khách lạ
Nếu ngày mai tôi lưu vong
Và đánh mất
Trái tim của tôi
Đất nước của mình
.
Và thân xác của em
Và Tình yêu của em
Tôi biết tìm ở đâu
Khi thế giới chói lòa
trong ánh sáng
có một người
bật khóc giữa đêm khuya
.
Tôi phụ bạc
vì lòng tôi đầy dục vọng
Tôi vô luân
Vì đã mất . . . đức tin rồi
Và khi ấy – tôi biết rằng Đất Nước
Có gông cùm kia
Tôi vẫn ở lại nơi nầy
Và khi ấy
Cho dù em bội ước
Tôi vẫn chết nơi đây
Cùng với đất nước nầy !