UỐNG RƯỢU VỚI LỖ TRÍ THÂM

khatiemly

Ta mời nhau chẳng lời khách khí
Một bên thư hương, bên kẻ võ biền.
Múa thiền trượng thách cùng phường ma quỷ
Khí phách giang hồ đãi bốn biển anh em.

Ta vẫn biết căn lành mình chưa đủ,
Nhưng chiếc áo nào làm được nhà tu?*
Ta uống rượu mà lòng trong như rượu,
Ngũ giới chỉ dành cho kẻ phàm phu!

Ta giận chết lũ trong môi ngoài miệng,
Mượn áo Như Lai mua bán Phật, Trời.
Đệ cười chết kẻ làm “thơ té giếng”
Dựa thế dựa thần thoát nhảy lên ngôi!

Cũng chỉ bởi quan ôn tham, ác.
Nên Lương Sơn nghĩa sĩ tuốt gươm mài.
Bởi chữ nghĩa rơi vào thời mạt pháp,
Nên trường văn bút đệ lạc loài!

Trời đất rộng chẳng thiếu gì hảo hán,
Kẻ chân tu còn khó gặp hơn trời!
Uống đi đệ! Hẹn một ngày rực nắng
Quảy túi giang hồ trăng gió thảnh thơi chơi!

Kha Tiệm Ly

* Trộm ý câu “chiếc áo không làm nên nhà tu”

TRỜI CỐ XỨ

nguyenbacson

Trời mưa ở Nha Trang làm tôi nhớ bạn đến rơi nước mắt
Khi thấy rượu tràn sôi vành ly
Hoa sứ đỏ rụng nhiều xui tôi nhớ ngày đi trọ học
Nhà em láng giềng cửa sổ mở đêm khuya
Tưởng tượng có người thanh niên ngồi im trong quán gió
Khi chuyến xe đò tách bến trong mưa
Chuyến xe chở người đàn bà mang áo khoác
Tóc dài như tóc của em xưa
Tôi sợ tình yêu như sợ nhìn về viễn kiếp
Tôi ngại quê nhà nhưng lại hoài hương
Biết đâu mẹ tôi không đang sơn xanh ngôi nhà, mở toang từng cánh cửa
Mong bóng tôi bỗng hiện cuối con đường
Nơi cổ thành kia tôi đã lớn khôn đã cười đã khóc
Đã đem lòng thương mến Cúc Hoa em
Đã sống âm thầm những năm bất khuất
Soi chiếu đời với những que diêm
Tưởng tượng giữa trưa có người thanh niên nghe tiếng con gà trống gáy
Nghĩ đời mình trôi dạt biết bao nhiêu
Máu tôi lẫn máu người du mục
Nhưng lòng tôi e gió thổi đìu hiu
Các con ơi, tưởng tượng ba mỗi ngày ôm theo nón sắt
Đứng chờ xe trước ngã ba đường
Phải lộn sòng theo gái giang hồ và những tay mỗ mật
Các con sẽ thấy lòng người đen bạc ở quê hương
Cổ thành kia ơi, cổ thành bạc bẽo
Đuổi xua người trai trẻ mến thương người
Vì sao người thành ra bãi rác
Thành ra nơi đĩ điếm chuột heo ruồi
Các con, thế nào ba cũng dọn nhà đi viễn xứ
Dù tình quê hương rất khó nguôi khuây
Nhưng nghĩ giòng sông đã nhơ, lòng người đã đục
Đâu có người thương tiếc đám mây bay

NGUYỄN BẮC SƠN

NHÀ VĂN DUYÊN ANH: ĐỜI LƯU VONG BI KỊCH

 

doanthachhan

Cho dù Duyên Anh có thế nào đi nữa, thì ông cũng là một người cầm bút, không có lấy một tấc sắc trong tay để tự vệ. Nhân danh bất cứ một điều gì để tấn công và hạ thủ một người như thế rõ ràng là một tội ác.

Là một trong những nhà văn nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975, Duyên Anh được biết đến như một con người nhiều tài, lắm tật, miệng làm hại thân! Tôi quen biết Duyên Anh từ lâu, từ dạo tôi vẫn thường hay chầu rìa những canh xì phé nảy lửa của những “hảo thủ” lừng lẫy trong làng báo Sài Gòn trước 1975 với một vài doanh nhân, chính khách. Thuở đó, thân phận và túi tiền của tôi không đủ “tư cách” ngồi cùng chiếu với các đàn anh. Vào sòng xì phé là có thể biết ngay tính cách của từng người. Duyên Anh thích “tháu cáy” và khích tướng đối thủ, nhưng lại rất cay cú khi bị người khách “tháu cáy”. Thế nhưng sau 1975, tôi mới thật sự thân thiết với Duyên Anh. Ông từng coi tôi như một người bạn vai em ruột rà. Điều này đã được ông viết trong hồi ký.
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó. Lại có lúc quảng cáo cho gánh xiếc rong, rồi giữ xe đạp hội chợ… Sang trọng nhất là làm gia sư, dạy kèm cho trẻ con và dạy đàn ghita, sáo trúc cho những người theo học vỡ lòng nghệ thuật.
Duyên Anh làm thơ rất sớm, đến những năm cuối của thập niên 50, ông bắt đầu viết văn xuôi. Viết để thỏa mãn giấc mơ cầm bút, chẳng đăng đâu cả. Mãi đến năm 1960, ông được nhà văn Trúc Sĩ dẫn tới diện kiến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, lúc đó đang làm chủ bút tờ Chỉ Đạo. Bài thơ “Bà mẹ Tây Ninh” – sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên tờ báo này. Một tháng sau, thêm truyện ngắn “Hoa Thiên Lý”, rồi “Con sáo của em tôi” tiếp tục có mặt trên tờ Chỉ Đạo, với lời giới thiệu bốc tới mây xanh của Nguyễn Mạnh Côn. Ngay lập tức, ông được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Mỗi truyện được trả nhuận bút 5.000 đồng, thời đó mua được hơn một cây vàng. Nguyễn Mạnh Côn tỏ ra rất ưu ái, tận tình nâng đỡ Duyên Anh để sáng tác của ông thường xuyên xuất hiện trên văn đàn. Và đây cũng là đầu mối oan nghiệt cho cả hai sau này.
Đến năm 1961, khi ông Nguyễn Mạnh Côn rời tạp chí Chỉ Đạo thì Duyên Anh đã thành danh. Ông bắt đầu tung hoành làng báo Sài Gòn với nhiều bút danh khác nhau: Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Nã Cẩu, Lệnh Hồ Xung, Độc Ngữ …bằng một giọng văn châm chọc, hết sức cay độc. Thời đó, có hai nhà văn làm báo mà người ta sợ nhất, đó là Chu Tử với bút hiệu Kha Trấn Ác, trong mục Ao Thả Vịt và Duyên Anh. Nạn nhân của Duyên Anh không phải chỉ toàn là người xấu, mà nhiều khi chỉ là một ai đó bị ông ghét, cũng bị ông lôi lên mặt báo, “đánh” không thương tiếc! Sự kiêu căng, miệng lưỡi cay độc của ông đã gây dị ứng cho không ít người. Một nhân vật lãnh đạo chóp bu của Việt Nam Cộng hòa, khi lưu vong ở Mỹ đã bắn tiếng với ông Tô Văn Lai của chương trình Thúy Nga Paris rằng: “Bảo thằng Duyên Anh câm mồm nó lại”.
Duyên Anh được xem như tay tổ trong loại sách “xúi con nít đập lộn”, với những cuốn tiểu thuyết viết về giới du đãng rất ăn khách như “Điệu ru nước mắt”, “Sa mạc tuổi trẻ”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”. Tác phẩm của ông từng ngợi ca tay anh chị Trần Đại (Đại ca Thay) như một kẻ giang hồ mã thượng. Trong một bài phỏng vấn, tuần báo Đời hỏi ông: Tại sao trong thời buổi nhiễu nhương lại tôn vinh một tay du đãng, sống ngoài vòng pháp luật lên tận mây xanh? Duyên Anh trả lời: “Chính vì thời buổi nhiễu nhương, không có thần tượng cho tuổi trẻ, nên phải đi tìm cho họ một mẫu thần tượng. Xem ra, Trần Đại là xứng đáng hơn cả”.
Duyên Anh là người thẳng thắn, yêu, ghét rạch ròi. Đã quý mến ai rồi thì ông sống trọn tình, trọn nghĩa với người đó.
Năm 1978, Duyên Anh gặp lại Nguyễn Mạnh Côn trong trại cải tạo. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có thâm niên hơn 40 năm là đệ tử của ả phù dung nên sức khỏe rất yếu. Biến chứng tâm, sinh lý của một con người có quá trình “phi yến thu lâm” (đọc trại cho… sang chữ “phiện, thú lắm”) quá dài nên khi bị bắt buộc phải cai, cơ thể ông bị hành hạ liên tục. Do đó, sinh hoạt của ông rất bê bối, khiến đa số trại viên khác, dù có thông cảm đến mấy cũng không muốn gần gũi, chia sẻ, trong đó có Duyên Anh. Người khác chẳng sao, nhưng với Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn cho rằng đó là bội bạc. Nhiều lần ông Côn nói với mọi người: “Không có tôi thì đã không có Duyên Anh! Tôi mà không biên tập nát ra thì truyện của nó ai mà thèm đọc”. Và Duyên Anh đã phản ứng theo đúng tính cách kiêu ngạo của ông: “Không có “Côn Hít” thì Duyên Anh vẫn là Duyên Anh. Ông Côn giỏi sao không biến một thằng cha căng chú kiết nào đó thành một văn tài mà phải đợi đến Duyên Anh?” Từ đó, cả hai nhìn nhau tuy bằng mặt, mà không bằng lòng. Cũng chỉ có thế, ngoài ra Duyên Anh không có bất kỳ hành vi, thủ đoạn nào ác ý với Nguyễn Mạnh Côn, như lời đồn đại đầy ác ý của những kẻ thù ghét Duyên Anh sau này. Nhiều người biết rất rõ chuyện này, hiện vẫn còn sống…
Năm 1981, Duyên Anh được trở về với gia đình khi vợ và các con đã định cư tại nước ngoài. Năm 1983, ông vượt biên sang Malaysia, rồi sinh sống tại Pháp, tiếp tục viết. Cùng phận lưu vong nhưng ông không tiếc lời thóa mạ những đảng phái, phe nhóm chính trị lưu manh đang hoạt động tại hải ngoại. Duyên Anh gọi bọn họ là những kẻ giả hình, những tay lừa bịp, mộng du, chiến đấu trong chiêm bao. Ông cũng lên án đám lãnh đạo, chính khách, tướng tá của Việt Nam Cộng hòa toàn là một lũ vô tài, bất tướng, giàu của cải nhờ bóc lột, nhưng quá nghèo nàn liêm sỉ và nhân cách.
Duyên Anh đã gục ngã ở một nơi được ca tụng như là thiên đường của thế giới tự do. Cũng tại nơi đó, nhà báo Đạm Phong, nhà văn Hoài Điệp Tử… đã bị sát hại một cách tàn nhẫn; cựu sinh viên Đoàn Văn Toại (nhạc gia của ca sĩ Trần Thu Hà) đã bị bắn trọng thương bởi những đồng hương quá khích do bất đồng chính kiến. Năm 1988, Duyên Anh sang thăm Hoa Kỳ. Xui cho Duyên Anh, ngày 30/4/1988, ông cùng một người bạn – họa sĩ Trần Đình Thục đi trên đường Bolsa, đúng vào lúc mặt trận bịp bợm Hoàng Cơ Minh đang biểu dương lực lượng, với mấy chục người loe hoe… Trước đó, Duyên Anh đã từng không tiếc lời chỉ trích mặt trận bịp này trên báo Ngày nay bằng những lời lẽ nặng nề. Ông còn viết cả một cuốn tiểu thuyết mang tựa đề “Tuổi bướm sầu” để vạch trần bộ mặt đểu cáng của những tên chóp bu và những hành động bỉ ổi của mặt trận này. Nhận ra Duyên Anh, một gã thanh niên có thân hình vạm vỡ cầm một cục đá từ trong đám đông xông ra. Duyên Anh bị đánh tới tấp vào đầu, gục xuống trên vũng máu. Sau ca cấp cứu, ông được đưa về Pháp sống đời phế nhân, cánh tay phải và nửa thân hình gần như liệt hẳn. Điều đáng nói, hầu như tất cả các phương tiện truyền thông của người Việt ở hải ngoại, không nơi nào dám lên tiếng bênh vực Duyên Anh, hoặc lên án hành động mang nặng tính khủng bố của những kẻ chủ mưu. Người ta chỉ thấy một vài tờ báo Việt ngữ loan tin một cách hả hê bên cạnh tấm hình Duyên Anh nằm bất tỉnh, đầu vẹo sang một bên, giây nhợ chằng chịt từ đầu xuống cổ!
Dư luận trong cộng đồng người Việt hải ngoại rộ lên nghi vấn chính mặt trận Hoàng Cơ Minh là thủ phạm. Chúng đã cho tay chân sát hại Duyên Anh để trả thù chứ không chỉ là một trận đòn dằn mặt. Một nguồn dư luận khác, cũng không kém phần sôi nổi, và cũng được nhiều người tin, dù rất mơ hồ, không cơ sở: Duyên Anh bị những người yêu mến Nguyễn Mạnh Côn hành hung để phục hận cho những ngày hai người sống chung trong trại cải tạo. Trong giới văn nghệ sĩ của Sài Gòn trước đây đang sống ở hải ngoại cũng có người vì hiềm khích cá nhân với Duyên Anh mà công khai lên tiếng công kích ông một cách mạnh mẽ. Điển hình là trường hợp Tạ Tỵ.
Trước 1975, Duyên Anh và Tạ Tỵ đã như sừng với đuôi. Sau giải phóng, NXB Công an nhân dân có phát hành cuốn sách “Những tên biệt kích cầm bút”, trong đó có điểm tên nhiều văn nghệ sĩ sừng sỏ của Sài Gòn. Tuyệt nhiên không thấy có tên Tạ Tỵ. Nhưng theo Duyên Anh, khi sang Mỹ, đi đâu ông Tạ Tỵ cũng tự nhận mình có tên trong số “những tên biệt kích” đó. Duyên Anh giễu cợt Tạ Tỵ “nhận xằng, khôi hài”. Lửa đổ thêm dầu, Duyên Anh càng trở thành cái gai trong mắt ông Tạ Tỵ.
Nhưng cho dù Duyên Anh có thế nào đi nữa, thì ông cũng là một người cầm bút, không có lấy một tấc sắc trong tay để tự vệ. Nhân danh bất cứ một điều gì để tấn công và hạ thủ một người như thế rõ ràng là một tội ác. Duyên Anh kéo dài cuộc sống tàn phế tại Pháp, cho đến ngày 6/2/1997 thì qua đời vì bệnh xơ gan.
Tác giả bài viết này còn nợ Duyên Anh một món nợ tinh thần. Trong một lần đau ốm, ngỡ mình sắp chết, Duyên Anh đã nhờ tôi học thuộc lòng một bài thơ của ông với lời căn dặn một ngày nào đó, gặp được vợ con của ông thì đọc cho họ nghe. Ông đọc cho tôi, Đằng Giao và Dương Đức Dũng cùng nghe, bắt học thuộc lòng và sau đó xé mất. Đó là bài thơ có tựa đề là “Đảng tử sám hối”. Trong bài có những câu tự vấn lương tâm và thói kiêu ngạo một thời: “Ta dại khờ múa hát giữa ngàn hoa/ Ca bóng tối cứ ngỡ là ánh sáng/ Ta ru hồn ta tháng ngày bịnh hoạn/ Với kiêu sa dị hợm chút tài hèn/ Hỡi cánh diều căng gió vút bay lên/ Ngạo nghễ lắm mà quên dây sắp đứt/ Mũi tên oan phóng đi không thương tiếc/ Lưỡi gươm đau chém nát đóa môi cười/ Anh nhìn anh xưa thế đó em ơi/ Những đổ vỡ của một thời lang bạt…”.
Tôi tin là Duyên Anh thật sự sám hối. Hy vọng ở bất cứ nơi nào trên thế giới này chị Phương (vợ của Duyên Anh) và các cháu cũng như những ai một thời là bằng hữu của ông, hoặc từng thù ghét ông sẽ đọc được những câu thơ này bằng tấm lòng độ lượng đối với một người đã không còn trên cõi đời này.

Đoàn Thạch Hãn

EM

tonnuthudung

Tôi không thể đợi một ngày ly biệt
Để chia tay giấc mộng cuối đêm buồn
Em lơ đãng đã là sương điểm tuyết
Tan bên trời viễn xứ lạnh môi hôn.

Tôi không thể níu một vầng trăng khuyết
Hỏi về em mắt biếc thuở xa vời
Đành ôm lấy tim mình…
đau khốc liệt
Khuya khoắt nào em sẽ đến bên tôi?
(còn tiếp)

Tôn Nữ Thu Dung

Sự lợi hại của con mắt

NGAN

Con mắt của em nguy hiểm quá
Dại dột chi mà lại ngó vào
Ta đang chí lớn trong thiên hạ
Lẽ nào đần độn trước em sao

Do người xưa nổi hứng một câu:
Ngai vàng cũng còn thua đôi mắt
Do ta chưa đến tuổi bạc đầu
Nên nổi hứng thản nhiên ngoảnh mặt

Nhưng mà trời đất ơi, con mắt
Quay đi đâu cũng thấy rõ ràng
Thôi ta chịu lép người xưa vậy
Nhìn một lần cho mát ruột gan

Nhìn hai lần cho hết dọc ngang
Nhìn ba lần cho quên chí lớn
Thảo nào hoàng hậu bị cấm cung
Và công chúa ra đường che mạng

Đã lỡ thì phải nhìn cho đáng
Trước sau ta cũng bị chầu trời
Thà ngó thẳng em rồi chết đứng
Cho chàng Từ Hải phát ghen chơi

BÙI CHÍ VINH

Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của thi sĩ Linh Phương.

Leave_Me_Alone_by_SDJR

Trước và sau thập niên 70, chiến tranh Việt Nam bùng phát dữ dội và đó cũng là hệ quả tất yếu khiến hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh đến tuổi phải từ giã sự nghiệp, sách vở, giảng đường để tham gia cuộc chiến với nhiều cách khác nhau. Đó cũng là thời gian xã hội Miền Nam có nhiều biến động nhất: chiến tranh lan rộng sâu tận thành phố, những cuộc biểu tình lớn nhỏ dưới nhiều chiêu bài, khuynh hướng hỗn tạp, đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Và chính sự khủng hoảng chính trị, xã hội dẫn tới một hiện tượng không thể phủ nhận: văn đàn Miền Nam xuất hiện những khuôn mặt trẻ đầy bất ngờ, mới mẻ, phần nào làm mới sinh khí văn chương vốn dĩ bị che mù bởi dòng văn học hiện sinh, bị lấn át bởi những đàn anh tên tuổi. Đó là những Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Y Uyên, Vũ Hữu Định, Trần Thị Ngh… Công chúng, nhất là giới trẻ đã đón nhận họ như đón nhận một luồng gió mới, một sinh khí mới trong dòng văn học Miền Nam.

Thật ra luồng gió hay sinh khí mới kia cũng chẳng có gì lạ. Họ, những người trẻ viết văn, làm thơ không mang kiểu cách buồn nôn, chán nãn xa lạ mà, họ viết bởi cảm xúc chân thật bắt nguồn từ những gì xảy ra chung quanh, gắn liền với tình cảm, đời sống: một chút nhớ nhung về mối tình thời trai trẻ “anh theo Ngọ về/đường mưa nho nhỏ” hay một chút giận dỗi “nghe nói em vừa thi rớt Luật/môi trâm anh tàn héo nụ xa vời…rớt đi Duyên, rớt để thương người”. Và lắm khi là ngông nghênh, ngang tàn của người “lính thư sinh” sau những lần hành quân “mai ta đụng trận ta còn sống/về ghé sông Mao phá phách chơi/chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/đốt tiền mua vội một ngày vui” và “xin cảm ơn một mái tóc mềm/mai xa lắm trên đồn biên giới/còn một chút gì để nhớ để quên”. Và một tiếng kêu não lòng, xé ruột của Y Uyên: “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?”…

Những tâm tình bùi ngùi như thế lại được âm nhạc tiếp sức, đẩy lên một bậc khiến giới công chúng càng yêu thích luồng gió mới kia nhiều hơn.

Rồi theo trào lưu thơ phổ nhạc ngày càng thịnh hành, bất ngờ công chúng lại được nghe trên đài phát thanh Sài Gòn, trong các phòng trà đô thành, các quán cà phê: “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại…xin trả lời mai mốt anh về… anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…” khiến mọi người ngơ ngác hỏi: Linh Phương, tác giả bài thơ, là ai vậy? Hắn trong bưng làm thơ địch vận hay trong nhóm phản chiến? Thần hồn và tứ trong bài thơ cứ bình-thản-nức-nở, bình-thản-nghẹn-ngào, coi như không có gì ghê gớm. Rồi khi cái tứ đó đi qua những cung bậc cao thấp của nhạc sĩ Phạm Duy, cộng với chất giọng của Thái Thanh lại càng run rẩy, thê thiết hơn. Những năm tháng ấy, kẻ viết bài này chỉ mới là anh sinh viên trong giảng đường, tình cờ đọc trên tờ nhật báo Độc Lập đã thoáng giật mình! Càng giật mình hơn khi được biết Linh Phương viết bài Kỷ vật cho em trong lúc đang hành quân ở Chương Thiện khoảng đầu năm 1970! Trong khi đó, những người bạn tôi đang có mặt trên khắp bốn vùng chiến thuật lại cười ha hả từ những kbc có con tem anh chiến binh bồng súng xông tới, phong bì lấm lem bùn đất, sờn rách: “… mình chắc mẩm hắn cũng là lính. Hắn mô tả tâm trạng, hoàn cảnh sao đúng hoàn cảnh tụi mình quá trời. Mai mốt tụi mình có về trên đôi nạng gỗ có về hòm gỗ cài hoa hay trên trực thăng sơn màu tang trắng… thì các cậu chớ có ngạc nhiên, chớ có buồn! Đời trai chinh chiến mấy thằng sống sót trở về?”. Mấy câu ngắn ngủn kia mãi ám ảnh tôi. Ám ảnh bởi vẻ lạc quan, coi sống chết như chuyện có không của người bạn. Mà hắn đâu để mắt tới Ngũ uẩn giai không, hắn đâu biết gì về tâm kinh đâu ảnh hưởng gì về triết học Phật giáo? Chẳng qua khi đối mặt quá nhiều với cái chết, luôn rình rập bên cạnh, không báo trước thì con người ta chẳng còn buồn để ý đến nó? Cứ chờ đón nó một cách thản nhiên như trong bài thơ Kỷ vật cho em của Linh Phương.

Vào độ tuổi ra trận mạc ấy, hẳn ai cũng có người yêu, ít ra cũng em gái hậu phương, thản hoặc một Dạ Lan từ trời cao thầm thì, chia sẻ với các anh mỗi đêm. Ấy vậy nhưng khi em của Linh Phương hỏi: Em hỏi anh bao giờ trở lại thì nhà thơ cứ thẳng đuột trả lời mai mốt anh về, có thể bằng nhiều cách về khác nhau:

…Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca…
…Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt…
…Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân…

Về bằng con đường nào thì thân thể thế hệ các anh không còn nguyên vẹn như lúc ra đi. Họ đã chắc chắn như vậy, nên chi cứ tạo một tâm thế trong những tình huống khắc nghiệt để em chuẩn bị đón nhận những bất toại trong cuộc sống chỉ có khói lửa trước mặt!

Những tình huống Linh Phương đặt ra trong bài thơ là sự thường tình, vì tự cổ kim các tình huống đó đã đến với mọi chiến binh, như trong Lương Châu Từ của Vương Hàn:

…Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Nhưng sự “không trở về” của người xưa có vẻ nhẹ nhàng, thanh thản còn với Linh Phương thì lại ưu uất, dằn xé tâm can:

Thì thôi! Hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.

Một sự chia cắt bi thảm, không phải lỗi ở nơi hai người, anh và em gây ra, mà chỉ vì một viên đạn màu đồng và hàng triệu viên đạn vô tình hay cố ý như thế trong giai đoạn máu lửa kinh hoàng bất ngờ găm thẳng vào ngực, từ những tranh chấp về chủ nghĩa và quyền lực điên cuồng!

Những bài khác trong tập Kỷ Vật Cho Em, giọng điệu thì bớt đi vẻ đau xót, bi thương nhưng những cách nhà thơ đưa hiện tượng cuộc sống vào thi ca, thì bức tranh nguệch ngoạc kia lại có vẻ tàn nhẫn hơn nhiều, dưới những góc cạnh khác nhau trong xã hội chiến tranh. Chất thơ bớt đi vẻ nồng nàn sâu lắng, nhường chỗ cho loại ngôn ngữ kể sắp lớp, như thể buổi sáng thức dậy đi ngang qua quảng trường, bỗng thấy người ta trưng bày xác quân địch cụt đầu, mất chân, ruột gan phơi tràn ra ngoài… với một cảm giác buồn nôn, ớn lạnh:

Có người vợ nào không tủi thân
Trước giờ sinh đẻ
Được tin chồng nằm xuống
Trận Đakto-Đồng Xoài-Bình Giã
Đức Cơ-Phù Cũ-Tam Quan
Có người mẹ nào không tủi thân
Khi đứa con đầu lòng mở mắt
Đã để tang cho bố.

(Làm vợ người cầm súng)

Càng kinh khủng hơn nữa, khi nàng góa phụ đã chấp nhận mọi cái giá phải trả, thì sợi dây cuối cùng còn lại của tình yêu giữa chàng và nàng là đứa con trai đầu lòng. Hẳn rằng đứa con trai ấy còn rất nhỏ, chưa biết giận hờn, chưa biết yêu ghét, đầu óc sáng trưng như tờ giấy trắng. Vậy nhưng, vì những tai trời ách nước giáng xuống, khiến nàng mất tất cả, đến nỗi ngày sinh nhật con nàng phải tặng:

Mẹ cho con viên đạn AK còn ngời sáng
Mẹ cho con quả lựu đạn M.26 còn thơm mùi thép mới tinh
Mẹ cho con mảnh mìn Claymore nằm trong lồng ngực bố
vừa chết trận U Minh
Con ơi con!

(Cho đứa con trai đầu lòng)

Trên đời này hiếm có người mẹ nào hành động như vậy. Rất có thể người mẹ giữ được tất cả các vật dụng vũ khí gây chết chóc kia, nhưng hành động và thái độ tặng cho con những thứ giết người dã man ấy, nhân ngày sinh nhật, thì không hẳn là hận thù chồng chất lên mãi. Nó mang tính chất tố cáo nhiều hơn. Cách dàn trải ngôn ngữ liệt kê như trên, nhà thơ chỉ muốn phơi bày bộ mặt thật, tàn nhẫn của hậu quả chiến tranh. Đó là tiếng gào bi thống, là sự phản kháng không cân sức giữa một góa phụ hay nhiều góa phụ với chiến tranh. Họ biết rõ họ không thể ngăn được cuộc chiến dừng lại, họ cũng không đủ sức trả thù. Và sự trả thù ngọt ngào nhất là sự phản kháng bằng những hành động tưởng chừng phi nhân bản, nhưng kỳ thực đó là tiếng kêu bi thương của loài người đang đứng bên bờ vực hủy diệt, tàn sát phi nhân.

Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Họ chán ngán bởi cuộc chiến kéo dài khủng khiếp, tranh chấp triền miên. Họ tuyệt vọng bởi ngày nối tiếp năm là bom rơi đạn nổ, sự bình yên, niềm hạnh phúc như một miền mơ ước không bao giờ có thực: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…”.

Hệ lụy của những tháng năm khói lửa triên miên là thái độ buông thả, thất vọng. Họ hối hả sống, hối hả yêu, hối hả bấu víu mỗi sáng thấy thân thể còn nguyên vẹn:

Tuổi trẻ tôi biết yêu và yêu rất vội
Sợ không kịp yêu đến ngày mai
Sợ chiến tranh còn dài
Đời người thì quá ngắn

(Giấc mơ màu đỏ)

Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn. Thoắt một cái đời thư sinh chuyển thành đời chiến binh, rồi phế binh: buổi sớm mai anh thay áo học trò/buổi sớm mai anh mặc đồ nhà binh, chỉ một tích tắc, một chớp mắt chuyển dịch! Vậy là:

Thôi trước ngày anh vào lính
Hãy ngủ cùng em đêm nay lần cuối cùng
Hãy dã man trên thân thể con gái còn đẹp

(Trước ngày anh vào lính)

Chuyện dã man trên thân thể con gái còn đẹp giữa em và anh trước ngày anh vào lính không phải là vấn đề tình dục, không phải là sự trao đổi thân xác thông thường hay tệ hơn là bán buôn, mà chính là vội vã tranh cướp lấy đời sống ngắn ngủi bởi cảnh ngộ đẩy đưa, bởi sống-chết khó lường/chỉ cần tích tắc.

Phải sống mãi trong những hoài nghi, thất vọng… cũng có lúc lóe lên chút niềm tin, hy vọng. Họ tin ngày mai sẽ có hòa bình, ngày mai tiếng súng sẽ im, sẽ mở ra những viễn tượng tươi sáng trên quê hương. Họ, những chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt sẽ nghĩ gì, làm gì trong những ngày tươi đẹp mai sau?

Một ngày mìn định hướng không đặt
Lựu đạn không gài
Máy bay không bỏ bom
…Tôi vui mừng như lần cắp sách đến trường.

Nhưng đó mới chỉ là một ngày tạm yên tiếng súng. Còn mai kia, nếu hòa bình sẽ đến trên quê hương khốn khổ này thì sao? Và Linh Phương đã vẽ ra:

Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội
…Ngày em hân hoan mặc áo dài dạo phố
Ngày em hân hoan ngồi trong rạp Rex xem phim lãng mạn ái tình…
…Ngày tôi không còn mặc đồ quân nhân ở nhà nuôi vợ đẻ.

(Trong ngày hòa bình)

Câu thơ như câu nói giữa hai người với nhau. Chất thơ mất đi và thay bằng ngôn ngữ đời thường để tỏ bày một ước vọng nhỏ nhoi, như thể tiếng kêu cứu của những kẻ bị đắm tàu giữa biển khơi mênh mông, trùng trùng sóng dập!

Đó cũng là khuynh hướng chung của những người làm thơ trẻ thuộc thế hệ anh. Những Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định hay Đinh Trầm Ca, Nguyễn Dương Quang… đều có cùng một tâm trạng như vậy, và bày tỏ niềm hy vọng, mơ ước mong manh như vậy, để cuối cùng chút ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn cứ lùi xa tít và tắt ngấm đâu đó trong các trận chiến ngày càng tàn khốc hơn.

Hỡi hòa bình lạ mặt yêu dấu
Sao người cứ kiêu hãnh như giai nhân
Hoài hoài lỗi hẹn
Khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần
Làm sao chờ được trăm năm
Mà đến trăm năm còn gì xương máu anh em

(Hà Thúc Sinh – Xin hãy đến Hòa Bình)

Cảnh chiến tranh tàn khốc đã biến các nhà thơ trẻ thành những người cà khịa, ngông nghênh, bất cần đời nhuốm chút ngang tàng dễ thương, trở thành những bài thơ khẩu khí, ví như Nguyễn Bắc Sơn:

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy dựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đi picnic
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
…Lúc này đây ta không thèm đánh giặc.

(Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi, nxb Đồng Dao, SG 1971)

Họ ăn nói, sử dụng ngôn ngữ thơ một cách thoải mái tự do, như giỡn như đùa, không vì chính kiến, không lý tưởng này nọ mà nếu như ở một thể chế khác, các nhà thơ không thể có gan trời như thế!

Còn một Phan Xuân Sinh thì:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
…Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(Phan Xuân Sinh – Uống rượu với người lính Bắc phương)

Có trời mới giải thích tại sao người lính Bắc phương lại dám ngồi “đối ẩm” với người lính phương Nam? Họ đã nhận ra điều gì trong những ngày điên cuồng bắn nhau? Họ đã nhận ra điều gì trong câu khẩu hiệu: “Nhắm thẳng đầu thù mà bắn”. Là anh em với nhau rồi sao? Là máu mủ ruột thịt rồi sao? Hay là chiến tranh làm họ mệt mỏi, buông xuôi là hệ lụy của một thái độ, một chọn lựa từ ý thức trong sạch?

Có thể đó là thái độ bất cần. Nhưng thái độ bất cần đó đâu hẳn là tính vô kỷ luật trong quân đội? Cũng chưa phải là tinh thần phản chiến đang bắt đầu nhẩn nha, đậm đặc trong đầu óc họ? Mà chỉ là sự bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ của tuổi trẻ về cuộc chiến tranh quái gở phi lý kia. Tuổi trẻ Bắc Nam can cớ chi mà thù hận nhau? Tôi nhớ rất rõ một truyện ngắn của Lê Văn Thiện trên tạp chí Bách Khoa trước 75, có tựa “Xuất ngoại bằng trực thăng võ trang” có đoạn viết đại ý: Không biết Quốc Vương Shihanouk có ngồi ỉa như tụi mình?… Sao cứ bắt ra trận đánh nhau hoài? Muốn tranh bá đồ vương thì lãnh tụ hai bên chọn bãi đất đẹp, hai người tha hồ quần thảo, kẻ thắng thì được, ai thua thì mất hết. Sao lại bắt dân đen phải hứng chịu?

Nếu chỉ có vậy thì đâu có E.M. Remarque, đâu có E. Hemingway hay một P. Gallico với những tác phẩm viết về chiến tranh hay đến vậy? Và nếu như thế thì làm gì có một Phan Nhật Nam với Mùa Hè Đỏ Lửa, Thế Uyên với Tiền Đồn, Y Uyên với Bão Khô, Bảo Ninh với Nỗi Buồn Chiến Tranh hay một Kiều Mỹ Duyên với Chinh Chiến Điêu Linh…?

Chiến tranh thật quái gở, bởi không do nhân dân chọn lựa, không phát khởi từ ý thức của nhân dân, mà từ những chủ nghĩa quái gở, từ những quyền lợi của kẻ cả khống chế.

Nhìn nhận được chỗ phi lý kia, lớp người trẻ tuổi bị bắt buộc tham chiến bắt đầu chửi đổng. Chỉ là chửi đổng sau những cuộc hành quân, chửi đổng trong mấy ngày phép được về thành phố… và rồi bật ra những câu “không thể tha thứ” đối với quân kỷ, chủ nghĩa…

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân


Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch thủy
Thề chẳng trở về với tay không


Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
“Hận kẻ bạc tình” trên cánh tay


Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô


Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân


Mai mốt này đây ra trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung

(Hành quân)

Trích trọn bài, bởi tôi nghĩ, đây là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Linh Phương, và có thể là tiêu biểu cho cả thế hệ anh trong cuộc chiến tranh không có lối thoát. Hẳn nhiên sẽ có người không đồng tình theo cách nghĩ của tôi, vì trong hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ thời kỳ đó cũng hay, cũng tiêu biểu? Đồng ý. Tuy nhiên cái hay cái tiêu biểu của những bài thơ kia là những cảm xúc, những phơi bày ở khía cạnh khác; trong khi hành quân, Linh Phương đã phác họa thành công khuôn mặt méo mó của thế hệ anh, đầu óc méo mó với cái nhìn cũng méo mó và chân thực không kém của hàng triệu người hai bờ Nam Bắc phải cúi đầu, nén lòng cầm súng.

Nơi xứ người giá rét, đọc được tập thơ này, bỗng nhói đau một thời kỳ đen tối hiển hiện trước mặt và không thể dằn lòng, bèn thốt lên vài tiếng, vẽ vời vài dòng về Linh Phương về tuổi trẻ và chiến tranh Việt Nam kéo dài, tàn phá mọi nhân phẩm đạo đức, đảo lộn mọi trật tự xã hội suốt hai mươi năm trời: Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Và để lại một gia tài “di căn mụt nhọt” cho nhiều thế hệ tiếp theo!

Nguyễn Lệ Uyên
(Seattle, đầu đông tuyết phủ mịt mù)

Trích Trang sách và những giấc mơ bay – tập I (Thư Ấn Quán, 2010)

ĐẤT NƯỚC NHỮNG NĂM KHÔNG CHIẾN TRANH

 

nguyenhuynh

Đất nước tôi những năm không chiến tranh
thiếu tiếng súng nhưng quá thừa tiếng khóc
của người nông dân mất đất
hạt mầm nứt vỏ trên đôi bàn tay nứt nẻ
không biết đặt vào đâu
nức nở bây giờ không thể gọi tên.
những resort sân golf lạ hoắc
người nông dân tiếc của đứng ngoài tường rào
bóng các quan thầy vun vút gậy
như loài ma trơi ném lân tinh lên trời
người nông dân ngửa mặt giơ cao hạt thóc
sinh linh này tôi đặt vào đâu?

Nước thì chảy về chỗ trũng
còn tiền bạc chảy ngược lên cao.

Đất nước tôi những năm không chiến tranh
biển hòa bình nhưng biển có bình yên?
chiếc thuyền câu không đợi được trăng lên
không đợi được gió nam nồm trở thổi
không đợi được câu hò lưới đăng lưới đó sắp trỗi
đã chìm sâu dưới bao lớp sóng
sóng ngoại xâm hà hiếp chiếm ngư trường
sóng cướp biển cướp đảo lè lưỡi bò chiếm dần bờ cõi
sóng nhu nhược bờ này nhưng tàn bạo bờ kia
người ngư dân nuốt nước đắng vào trong
bạn thuyền ơi nước mắt đã cạn dòng!

Kẻ nhu nhược náu mình nơi đất trũng
người khí khái thích đứng ở đồi cao.

Đất nước tôi những năm không chiến tranh
những chiến trường xưa cỏ lá đã thành ngàn
nhưng chiến trường nay xơ xác xã hội tan nát đạo đức
nơi đầu đường xó chợ
nơi giảng đường lớp học
nơi cao nguyên rừng rú
trẻ con bây giờ biết học cách hạ thủ vi cường
những bạo lực học đường tàn nhẫn
những vụ án thương tâm
những câu chửi tục ngôn ngữ tiếng lóng lên ngôi
đào đâu ra tiếng thở dài non nước?

Con đường Duy Tân, ngày xưa Hoàng Thị
Chiếc áo dài bây giờ xấu nhất Việt Nam.
Đất nước tôi những năm không chiến tranh
nhưng có những cái chết còn xót xa hơn chết trận
một người già vừa chết trôi sông
một trẻ sơ sinh vừa vứt xác ngoài đồng
một thanh niên vừa vào cửa pháp quyền
trở ra thành thây ma bầm dập
một cô dâu tươi tắn trên phi trường xuất ngoại
đã trở về trên chiếc xe tang
những ôsin rãi khắp thôn làng ngõ xóm thế giới
chết bờ chết bụi, nước mắt nhỏ ngược lên trời.

Đất nước tôi những năm không chiến tranh
có khi chiến tranh để tất cả cùng hướng về phía quân thù ?

NGUYỄN HUỲNH
(Tháng 10/2015)

Biệt cố nhân

phamngoclu

Người cũ ba năm lòng ẩm mốc
Tình cũ mười năm như nhang thơm
Chôn đóa hoa ngàn năm không mộ
Không ngờ không táng một làn hương

Nghi ngút khói, rơi rơi tàn mộng
Nghìn đêm người cũ đốt tình xưa
Nát mùi hương từ đêm thu rụng
Đau cánh phù hoa nở trái mùa

Rêu vẫn đơm hoa trên bia mộ
Không thuyền quyên dưới mộ phong vân
Người cũ thắp bài thơ tình cũ
Bái biệt nghìn thu không cố nhân !

PHẠM NGỌC LƯ

Quê hương ơi Đừng khóc nữa !…

tranthitrucha

Hình như mắt tôi cay nồng khi đặt chân lên đất Mũi Cà Mau !
Bạn bè đồng nghiệp cười nói xôn xao khi được nhìn thấy một vùng đất lạ lẫm với sông nước vây quanh. Hai tiếng đồng hồ trên tàu cao tốc, đi qua những ngôi nhà mái lá lụp xụp ẩn mình trong bóng cây trôi nổi bồng bềnh, những đứa trẻ gầy gò lặng yên nhìn theo bóng dáng những con thuyền đi qua, không cười nói , không chạy nhảy , nô đùa như những đứa trẻ được sống trên mặt đất bằng phẳng. Các em nghĩ gì , mơ gì trong những đôi mắt thơ dại ?!…
Ôm cột mốc mũi Cà Mau ở vĩ độ bắc 8 . 37. 30, kinh độ đông 104. 43 và mơ đến một ngày nào đó đặt chân lên Ải Nam Quan. Số phận của dân tộc tôi như cuộc đời của người phụ nữ đa đoan trong nghèo khó. Dân tộc tôi có quá nhiều anh hùng sao cũng lắm nỗi bi thương?!
Nỗi đau từ trong cuộc chiến và hậu chiến mà những người thân của tôi gánh chịu, chẳng có nỗi đau nào giống nỗi đau nào nhưng đã làm cho cuộc đời của họ trở nên lầm lụi và tan nát.

Mẹ chồng tôi trước khi nhắm mắt đã trăn trối : ” Các con cố tìm mộ ba con đem về bên mẹ “. Bà không biết chữ nhưng thông minh lạ thường, lao động lam lũ đến nổi đến nổi sinh rớt đứa con đầu lòng trong luống rau khoai khi gánh nước tưới rau. Đứa bé nằm trong bọc, khi gọi được bà mụ đến cắt rốn thì bị ngạt, ba ngày sau là mất.
Sáu tháng sau, ba chồng tôi quyết định bỏ bà ở lại và lên đường mà không hề biết rằng bà đã mang thai sau đêm chia tay, bào thai đó là chồng tôi , giọt máu duy nhất của ông để lại trên cõi đời này. Bà bỏ lại mảnh ruộng hương hoả của nhà chồng chia phần, về phố buôn gánh bán bưng nuôi con ăn học.

Sau năm 1975, bà chờ đợi ngóng trông…
Người ta lần lượt quay về đoàn tụ nhưng ông không về. Đồng đội đi cùng ông cũng không ai quay về báo tin. Bà lặn lội đi tìm.
Người thì bảo ông vào Bồng Sơn. Người thì bảo ông chết ở núi rừng A Lưới vì đói và sốt rét…
Nản quá bà quay về tiếp tục buôn gánh bán bưng và bảo con trai: ” Thôi cố học kiếm ít chữ mà sống, không đi lính tráng cho ai nữa hết.” Vậy mà đến khi nhắm mắt bà vẫn còn trăn trở !

Một buổi chiều tôi đến chơi nhà người bạn thân, gặp mẹ chồng cô ấy ở quê lên thăm con cháu.
Như duyên kì ngộ ! Bà là một chiến binh trở về và là người đi cùng đoàn với ba chồng tôi. Bà chậm rãi nói trong hồi tưởng:
…Đoàn người đi trong mùa mưa rừng khắc nghiệt, vừa đói lả vừa rét lạnh. Những buôn làng dân tộc vùng A Lưới không cho vào trú ngụ, phải cắm trại ngoài lán rừng để ngủ, có người không chịu nổi đã trốn và quay về đồng bằng. Ông ấy bị sốt rét rừng, không có thuốc mà phải ăn sắn… Ông ấy không qua khỏi, đồng đội còn lại khoảng mười người đã đào huyệt bằng tay, đất núi lổm chổm sỏi đá, chỉ đào được cài huyệt nông chèn vừa người ông nằm, không có quan tài chỉ có tấm vải dù cùng những tư trang ông ấy mang theo.
Chồng tôi mắt đỏ hoe hỏi trong nghẹn ngào :
– Có ai còn sống sót cùng bà trong đoàn đó không hở bà ?
Bà nhớ có một ông hiện nay đang sống ở Hải phòng, tên là …
-Bà có còn nhớ đặc điểm nơi chôn ba con không ?
Trí nhớ của bà bây giờ rất tệ , bà chỉ nhớ nó nằm bên một con suối, có cây cổ thụ và một tảng đá rất lớn. Có lẽ con nên tìm ông ở Hải Phòng hỏi thêm. Nhưng bà nói thật, không còn gì đâu con à , mưa lũ qua bao nhiêu năm đã cuốn trôi xuống suối xuống sông rồi.

Chuyến đi lên A Lưới để tìm cha đã được chuẩn bị thật kĩ càng với bao hy vọng.
Chàng cùng những người bạn thân ba lô, gậy gộc , dao xẻng cùng người đồng đội của ba mình ở Hải Phòng mà chàng đã ra công tìm kiếm và năn nỉ thảm thiết , ông cũng đã già nên sợ những chuyến đi gập ghềnh về núi rừng. Ông già say xe nghiêng ngã cho đến khi xe dừng lại ở thị trấn A lưới . Ông xuống xe đi quanh một vòng rồi ngao ngán lắc đầu:
Không còn lại dấu tích gì của A Lưới ngày xưa.
Con suối hiền hoà nước trong vắt không phải là dòng suối đục ngầu trong mùa mưa lũ, có bao nhiêu gốc cây cổ thụ, có bao nhiêu tảng đá … Buôn làng có những người phụ nữ váy áo mang sắc màu của thành phố, thanh niên chạy xe máy ào ào qua những con đường hai bên vách núi cheo leo.
Chàng ngồi thẩn thờ trên phiến đá bên suối, cạnh người đồng đội của cha mình thất vọng đến rệu rã.

Từ đó chàng bắt đầu đi tìm những nhà ngoại cảm.
Nghe nói ở đâu có nhà ngoại cảm tìm được mộ của người thân là chàng lao đi, bất kể xa xôi, bất kể ngày đêm.
Một đêm chàng về rất khuya và bảo tôi đi theo chàng đến nhà một người bạn.
Ở đó có rất đông người đang chờ đợi nhà ngoại cảm BH từ Hà nội vào.
Thoạt nhìn tôi đã ngờ ngợ vì nhà ngoại cảm này không giống cô BH mà tôi đã xem trên phim ảnh, báo đài, cô cao lớn hơn, khuôn mặt cô thô hơn, không thanh tú như cô BH. Tôi nói nhỏ điều này với chàng nhưng cô gái đi theo phục vụ cô BH lừ mắt bảo im. Tất cả ai muốn được cô BH giúp đều qua sự sắp xếp của cô này.
Cô ấy nói rằng cô BH không nhận tiền, chỉ làm việc thiện nguyện nhưng vì đường xa phải lo vé máy bay, khách sạn nghĩ ngơi, ăn uống và thuốc men để giữ sức cho cô nên tuỳ lòng hảo tâm của gia chủ. Chàng náo nức tìm cha nên chẳng tiếc gì tiền bạc. Cô ấy bảo chúng tôi về soạn hoa quả cúng và thắp hương khấn xin trước sau đó cô BH sẽ vào nhà.
Cô BH đang thắp hương khấn vái lầm thầm bỗng dưng mặt cô đỏ bừng, nước mắt ràn rụa ôm lấy chàng nức nở :
-Con ơi ! ba về đây, ba khổ lắm, rét, lạnh , nhớ con.
Cô gái đi theo nhắc nhở:
-Hỏi nhanh đi ! ba ở đâu cho con biết con đi tìm.
-Nghĩa trang Bồng Sơn, bên phải , dãy 3, số 5 .
Đến đó con sẽ thấy có một người đàn ông lưng gù mắt kém, hãy cám ơn bác ấy vì bác là người chăm sóc hương khói cho ba.
Tôi vội vàng ghi vào sổ tay trong khi chàng gục đầu khóc nức nở.

Cuộc hành trình đi tìm cha lần thứ hai có phần nhẹ nhàng đỡ vất vả hơn.
Chúng tôi đến nghĩa trang vào lúc trời xế trưa nắng nóng, bụng đói cồn cào nhưng chàng như vội vã lao đi, tôi năn nỉ :
-Anh à, mình vào quán cơm này ăn trưa rồi mua thêm ít hương đèn bánh trái cúng đi anh.
Người đàn ông chủ quán có khuôn mặt thật phúc hậu hỏi :
-Anh chị đến đây tìm mộ người thân phải không?
-Sao anh biết ?
-Gần đây tự dưng có rất nhiều người ở xa đến đây tìm mộ người thân.
-Vậy hở anh ? Nghĩa trang này được xây dựng từ năm nào anh biết không ?
-Từ năm 1979, trước đây nằm trên ngọn đồi cao kia kìa. chính quyền di dời về đây nên rơi rớt nhiều lắm…
Chúng tôi nhìn theo hướng tay của người đàn ông chỉ, đó là ngọn đồi cao đầy hoa lau trắng. Giọng người đàn ông vẫn đều đều bộc bạch:
-Đây là vùng đất bom đạn ác liệt nhất, dân gánh gồng bỏ chạy đi tha hương tứ xứ, họ mới quay về sau năm 1975. Nhưng chẳng làm ăn gì được nhiều, ruộng đất khô cằn nhưng vẫn còn nhiều bom mìn chưa gỡ hết, thỉnh thoảng vẫn có người tan xác vì cuốc nhằm bom mìn. Anh chị đã đến đây rồi thì hãy thắp hương cho tất cả những người đã nằm xuống, dù đó có là người thân của anh chị hay là không phải thì cũng là người dân Việt mình. Họ chết đau đớn lắm ! Có nắm mộ hơn chục người không biết ai là ai, có nấm mộ của những thanh niên mới mười chín đôi mươi… Vậy mà vẫn còn những kẻ nhẫn tâm lợi dụng cái chết thương tâm để buôn thần bán thánh…
Lúc đó tôi không hiểu lời người đàn ông địa phương nói gì, sau này chiêm nghiệm lại tôi mới hiểu.
Nghĩa trang nằm trên ngọn đồi thấp, đi lên bằng những bậc tam cấp, người đàn ông đi ra từ căn phòng nhỏ như một trạm gác bước ra. Tôi hồi hộp nhìn cái lưng gù và đôi kính đen trên mắt ông, chàng đưa giấy tờ cho ông xem và trình bày ý nguyện tìm mộ cha theo nhà ngoại cảm dự đoán. Ông gật gù im lặng trải tấm sơ đồ nghĩa trang, chỉ vào dãy 3 bên phải đi vào, ngôi mộ thứ 5 là ngôi mộ vô danh. Tôi thấy lòng nhẹ nhỏm. Lặn lội đường sá xa xôi tới đây nhỡ như mộ ở vị trí này có tên của người khác thì thật hụt hẩng.
Tôi bày bánh trái hoa quả lên mộ, tay chàng luống cuống bật hoài diêm ga không đỏ, tôi bình tĩnh hơn phụ giúp chàng.
Chàng quì trước mộ khóc :
Ba ơi, con đi tìm ba theo ý nguyện của mẹ , nếu thật sự là ba thì hãy cho con một niềm tin…
Chàng cắm chiếc đũa trên mộ rồi run tay đặt quả trứng đứng thẳng trên chiếc đũa.
Thật lạ lùng chẳng khác nào ảo thuật !
Và chúng tôi đã tin, vì cô BH căn dặn như vậy.
Khi cô nói điều đó tôi nghĩ làm sao thực hiện được, vậy mà với đôi tay run rẩy, luống cuống chàng vẫn đặt được quả trứng đứng thẳng trên chiếc đũa vững vàng.
Chúng tôi cứ để nguyên như vậy suốt buổi chiều.
Những đứa trẻ tóc hoe vàng vì nắng, mặt nhọ nhem gầy gò như những cành cây khô lấp ló ở bìa thành chờ đợi, tôi cầm những bao kẹo ra phát cho chúng, tội nghiệp! chúng rụt rè nhận và chạy vụt đi gọi những đứa trẻ khác đến.

Ngồi lặng trong gió chiều, tôi nghe rưng rức buồn.
Sao có quá nhiều nấm mộ vô danh?
Những người nằm trong huyệt mộ kia là anh hùng sao?
Họ nghĩ gì khi bỏ lại sau lưng gia đình, vợ con, ruộng nương, nhà cửa…?
Những người thân của họ cũng đau đớn, khắc khoải chờ đợi trong hoài vọng, nhớ nhung… để rồi họ nằm đây giữa núi đồi hoang hoải.
Không biết ở thế giới đó họ buồn vui thế nào ?
Tôi nghe văng vẳng một bài ca cũ xao xác trong tiếng gió.
Mờ trong bóng chiều
Một đoàn quân thấp thoáng

Ra biên cương trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió.

Chiến sĩ vô danh, anh hùng vô danh !
Còn những ngôn từ nào đẹp hơn để có thể bù đắp cho những sự mất mát đau đớn của họ? Những người phụ nữ cô độc chờ đợi chồng trong vô vọng, những đứa trẻ thiếu vắng tình thương của cha phải ngơ ngác, lạc loài trong suốt thời thơ bé cho đến tận bây giờ như chàng. Họ đã mong đợi điều gì khi ra đi và khi nằm xuống, những người còn sống trở về và thế hệ kế tiếp đã làm gì với hậu chiến ?!

Bổng dưng tôi thấy lạnh người, một miền kí ức đau buồn và khốc liệt hiện về.
Buổi chiều cuối tháng 3, nắng vẫn ngọt ngào trong tiếng súng vang rền vọng về từ rừng dương liễu. Mẹ tôi đeo những chiếc ruột tượng quanh bụng các con dặn dò :
-Phòng khi chạy lạc, thì các con hãy lấy tiền trong này ra để mua thức ăn…
Tôi núp trong hầm cùng với các em, ba mẹ tôi chạy lên chạy xuống băng bó cho những người dân bị thương, ba mẹ tôi làm nghề y, nhà tôi là một bệnh xá tư. Hai anh trai lớn đã được gởi cho người bạn lên tàu trốn ra biển. Ai cũng sợ một cuộc ác chiến đẩm máu xảy ra.
Vậy mà chỉ khoảng một giờ trưa, tiếng súng im bặt một cách bất thường. Những dân quân du kích địa phương áp tải một đoàn lính thất trận bê bết máu vào bệnh xá của gia đình tôi băng bó. Ba me phải huy động tất cả y tá và người giúp việc cũng phục vụ không xuể. Một người lính ngồi ủ rũ bên thềm nhà với cây đàn guitar trên vai. Cánh tay anh bê bết máu. Tôi nhìn sững anh, anh giống anh trai tôi quá, chỉ khác là khuôn mặt anh cương nghị, rắn rỏi già dặn hơn. Bổng dưng tôi nghĩ đến anh tôi không biết đang lênh đênh trên mặt biển không biết sống chết thế nào. Tôi cầm chai thuốc sát trùng và cuộn băng ngồi xuống băng bó vết thương cho anh thật nhẹ nhàng. Anh nhìn tôi mắt đỏ hoe.
-Cám ơn bé nhiều lắm … Bé cho anh gởi lại cây đàn… Hãy giữ dùm anh !
Rồi anh lặng lẽ nhập vào đoàn quân thất trận thất thểu bước đi dưới sự áp tải của những dân quân du kích…

Cuộc sống trở lại bình yên.
Tôi trở lại trường học, bạn bè lơ thơ dăm ba đứa, phải dồn ba lớp lại mới ngồi đầy một lớp học, bàn ghế xộc xệch, sân trường đầy rác bẩn, rơi rớt vương lại vài tấm vải lều rách nát của người dân tị nạn, hồ sơ học bạ bị đốt sạch … Chúng tôi học trong tiếng ve sầu héo hắt, có những người thầy, người bạn tôi đã ra đi, có những nằm lại với biển trong cuộc trốn chạy tao loạn và cũng có những người quay trở lại với dáng điệu rã rời và ánh mắt cam phận.
Trong những người quay trở về có thầy tôi !
Người thầy mà tôi ngưỡng mộ kính yêu, những giờ văn của thầy cuốn tôi vào một thế giới lung linh của chân thiện mỹ, tôi yêu văn chương từ lời dạy của thầy.
Thầy cũng thất thểu trở về với bầu đoàn thê tử, Thầy đến trường để trình diện và xin dạy lại nhưng không được chấp nhận mà phải chịu sự quản lí của địa phương.
Một ngày u ám, ngôi nhà bị khám xét, Thầy bị bắt đưa đi học cải tạo vì là sĩ quan biệt phái.
Vợ thầy là người phụ nữ có nét đẹp yếu đuối, dịu dàng, cô ngơ ngác với bầy con nheo nhóc sáu đứa, những đồ đạc còn lại trong nhà lần lượt ra đi để đổi lấy miếng ăn. Hết đồ đạc để đổi cô đổi lấy thân… làm sao đành lòng nhìn con đói rách gầy gò vì thiếu ăn, mặc cho hàng xóm xì xầm dè bỉu. Ngày mồng năm tháng năm, nhà người ta có bánh trái xôi chè ngập bàn, nhà cô lạnh ngắt, tôi hái những trái xoài chín trong vườn nhà mẹ đem đến cho các em, cô ứa mắt :
-Các em nói với cô,ngày mồng năm má nấu cho bọn con nồi cơm không độn và nồi canh chua thật ngon ăn một bữa cho đã thèm đi má…
Năm năm sau thầy trở về, không còn bóng dáng hào hoa, uy nghi của thầy tôi nữa. Đó là người đàn ông tóc đã bạc mầu, nước da vàng như nghệ, đôi mắt muộn phiền cam chịu. Thầy sửa soạn lại chiếc xe đạp cũ và làm nghề xe đạp thồ. Những người hàng xóm nhiều chuyện xầm xì to nhỏ về cô , thầy lắc đầu lảng tránh. Không thấy thầy giận hờn trách cứ gì cô mà chỉ thấy Thầy càng yêu thương chăm sóc cô nhiều hơn.

Những ngày tháng đầy cơ cực và thiếu đói, tôi vẫn thường về quê thăm ba mẹ và để kiếm thêm lương thực .Buổi chiều nghe tiếng nhốn nháo của đám đông ngoài ngõ, vội vàng chạy ra nhìn thấy người đàn ông nằm trên đám cỏ gai la hét chưởi bới, mắt vằn lên những vệt máu đỏ, mặc kệ cho đám cỏ gai cào rách da thịt. Mọi người im lặng như nhìn một màn ảo thuật quen mắt, trên gương mặt họ thật thờ ơ vô cảm…
Mẹ nói với tôi:
-Thằng đó bắn nhiều người quá nên bây giờ những oan hồn nhập vào hành hạ nó.
-Bắn ai hở me ?
-Những người lính thất trận … Tội nghiệp họ có tội gì đâu … Có đứa non nớt như mới vừa rời sách vở bị bắt đi lính… chẳng khác gì con mình…

Me tôi ứa nước mắt
Kí ức về người lính đã gởi lại cây đàn hiện về.
-Có phải trong những người lính đó có cả người con đã băng bó và gởi lại cây đàn guitar ?
-Ừ ! Đêm đó nó lùa hết vào trường học sau nhà mình, đem bánh trái nước ngọt cho ăn … rồi sắp hàng bắn…. chôn chung trong một huyệt … ác quá !
Trời ơi, vậy mà tôi vẫn giữ cây đàn guitar mong ngày anh quay lại.

Tôi về lại thành phố nghe tin thầy tôi đã mất vì lao phổi. Cô lặng lẽ khóc, nước mắt của người đàn bà đẹp thật nao lòng ! Các con của thầy chưa đủ lớn để mưu sinh nhưng tất cả đều nghỉ học để tự kiếm lấy miếng ăn, những đứa con trai sắm chiếc xiên bằng sắt xuống bến đón những chuyến thuyền cá vào sáng sớm, những đứa con gái theo mẹ ra chợ mua đi bán lại những bộ quần áo cũ.
Nỗi đau buồn như nối tiếp đau buồn!
Cũng trong những ngày đó tôi nghe tiếng khóc ai oán của gia đình người hàng xóm đối diện nhà mình. Bình đã mất ở chiến trường biên giới phía Nam. Chàng trai vẫn lẽo đẽo theo tôi đi học về mỗi ngày, đôi mắt rụt rè hiền từ nhìn tôi như muốn nói bao điều mà chưa dám nói , chỉ đêm đêm thả vào sân nhà tôi những bức thư tình dịu dàng ướp nồng mùi hoa thiên lí. Hoà bình rồi kia mà sao Bình lại phải ra đi và nằm xuống ở vùng đất xa xôi không phải là quê hương mình. Mẹ Bình mất trí, bà không tin là con trai mình đã chết , cứ chiều chiều ra ngõ ngóng con trai , gặp ai cũng hỏi : ” Có thấy thằng Bình tôi ở đâu không ? Sao nó đi lâu quá không về ?”

Thanh bình!
Tên của bạn tôi là Thanh Bình, đó là khát vọng muôn đời của một dân tộc đã chịu quá nhiều nỗi đau buồn của chiến tranh. Vậy mà sao đến bây giờ nước mắt vẫn cứ rơi hoài ?!…
Chồng tôi rơi vào trạng thái trầm cảm không cười, không nói từ khi phát hiện ra bị nhà ngoại cảm lừa dối trong việc đi tìm kiếm mộ cha. Thầy tôi lao lực quá sức trong mưu sinh và nỗi đau tinh thần đeo bám mà sinh bịnh tật qua đời. Mẹ của bạn tôi vẫn mỏi mòn ngóng con trong điên loạn…
Nỗi đau của hậu chiến, người nằm xuống và người ở lại, ai buồn hơn ai ?!…Biết đến bao giờ nước mắt sẽ thôi rơi ?
Cây đàn guitar của người lính để lại vào những đêm có gió lao xao một khúc nhạc lạnh lòng. Mẹ tôi đem cây đàn ra đốt, những sợi khói mong manh cuốn bay về trời…

Trần Thị Trúc Hạ

NỢ NHAU

tranvannghia

Nợ nhau từ lúc sang đường
Những bài thơ cũ nhòe sương phố chiều
Ngập ngừng con dốc xanh rêu
Dầm mưa đêm nhớ nét kiêu sa người

Nợ nhau nợ đến cả đời
Lêu đêu theo tiếng lá rơi cuối vườn
Lẻ đàn chim gọi tà dương
Lẻ đôi tôi gối đoạn trường tìm ai

Nợ nhau nợ giấc mơ dài
Rót hư ảnh chẳng đầy chai rượu tình

TRẦN VĂN NGHĨA