Ký: Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

phamnga

Ta buồn bã khiêng mùa thu xuống núi
Mưa phùn bay nhè nhẹ ở ngoài trời
Ta cóng lạnh nhìn em cười nụ nhỏ
Đẹp vô cùng nhưng ngắn ngủi, tan, vơi…

THƯỢNG THUẬT
(Khiêng Mùa Thu Xuống Núi – tạp chí Văn, 1972)

1.
Tôi và Châu kết bạn từ hơn 50 năm trước ở Sài Gòn. Hồi đó, tôi đang học đệ nhị C Pétrus Ký thì bạn trong lớp rủ vô một thi văn đoàn học trò – nhóm ‘Văn Nghệ Tim’. Tôi sớm kết thân với anh chàng nhóm phó đặc trách thơ – Ngô Văn Châu, người nghĩ ra tên nhóm. Trong giới thơ văn học trò lúc này rất phổ biến cái kiểu chọn bút hiệu khá cải lương, như trong nhóm tôi thì Châu xưng Hà Thy Châu, tôi xưng Dzũng Thy do khoái cái âm ‘Z’ trúc trắc, rồi Hà Mộng Thủy, Đỗ Lệ, Trần Thiện Ngã, Sa Miên…
Châu nghỉ học sớm, nhưng bù lại anh sớm có thơ và truyện ngắn đăng ở nhiều nhật báo, tạp chí văn hóa – nghệ thuật như Văn, Tự Thức, Thời Tập, Thời Nay, Tuổi Ngọc…, trong đó tôi nhớ nhất là bài thơ Ta Buồn Bã Khiêng Mùa Thu Xuống Núi và truyện Người Tình Ngực Lép mà anh đều ký là Thượng Thuật, đăng trên Văn, tạp chí văn học – nghệ thuật danh giá nhất miền Nam thời xưa. Châu còn cặm cụi làm một cuốn bìa đen cỡ thật lớn để cắt dán những bài thơ, văn của nhóm viên Văn Nghệ Tim được đăng trên các báo…
Đến tuổi lính thì Châu trở về quê, đăng vô cán bộ Xây dựng Nông thôn ở Trung tâm Chí Linh, Vũng Tàu. Chẳng bao lâu, anh làm biên tập viên trong tờ Nước Ta, cơ quan ngôn luận của lực lượng “áo đen”.
Châu vừa ham mê đá banh đủ để viết bài tường thuật bóng đá, vừa mê mãi làm thơ lục bát đủ để gởi cho nhiều tờ báo lớn, nhỏ cũng như để tán gái. Đúng ra, máu me văn nghệ lai láng cỡ nào cũng không đủ tạo cho Châu vẻ phong nhã, hào hoa trước mắt con gái, do nhà thơ vừa lùn, tướng thô, y như một anh thâu tiền chỗ ngoài chợ, vừa thường xuyên túng bấn, tính mời bạn gái ly nước mía cũng phải đắn đo… Vậy mà không riêng gì vài cô gái trẻ, nhiều bà già, ông già cũng dễ cảm mến Châu vì gã dân Nam bộ thuần gốc này rất cởi mở, vui vẻ, lúc nào cũng ăn nói bải buôi, ân cần với bất cứ ai, bộc lộ tánh chất phác đến buồn cười. “Để anh Châu nói em nghe nè…”, lúc nào cũng cái giọng ngọt lịm ấy mà lấy thêm tình cảm của các cô ái mộ nhà thơ, hay lối xưng ngộ nghĩnh là hô lên đầy đủ tên họ, như “Bữa nào Ngô Văn Châu với Phạm Văn Khả làm tiết canh, lòng heo nhe Phạm Văn Khả?”, do Châu đề xướng trong giới bạn bè “đồ đen” đã khiến nhiều anh rất khoái nói chuyện với Châu.
Còn tôi, từng phải nhiều lần đành cười trừ, bỏ qua về chuyện có chút nhuận bút nào từ bài tôi viết cho tờ Nước Ta thì coi như tiền… “chiến sĩ trận vong” – đúng hơn là “chận vong”. Hỏi thì Châu cười hề hề vì sau khi ký lãnh dùm tôi tại tòa soạn, cậu mình tỉnh bơ ăn “chận”, làm tiêu “vong” hết số nhuận bút, chỉ để trả những chầu café thuốc lá cho bạn bè bất kể có mặt tôi hay không. Do tôi rủ vô làm thân hữu, Châu gởi thơ tình đăng trên tập san Nghiên Cứu Triết Học của nhóm Triết ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi nhóm ra tờ tạp chí văn học – nghệ thuật ‘Tự Thức’, Châu vừa đươc đăng thử vài bài thơ, chuẩn bị gởi tiếp thì xảy tới biến cố 30-4-75.

2.
Nhà thơ Thượng Thuật, con người lạc quan, chất phác ấy khó mà còn cười nói vô tư sau ngày 30/4. Học tập cải tạo xong, anh rời Vũng Tàu rút về xã An Ngãi, thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa, xin một ít đất của người bà con đề làm rẫy kiếm sống. Tôi thường chọc: “Ở chế độ mới, cấp cán bộ rất được trọng dụng, nể nang. Ở chế độ cũ mày cũng làm cán bộ chớ bộ, tiếc cái lại là cán bộ bình định nông thôn. Mà bọn ‘chiêu hồi’, ‘bình định’ như mày thì cũng ‘tội lớn với nhân dân’, khác gì ngụy quân tụi tao. Thôi về quê cắm câu là phải Châu ơi!”.
Muốn đến vạt rẫy khô cằn, nghèo mạt ấy thì từ phải quốc lộ đi Long Hải vượt qua khoảng 3 cây số đường mòn quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố, khu rừng thưa rất vắng người, cây dại um tùm. Tôi nhớ cứ mỗi bận gò lưng đạp xe vô rẫy Châu, cứ thầm nghĩ giờ mà xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì chắc chết, vì hoàn cảnh rất rất ngặt nghèo là phải lết đi ít nhất nửa cây số đường mòn mới mong thấy được một căn chòi, căn nhà lá nào đó.
Thấm thoát mấy chục năm trôi qua, nơi nhà thơ náu thân vẫn là nhà tranh, vách đất, vẫn đèn dầu, nước giếng và cây trái còi cọc ngoài rẫy – nghĩa là gia đình Châu vẫn nghèo, nghèo suốt. Thỉnh thoảng, ngặt nghèo quá, có khi Châu phải lén cắt cỏ tranh “lộn” bên đất người bà con để bán kiếm tiền đong gạo. Cho nên mỗi lần từ Sài Gòn xuống Bà Rịa chơi, phải sơ ý lắm tôi mới quên mang theo thứ quà cáp thực tế – đồ ăn, nhưng thứ ít thực tế hơn là sách báo, tạp chí thì bạn tôi cũng rất mong mỏi. Đặc biệt khi có ý định làm món gì đó ăn, nhậu với Châu, thường là tôi lễ mễ mang theo luôn đủ thứ, từ bột ngọt cho đến hành ngò.
Vậy mà trong những năm 80 – 90, hễ gặp lúc phiền muộn, bất đắc chí là từ Sài Gòn, tôi mò xuống rẫy Châu ở ít bữa. Cứ gọi là đi hoang, đi bụi, hay đi thiền gì cũng đúng, tôi muốn tìm đến một khung cảnh hoang sơ, vắng lặng, không điện, không nước máy, không nhà xí…
Chúng tôi thường uống ngoài vườn. Lúc nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây mít, mảng cầu điếc nào đó. Thứ rượu thuốc rẻ mạt mà bình toong nhà binh đựng được tới gần 5 xị, bọn tôi ‘cưa’ đôi với vài miếng cóc, ổi, khấm khá hơn thì có con khô đuối, khô hố hay một con rắn vô phước nào đó dám bò ngang lưỡi cuốc của Châu ngoài rẫy. Tôi thường tựa lưng vào gốc cây, uể oải đưa tầm mắt ra xa, vượt khỏi khu vườn còi cọc của Châu, nhìn về núi Dinh Cố. Bên dưới vài đám mây trắng lóa bởi nắng trời, sườn núi xanh rờn màu cây lá, lác đác vài chỗ chợt sẫm tối bởi bóng mây.
Chè chén kiểu “phong lưu hàn sĩ” mạt hạng như thế mả Châu cũng làm được thơ tình, thơ đời, tôi cũng viết được vài tản văn, tạp bút từ những cảm hứng ngông ngạo, hí lộng cuộc đời thời ấy. Rồi anh Hai Lúa đất An Ngãi làm gì có tiền để lên thành phố, tôi lại đem những bài lục bát của bạn về Sài Gòn và sau đó, thấy đăng trên mấy tờ báo tuổi trẻ, học trò, tờ Áo Trắng chẳng hạn.

3.
Hồi năm 1982, gia đình bên vợ tôi ngụ bên Vũng Tàu, do trong nhà có mấy anh em vượt biên ở Rạch Dừa nên bị chính quyến buộc phải “hồi hương, lập nghiệp” tức phải chuyển về Bà Rịa – quê ngoại của vợ tôi. Từ đó, tôi về Bà Rịa thường xuyên hơn, nhất là gặp lúc Châu tạm bỏ cái rẫy còi cọc ở An Ngãi để đi đẩy xe ba bánh chở rau, đậu ở chợ Bà Rịa kiếm sống, sau vài tháng ốm nhách, đen thui khi làm lò than bên Châu Pha.
Cũng lúc này, tôi làm nhân viên soát vé ở rạp xi nê Văn Cầm, Phú Nhuận. Biết tôi là sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo về, một cô thuyết minh phim ở rạp thố lộ mình là con vị chánh án tỉnh Phước Tuy cũ và ông cũng vừa ‘đi học’ bên ngụy quyền về. Khi đó, nghỉ chủ nhật là tôi dông liền về Bà Rịa, vô đất rẫy ở Long Đất, báo tin về vị chánh án cho bác Sáu Tí – ba Châu – vì ngẫu nhiên bác vốn là một cảnh sát viên áo trắng gác tại toà án Bà Rịa, tức tỉnh Phước Tuy cũ.
Cái tin tôi tình cờ làm việc cùng chỗ với con gái vị chánh án đã khiến bác Sáu hết sức vui. Lập tức bác bắt Châu chạy đi lấy thêm mấy xị nữa rồi truy cứu tiếp nơi tôi những thông tin quá nghèo nàn về vị xếp cũ. Có gì đâu, ông cảnh sát già đang sống lại cảm giác vinh quang của cái hồi được chuyển công tác, từ gác chợ về gác tòa án tỉnh. Sau bao nhiêu đổi thay, mất mát từ ngày 30-4, ông già thầm lặng đóng cửa với hiện tại, tiếp tục sống tự hào ngấm ngầm về một chút quá khứ ‘làm công chức’ một thời mà bà con ở quê thường gọi một cách kính trọng là ‘mần việc’. Thật may mắn, nếu cần một xác minh hùng hồn cho mãng quá trình ‘mần việc’ của bác Sáu thì vị cấp trên cao nhất vẫn còn đó. Bác Sáu bắt tôi vô một ly đầy rồi trợn mắt quả quyết: “Bây giờ mà gặp thì chắc chắn ông Đẫu nhớ tao liền hà!”.
“Để bữa nào lên Sàigòn một chuyến, con dẫn thằng Châu với Sáu tới nhà ông Đẫu thăm ổng…”. Người già ở miền Nam có cái tật rất dễ thương là khi gần gũi, ân cần, họ xưng trõng trơ với con cháu bằng thứ bậc tư, năm, sáu, bảy… gì đó, lướt nhẹ tưng qua vai vế chú, bác, cậu, dượng… vốn ấn định người trên kẻ dưới, để giữa người già và bọn trai trẻ thắm đẫm hơn nữa cái tình trìu mến, tin cậy. Vào lúc ấy thì nói nào ngay, cái thằng tôi khố-rách-áo-ôm chẳng có gì đáng cho bác Sáu bấu lấy mà cậy nhờ. Chỉ có chuyện rất nhỏ nhoi là tôi sẵn sàng ra đón bác ở bến xe miền Đông để đưa bác đến nhà người mà bác muốn gặp lại với tất cả lòng kính mến. Trở về Sàigòn, tôi lập tức kể chuyện về bác Sáu cùng niềm mong mỏi của bác với cô con gái vị chánh án. Rất thuận lợi vì liền sau đó, vị xếp cũ của bác Sáu đã nhắn qua con gái mình rằng ông rất vui khi được gặp lại một thuộc cấp còn nhớ tới ông.
Rồi cuộc sống khó khăn đã xô dạt, nhấn chìm đâu mất cuộc hẹn gặp giữa hai ông già. Vị chánh án qua đời đang khi trông ngóng hồ sơ H.O. nghe nói còn nằm đâu đó bên Thái Lan. Biết được tin buồn này vào lúc đã nghỉ việc tại rạp chiếu bóng, tôi lại phải bám chặt lấy Sàigòn để kiếm sống nên rất chậm trễ trong bổn phận đưa tin về Bà Rịa. Rồi bác Sáu đau ốm liên miên, lặng lẽ qua đời trong niềm tuyệt vọng không còn cơ hội lên Sàigòn, dù chỉ còn có thể đến viếng mộ phần cấp trên của mình như một cách vớt vát cho một ước nguyện nhỏ bé cuối đời bác. Đã có gì đó thúc thủ, cam chịu, rất số phận về cái chết của hai người già – hai món đồ chơi cũ mèm mà bàn tay vô tâm của Định Mạng đã lạnh lùng vứt vào xọt rác Hư Vô.

4.
Cuộc sống của Châu chỉ chợt đổi khác khi run rủi, uỷ ban xã An Ngãi cần thư ký đánh máy. Tuyển được một nhân viên gần như là người có chữ nghĩa nhất xã, mấy cán bộ giao luôn con dấu của ủy ban cho Châu giữ. Anh có thêm hai nghề mới, một là làm đơn mướn giá “bèo” cho bà con nông dân, hai là nghề … nhậu. Nhậu cả giấc trưa lẫn giấc chiều tối, nhậu lòng vòng ở gần ủy ban xã với tay cán bộ nấu rượu tại nhà hay nhậu với anh nông dân ở chỗ xa mút chỉ cà tha, cần làm đơn xin tách thửa nhưng chỉ trả bằng chầu nhậu. Nhậu đến té bờ té bụi nhưng nhà thơ /thư ký xã đã có hoàn cảnh, cơ hội để phất lên.
Những lá đơn liên quan đến đất đai, như: xin lại đất tập đoàn, xin quyền sử dụng đất, xin tách thửa, xin thừa kế.v.v…, luôn luôn đem lại lợi lộc cho cán bộ ký giấy và chút cháo cho thư ký xã làm giấy. Hơn thế, nhờ thân cận với cán bộ, vạt đất 200m2 do người bà con cho ngày nào mà Châu cùng cha mẹ già đã dần hồi khai khẩn, mở rộng thành hơn 2000m2, đã được sớm sủa cấp giấy đất, thuộc diện “tự khai khẩn, phát hoang từ đất rừng”, ông chủ đất Châu chỉ tốn mỗi một chầu nhậu thịnh soạn đãi cán bộ. Lô đất nằm ngay bên con đường nhựa mới mở theo qui hoạch, thay thế cho con đường mòn xưa cũ. Có điện, có đường nhựa, xã An Ngãi đươc treo bảng là khu du lịch – thắng cảnh tôn giáo với chùa Thiên Thai, chùa Ngũ Đế… và đặc biệt một ngôi chùa mới tinh, nguy nga đồ sộ, do một Việt kiều bỏ tiền ra xây cất, rất gần rẫy của Châu. Khách du lịch đi chơi biển Long Hải ít khi quên ghé khu vực này để tham quan, hành hương. Xóm làng đông vui hơn, nhưng vui nhất là giá đất lên vùn vụt.
Và… nhà thơ lấy vợ. Chuyện anh chọn vợ là người Thiên Chúa giáo đã bị bà mẹ và các cô em gái sùng tín đạo Phật phản đối kịch liệt. Rốt cuộc, vì Châu nắm toàn bộ kinh tế gia đình nên từ việc cưới hỏi tại nhà thờ cho đến việc chú rễ – đã 55 tuổi – học giáo lý để theo đạo đều suông sẻ, vui vẻ.
Vậy mà, trong vòng chỉ hơn một năm không gặp nhau, tôi đã sững sờ khi vợ Châu báo cho biết mới đưa chồng lên Sài Gòn, vô bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Xơ gan và loét bao tử – những bệnh không mới lạ, độc đáo gì đối với những bợm nhậu. Vợ Châu cho biết, cả năm rồi anh thường cảm thấy khó chịu, đau râm rang ở bao tử. Nhiều khi đi cầu ra phân đen như dầu hắc. Thôi rồi, y học gọi đó là xuất huyết nội, máu đã rỉ rả chảy từ vết loét tự hồi nào! Xuất huyết bên trong khiến người ớn lạnh và đổ mồ hôi thì Châu cho đó là trúng mưa, nóng lạnh. Khi vợ con dìu ra khỏi nhà cầu, thấy phân đen thì Châu nói đại rằng do chiều hôm qua nhậu tiết canh vịt hay ăn cháo huyết. Sau khi uống bậy mấy viên thuốc cảm, thuốc đau bụng hay mấy gói thuốc Nam cho dễ tiêu hóa, anh hể hả nói “ợ một cái là khỏe!” rồi nhậu tiếp! Đến lúc quá đau đớn, Châu mới chịu mò ra trạm y tế xã, rồi trung tâm y tế huyện. Bác sĩ ở đây nói đích danh bệnh loét bao tử, yêu cầu bệnh nhân phải bỏ rượu và kiêng mấy thức ăn cay-chua-cứng. Châu bắt đầu uống thuốc trị loét nhưng quá khó kiêng cữ. Ngày nào mà không ‘đụng’ với mấy xếp và dân nhờ làm đơn, nghĩa là tránh rượu thì gặp bia và mồi nhậu phải cay, chua thì nhậu mới bắt. Cuối cùng là sau một trận ói có máu lẫn vào những sợi bún, Châu nằm liệt…
Nhìn Châu ốm o, già háp, hôn mê thiêm thiếp, truyền nước biển rồi truyền máu, tôi hiểu bạn mình đã quị ngã thật sự lần sau cuối chứ không phải như những lần trước, chỉ là quá xỉn mà lủi xe xuống mương, nằm đo đất cùng cái triết lý “trời kêu ai nấy dạ!”. Học hết đệ nhị ban C, cộng thêm tánh ham đọc sách báo, tạp chí đủ loại, có thể cũng tạm đủ cho bạn tôi hiểu biết tối thiểu về các bệnh tật đe dọa dân nhậu. Nhưng phải chăng do nghèo khố lâu năm cùng tâm lý sống biết-ngày-nào-hay-ngày-nấy cố hữu đã khiến nhà thơ mất ý thức về việc chăm sóc bản thân?
Bác sĩ lắc đầu, ký giấy cho về, Châu được gia đình đưa về quê nhà Bà Rịa. Nhà thơ tắt nghỉ chính trên miếng đất rẫy của mình.

5.
Một điều rất đáng tôn quý, Châu bạn tôi – gã áo rách từng cắm cúi làm thơ tình trên rẫy trồng khoai mì ngắn ngày cứu đói, từng gò lưng đẩy xe ba bánh chở đồ hàng rẫy ngoài chợ, khi từ bỏ cõi tạm này cũng kịp để lại nhiều bài thơ ngọt ngào cảm xúc cho thế nhân cùng chút ít của cải, tức miếng đất rừng tự khai khẩn cho vợ con, cho mẹ cùng các em mình.
Mới đây, tình cờ nhận ra nhau trên Facebook, cậu em út của Châu đã gởi cho tôi vài tấm ảnh đen trắng, vàng ố của bọn tôi chụp chung thời còn sống nghèo, thiếu, rách – và ốm nhách – ở đất Bà Rịa, trong đó có cảnh đất rẫy An Ngãi. Châu được chôn chính trên trong mảnh đất cằn khô, quạnh hiu ấy, cạnh phần mộ bác Sáu Tí, gần gốc cây mít mà trong một thời cùng khổ, bọn chúng tôi đã từng lãng đãng chia xẽ những xị rượu bất đắc chí, ngông ngạo đàm luận thơ văn…

PHẠM NGA ghi

HỘI NGỘ TƯƠNG TRI

daolam

phố biển ngày cuối năm
mưa rắc rây sợi nhớ
mùa xuân từng bước gần
thả lời tình to nhỏ
những cánh chim xa xứ
trở lại với cội nguồn
giọt nước mắt hạnh ngộ
se sắt chiều cố hương
biển ngàn năm trầm mặc
ĐẢO XANH mây lượn vòng
niềm vui chìm trong mắt
tiếng thơ đời cuộn dâng
nụ xuân đang hé cánh
đón niềm vui uà về
lòng ta chờ hé mở
mùa xuân từng bước nhẹ
ru nhịp đời mãi xanh
tiếng thơ hòa hơi thở
dìu nhau vào trăm năm

TƯƠNG TRI TRỜI RỘNG MỞ
ẤP XUÂN NỒNG TẶNG DÂNG

DaoLam

TIẾNG NÓI THẦM

nguyendinhbon

Bảy giờ sáng, hắn đẩy chiếc xe ra cổng, nói với con gái: “Ba đến cơ quan, trưa chắc không về”. Mụ vợ ngồi bên trong ngứa miệng, cái giọng Bắc pha Nam the thé: “Cơ quan cơ à, ông có cơ quan thế tiền lương ông đâu?”.

Nghe giọng kiếm chuyện của vợ hắn nín thinh. Tiếng đứa con gái: “Mẹ, đừng nói mà mẹ”!

Hắn nổ máy xe, nghe tiếng nói thầm trong người cất lên: “Vợ mày nói đúng, hehehe, vợ mày nói đúng”.

Hắn rồ ga, cố nén tiếng nói thầm xuống khi chạy vào dòng người. Và hắn chạy đến trước cổng Hội Văn nghệ mà hắn gọi là “cơ quan”. Thì đúng là cơ quan, vì hắn là hội viên trong cả ngàn hội viên, nhưng như mụ vợ nói: “Cơ quan, thế tiền lương ông đâu?”.

Hắn nhìn thấy tại quán cà phê trước cơ quan, đã có nhiều nhà văn, thi sĩ như hắn. Tiếng nói thầm lại cất lên: “Mẹ, bọn làm biếng chớ nhà cửa gì”.

Hắn vào, kêu ly cà phê đen. Có tiếng gọi tên hắn. Giọng nữ. Hắn nhìn vào bàn bên trong. À, nhà văn nữ H., cô này vừa in cuốn tiểu thuyết. Nhà văn H. bước qua chỗ hắn, tay cầm cuốn sách, miệng nói: “Tặng anh cuốn tiểu thuyết mới nhất của H., nó là tâm huyết đời em đó”.

Hắn nhìn H., cô đã gần năm mươi, phấn son hơi quá, áo rộng cổ phơi bộ ngực đồ sộ. Hắn liếc bộ ngực. Tiếng nói thầm vang lên “vú bơm á”, hắn cố nén, cám ơn nữ nhà văn. Cô này nghe nói kinh doanh nhà hàng, đại loại vậy.

Nhà văn H. nói: “Anh đọc và viết cho em vài lời nghen”. “Ồ, tất nhiên, sách ai tặng anh cũng đọc kỹ”. Tiếng nói thầm: “Dóc quá mày, mày có coi con mẹ này là nhà văn đâu”. Hắn cố tập trung vào ly cà phê khi nữ nhà văn rời đi.

Ở bàn trong góc, tay phó nháy kiêm phó sếp đang thì thầm với một em mới toanh, mặt mũi xinh xắn, có vẻ còn là sinh viên: “Nó là thằng chó dái đó cháu ơi, coi chừng nó đưa qua khách sạn của thằng P.”. Hắn nghe tiếng nói thầm chọc vào tai mình.

Vài chục phút sau, Hội quán bắt đầu đông nghẹt văn nhân thi sĩ. Hắn đốt thuốc, nghe tiếng nói thầm: “Bọn làm biếng, bọn hư đốn”…

Gần trưa thì cả bọn rủ nhau góp tiền đi nhậu. Điểm hẹn là một quán bình dân. Tiếng nói thầm vang trong tai khi hắn chạy xe đến quán: “Mày là đồ vô dụng, mày về giúp vợ chở hàng đi”. Nhưng hắn phớt lờ, chạy đến quán nhậu.

*

Hắn tỉnh lại và biết ngay đang ở trong bệnh viện. Hình như trong một phòng dịch vụ. Chất cồn trong người đã tan hết. Hắn thấy tỉnh táo lạ thường, thậm chí thấy khỏe.

Hắn chống tay ngồi dậy. Trong ánh đèn sáng hắn nhìn thấy mình nằm chung trong một phòng có 6 giường, khá sạch sẽ. Cô con gái nằm ngủ ngon lành trên cái sô-pha dành cho người nuôi bệnh. Hắn đưa tay sờ đầu vì thấy cồm cộm. Đầu hắn đang quấn băng. Rồi hắn nhớ lại rõ mồn một…

Hắn nhớ khi cả bọn kéo vào quán nhậu đang vừa uống vừa nói xàm thì tay P. bước vào. Tay này xưa kia vốn kinh doanh bất động sản và khá giàu có, nhưng lại thích làm nhà thơ. Giờ thì P. kinh doanh khách sạn và càng giàu hơn lại vừa đoạt giải thơ cấp thành phố nên sướng lắm.

Bất kỳ lúc nào, P. cũng có thể đãi văn nghệ sĩ thành phố như hắn nhậu.

Vừa bước vào, tay P. đã la lên: “Tui đãi hết chầu này, sẵn tặng thơ cho mấy ông luôn”. Ngay sau đó, một đệ tử của P. khệ nệ mang vào một thùng các-tông lớn. P. ngồi vào cái ghế anh tiếp viên vừa mang đến, mở bút ra và cứ theo thứ tự từ trái sang, ký tặng tất cả, ngay cả người không quen.

Tập thơ dày cộp, nghe nói in hết 50 triệu. Ký xong, P. bảo anh tiếp viên: “Đem chú 2 thùng Ken, cứ hết mang thêm, đem cái menu ra đây luôn”. P. ngồi đối diện hắn, giờ đứng lên nâng ly bia sủi bọt: “Dô đi các bạn hiền, chúc mừng nhà thơ P. đoạt giải”.

Bia chảy ào ào, ly cụng côm cốp. Văn nhân thi sĩ nốc bia như bò uống nước. P cụng ly hắn, la to: “Trăm phần trăm”, “Dô, dô, chúc mừng!”. Tửu lượng hắn đã bão hòa. Hắn cảm thấy không vui. Ngay lúc đó P. kề sát mặt hắn, trong tiếng ồn ào của bàn nhậu hỏi to: “Ông thấy thơ tui hay không?”.

Tiếng nói thầm trong người hắn vang lên, nhưng hắn cố kìm nén, lảm nhảm: “Được lắm, có mấy bài đặc sắc”.

P. đang phấn khích, lôi cổ áo hắn: “Được lắm là sao? Đoạt giải thành phố mà. Ông thấy thơ tui hay không?”.

Men bia đã đánh gục con người hắn, hắn mặc kệ cho tiếng nói thầm, và hắn gào lên, ngay mặt P.: “Thơ ông như cái tự do!”.

“Đ.M. Cái gì? Ông nói thơ tui như cái gì?”.

“Tao nói nè: Thơ mày như con cặc!”.

Như trong một đoạn phim quay chậm, hắn nhìn thấy nhà thơ kiêm kinh doanh khách sạn theo giờ chụp cổ chai bia, vung lên, nhằm thẳng vào trán hắn!

Nguyễn Đình Bổn
Sài Gòn, Tháng 2-2016

gánh đời khổ nạn hành hương với người

tranthienthi
1
ngực trầm
tóc liễu
má đào
đó em giấu được vào đâu xuân thì
con đường trăm vạn người đi
nhìn ngang liếc dọc trách gì riêng ta
này người có ngọc có ngà
giữ gìn xin bớt đi ra ngoài đường
2.
cái nhìn không phải tai ương
tội từ nhan sắc chưa tường kỷ , nguyên
nhìn người
lỗi với làng giềng
không nhìn thì nuốt hận riêng một mình
cứ ngồi mà nghĩ linh tinh
lỗi thì chịu lỗi
chẳng đành quay đi
3.
con nhà chẳng biết nuôi gì
nước da tự sữa
lông mi tự ngài
chẳng cần thêm kiếp thứ hai
một lần liều mạng chờ ai cuối đường
mở lòng ra
hở thập phương
gánh đời khổ nạn
hành hương với người

trần thiên thị

DẶN DÒ

quanduong

Dọc đường viễn du
Con có đi qua vùng biển lửa
Quê hương
thê lương
Con hãy đếm giùm ba tất cả
Bao nhiêu nấm mộ bên đường
Con hãy đếm và hãy thống kê
Những đau khổ trần gian con đã gặp
Con sẽ thấy mẹ đang ngồi khóc
Bên nấm mồ con xơ xác quạnh hiu
Bởi cõi trần gian bóng tối bủa vây
người xa người
uất nghẹn

Thế nào rồi con cũng sẽ đi qua
Vùng biển tang thương
Trên chiếc thuyền quê hương
Ngược dòng hải lưu máu đỏ
Chảy đau thắt
đoạn trường
đau khổ
Trần ai

Thế nào rồi con cũng sẽ đi
Nhớ ghé thuyền lại chở giùm ba
Niềm đau vô hạn
Phần gia tài đã chia cho con

Dọc đường viễn du
Con sẽ gặp nhiều tên bạo chúa
Cùng những giọng cười dã thú
Xoáy vào hồn tựa nhát dao đâm
Con hãy nhớ không được lúc nào quên
Đó là những kẻ cướp tình phụ tử

Con cũng sẽ gặp những nhà viết sử
Hãy nói giùm ba ngòi bút chớ bẻ cong
Bởi trên cửa biển thê lương
Những đám lục bình trôi
mãi xanh

Dọc đường viễn du
Con có ghé lại nhà thượng đế
Cho ba gửi lời thăm
Nhớ hỏi giùm ba
Đau khổ trần gian này
còn phải chịu bao nhiêu năm

Con có xuống âm phủ
Nhớ hỏi Diêm Vương
Bao giờ tập trung đầy đủ
Lũ hung tàn bạo ngược ở trần gian

QUAN DƯƠNG
A 30 năm 1980

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN.

nguyenhoangquy

1. Hai năm cuối tiểu học và bắt đầu vào trung học, khi đã bắt đầu biết nghe nhạc, tôi không thích bài hát này. Từ ấu thơ, tôi đã nghe anh chị ở nhà chơi đàn mandolin và hát những bản nhạc tiền chiến mà nhạc điệu và ca từ trong cảm nhận mơ hồ và non nớt của tôi ngày ấy là “không chê vào đâu được”!: Hòn Vọng phu, Bến cũ, Thiên Thai, Trường ca sông Lô, Hoài cảm…Do vậy, nghe bài này cũng như nghe Bức tâm thư của Lam Phương, “Vài hàng gửi anh trìu mến…đi quân dịch là thương nòi giống”, như nghe Lối về xóm nhỏ của Trịnh Hưng, “Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca, ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà…”.Lên sinh viên, những bài hát này chúng tôi liệt vào dòng nhạc lính, nhạc sến!

Vài năm trước cho đến lúc này, bài này tôi hát nhiều, lâu lâu hát lại, chàng con rễ bảo “Ông bố rền rỉ nhạc sến hoài!”. Khi hát, tôi nói với vợ lý do và kể cô ấy nghe những kỷ niệm gắn bó với mình. Đó là sáng tác của nhạc sĩ Lam Phương: “Tình Anh Lính Chiến”.Thật lòng thì hồi tiểu học tôi không hiểu nổi câu đầu: “Xuyên lá cành trăng lên lều vải”, chưa bao giờ đi trại, có nghe ai nói đến cái lều bao giờ, làm gì đã biết đến “Uncle Tom’s cabin” của Harriet Beacher Stowe và cứ tưởng “lá cành” là… danh từ, có lúc nghĩ cái cành đâm xuyên khóm lá!

Học đệ thất, nghe kể thầy Võ Hành dạy Lý Hóa ở trường thương chị Xuyên học đệ tứ. Hồi đó nữ sinh đệ tứ lớn lắm. Thế là anh chị lớp lớn nhại rằng “Xuyên với Hành thương nhau nhiều quá!.

Thời sinh viên, tôi trọ học ở Cư xá sinh viên Huỳnh Thúc Kháng của hội Ái hữu Đồng châu Quảng Nam dành cho SV trong Quảng ra Huế học. Năm 1973, một trận bão lụt không lớn nhưng cũng làm hư hại nhiều nhà dân ở các quận Duy Xuyên, Đại Lộc (hồi đó không gọi là huyện như bây giờ). Ở Duy Xuyên, nặng nhất là vùng gần Trà Kiệu, thánh địa ngày xưa của vương quốc Champa. Sinh viên cư xá chúng tôi về đó giúp dân sửa chữa, dọn dẹp nhà cửa,vườn tược và nhận tôle, cement, tiền của ty Xã hội Quảng Nam về phân phát cho đồng bào. Cùng đi với chúng tôi có cả các bạn dân Quảng ở cư xá Nam Giao, Đội Cung, trường Cán sự Y tế, trường Nữ Hộ sinh Quốc gia Huế làm thành một đoàn hơn ba mươi người.

Sau mấy ngày hăng say làm việc với tinh thần thiện nguyện, chúng tôi khá bằng lòng với thành quả của mình và chiều cuối cùng xuống Hội An để sáng hôm sau về lại Huế. Tối, tổ chức đêm lửa trại chia tay các bạn ở các cư xá khác. Không cắm trại nhưng một đống lửa đốt ngay trên bãi cỏ ngoài sân ty Xã hội Quảng Nam cũng tạo được cái không khí bập bùng làm giảm cái se lạnh của những ngày cuối Đông năm ấy. Và ở đây, đến cuối buổi sinh hoạt, nếu hát bài Shalom Severim hay Rời tay phút chia ly, bạn ơi vui lên nhé thì cũng… vô cùng thích hợp!. Anh Chủ tịch Cư xá cũng là trưởng đoàn tổng kết chuyến đi cứu trợ, cám ơn các bạn tham dự đợt này rồi chúng tôi cùng hát, những bài dân ca, những bài hát cộng đồng phổ biến ngày ấy.

Đang ngồi thành vòng tròn vừa vỗ tay vừa hát tôi nghe có ai vỗ vai mình từ phía sau. Ngoái đầu nhìn lại, đứng sau tôi là Hồng Vân cười và nói nhỏ vào tai tôi: “Mai nếu đời ngăn chia ngàn lối, đừng quên nhé những ngày bên nhau Q. nhé!”. Vân nói cả thành lời lẫn bằng mắt. Cái tâm trạng những ngày vui, sống hết mình với công việc và bạn bè đã qua và phải chia tay, thật buồn. Tôi lặng người, cầm tay em bóp nhẹ và gật đầu. Có thể nói gì hơn trong lúc này và mọi lời nói đều thừa hoặc không cần thiết.

Hồng Vân dân Hội An gốc, học năm cuối NHSQG, khuôn mặt sáng rưng, đôi mắt to, tròn và biết nói. Những dịp sinh hoạt chung trước đó chúng tôi quen rồi thân nhau nhưng chỉ dừng lại ở liên hệ bạn bè vì lúc đó tôi đang có người yêu. Không thể kết luận đều này chở theo tín hiệu gì nhưng tình cảm tự nhiên và chân thành của Hồng Vân làm tôi rất xúc động.
Ra trường, chúng tôi mất dấu nhau cho đến bây giờ nhưng “những ngày bên nhau” thì khó quên được dầu “đời (đã) ngăn chia ngàn lối”. Bài hát theo tôi những khi nhớ về kỷ niệm thời đi học đã qua gần nữa thế kỷ.

Kỷ niệm riêng tư, không kể làm gì nếu không có một việc khác liên hệ đến nhạc phẩm này.

2. Năm 2014 tập 1 của cuốn sách Ride The Thunder (A Vietnam War Story Of Honor and Triumph) của Richard Botkin, bản Việt dịch của nhóm 4 dịch giả Lý Văn Quý, Nguyễn Hiền, Nguyễn Hoàng Diệu và Trịnh Bình An tựa đề là Cưỡi ngọn sấm (Một câu chuyện về vinh dự và chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam) xuất bản ở Mỹ (*).Chuẩn tướng James Joy TQLC Hoa Kỳ đã về hưu viết trong lời tựa như sau: “Câu chuyện của hai người chiến binh vĩ đại (đại úy Riply và thiếu tá Lê Bá Bình, hai nhân vật chính có thật của quân chủng TQLC) cùng phục vụ cho một mục đích chung thật là hiển nhiên. Nếu đã có thêm nhiều người như Lê Bá Bình thì chắc chắn kết quả của cuộc chiến đã khác hẵn”. Đại tướng Walter E. Boomer TQLC Hoa Kỳ hồi hưu cũng viết trong lời giới thiệu cuốn sách này “…”Cưỡi ngọn sấm” là một câu chuyện xứng đáng được chia sẻ với các thế hệ tiếp nối của nước Mỹ, đặc biệt là người Mỹ gốc Việt. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giúp họ hiểu được cái giá mà cha ông họ phải trả nhằm bảo tồn nền tự do mà ngày nay họ đang được hưởng”.

Sau 12 năm bị tù ở VN, Lê Bá Bình định cư ở Mỹ. Trong lễ nhận huy chương Silver Star của TQLC Mỹ, “huy chương cao quý nhất dành cho quân đội đồng minh về những công trạng ngoài mặt trận”, Bình gặp, quen biết và trở thành bạn thân của tác giả, cũng là cựu thiếu tá TQLC.
Chuyện của Bình là niềm phấn khích để tác giả bỏ thì giờ sưu tầm tài liệu về chiến tranh VN, phỏng vấn hàng trăm nhân vật liên quan và đi thực tế ở VN nơi xãy ra các trận giao tranh đề cập đến trong tác phẩm. Có lẽ nhờ vậy nên tôi hơi bất ngờ khi đọc được ở chương 3, tập 1 (Đại úy Ripley- Đại đội Lima) trang 57, 58, 59 nói về nền âm nhạc cận đại VN thời đó, như một người trưởng thành yêu thích âm nhạc và sống ở miền Nam. Tác giả viết: “Từ năm 1962 trở về sau, âm nhạc được phát triển cùng với nhịp độ ngày càng gia tăng của cuộc xung đột. Giọng ca ủy mỵ và diễn xuất tuyệt vời của Hoàng Oanh trong bản “Tình Anh Lính Chiến” (The Love of a Fighting Man) được biết đến và ghi khắc trong lòng của mỗi quân nhân cũng như những phụ nữ đang chờ đợi họ. Trong bài hát, người lính đi chiến đấu ngoài mặt trận và người yêu thì ở lại hậu phương. Trong màn đêm, chàng trai ngắm trăng tròn và tự hỏi, giống như mọi chiến binh khắp nơi, không biết người yêu có đang ngắm cùng một vầng trăng với mình hay không?”.

Ở một đoạn khác, tác giả khen ngợi thêm: “Đối với những người Mỹ yêu nước thuộc thế hệ xưa, những người thích trung sĩ Barry Sadler với bài “Ballad of the Green Berets” nếu như họ biết thì có lẽ “Tình Anh Lính Chiến” sẽ hấp dẫn và quen thuộc với họ hơn”.

Về giòng nhạc miền Nam 1954- 63, các tác giả đã đề cập trong nhiều bài viết nhưng mang tính chuyên môn, có hệ thống và giá trị khái quát cao thì tôi chưa đọc được. Dù sao thì những gì Richard Botkin đề cập đến trong Ride The Thunder cũng giúp độc giả ngoại quốc và cả người Việt thế hệ sau biết thêm về chế độ Cộng Hòa, cách riêng, nền nhạc Việt giai đoạn đó.
Với những người miền Nam sinh vào thập niên 1940-50, được đọc tác phẩm này là được sống với những năm tháng hào hùng, được nhắc nhớ những kỷ niệm về những người lính của một binh chủng oai hùng: Thủy Quân Lục Chiến. Tác phẩm đáng được làm tài liệu tham khảo khách quan của một tác giả ngoại quốc cho những ai nghiên cứu quân sử sau này. Với người viết, đây là một bản anh hùng ca rất đáng dành thì giờ để đọc.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

(*) Trang tuongtri.com đã đăng nhiều kỳ từ đầu tháng 6/2015. Tập 2 đã phát hành đầu năm 2016. “Cưỡi ngọn sấm” cũng đã được đạo diễn Fred Coster dựng thành phim và chiếu ra mắt tại Wesminster, CA 3/2015.

MÀU TRĂNG XƯA.

vuhytrieu

xa người thoắt đã trăm năm
màu trăng xưa ấy âm thầm chưa phai
lẫn trong năm tháng mệt nhoài
chút tình sâu thẳm vẫn hoài tơ vương

em về từ những yêu thương
một thời bỏ dỡ con đường trăng mơ
một thời hẹn ước vu vơ
em về xoá hết đợi chờ tháng năm

cảm ơn em chút tình thâm
không quên ngày tháng âm thầm yêu em
ngày xưa mưa rớt nỗi niềm
giờ mưa rơi nhẹ bên thềm hiên xưa

cảm ơn em…cảm ơn mưa…

Vũ Hy Triệu

TƯƠNG TƯ THÁNG GIÊNG

nguyenanbinh

Em có từng thương nhớ tháng giêng
Thả lá tương tư xuống môi hiền
Thả xuân xanh qua mùa mê hoặc
Thả tình tôi lạc dấu chim quyên.

Tóc em thơm một rừng mai trắng
Chiều vàng nghiêng cánh nhớ mùa xưa
Hôn lên bờ vai em thắp nắng
Ngọt ngào hương cốm lá ngày mưa.

Cỏ xanh mướt trải bao đồng bãi
Để áo em hồng dáng lụa thơm
Ngày xuân nghe tiếng ai gỏ cửa
Lại ngỡ em về bên kia sông.

Tháng giêng còn cả mùa trăng cũ
Chập chờn mắt đóm đợi sao khuya.
Tình xuân chưa hết mùa hoa nở
Mà trái tương tư rụng bao giờ?

Nguyễn An Bình

KHÔNG KHÓC NỮA

phantunho

Nước mắt không phải là xà phòng nên nỗi đau vẫn còn nguyên.
Nhưng vài giọt lưng tròng cũng có thể làm biển đời vơi đi mặn chát.

Sạn Em không hiểu vì sao ba nó có cái tên đó, tên Ba Lem. Nó phỏng đoán chắc ba nó lem nhem lắm. Chứ không, tại sao ông nhiều vợ vậy? Trật lất! Anh hai nó, anh Cát, khẳng định như đinh đóng cột. Mày biết tại sao không? Ờ, mà mày còn nhỏ, chưa hiểu đâu. Trong giấy khai sinh anh em mình tên cha là Lê Ba, phải không? Ở quê mình, ngoài Quảng nghèo lắm. Họ kẹo đến mức cái tên cũng cụt lủn. Nhưng ba mình tên cúng cơm là Lê Văn Lem nhé. Ông Nội hồi xưa đỗ Tú Tài, văn chương chữ nghĩa thơ phú cũng có hạng đó, lẽ nào đặt tên cho con lại nghèo ý nghĩa vậy. Đúng rồi. Nó tua lại cuộn phim, không, cuộn ghi âm mà nó nghe mọi người trong gia đình nó hay kể lể dịp giỗ, chạp. Ba nó cũng ước mơ như mọi người. Ông không học nhưng cũng ưa văn chương thơ phú. Dù không cha từ nhỏ, mẹ có chồng khác, ông về sống bên quê nội, ở đợ, chăn trâu nhưng cái máu của cha ông vẫn ứ tràn trong huyết quản. Năm 18 tuổi, máu giang hồ bắt đầu cục cựa hung, ông trốn quê vào đất Phan này kiếm sống. Nhớ đến đó, Sạn Em cãi: Em nghe ba kể ông Nội bỏ nhà đi theo ghe bầu giang hồ mất tích, có lo gì cho Ba đâu. Hay là Ông Nội lem nhem, bà Nội bực mình đặt tên cho Ba như thế. Ba mình một chữ bẻ đôi cũng không biết thì Lê Văn, Lê Vẽ gì! Anh Cát nó sừng sộ: Mày dốt bỏ mẹ! Mày thấy Ba không biết chữ nhưng ông coi bảng vẽ cừ không? Làm cai thầu thợ hồ có mấy ai qua. Ừ, thì ổng giỏi. Giỏi luôn cái nghề “cua gái”. Anh ba Vôi xen vào. Tao đố mày biết tại sao ổng “cua gái” giỏi không? Sạn Em gãi đầu bảo: Ba mình đẹp trai, to cao…Anh ba Vôi cười ha hả. Mày ngu quá tay. Lúc xây nhà cho người ta, ổng chỉ mặc độc cái xà lỏn đứng trên giàn giáo, mấy em phụ hồ đứng dưới ném gạch lên làm sao mà không thấy cu dái ổng. Thấy rồi đâm mê. Cả ba anh em cười đến ràn rụa nước mắt. Ánh lửa nồi bánh tét bập bùng làm biến dạng những cái miệng đang toang hoắc cười trông thêm méo mó. Mẹ nó quát: Coi chừng cháy nồi bánh, mấy ông yêu. Gì mà cười dữ vậy? Sạn Em méc: Má! Anh Vôi nói hồi xưa Má thấy cu dái Ba nên mê…Tổ cha mày, biết gì mà nói. Bậy bạ! Đi vô nhà thăm chừng chảo gừng rim cho tui. Nhớ tưới đều cho đường nó thấm. Nó cà nanh: Má biểu con Gái làm, con có biết rim riết gì đâu. Bao giờ nó cũng nạnh em gái nó khi má nó sai vặt. Nó còn trũng trịnh chưa chịu đi, tò mò chuyện người lớn. Má nó cũng tức cười chuyện tào lao của các con. Bà vừa cười, vừa nói: Ổng thấy tao thì có. Hồi tao ở đợ cho bà Cai, lỡ có con sâu trong nồi canh mà bả tạt cả nồi lên người, may mà còn nửa nồi hơi nguội, chứ không thì phồng mình chứ chơi. Ông thấy vậy biểu tao cởi đồ ra giếng cho ổng xối. Mà hồi xưa có biết mắc cở như bây giờ đâu. Vôi chêm: Vậy là Ba thấy Má trước! Thằng khỉ. Bà đánh trống lãng, quay sang Sạn Em nạt: Sao không đi đi, còn đứng đó?
Sạn Em lững thững bước, đầu nhìn xuống đất như đang tìm bạc cắc ai rơi. Nó lúc nào cũng lững thững như một cụ non. Hay thắc mắc, suy đoán. Hèn chi cái đầu của nó cũng to hơn mấy anh nó, và, dĩ nhiên cũng nặng hơn nên cứ muốn rớt xuống phía trước. Ngồi trông chảo gừng rim đầu óc nó lại lan man thắc mắc, suy đoán. Tại sao tên anh em nhà nó chẳng ăn nhập gì với nhau. Anh hai Cát là Lê Văn Sơn. Anh ba Vôi là Lê Hữu Hải. Anh tư Sạn Anh là Lê Hữu Sạn. Em gái nó là Lê Thị Gái. Còn nó, Sạn Em là Lê Minh Hoàng, sao đẹp thế? Đành rằng Ba nó yêu nghề nên chọn vật liệu đặt tên cho con, lẽ ra nó phải là Gạch mới đúng, sao lại Sạn Em, Sạn Út gì ở đây? Nó lôi em nó dậy. Má biểu mày rim gừng kìa. Mới gần 10 giờ đã ngủ. Nó chạy ra sân, nơi nồi bánh tét đang bập bùng. Má. Sao tên anh em con lạ quá à. Anh Cát, anh Vôi tên hay, còn anh Sạn, con Gái tên xấu òm vậy? Má nó đang loay hoay dọn dẹp đống lá chuối thừa thẹo khi chiều bị ngọn bấc cuối đông đùa giỡn tung tóe, chợt dừng lại ngó nó ngạc nhiên. Cái thằng khỉ. Bỏ chảo gừng cháy hết. Đi vô! Dạ, con Gái đang coi chừng rồi. Má nó lắc đầu ngao ngán cái thằng gì- cũng- hỏi. Anh Cát tài khôn: Ba kể nè. Ba ước đất nước thanh bình nên Ba đặt tên cho con là “Sơn hải thái bình”. Đúng ra thằng Sạn Anh là Thái, còn mày là Bình. Phải không Má? Má nó ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng Cát không thôi. Anh Cát nó hậm hực: Ổng theo Dì Hai lúc Má đẻ thằng Sạn Anh, rồi ổng theo Dì Ba lúc Má đẻ mày. Ổng lại quay lại Dì Hai khi Má đẻ con Gái, lâý ai đặt tên. Má nó giọng buồn buồn: Tao có biết chữ nghĩa gì đâu. Ổng cũng chẳng rằng. Khi nhà thương hỏi, tao nói “Lê Hữu Sạn”, họ cứ ghi tên. Còn mày, tao biểu “Lê Hữu Sạn Em”, nhà thương họ chê tên kỳ cục. Thật tình, tao cũng không biết ai đặt tên cho mày nữa. Ờ, mà mày là con bà Phước tao xin về nuôi mà! Anh Vôi đía thêm: Mày thấy mày giống Chàm không? Nhà này có ai đen thui như mày đâu. Hồi đó tao tưởng Má đẻ mày ở hầm than, ai ngờ má lượm mày ở cống Công Thành. Nói xong, Vôi lại cười ha hả. Tiếng cười ghim vào lòng Sạn Em như mũi kim. Đau nhói. Mặt nó xụ xuống. Nước mắt nó ứa ra, lờ mờ những bóng hình đang chao đảo, chập chờn trong ánh lửa lò bánh nghi ngút khói. Nó dụi mắt, đứng dậy lủi thủi bước vào nhà. Đúng là ma mũi, đụng tí là khóc. Con trai gì mà mít ướt. Má nó nộ: Thôi, tụi mày cứ hay chọc nó. Bà thở dài: Tội nghiệp. Không biết giờ này thằng Sạn Anh đang ở đâu nữa. Ngày hết, Tết tới rồi. Lính với tráng, khổ thân thằng nhỏ…Tiếng bà buông dài, rơi thỏm vào đêm đen kịt, lắng im. Chẳng ai trả lời, chỉ còn tiếng củi than nổ lách tách, tiếng ùng ục nồi bánh đang sôi hòa quyện cùng tiếng đạn pháo vọng về xa xa.
Sạn Em nằm khóc ngon lành. Nó tủi thân. Có phải thật nó là con Chàm? Đúng là nó đen thui, khác với anh em nhà nó. Nó ghét anh Vôi. Nó ghét anh Cát. Nó ghét lây cả má nó. Nó thầm ước đạn pháo rơi lạc trúng nhà nó. Nó chả thèm Tết như những ngày trước đó nó từng mong đợi. Nó nghĩ ngợi mông lung, không đầu, không đũa. Nó chê anh Vôi hèn, trốn lính, sợ chết. Nó chê anh Cát nhát, lủi vào sở Mỹ núp. Không như anh Sạn Anh đi lính Biệt Kích Dù oai phong. Nó lại mong mau lớn, bỏ nhà đăng lính để xem má nó có khóc không. Nó tưởng tượng cảnh ngày nó ra đi. Đầu đường, xó chợ, không nơi ăn ngủ, không ai thân thích. Nó bật khóc thành tiếng. Má! Anh Sạn Em khóc kìa! Nó vùng dậy, lao đến chỗ em nó. Méc hả? Cốc một cái rõ to trên đầu con bé. Em Gái nó ré lên. Anh Sạn Em đánh con. Má nó quát. Gì mà ồn ào vậy. Đứa nào vô dẹp loạn cho tao coi. Anh Vôi bẻ nhánh củi đét xuống đất một cái chát đến giật mình. Mày đánh em hả, cái thằng con Chàm mít ướt này. Nằm xuống. Vôi hét to làm thằng con trai mới đầy tháng tuổi trong buồng giật mình oe oe. Tiếng vợ Vôi dỗ dành, càm ràm, rền rỉ làm Vôi càng thêm nóng máu. Khóc nè, khóc nè, khóc nè. Mỗi tiếng Vôi gầm lên là một lằn roi vòng lên trên đít nó. Nó trân mình hứng chịu. Lúc này nó muốn khóc lắm nhưng bao nhiêu nước mắt thừa mứa khi nãy bây giờ chạy tuột xuống họng, dồn cục tạo thành thứ âm thanh đùng đục, khò khè. Vôi cũng phát hoảng. Đứng lên. Ra soi gương coi. Mau. Nó vòng tay đứng dậy, suýt soa. Dạ thưa anh Vôi, em không dám khóc nữa. Nói đến đây, miệng nó bắt đầu mếu. Còn khóc nữa hả. Đi ra soi gương mau. Nó líu ríu lết đến tủ đứng, hé mắt nhìn trong gương. Mở to mắt ra. Khi nào hết khóc mới được đi, nghe chưa. Ra Tết, tao cho mày theo mấy thằng Đại Hàn học Teikwondo cho bớt mít ướt đi.Vôi đe thêm: Con Gái đâu? Mày cũng bỏ cái tật hơi tí là méc đi nghe chưa. Bữa nay tao tha cho. Vôi lầm bầm thêm mấy tiếng không rõ, bỏ ra ngoài sân. Sạn Em không dám đi. Nó lại hé mắt nhìn nó lần nữa. Thật là xấu chưa từng thấy. Nước mắt, nước mũi ràn rụa, miệng méo xệch. Đúng là dị hợm. Nó lại hiếu kỳ nhìn kỹ hơn. Miệng xệ xuống, môi trề ra, trông như chú hề mấy gánh Sơn Đông mãi võ. Nó thấy nó trông tức cười. Và, nó nhoẻn miệng cười thật! Đấy, trông phải dễ coi hơn không? Từ dạo đó Sạn Em thôi không khóc nữa. Mà nếu có khóc, nó cũng không bao giờ trề miệng ra như thế.

PHAN TỬ NHO
Trich truyện: CON NHÀ BA LEM.

NHỮNG CHÂN TRỜI RA KHỎI GIẤC MƠ TÔI

buidiep

1.
năm tám tuổi cha dẫn tôi ra đồng chỉ vào mùa lúa đang xanh như màu áo cào cào rồi bảo tất cả là của con trai cho ngày mai thừa tự
tôi nhoẻn miệng cười sún răng bên cọng cỏ gà cỏ xướt
cha giấu cơn ho khan trong tận tuyệt mùi thảo dã
nhìn cho rõ con ơi vô vàn huyết mạch chảy ngầm trong lòng đất
những huyệt đạo âm thầm nuôi dưỡng mùa xuân
rồi cha cúi xuống nhặt dùm con trai
những hạt đỏ nguyên lành

2.
mười sáu tuổi triền mây lên cơn sốt
những đêm không đủ dài những ngày đâu đủ ngắn
làng quê buồn và xác xơ như sợi dây gai khâm liệm u mê cánh chim bói cá
biển rộng về đâu sông rộng về đâu
ơi cánh buồm xanh khao khát mấy triền hoa làm sao xuôi tình em hôn mê cùng đại dương rách mướp
còn đỏ mắt chờ hư không mà không dám bước qua đời nhau trước ngã tư thị tứ
phía ấy tôi về là biền biệt quê ơi
xuân còn không tuổi ấy thuở chơi vơi

3.
đã nắng lên chưa ngày thênh thang đại lộ
tính sổ đời trôi qua mấy vạn lần những ô cửa mở về phía mùa màng tuyệt tích tiếng chim chỉ hót vào mỗi khuya lên cơn thấp khớp
những cơn u ám trái gió trở trời chưa kịp bình yên khi vừa thoát ra mắt bão
trang văn Pauxtopxki lạnh buốt bên góc rừng nhiệt đới vừa bị siêu nhơn ám sát
lửa vô lương đốt cả những giấc mơ
sông Dinh ơi em có buồn như ngày mười sáu xa tôi mà không dám khóc như ngày gặp lại mối tình trẻ con bên kia dốc đời mà không dám cười
trang văn Pau. buồn buồn ôm mãi tuổi hai mươi

4.
vừa chạm ngón hương tiếng chim xanh đã tan vào xót xa khi mái tràn nắng phố
ly cafe cuối tuần tờ nhật trình cuối tuần bạn bè cuối tuần hờ hững gió man di
đừng ra khỏi đời nhau
đừng bước qua đời nhau
dù thế giới này nhỏ bé như những chân trời trong veo thủy tinh trong giấc mơ thơ trẻ
cầm lấy lòng mình như cầm chân nụ hàm hương mong cứu rỗi giấc mơ mình
cầm chặt em ơi những chân trời còn sót lại lúc bình minh
quỳ xuống em ơi để được một lần nghe đất phục sinh.

BÙI DIỆP