ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC ẤN TƯỢNG (truyện dài)

 

ledachoanghuu

 

Cu Sô rời con đường làng, khúc đường lộ tới trường hàng ngày.

Ta vẫn tấu khúc nhạc vui vui, nhộn nhộn, chỉ có thêm vào vài nốt mới, là lạ, những nốt ấn tượng bởi nó vẫn là thằng nhóc học lớp mười. Nó về thị xã học trung học. Ngôi nhà mới nó trọ ở ngoại ô thị xã.

Vắng tiếng ụm bò, tiếng quang quác của bầy vịt, con ngỗng, tiếng cục tác của con gà mẹ dẫn bầy con kêu chim chíp, cu Sô không thấy thiêu thiếu lắm nhưng vắng tiếng gà gáy sáng, thậm chí gà gáy buổi trưa là nó thấy rất thiếu, thiếu hơn hẳn tiếng ô bặc lưa im bặc. May thay, nơi ở mới của nó vang rền tiếng gà gáy, xanh rì các luống rau mà lúc ngồi trên chiếc xe lam ra đi mang buồn vui lẫn lộn. Ngồi trong lòng và bệt dưới sàn xe quay ngược hướng với bác tài, lòng thòng ve vẩy hai chân như hai con lắc ngược chiều nhau đùa giỡn với không khí nó vui vui, xe chạy bon bon lại có cảm giác xe đứng yên, con đường, những hàng cây, quanh cảnh hai bên đường mới băng băng chạy vút vút qua trước mặt, lâu nay ngày đêm, sáng trưa chiều tối nhận được qua ánh mặt trời từ thị giác, không cảm giác về thời gian, lúc này mới cảm giác thời gian trôi trôi, có nỗi buồn bởi thời gian chạy rất nhanh, tựa hồ đẩy nó mau lẹ và ngày càng xa ngôi nhà tranh vách đất của gia đình. Ngôi nhà cạnh bên là giàn mướp giàn bầu bí, các loại dây leo vượt giàn phủ một góc mái nhà, “Ngôi nhà nở bông” với cu Sô là vậy, những bông vàng của mướp, bông trắng của bầu bí đẹp như cúc vàng, cúc trắng, những dây cỏ dại cũng bon chen nở những bông màu tía, màu tím điểm tô thêm cho ngôi nhà chất lãng mạn. Ngôi nhà nhỏ thân thương bên cạnh vườn cây đủ loại cũng nho nhỏ như bao ngôi nhà vườn của làng quê nó. Vườn nho nhỏ vậy chứ có những lúc “Trời nhuộm màu bông khế” (lời trong bài Biển – thơ Lê Tùng Quan), bông khế tim tím, hồng hồng, trăng trắng nở đầy cây thì trái chua trái ngọt đeo lủng lẳng, đứa nào hảo ngọt thì tới cây ngọt, hái trái cắn bỏ rìa phía ngoài khía là sực ngon lành, trái chua thì chấm thêm chút muối ớt. Bông khế nhuộm giữa mùa mưa thì ra giêng đất nhuộm màu bông mận, bông mận hai màu riêng biệt, trắng và hồng cho từng cây riêng, bông mận giống bông mắc cỡ, dễ rụng nên rớt đầy gốc và bay tứ tán, trái cũng cùng chấm với muối ớt cho chua ngọt. Ra giêng bông xoài không nhuộm được trời đất, không phải bông ít mà bông màu xuyệt tông với lá, xoài chín ngọt khỏi cần gì chứ xoài chua giòn thì cần chút đường và trái ớt hiểm dằm nước nắm thì mê ly, ngộ ngộ rằng xoài đập bôm bốp vào ngạch cửa thì càng chua giòn ngon hơn xắt đẹp bằng dao. Nó khoái những trái ổi sẻ vừa già, trái tròn tròn nho nhỏ giòn giòn chua chua, khi chín trái bị mềm, bông ổi trắng lấp ló trong tán lá chứ không khoe nhiều, trái cũng nhiều vào giữa mùa mưa. Có một loại cu Sô chẳng thấy bông, thực tình thì chẳng để ý vì trái lấn át nằm kết chùm liên tục trên thân và cành, trái chùm ruột cũng cần tới bụm muối ớt. Một loại nữa không bông, chỉ có những búp nở ra rồi kết thành trái hay không lớn thành trái mà thành khóm, khóm mít chát chát chấm với mắm con, nắm cá cơm hay cá nục trộn cùng chút đường chút tỏi giã nhuyễn và ớt để mà hít hà thì còn gì bằng…

Nơi ở mới không mấy xa lạ, vẫn một số khung cảnh này, nó đỡ rất nhiều phần nhớ nhà.

 

Ngôi trường mới lại khá cũ kỹ nhưng rất đẹp. Màu tổng thể của ngôi trường bao gồm những dãy phòng học một từng lầu, dãy nhà của thầy cô, phòng thí nghiệm, thư viện, những dãy nhà quét vôi vàng lợp mái ngói đã chuyển màu nâu sậm với vài vệt đen đó đây, sân trường với những cây điệp vàng bự gốc, tán rộng, bãi tập thể dục và cả sân đá banh nho nhỏ bên hông là màu ấn tượng. Một bức tranh tổng thể ấn tượng.

Nhưng còn những màu ấn tượng hơn. Những màu có vô hình và có hữu hình.

 

Thầy cô có ba phong cách.

Một phong cách trung dung ở giữa, vẫn có vui có buồn nhưng bình thường là chính, vẫn dạy dỗ đúng theo quy trình, phong cách này giống như đường kẻ giữa mà Cu Sô kẻ phân chia mặt đất đối lập với âm thanh từ ô bặc lưa trên cột cao.

Phong cách nó ví ở mặt đất là của những thầy cô lộ vẻ chán chường trên gương mặt, nhưng ẩn sâu vẫn còn rất yêu mến nghề nghiệp của mình. có những thầy chán chường đến nỗi đi chiếc xe đạp mà cây đũa rớt ra khỏi con ốc cũng không buồn gắn lại để cái vè cạ vô bánh vô niềng rột rẹt như tiếng của xe trâu, chỉ nho nhỏ hơn thôi, thậm chí xe không vè không thắng, đạp xe tà tà cỡ đi bộ rồi chà bàn chân mang đôi dép mòn lĩn xuống đường mỗi khi muốn ngừng hay chậm lại để tránh né. Xen lẫn trong các tiết dạy, vẫn những tiết dạy đầy đủ, đúng giáo trình là những lúc nói về xã hội, nói về cuộc đời dù đám học sinh chưa hiểu là mấy, có lẽ là những giây phút trải lòng và mong được học trò thông cảm thì đúng hơn.

Nó đi ngang chợ phường thì thấy chộn rộn, một bà bán túm áo một người kéo kéo và la lớn:

“Ông nội, ông chạy xe kiểu gì đụng tùm lum tùm la, đền rổ rau cho tui.”

Người bị kéo nó nhận ra không ai khác là thầy dạy ở trường mình nhưng bất lực, đâu dám can gián. Thầy lom khom gom rau đổ tứ tung vào rổ, phân bua:

“Dạ, dạ, tại lách con bé qua đường đột ngột, thắng không kịp, cô thông cảm, bây giờ tôi không đủ tiền, xin cô cho khất tới kỳ lương tui đền, cũng sắp rồi…”

Một bà bán kề bên nghe vậy dòm kỹ liền bước ra:

“Trời, thầy dạy ở trường phường mình nè, thôi bỏ qua đi, để thầy đi đi.”

Bà bị đụng tung đổ rổ rau khựng giây lát rồi gãi đầu:

“Dạ, dạ, tui hông biết, thôi… thôi… thầy đi dạy đi.”

“Dạ, dạ, tuần tới tôi ghé gởi tiền, tôi cảm ơn chị.”

Thầy còn lóng ngóng thì bà xua xua tay:

“Dạ thôi thôi, thầy cứ đi đi, khỏi cần ghé trả chi hết, thầy đi đi…”

Thầy gật đầu nói lý nhí:

“Dạ, dạ, tôi phải ghé…” Thầy mặc kệ quần áo xộc xệch, áo chỗ trong quần, chỗ bung ra ngoài không buồn nhét trở lại, cuối gầm mặt đầy chiếc xe cà tàng một đoạn rồi phóc lên, phóc lên chưa yên chỗ thì phải nhảy xuống lượm chiếc dép trật ra khỏi bàn chân, lại phóc lên lên khòm lưng đạp đi. Cử chỉ muốn biến thật nhanh khỏi chỗ này nhưng hai bánh xe dính nước nhềnh nhệt bên lề, bánh trước đi đường bánh trước, bánh sau đi đường bánh sau in hai lằn trên đường nó thấy màu nặng nề khủng khiếp, nặng nề như muốn kéo dính lại với con đường, ma sát của sự uất nghẹn trên mặt trên cổ, trong lòng thầy với con đường tựa hồ bốc cháy, càng muốn bốc cháy khi nó nghe lời rầu rầu của bà bán rau:

“Thầy giáo chi mà khổ quá, lương hướng không mua nổi cái thắng cho xe!” Rồi bà hất đầu qua bên kia đường nói lớn hơn: “Bữa nào ông thấy ông thầy đi ngang, ông kêu lại hàn đôi dép cho ổng chắc chắc chút coi nghen ông, đôi dép chi mà cũng chẳng nên thân nên tội.”

Ông hàn dép đáp mà lắc đầu ngao ngán:

“Ờ, đề tui gặp được tui kêu.”

Nó chợt sực nhớ dòm xuống đôi dép của mình, đôi dép te tua, đứt mấy đường phải lấy dây nhợ cột chằng chịt lại. Và nghĩ lúc nào đó có tiền cũng ghé đây hàn cho nó đàng hoàng như một dãy dép, thau chậu cùng cái bửng xe Honda Dame bằng nhựa treo lủng lẳng đã hàn xong.

Phong cách thứ ba là của những thầy cô năng nổ, hăng say với các phong trào, phong trào cờ đỏ, hăng hái kiểm tra các quy định của nhà trường giữa các lớp để thi đua, biểu dương và phê bình, phong trào lao động, phong trào đoàn hội… Gương mặt các thầy cô này có phần hêch hếch ngước lên, những gương mặt lên gân cùng cử chỉ hùng hồn.

 

Thích thú những tiết học thể dục, những phong trào thể dục thể thao, nhứt là đá banh bao nhiêu thì Cu Sô ghét cay ghét đắng phong trào thể dục nhịp điệu bấy nhiêu, thể dục nhịp điệu thay thế thể dục giữa giờ. Nó, một đứa nhà quê cục mịch, dân thị xã nói lái lại gọi là đồ nha quệ, ban đầu còn gây tức tối bởi thấy nhục, sau nghĩ lại thì dần hết, thậm chí khoái chí. Nhưng không thể không nhục nhã khi bị mời ra khỏi hàng của lớp để cùng năm bảy đứa hợp thành hàng riêng dưới cột cờ ở buổi này, những đứa cùng cục mịch, thô thiển như nó ở các lớp khác, nói đúng là bị bắt ra đây để được uốn nắn hướng dẫn. Sự lạc lõng, bơ vơ không thể tả hết giữa văn minh phố thị, nó nghĩ mình không còn là đứa nha quệ, nhà quê nữa mà đích thị là đứa con của hoang liêu, hoang dại rừng rú. Một hàng những thằng chân tay gân guốc cứng tựa gỗ hứng chịu sự phán xét, chế diễu khinh bỉ phần nhiều hơn sự thương xót trong mắt gần một ngàn đứa học sinh như mình. Trớ trêu thay, đứa hướng dẫn thì dáng người rất uyển chuyển, mềm mại, vô cùng hứng thú với sự uốn nắn, cầm nắm vuốt ve tay chân thân thể tụi nó mãi không thôi, không chút ngượng ngùng, chỉ có tụi nó là từ ngượng ngùng cho tới rợn người với đứa trong lớp gọi đùa là chị, là lại cái, cá tính nữ lộ rõ trong thân hình con trai. Động tác thể dục nhịp điệu, hai tay chống hông, uốn éo hông và hai chân thay phiên đưa tới trước sang ngang chút rồi rút về cũng uốn như uốn dẻo, tụi nó thì nhịp điệu… cà thọt, cà thọt… trên nền nhạc và lời sôi động, vài đứa hát theo âm cứng của tiếng Việt: “Hồn… hồn… hồn, gài cô hồn… hồn… hồn…” vài đứa chế thành: “…Gái cô hồn… hồn… hồn…” Bài hát được cho là của Cu Ba, mấy đứa tỏ ra hiểu biết thì, “Cu Ba cu Sô gì, đây là bài của ban nhạc Boney M” nó chẳng rành điều này, chẳng biết đúng sai.

 

Nhục nhã, nó sợ, sợ anh mắt soi mói chứ dù có rợn người từ sự vuốt ve cũng không thất kinh lắm, một chút hiểu cuộc đời cho nó lòng bao dung, thương xót cho bạn mình cũng như thương xót mình. Sợ, nên cu Sô luôn trốn tiết thể dục nhịp điệu. Nó trốn theo một số đứa ra cái hẻm chừng một mét là khoảng giữa hai dãy lớp học. Cán bộ cờ đỏ không ra tận đây kiểm soát, bắt như những đứa trốn ra sân banh bởi hẻm đất nhềnh nhệt, không kịp rút nước đái tụi nó thải ra thì làm sao khô được và nồng nặc mùi. Tuy nó không tập hay lén hút nhưng khoái hít những làn khói thuốc lá Hoa Mai, Đà Lạt hay sang hơn có đầu lọc là Samit, Jet từ những đứa cùng xuồng để giảm mùi khai nồng nặc mà nói theo khoa học là amoniac có công thức phân tử NH3. Hai bờ tường gần sát đất đã chuyển màu lá mục ẩm thấp vì thấm chất này. Trường cũng có hai cái toilet nhưng cách xa một chút, trong một khoảng đất trống phủ đầy cỏ dại. Hai cái toilet dành nam nữ riêng biệt cách nhau vài bước chân, được xây bằng bốn bức tường cao quá đầu, chừa cửa nhưng không có cái cửa nào để đóng mở hoặc dù chỉ một tấm bạt che chắn. Một vài lần ra đây khi chưa biết con hẻm amoniac, nó thấy bên trong của toilet nam là một nền xi măng phẳng chứa đầy chất thải khô và nhềnh nhệt phủ bên trên, một lối nhỏ bên ngoài nền này vừa đủ đặt bàn chân ngồi là còn sạch, không vòi nước không lối thoát nào ra ngoài cả. Vài thằng tọc mạch cho biết bên toilet nữ cũng vậy nhưng chắc chắn rằng chẳng có đứa nữ nào dám ra chỗ này, hai cái thành của đực rựa mà thôi.

 

Một mùi có nồng nhưng không nặc là mùi những thùng lều nhỏ muối mắm và thơm nồng có màu đẹp, màu vàng vàng, nâu vàng, nâu vàng sậm là mùi nước mắm thành phẩm. Lớp nó thường xuyên được làm thí nghiệm với nước mắm. Thực sự đó là cách nói cho văn vẻ, chớ đúng ra là những buổi lấy điểm lao động bằng sản xuất nước mắm. Một lần duy nhứt được xuống phòng thí nghiệm làm nó mê tơi, tận mắt được sự tương tác của vài chất, tạo được màu từ quỳ tím rất đẹp. Còn lại toàn là những tiết học lý thuyết cho các môn khoa học tự nhiên. Lao động còn cho nó tận mắt gạch ngói màu đỏ au chứ không chỉ thấy xa xa dù tới lúc này ngôi nhà ở quê chưa một lần được xếp viên gạch làm tường, chưa một lần xếp viên ngói lợp mái. Biết được qua những buổi lao động bắt buộc. Lúc gồng mình khuân vác gạch sống xếp vào lò để nung chín, lúc chuyển gạch đã nung chín ra khỏi lò, lúc này nhận thêm một màu khắp người là bụi đỏ au ngập người, nhứt là bít cả mũi.

 

Mải mê phụ việc ở những luống rau nó mụ mị, không nhận ra có cá làm mắm ở trường tức trường phải gần với biển, màu mà nó ước mong được gặp. Nó cũng chỉ biết hai con đường tới trường với những mái nhà tường lợp ngói san sát nhau hai bên đường, vài ngôi nhà có từng lầu khác với làng quê của mình.

 

Một con đường gây ám ảnh và nó không bao giờ đi con đường này nữa dù có chút tiếc nuối. Lúc đạp ngang bến xe khách bên cạnh đường nó cho một người xin đi quá giang vào gần trường học mình. Đang đạp thì có một người hớt hải đạp theo kêu lớn:

“Ê ê, hê hê, đứng lại, đứng lại, tao biểu đứng lại.”

Nó ngừng xe thì người này liền hỏi:

“Đ.m. thằng nhóc, mày là ai?”

Dòm nét mặt bặm trợn nó tái mặt lắp bắp:

“Dạ… dạ con là… cu Sô.” Chợt nhận ra cu Sô là thằng nào ai biết, nó đổi nhanh: “Dạ, con là học sinh.”

“Đ.m. muốn chết hả mậy, học sinh mà láu cá, hả mậy?”

“Dạ… dạ, con có láu cá gì đâu.”

“Tao xáng bạt tai chết mẹ bây giờ, hông láu cá láu tôm mà đi giựt mối hả?”

Nó vẫn ngạc nhiên:

“Có có giựt mối gì đâu.”

Người xin quá giang chợt hiều, phân bua:

“À, à, hông có đâu anh, tui xin quá giang, cháu nó cho đi, chớ nó hông có chạy xe đạp ôm, hông có giựt mối lái anh à. Thôi, thôi, tui qua anh chở tui vậy.”

Nhờ đó nó mới thoát nạn và biết thêm cái màu của nghề này. Màu có mồ hôi công sức và đi kèm bặm trợn. Có chút tiếc nuối bởi trên con đường này thường gặp những người đạp xe thồ lu, thồ khạp, mỗi chuyến thồ cả bốn tới sáu cái lu bự tổ chảng hay chục cái khạp chất chồng như núi, nó không tưởng tượng được làm sao chất lên, thồ đi được và thường ngừng xe lại phụ đẩy mỗi khi thấy lên dốc phải ì ạch dẫn bộ. Màu của những cái lu, cái khạp ai ai cũng phải sử dụng, để trước hàng ba nhà mà hứng nước mưa dùng, để trữ nước, để dựng nông sản, để muối mắm muối cá… những người thồ lu khạp lấy hết màu mồ hôi để đổi được đồng lời, chứ chở một hai cái sẽ bỏ công cả chuyến, lu khạp giá quá rẻ, không thể hô hoán giá cao lên được và có lẽ màu này dễ vỡ nên những người thồ không bị ai chặn hỏi han, chặn bắt bớ gì.

 

Và nó biết rõ con đường duy nhứt từ ngôi nhà ngoại ô đi về nhà trên chuyến xe lam, đây là lúc rảnh rỗi ngồi quan sát. Khi nhàm chán với thời gian con đường chạy ngược, nó chuyển qua đếm… ổ gà, biết được ổ gà lớn nhỏ chỗ nào, sắp tới chỗ nào xe sẽ quẹo qua cua lại để tránh những ổ gà lớn, hay đếm cây trụ điện tín cách khoảng 50m có một cây thì biết đoạn đường lởm chởm người ta đào lên đổ đá và đất xuống chứ chẳng trải nhựa dài bao nhiêu… Nó cứ nghĩ mình còn thời gian sẽ biết thêm về thị xã nhưng nó chỉ học một năm duy nhứt, trở về nghỉ ba tháng hè mà không trở lại.

 

Hết ba tháng hè nó chuyển trường lên trường huyện vừa được xây mới ở gần trung tâm huyện cũng vừa được chuyển tới đây, một khu vực khá rộng còn lưa thưa dân chúng, xung quanh gần như được bao bọc bởi những ngọn đồi nhỏ. Ngôi trường nhỏ, mới xây chỉ một dãy phòng và một phòng riêng cho thầy cô giáo. Đường từ nhà tới trường cũng xem xem với đường tới trường thị xã chứ không gần gì, nhưng nó thích ngôi trường huyện này hơn dù chắc chắn có nhiều điều thua kém. Nó thoát được khỏi cái mùi nồng nặc, trường mới không có cái toilet nào, bí cứ chạy ra những lùm cây bụi cỏ cách trường một đoạn chưa bị ủi, nơi rộng rãi vừa thoáng mát vừa có gió cuốn mất mùi xú uế. Dĩ nhiên nữa nó thoát được khỏi những buổi đứng le ngoe vài thằng thành hàng một chỗ cây cột cờ. Và nó có chiếc xe đạp mới rất tốt hàng tuần đạp về nhà, chiếc xe đạp là một màu ấn tượng đặc biệt của nó không chỉ lúc này mà còn mãi về sau.

Một chút luyến tiếc, người ta cho xe ủi, ủi san phẳng hết còn trơ đất để xây cất, một vùng rộng ngập tràn màu nắng nhưng rất trống vắng mặt dù đang nhộn nhịp vận chuyển vật liệu cùng nhiều công nhân xây dựng. Một chiếc xe chạy qua, một làn gió mạnh là bụi mù bay như có đoàn ngựa tung vó hết cỡ phi qua. Nó ước chi người ta giữ lại những cây dầu cao to hơn vòng tay người ôm, tự hỏi phải chăng cây rừng không phù hợp, nhưng lại thấy trên con đường ở thị xã cũng có cây dầu đó thôi, có khác gì đâu nào, rồi người ta trồng lại những cây mà thân ốm tong teo, cao cao quặc quẹo phải cắm thêm một cây nho nhỏ làm trụ cho cây này tựa vào, hỏi ra mới biết đây là những cây bạch đàn, tràm bông vàng, những cây hợp với rừng rú chứ chẳng hợp mấy với trường học như cây điệp vàng, cây me tây, nhứt là cây phượng vĩ.

 

Có hai sự trùng hợp với sự mới mẻ này.

Cu Sô mua được chiếc xe đạp mới rất tốt bởi cuộc sống đã dễ thổ hơn. Bà con đã trút được điều nặng nề nhứt, lo âu nhứt đó là về cái đói ra khỏi người. Phương thức làm ăn mới đã được áp dụng và có hiệu quả. Làm ăn được khoán trắng cho từng hộ gia đình chứ không tập trung nữa. Được gọi là thời kỳ đổi mới. Đổi mới, mới mẻ về phương thức làm ăn cho bà con thay đổi hẳn, một số có đổi mới một chút, bớt nạn quan liêu, tra xét lý lịch… Những đứa như nó, như con cháu của ông Thầy, con cháu của ông già Socola thi đại học đậu đã được học chứ không như trước kia nếu đậu cũng phải về cầm cuốc với nghề sản xuất nông nghiệp, nhưng học xong chỉ được làm nhân viên quèn, không có chỗ lên cán bộ hay vận dụng hết năng lực dù có giỏi cỡ nào. Sự tinh tướng có giảm nhưng lộng quyền lắng sâu, ẩn núp, tham vọng quyền lực, khánh tướng vẫn còn đó, chỉ không khoe mẽ nữa. Những manh nha, hạt mầm nảy nở màu xấu nó đã thấy bắt đầu thành cây con, vẫn có đất  sống, đất dung dưỡng.

Cu Sô nhận thấy có điều khang khác trong mình, thả người trên đống rơm đêm đầy sao sáng lấp lánh nó đã cảm nhận được vẻ đẹp, vẻ đẹp tiềm ẩn phía khuất nữa chứ không chỉ là ánh tỏa lấp lánh, những giọt sương rớt xuống không chỉ ở ngoài da mà thấm vào thịt, man mát, se se lạnh tận bên trong, suy nghĩ đã lắng đọng, suy đoán nhiều hướng, chứ không chỉ rộn ràng nhảy múa, chỉ biết thu nạp và lưu trữ. Bên ngoài hình dáng cũng đổi khác, phỏng cao lớn hơn, vài cọng long măng mọc trên mép, giọng nói tồ tồ vịt đực, bước đi chững chạc. Nó nghĩ nó đã lớn lên chút rồi. Trước khi nó nghĩ nhiều người đã nhận ra sự mới mẽ, anh chàng trổ mã không còn bị kêu cu, thay bằng thằng Sô hay Sô học trò.

 

Ta bắt đầu rải những nốt nhạc chậm lại, những nốt nhạc có cung bậc rõ ràng, nhiều giai điệu hơn, giai điệu miên man, giai điệu trầm lắng, giai điệu bay bỗng, giai điệu du dương tình tứ và dĩ nhiên còn đó giai điệu vui nhộn. Cuộc sống lo lắng bộn bề, người ta đã quên bẵng đi sự lãng mạn, cu Sô thì không, nó vẫn đọc những tác phẩm lãng mạn, những tác phẩm trong đó có nhân xưng chàng và nàng, ta thích lắm, ta phải giữ lại điều này, ta gọi nó là chàng học trò Sô, thôi ngắn gọn thôi, chàng Sô, chàng ta!

Thầy cô ở trường mới cũng có khác với trường thị xã. Gần gũi hơn, có buồn nhưng chưa tới mức chán nản, sự hào hứng lan tỏa hơn nhưng cũng không tới mức hưng phấn hứng chí, các phong trào vừa phải bởi học sinh còn thưa thớt chứ không rầm rộ, ganh đua tới mức tị hiềm ganh ghét.

 

Với chàng Sô, sự trống vắng mang lại nỗi buồn. Không phải sự trống vằng cảnh quan kéo theo trống vắng tình người, chàng ta nhận thấy tình người nói chung không được như xưa, không thật lòng hết, đã có sự đối phó, chia rẽ bè phái nhưng chưa đến nỗi mất đi. Ánh đèn trắng đục không sáng lắm của bóng đèn neong sáu tất, vàng vọt một chút của bóng đèn tròn xài từ bình ắc quy nhưng khá hơn, tiện bề hơn ánh đèn dầu đã được thay thế nhiều. Ắc quy cho điện phục vụ nhu cầu giải trí. Có ánh sáng, có được điện là sự chung tay góp của nhiều người chứ không thể một mình, những nhu cầu vẫn còn rất xa xỉ. Người mua được cái ti vi, cái cassette thì người mua cái đầu máy chiếu băng video, mua cái amply cặp loa, người mua cái bình ắc quy, người góp tiền xạc điện định kỳ… Đã quá lâu cho sự đói văn hóa, và chỉ một nguồn cung cấp văn hóa luôn ngả về hướng phe mình là tuyệt vời nhứt, nay có nguồn khác, những điều lạ lẫm xâm nhập, những điều hay ho còn đọng lại của ngày xưa qua những lời kể, và sự mở cửa như được thả dàn, được thoát ra sự gò bó bấy lây nay, người ta mê mẫn với cái mới gặp, những điều lạ lẫm. Người ta mê mẫn những bộ phim chưởng, võ thuật, đánh đấm, xã hội đen và hài hước, một số ít phim tình cảm sướt mướt, lâm ly bi đát chủ yếu của Hồng Kông sản xuất du nhập vào, mê mẫn suốt ngày đêm, dán mắt vào màn mình suốt ngày đêm nếu rảnh rỗi. Chàng ta có tham gia nhưng không nhiều nên thấy trống vắng.

 

Chàng Sô thích hòa hợp với thiên nhiên. Thiên nhiên bị tàn phá nhiều, rừng bị đẩy xa đẩy xa khi bước chân con người bước tới bước tới. Chàng ta cuốn thời gian bằng bánh xe quay vòng, quay vòng vòng chậm rãi cuốn thời gian dư dả, đưa mình theo con đường mòn, con đường xe bò vào với thiên nhiên. Một bữa, mải mê cuốn thời gian và miên man bởi những cánh rừng lưa thưa đã quá thân thuộc, một khoảng không rộng lớn hiện ra, có nghĩa ở đây không có rừng cây và gặp một bất ngờ, một trảng cỏ rộng mênh mộng xuất hiện. Ngày ở làng có nghe tới những địa danh Trảng Cỏ, Trảng Bò thì bây giờ chàng ta mới vỡ lẽ. Trảng cỏ bằng phẳng trải dài không khác gì thảo nguyên bát ngát. Cỏ mọc đều như được tỉa tăm tắm chỉ cao độ năm phân, cỏ không xanh ngắt mà có pha chút màu vàng, cũng không phải màu xanh non, xanh pha vàng vàng, cỏ mịn tựa lông những con bò vàng tơ, trảng cỏ mịn lông bò người ta gọi tắt là trảng bò, phân biệt với những trảng cát, trảng sỏi… Điều độc đáo nữa, trên trảng cỏ đây đó xa xa có vài cây lớn đứng độc tôn, có lẽ cho chút bóng mát bởi trảng quá rộng, vài khóm cỏ dại mọc cao cao chừng đầu gối ra bông giống mảnh vườn nhỏ được chăm sóc hẳn hòi, tuyệt nhiên không có những lùm cây bụi cỏ um tùm gai góc và xác rác. Thiên nhiên tạo hóa vườn cỏ thơ mộng, vi diệu giữa rừng rú hoang dại thiệt độc đáo, đẹp không thua gì bàn tay con người! Chàng ta gọi là Trảng Cỏ bởi nghe tên Trảng Bò không được mượt mà lắm, trong tâm đã lưu những hình ảnh màu cỏ lông bò này rồi.

Chàng Sô không bao giờ đem bánh xe cuốn thời gian vào Trảng Cỏ. Chàng ta sợ nó bị dày xéo, phá nát. Bước đi vào rất nhẹ nhàng, bằng những đầu ngón chân tưởng tượng mình là chàng hiệp sĩ cỡi ngựa lướt nhè nhẹ trên thảo nguyên, lướt nhẹ nhàng như những đoạn phim chiếu chậm. Rồi ngồi tựa gốc cây cao ngắm nhìn đã mắt xong vẽ vào không gian những hình những màu cổ tích thành bứt tranh. Những màu ngày xưa xưa cha, má kể trước lúc đi ngủ, rất nhiều rất nhiều, hết chàng ta vẽ tiếp làng quê, những nơi mình đi qua và ghi nhớ… Chiều xuống thiệt chiều, ánh nắng có những tia chiếu nghiêng nghiêng một góc nhỏ và rải ra Trảng, một màu vàng của mùa thu nhẹ nhàng trong lòng chàng ta. Mát mẻ, cũng khá mỏi lưng, thử lăn một vòng, cỏ không bị đè bẹp mà bung trở lại bình thường, chàng ta tiếp tục nằm một chút rồi lăn lăn, mằm một chút rồi lăn lăn… Lăn tới những cụm hoa cỏ dại lúc này bươm bướm kéo tới bay đậu dày đặc mà lúc ánh nắng còn gắt bươm bướm không nhiều lắm, mảnh vườn trở nên đầy màu sắc, chẳng gì tuyệt mỹ hơn nữa. Ra về, bánh xe cuốn thời gian chạng vạng mà lòng nhẹ nhàng, cũng chẳng gì tuyệt vời hơn, có lố giờ, bánh xe cuốn thời giờ đêm tối chẳng sao cả, không chút u tối đè nặng lòng.

Chàng Sô thử ở Trảng cỏ với buổi sớm mai. Cũng chẳng gì tuyệt vời hơn. Lăn lăn với màu mát lạnh, tưởng tượng được màu se se lạnh của trời có mùa đông. Trên lá những khóm cỏ dại còn đọng những hạt sương tròn trong vắt, hạt sương tinh khiết chàng ta uống nghe ngọt ngào. Mặt trời lên, những tia nắng cũng nghiêng nghiêng góc nhỏ chiếc khúc xuyên qua cánh rừng thưa trước mặt, tỏa ánh vàng cam làm trảng cỏ ưng ửng, hừng hừng sắc. Bươm bướm nhiều nhưng không bằng buổi chiều tà dương, có lẽ các cô nàng còn nướng giấc đâu đó(?)

Có một lần Chàng Sô mang nỗi buồn, buồn với con người chứ không phải với Trảng Cỏ tuyệt vời, Trảng Cỏ bình yên giữa những cánh rừng không còn yên tĩnh. Nó bị bắt, bị mấy ông kiểm lâm bắt, bắt trói quặc tay đem về hạt, bỏ mặc những lời thanh minh, quyết gán cho chàng ta là kẻ dò la canh chừng cho lâm tặc. Một đêm nằm lạnh lẽo một mình giữa căn phòng trống không là gì đối với kẻ nhà quê, nhưng càng buồn, từ trường học cho tới hạt kiểm lâm không quá một cây số mà mấy ông này đổ cho trời đã tối không tới được để xác minh. Chính xác hơn thì mùi rượu mùi mồi và những lời mùi mẫn, những lời ẻo lả chả chớt, những lời ong bướm tán hưu tán vượn ở quán nhậu hấp dẫn bội phần nên bỏ qua thôi. Dĩ nhiên  tới trưa sau nó được thả nhưng khó loại bỏ nỗi buồn. Đêm đó, vài điều nữa văng vẳng chạy vòng trong căn phòng trống. Ngay bìa rừng, cạnh con đường có một tấm pano khá bự đổ bằng bê tông đứng sừng sững, uy nghiêm với Quốc huy bên trên và dòng chữ, “Nghiêm cấm chặt phá, đốt phá cây rừng, lấn đất rừng dưới mọi hình thức. Ai vi phạm sẽ bị pháp luật trừng trị.” Gần tấm pano này có căn nhà nhỏ cùng cái tháp canh để canh giữ rừng nhưng mấy khi có người, vài người kiểm lâm lâu lâu khăn gói ba lô súng ống đi vào rừng nhưng tựa hồ đi dạo một vòng rồi về. Chẳng thấy chặn hỏi han, ngăn cản một ai đi vào dù với rất nhiều xe bò, dụng cụ làm rừng. Họ chỉ canh chừng ở đây hay gần gần để bắt cây gỗ khai thác về mà thôi. Lâm trường thuộc hạt là một bãi đất trống chất đầy gỗ. Lâu lâu có xe tới chở đi ra các trại cưa. Lý ra ở đây phải tập hợp những người kinh nghiệm đầy mình về khai thác rừng, hướng dẫn họ khai thác cho đúng, không khai thác lấy gỗ lấy củi ở đâu ra? Và cũng không thấy trồng rừng ở những cánh rừng trơ trọi đã tàn phá. Không chính sách gì cả. Tấm pano giống con bù nhìn đứng giữa cánh đồng đã gặt xong, xi măng đúc pano nức nẻ, bong tróc từng mảng sơn và rêu phong đeo bám đầy.

Có những điều tưởng chừng chỉ có một, tuyệt vời nhứt không có gì tuyệt vời hơn nữa, không phải vậy, không có đỉnh điểm cố định cho sự cảm nhận, hiện hữu đỉnh điểm còn có thay đổi mà, ngọn núi cao vẫn cao thêm theo thời gian. Khúc nhạc của ta soạn cho cu Sô mang gam trưởng, rất vui, nhưng không chỉ vui mà còn mang âm hưởng tiết tấu của bản Sonata ánh trăng (Moonligth Sonata) của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig Van Beethoven, rất huyền ảo, rất lãng mạn!

Chàng Sô có thêm tuyệt vời hơn cả tuyệt vời với Trảng Cỏ. Cứ ngỡ rằng chàng ta mãi mãi một mình ở nơi đây, không người đồng cảm nổi với một người quá lạ lùng. Bánh xe cuộn thời gian đưa thêm cô gái xinh đẹp với chàng ta tới nơi này. Trảng Cỏ rạng lên hơn, bừng lên hơn, đẹp lên hơn. Cô nàng học dưới chàng ta một lớp, dĩ nhiên có sự đồng cảm nhưng không thể hiểu hết được, chàng ta cũng không thể diễn giải để hiểu hết những màu thăm thẳm phía khuất cho cô nàng, một ít đồng cảm thôi là đã quá tốt rồi!

Không gian lãng mạn của thế kỷ 18, 19 xuất hiện ở Trảng Cỏ, không phải chuyện cô gái ngủ trong rừng rồi chàng hoàng tử Sô đến giải cứu, một không gian với ánh trăng vàng sáng tròn quay, một không gian thực tế và phi thực tế, không gian thực tế và cổ tích kinh điển.

Cô nàng nói:

“Muốn lắm, muốn lắm được bay tới cung trăng.”

Chàng ta đáp liền:

“Ừ, ta sẽ tới cung trăng.”

“Bằng chiếc phi thuyền đa?”

“Không, ta đâu đủ giàu có để bay bằng phi thuyền. Ta xây một con đường đến và kết nối trái đất với cung trăng.”

“Xây một con đường?”

“Ừ, xây một con đường. Ta sẽ cùng mười cặp đôi cùng chí hướng, cùng lãng mạn xây từng tam cấp thành con đường, xây một đoạn dài ta dừng lại xây một trạm nghỉ, ở đây sẽ sản sinh sự sống như trái đất, đỡ bớt một chặn phải quay về lấy vật liệu, ở đây con cái chúng ta ra đời, ta tiếp tục xây tiếp con đường, một đoạn dài nữa tiếp tục xây chặng nghỉ thứ hai, sự sống tiếp nối ở trạm nghỉ thứ hai, có thể con cai chúng ta đã lớn, chúng thành hôn ở trạm này và cho ra đời hậu duệ thứ hai, chúng ta thành ông bà nội ngoại, cùng chung sức xây tiếp nữa con đường, tiếp một trạm nghỉ nữa, ta sẽ lên chức ông bà cố nội ngoại, hậu duệ thứ ba có mặt, có lẽ ở trạm nghỉ thứ ba ta tạm nghỉ, con cháu chúng ta xây tiếp tới cung trăng, ta tới an dưỡng tuổi già bạc tóc răng long và nằm lại nơi tuyệt đẹp này!”

“Hay quá, hay quá, nhưng sẽ không được trở lại trái đất, trở lại quê nhà, trở lại Trảng Cỏ?”

“Người khai phá phải chịu hy sinh.”

“Ừ hén, hy sinh cũng xứng đáng, chúng ta là những kẻ lãng mạn nhứt, hạnh phúc nhứt kết nối hai nơi một vàng rực một xanh rì này.”

Một màu xao xiết trong người chàng ta, nàng ta, xao xiết hạnh phúc bất tận cung trăng.

Nhưng đó là tương lai, hiện tại Trảng Cỏ đã là trạm nghỉ, ồ không là một nhà ga. Nơi này thường nghe tiếng còi tàu, nghe khá rõ, nghe cả tiếng cành cạch bánh xe chạy qua khớp nối thanh đường ray, con đường tàu lửa đi xuyên qua cách không xa mấy.

Cũng một đêm sáng trăng, đợi tiếng còi tàu vừa hú xong, chàng ta nói:

“Mai mốt đón ở ga này nhé.”

“Ừ, hứa chắn chắn phải về ga Trảng Cỏ đó.”

“Chắc chắn rồi.”

Hai thân thể nằm ngửa lắng nghe tiếng còi tàu còn văng vẳng và ngắm ánh trăng sáng tỏ, nằm có một khoảng cách rồi cánh tay chàng ta lần lần xê dịch nhưng giả vô tình tới sát cạnh cánh tay nàng, nàng cũng giả tảng lờ vô tình không biết, ngón tay út chàng ta tiếp tục giả vô tình chạm vào, chồng trên ngón út của nàng, một dấu móc ngoéo thay cho lời thề. Một màu giả tảng lờ đến là có duyên. Dòng máu trong người chàng ta chạy nóng rần, hồn phiêu diêu bất tận. Nàng ta cũng vậy. Người ta nói rằng, “Hãy nắm bắt lấy thời khắc”, chàng ta đã nắm lấy rất rộng khoảng thời gian, khoảng không gian, những thời khắc, nhưng đây là thời khắc rất diệu kỳ, thời khắc giao hòa dù chỉ là hành động nhỏ, chỉ vậy thôi, chỉ là móc ngoéo thôi nhưng đánh dấu đó là mối tình đầu của cặp đôi lãng mạn.

 

Chàng kỵ sĩ Sô sẽ rời thảo nguyên, rời ga Trảng Cỏ tới một nơi xa xa. Ta tiếp tục rải những nốt nhạc chậm, những nốt nhạc có cung bậc rõ ràng, nhiều giai điệu hơn, giai điệu miên man, giai điệu trầm lắng, giai điệu bay bỗng, giai điệu du dương tình tứ và dĩ nhiên còn đó giai điệu vui nhộn, nay thêm giai điệu ngỡ ngàng. Ta theo Chàng Sô đi về phía thành phố. Chàng ta đã là sinh viên Sô. Sinh viên mỹ thuật, đúng như dự đoán năng khiếu mà cha chàng ta đã đặt.

 

Ngày xưa những chàng học sĩ lên đường lai kinh ứng thí cần tay nải để quảy, các chàng học sĩ nay lên đường thường với cái rương. Sinh viên Sô nhớ lại cái rương nhốt những màu xa xỉ bỏ sau bụi chuối, và cứ mãi gặp cảnh trớ trêu, cái rương nằm giữa bùi nhùi đống rác, moi được ra thì đã mục tá lả, những màu xa xỉ cố chui thoát được ra, sắp sửa được chạm vào màu xa xỉ thì cái rương tiêu tùng. Thôi thì kiếm vài miếng ván đóng cái rương. Nhưng rồi nghĩ tới lui lại thôi. Đâu có đủ được ba bộ đồ, có hai bộ rưỡi chớ mấy. Hai bộ rưỡi? phải, hai bộ rưỡi, hai bộ áo sơ mi quần tây dài và một cái áo thun, mấy cái quần đùi cho de ra chớ ai mà tính. Ba cái áo ngả màu cháo lòng. Vài cuốn sách nữa cho vô giỏ sách với quần áo gọn băng, có chỗ trống trải cho chuyến xe.

Đó là chuyến xe không kém độc đáo. Một bó củi bự tổ chảng phía dưới, bên trên một bao gạo năm chục ký trên cái ba ga, chưa hết, cặp theo hai bên bánh xe dưới ba ga là hai bó củi nhỏ. Bánh xe không xa lạ gì, đó là cái bánh cuốn thời gian vào trảng cỏ. Nay nó sẽ cuốn thời gian trên con đường lộ tới thành phố. Để cân bằng chút đỉnh, giỏ sách được treo phía trước và một số đồ lỉnh kỉnh, nồi niêu chén dĩa, bột ngọt mắm muối… mà má chuẩn bị cho. Chưa mờ sáng chàng ta đã háo hức hết sức cuộn vòng giò dĩa ào ào để bánh xe cuộn thời gian nhanh nhanh. Một tiếng sau, bỏ lại hai mươi lăm cột cây số, trời ửng sáng, mồ hôi hơi rịn ra nên chậm lại và thưởng thức bầu không khí mát dịu yên bình. Một tiếng đồng hồ nữa, chỉ hai chục cột cây số lướt qua, háo hức ban đầu quá nên thấm mệt, cái câu “Đường dài mới biết ngựa hay” thiệt quá đúng, muốn bỏ vòng quay giò dĩa, nhưng thôi, còn dài dài lắm phía trước không chỉ con đường, tiếp tục ráng tuy có chậm lại. Sự ráng cũng khá dữ dội, hai tiếng thêm bốn chục cột cây số nữa thì đứt hơi, dù gì cũng đã gần nửa đoạn đường. Chiếc xe đạp được thảy lên mui còn chàng ta đứng trên cái bửng sau xe khách, vịn cầu thang leo lên trên đó đỡ một chút tiền, còn được xoay người nhìn con đường chạy ngược nuốt thời gian.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

 

 

 

 

Bao Nhiêu Năm Đường Chân Mây Thăm Thẳm

tranvanle

Bắt chước Chúa, tôi dang tay Thánh Giá
Làm mặt buồn, tôi ngó rất xa xăm
Cuối chân mây, tôi nghĩ đó Việt Nam
Tôi nhón gót sao tôi nhìn không rõ?

Biển xanh xanh, trời mờ mờ sóng, gió
Biển vỗ về: nên cố gắng nhìn lâu
Tôi nhìn lâu, tôi thấy những mái lầu
Nhiều con đường nhỏ mà sâu hun hút…

Nhiều con đường nhỏ có nhiều nhà không nhỏ
Có nhiều người như lính tới lui
Có cô gái thật xinh làm dáng cười cười
Có ông bệ vệ choàng vai âu yếm…

Tôi không nghĩ đó là những ngôi nhà điếm
Vì có cờ bay, không lẽ điếm treo cờ?
Bạn vỗ vai tôi: mày đang tỉnh hay mơ?
Nhà của quan lớn cất cho cô vợ bé!

Tôi nghe lạnh, mặt của tôi tràn lệ
Tôi thỏng tay, Chúa đã bỏ tôi rồi!
Và bạn tôi…là tiếng nói mà thôi
Tôi quỵ xuống, ồ chân mây trong mộng!

Việt Nam tôi, Việt Nam tôi, cái bóng
Bóng đã tan, chân mây cũng mịt mờ…
Bốn mốt năm dài chỉ một giấc mơ
Quan hiện thực chớ dân không hiện hữu!

Dân có gì đâu! Cái gì cũng thiếu
Một túp lều tranh, một manh chiếu tìm đâu?
Ở Việt Nam nay quả thật có nhiều nhà lầu
Những chỗ đó dân đừng hòng nương náu!

Vài hôm nữa, tới Noel, ngày Đạo
Tôi cầu xin gì nơi Chúa Hiển Linh?
Nói theo ông Linh Mục: Cầu hai chữ An Bình
…cho tất cả người người dưới thế?

…cho những kẻ làm Đất Nước Việt Nam tồi tệ?
(bởi chưa có Tòa Án nào kết tội lũ Bất Lương!)
Bao nhiêu năm dân đổ máu xương
Bao nhiêu năm Đường Chân Mây thăm thẳm!

Trần Vấn Lệ

Huyễn Mộng Ngày Về

luuxongpha
Chạm lối mòn ngày ngẩn ngơ tê dại
Giày rậm râu há mõm ói con đường
Thân đã cũ không đợi chờ áo mới
Ôm sông dài gặm giấc mộng trơ xương
Vốc nước bạc lau mặt mày bám bụi
Tiếng trẻ reo trong vắt rợn da gà
Chúng đâu biết tên hoang đàng rỗng túi
Gom bóng chiều về xây lại phù hoa
Dắt câu thơ bỏ nhà đêm huyễn mộng
Trái non tơ chín rục dưới hiên người
Giọt nhớ mẹ chờ giọt sương con vọng
Có bao giờ hội tụ giữa chơi vơi?
Lời ba dạy luôn vươn mình đứng thẳng
Thẳng lưng con-thơ chi chít vết bầm
Căng lồng ngực bắn ngàn tia khát vọng
Dội chân trời không tín hiệu hồi âm
Trên mặt đất bao kiếp người đã nhảm
Những chuyến tàu ghé lộn bến vu vơ
Khi trở lại ủ hạt cười trong nắng
Bên mộ tình cỏ cắn nấm mồ thơ!

LƯU XÔNG PHA

THẤT LẠC XANH

phuonguy

những khúc hát đi lạc rồi
ngày phong ba phủ kín lối
đã quá chiều sương rồi
tôi sao còn đợi?

là đôi mắt đã nặng rồi
mình về sao thấy lối
là mỏi chân rồi
giày xưa bỏ quên bàn chân

Giọt trăng thuỷ tinh đã vỡ rồi
âm xưa còn ngân
mình về đêm sâu thăm thẳm
giọt trăng buốt xuống trần

kí ức xanh ngút ngàn rồi
con hồ ly úp mặt vào tay mà khóc
đêm không còn là đêm
chỉ còn thăm thẳm mưa xanh

là phiến gió vừa rớt lạnh
thềm rêu một chiều dĩ vãng
là những đứt khúc tình xa
môi non như quên mặt người

PHƯƠNG UY

CON TÒ HE.

Yêu con gái Sài Gòn

 nguyenhanchung

Con gái Sài gòn không như gái Huế
không yêu thì nói thẳng thừng không vòng vo tránh né
cùng không cần dịu dàng e lệ
ngoa ngoắt  phang một câu xanh rờn xách mé

Đồ điên tưởng bở còn lâu

Con gái Sài gòn khi yêu nhau
không bao giờ để người yêu dẫn đến nơi kín đáo
không phải bắt chước ông bà ngày xưa giữ gìn cái gì là tiết tháo
đơn giản sợ làm buồn bộ váy mới mua

Con gái Sài gòn một ăn một thua
không để mẹ chịu nhục
bợp tai cảnh sát giao thông thà chịu tù chịu ngục
không để bọn ăn tiền thuế của dân mà dọa dân lành

Con gái Sài gòn học võ phòng thân
bật co tay đôi với trùm du dãng
cứu một em bé đánh giày đang hoảng loạn
vì không đủ tiền chung chi cho bọn côn đồ

Tôi yêu con gái Sài gòn như  như yêu thơ
rất tiếc già rồi lại đang có vợ
nếu được tái sinh ở xứ sở thiên đường thêm một lần nữa
nhất dịnh tôi sẽ cưới một cô em gái Sài Gòn
cố bưng phở làm nail kiếm được ít tiền làm lễ đính hôn
hy vọng tám mươi phần trăm là pass

Mai tôi về Việt Nam xuống phi trường Tân Sơn Nhất
niềm vui lâng lâng gặp gái Sài Gòn
nghe cái giọng có chút xíu ngang tàng mà vẫn ấm lòng hơn
nghe tiếng líu lo của đồ giãy chết

Sài Gòn đẹp .Sài Gòn vui ,gái Sài Gòn bất diệt
tôi đã có,tôi đang có ,tôi sẽ có
một người con gái yêu tôi
chính hiệu gái Sài Gòn
còn tôi vẫn là chàng trai già Quảng Nam
không bao giờ nhuộm tóc.

 Nguyễn Hàn Chung

em về một thuở…

 

npphan

 

em về một sớm mưa ngâu
cánh hoa nho nhỏ bên cầu ghẹo duyên
đường xưa phơi lá trăm miền
vầng trăng ru mộng còn nguyên một trời

 

em về từng cánh xuân phai
mùa thương nhớ cũng ngậm ngùi trên tay
trời xanh hao bóng hoa gầy
dáng em xõa tóc buông dài lối xa

 

em về áo biếc rừng hoa
trên vai tròn bóng nguyệt tà nhớ nhung
ngàn cơn gió nhẹ sầu mong
thổi bao âm điệu vô cùng, đón em

 

em về một sớm mưa quen
cánh chim xinh nhỏ chao nghiêng giữa đời
mùa xưa tàn lá chơi vơi
em về vạt nắng bên trời ngủ ngoan

NP phan

Bình Định, Dấu Ấn Lịch Sử Buồn

doanvankhanh

Thông thường, ít ai thắc mắc về ý nghĩa của những cái tên được dùng làm địa danh cho từng địa phương. Do đó mà có lẽ đối với nhiều người, hai tiếng Bình Ðịnh cũng chỉ là một danh từ thông thường được dùng làm địa danh để gọi một vùng như bao nhiêu từ địa danh khác trên mảnh đất Việt nam. Thế nhưng, đối với tôi, hai tiếng “Bình Ðịnh” không những chỉ đơn thuần là một địa danh mà Bình Ðịnh còn gợi lên cho tôi một ý nghĩa lịch sử.

Thật ra Bình Ðịnh không phải là quê hương tôi, nhưng Bình định lại là nơi tôi đã sống suốt thời kỳ thơ ấu và niên thiếu với không biết bao kỷ niệm vui buồn in hằn lên tâm khảm tôi không bao giờ quên được. Do đó những gì là Bình Ðịnh hình như cũng có chút liên quan với tôi cũng như tôi hay nghĩ về xứ sở và con người Bình Ðịnh. Tuy nhiên, không phải đợi đến khi lớn lên, học lịch sử, biết suy nghĩ, tôi mới lẩn thẩn nghĩ quanh về hai tiếng “Bình Ðịnh” mà ngay từ thủa mới theo cha mẹ đặt chân vào vùng đất này, mỗi khi nghe hai tiếng “Bình Ðịnh”, mặc dù chưa hiểu được ý nghĩa của hai tiếng này, tôi cũng đã thấy có một ấn tượng không vui và hình như hai tiếng này lúc nào cũng gợi lên cho tôi những suy nghĩ vẩn vơ.

Cái hình ảnh đầu tiên của tôi về Bình định là hình ảnh một vùng đất có những ngôi tháp Chàm hoang phế với những câu chuyện về ma Hời đã ám ảnh tâm hồn thơ ấu của tôi với một nỗi buồn mông lung. Và cũng chính tại vùng đất này tôi đã sống và lớn lên trong cái nhiễu nhương ly loạn và đảo điên của một giai đoạn lịch sử đầy đau thương của dân tộc, đồng thời cũng đã đánh mất đi rất nhiều ước mơ trong sáng của mình.

Tuổi cắp sách đến trường, phải tụng những bài học lịch sử được người ta cố tình bóp méo để giảng dạy cho học sinh theo quan điểm chính trị mâu thuẫn nhau của từng giai đoạn, từng chế độ mà tôi phải sống trong đó, tôi đã nghiệm được bài học không phải lịch sử mà là cái ý nghĩa đằng sau bài học lịch sử. Và chính vì thế mà tôi cảm nhận ra một điều: “Bình Ðịnh” đây cũng là một điểm tiêu biểu cho những cái nghịch lý của con người và lịch sử dân tộc.

Khi mỗi địa phương được đặt cho một cái tên để gọi, người ta vẫn muốn cái tên ấy nói lên được một cái ý nghĩa nào đó, hoặc là để diễn tả một đặc trưng, đánh dấu một sự kiện, ghi nhớ một biến cố của địa phương đó, hoặc có khi nhằm biểu tượng cho một hoài vọng. Mà quả thế! Trước khi vùng Bình định được gọi là “Bình Ðịnh”, nó mang nhiều cái tên khác có một ý nghĩa nói lên cái ước vọng cao đẹp của con người. Cái tên “Bình Ðịnh” chỉ mới có từ sau khi nhà Nguyễn khôi phục lại cơ nghiệp đã bị mất về tay nhà Tây Sơn, và “Bình Ðịnh” chính là một dấu ấn chính trị của một triều đại đã in lên vùng đất này trong giòng lịch sử dân tộc mà người dân vùng này phải lãnh nhận đã từ hai thế kỷ nay.

Có thể nói lịch sử Việt Nam là một lịch sử của những nghịch lý. Một dân tộc có ý chí quật cường chống ngoại xâm, dù có trải qua một ngàn năm nô lệ vẫn không bị diệt vong mà còn giành lại được độc lập, lại còn tiêu diệt cả Chiêm Thành và xâm lấn luôn cả Chân Lạp. Nhưng lịch sử Việt nam cũng là lịch sử của không biết bao nhiêu cuộc nội chiến triền miên và thời cận đại là một giai đoạn điển hình cho tính chất mâu thuẫn và nghịch lý nhất của dân tộc Việt nam. Những cuộc phân tranh, những lần chạy chọt đi cầu viện nước ngoài để diệt kẻ thù là người trong cùng một nước, những sự giết hại nhau chỉ vì tự cho mình là chính nghĩa hoặc phò chính nghĩa, rốt cuộc chỉ toàn là cảnh “nồi da xáo thịt” và “gà nhà bôi mặt đá nhau”. Hoàn cảnh chinh chiến, phải giết chóc kẻ khác để mong mình được sống, khiến con người càng dễ bộc lộ cái bản chất của mình. Bên cạnh những sự hy sinh hỷ xả, gương dũng cảm, đức thương người thì cũng không thiếu gì những hình ảnh dã man độc ác của những hành động phát sinh từ cái thú tính còn sót lại và cái lòng thù hằn, nhỏ nhen, ích kỷ của con người chỉ vì ham quyền bính, mưu ích lợi riêng tư hay cho gia đình, bè phái.

Trở lại với Bình Ðịnh, trước thế kỷ 15, vùng đất này còn mang tên Ðồ Bàn và hãy còn là lãnh thổ của vương quốc Chàm, với một nền văn minh rực rỡ mà ngày nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích. Kinh đô Ðồ Bàn đã từng có một thời lừng lẫy, và lịch sử dân Chiêm cũng đã có những thời kỳ huy hoàng với những chiến công oanh liệt: người Chiêm đã từng đánh phá kinh thành Thăng Long của nước Việt, đã từng đẩy lui mười vạn hùng binh của nhà Nguyên do Toa Ðô thống lĩnh từ Trung quốc theo đường thủy kéo sang xâm lăng, đã phá tan quân Việt và giết được cả vua nhà Trần định vào chiếm cứ.

Nhưng sự suy thoái của vua quan Chiêm Thành trong những thế kỷ sau đó dần dần đã làm cho vương quốc Chiêm suy yếu, do đó mà đến đời vua Lê Thánh Tôn, quân Việt đã chiếm được kinh đô Ðồ Bàn. Vua Lê Thánh Tôn cho sát nhập phần đất Ðồ Bàn này vào lãnh thổ Việt và đặt tên là Phủ Hoài nhơn, phủ lỵ đóng tại thành Ðồ Bàn cũ.

Một thế kỷ trôi qua trên vùng đất này với dân tộc Chiêm cứ suy vong lần còn người dân Việt thì hình như vẫn còn thích bám víu với quê hương cũ. Trong khi đó nhà Lê sau đời vua Lê Thánh tôn thì cũng không còn một ông vua anh minh nào kế vị lãnh đạo đất nước cho nên Mạc Ðăng Dung mới tiếm quyền và nhà Mạc có cơ hội dựng nghiệp. Nhờ công Nguyễn Kim và rể là Trịnh Kiểm cho nên nhà Lê lại trung hưng nhưng vua Lê bây giờ chỉ còn là cái bình phong để cho hai họ Trịnh Nguyễn xâu xé nhau.

Cảnh Nam Bắc Triều giữa Lê và Mạc chưa dứt thì đã xảy ra cái nạn Nam Bắc phân tranh. Sau khi Nguyễn Kim chết, con rể là Trịnh Kiểm vì muốn tranh quyền nên đã giết hại em vợ là Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng vì muốn tránh bị anh rể mưu hại, đã nghe theo lời dạy của Trạng Trình “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” mà xin vào trấn thủ vùng Thuận Hoá để tìm sự sống. Vì muốn thuận với chút chính nghĩa theo đạo lý Nho gia mà cả Trịnh lẫn Nguyễn chỉ xưng chúa nhưng lại cứ mượn danh nghĩa phò Lê để tiêu diệt nhau ngõ hầu tóm thâu quyền hành, do đó mà tạo nên cuộc Nam Bắc phân tranh trong hai thế kỷ.

Nguyễn Hoàng kể từ khi được vào trấn thủ đất Thuận Hoá đã cho mở mang các vùng phía Nam để củng cố tiềm năng cho mình. Ðất Ðồ Bàn kể từ ngày trở thành lãnh thổ Việt nam đến nay nhờ chúa Nguyễn Hoàng mà bắt đầu thay đổi bộ mặt. Thời gian này, những người Việt nam từ các tỉnh phía Bắc bị bắt, bị đày hay theo chân chúa Nguyễn đã lần lần vào đây lập nghiệp và biến đổi vùng đất này thành quê hương của mình. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt đã xua đuổi người Chiêm Thành ra khỏi giang sơn của họ. Dân tộc Chiêm suy vong để cho dân tộc Việt hưng thịnh. Cái tên phủ Hoài Nhơn nay được Nguyễn Hoàng đổi ra Qui nhơn.

Qua hai trăm năm đổ mồ hôi, máu và nước mắt xây dựng vùng đất mới này, những người di dân Việt đã đối xử với người Chiêm Thành như thế nào sử ta không chép, còn người Chiêm thì cứ bị tiêu diệt dần và cũng không còn nước để ghi lại những trang sử oán hờn của mình.

Những cái tên Hoài Nhơn hay Qui Nhơn theo chữ Hán đều có vẻ biểu lộ một ý nghĩa nhân bản. Nhưng những người dân Việt đến định cư trên vùng đất mới này đã hành xử như thế nào? Nếu họ đã thành công trong việc làm cho mảnh đất này thành quê hương vĩnh viễn của chính mình thì trái lại hình như họ chưa bao giờ thành công trong việc tạo dựng nó thành một miền đất hoà bình và thịnh vượng cho con cháu.

Những con người lãnh đạo vùng đất mới này cũng vẫn quen cái nề nếp cũ: chúa thì dần dần suy nhược và triều thần thì sanh ra bè phái tranh giành quyền lợi, do đó mà tới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, gian thần Trương Phúc Loan mới chuyên quyền và lộng hành, Khi Phúc Khoát chết, Loan lại tự thay đổi di chiếu, lập Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên nối ngôi, thanh trừng nội bộ nhà Nguyễn, quan lại thì thối nát, xứ sở lại mất mùa sinh ra loạn lạc, nhân dân đồ thán.

Thấy cảnh bất công cùng cực, con cháu của những người di dân xưa đã nổi lên đi làm lịch sử. Ba anh em Tây Sơn dùng chiêu bài “diệt quyền thần Trương Phúc Loan”, và “phò hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương”, dấy nghĩa binh đánh Nguyễn, nhân dân nức lòng hưởng ứng, khí thế bùng lên khiến quan quân chúa Nguyễn không chống nổi, bỏ thành mà chạy. Nguyễn Nhạc lấy Qui nhơn làm căn cứ, rồi từ đó đánh vào Nam, đánh ra Bắc.

Trong lúc Tây Sơn nổi dậy ở Qui Nhơn thì Chúa Trịnh cũng muốn nhân lúc Ðàng Trong gặp rối ren để tiêu diệt chúa Nguyễn bèn sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào chiếm Phú Xuân. Chúa Nguyễn phải chạy vào Quảng nam. Nguyễn Nhạc cũng thừa cơ hội vừa chiếm được Quảng Ngãi bèn tiến đánh luôn Quảng Nam. Chúa Nguyễn phải bỏ chạy vào Gia Ðịnh. Nguyễn Nhạc bắt được Hoàng tôn Dương đem về Qui Nhơn và gả con gái cho, nhưng Hoàng tôn Dương sau đó đã trốn vào Nam theo chúa Nguyễn.

Vì Tây Sơn chiếm được Quảng nam cho nên bây giờ Trịnh và Tây Sơn bắt đầu giáp mặt nhau. Nguyễn Nhạc thấy lực lượng của Tây Sơn chưa đủ để chống Trịnh bèn lập kế hoà hoãn, xin làm tiên phong đánh Nguyễn. Chúa Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ Quảng Nam, lại sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem ấn kiếm vào ban cho anh em Tây Sơn.

Hoà hoãn được với Trịnh ở mặt Bắc rồi, Nguyễn Nhạc liền sai Nguyễn Huệ đánh lấy Phú Yên, sau đó lại sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn và hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương đều tử trận. Dòng họ chúa Nguyễn bị tiêu diệt chỉ còn sót lại Nguyễn Ánh nuôi chí phục thù. Diệt được chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc liền xưng vương, lấy hiệu là Thái Ðức, sửa sang thành Qui Nhơn làm kinh đô, phong cho Nguyễn Lữ là Ðông Ðịnh vương đóng giữ Gia Ðịnh và phong cho Nguyễn Huệ làm Phụ chính,

Vốn có biệt tài về quân sự nên Nguyễn Huệ xuất quân lần nào cũng thắng trận. Mỗi lần Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam là Nguyễn Ánh thua chạy. Sau mấy phen phải trốn ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh bèn sang Xiêm cầu viện. Hai chục ngàn quân và ba trăm chiến thuyền cứu viện của quân Xiêm sang cứu viện cho chúa Nguyễn, bị Nguyễn Huệ dùng kế phục binh đánh cho một trận tan tành tại Soài Mút thuộc địa phận Mỹ Tho, chỉ còn vài ngàn tàn binh trốn chạy về nước. Tuy nhiên, vì không bắt được Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn chỉ vào đánh rồi lại rút về nên Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục chiêu binh chờ cơ phục hận.

Trong khi quân Tây Sơn dẹp Nguyễn ở trong Nam thì ngoài Bắc cũng rối ren với nạn Kiêu binh. Nguyễn Hữu Chỉnh là thuộc tướng của Hoàng Ðình Bảo. Vì muốn tôn Trịnh Cán lên ngôi chúa nên Hoàng Ðình Bảo bị quân Tam Phủ thuộc phe ủng hộ Trịnh Khải giết. Nguyễn Hữu Chỉnh vốn trước đã từng mang ấn kiếm của chúa Trịnh vào ban cho anh em Tây Sơn nên nay gặp lúc Kiêu binh làm loạn ở Kinh thành, Chỉnh sợ liên lụy bèn bỏ trốn vào Qui Nhơn thần phục Tây Sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh đem tình hình Bắc Hà trình báo cho Tây Sơn và bày mưu cho Tây Sơn đánh Trịnh. Theo lời bàn của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ thống lĩnh đại binh và phong cho Chỉnh làm Hữu quân đem hai đạo thủy bộ đánh chiếm thành Phú Xuân. Thừa thắng Nguyễn Huệ cho quân đánh ra Quảng Bình, rồi vẫn theo kế hoạch của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ không đợi hỏi ý Nguyễn Nhạc mà tự mình cầm quân kéo thẳng ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh.

Quân Tây Sơn qua Nghệ An, Thanh Hoá không gặp sự kháng cự đáng kể nào. Sau đó, thắng thủy binh của Ðinh Tích Nhưỡng ở Lỗ giang, đánh tan đại binh của Trịnh Tự Quyền đóng giữ tại Kim Ðộng rồi chiếm luôn Sơn Nam, Nguyễn Huệ tiến thẳng ra Bắc, đánh úp được thủy binh Trịnh dưới quyền Quận Thạc tại cửa sông Thúy Ái, thắng Trịnh Khải ở Tây Luông. Trịnh Khải chạy trốn bị dân bắt đem nộp Tây Sơn bèn tự đâm cổ chết. Thế là quân Tây Sơn tiến thẳng vào Thăng Long.

Ðể tỏ ý phò Lê, Nguyễn Huệ dẫn đám tùy tướng vào làm lễ triều yết và đệ trình lên vua Lê Hiển Tông sổ quân dân của Tây Sơn. Vua Lê phong cho Nguyễn Huệ làm Ðại Nguyên Súy Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công. Sau đó cũng do sự mai mối của Nguyễn Hữu Chỉnh mà vua Lê đã đem con gái là Ngọc Hân Công chúa gả cho Nguyễn Huệ.

Thấy Nguyễn Huệ tự ý kéo quân ra Bắc và tạo được thanh thế cho riêng mình nên Nguyễn Nhạc sinh nghi bèn kéo quân ra Bắc để kiềm chế Huệ. Nguyễn Huệ dù có mộng lớn nhưng thấy đất Bắc hà vẫn nặng lòng với nhà Lê và tỏ vẻ coi Tây Sơn chỉ như là đám thổ hào, do đó mà sau khi vua Hiển Tông mất, Lê Chiêu Thống lên nối ngôi rồi thì Nguyễn Huệ cũng theo Nguyễn Nhạc rút quân về Nam. Nguyễn Nhạc phong cho Huệ là Bắc Bình Vương, cai quản các vùng từ Quảng nam ra đến Nghệ an và đóng đô ở Thuận hoá.

Sau khi Tây Sơn rút khỏi Bắc Hà rồi thì tình hình đất Bắc lại trở nên rối loạn như rắn không đầu. Lê Chiêu Thống lên ngôi nhưng nhà Lê với một đám văn quan quen ngồi chơi xơi nước đã bao đời nay, mọi việc do phủ chúa quyết định, nay Trịnh không còn mà Tây Sơn cũng bỏ đi nên không biết làm sao điều khiển được triều chính. Các võ tướng thì lại đua nhau đi tìm Trịnh để phò. Trịnh Lệ và Trịnh Bồng lại nhảy ra tranh giành nhau cái phủ chúa, ức hiếp vua Lê như cũ. Trịnh Bồng đuổi được Trịnh Lệ bèn tái lập ngôi chúa.

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh thấy Tây Sơn âm thầm rút quân bỏ mình ở lại giữa chốn Bắc hà với một đám quần thần đang thù ghét Chỉnh thì sợ quá, vội chạy theo đến Nghệ An cho nên được Nguyễn Huệ thương tình cho ở lại trấn đất Nghệ An. Thấy mình ở vào cái thế Tây Sơn không tin mà Bắc hà không phục, Nguyễn Hữu Chỉnh nhân dịp được trấn thủ Nghệ An bèn giả danh phò Lê để chiêu binh mãi mã lập kế phòng thân. Còn Lê Chiêu Thống khi bị Trịnh Bồng ức hiếp mà nhìn quanh thấy không còn ai có thể giúp mình bèn mật chiếu nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp. Quân Nghệ An rầm rộ tiến ra. Trịnh Bồng chạy trốn và họ Trịnh cũng chấm dứt từ đó. Vua Chiêu Thống sai đốt tan phủ Chúa để xóa tan dấu vết của một uy quyền đã áp chế dòng họ mình trên hai thế kỷ.

Nguyễn Hữu Chỉnh nhờ phá tan quân Trịnh Bồng mà uy thanh nổi dậy. Sẵn cờ đến tay liền phất nên Nguyễn Hữu Chỉnh bèn lo củng cố thế lực cho mình và muốn nối ngôi chúa Trịnh. Chính sách hà khắc của Chỉnh làm cho dân chúng ta thán. Hay tin Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền ngoài Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra trấn Nghệ an và cử binh ra Bắc hỏi tội Chỉnh. Nhậm góp nhặt ở Bố chính, Thanh Nghệ được hơn 30.000 quân, bắt đầu tiến ra Bắc đánh tan được các tướng của Chỉnh sai đi trấn giữ. Nguyễn Hữu Chỉnh phải tự cầm quân nhưng cũng không đương cự nổi bèn lẻn về kinh thành khóc với Chiêu Thống rồi cùng vua Lê đang đêm vượt sông trốn sang Kinh Bắc. Vũ Văn Nhậm vào thành Thăng Long cho quân đuổi theo bắt được Chỉnh đem về xử tử bêu đầu cho công chúng xem.

Trong khi Nhậm đang ở Thăng Long thì tại Qui Nhơn Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ lại xảy ra chuyện bất hoà. Vì nghi Nguyễn Huệ tranh phần với mình nên Nguyễn Nhạc giữ vợ con của Nguyễn Huệ ở Qui Nhơn không cho về Thuận Hoá. Nguyễn Huệ kéo quân vây thành Qui Nhơn. Nguyễn Nhạc phải leo lên mặt thành khóc rồi trả vợ con cho Nguyễn Huệ để giảng hoà. Vũ Văn Nhậm vốn là rể của Nguyễn Nhạc, thấy nội bộ nhà Tây Sơn lục đục nên sau khi giết được Chỉnh không chịu tuân theo lệnh của Nguyễn Huệ gọi về Phú xuân mà chỉ lo củng cố thế lực riêng cho mình. Sẵn cớ vua Chiêu Thống bỏ chạy khỏi kinh thành nên Nhậm nghe lời một Lê thần, đặt Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn lên làm Giám quốc. Ngô Văn Sở vốn được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai kềm cặp dò xét Nhậm, thấy Nhậm muốn noi gương Nguyễn Hữu Chỉnh nên mật báo về Phú Xuân.

Ðược tin này, Nguyễn Huệ bèn tức tốc kéo quân ra Bắc. Ðại binh Bắc Bình Vương có cả Ngọc Hân Công chúa cùng hộ giá tiến vào Thăng Long đầy uy thế khiến Vũ Văn Nhậm không dám chống cự. Nguyễn Huệ đến thẳng dinh của Nhậm tuyên đọc bản án rồi sai võ sĩ bắt Nhậm, sau đó Nhậm bị trói phơi nắng ngoài pháp trường một ngày cho công chúng xem rồi mới bị xử trảm. Sau khi xử xong Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ thấy lòng người Bắc Hà vẫn còn hướng về nhà Lê nên giao việc trấn giữ các trấn cho các tướng Tây Sơn còn về hành chánh thì giao cho Ngô Văn Sở và một số cựu thần nhà Lê ra quy phục trông coi rồi lại lui về Phú Xuân.

Về phần Lê Chiêu Thống sau khi bỏ trốn khỏi Thăng Long, lên nương náu tại đất Lạng Giang liền cử người sang cầu cứu nhà Thanh. Vua Càn Long lâu nay thấy tình hình nước Việt rối ren đã dòm ngó sẵn nay sẵn cớ vua Lê cầu viện bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị đem 200.000 quân thuộc bốn tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, Qúy Châu và Vân Nam từ ba mặt Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn tràn xuống Thăng Long. Ngô Văn Sở và các tướng Tây Sơn thấy giặc đang mạnh, liệu thế chống không nổi nên đã theo lời bàn của Ngô Thì Nhậm lui về giữ Tam Ðiệp để bảo toàn lực lượng rồi cấp báo về Phú Xuân. Một lần nữa Nguyễn Huệ lại đem quân ra Bắc dẹp giặc.

Nếu Nguyễn Huệ lâu nay còn do dự chưa dám trực tiếp nắm lấy đất Bắc là vì thấy đám Nho thần ở Bắc Hà vẫn mang nặng lòng với nhà Lê, nhưng nay vua Lê lại đi rước quân Thanh sang, rồi lại chỉ lo trả thù những kẻ theo Tây Sơn và chầu chực qụy lụy trước trướng giặc, bất lực trước cảnh dân chúng bị giặc ức hiếp, nên Nguyễn Huệ đã có được chính nghĩa: cứu dân giành lại giang sơn. Do đó mà để chính danh, Nguyễn Huệ bèn làm lễ tế cáo Trời Ðất rồi lên ngôi Hoàng Ðế, đặt hiệu là Quang Trung, thống lĩnh thủy bộ đại binh Bắc phạt.

Ra đến Tam Ðiệp, vua Quang Trung trấn an Ngô Văn sở và Ngô thì Nhiệm, phủ dụ các tướng tá rồi cho quân ăn Tết trước và hẹn sẽ ăn Tết Khai hạ ở Thăng Long. Ngày 30 tháng Chạp, Vua Quang Trung kiểm điểm binh mã gồm một trăm ngàn quân và 300 thớt voi, phân binh thành năm đạo: giao cho Ngô Văn Sở chỉ huy Tiền quân, Hô hổ hầu lãnh Hậu quân, Ðô đốc Lộc và Ðô đốc Tuyết chỉ huy Hữu quân và thủy quân, Ðô đốc Bảo và Ðô đốc Mưu chỉ huy tả quân và tượng quân, còn tự mình điều khiển Trung quân trực chỉ Thăng Long.

Ðêm Mùng Ba Tết Kỷ Dậu vua Quang Trung dùng kế hư binh, không đánh mà hạ được đồn Hà Hồi. Sáng Mùng Năm Tết, quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ngọc Hồi. Ðề đốc Hứa Thế Hanh của nhà Thanh tử trận. Cùng lúc đó tại Khương Thượng, quân Tây sơn đồng loạt tấn công. Tướng Thanh là Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự tử tại gò Ðống Ða. Ðại quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ chạy về mạn Bắc, đến địa phận huyện Phượng Nhãn phải vứt bỏ ấn tín để thoát lấy thân. Quan quân nhà Thanh tranh nhau qua cầu phao. Cầu sập, chết hại vô số.Vua Lê Chiêu Thống cũng theo gót Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu. Chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã tiêu diệt và quét sạch quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi bờ cõi. Thật là một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử của dân tộc. Ngày mùng Bảy Tết, đúng như lời đã hứa, vua Quang Trung truyền mở đại tiệc khao quân ăn Tết Khai hạ ở Thăng Long.

Sau khi đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước nhà, vua Quang Trung bèn một mặt tỏ vẻ nhún nhường và nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm vận động cầu hoà với vua Thanh để nối lại bang giao giữa nước ta và Trung Hoa, mặt khác lo cải tổ nội chính, thu dụng nhân tài và phát triển tiềm năng để mưu đồ việc lớn. Vua Càn Long thấy việc chiến tranh không lợi nên cũng nghe lời tấu của quần thần mà thuận cho hoà và phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc Vương, lại còn thuận cho bãi bỏ lệ triều cống người bằng vàng đã có từ thời nhà Lê.

Khi những con người áo vải đất Tây Sơn vì cái tinh thần hào hiệp nổi lên làm lịch sử lập nên nhà Tây Sơn, tưởng rằng lịch sử sẽ mở ra một vận mệnh mới, nhưng lịch sử vẫn cứ là cái vòng luẩn quẩn. Hai trăm năm phân tranh đã làm cho lòng người dân Việt ly tán và với cái đầu óc sứ quân đã từng có từ thủa nhà Ðinh mới giành lại quyền tự chủ sau thời Bắc thuộc khiến cho cái tinh thần lãnh chúa vẫn ngự trị trong tâm khảm những kẻ muốn làm anh hùng.

Nếu khi mới khởi nghĩa, tinh thần nghĩa hiệp làm nô nức lòng người thì sau khi đuổi Nguyễn và diệt Trịnh, nhà Tây Sơn cũng lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn của quyền bính và quyền lợi. Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ Trịnh theo phò nhà Tây Sơn chỉ vì muốn mượn tay nhà Tây Sơn để trả thù cho mình, rồi vì cơ hội lại muốn lên làm lãnh chúa nên bị Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm giết. Vũ Văn Nhậm được trấn thủ Bắc hà cũng manh tâm làm lãnh chúa nên Nguyễn Huệ cũng phải xuống tay. Nguyễn Huệ cũng đã từng đem quân vây thành Qui Nhơn chỉ vì Nguyễn Nhạc muốn kềm chân Huệ khiến cho Nguyễn Nhạc cũng đã phải lên đứng trên thành mà khóc kể tình nghĩa anh em với Nguyễn Huệ để giảng hoà.

Trong ba anh em nhà Tây Sơn thì Nguyễn Lữ có lẽ cũng an phận với phần đất Gia Ðịnh được anh phong cho nhưng lại không đủ tài tạo dựng nó thành một cơ sở vững chắc cho mình nên lại mất về tay Nguyễn Ánh. Một Nguyễn Nhạc chỉ có đầu óc của một lãnh chúa, thỏa mãn với những vật chất thừa hưởng của vua chúa Chiêm thành và những của cải khuân được từ những chuyến ra Bắc hà với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh nên cũng không dám nuôi tham vọng nào hơn là trông cậy vào sự trấn thủ vùng biên cương được giao cho hai em và cầu an với mảnh giang sơn nhỏ bé của mình. Chỉ có Nguyễn Huệ có tài và có mộng lớn nhưng lại ở vào thế kẹt còn vướng ông anh chỉ muốn làm lãnh chúa và lòng người còn rối rắm vì cái lẽ tôn phò chính nghĩa của nền luân lý Nho gia.

Nhà Tây Sơn dù có chấm dứt cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh nhưng vì tính chất chia để trị nên vẫn không thực sự thống nhất được tổ quốc. Thêm vào đó mộng lớn chưa thành thì vua Quang Trung lại đột ngột mất sớm. Thái tử Quang Toản lên nối ngôi mới có 12 tuổi, quyền hành bị Thái sư Bùi Khắc Tuyên thao túng khiến cho nội bộ Tây Sơn bị phân hóa chém giết lẫn nhau mà suy yếu đi, do đó mà Nguyễn Ánh mới khôi phục lại được cơ nghiệp của nhà Nguyễn.

Cái đầu óc trung quân và tôn thờ chính thống theo Nho giáo Trung Hoa của đám sĩ phu Việt Nam đã làm cho một anh hùng Nguyễn Huệ dù đánh Nam dẹp Bắc chưa hề một lần thất bại, đã từng đánh tan quân Xiêm và quân Thanh cứu nước nhà khỏi rơi vào ách nô lệ ngoại bang, vẫn không tranh thủ được trọn vẹn nhân tâm. Một vài sĩ phu Bắc hà ra giúp Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú… vẫn không tránh khỏi những dèm pha chỉ trích và khi nhà Tây Sơn đổ thì cũng đành phải vạ lây. Ðiều này không phải chỉ có đối với đám sĩ phu Bắc Hà hay sĩ phu Gia Ðịnh mà ngay tại quê hương của nhà Tây Sơn vẫn có những người không thuần phục vị anh hùng áo vải. Bên cạnh bao nhiêu võ tướng tài danh theo phò nhà Tây sơn thì cũng có những nho sĩ danh tướng vẫn trung thành với chúa Nguyễn như Châu Văn Tiếp, Ngô Tùng Châu, Ðặng Trần Thường v.v… chỉ vì đất Qui Nhơn được coi như là đất của chúa Nguyễn. Chính vì thế mà Nguyễn Ánh vẫn tồn tại.

Sau khi Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm không thành bèn xoay ra nhờ sự giúp đỡ của người Pháp nên lấy lại được đất Gia định. Nguyễn Lữ thua chạy rồi chết. Nguyễn Nhạc già nua và vua Quang Trung lại mất sớm, thái tử còn nhỏ không đủ tài nối nghiệp vua cha cho nên Nguyễn Ánh lại sai quân ra đánh Qui Nhơn. Vua Thái Ðức chống không nổi, phải cầu viện quân Phú xuân của vua Cảnh Thịnh giải cứu. Quân Phú Xuân vào thành Qui nhơn, chiếm giữ thành trì và tịch biên tất cả kho tàng. Vua Thái Ðức thấy vậy, tức giận thổ huyết mà thác. Cảnh Thịnh bèn phong cho con vua Thái Ðức là Nguyễn Bảo làm Hiến công, ăn lộc một huyện, gọi là Tiểu Triều và Qui Nhơn cũng không còn là kinh đô nữa.

Vào lúc nhà Tây Sơn có cơ hội để thống nhất giang sơn gom quyền hành về một mối thì vua Quang Trung lại không còn, vua Cảnh Thịnh không đủ tài đức để nối nghiệp vua cha, khí thế nhà Tây Sơn mỗi ngày một tan rã, nhân dân địa phương bị khốn khổ vì giặc giã và nạn tham quan ô lại. Chính vì thế mà chỉ vài năm sau Nguyễn Ánh đã chiếm được thành Qui nhơn. Nguyễn Ánh đem quân vào thành, phủ dụ dân chúng rồi đổi tên Qui nhơn ra Bình định. Sự đổi tên này hẳn nhiên là mang một ý nghĩa rõ rệt. Trong hơn hai chục năm qua thành này đã bị quân loạn tặc Tây Sơn chiếm cứ và nay chúa Nguyễn đã “bình định” được.

Qua năm sau, vua Cảnh Thịnh sai Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng cử đại binh vào đánh Qui Nhơn, khí thế rất mạnh, quân Võ Tánh phải rút vào thành cố thủ. Nguyễn Ánh nghe tin thành Bình Ðịnh bị Tây Sơn vây khốn bèn thống suất đại binh ra cứu viện, nhưng không giải cứu nổi, bèn nghe theo lời Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bỏ việc giải vây mà kéo ra đánh lấy Phú xuân. Quân tinh nhuệ của Tây Sơn dồn vào Qui nhơn nên Phú xuân không còn lực lượng chống giữ. Vua Cảnh Thịnh và triều thần phải bỏ chạy ra Bắc.

Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng nghe tin Phú xuân thất thủ, liền sai tướng đem quân ra cứu. Quân ra tới Quảng nam thì bị quân nhà Nguyễn chận đường phải trở lui. Trần Quang Diệu nổi giận đốc quân ráo riết đánh thành. Võ Tánh liệu không còn có thể giữ được thành Bình Ðịnh nữa, bèn viết thư sai người đưa ra cho Trần Quang Diệu, yêu cầu đừng giết hại sĩ tốt khi chiếm thành, đoạn sai chất củi khô, đổ thuốc súng vào, tự đốt mà chết. Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết theo. Trần Quang Diệu vào thành, tha cho toàn thể tướng sĩ nhà Nguyễn và cho mai táng họ Võ, họ Ngô theo lễ. Nhưng nhà Tây Sơn kể từ khi vua Quang Trung mất thì cái hùng khí không còn cho nên đã mất Phú Xuân rồi thì cũng chẳng mấy chốc mất luôn tất cả.

Sự thống nhất giang sơn của Nguyễn Ánh không hẳn là do tài năng của Nguyễn Ánh hay lòng người dân Việt đều quy về với họ Nguyễn mà phần lớn là do cái thế của lịch sử và sự thừa hưởng công lao của nhà Tây Sơn. Nếu không có Tây Sơn dứt Trịnh, Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm, đuổi sạch quân Thanh và vua Lê phải bỏ chạy sang Tàu thì Nguyễn Ánh cũng khó gom được trọn giang sơn về tay mình.

Nhà Tây sơn là một Triều đại thật ngắn ngủi tuy nhiên cũng là một triều đại có nhiều nghịch lý nhất trong một quốc gia vốn đầy nghịch lý. Có thể nói triều đại Tây Sơn là một triều đại của chinh chiến. Suốt hai mươi lăm năm lúc nào cũng phải chiến đấu với kẻ thù và máu người dân lành phải đổ để giữ nước hay tạo ra chiến công không phải là ít. Khi chúng ta đọc sử chúng ta chỉ nghe nói quân ta tiêu diệt mấy vạn quân Xiêm hay mấy chục vạn quân Thanh nên chúng ta chỉ nghĩ đến cái hào quang của chiến thắng mà quên đi bao nhiêu tử sĩ đã nằm xuống trong âm thầm để làm nên trang sử vẻ vang này. Và trong cái cảnh nhiễu nhương tranh chấp giữa phe này phe kia đã có bao nhiêu sinh mạng phải hy sinh một cách phi lý chỉ vì chút quyền lợi riêng tư của vài kẻ tranh quyền thống trị. Ngoài ra còn biết bao hy sinh đau khổ và thương vong trong dân chúng, bao nhiêu là tài nguyên và công trình mà con người đổ mồ hôi nước mắt để xây dựng bị hủy hoại.

Triều đại Tây Sơn đã làm vẻ vang dân Việt nhưng quân tướng nhà Tây Sơn qua hai mươi lăm năm chiến đấu tàn sát sinh linh hẳn là không ít. Tuy nhiên nếu nhìn lại đôi khi những người từng bị coi là thảo khấu thổ hào đôi khi vẫn tỏ ra có một chút nhân. Một Trần Quang Diệu tha cho quan quân nhà Nguyễn và tống táng theo lễ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đã nói lên được cái đức nhân trong khi Nguyễn Ánh nhân danh chính nghĩa và đạo lý thì lại đã tỏ ra có những hành động vô cùng dã man tàn ác không những khi xử tội vua tôi nhà Tây Sơn mà ngay cả với những kẻ đã có công phò tá mình.

Có thể nói cái bản chất thù hận của con người Việt nam được thể hiện rõ nét nhất giữa triều đại Tây Sơn với triều Nguyễn gia miêu. Chính vì tư thù mà quên đi nghĩa cả nên vua Quang Trung vốn là một vị vua đã từng làm khiếp đảm quân Xiêm và quân Thanh, từng là phò mã nhà Lê, từng được vua nhà Thanh trọng nể cũng như từng có mộng lấy công chúa Trung hoa và mở mang bờ cõi ngược lên phương Bắc đòi lại đất bên Tàu thì cũng là một vị vua nằm xuống vẫn không yên và theo truyền thuyết thì hài cốt còn bị khai quật, đầu lâu bị xích xiềng giam vào ngục tối, chỉ vì do cái lòng thù hận của Nguyễn Ánh.

Sau khi thống nhất lãnh thổ, Nguyễn Ánh lên ngôi cửu ngũ, lấy niên hiệu là Gia Long, chỉnh đốn mọi việc trong nước. Với cái niềm tin tự cho mình là chính nghĩa thì khi nắm được quyền hành trong tay việc trước tiên là muốn phá bỏ và xoá sạch những gì được coi là của kẻ nghịch tặc. Ðể cai trị địa hạt Ðồ Bàn cũ, nhà vua đổi phủ Qui Nhơn thành Bình Ðịnh dinh, sau đó đổi dinh làm Trấn, lỵ sở đóng tại thành Bình Ðịnh tức là thành Qui Nhơn cũ. Ðến đời vua Minh Mạng lại học đòi theo lối nhà Thanh bên Tàu, đổi Trấn làm Tỉnh. Bình định trấn đổi thành Bình định tỉnh từ đó.

Từ đời nhà Lê đến đời nhà Tây Sơn, lỵ sở hành chánh tối cao của địa phương đều đóng tại thành Ðồ Bàn cũ nhưng tới thời Gia Long, vì muốn xoá bỏ những gì được coi là di tích của Tây sơn nên nhà vua đã ra lệnh triệt hạ thành Ðồ Bàn rồi lấy vật liệu đem xây thành mới cách thành cũ khoảng 10 km về phía nam. Tuy thành mới nhưng vẫn giữ tên là thành Bình định. Thành Ðồ Bàn từ khi vào tay người Việt, trải qua bao triều đại với mấy lần đổi tên chỉ còn trơ lại một dãy gò sỏi với ngọn tháp Cánh Tiên và lầu Bát giác cùng di tích vài bờ đất sụp lở…

Khi Tây Sơn khởi nghiệp, người dân ở vùng đất này đã theo Tây Sơn làm lịch sử. Nhưng nhà Nguyễn đã khôi phục được cơ nghiệp cũ nên nhà Tây Sơn phải chịu kết án là ngụy triều.

Người dân ở vùng này do đó mà cũng bị coi như là một thứ ngụy dân vì sống trên quê hương của Tây Sơn hoặc đã đi theo Tây Sơn. Ðối với triều Nguyễn, đất Tây Sơn là nơi phát sinh ra những tên loạn tặc và là kẻ thù không đội trời chung của dòng họ chúa Nguyễn, cho nên khi diệt được nhà Tây Sơn, vua Gia long đã dùng hai tiếng Bình Ðịnh để gọi vùng đất Qui nhơn, và “bình định” hàm ý vùng đất này là vùng đất phản loạn mà nay triều đình đã dẹp yên được. Với bản án ngụy dân, người dân xứ này dù muốn dù không cũng thấy mình bị phân biệt, do đó mà lúc nào cũng phải lo lắng, sợ sệt và chỉ còn ao ước được sống yên thân bình thường như mọi người dân khác. Có lẽ vì thế mà ngôn từ Bình định có chữ “thàng” và ca dao Bình định cũng có câu “Bình Ðịnh hay lo”. “Thàng” có thể là âm đọc trại của chữ “thường”. Suốt một trăm năm mươi năm dưới triều nhà Nguyễn, người dân Bình Ðịnh phải chịu sự chế tài này của nhà Nguyễn nên lúc nào cũng lo và lúc nào cũng có một chút mặc cảm.

Vua Gia Long không những chỉ đối xử tàn ác với quân dân nhà Tây Sơn, mà ngay đối với các công thần đã giúp mình làm nên sự nghiệp cũng bị nhà vua sát hại vì cho là mưu phản và có người đã chết còn bị buộc tội, mồ mả bị xiềng như trường hợp Lê Văn Duyệt. Ðiều này khiến cho nội bộ vẫn tranh chấp, giặc giã vẫn nổi lên cho nên đất nước vẫn cứ là rối loạn.

Trong suốt quá trình lịch sử, biết bao lần những con người tự cho mình là chính nghĩa thì đã hành xử chẳng chính nghĩa tí nào cả. Chính vì quyền lợi tư riêng mà Chiêu Thống cầu viện Thanh, Nguyễn Ánh hết cầu viện Xiêm thì lại quay ra tìm sự giúp đỡ của người Pháp. Ðiều này đã mở đường cho Pháp dòm ngó Việt nam. Mặc dù đã bắt đầu tiếp xúc với văn minh Tây phương nhưng với cái đầu óc cổ hủ ảnh hưởng ngàn đời phong kiến của Trung hoa nên vua quan nhà Nguyễn vẫn khư khư với những quan niệm lỗi thời để mà bảo vệ cái ngôi của mình chứ không biết canh tân đất nước theo trào lưu tiến bộ của thời đại cho nên thống nhất chưa đầy một thế kỷ, Việt nam lại bị Pháp xâm lược và bị chia ra làm ba kỳ để trị. Người dân Việt lại phải rơi vào cảnh lầm than và phải nhìn nhau xa lạ.

Khi vua quan nhà Nguyễn nhu nhược đành chấp nhận nền đô hộ của Pháp thì tại nhiều nơi cũng có những sĩ phu theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi chiêu mộ nghĩa quân chống lại sự xâm lăng của người Pháp. Người dân Bình Ðịnh với truyền thống chống ngoại xâm đã hăng hái gia nhập nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng và Tăng Bạt Hổ tham gia kháng chiến chống ngoại thù. Dù cuộc kháng chiến không thành công và Mai Xuân Thưởng bị tử hình, nhưng điều đáng nói là Mai Xuân Thưởng không chết vì bị Pháp giết mà bằng mưu mô tàn nhẫn của một ông quan nhà Nguyễn muốn vinh thân phì gia và bản án phản tặc của Triều đình Huế.

Khi người Pháp diệt được nhóm Cần vương của Mai Xuân Thưởng đã lấy dải đất chạy dài ra cửa bể Thị nại nơi Pháp đã đổ bộ và dùng làm căn cứ quân sự trong thời gian chống cự với nghĩa binh Cần vương để thiết lập một lỵ sở mới cho chính quyền bảo hộ tại địa phương thì cái tên Qui nhơn cơ hồ mai một lại được người Pháp đem ra đặt tên cho thành phố này. Non nửa thế kỷ sau, cơ quan Tỉnh của Nam triều từ thành Bình định mới cũng dời về thành phố Qui nhơn, thành Bình định được giao cho phủ An nhơn làm lỵ sở. Ðối với người Pháp chắc không có sự cân nhắc ý nghĩa của từ dùng làm địa danh cho một địa phương mà có lẽ chỉ là lấy lại một cái tên cũ. Tuy nhiên đối với lịch sử thì sự đặt tên này có thể xem như một sự phục hồi cho một cái tên đã bị xóa bỏ.

Cuộc khởi nghĩa mùa thu 1945 lật đổ chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn đã khôi phục lại cái hào khí của nhà Tây sơn. Nhưng người dân Việt qua một ngàn năm Bắc thuộc và một ngàn năm tự chủ nhưng vẫn lệ thuộc vào nền văn hóa Trung Hoa thì dù muốn dù không vẫn không thoát ly được cái đầu óc phong kiến chỉ thích mộng bá đồ vương hoặc là tôn phò minh chúa, khiến cho người Việt Nam dù miệng có hô hào cách mạng nhưng đầu óc thì vẫn rặc những ý tưởng cổ hủ để khoác cho mình cái tiếng chính nghĩa và gán cho kẻ khác là giặc để tiếp tục tàn sát nhau. Với chiêu bài “kháng chiến chống Pháp giành Ðộc lập”, người Cộng sản Việt nam đã nhân danh “vì an ninh Tổ quốc” để giết hại không biết bao nhiêu là đồng bào anh em của mình chỉ vì họ không đồng một quan điểm. Sau chín năm bắt người dân hy sinh và chịu đựng không biết bao gian khổ nhưng độc lập vẫn chỉ là một cái gì rất mù mờ, đất nước lại bị qua phân theo ý đồ của ngoại bang và người cùng một nước lại bắt đầu chụp cho nhau những cái nhãn hiệu này hay nhãn hiệu nọ để tiếp tục chém giết nhau không xa xót, rốt cuộc vẫn cứ là “gà nhà bôi mặt đá nhau” và rơi vào cảnh “trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”.

Tại miền đất Bình Ðịnh, sau cuộc khởi nghĩa 1945, nguời dân cũng đã mấy lần chứng kiến mảnh đất này sang tay cũng như đã lãnh nhận không biết bao là tang thương của chiến tranh. Chín năm kháng chiến chống Pháp người Bình Ðịnh đã tuân hành lệnh tiêu thổ kháng chiến của Việt minh san bằng thành phố Qui Nhơn và triệt hạ thành Bình định. Dù bị phá hoại san bằng, cái tên Qui Nhơn vẫn còn đó và thành Bình định vẫn còn là một địa danh được nhắc nhở.

Hiệp định Genève buộc người Cộng sản ra đi tập kết để cho người Quốc gia tiếp quản. Người Quốc gia đã xây dựng lại thành phố Qui Nhơn và cũng đã hỗ trợ cho nhân dân chung sức góp công góp của xây cất điện thờ Tây Sơn để khôi phục lại hào quang của một triều đại đã bị nhà Nguyễn bôi xóa dấu tích và một thế kỷ rưỡi người dân địa phương chỉ dám tưởng nhớ trong âm thầm. Người anh hùng chống Pháp thủa Cần vương cũng được dân chúng xây lăng tưởng niệm.

Người Quốc gia dù có cố gắng biện minh cho cái chính nghĩa của mình, nhưng với một nền độc lập chỉ có nửa giang sơn thừa hưởng từ sự ra đi của người Pháp với sự giúp đỡ của người Mỹ mà lại phải nhận cái di sản của chế độ thực dân thì chính nghĩa vẫn là một cái gì rất mập mờ. Do đó mà lòng người vẫn phân hóa và người Cộng sản với chiêu bài “giải phóng” vẫn tiếp tục huy động được những con người còn mê say với những quan niệm yêu nước thương nòi cổ hủ và hẹp hòi để phục vụ cho những mưu đồ xích hóa dân tộc của họ. Chiến tranh lại tiếp tục và riêng tại vùng đất của những người anh hùng đất Tây Sơn xưa, những du kích Cộng sản đã lợi dụng địa thế núi non thâm u của những nơi tôn kính này để núp bắn người Quốc gia.

Sau hai thập niên tương tàn, người Cộng sản cũng do thời cơ lịch sử mà chiếm trọn được miền Nam thống nhất đất nước. Chính quyền Miền Nam bị gọi là ngụy quyền và quân đội Miền Nam bị gọi là ngụy quân. Lại bắt bớ, giết chóc, tù đày, hành hạ để trả thù vì cái tội làm việc, đi lính cho kẻ không có chính nghĩa chỉ vì thua trận. Người dân Bình Ðịnh trong chín năm kháng chiến bị coi là Việt minh rồi qua hai mươi mốt năm sống dưới chế độ quốc gia nửa bên này, nửa bên kia để chém giết nhau, trả thù nhau, bây giờ trở lại với chế độ Cộng sản bỗng trở thành ngụy dân một lần nữa.

Người Cộng sản huyênh hoang với chính nghĩa và sự thành công của cuộc chiến tranh giải phóng để khai thác và bóc lột người dân, và dành đặc quyền đặc lợi cho một nhóm người được ưu đãi, trong khi người dân Bình Ðịnh cũng như những người dân miền Nam khác âm thầm tìm cách bỏ nước ra đi. Phải chăng họ là những kẻ phản bội Tổ quốc? Chính người Cộng sản đã trả lời thay cho họ. Qua bao nhiêu thất bại và đổ vỡ về kinh tế, người Cộng sản chợt nhìn thấy những kẻ mình xua đuổi ruồng bỏ trở nên khấm khá nơi quê người vẫn không nỡ dứt bỏ chút tình nghĩa ở quê nhà nên vẫn gửi tiền về giúp đỡ những người thân xấu số. Người Cộng sản được món bổng ngon nay quay lại gọi họ bằng “khúc ruột ngàn dặm”.

Từ khi người dân Việt vào đây xây dựng vùng đất này, biết bao mồ hôi nước mắt cùng xương máu đã đổ ra. Thành Ðồ bàn của Chiêm thành đã được Nguyễn Nhạc sửa sang thành kinh đô của mình rồi lại bị vua nhà Nguyễn cho phá hủy để xây thành Bình Ðịnh nhưng rồi cũng bị tàn phá bằng chính bàn tay người Việt, và đến nay thì không còn di tích. Người Pháp khi đặt cơ sở cho sự đô hộ vùng đất này đã xây dựng một thành phố bên cửa biển Thị Nại và gọi là Qui nhơn nhưng cũng chỉ nửa thế kỷ sau đã lại trở thành bình địa vì chính sách tiêu thổ kháng chiến của người Việt Nam theo Cộng sản. Qua bao nhiêu hưng phế của lịch sử, quá khứ còn lại có lẽ vẫn là mấy ngôi tháp Chàm như một niềm nhắc nhở một nỗi oán hờn nào đó.

Người di dân Việt từ miền ngoài vào vùng đất Ðồ Bàn đã xây dựng quê hương mình trên những chứng tích điêu tàn của một vương quốc bị diệt vong. Có một điều là cái nỗi buồn bị diệt vong này lại được nhiều người Việt đa cảm ta thán thay cho họ. Những bản nhạc như Tiếng Dân Chàm, Hận Ðồ Bàn là của người Việt làm ra và người Việt hát, cũng như những vần thơ than khóc nước non Chàm cũng lại là của những nhà thơ Việt. Không ai trong chúng ta xa lạ với nhà thơ Chế Lan Viên và tập thơ Ðiêu Tàn của ông ta. Những vần thơ ai oán như:

… Ðây, những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Ðây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!
Ðây, chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang
Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn…
(Trích bài Trên Ðường Về trong tập thơ Ðiêu Tàn)

Khi nghe những lời thơ than vãn ai oán này, và nghe cái tên tác giả là họ Chế, chúng ta tưởng chừng như đấy là một kẻ thuộc dòng dõi của Chế Bồng Nga đang khóc cho dòng họ mình và dân tộc mình, nhưng sự thật thì đó lại là một người dân Việt chính tông, sống trên vùng đất của người Chiêm Thành cũ, nhìn những di tích đổ nát và một quá khứ vàng son đã đi qua mà than vãn cho một dân tộc bị chính dân tộc mình tiêu diệt. Nhưng có lẽ từ trong tiềm thức, những vần thơ thương cảm cho dân tộc Chàm này cũng đã phát xuất từ sự thương cảm cho thân phận của chính dân tộc mình, kẻ chiến thắng trên những đổ nát để rồi cũng đang đổ nát bằng bàn tay của mình vì những tranh chấp quyền lợi riêng tư.

Thời khởi nghĩa 1945 Tỉnh Bình định có lần đã được đổi thành tỉnh Tăng Bạt Hổ, tên một lãnh tụ Cần Vương chống Pháp của tỉnh nhà nhưng tên này chưa được ghi vào sử đã trở về với cái tên Bình định. Sau cuộc chiến tranh trường kỳ Quốc Cộng, người Cộng sản sau khi chiếm được Miền Nam cũng cho cải tổ nền hành chánh và tỉnh Bình định đã được sát nhập với tỉnh Quảng ngãi để thành tỉnh Nghĩa Bình. Cái tên Bình Ðịnh tưởng chừng phen này đi vào dĩ vãng nhưng cái tinh thần địa phương và quyền lợi của phe nhóm đã khiến cho sự kết hợp này cũng không được dài lâu để cuối cùng lại tách đôi trở lại: Bình Ðịnh trở về với Bình định và Quảng ngãi trở về với Quảng ngãi. Trong lòng người cùng một nguồn gốc với nhau vẫn chưa bao giờ chấm dứt ganh tị, chia rẽ, tị hiềm.

Cùng là con Rồng cháu Tiên nhưng vì tranh sống, vì quyền lợi, người ta đã không ngừng bôi mặt đá nhau và nhân danh những ý niệm mơ hồ nào đó để rồi tự cho mình là “chính” hay gọi kẻ khác là “ngụy” để mà hành tội nhau. Và trong cuộc chiến, hễ vùng nào không phải trong tay mình “trị an” tức là vùng “loạn lạc” nên cần phải được “bình định”. Có lẽ may ra thời Hùng Vương mới lập quốc con người chưa xâu xé nhau chứ còn kể từ thời Bắc thuộc, người dân Việt vì muốn được sống còn cũng đã phải học theo những thủ đoạn của người Trung hoa cai trị mình để mà tranh sống. Khi đã giành lại được quyền tự chủ rồi nhưng với một ngàn năm kinh nghiệm đau thương dưới chế độ hà khắc của người Trung hoa, cái tâm thức hận thù của kẻ nô lệ và ý chí muốn làm chủ nhân ông để giành quyền sống đó vẫn tiếp tục ảnh hưởng nếp suy nghĩ của những kẻ muốn vươn mình lên, cho nên khi không có giặc ngoại xâm để chống thì lại chỉ biết tranh giành quyền lợi riêng tư chứ chưa bao giờ thực sự đoàn kết theo nghĩa hợp tác để xây dựng cho dân tộc Việt Nam một cuộc sống phồn vinh hạnh phúc mà chỉ loanh quanh luẩn quẩn với “loạn lạc” và “bình định”.

Chính vì thế mà khi nghĩ về hai tiếng “Bình định”, tôi không phải chỉ là cho đó như là một từ chỉ địa danh, một sự nhắc nhở về một vùng đất nhiều tang thương trong quá trình lịch sử, mà còn xem đó như là một dấu ấn cho nỗi buồn của lịch sử dân tộc.

ĐOÀN VĂN KHANH

VẾT THƯƠNG

authiphucan

ta đến từ đâu vậy
mùa hè đầy nắng
vệt máu cuối đường bay
khô rát

lửa
từ một trưa bật khóc
tàn tro những câu thơ
đốt sạch một quá khứ vàng son

áo mỏng thả hồn nhiên
một núi đồi khép nép
trắng
vai người tựa khóc

chuông gõ bốn mươi năm
dài thê thiết
chuông động
một đời tha hương

về không
về nhé
thu phơi lá
cánh cửa mùa đông sẽ khép

vết thương trở mình
cùng với thời gian
bỏng rát . . .

ÂU THỊ PHỤC AN

BIỂN CẢ

nguyenducbatngan

Lời ca nào buồn trong ngày chủ nhật
Sợi tóc nào buồn trong gió heo may
Nỗi bực dọc nào hằn trên nét mặt
Niềm suy tư nào loang vết thơ ngây

Nghe rất chậm lời kinh cầu buổi sáng
Và rất buồn trong những tiếng mưa bay
Ngồi ở nhà không tìm nhau hò hẹn
Nhìn mắt em mà đau xót từng ngày

Giọt lệ nào làm phai trang nhật ký
Tháng năm nào phai nhạt tiếng yêu em
Dù vạn dặm đường đi dài thế kỷ
Dù đường về là mãi mãi đêm đêm

Gió làm chứng mình hôn nhau ở đó
Và trời mây là trọn cả vòng tay
Buổi hẹn đầu mình tràn đầy bỡ ngỡ
Lần cuối cùng là cả cuộc mê say

Chừ xa nhau mỗi người đi mỗi ngả
Và đường về anh gọi gió hôn em
Rào rạt sóng mây trôi về biển cả
Chuyện chúng mình buồn nhất, phải không em.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN