QUÊ NGHÈO

huyenchieu

que-ngheo-p

 

Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo.

Mẹ  và tôi sống chung với bà ngoại  trong một ngôi nhà cũ kỷ. Ngôi nhà ấy dành phần tốt nhất gọi là nhà trên để thờ ông bà. Đàn bà và trẻ nhỏ sống ở nhà dưới là một gian nhà tranh vách đất .

Tôi không có ý niệm về giàu nghèo vì chung quanh tôi nhà nào cũng nghèo.

Đứa bé nghèo lớn lên bên gốc khế, bụi chuối, khóm tre và cảm thấy cuộc sống thật tươi vui. Tôi hay theo bà tôi vào bếp nhóm lửa nấu cơm để được nhìn những cây củi khô hóa kiếp  thành một bếp lửa hồng .Khi lửa bắt đầu reo tí tách , tôi thường chạy ra ngoài nhìn những làn khói len lỏi chui ra  từ mái tranh rồi lan tỏa lên bầu trời xanh trong.

Năm tôi lên sáu, mẹ  cho tôi đi học.

Đứa trẻ nào cũng vậy, ngày đầu  đến trường luôn  là một ngày thiêng liêng .

Tôi run run bước chân vào lớp học như bước vào một ngôi đền thiêng và khi vòng tay cúi đầu chào thầy , tâm hồn tôi xao xuyến dâng lên  một nỗi kính yêu chưa từng có .

 

Mẹ tôi nói “đứa nào không chịu đi học thì phải đi chăn bò”

Trẻ chăn bò và trẻ đi học hồi đó địa vị thật cách biệt.

Tôi yêu thầy tôi, tôi kính phục và biết ơn  thầy tôi. Thầy giỏi thật, chỉ một năm học với thầy tôi đã biết đọc, biết viết, đường hoàng bước vào một thế giới xán lạn , không phải là thế giới của chăn bò.

 

 

Ngoài giờ học, tôi thích nhất được đi long rong trong xóm để  lắng nghe sự sống sinh động  trôi qua từng phút , từng giây..

Thật thú vị khi nhìn ngắm những dăm bào cuộn tròn , tuôn ra từ cái bào của chú thợ mộc.

Thật vui khi được phép phơi chiếc bánh vừa tráng xong lên chiếc vỉ tre ở lò tráng bánh.

Tôi hay lén nhìn mâm cơm nhà hàng xóm xem  hôm nay họ có gì trong bửa cơm đạm bạc.

Đọc đến đoạn văn trời rét căm căm không ai thuê mướn,  nhà mẹ Lê với đàn con nhỏ nhít   không còn hạt gạo nào để nấu, tôi đã khóc.

“Quê Nghèo” của  Phạm Duy là bài hát ưa thích của tôi hồi đó.

“Ruộng khô có những ông già rách vai,

cuốc đất bên đàn trẻ gầy,

có người bừa thay trâu cày”

Ông Phạm Duy giỏi thật, ông đã làm tôi rưng rưng nhớ đến những chiếc áo vá của bà tôi, mẹ tôi và của nhiều đứa bạn  trong xóm.

 

Ở nhà trên, trong nhà  ngoại, cậu tôi có để trên bàn một tập nhạc. Cậu đi học xa nhưng cây đàn violon của cậu vẫn treo trên tường. Cây đàn  làm tôi biết rằng  có một điều gì đó làm cho gia đình tôi khác với  những nhà  trong xóm.

Mổi ngày tôi đều rón rén bước lên nhà trên, nhẹ nhàng mở tập nhạc , say mê nhìn ngắm từng bản nhạc. Những nốt nhạc như đang nhảy múa trên những dòng kẻ. Tôi tưởng tượng ra nhiều thứ từ những nét vẽ lập thể ngộ nghĩnh trên bìa nhạc của họa sĩ Duy Liêm và tôi đặc biệt thích những bài hát mô tả  làng quê  nghèo.

Dần dần tôi hiểu ra người dân quê tôi nghèo vì luôn có chiến tranh. Chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc, điêu tàn , xác xơ,   nghèo khó.

“Về đây nhìn mây nước bơ vơ

Về đây nhìn cây lá xác xơ

Về đây đâu còn bóng chiều mơ

Đâu còn  mái tranh chờ

đâu tìm thấy người xưa

(Trở Về- Châu Kỳ)

Và Phạm Duy đã dạy cho tôi bài học hay nhất về sự tang thương:

“Người đi trên đống tro tàn

Thương em nhớ mẹ muôn vàn về đâu

Chiều khô nước mắt rưng sầu

Thương thân thiếu phụ, gục đầu hài nhi

(Về Miền Trung-PD)

Khi  súng đạn im tiếng , ai cũng mong  quê hương sẽ được an hưởng thanh bình dù phải bắt đầu từ một đống đổ nát của  chiến tranh.

Nhưng  một cuộc chiến khác lại bắt đầu.

Lần này cuộc chiến còn  bi thảm khủng khiếp hơn nữa  khi  đứa con  tàn sát  chính  mẹ  của mình, bà mẹ thiên nhiên đã ngàn năm nuôi nấng , bảo bọc mình..

Nhớ lại   cái nghèo của chúng tôi thuở ấy sao mà đẹp quá.

Đó là thuở không ai tưới hóa chất lên ruộng đồng

Dòng sông thuở ấy  không bị tấn công bởi bao ny lông, trong  vắt  lượn lờ giữa hai bờ tre xanh

Bãi biển ngày đó hoang vu, tuyệt đẹp với trùng điệp  những  động  cát trắng tinh tồn tại từ hàng triệu năm trước không bị san bằng chia lô làm resort, xây biệt thự nghỉ dưởng, xây nhà cao tầng cao vút.

Rừng già quê tôi thuở ấy hùng vỹ , kỳ bí, thâm u  hào phóng ban phát oxy cho người  và là nơi ẩn náu  của hàng triệu thú rừng.

“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”

Người dân thuở ấy trân trọng và biết ơn rừng chỉ dám làm “tiều phu” xin rừng ít củi khô về đun nấu  chứ không dám làm “lâm tặc” trắng trợn thảm sát hàng triệu thân  gỗ quý ngàn năm tuổi.

 

 

Rừng xanh cũng biết ơn  người, giữ gìn cho mưa nguồn  thấm sâu vào từng gốc cây, bụi cỏ rồi  từ tốn  gom nước để dành  cho những cánh đồng thân yêu.

Và hạt lúa thuở ấy đã ban tặng  người dân nghèo những bát cơm thanh sạch dù chỉ ăn với muối.

 

Thương cái  nghèo  đã giữ cho  quê hương chúng tôi còn nguyên vẹn.

Tôi nhớ “Nắng lên Xóm Nghèo” (1), Tôi yêu “ quê tôi, yêu mãi bây giờ còn yêu”.(2)

Những “Mẹ quê vất vả trăm chiều nuôi một đàn con chắt chiu” (3) nay  còn đâu  nữa.

Tôi ước gì người dân quê tôi được  sống giản dị, yên lành, nghèo một chút như xưa  nhưng giữ nguyên núi, rừng, sông biển cho con cháu mai sau

 

Huyền Chiêu

Tháng 1- 2017

(1) Nắng Lên Xóm Nghèo –Phạm Thế Mỹ

(2) Tôi Yêu –Trịnh Hưng

(3) Bà mẹ Quê- Phạm Duy.

 

 

Báo thù

nguyentri

Nguyễn Trí :" In ở đâu đẹp há. Mà có 12 cuốn, ai được ai không zậy ta ?"

 

 

 

Năm Phú một vợ và một… cháu nội. Ủa chớ con cái đâu? Để nói cho nghe vụ con của cha nội nầy. Số là những ba mươi hai tuổi Năm Phú mới lấy vợ. Cũng chả phải ham vui quá trớn mà quên vụ vợ con. Năm Phú có vợ sớm bửng hà. Mới hai mươi nheo nhẻo mà bà má thúc hối quá Phú chịu không xiết. Má Phú một mình nuôi con không phải vì am tường nho gia chi phái rằng xuất giá tòng phu phu tử tòng tử chi chi đó. Bà ta ở vậy là bị cái chứng của phụ nữ không nói được. Phú đi lính cho cộng hoà, may mà binh nhì nên học tập có ba tháng. Về là bà má thúc lấy vợ ngay.

Kinh tế  khó khăn nên Phú theo chúng bạn lên rừng chặt củi đốt than. Cô vợ – tình thiệt mà nói – cũng có chút nhan sắc. Thời cộng hoà cô mộng uý tá chứ đơ dem cùi bắp như Phú thì chớ có hòng xách dép. Quý vị uý tá thì toàn là cáo có sừng. Em đưa thì anh đẩy chứ anh có vợ rồi cho vàng cũng không dám bước thêm bước nữa em ơi. Giải phóng xong thì uý tá thăng ráo, binh nhì như Phú lấy được một em tai mắt mũi họng trên trung bình là ngon lành ra phết. Ngờ đâu em thuộc lòng câu lẳng lơ chết cũng ra ma, chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng. Chồng kiếm ăn khó quá nên em cũng kiếm thêm bằng cách buôn cái chồng làm được. Tức là buôn than. Dễ lắm. Tập trung chừng một tấn than rồi thuê xe chở xuống vựa. Mua năm hào bán một đồng trừ xe cộ chi phí hết ba hào còn lời hai hào. Một tấn lời đứt hai trăm đồng. Phải chi được vậy cho đến cuối đời thì xe hơi nhà lầu có chắc. Kẹt cái rừng của toàn dân mà anh phá là vi phạm pháp luật, mua bán cái nhà nước cấm là tội gấp hai. Một ngày kia cô Phú bị bảo vệ rừng thộp tại trận. Than bị đưa về trạm tính sau. Cô Phú chạy đông chạy tây bốn phương tám hướng đất trời. Cuối cùng chả hiểu làm sao mà trưởng trạm cho qua vì lần đầu vi phạm. Thiên hạ bình rằng lần đầu cái mồ tổ nó chớ. Chả qua con vợ thắng Phú nó…

Nó làm sao có trời biết đất biết. Khì khì khì… lần đầu được thả… khà khà khà… Phú nghe thiên hạ cười mà điên gan. Đừng tưởng Phú binh nhì mà tầm thương nghe. Tú tài hẳn hỏi chứ không phải chơi đâu. Anh ta trốn lính vì sợ chết. Con ông cháu cha vui chơi trên phố thị bắt thằng dân đen đi trận là sao? Ngu sao đi để phơi thây? Phú trốn và bị bắt. Vậy mới ra cái binh đơ chứ đàng hoàng thì uý trăm phần trăm. Mà uý tá thì ra cái ôn chi trong thời cách mạng. Mút mùa cái vụ cải tạo chứ chạy đâu cho thoát.

Có rượu vô Phú ngâm nga một câu trong tuồng Tìm lại cuộc đời: “Con me mỹ đây rồi. Con đàn bà khốn nạn đây rồi…” Phú rình rập thử xem vợ mình làm cái chi mà thiên hạ rúc rích cười. Anh ta vờ ngu như bò đội nón. Đàn ông khi ghen lắm kẻ thâm trầm thủ đoạn lắm. Phú là một. Rình riết cũng đụng ổ. Con lăng loàn nghe chồng lên rừng liền trang điểm thiệt đẹp nói đi thăm má ở bệnh viện. Chả hiểu má Phú làm sao mà than đau bụng và ngày một võ vàng. Vợ đi Phú theo sau. Đến ngã ba nàng không đi thẳng mà rẽ trái. Đó là đường đến trạm bảo vệ dã chiến giữa rừng. Phú lọt vô lúc đôi gian phu dâm phụ đang ôm nhau ngáy khò khò. Gian phu là trưởng bảo vệ. Thời điểm nầy bảo vệ viên đã đi truy lâm tặc trong cùng cốc. Thằng bị cắm sừng cau đôi mắt mí lót và thấy một khẩu Ak đang treo trên vách chòi. Đã qua ba năm tác chiến nên Phú rất sành súng đạn. Phú lấy khẩu súng và lên đạn cái rẹt. Gian phu giật mình thức giấc  tung mình bỏ chạy. Phú làm một phát. Ông con bị trúng vô giò la như giặc dậy. Phú xỉa súng vô dâm phụ làm phát nữa. Hên thay súng hết đạn.

Phú bị hốt cốt đi một mạch những mười năm sau mới về. Bà goá phụ cũng đi luôn. Lúc nầy mới biết vì sao bà ta ở vậy nuôi con. Ung thư giai đoạn cuối nghe con bị bắt vì giết cán bộ thì chết quách cho khỏe thân. Phú về thì kẻ cho mọc sừng đã là vợ chính thức của tay bảo vệ bị gẩy giò. Đời quá xá buồn cười. Năm sau Phú có vợ. Đó là lý do vì sao những ba mươi hai tuổi Phú mới lập gia đình.

Còn sao mà sống với vợ và một cháu nội thì đặc biệt hơn.

Năm hai mươi tuổi thằng con trai dẫn về một má hồng môi đỏ giới thiệu vợ. Nhỏ này với Phú cũng không lạ. Mồ côi mẹ, cha lấy vợ khác nên nó khổ lắm. Con nhỏ đi phụ hồ trong công trường, chủ thầu sai nó bưng gạch xách hồ cho cha con Phú. Vậy là hai đứa quen nhau. Phú chưa kịp trở tay thì con nhỏ đà lớn bụng. Thôi thì về ở với ba má luôn cưới hỏi cũng vậy à con ơi. Nhà Phú vui như hội khi đứa cháu nội ra đời. Vui đó buồn cũng đó luôn. Cháu nội được hai năm tuổi thì ba má nó qua đời vì bị tai nạn giao thông. Chiều thứ bảy chủ thầu cho thợ lai rai ba sợi. Phú không lai rai mà làm hai ly vô một chỗ rồi xin phép ra về. Thằng con nhậu và con vợ ngồi chờ. Tuổi trẻ nên thị tài, tài chi không thị lại thị cái vụ rượu, thằng con uống lút ga. Về chả biết nó tông người ta hay người ta tông nó. Hai chiếc quây tàu tanh banh và bốn nhân mạng hồn du địa phủ. Chết sạch nên chả còn ai mà truy căn vụ việc. Thân nhân ai nấy đem về chôn.

Đó là lý do vì sao Năm Phú một vợ một cháu nội.

***

Cháu nội của của vợ chồng Phú ngoan và đẹp như minh tinh màn ảnh Việt Trinh trong phim Xương rồng đen vậy. Trong phim này Việt Trinh đen thùi chứ nó trắng bóc. Tóc dài, cằm chẻ môi trái tim đỏ như máu… nó bước – chao ôi – mềm như lụa và ăn nói nhỏ nhẻ nhò nhè dịu dàng hết biết luôn. Chưa hết. Con nhỏ học giỏi cực kỳ. Cái giỏi này phải nói Năm Phú góp công lớn. Đã nói Phú tú tài chứ đâu có ít. Thằng con trai duy nhất Phú kèm sát rạt, tại nó bướng bỉnh bỏ học giữa chừng đi làm thợ chứ nào thua kém chi ai. Con nhỏ thì khác nghe. Dưới sự kèm cặp của ông nội nó có chục cái giấy khen học sinh giỏi cho năm năm tiểu học. Bốn năm cấp hai thì tám cái và một bằng khen học sinh giỏi cấp huyện. Sợ chưa? Chiếc xe đạp Martin 107 nó đạp lên trường cấp ba là quà tặng chứ không phải của Năm Phú mua đâu. Cả sách vở cặp học cũng vậy luôn. Huyền – tên con nhỏ – là niềm vui là sự sống là hạnh phúc của toàn thể bà con cô bác ấp Mả Đá chứ không riêng gì của vợ chồng Năm Phú. Chưa thấy đâu trên trần gian ô trọc nầy thiên hạ khoe rằng con đó thằng kia ở xóm tao vậy vậy và vậy vậy cả. Thường thì chỉ có chê. Điều nầy chả cần lý giải chi cho mệt óc. Dân ấp Mã Đá mười nhà đúng mười nghèo mướt. Nghèo đi kèm với đông con thì tất nhiên dốt là phải quá. Nên chi bà con xem nhỏ Huyền như gương soi cho con em cũng là phải lắm.

Vậy mà đùng một phát con nhỏ lăn ra chết.

Một cái chết vô cùng khác biệt. Nó không giống với bất kỳ một cái chết nào trên trần thế nầy. Ngay cả những tay viết tiểu thuyết lừng danh cũng không thể tưởng tượng ra một cái chết như vậy để mà viết.

Lúc ấy già Năm Phú đang tòng teng trên võng:

  • A lô… Năm Phú hả… xuống Ngã Ba Lộ Mới gấp…

***

Ngã ba nơi bé Huyền tử nạn đã có từ thời cố luỹ cô lai. Vậy mà từ khi ông nhà nước cho rãi nhựa đường chả hiểu sao lại gọi Ngã ba lộ mới. Thôi kệ đi. Thiên hạ cho chết tên thì mình cũng gọi luôn cho nó vần. Cách ngã ba nầy chừng chục mét có một garage chuyên sửa vá ép các loại ô tô. Nhỏ Huyền đạp xe vừa ngang qua garage thì một tiếng nổ vang lên. Lúc đó là sáu giờ hai mươi tám phút. Vì sao lại chính xác đến từng phút là do tay hon da ôm tên Hải hỏi chủ quán cà phê cóc gàn đó mấy giờ rồi. Tiếng nổ ấy xuất phát từ cái garage. Cũng chả có chi quan trọng khi một cái bánh xe đang bơm hơi bị nổ.  Quan trọng là con Huyền bị chết tức tưởi – cực kỳ tức tưởi – sau cú nổ định mệnh.

Một cái bánh xe tải gồm có một la-răng tiếng việt gọi là mâm. Nó gồm có năm cái lỗ to chà bà lửa. Cái mâm đi kèm một vòng thép. Vá ép xong thợ sẽ cho ruột vào vỏ, lót thêm một miếng yếm cao su, sau đó mới cho tất cả vào mâm tức la-răng, cuối cùng mới cho cái vòng bằng thép vào để khoá. Trước khi bơm người thợ sẽ thọc vào một trong năm cái lỗ một thanh thép đặc ruột to bằng ngón chân cái dài một mét. Trường hợp đang bơm mà bị nổ thì cái vòng thép sẽ bị thanh thép chận lại. Nếu không chận, vòng thép sẽ gây hoạ không lường được nếu bị nổ.

Và thiên hạ đang trong quán cà phê cũng như dân cư hai bên đường tại ngã ba lộ mới chắc chắn thằng bơm xe đã không thọc thanh thép vào mâm xe. Chính vì vậy cái vòng thép bị lực đẩy tống bay lên và rơi tự dọ – lạy chúa – trúng ngay đầu con bé Huyền đang đạp xe chạy ngang. Con bé té xuống đường chết tức khắc. Cái vòng thép cả năm ký lô trên độ cao cả chục mét thì sống sao nổi cao xanh ơi? Tất cả chứng kiến cái vòng sau khi gây hoạ còn ưỡn ẹo thêm vài vòng rồi đứng lại cà rập cà rình một lúc mới hoàn toàn yên vị.

Người ta bu lại chỗ con bé nằm. Gọi điện cho công an và Năm Phú. Bà Năm đang trong chợ Mả Đá cũng bỏ chảo chả cá chiên tung người bỏ chạy. Hon-da xe đạp rùng rùng theo cho biết, Vừa chạy vừa hỏi sao? Cái gì? Con Huyền cháu nội Năm Phú hả? Nó làm sao? Và tất cả dân của Mả Đá rùng rùng rơi nước mắt khi con bé họ thương yêu chết rồi. Nó nằm kia kìa, và chết rồi. Y như nó đang ngủ trời ơi. Ông trời ơi. Ông không có con mắt. Đúng vậy. Nếu có ông không thể để vợ chồng Năm Phú vào đoạn trường. Nhìn bả kìa… khóc đi bà Phú, khóc đi bằng không bà chết vì đứt ruột cho coi. Bà Phú không khóc cũng như ông Phú không khóc. Ông ta đứng nhìn cái vòng thép định mệnh. Và rồi xe của bệnh viện tới kèm theo một đặc chủng của công an. Người ta đến lập vi bằng ăn kết ăng co, lấy lời khai nhân chứng. Có cả mấy người xác nhận rằng… rằng… rằng… vậy… vậy… vậy… Con nhỏ được đưa vào bệnh viện để khám nghiệm tử thi. Sau đó người ta kêu Năm Phú đến ký tên. Ký xong Phú quay lại thì cái vòng sắt đã bị ai đó lấy mất.

Không như bao kẻ lìa đời đang trong nhà vĩnh biệt của bệnh viện huyện. Không một trại nào trong ba trại hòm của thị trấn đoái đến cái xác của con Huyền. Cả cái trại của một đại gia trong xã nhà cũng vậy luôn. Chả là nhà ông Phú nghèo. Ngoài trừ chỗ chui ra chui vô chả có cái chi. Chừng như bọn chủ trại sống và giàu có bằng xác chết không đánh ra vị tiền trong cái chết này. Bán hòm và lo tang ma cho hộ nầy thì không chừng mất vốn như chơi. Vậy nên nhỏ Huyền về nhà bằng xe của bênh viện. Cái băng ca vừa vô nhà thì bà Phú lăn ra đất. May quá. Có bác sĩ trên cứu thương. Người ta tìm mọi cách để cấp cứu nhưng cuối cùng bà bác sĩ nói rất tiếc tôi đã cố gằng hết sức… xin thành thật chia buồn… Vậy là hội bảo thọ xã phải tay vụ hàng họ để người chết về nơi an nghĩ.

Nhưng Năm Phú từ chối ba cái hàng từ thiện. Ông ta đến tận trại hàng lớn nhất thị trấn có xe rồng đưa đón hẳn hoi, có cả sư thầy tụng đưa hồn người chết về  cực lạc. Con người ta sống cái nhà thác cái mồ. Năm yêu cầu cả mả đá hoa cương mới chịu. Chủ trại Ngũ Hành đắc co cái rụp khi Năm Phú đưa sổ đỏ cái nhà một trăm mét vuông. Xong đám tao kêu bán trả liền cho bây. Bây giờ bây và tao lên uỷ ban xã yêu cầu ký xác nhận. Ô kê chớ hả? Cái nhà tao ít cũng trăm ngoài triệu. Hai bà cháu đi rồi tao ở chi căn nhà này nữa…

Sau lễ hai mươi mốt ngày dân xóm Mả Đá vấn kế cho Phú rằng phải kiện thằng chủ garage. Buộc nó phải chịu trách nhiệm. Vụ này là hình sự luôn chứ dân sự là chuyện nhỏ. Có cả năm người chứng là họ thấy cái niền sắt rơi trúng đầu cháu nội ông. Không làm ra lẽ thì Phật tổ tụng con nhỏ cũng không siêu chứ ba thằng thầy tụng của trại hàng, thứ mà vừa tụng vừa nốc rượu thì chả ra cái ôn dịch gì:

  • Tui nói ông nghe kịp không ông Năm?

Năm cười:

–   Kiện? Kiện ai? Kiện cái vòng sắt hay kiện thằng chủ garage? Mày tưởng tao chưa đi hả? tao đến xã xã nói ngoài phạm vị kiểm soát. Biểu tao lên thị trấn, tức là nơi cháu tao chết. Trấn chỉ lên huyện. Huyện kêu về xã xác minh. Mấy thằng chứng ở đâu mày biết không? Toàn khách uống cà phê xong là đi. Mày biết chủ quán cà phê với thằng Garage là chi không? Là anh em cọc chèo. Tao nghe nói chính nó đem cái vòng sắt phi tang khi công an kêu tao đến ký giấy tờ chi đó. Mày biết thằng honda ôm Hải đang ở đâu không? Thằng Hải là cái thằng xác định cháu tao bị cái vòng sắt rớt trúng đầu lúc sáu giờ hai mươi tám phút đó. Ừ… nó đang ở bệnh viện. Chả biết ai cho nó ăn đòn. Tao lên xin nó làm chứng, nó nói tha cho tui ông Năm ơi. Tui chưa muốn chết. Tụi nó giàu có. Con kiến kiện củ khoai là không được mày ơi. Thời nào cũng vậy đa kim ngân  phá luật lệ. Tao già rồi sống nay chết mai kiện cáo làm chi nữa? Con người ta sống gửi  thác về và chết là hết. Là yên vui.

Nhưng Năm Phú không hề yên vui. Sau đám ma ông ta như một kẻ vô hồn. Cứ cái võng đằng trước nhà Phú ngồi lảm nhảm bên bình rượu hai lít. Ai đi ngang cũng biết rằng Phú tuyệt vọng. Nghĩ đi. Mười năm tù tội. Con trai con dâu mất khi tuổi đời còn quá trẻ. Cháu nội còn trẻ hơn và người đàn bà hú hí tuổi già cũng bỏ mà đi thì đời còn chi đáng sống? Nhìn Năm Phú chủ trại hàng Ngũ Hành cũng không đang tâm đòi nợ. Không mất đâu mà lo. Ông ta mà chết thì cho thêm cái đám nữa rồi lấy cái nhà cũng được. Dân tình ứa nước mắt bình rằng:

–  Chỉ có cái chết mới giúp ổng thoát khỏi cái đau lòng này. Mong ông chết cho rồi. Ai nói sự sống là trân quý chứ với ổng bây giờ là hoả ngục.

Ngồi chán Phú lếch thếch bước. Tay bình rượu vỗ bụng mà hát. Hát rằng : “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Làm chi cho mệt một đời… Phú điên rồi. Điên thiệt rồi. Lão điên ra đến chỗ đứa cháu nội nằm chết thuở nào. Cứ thế ngồi. Riết rồi người ta phải dìu lão vô lề để đường cho xe chạy. Trong lề lão điên cứ đăm đăm nhìn  cái garage – nơi mà – đã tạo ra cái chết cho cháu nội và vợ lão.

Phú cứ nhìn miết. Ngày nào cũng nhìn, có hôm xách bình hai lít ngồi trước cửa garage. Con vợ thằng chủ ẳm con ra dúi vào tay lão điên mớ tiền. Lão thích thú cười… khì khì khì… rồi đi. Rồi đến. Ngồi. Ngồi miết. Có hôm thằng chủ bực quá chửi con vợ:

–  Dẹp cái vụ cho tiền dùm tao cái. Tại cho nên lão tới hoài biết không? Đi đi lão già. Đù má… vụ nầy tao tốn nhiểu lắm rồi à. Không đi tao xịt chó cắn chết mẹ mày bây giờ.

Nói làm làm thằng chủ garage huýt con chó. Chó giữ nhà to như con beo xồ ra ngoạm gấu quần Năm Phú. May quá con vợ thằng khốn gào lên:

–   Ông ác vừa thôi. Cháu người ta vì bất cẩn của ông mà chết đó. Vợ người ta vì vậy mà ra đi. Ông chả cho người ta một chút để tang ma. Trong khi ngày nào cũng chung chi nhậu nhẹt…

  • Câm cái họng mày lại. Tao đập chết bây giờ.
  • Đập đi. Mày đập đi. Tao thách đó. Bê tô – bê tô là tên con chó – vô nhà.

Con chó thả gấu quần và Năm Phú lại bước.

***

Sáng hôm đó đích thân thằng chủ garage chận lão điên lại:

  • Cút đi, thằng già.

Thằng già mở nắp cái can nhựa hai lít và… nhanh như chớp Năm Phú tạt vào mặt thằng vá ép ô tô, kẻ đã làm chết con bé tội nghiệp. Một tiếng rú hãi hùng vang lên, thảm khốc không thể nào tưởng được. Thằng chủ garage vừa lăn lộn vừa rên la. Hai bên đường thiên hạ xúm đông xúm đỏ vây quanh. Và ngay lập tức cợ sự được hiểu ngay tức khắc. Nạn nhân bị tạt acid. Trời ơi thảm khốc quá. Thằng chủ tiệm cà phê cọc chèo với nạn nhân nhìn Năm Phú. Nhưng gã không dám bước tới vì trên tay Phú bây giờ thêm một cái ca nhựa. Chất lõng trong ca đang là acid chắc luôn:

–   Mày bước tới – Phú nói tỉnh khô, rõ ràng ông ta đã giả dại – là đừng trách tao cho mày ăn luôn acid. Mày, đích thân mày dấu cái vòng sắt giết cháu nội tao. Nhưng tao không chấp mày. Hiểu chưa? Anh em mày là đồ độc ác. Lý ra tụi mày nên thương lượng với tao một tiếng, tao sẵn sàng cho qua và chấp nhận cháu tao chết như một tai nạn. Đằng này tụi mày bỏ tiền ra mua bình yên mà chả nghĩ đến niềm đau của tao…

Đúng lúc có tiếng hụ còi của đặc chủng và cứu thương trờ tới. Chủ vá ép ô tô được đưa đi cấp kỳ. Hai cảnh sát nhảy xuống với súng ngắn trên tay:

  • Bỏ bình acid xuống nếu không tôi bắn – Một cảnh sát ra lệnh.

Nhưng đã có chủ ý từ trước Năm Phú nhảy đến và tạt ca aid về phía viên cảnh sát. Hốt hoảng anh ta lùi lại và pằng pằng pằng, ba phát súng vang lên. Năm Phú sựng người lại. Ông ta quăng bình acid vào vệ đường.

Chết.

Ngày nay ai về ngã ba lộ mới sẽ thấy một tật nguyền không tai không mũi và mù mắt lê cây gậy vừa đi vừa la vé số, vé số đây…

       Nguyễn Trí    

 

 

 

 

rời rạc 6

phuonguy

 

cuộc trùng vây
những linh hồn
lau xanh ẻo lả
ngậm nắng chiều
mòn tắt bên sông
người đốt lửa
lòng ai than đỏ
buổi u mê
khúc hát tự ru mình
câu thơ dậy từ trầm mê
lạc vận
buổi hàn vi nước mắt cũng chối từ
người trổi dậy từ vô thanh khốn đốn
âm vực tràn
nhức nhối những câu ru.

PHƯƠNG UY

 

MỘC BẢN

10735644_826194720769236_378143114_n-1

bắt đầu từ cây
và đôi bàn tay
mộc bản khai sinh và lời ghi trên giấy

bắt đầu từ đâu
chúng ta yêu nhau
để những bài thơ lởn vởn trên đầu

những lần mỉm cười vu vơ
chân đá những bất kì trên đường đi ngang qua
và về nhà
nỗi nhớ như sợi giây thừng cột chúng ta vào với nhau
đó là phút ban đầu
của tình yêu

không có một nguòi
không có hai
trong tình yêu
không có nguòi yêu và người được yêu
không có anh không có em
không có mặt trăng không có mặt trời
chỉ có tiếng gọi nhau trong đời
lời ghi
trên mộc bản…

NGÔ YÊN THÁI

BUỔI SÁNG CUỐI NĂM

 

 

nguyenleuyen                                              

Thị trấn kéo dài từ những dãy đồi thấp, thoai thoải đổ dần ra phía bờ sông. Phố xá, cửa tiệm tập trung trên hai trục đường cắt chéo hình chữ thập. Chợ và bến xe ở cuối một rạp hát bỏ trống , chỉ còn lại mấy mảng tường bị ngã đổ từng đoạn, trơ vơ quanh đám cỏ mọc xanh um. Các tiệm ăn, quán giải khát xếp thành dãy dài phía bên này đường, đối diện các công sở là những căn nhà ngói cũ kỹ, ẩm thấp. Trên đầu thị trấn ngó xuống, những nóc nhà lô nhô nép bên những hàng cây cao dọc đường lù mù trong lớp sương đục và bầu trời đen đậm. Thị trấn lúc này giống như một bức ký họa của người họa sĩ phác thảo lúc anh ta đang chếch choáng hơi men, ẩn hiện không rõ ràng.

Những ngày giáp tết, thị trấn bổng ồn ào hơn. Thấp thoáng có chút màu sắc của bông hoa, màu sắc của áo quần trẻ con và hàng hóa chất đầy trong tiệm. Một vài căn nhà được làm mới bằng những mảng vôi quét màu sặc sỡ viền ở những đường hoa văn trước mặt tiền. Trời âm u liên miên, không thấy hé ra chút nắng khiến những phụ nữ, những người đàn ông có tuổi luôn thấy mập hơn, to và lụng thụng mỗi khi xuất hiện trên đường.

Căn nhà người thanh niên đang trú ngụ nằm ngay dưới chân vách núi đá, chỗ cao nhất trong thị trấn. Ở đây có thể nhìn bao quát khắp một vùng rộng lớn bao quanh. Mỗi sáng thức dậy, anh thường ra đứng trước khoảnh sân hẹp nhìn mặt trời từ dưới sông nhô lên rực rỡ. Anh nắng loá sáng con đường đất đỏ, ửng màu mây đỏ trên những mái ngói xuôi dọc hai bên đường; ở phía tây, tít đằng xa là nóc nhà thờ chỉ còn trông thấy tháp chuông nhấp nhô trong những đám ruộng mía xanh màu ngọc bích. Đó là con đường đất chính nối các buôn làng với thị trấn, với những chiếc gùi nhỏ xíu trên lưng những người miền núi, có thể trông thấy từ xa … Giờ đang cuối mùa mưa, nhưng bầu trời chưa lúc nào lộ nắng để anh phải khốn khổ lơ mơ, tơ tưởng một chút nắng để thấy những con đường đất đỏ, những mái nhà ẩm rêu rực rỡ những ngày trước kia bớt vẻ lạnh lẽo trong những ngày cuối năm. Cái lơ mơ đột ngột bị đẩy bay ra ngoài, khi bên tai anh nghe vang lên giọng nói rành rọt:

-Chú có bận gì không?

Người đàn ông mặc áo len màu chì nhô hẳn đầu qua khung cửa, hỏi bằng một giọng thân mật; theo sau ông là con chó rẫy có bộ lông xám màu đá núi. Ong ta là người hàng xóm, thỉnh thoảng tạt qua nói vài câu vu vơ về chuyện con cái, thời tiết, mưa nắng rồi đột ngột đứng dậy ra về, không mục đích rõ ràng.

-Không. Hình như không bận gì!

Hình như anh đang nói dối với người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Kỳ thực anh chẳng phải rờ đụng chân tay vào công việc nào trong lúc này, để gọi là bận. Nhưng con mắt và đầu óc anh thì bận thiệt. Vì khi người đàn ông bước chân qua cổng cũng là lúc trời hửng lên. Một chút nắng hiếm hoi kéo thành vệt dài, thình lình rớt xuống khoảnh vườn trước sân nhà làm ửng lên màu vàng rực rỡ. Cả khoảnh vườn như sáng hẳn, nổi lên những đường viền màu xanh khép nép, và bên trên, nhô lên cao lô xô là những búp vàng mượt của mấy luống vạn thọ. Hiếm khi có màu sắc tuyệt vời như thế giữa tháng Chạp âm u mưa, âm u những đụn mây đen áp sát đọt cây…

-Thằng Doãn gửi lời thăm chú.

-Dạ vâng, Doãn.

Màu nắng và những búp vạn thọ như đang thì thầm, rủ rê, giống hệt mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm í ới hẹn hò xuống phố đứng dán mắt trước các cửa tiệm, nhìn chăm chăm những tấm áo mới đủ màu xanh đỏ…. Những đứa trẻ chạy lăng quăng có vẻ như có một liên hệ báo trước những ngày tết đang cận kề.

Bộ mặt ủ dột, lấm láp những ngày mưa sắp bắt đầu xoá nhoà dẫn sau những ngày dài làm tình làm tội những con đường đất lầy lội, những lùm cây úng vàng và cả mùi ẩm mốc bám đầy những bức tường vôi chung quanh nhà…

-Nó gửi về chai rượu quí, tôi…

-Vâng, chai rượu…

Chai rượu trong tay người đàn ông thình lình làm bầu trời đứng sựng. Nắng biến mất đột ngột. Chút nắng vàng hiếm hoi ấy biến mất, bay vụt ra khỏi tầm mắt, cũng đột ngột như khi nó thình lình rớt xuống trước sân nhà. Một tảng mây đen khổng lồ trôi qua chậm chạp, từ từ liếm sạch màu nắng vàng khiến anh có cảm giác như nó sắp sửa đè bẹp khoảnh vườn rực sáng khi nãy, đè bẹp anh và người đàn ông và Doãn và chai rượu. Anh thất vọng ngó người đàn ông, từ đỉnh đầu tới ngang bụng, phần dưới cơ thể ông ta bị chiếc bàn che khuất, như thể ông là thủ phạm bưng chút nắng quý hiếm của anh trút vào trong chai rượu, hay giấu trong bụng áo ấm lấp bên nửa bàn bên kia. Anh ngó sững vào chai màu trắng giả đá để tìm kiếm sự ấp áp hình như ông ta đang giữ trong đó. Người đàn ông nhóng lên, quơ chai rượu chực rót ra ly.

-Nó kêu Mao Đài Tửu. Nó đi Bắc Kinh về.

-Vâng Doãn đi Bắc Kinh…

Anh ngẩng mặt lên ngó chai rượu màu men sữa trắng đục. Nắng không thể bị nhốt vào trong ấy được. Vâng, có thể Doãn nào đó và cả Bắc Kinh của người đàn ông đang ngồi bên mép bàn bên kia đã mang đi chút nắng vừa mới nhìn thấy khi nãy. Anh nhìn vào chiếc chai giả đá và nghĩ không thể có giọt rượu nào để tìm kiếm chút nắng mong manh. Anh thẫn thờ đến đờ đẫn nỗi thất vọng, chán ngán. Những rạo rực ban đầu bị tắt ngấm bỡi chai rượu đang nằm gọn lỏn trong tay người đàn ông, ở phần cổ, lùn tịt.

Khoảnh vườn âm u, xám màu mây đen. Những búp vạn thọ lẻ loi, run rẩy trên những cành lá xanh, hết còn rực rỡ khiến lòng anh nguội lạnh chen lẫn nỗi hoang mang tột cùng.

-Ta chào nhau buổi sáng, chú hỉ?

Và không đợi anh trả lời, người đàn ông với tới phía trước, kéo hai chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt đặt trong chiếc kệ ngang với mặt bàn, về phía mình. Ông ta từ tốn rót ra ly, từ tốn đẩy một chiếc ly về phía anh rồi thong thả nâng ly lên.

-Một ngày bình yên chú hỉ?

-Dạ, một ngày bình yên – anh đáp.

-Nhưng mà điệu này kéo dài, mưa lập dập, nắng lập dập âm âm u u như kiểu trời chuẩn bị sập thì tết chẳng có bánh mà ăn. Thằng Doãn kêu tráng cho nó năm trăm để mang về trỏng, biếu xén, ăn tết. Thiệt mệt. Trời đất kiểu này biết sao được. Không có bánh tráng thì còn gì là tết? Bà vợ tôi nói không nắng thì xuống chợ mua. Nhưng mà chú ơi, bánh tráng hong lửa thì khác xa với bánh tráng phơi nắng…

-Dạ, nắng. Chỉ có nắng mới làm ấm lên mọi thứ. Tất cả mọi thứ đều trở nên đẹp – Anh nói vội vã, y như rằng trước mặt lúc này nắng ấm đang đổ xuống sân.

-Chú văn nghệ quá – người đàn ông kêu lên – Có nắng bánh tráng ngon hơn gấp bội phần!

-Dạ, đẹp và ngon cả hai đều như nhau. Hễ đẹp thì nhất định phải ngon, và ngon thì phải đẹp. nhưng mà chưa chắc… – anh bỏ lửng, sợ nói ra làm phật lòng người hàng xóm – cái gì hiếm đều trở nên quí giá cả – Anh đột nhiên hứng khởi.

Chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt nằm ghé trên đôi môi thâm đen của người đàn ông, hình như cũng ngạc nghiên vì những ý nghĩ bất ngờ của người thanh niên, cứ giữ nguyên vị trí như vậy một lúc lâu, trước khi ông ta dốc ngược ly vào miệng. Có tiếng “khà” kêu lên lẻ loi giữa buổi sáng lạnh giống buổi hoàng hôn, giống hệt tiếng thở dài tràn ứ nỗi thất vọng, vì không thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu mà ông mong đợi. Chiếc ly dành phần anh vẫn nằm nguyên trên mặt bàn, đầy rượu. Người đàn ông đẩy chiếc ly trống của mình tới, chạm nhẹ vào thành ly kêu đánh cốp một tiếng nhỏ khẽ khàng.

-Chú lại văn nghệ nữa rồi. Ai kêu mấy chiếc kiềng sắt, bình vôi giờ này không hiếm? Nhưng mà chú coi, có quý gì đâu?

-Dạ, có lẽ phải, đâu có gì kêu là quý.

Người đàn ông há hốc nhìn người thanh niên rồi bất ngờ ngửa cổ ra cười khà khà, một giọng cười biểu lộ chút ngạc nhiên  rất buồn cười về cách nói của anh, trong khi bàn tay phải ông ta vẫn giữ chặt chiếc cổ chai lùn tịt. Đến khi ông ngưng cười thì trên khoé mắt có chút nước ứa ra ngập ngừng. Ông đặt chiếc ly xuống bàn, dùng ngón tay trỏ quẹt chỗ nước mắt chảy ra đó, như cố giấu sự buồn cười có thể chảy ào ra lần nữa, mãnh liệt hơn.

-Chú thiệt “thắc cười”. Mới hồi nãy biểu đẹp là ngon, ngon là đẹp là quý, giờ kêu… Chú thiệt văn nghệ.

Ông lại cười hích hích trong cổ họng, cố kềm giữ sự khám phá bất ngờ của mình đối với chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt, rồi tự rót đầy ly nữa và ngửa cổ uống ực. Tới giờ, ông mới chịu buông tay ra khỏi cổ chai rượu, chiếc ly trống nằm trên mặt bàn, cạnh chiếc ly còn đầy rượu của anh, móc túi lôi ra gói thuốc lá và chiếc bật lửa. Ông rút một điếu cắm lên môi, nhưng không quẹt lửa mồi mà tiếp tục nói. Điếu thuốc bị kẹp chặt giữa hai môi thâm đen rung lên nhè nhẹ mỗi khi ông nói. Cả hai có vẻ khổ sở như nhau. Người đàn ông cầm chiếc bật lửa, nhưng vẫn không chịu quẹt cháy.

-Nói thiệt chú đừng giận, mấy chú văn nghệ như chú không làm sao mà hiểu nổi. May mà thằng Doãn nhà tôi chữ nghĩa ít, nhảy đi buôn bán chớ không thì…

Ông kịp nhận ra hình như mình sắp lỡ lời, có vẻ như mình sắp lỡ lời thiệt nên người đàn ông kịp dừng lại, chuyển sang chuyện rượu chè. Còn điếu thuốc vẫn nhảy tưng tưng trên đôi môi thâm đen.

-Không biết chú sao, chớ tôi thì chúa ghét mấy cha rượu chè be bét, uống chi mà tới say đớ lưỡi, say quắt cần câu mà cứ kêu lai rai giải sầu? Rượu chè cũng có năm ba đường hả chú? Tôi nghe nói tiên tửu, tục tửu, ngưu tửu chi chi. Thiệt mệt. Cứ như anh em ta, lâu lâu có rượu ngon, ngồi cà kê vài ly rồi mạnh chuyện ai nấy làm. Cù nhằng, cù nhùng mất cả thì giờ. Mà chú chưa vợ con chưa biết. Nhiều khi uống, lỡ say “nhỏng phao câu”, mò về tới nhà con vợ tôi kêu trời. Say nhưng cũng biết được mình quá là sai, nên phệu phạo bào chữa “nam vô tửu như kỳ vô phong” , rồi câu gì bữa chú đọc cho tôi nghe đó. Á, à, nhớ ra rồi “mùa này thiếu rượu anh hùng nhát gan”, khiến bã nổi sùng bỏ tôi một bữa để muỗi và tôi cùng nằm say bên nhau.

Người đàn ông toan với chai rượu rót thêm một ly nữa để tự thưởng cho những lời nói ý nhị của mình, song nghĩ sao ông rụt tay về, ngó chằm chằm vào mắt anh thanh niên xa xôi ngoài khung cửa, hỏi:

-Mà tôi cũng lấy làm lạ. Chừng ấy tuổi, sao chú không chịu lấy vợ? Cỡ tuổi này, nếu có con gái đầu lòng thì đã sui gia rồi đó nhá?

Anh bật cười mà không thể nhìn thấy đó là nụ cười tròn hay méo mó dị dạng, tìm cách nói cho người đàn ông yên lòng:

-Không phải là không muốn có một cô vợ bên cạnh. Chỉ tội một điều, họ nhìn thấy đời sống tôi nhếch nhác quá nên ai cũng ngại, quay lưng bước thẳng.

-Chú nói sao ấy chớ? Thời buổi gái thừa trai thiếu. Làm vợ chú như thể làm bà hoàng ấy chớ? Đã đành chú có đời sống văn nghệ, nhưng mà văn nghệ thì có sao đâu? Tôi thấy các cô chú ngày nay sống sao sao ấy, không như chúng tôi ngày trước! Rồi lại khi không chú bỏ cái thành phố đẹp đẽ ấy để về khép kín ở chốn khỉ ho cò gáy này, thì chắc là chú phải có tâm trạng?

-Dạ không, không có tâm trạng gì đâu. Chẳng qua tôi muốn yên ổn, muốn sống trong không khí tĩnh lặng để làm việc.

-Tôi đâu thấy chú làm việc gì? – Người đàn ông ngạc nhiên.

-Dạ

-Thôi, bữa nào thằng Doãn về, tôi biểu nó mời chú làm cố vấn cho nó. Hai anh em tha hồ bay nhảy.

-Cảm ơn chú. Chuyện đó tôi càng mù tịt, chẳng biết gì đâu!

Người đàn ông phẩy tay.

-Ui, dễ ợt đó mà. Như thằng Doãn đó, có học hành con khỉ mốc gì đâu mà nó vẫn làm được.

-Dạ.

Người đàn ông chấp chới trong mớ hiểu biết lẫn lộn với niềm tự hào hỗn độn về sự thành đạt của con, bèn chỏ tay qua phía anh, cười lớn.

-Chú mà giấu nổi tôi! Chú đừng có hòng mà giấu nổi tôi nhé.

Nói và ông cười to vừa đứng dậy. Tiếng cười khậc khậc quấn quít bên những bước chân chệnh choạng khi ông bước xuống từng bậc cấp với niềm vui như vừa khám phá được chuyện lớn, thật lớn.

Anh không tiễn ông như mọi khi, chỉ thấy ông rất hài lòng với những gì ông có được quanh mình, trong buổi sáng này như ông đã từng hài lòng về chuyện vợ con, những bữa rượu lẻ cùng những tiện nghi vừa đủ để mang ra khoe với mọi người chung quanh.

Con chó đi theo người đàn ông, nãy giờ lim dim nằm ngủ dưới gậm bàn chắc là đang mơ thấy ngậm khúc xương trong miệng, nên kéo dài niềm hạnh phúc bé bỏng của loài vật, quên mất những bước chân loạng choạng của ông chủ, vội nhổm dậy, ủng ẳng chạy theo sau. Đuôi có chùm lông dài ngoắt qua ngoắt lại phía sau chân ông, y như rằng chủ tớ là những người vừa thắng trận, đang trên đường ca khúc khải hoàn.

Người đàn ông bước đi, nhưng không lôi theo bầu trời nặng trình trịch cùng cơn mưa lâm thâm và ngọn gió bấc thổi se sắc trên đọt cau nhìn rất rõ. Ông cắm cúi bước, người đổ dài dưới con dốc như sắp ngã, con chó chạy lăng quăng bên chân, bỏ lại tất cả cho anh.

 

 

 

Trên bàn, một ly rượu còn đầy và một ly trống trơn không cân xứng. Anh bưng cả hai ly đặt lại chỗ cũ trên kệ. Lúc đầu anh định hắt ly rượu ra sân, nhưng nghĩ sao lại xé tờ giấy lịch, gấp làm tư và đậy lại, nom chiếc ly như cây trụ đỡ những tảng đá khổng lồ thành Babylone, thu nhỏ lại.

Bên ngoài bầu trời trở nên sáng trắng. Những đụn mây đen giờ xé vụn ra lam nham khiến trông thấy bầu trời cao hơn chút đỉnh, bớt vẻ âm u. Có tiếng chân loạt xoạt ngoài hiên thềm. Người đàn bà mặc bà ba đen, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu nhóc nhách chà chân lạch bạch, giũ đất ở bậc cấp rồi bước hẳn vào trong.

-Uở, chú có nhà đây mà. Mạnh giỏi chú?

-Dạ, mạnh. Chào chị!

-Buổi sáng mà chịu khó ngồi nhà, không ngồi quán cà phê sao?

-Bác sĩ cấm cà phê.

Người đàn bà ngó nghiêng lên tấm lịch treo tường, cao hơn tầm mắt chị ta vừa nói:

-Cái tụi nhỏ xóm này không hiểu sao sáng nào cũng tụ tập ngoài quán. Ba đứa uống chung một ly cà phê, hút chung điếu thuốc đến chủ quán cũng phải phát buồn mà không biết nói sao!

Người đàn bà ngừng nói, miệng nhóp nhép nhai trầu chờ phản ứng của anh. Mõi khi cử động, góc môi trên vêu lên như có cái mụt nhọt nấp trong ấy. Thấy người thanh niên không nói gì, người đàn bà tiếp lời:

-Hồi hôm cũng ở quán cà phê đó, tụi nó gây gỗ, sém đánh lộn. Thanh niên bây giờ hư quá chú ơi!

Anh không mấy hào hứng khi nghe những chuyện không đâu phát ra từ miệng người đàn bà đang ngó anh vừa nhai trầu. Chị dường như cũng đoán ra ý nghĩ của người ngồi trước mặt, nên ngập ngừng chuyển sang đề tài khác, “thời sự” hơn.

-Chú tính ăn tết ở đây hay về dưới đó?

-Dạ chưa biết sao!

-Trên hóc xó này có gì mà vui chớ? Dưới đó thành phố lớn, người đông, nhộn nhịp. Mà cũng phải thôi, chú thấy không?

Người đàn bà nói và tiếp tục nhai trầu. Anh không hiểu bà ta đưa ra câu hỏi để hỏi anh hay chỉ là những nhận xét vu vơ, chờ người khác tán đồng? Chị không phải là người thường hay ghé nhà anh hỏi han chuyện này, chuyện nọ. Là hàng xóm, cùng ngụ trong con phố nhỏ của thị trấn miền núi trước sau đều quen mặt nhau, họ hay dòm qua hàng rào cây xanh thưa thơt để thăm chừng đời sống của nhau một cách thận trọng. Trong trí nhớ , người đàn bà đang ngồi phía bên kia bàn, chỗ lúc nãy người đàn ông vừa ra về, là người hay ca cẩm về mọi sự khó khăn trong đời sống. Bà ta hay vu vơ về những khoản thiếu hụt của tất cả mọi người dân ở thị trấn miền núi nhỏ hẹp này, mà đáng ra phải khác hơn, phải giàu có như những người khác dưới thành phố.

-Bữa nay hăm hai rồi. Hễ đưa ông Táo về trời là coi như tết đến nơi. Mà này, chú một mình thế thì sống làm sao nhẻ? Ai lo ăn uống, giặt giũ cho chú, rồi còn tết nhứt nữa ?

-Dạ, cũng bình thường thôi mà – Anh trả lời ngập ngừng.

Người đàn bà nheo mắt, chun mũi nhìn anh vẻ chế giễu:

-Bình thường là thế nào? Phải có bàn tay phụ nữ. Cái sự lấy vợ là rất cần thiết để bảo tồn nòi giống. Với lại ở cái xứ heo hút trong những ngày lạnh lẽo này chú không cảm thấy lạnh lẽo sao chớ? Để hôm nào tôi giới thiệu chú một cô, xinh đẹp, hiền hậu. Tết chú còn ở lại đây tôi sẽ dẫn đến thăm chơi.

Anh không biết phải lựa lời ra sao để từ chối lòng nhiệt tình của người đàn bà kia cho phải lẽ, đành nói nước đôi.

-Dạ, cảm ơn chị.

-Trời không chút nắng, lạnh thiệt. Hôm qua tôi ra chợ thấy hàng tết về nhiều quá, đẹp, rẻ ngặt cái không đủ tiền để mua sắm cho đã đời. Mấy đứa nhỏ cứ eo óc đòi mua cho bằng được những tấm áo ấm màu. Chúng đâu biết cảnh “cám tháng giêng, tiền tháng chạp”. Thiệt bực!

Anh muốn bật cười khi nghe người đàn bà buông ra lời than “thiệt bực” y như người đàn ông lúc nãy kêu “thiệt mệt” khi trời không chịu bật nắng để vợ chồng ông tự tay tráng bánh, phơi dưới ánh nắng mặt trời gửi cho thằng con. “Thiệt mệt” và “thiệt bực” của hai người có con cái gia đình đề huề coi như những lời “gầm gừ” êm ái của những người ngay thẳng phải làm bổn phận bảo bọc mọi người thân chung quanh mình, như một niềm vui chưa thật trọn vẹn.

Có lẽ do người đàn bà nói quá thật, nên anh cũng cao giọng.

-Đó, chị thấy chưa. Có gia đình, con cái nó “thiệt bực” như vậy đó?

Người đàn bà chỉ cười, không trả lời những vặn vẹo tình nghĩa của người thanh niên ngồi trước mặt, có vẻ mặt đang thực buồn. Chị đưa tay lấy cục thuốc nằm vêu trong môi trên chà qua chà lại giữa hai hàm răng ám đen, định nói gì đó nhưng cục thuốc và bã trầu trong miệng đã giữ chặt lại.

Anh ngồi nghiêng ngó ra khoảnh vườn hẹp trước sân.

Một lát sau, giọng người đàn bà ngập ngừng:

-Nói thiệt với chú, vợ chồng tui kêu bán con bò, nhưng tụi lái biết mình cần tiền sắm tết nên trả giá rẻ mạt. Tụi nhỏ thì léo nhéo đòi cả ngày. Chú cho tôi vay một ít, bán được con bò tui trả chú liền. Mình hàng xóm, sớm tối có nhau.

Câu cuối cùng, giọng bà ta chùng xuống, buồn thật buồn y như bầu trời vẫn một màu mây đen chực sà thấp. Bộ mặt bà ta dần dần trở nên căng thẳng và thảm não. Cục thuốc chà răng được nhìn thấy bằng vệt vêu trong môi trên như chịu đựng sự u uẩn vì đám thương lái bắt chẹt bà ta trước những đòi hỏi hợp lẽ của lũ con. Một chút gì đó trên toàn bộ con người đàn bà lúc này, khiến anh hơi chạnh lòng.

-Nói thiệt với chị, tôi cũng còn một ít, chị có thể cầm tạm. Tôi chắc thể nào tuần này cũng có khoản nhỏ của mấy tờ báo gửi ra. Chị yên tâm – Nói và anh lôi chiếc bóp nhàu nát móc hết khoản tiền trong ngăn, không rõ được bao nhiêu, đưa cho người đàn bà. Bà ta thôi nhai trầu, cầm lấy tiền nhét vào túi áo và cũng không đếm là được bao nhiêu. Giọng ấm lên:

-Cảm ơn chú. Tụi nó mừng lắm đây!

Người đàn bà nói vừa sững sờ nhìn chàng thanh niên với một chút ngỡ ngàng, một chút cảm thương với những băn khoăn được khoả lấp khi kịp cất mớ tiền vào túi áo bà ba đen.

Cuối cùng người đàn bà cũng đứng dậy chào anh, ra về với cái bóng đen nhỏ thó đổ dài xuống con dốc, với dáng hấp tấp của những niềm vui mới mẻ bà vừa cầm chắc trong tay.

 

Bầu trời bên ngoài vẫn xám đục. Gió  cuối năm run rẩy lạnh, kéo thành vệt trên hàng cây co ro hai bên đường, chạy từ phía đồi cao xoãi ra bờ sông. Buổi sáng rung rinh nhè nhè trên luống vạn thọ sắp bật khóc vì bầu trời đùn đen cứ lê thê kéo dài. Người thanh niên xô ghế đứng lên, cắp phích vào ổ điện định bụng pha một ly trà thật nóng, thì bên ngoài tiếng còi xe toe toe vang lên. Người bưu tá gầy, cao dựng xe trước hàng rào chè tiêu, cầm xấp thư và mấy tờ báo bước vào nhà. Ông ta hỏi:

-Không định đi đâu sao?

-Trời lạnh thế này… – Anh  trả lời.

-Ừ, trời cữ này mà có dưa hành củ kiệu và rượu ngon thì thật tuyệt.

Người thanh niên với tay qua kệ, nhấc ly rượu đưa cho người bưu tá.

-Rượu cha Doãn mang tới hồi nãy.

Ông bưu tá nhấp nhấp từng ngụm nhỏ, thong thả:

-Rượu này chắc là ai biếu chi đây. Không phải rượu thường, mùi lạ lắm, như mùi trái nhàu chín?

-Tôi cũng không rõ

-Cậu chưa uống.

-Chưa.

-Một ly thôi sao?

-Dạ, một ly. Ông cụ qua kêu tôi uống, nhưng mới sáng bảnh mắt!

-Ờ, cũng phải, nhưng giá có thêm vài ly nữa thì ấm bụng.

Ong ta có vẻ ngẩn ngơ như tiếc rẻ mùi rượu ngon quá ít, dòm vào chiếc ly không rồi đứng lên:

-Chừng nào cậu về?

-Chưa biết ngày.

-Thôi tôi đi.

Người bưu tá nổ máy, chạy đi xuống cuối con dốc rồi quành ra phía bờ sông.Cái  dáng cao khều mất hút cuối dãy nhà ngói cũ kỹ, mái lợp  âm dương.

Người thanh niên thong thả lật coi địa chỉ gửi đi của từng lá thư, theo thói quen rồi để sang bên. Cái mà anh mong đợi hiện ra, dưới bức thư của một toà báo. Nét chữ mỏng manh, gầy như bộ ngực quen thuộc của người gửi bức thư cho anh, như những ngón tay thon dài nắm chặt tay anh cùng ánh mắt xa xăm trên số nhà quen thuộc bên góc trái. Anh nghe thật gần bước chân nàng, hơi thở nàng và đôi mắt ngấn nước của nàng khi anh lầm lũi bước ngược trên con đường trước mặt nhà. Những dấu nhật ấn trên bao thư như tự nó có một hơi thở dồn dập của hai người ở một khoảng cách xa. Ngày gửi và ngày nhận chỉ cách nhau ba ngày. Ba ngày để vượt hơn sáu trăm cây số sẽ mang đến cho anh niềm vui ấm áp trong buổi sáng cuối năm này. Phích nước sôi kêu thành tiếng như lời thúc giục, khiến anh không thể để những cảm giác tha hồ bay nhảy tự do. Bao thư bóc ra. Sáu tờ giấy chi chít một kiểu chữ mỏng manh gầy ốm. Anh lôi chiếc ghế xích đu đặt ngang cửa ra vào hứng chút ánh sáng mờ đục bên ngoài, nằm ườn ra ghế và bắt đầu đọc:

 

Anh,

Sự chờ đợi quá lâu, xa như chỗ anh ở nối tới đây  bằng sợi chỉ dài, rất dài. Nhiều bữa trời đang nắng, chợt đổ mưa ầm ầm, rồi đột ngột chấm dứt, làm như không hề có chuyện gì xảy ra làm em không thể không nghĩ đến anh, liên tưởng về những hành động kỳ quặc của anh. Nhiều khi em tự hỏi, cái thành phố này có điều gì khiến anh không vui? Hay anh không vui vì em? Hay anh muốn thử thách em như một chuyện đùa bỡn? Giờ, cứ mỗi ngày qua đi, em càng ít hiểu về anh hơn. Anh như người xa lạ vậy !

Hôm kia, trong bữa cơm tối, tía má em có hỏi sao lâu không thấy nó tới chơi? Nó tức là anh đó, là một thành viên đang được chấp nhận từ từ, chậm rãi một cách e dè, dò xét. Em chống đũa tìm câu nói dối hợp lý nhất, nhưng sao nó cứ như sợi dây thun bị kéo căng để cuối cùng em nói bừa: hình như ảnh nhận thêm những công việc gì đó, bận bịu lắm. Tía má em tiếp tục dùng bữa, không hỏi gì thêm. Riêng em “những công việc gì đó” của anh giống như sự trông đợi một cách thờ ơ. Ai cũng trông nhau mà chẳng dám “liều mạng”(chữ anh nói hôm hai  đứa mình ở đầu mỏm sông, chỗ vườn mận đó, nhớ ra chưa?). Liều mạng làm sao mà trên sáu trăm cây số hun hút là dài? Thư trước anh biểu tết ra ăn tết với anh. Một ý tưởng thật vĩ đại. Còn nếu như em nói: tết anh về ăn tết với em thì anh nghĩ sao? Em đâu phải là những nhân vật của nhà văn Hector Malot, là con bé “vô gia đình” để anh ra tay cứu vớt rồi biến thành nhân vật của anh?

Thư này đến tay anh chắc là còn kịp để về đón ông Táo. Trong dân gian, ông Táo là một người không có mặt mũi rõ ràng, nhưng lại đầy ắp trong tâm thức của mọi người. Ai cũng hiểu rằng, ông Táo là người duy nhất giữ lửa, hơi ấm cho mọi gia đình sum họp. Vậy thì tại sao anh không mang chút lửa ấy về, lửa trong người anh để sưởi ấm cho em? Hoá ra, anh chỉ muốn giữ lửa cho riêng mình anh thôi sao? Còn em? Câu hỏi này cứ dằn vặt em mãi, nó loay hoay trong đầu như thể con dế hồi nhỏ em bỏ trong chiếc hộp giấy. Nó bò tới bò lui, lăng quăng tìm lối ra mà nào có ra cho được? Rồi em lại chợt nhớ đêm giao thừa ở dưới quê, ngồi thức canh nồi bánh tét, lửa nhảy nhót đỏ đít nồi; còn bên trong thì nước cứ sôi ùng ục. Bà nội ngồi gần bên nói: ông Táo đang cỡi con ngựa mang về với chúng ta kịp đón giao thừa. Tiếng ùng ục đó là vó ngựa gõ trên lớp mây. Em không thấy, nhưng tin lời bà, nghĩ ông Táo đang cỡi ngựa trở về thật và em mong làm sao để được gặp mặt ông, coi dung nhan có giống với những bức tranh vẽ thằng em em sưu tầm đâu đó dán la liệt trên vách. Em sẽ nói những điều ao ước của mình để ông hoá phép. Chờ đợi đến mỏi mòn, để hai mí mắt sụp xuống lúc nào không hay, ông Táo trở về lúc nào không hay. Mãi mãi điều ao ước không thành sự thật. Như giờ này, em ước chi anh có bên em đã không thành sự thật vậy !?

 

Mà cũng thiệt lạ, anh thích thú, say mê nỗi gì ở miền đất heo hút đó? Lúc anh mới ra, anh kêu nhà anh ở dưới chân vách núi đá. Từ đó có thể nhìn xuống thị trấn nhỏ như bàn tay xoè, phía dưới bị con sông chặn ngang, có những ngôi nhà cổ xưa cũ kỹ, có những con đường đất đỏ ngắn hơn một hơi thở dài cùng với những người dân hiền lành, nhẫn nại… Và anh nói: mỗi sáng có thể nhìn mặt trời từ lòng sông nhô lên, đỏ ối như quả cầu lửa rực rỡ. Nếu vậy, chắc quả cầu lửa đó có bà tiên anh mơ tưởng, chứ không phải trên đầu mõm sông lúc hai đứa ngó những dề lục bình trôi dập dềnh những chỏm bông tím? Những bà tiên bé bỏng xinh đẹp kia đã níu giữ chân anh rồi?

Thư này em viết trong buổi sáng thực yên tĩnh. Có một chút gió heo heo rất lạ, không ngừng thôi thúc sự nhớ nhung bâng quơ, cái xao xuyến đón đợi, ngóng trông. Chỗ anh ở có loại gió này không? Em chắc là không. Vì nếu có thì anh đã lên tàu rồi. Em biết anh còn ngóng đợi bà tiên trong quả cầu lửa rực rỡ mỗi sáng, bước ra và nhẹ nhàng đến bên anh? Còn em thì đang ở rất xa anh để không thể chia sẻ niềm hoan lạc cùng anh. Tiếc thật.

Em muốn viết thêm nữa, thiệt dài; dài bằng với đoạn đường từ ô cửa nhỏ này tới ngôi nhà bên vách núi đá, từ chiếc bàn gỗ quen thuộc này đến quả cầu rực lửa của anh… Nhưng phỏng có ích chi? Anh đâu còn mùa xuân bên em. Anh chỉ còn những buổi sáng của riêng anh  thôi.

Nói vậy, chớ em vẫn nhớ anh luôn, vẫn chờ anh.

Gửi anh nụ hôn gió xa xôi đến anh, biết anh có cảm được?

Em của anh, Nga.

 

Người thanh niên xếp lá thư, cho vào bì. Lúc này, anh không thấy khoảnh sân phía bên ngoài, không thấy thị trấn mờ đục phía dưới kia cùng chỏm tháp chuông nhà thờ nhấp nhô khuất trong những ruộng mía âm u… Anh nằm trên chiếc ghế quay vào gian thờ, chỉ thấy lờ mờ những chân đèn thau, lư bát cắm nhang và tấm nghi treo trên cao bị chuột cắn lủng vài chỗ. Những sợi chỉ lòng thòng không đủ dài để nối căn nhà dưới vách núi đến tận ô cửa trong xa kia để anh níu theo bay về phương nam ngay lập tức.

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

 

LỤC BÁT TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

truongdinhphuong

VẾT KHUYẾT
Đêm
tôi lẻn vào tay tôi
chụp hình năm tháng trên môi vết hằn!
Tường lem nẫu tiếng thằn lằn
vườn khuya gió bấc cằn nhằn lá khô
một con đom đóm mơ hồ
ghé tai tôi hỏi nấm mồ ngày xanh!

 

THỜI GIAN
dòng sông có cũ bao giờ
ngàn năm cỏ vẫn đôi bờ trinh nguyên
hò xưa vẫn đậu mạn thuyền
bãi dâu vẫn đượm trăng nguyền thủy chung
chỉ lòng ai đã tơ chùng
bỏ quên ai giữa mịt mùng
tháng năm.

PHỐ CŨ
về qua phố
một chiều mưa
chạnh nghe hương cũ
như vừa bay đi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Sống, Chết Là Thao Thức Cùng Canh Giữ Nước Non

Xuân bên thềm cũ

nguyenminhphuc

 

Tôi chờ đợi với nỗi buồn cay mắt
Gió hư vô buốt tạt chỗ tôi ngồi
Em lỡ hẹn chiều cũng vừa nắng tắt
Những bẽ bàng sương khói mịt mù trôi

 

Thì đành vậy bên cõi ngày sóng vỗ
Mùa xuân qua thôi một thoáng lỡ làng
Cành mai héo ai treo ngoài đầu ngõ
Xác xơ tàn úa cả mộng chiều tan

 

Tôi gửi lại mùa xuân bên thềm cũ
Trời không mưa nhưng nắng cũng phai rồi
Gửi thương nhớ vào cõi ngày rêu phủ
Gió xuân buồn lặng lẽ một mình tôi

 

Chiều nay cũng như bao nhiêu chiều khác
Tôi ngồi đây nghe sóng vỗ chân cầu
Hiu hắt nhớ một mùa xuân đã lạc
Bàn tay còn ghì chặt cả niềm đau…

 

     Nguyễn Minh Phúc

Xuân tha hương

small_1200962564.nv_

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông…

Em đi dang dở đời mưa gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, trời: đắng lắm!
Trăm hờn nghìn giận suốt mùa đông.

Chiều qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son, vẫn má hồng?

Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không

Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gởi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng)

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Chao ơi! Tết đến mà không được
Trông thấy quê hương thật não nùng!

Ai bảo mắc duyên vào bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong!
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông

Em biết giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Tết này, ồ thế mà vui chán
Những một mình em uống rượu hồng

Rượu say nhớ chị thời con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong

Thôi em chả dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
Nàng bèo bọt quá em lăn lóc
Chắp nối nhau hoài cũng uổng công

(Một trăm con gái thời nay ấy
Đừng nói ân tình với thủy chung!)

Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên người nong nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hóa gì đâu một chữ “đồng”

Vâng em trẻ dại em đâu dám
Thôi để người ta được kén chồng
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu làm sao được những đêm đông

(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không yêu thì thực dễ như không )

Chị ơi, tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não nùng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông!

Thiên hạ “Chi nghinh nam bắc điểu”
Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông

Xuân đến cho em thêm một tuổi
Thế nào em cũng phải thành công
Em không khóc nữa, không than nữa
Đây một bài thơ hận cuối cùng

Không than chắc hẳn hồn tươi lại
Không khóc tha hồ đôi mắt trong

Chị ơi, em cưới mùa xuân nhé
Đốt pháo cho thơm với rượu hồng
Xa nhà xa chị tuy buồn thực
Cũng cố vui ngang gái được chồng

Em sẽ uống say hơn mọi bận
Để hồn về mãi xứ Hà Đông

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng.
Với lá thư này là tất cả
Những lời tâm sự một đêm đông

Thôn gà eo óc ngoài xa vắng
Trời đất tàn canh tối mịt mùng
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông

Mấy sông mấy núi mà xa được
Lòng chị em ta vẫn một lòng

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như tết
Tóc chị bền xanh má dậy hồng

Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:
– Xa nhà uống rượu có say không?

NGUYỄN BÍNH

(Huế tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942)

Đầu Xuân Nguyện Đi Mười Kiểng Chùa

phamnga

1.

Thuở còn niên thiếu ở đất Sài Gòn này, vào những đêm giao thừa xa xưa, tôi thường được tháp tùng mẹ tôi cùng mấy bác hàng xóm đi cúng ở Lăng Ông, gần chợ Bà Chiểu. Ngoài đường đông vui hết sức! Từ nhà tôi ở đường Trần Quang Khãi vùng Tân Định ra đến gần Lăng Ông là phải xuống xe xích lô để hòa mình vào đám người, ai đâu mà chợt đông nghẹt giữa đêm khuya, cứ lũ lượt đi bộ tràn ngập cả con đường Lê Văn Duyệt.

Chưa lọt vào cổng lăng đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù. Cúng kiếng, xin xâm và hái lộc – không dễ gì làm cho đầy đủ, nhanh gọn cả ba nghi thức này nên bà con ai nấy đều vội vàng, còn do phải quay về trước 12 giờ để cúng giao thừa nhà mình. Trong đám đông náo nhiệt, nếu ai không chen lên được tới trước bàn thờ Ông (đức Tả quân Lê Văn Duyệt) thì đành chấp nhận cúi đầu lạy vào lưng, vào… mông người đứng trước mình cũng được nhưng nhớ cẩn thận, đừng quơ nhang làm cháy áo người ta.Trên đường về, mẹ tôi còn ghé thắp nhang ở tịnh xá sư nữ Ngọc Hương, cái chùa nhỏ hẹp, nghèo nàn ở ngõ hẻm gần nhà mà mùa Tết năm nào bà cũng tặng một, hai chục ký gạo tùy năm gia đình có làm ăn khấm khá hay không. Rồi sáng mùng một, trên đường đi chúc Tết, mừng tuổi ông bà nội tôi, mẹ tôi không quên ghé một lát ở chùa Vĩnh Nghiêm nguy nga, tráng lệ…

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm…”, vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm, hẳn không riêng gì người viết bài ký này mà rất nhiều người trong chúng ta đều xúc động, bâng khuâng khi nghe lời ca dịu ngọt, đầy tình người, mở đầu ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm. Tôi còn nhớ, vào một năm đầu thập niên 60, đài Tiếng Nói VNCH ở Sài Gòn, trong một chương trình ca nhạc rất hay tên là “Sóng Nhạc” chỉ có vào các đêm chủ nhật, đã lần đầu tiên phát ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm của cố nhạc sĩ Hoài An qua giọng hát ngọt ngào, tinh khôi, rất Nam bộ của Phương Dung, nữ ca sĩ được mệnh danh “Con nhạn trắng Gò Công”.

Chính với hình ảnh tuyệt đẹp ấy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, đa số các gia đình người Việt mình vẫn giữ nguyên tập tục đi chùa, đi cúng, tức là rủ nhau đến các chùa chiền, miếu mạo đề dâng hương, cầu tài lộc, xin xâm, cúng sao, cúng hạn… vào ngày đầu năm mới  hay suốt trong tháng giêng âm lịch.

2.

Bao đời nay, ý nghĩa của Tết Nguyên đán vốn rất đậm chất tâm linh, tín ngưỡng đối với người mình, dù đang sống trong nước hay hải ngoại. Và ngày xuân đi lễ chùa là một hình ảnh rất tươi sáng, cao trọng – rất “quê hương” đối với người Việt chúng ta.

Do đó, cho đến ngày nay, tại những con đường chạy ngang những ngôi chùa lớn ở Sài Gòn, như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Việt Nam Quốc tự, Kỳ Viên tự…, cả ở trước một ngôi chùa, nhỏ thôi, như chùa Ngọc Hoàng ở khu Đakao, kẹt xe liên miên vào đêm 30 và ba ngày Tết là chuyện rất thường tình. Ngôi chùa mới nhắc, từng được tổng thống Mỹ Barack Obama ghé thăm khi đến VN, đã xấp xỉ 100 năm tuổi và từng được phong là “Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – Điện Ngọc Hoàng”. Xa xưa, nguyên nơi này là một đền (điện) thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Hoa, sau mới có thêm bệ thờ Phật xây ở phía trước bệ Ngọc Đế. Sau tháng 4-75, chùa có tên mới là “chùa Phước Hải” do giáo hội Phật giáo trong nước đặt, nhưng đối với hầu hết bá tánh Việt – Hoa, phải nói “chùa Ngọc Hoàng” thì người ta mới biết.

Có lần tôi hỏi mượn tập tài liệu giới thiệu các gói tours của Saigon Tourist trên tay một du khách người Anh đang viếng chùa Ngọc Hoàng, thấy chữ “Jad pagoda” được in rành rành. Bước sâu vào chánh điện, mấy ông tây bà đầm rất thích chụp ảnh tượng Tam vị Phật tổ, tượng Ngọc Hoàng cùng những tượng chư tiên (Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên Lôi, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Thượng Lão Quân.v.v…, gần như đủ mặt các “chức sắc” trên Thiên đình trong truyện/phim Tây Du Ký). Riêng bọn trẻ nhỏ đến chùa thì đứa nào cũng khoái cái hồ nuôi rùa bên phía phải chánh điện. Lũ trẻ cứ tìm cách ném xuống hồ nào là bắp rang, bánh mì…, nào là hoa, lá hái trộm trong sân chùa cho lũ rùa lúc nào cũng đói ăn.

Những năm gần đây, đến mùng 4 Tết – hạ nêu, cúng tất, tiễn ông bà về Trời – tôi lại hay tháp tùng một nhóm bạn thân, là những người luôn luôn giữ đúng lời nguyện đi lễ cho đủ 10 kiểng (cảnh) chùa, đền, miếu… tứ phương trong tháng giêng hằng năm.

Chúng tôi thường mở đầu chuyến hành hương bằng xe gắn máy này là những ngôi chùa ở Gò Vấp và Bình Thạnh. Vùng tỉnh Gia Định cũ tiếp giáp với đô thành Sài Gòn này vốn có rất nhiều chùa chiền, như các chùa Dược Sư, Pháp Hoa, Già Lam, Kỳ Quang, Linh Quang, Chưỡng Đức, Từ Quang, tịnh thất Trung Tâm, Ngọc Phương tịnh xá, Từ Quang.v.v…

Kế đó, chúng tôi ra ngoại thành, trước hết là ghé đình Phong Phú ở Thủ Đức. Tôi từng thắc mắc, sao năm nào cũng là đình Phong Phú. Một anh bạn đã cười: “Bộ đầu năm ông không muốn giàu hay sao? Chữ ‘phú’ trong tên chùa Phong Phú đó!”. Thì ra là vậy. Hèn chi mấy ngày Tết, dân chúng nội ngoại thành cứ lũ lượt kéo đến cúng Ông (hẳn Ông là thần, thành hoàng của xã Tăng Nhơn Phú?) trong ngôi đình hứa sẽ cho giàu sang, phú quí này. Và thiên hạ cũng không thường ghé thêm một ngôi chùa cổ, kiến trúc rất đẹp, cách đình Phong Phú khoảng 3.5 – 4 cây số, tên là Phước Thạnh tự.

Rồi chúng tôi tiếp tục ra miền Trung, tương tự chương trình tours hành hương ngắn ngày của những cơ sở cho thuê xe du lịch. Sau những ngôi chùa trên núi Gia Lào (vùng Long Khánh cũ), ra dinh Thầy Thiếm ở vùng biển Bình Thuận, bọn tôi lên núi Tà Cú ở vùng Bình Thuận Nam để vào Linh Sơn cổ tự. Nguyện ước “Mười kiểng chùa” đã viên mãn! Sau một đêm ngủ mê mệt tại mái hiên chùa, các bạn tôi hớn hở ra chánh điện lạy Phật, cúng tiền vào thùng công đức. Và đây mới là điều được mong chờ nhiều nhất, kết thúc chuyến hành hương mấy đêm ngày rong rủi, nhọc nhằn: lá bùa cầu an đã xin năm ngoái được trao lại cho một nhà sư trẻ, viết chữ Hán rất đẹp, để sư đốt bỏ và viết cho anh em lá bùa mới cho năm mới.

3.

Đã thấy, khi đi cúng kiếng, xin xâm, hái lộc để cầu an, cầu tài, cầu duyên – kể cả cầu… giãn nợ, thoát nợ – vào những ngày đầu năm, người mình đã rất phóng khoáng trong việc chọn lựa đối tượng thiêng liêng mà gởi gắm ước nguyện đầu Xuân. Bá tánh ngụ ở Sài Gòn, cả người Việt lẫn người Hoa, không phân biệt đâu là lễ Phật ở các chùa Nam tông hay Bắc Tông, đâu là cúng Ngọc Đế – vị nam thần cai quản vũ trụ – trong chùa Ngọc Hoàng, đâu là cúng nữ thần là Bà Thiên Hậu trong chùa gốc Trung Hoa ở quận 5 (thường là người ta đi cúng luôn cả Ông Phước An trong chùa Ông, cùng ở trên đường Nguyễn Trãi, gần chùa Bà). Cũng là Bà – nữ thần được bá tánh rất tin tưởng, sùng mộ nhưng có nguồn gốc xa gần với đạo Bà La Môn thì có Bà Chúa Xứ ở tận Châu Đốc, vía chính lễ là ngày mùng 4 tháng giêng ÂL. Nhiều người còn đi cúng danh nhân, anh hùng lịch sử, như đức Tả quân Lê Văn Duyệt ở Lăng Ông Bà Chiểu, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tại đền đức Thánh Trần ở Tân Định, lễ luôn cả ông bá hộ hiển linh ở dinh Thầy Thiếm vùng Bình Thuận, hay xuống miền Tây, ra Kiên Giang cúng miếu Thành Hoàng Mạc Cữu…

Từ ngày rằm đến ngày 28 tháng giêng, còn phảng phất không khí xuân, dân Sài Gòn lại tấp nập đi Bình Dương để cúng chùa Tàu thờ Bà Thiên Hậu. Riêng giới tiểu thương ở các chợ thì do đã khai trương buôn bán đầu năm nên vào ban đêm thường rủ nhau đi cúng Bà bằng cả nhóm xe gắn máy thật vui. Còn đối với người dân ở các vùng khác, như ở Nha Trang chẳng hạn, nếu đám thanh niên thích rủ nhau lên viếng đức Bà Thiên Y trên tháp Bà thì người lớn tuổi lại cung kính đi viếng mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu. Ở nhiều vùng quê miền Tây, nông dân thường xuyên đi thắp nhang ở những cái miếu nhỏ thờ ông Tà trong tín ngưỡng dân gian, vị thần được tin là chỉ cai quản vỏn vẹn một vạt ruộng, một cánh đồng…

Có một điều mới nghe tưởng ngớ ngẫn nhưng đúng ra lại phong phú thêm cho đời sống tín ngưỡng của người Việt, đó là nhiều bà con, do tin tưởng mà thường cúc cung lui tới, cúng lạy, làm công đức hoài ở một ngôi chùa, cỗ miếu nào đó, nhưng khi có ai chợt hỏi chùa đó, miếu đó thờ vị Phật, vị thần nào, hay Ông nào, nào vậy thì y như rằng bà con đều cười giả lả “Hổng biết nữa!”.

Do đâu mà người mình lại có kiểu tin tưởng đa thần, không phân biệt như thế?

Với truyền thống tín ngưỡng “Tam giáo đồng lưu” đã có từ thời quân chủ xa xưa, cả ba đạo Phật – Khổng – Lão đã đề huề cùng tồn tại trong tâm hồn dân Việt suốt bao thế kỷ. Người qui y thì nhận mình là Phật tử, tức theo đạo Phật với đạo lý Từ Bi Hỉ Xả. Người không qui y thì nhận mình theo đạo “thờ cúng ông bà” – một phiên bản tín ngưỡng dân gian đặc biệt Việt Nam hòa quyện với luân lý Khổng Nho chủ trương Ngũ Thường,Tam Cương, Tứ Đức, Tam Tòng… và đề cao Phước Lộc Thọ… Người tin tưởng bói Dịch, bùa Lỗ Ban, kính ngưỡng giới thầy pháp, thầy cúng, đã vô hình trung là đệ tử của đạo Lão với các thuyết Thái Cực, Lưỡng Nghi… Rốt cuộc, trong nhà của hầu hết người Việt thường có rất nhiều bàn thờ, trang thờ khác nhau, ngoài phần thờ phượng tổ tiên, ông bà. Trong nhà Phật tử và người theo đạo thờ cúng ông bà, ngoài bàn thờ Thích Ca và Quan Âm (thuộc đạo Phật), còn có khám thờ Thần Tài, Thổ Địa ở phòng khách và Táo Quân ở nhà bếp (ba vị này thuộc đạo Khổng) cùng trang thờ lộ thiên ngoài sân để cúng Trời (Thiên/Thái Cực, thuộc đạo Lão), hay một số nhà giàu còn lập miếu thờ Ngũ Hành (cũng thuộc đạo Lão) trong sân vườn. Trong nhà người theo đạo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài thì trước tiên là thờ đức Phật Thầy Tây An (sáng lập đạo Hòa Hảo) hay thờ Con Mắt, biểu tượng đạo Cao Đài.

Thú vị nhất là về Quan Nhị Ca mà trong các phim hình sự, xã hội đen của Hồng Công, các anh chị police hoàng gia thường thắp nhang cho ngài trước khi đi phá án. Có thể đây là nguyên Tổ của nghề bộ đầu/công an/cảnh sát bên Trung quốc từ thời xưa truyền lại nhưng không biết từ lúc nào, Quan Công (hay Quan Thánh, biểu tượng cho đức trung liệt Khổng Nho) hùng dũng với mặt đỏ, râu dài của người Hoa đã được người Việt cùng thờ kính vì cảm phục đức độ anh hùng.

Lại có nhiều người theo Thiên Chúa giáo (ngoài tượng Chúa ba ngôi và các thiên sứ, không được phép thờ ngẫu tượng, vật tượng nào khác) vẫn thờ Thần Tài. Có lẽ các nhà thờ địa phương đã châm chước cho kiểu thờ “phụ trội” của con chiên.

Ngoài ra, một số nhà thờ ở vùng Á châu (những quốc gia dùng cả hai loại lịch tây và ta) như tại VN, còn tổ chức các lễ đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Vào ngày mùng một Tết, trong lúc các chùa hành lễ cầu quốc thái dân an thì bên nhà thờ làm lễ “cầu bình an”. Mùng hai Tết, con chiên đi lễ “cầu ông bà tổ tiên”. Mùng ba Tết, trong lễ “thánh hóa công ăn việc làm”, con chiên mang một dụng cụ biểu trưng cho nghề nghiệp của mình đến đặt trên một cái bàn sát bên bàn thờ Chúa. Ví dụ thợ hớt tóc thì mang đến cái tông-đơ, thợ may thì cái kéo, còn nhà văn/nhà báo (thợ viết?) có thể bày ra cây bút ghép vào một cuốn vở… Lễ chấm dứt, mọi người hoan hỉ mang về nhà món đồ nghề đã được ban phép lành với niềm hy vọng sẽ được hành nghề, kiếm sống thuận lợi trong năm mới.

4.

Thờ phượng, lễ lạy trước bàn thờ Phật, thờ Chúa, thờ các thần linh muôn phương tại gia đình hay tại chùa, nhà thờ, đền, miếu… vốn là sinh hoạt thường xuyên, quanh năm suốt tháng của bất cứ ai có tín ngưỡng, có lòng tin vào thần thánh thiêng liêng, nhất là vào các kỳ Phật đản, Giáng sinh, Thánh đản, mùa vía Kỳ yên v.v… Nhưng riêng vào mùa Tết nguyên đán truyền thống – ngay giờ giao thừa năm cũ/năm mới hay trong chuyến hành hương “mười kiểng chùa” tháng giêng – thì việc hành lễ, cúng kiếng của mọi người lại mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt hân hoan, sống động.

Có lẽ mọi người rất dễ tự nhận ra rằng, trong giây phút mình trang nghiêm chấp tay, cúi đầu, khấn nguyện Trời Phật, Thánh Thần, tự nhiên mà cảm giác an lạc, hạnh phúc chợt nhẹ nhàng bừng sáng trong tâm hồn ta, và những khổ đau, lo nghĩ, phiền muộn như tạm lắng đọng vào bóng tối nguôi quên…

PHẠM NGA