THÁNG NGÀY LẦY LỘI

 

 

(…)

Tôi bị giam giữ trong căn phòng bốn ngày liền, không bị trói hai tay như trước, cũng không thấy ai kêu lên hỏi han điều gì nữa. Duy nhất có những du kích thay phiên nhau canh gát, nhưng cũng hiếm khi thấy họ lảng vảng trước cửa phòng, trừ những lần họ đưa cơm tới. Ngay cả nhu cầu vệ sinh cá nhân hàng ngày dường như họ cũng quên bẵng. Tôi cũng không buồn yêu cầu họ mang đến dụng cụ vệ sinh, cố gắng kềm chế và chỉ khi nào không thể nhịn được nữa mới phải làm công việc không mấy lịch sự như cái ngày đầu tiên tôi bị giam trong căn phòng này. Mỗi ngày tôi chỉ nhận được chén cơm nóng nguội thất thường với mẫu cá khô bốc mùi, hay cục lương khô sản xuất từ Trung quốc. Nước thì chứa trong chiếc ấm nhôm méo mó, ám đen khói. Ăn uống với tôi, bây giờ không còn là điều cần thiết, khi mà không biết được số phận của mình sẽ ra sao.

Trong căn phòng, những người bạn thân thiết, san sẻ cho nhau lúc này là bầy muỗi. Chúng tha hồ bâu bám và đốt. Những tiếng vo ve khó chịu ban đầu, giờ nghe đã quen tai. Để chống lại chúng, tôi dùng những tờ giấy báo thắt thành hình chóp chụp kín xuống tận vai, khoét hai lỗ nhỏ ở hai mắt. Hai tay và chân thọc vào những hộp giấy. Dưới lưng và trên ngực là những tấm bìa carton. Dẫu không thể nhìn thấy được chính mình, nhưng với cách thức đó hẳn tôi giống một tên robot? Những khi nằm ngửa, nhìn lên phía trên, dàn rui kèo và mái tôn dính chặt như bầu trời sà thấp, sắp ôm choàng lấy tôi.

Những lúc hoang mang, tôi thường nghĩ về Hà. Không biết giờ này nàng ở đâu, làm gì? Có thể nàng đã xuống tàu cùng gia đình. Có thể nàng cũng trong tình cảnh như tôi bây giờ, cũng nháo nhác về số phận người cha và anh Tuyên. Cha Hà là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin Chiêu Hồi. Trong những ngày cuối cùng ở mặt trận Thành Sơn, Phan Rang tôi về Sài Gòn gặp ông, nói: “Tình hình có vẻ đen tối quá rồi. Bác liệu tìm cách đưa gia đình…”. Không đợi hết câu, ông gạt phăng: “Tuyên còn ngoài mặt trận, không biết sống chết thế nào, bác không thể bỏ nó. Vả lại, không thể trốn chạy một cách hèn hạ như vậy được. Bác biết chúng sẽ không tha thứ cho đối phương, nhất là những người như bác. Nhưng nếu có chết thì cùng chết, ngẩng cao đầu mà chết”. Một ông già dân khu 5, từng sống và chứng kiến trọn vẹn cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền của Việt Minh năm 45 hẳn ông sẽ biết mình cần phải làm gì hơn là lời khuyên của đứa con nít 25 năm trước chưa được sinh ra. Tôi chào ông bước ra cổng. Hà mở cửa. Trông Hà xanh xao vì mất ngủ. Tôi nói: “Em có thể đi loanh quanh đâu đó với anh một lúc không?”. Hà gật đầu. Từ bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi đi bộ lên La Pagode. Hai ly cà phê trên bàn kính nhìn chúng tôi. Còn chúng tôi thì nhìn ra ngoài đường. Xe cộ vẫn đều đặn ngược xuôi. Chiến tranh không có mặt trong thành phố. Mọi thứ cứ bình thản trôi đi hay ít ra sự bình thản kia là vòng quay héo mòn, nẫu ruột được giấu kín bên trong không thể nhìn thấy?

“Tuyên bây giờ ở đâu?”. Hà xoay ly cà phê có bụi nước bám ngoài thành ly, buồn bã: “Thư cuối cùng ảnh gửi về là ở Nha Trang, Lần gọi điện cuối cùng về cho ba hình như ở cầu gì đó giữa Cam Ranh và Phan Rang. Em nhớ rồi cầu Du Long. Mẹ em lo quá, khóc suốt”. Tôi bóp nhẹ bàn tay mảnh mai của Hà: “Em chớ lo, anh hiểu Tuyên. Nó là đứa giỏi xoay trở trong những lúc bất trắc. Sống với nó từ nhỏ anh biết”. Hà ngước nhìn tôi với bộ mặt mệt mỏi, thất vọng: “Nhưng tình hình ngày càng đen tối. Sư đoàn nào cũng tan tác cả. Còn Liên đoàn của ảnh hết tăng viện cho chiến trường này lại tăng viện cho chiến trường khác. Ảnh mà có mênh hệ gì thì mẹ em không sống nổi”. Tôi an ủi: “Em chớ nghĩ quẩn. Tình huống xấu nhất là tù binh, mà tù binh thì không thể mang ra xử bắn được. Công ước quốc tế sẽ không buông tha cho những hành vi dã man kia đâu”. Hà bật khóc: “Cái quốc tế mà anh nói đó, lần lượt quay lưng lại với chúng ta khi quyền lợi không còn nữa. Đúng là bi thảm. Một đất nước bi thảm, một dân tộc bi thảm…”

Tiếng mở khoá lách cách cắt đứt dòng hồi tưởng. Cửa mở toang. Một chút ánh sáng yếu ớt hắt vào. Tôi bật dậy. Người du kích lùi lại vài bước, kêu lên khi nhìn thấy lớp bao giấy trên đầu, tay chân tôi:

-Cái gì vậy? Ông làm cái gì vậy?

Vừa tháo lớp giấy bao, tôi giải thích:

-Chống muỗi.

-Ngộ quá héng. Có kiểu chống muỗi thiệt ngộ! – Anh ta nói với giọng hết sức trẻ con và ngạc nhiên như chưa hề trông thấy bao giờ.

Một lát sau:

-Ông rửa mặt mũi, ăn tạm chút lương khô rồi chúng tôi đưa ông lên C.

Tôi không hiểu C là nơi nào, nhưng chắc chắn không phải là chốn bình yên ban đầu, như căn nhà trọ, như ở băng ghế giảng đường. Tôi không buồn hỏi tiếp, bước tới phía khạp nước người du kích dẫn lại, dùng chiếc lon rỉ sét múc từng lon nhỏ. Quấn áo bốc mùi. Nhưng muốn tắm thì không thể, biết vậy nên tôi dùng chiếc khăn tay nhúng nước kỳ cọ khắp người.

Người du kích khoát súng trên vai, miệng phì phèo điếu thuốc nhìn tôi không hề hối thúc. Tôi chậm rãi lau xoáy từng kẽ tay, vành tai… mát mẻ và sảng khoái đến lạ kỳ. Xong việc, tôi nói:

-Xong rồi.

-Ăn đi rồi đi cho sớm – Nói và người du kích thò tay vào túi áo lấy mẫu lương khô ném tung về phía tôi. May mà tôi chụp nắm kịp, nếu không thì khẩu phần ăn trong ngày bị rơi xuống vũng bùn đọng gần khạp nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, nhai mà không nghe thấy mùi vị gì nữa.

Chờ tôi ăn xong, người du kích dẫn tôi ra trước, kêu tôi đứng đợi, còn anh ta thì vào căn phòng phía bên trái, tôi có đủ thời gian để quan sát: hình như đây là một công sở địa phương. Tấm bảng trên nóc đã được sơn lại màu đỏ chót và vẽ dòng chữ Ban quân quản Thạnh Lộc, nét chữ yếu ớt vội vã. Các dãy nhà dân dọc hai bên đường cửa hé mở ngập ngừng. Người qua lại thưa thớt. Chỉ có sự ồn ồn ào từ những chiếc loa sắt treo đâu đó trên cao, nhưng giờ này cũng im bặt.

Đợi một lúc, anh ta trở ra, trên tay cầm mẫu giấy gấp làm tư, vẫy vẫy “đi”. Họ không trói tôi như mấy lần di chuyển trước, hai tay được tự do vung vẩy nên cũng dễ chịu đôi chút. Chúng tôi vòng vèo qua khu nhà dân, các hiệu buôn bán nhỏ đến con lạch có chiếc cầu khỉ. Khi đôi chân chạm lên thân dừa bắc ngang tôi mới biết mỗi một chân mang một loại dép quai nhựa khác nhau, như một nỗi sợ hãi, lúng túng đeo bám bên người.

Đi khoảng mươi phút, chúng tôi đến một bến đò, ở đó đã vài người đứng chờ sẵn: hai người phụ nữ, ba người đàn ông. Tới nơi, tôi nhận ra một trong ba người đàn ông kia là trưởng ty hành chánh ở tỉnh K. Tôi biết anh ta khi còn sinh hoạt trong nhóm du ca thời sinh viên. Anh ta dân miền Trung, hay cãi, cố gắng tận dụng mọi lý lẽ để cãi cho bằng được những vấn đề vô lý nhất. Giờ tôi chắc mẩm những người này đang cùng chung số phận với tôi. Tôi gật đầu chào anh ta. Anh ta chào lại tôi bằng cái nhếch môi nửa như cười nửa mếu, thật khôi hài.

Chúng tôi xuống khoang thuyền nhỏ có gắn đuôi tôm, chạy xuôi dòng, men theo một con sông rộng, hai bên là dừa nước và những cây bần de nhánh tận ra ngoài. Nếu bình thường thì đây có thể gọi là cuộc dã ngoại thú vị. Nắng hiu nhẹ. Gió từ mặt sông đưa hơi nước lên, mát. Tôi ngồi sát bên người phụ nữ, da ngăm đen nhưng rất có duyên nhìn từ đôi mắt, chiếc mũi thẳng và chiếc cằm chẻ, môi trái tim. Hai người du kích ôm súng, một đằng mũi, một sau lái và tiếng máy nổ xì xạch, không khó để tôi bắt chuyện:

-Tôi tên Sơn, giáo sư trung học, dạy ở T. Còn chị?

-Ty nội an. Hoa, Diệu Hoa.

-Chị biết anh bạn ngồi sau lưng bên Ty Hành chánh?

-Tôi học sau ảnh hai khoá.

-Chị mới ra trường năm trước?

-Vâng.

-Chúng tới nhà bắt chị?

-Tôi tới trình diện ở Ban Quân quản theo lệnh phát trên loa chiếc xe jeep chạy vòng vòng quanh phố. Họ giữ tôi hai ngày rồi giờ thì bị đưa đi cùng với các anh. Anh Hoà cũng bị bắt cùng một lúc.

Hoà từ phía sau lưng Diệu Hoa chồm tới:

-Cậu nhớ thằng Vinh không? Vinh ở Luật bị động viên khoá 2/69. Nó chết rồi.

-Sao, anh bảo sao?

-Nó rút súng bắn vào đầu khi ông Dương Văn Minh đọc đến câu cuối cùng lệnh đầu hàng. Câu nói nó để lại cho mọi người đứng gần đó là “quân đốn mạt, bán nước!”.

Cả người tôi lạnh toát như vừa ngâm trong nước đá. Thành chết, Vinh chết. Cả hai chọn lựa cái chết giống nhau, từ sự thúc bách không thể đội nỗi ô nhục trên đầu. Và cả hai, đều là bạn chúng tôi, mặc dù không thân nhau lắm.

Không khí nặng nề bỗng bao trùm khắp mặt sông. Âm thanh xành xạch phát ra từ chiếc máy đuôi tôm nghe như những tràng đạn dài đang lia vào đầu chúng tôi, những tên phản động, ngoan cố? Tôi tưởng tượng cảnh Vinh rút súng ra, bóp cò một cách thản nhiên. Anh ngã xuống bên vũng máu. Hình ảnh đó của Thành của Vinh trong thoáng chốc là danh dự, tổ quốc theo đúng nghĩa, nhưng có cần thiết phải như vậy trong hoàn cảnh này hay không? Chọn lựa cái chết như vậy sẽ giải quyết được gì? Một sự phản kháng tiêu cực khi những bất trắc vẫn đang lù lù ở trước mặt hay đó là hành động chứng minh cho tính chất anh hùng của mình? Mà anh hùng nỗi gì với cách chết như vậy? Những ý nghĩ lộn xộn nhảy múa trong đầu khiến tôi tưởng tượng ra cái chết của Vinh bi thảm và đau đớn không cùng hay là thanh thản nhanh chóng như Thành? Những cái chết cuối cùng hay sẽ còn tiếp diễn nữa, thật phi lý của hàng triệu con người trong cuộc tranh giành quyền lực man rợ này.

***

Tôi không ngờ mình lại được tiếp đãi khá tử tế kể từ sau ngày bị hai du kích đến bắt. Sau khi tra hỏi lý lịch lần cuối cùng ở Ban quân quản tỉnh L. họ đưa tôi đến Ty Giáo dục làm công việc ghi chép, đánh máy văn thư. Chúng tôi ở tạm thời trong thư viện Ty. Trong phòng còn có ba người khác là dân miền Bắc đi B. Trước họ cũng là giáo viên, bị động viên tập thể đưa vào Nam chuẩn bị cho ngày này. Tất cả đều còn trẻ, học xong lớp 10 thêm hai năm sư phạm thành thầy giáo? Nghe họ kể, tôi hơi ngạc nhiên đôi chút về cách đào tạo ở miền Bắc, trái với những gì tôi đọc trước đó trong quyển Mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của linh mục Trương Bá Cần. Qua những kiến thức và cách nói năng rào trước đón sau, tôi phần nào có thể đoán ra cái xã hội mà ông Cần mô tả chỉ là vịt. Trước mắt tôi là những minh chứng trái ngược hẳn với những lời tụng ca, những câu tuyên truyền dối trá về một thiên đường, trong đó người dân sống hạnh phúc, no ấm khi, những lúc rỗi rảnh, họ nhờ tôi tìm mua cho cái đài na-ti-ôn-nan; buổi sáng dẫn họ ra phố uống cà phê lại kêu ly cà-phê-đá-chanh? Họ bảo ở miền Bắc đá sản xuất đầy, dùng không hết mang ra sân kho phơi để xuất khẩu sang các nước XHCN. Nhưng sau đó, họ lại tỏ ra ngạc nhiên với những tô hủ tíu Nam Vang, họ ngơ ngác trước những sạp vải bắt đầu hé cửa mở và những chiếc xe máy chạy trong đường phố…tất cả đều thật mới lạ đối với họ.

Điều làm tôi đau lòng nhất là buổi sáng nọ, khi còn đang nằm trong mùng, anh giáo viên có tên Khoa gọi dậy:

-Nào dậy đi đồng chí, dậy uống chè Bắc.

Tôi lồm cồm bò dậy cùng với tiếng rít xòng xọc vang trong nõ tre. Cả ba đang ngồi trên sàn, vây quanh ấm nước bốc khói và bình trà, khói thuốc lào mù mịt. Vệ sinh xong, tôi bước vào, điều kinh khủng nhất thiếu chút nữa tôi văng ra tiếng chửi thề, là bộ Encyclopédie chẳng những bị lôi ra làm đòn kê đít mà một quyển khác bị xé ra gần hết để thay củi nấu nước! Tôi choáng váng, tối sầm mặt mũi. Cả đời mơ ước chưa mua nổi bộ bách khoa toàn thư này. Vậy mà những người làm công tác giáo dục của chế độ ưu việt kia lại xé rời từng trang nhóm lửa! Tôi lảo đảo ngồi xuống, lòng thắt lại:

-Các anh không biết bộ Bách khoa toàn thư nó quý đến chừng nào sao? Tôi không nói đến giá trị là cả một đống tiền mà là cả một kho tàng tri thức, sao các anh lại nỡ đem đốt nó đi?

Tiếng nõ rít lên liên tục trong khi tôi nói, nên có vẻ như ba người không thể nghe rõ ràng, một trong số họ hỏi lại?

-Cái gì? Đồng chí vừa nói đốt cái gì?

Tôi lặp lại câu than thở khi nãy. Họ cười khẩy:

-Những thứ rác rưởi, đồi truỵ chỉ đáng ném vào sọt rác!

-Không thể như thế được. Ngay cả Tư bản luận của Karl Marx trong này chúng tôi vẫn đọc, đọc công khai, được mang ra dạy trong các giảng khoá ở Đại học Văn khoa kia mà. Chúng tôi cũng được phép vào thư viện Quốc gia đọc các tạp chí ngoài Bắc để làm luận văn tốt nghiệp kia mà. Kho tàng văn hoá, tri thức là của chung của nhân loại, chớ không riêng một cá nhân hay một quốc gia, chế độ nào.

-Những thứ sản xuất từ các nước đế quốc đều là rác rưởi, cặn bã trong thế giới tiến bộ. Nó là rào cản, cần phải đánh đổ, phải xoá sạch.

-Các anh không thể suy nghĩ và hành động một chiều như vậy. Văn minh và văn hoá của nhân loại là tài sản chung.

-Đầu óc đồng chí không tiến bộ được. Cuộc cách mạng hoàn toàn thắng lợi mang lại độc lập, tự do và chủ quyền cho cả đất nước và dân tộc này, đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu, thì tiếc gì những thứ văn hoá độc hại kia?

Tôi thầm nghĩ có tranh luận gì thêm chắc chắn không mở được những cái đầu đã bị nhồi nhét mớ lý thuyết càn bậy nên tôi ngồi im, lòng đau thắt.

Ngồi im và buồn và thất vọng. Ngọn lửa bên trong kia bập bùng, quằn quại hút lấy tôi. Những tiếng cười nói vô cảm như tiếng tru của bầy sói trong cánh rừng hoang cuốn lấy, làm tôi đến khựng lại, ngộp thở. Bầy sói đồng thanh cất lên gào rống, tru tréo một bài hát gì đó, nhảy nhót quanh đống lửa. Những con sói hình người như bầy quỷ nhỏ khạc ra như âm thanh rin rít ghê rợn. Chúng vừa hát vừa thay phiên nhau ném những quyển sách vào lưỡi lửa phều phào run rẩy. Những trang sách toè ra màu máu, chới với bay vào chốn tro bụi.

 

Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đây không thôi thì nỗi buồn và thất vọng cũng sẽ phôi phai đi ít nhiều. Đằng này, ngày hôm sau, sau khi đánh máy xong mớ công văn, chỉ thị gửi đi các huyện thì có hai người từ bên Ban quân quản tới áp giải tôi sang căn phòng bên toà hành chánh cũ, nơi mà bàn làm việc, bếp đun nước, chiếc giường xếp lẫn mùng màn chăn gối bày ra bừa bộn. Họ chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu có vai tựa bằng gỗ cách người đàn ông mà họ gọi là thủ trưởng một mặt bàn và thêm sải tay.

Ông thủ trưởng đang phì phèo điếu thuốc trên đôi môi thâm đen, nổi đậm trên khuôn mặt nhợt nhạt. Ông mặc bộ bà ba màu bã trầu. Tấm khăn rằng xộc xệch từ cổ rớt thòng xuống thấp, phía dưới mặt bàn. Ông ngồi yên lặng hút thuốc, làm như không có ai trong căn phòng này, và dĩ nhiên không thèm ngẩng mặt lên nhìn tôi. Còn tôi hết quan sát ông lại đưa mắt đảo quanh căn phòng không rõ là nơi làm việc hay chỗ ngủ? Hình như phong cách từ bưng biền được tất cả cán bộ mang về đặt ngay trong những nơi trước đó rất trang nghiêm, sự trang nghiêm thường thấy nơi các công sở? Tôi cảm thấy rất khó chịu, gần như bị xúc phạm khi ông ta cứ bập phà mẫu thuốc mà không một lời với người đối diện, cho dẫu là kẻ thù. Cái cách ông ngồi chống một chân lên mặt ghế đẩu, chân kia bỏ thõng xuống sàn, cặp mắt ti hí  núp dưới hàng lông mày rậm như con sâu trên khuôn mặt khô tốp và chiếc cằm nhọn, có vẻ như ngày xưa là một tay anh chị ở các bến sông.

Tôi hết quan sát lại nghĩ ngợi lung tung, đặt ra những tình huống xấu nhất và tìm câu trả lời. Hút hết điếu thuốc, ông quăng mẫu tàn xuống sàn, với tay rót bình nước trà đưa lên miệng hớp ngụm đầy, súc òng ọc như trẻ con giỡn nước trước khi nuốt vào bụng. Ông lại nhẩn nha mồi điếu khác gắn lên môi và bất ngờ quay sang tôi:

-Anh tường thuật lại tất cả những gì trong buổi sáng hôm qua.

Ông tiếp tục hút thuốc. Khói bay đầy phòng, trong khi tôi vắn tắt thuật lại việc tranh luận với ba cán bộ chi viện. Nghe xong, ông ngẩng lên, chiếc cằm nhọn chỉa về phía tôi như sẵn sàng lật tung những dề đất khô cứng trên mặt ruộng.

-Anh không thể nhận ra đó là thứ văn hoá nô dịch, đồi truỵ sao?

-Tôi không nghĩ như các ông. Một bộ Bách khoa toàn thư thì không thể gọi là đồi truỵ phản động. Nó không chứa những lý thuyết, những lời kêu gọi để chống đối ai cả. Bộ sách dày hàng ngàn trang kia không ẩn chứa điều mà các ông gọi là đồi truỵ. Rất tiếc là các ông chưa từng đọc nó.

Ông ta nhếch đôi môi mỏng dính lên một cách khó khăn:

-Đọc? Giờ thì anh lại giở giọng tâm lý chiến với chúng tôi?  Vấn đề như vậy đã rõ. Rất rõ về tư tưởng và con người anh. Đúng là một tên tâm lý chiến phản động.  Anh đợi tôi một chút.

Ông ta xô ghế đứng lên, tiến ra phía cửa nói gì đó với hai người áp giải tôi lúc nãy, rồi quay lại, phẩy tay:

-Anh có thể đi đi. Anh sẽ bị xử trị thích đáng

Tôi đứng lên, bước ra khỏi cửa phòng mà không chào ông, mang theo lời hăm doạ nặng nề.

 

Chúng tôi đi lòng vòng trong khuôn viên toà hành chánh cũ, nay được gọi là Ban Quân quản. Trên thảm cỏ xanh rờn đầy những rác rến. Ở phía sau toà nhà, người ta nối những sợi dây dừa thật dài, mắc lên các cành cây và treo la liệt đủ loại quần áo, khăn tắm cả coóc xê và xì líp phụ nữ. Một vài ba chỗ, họ còn chất những hòn gạch lên cao thành ông táo để nấu nướng, khói mịt mù một góc. Những cành cây khô vất vung vãi, vỏ bao thuốc, hộp giấy, các thứ chất thải la liệt nom như sân sau một khu chợ. Chỗ cửa ra vào toà nhà phía bắc, một phụ nữ đang ngồi chổng mông phù phù thổi bếp lửa chỉ có khói. Khuôn mặt đỏ lên, mồ hôi lấm tấm trên má, thái dương bết dính những sợi tóc như khóc.

Một trong hai người kêu tôi đứng đợi. Tôi lại tiếp tục quan sát cô gái, quan sát cách cô khó khăn làm cho ngọn lửa bùng lên. Biết có người  nhìn về phía mình, cô gái ngẩng lên, quát:

-Nhìn cái gì thế?

Giọng Bắc, nhọn hoắc.

-Trong rừng mà cô làm thế này, địch phát hiện ra mất!

-Anh là ai mà lên giọng với chúng tôi.

-Loại củi còn tươi, cô thổi ba ngày không cháy, mà có khô cũng không dễ gì cháy.

Cô gái đứng bật lên, chống nạnh.

-Giỏi nhỉ! – Giọng nói kéo dài, khiêu khích dội lên, vừa đúng lúc người áp giải lúc nãy thò đầu qua khung cửa, ra hiệu cho tôi theo anh ta.

Qua hết dãy hành lang dài, chúng tôi bước lên cầu thang cuốn và đứng trước cánh cửa khép hờ. Người dẫn đường gõ mấy tiếng vào cửa, rồi đứng nghiêm:

-Báo cáo thủ trưởng, em đưa người tới.

Giọng nói từ sâu bên trong vọng ra:

-Vào.

Anh ta đứng tránh qua bên nhường đường cho tôi. Căn phòng khá rộng. Toàn bộ đồ đạc vẫn nguyên vẹn. Những chiếc tủ đánh véc ni bóng loáng, bên trong là những cuốn sách xếp ngay ngắn. Trên tường có treo hai bức tranh vẽ thiếu nữ  và cá của hoạ sĩ Nguyễn Trung và bức Cánh đồng lúa mì của Van Gogh, đều là phiên bản, không bị tháo gỡ xuống. Không rõ căn phòng này trước là của thị trưởng hay phó thị trưởng hành chánh. Còn giờ thì người đang ngồi trước chiếc bàn rộng kia hẳn phải là người chỉ huy cao nhất của tỉnh này. Ông ta đang cúi đọc xấp tài liệu dày, tôi không nhìn rõ mặt. Tới khi nghe tiếng dép trên mặt nền, ông ta ngẩng đầu lên. Tôi sửng sốt và không thể tin vào mắt của mình. Sao lại có thể như thế được kia chứ?

Bốn năm trước Hào học Văn Khoa, ở trọ chung nhà, là một trong những thủ lĩnh đấu tranh của SVHS. Cuối năm 73 Hào đã biến mất trước khi cảnh sát đến lục tung căn gác và chỉ thu được những đồ đạc, sách vở của hắn. Tôi và Ngạc đã bị gọi lên xuống không dưới mười lần để thẩm vấn, khai về mối quan hệ cùng những hành tung của Hào. Thật ra, sống cùng nhau, thỉnh thoảng chúng tôi cũng tham gia những cuộc hội thảo, xuống đường với Hào, nhưng chỉ lán mán hắn là con người khuynh tả chứ không ngờ hắn là người của bên kia gài lại, hoạt động trong các tổ chức SVHS. Giờ thì hắn ngồi đó. Không biết thái độ của hắn khi đối mặt với bạn bè cũ thế nào, chứ trước là con người ít nói, đọc nhiều sách, coi ông Nguyễn Văn Trung với giảng khoá triết học Karl Marx là thần tượng.

Lúc ném cây bút chì xuống tập giấy, Hào ngửng lên:

-Trời, cậu! sao lại ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ghế, không đợi Hào mời:

-Cũng chẳng biết nữa – Tôi nói.

-Trong lúc sáng tối này, tốt nhất là không nên tranh biện. Không phải cán bộ nào từ khu về cũng có trình độ học vấn như cậu tưởng. Những điều cậu vấp phải với cán bộ cơ sở làm họ khó chịu vì sự thua kém biện luận, nhưng họ không chịu thua cậu về khoản chuyên chính. Tôi đã đọc đầy đủ bản báo cáo về cậu từ các nơi gửi về, nhất là chuyện tầm phào với các cán bộ bên Ty Giáo dục.

-Nhưng bộ Bách khoa toàn thư kia thì tội tình gì, phản động, đồi truỵ ở chỗ nào?

-Cậu luôn thẳng thắn một cách trẻ con như hồi còn đi học. Bao nhiêu năm ra ngoài đời cậu vẫn chưa thể sáng mắt ra được tí nào sao?

-Nghĩa là tôi phải nói dối, phải cong người, phải…

Hào phẩy tay:

-Nói sao cho cậu hiểu bây giờ. Bỏ chuyện đó qua một bên. Ở bên Ty họ giao cậu làm những gì?

-Quan tâm tới bạn bè quá nhỉ?

-Đừng tự ái.

-Đánh máy công văn, chỉ thị và những việc vặt khác, chưa đi đổ bô cho các thủ trưởng.

-Chớ có khiêu khích, chẳng ích lợi gì cả. Mọi chuyện buổi đầu đều bị rối tung lên. Những cuộc cách mạng ở bất kỳ quốc gia nào, buổi đầu vẫn thế, nhưng rồi đâu sẽ vào đó một thời gian ngắn nữa.

-Tức cậu ám chỉ tình trạng vô chính phủ hiện giờ?

-Mới tiếp quản từ tay kẻ địch, bất kỳ đất nước nào cùng rơi vào tình cảnh tương tự.

-Hay quá nhỉ? Vì vậy cho nên bao nhiêu sách quí đều bị xé đốt vì là phản…

-Cậu chớ cay cú những chuyện vừa chứng kiến. Cách mạng có lúc phải biết hy sinh. Giờ thì cậu hãy dẹp qua bên mọi chuyện và uống tách trà nóng cho tỉnh người rồi ta nói chuyện.

Hào nói và tự tay rót tách trà đẩy lên mặt bàn hướng về phía tôi. Tôi cầm lấy và không nghĩ Hào coi tôi như kẻ thù. Có thể không đồng quan điểm, nhưng ít nhất, cái còn lại là tình bạn hữu sống cạnh nhau hàng mấy năm trời. Tuy vậy tôi cũng không buồn hỏi hắn hiện tại đang giữ chức vụ gì, hay nhân cơ hội lấy lòng và xin hắn “giải phóng” cho tôi ra khỏi nơi quỉ ám này. Lòng tự trọng không cho phép tôi mở miệng làm những chuyện điên rồ kia.

Tôi uống từng ngụm nhỏ. Trà ngon. Phải nói là rất ngon. Xưa Hào không bao giờ uống trà hay cà phê. Nhưng sau thời gian biến mất, giờ trước mặt hắn là bình trà, ly tách tinh tươm, gian phòng rộng, sạch sẽ, xem ra hắn là nhân vật quan trọng ở xứ này.

-Bây giờ hãy kể lại tại sao cậu bị đưa tới đây?

Tôi vắn tắt về chuyện hai người du kích trong đó có một là học trò cũ đêm tới nhà kêu “các ông đã bị bắt” và họ đưa đi ít nhất vài ba nơi. Nơi nào cũng cùng một giọng điệu rằng, chúng tôi là những tên phản động, được giao nhiệm vụ kềm kẹp…

Hào chống tay lên cằm chăm chú nghe tôi kể, ra chiều suy nghĩ. Hắn ngồi yên một lúc trong tư thế tay chống cằm rồi mới hất mặt lên.

-Cậu cũng biết ở cơ sở có nhiều sự rối rắm. Họ thi hành lệnh như cái máy. Có nhiều chuyện đáng ra họ có thể tự giải quyết thì tống tất cả lên trên, rồi lại với sâu vào những vụ việc không phải dành cho họ giải quyết. Chúng tôi đã quán triệt cho các địa phương về vấn đề công chức chế độ cũ, đặc biệt là ngành giáo dục – hắn thở dài – vậy mà cuối cùng lại làm sai lệch đi.

-Có nghĩa là bản thân những người như tôi không có tội tình gì?

-Cơ bản là vậy. Nhưng cũng tùy theo từng trường hợp cụ thể.

-Tôi hiểu. Tôi nằm trong từng trường hợp cụ thể mà cậu nói?

– Sau khi tìm thấy hồ sơ lưu trử đầy đủ mới có thể nói chính xác.

Tôi phân vân về câu nói nửa úp nửa mở của hắn. Hồ sơ lưu trử ở đâu nhỉ? Mà ai lưu trử? Bên chính phủ Sài Gòn hay là của bọn họ thiết lập, căn cứ trên những chứng cứ cụ thể trong quá trình đào tạo và thi hành công vụ cho từng công chức? Rõ ràng rằng hắn  cũng không mấy tin vào sự thành thật của người bạn đã từng trọ học nhiều năm liền với hắn. Có một ranh giới thật rõ ràng, không nhầm lẫn.

Tôi nói:

-Vâng, tôi hiểu. Sự nghiệp cách mạng của các cậu thật vĩ đại (lúc đầu tôi định nói là ma mãnh, nhưng kịp sửa để sau đó chính tai tôi nghe câu nói của chính mình lảng xẹt, đến độ không thể ngờ nó lại thốt ra từ miệng của anh thầy giáo là tôi).

-Dường như cậu mắc phải căn bệnh mãn tính “mỉa mai”. Những ngày ở Sài Gòn cậu cũng thốt ra với những lời lẽ như vậy về chế độ Mỹ-Thiệu. Nay cách mạng mới thành công, cơ sở mới chạm vào một chút tự ái, các cậu cũng lại giở những giọng điệu khi xưa. Đúng là thứ vô chính phủ – hắn giận dữ dằn mạnh mấy chữ cuối câu – đó là căn bệnh muôn đời của trí thức tiểu tư sản. Bệnh hoài nghi luôn bám đuôi các cậu.

-Hoài nghi? – tôi nhắc lại – Hoài nghi là một tiến trình vận động tích cực thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước. Chủ nghĩa của các cậu ấp ủ không đề ra như thế là gì?

-Giờ ta không tranh luận với nhau về phương pháp luận. Tạm thời cậu cứ về bên Ty. Chúng tôi sẽ bàn cụ thể về trường hợp cậu.

-Cải tạo, khổ sai –Tôi cáu lên.

-Rất có thể, nếu cái đầu cậu cứ ngang bướng như thế kia. Với tôi thì không vấn đề gì. Nhưng với người khác cậu nên giữ mồm giữ miệng. Với tôi, cậu là bạn nhưng tôi sẽ không chịu nổi những hành động bậy bạ và những lời nói năng gây sốc cho kẻ khác. Nó đồng nghĩa với sự phỉ báng, với hành động chống phá. Lúc đó tôi và cậu vẫn là bạn, nhưng sự nể vì thì không.

Hắn đứng lên, chìa tay ra cho tôi. Một cái bắt tay sau chừng ấy năm có vẻ gì như gượng gạo, như chiếc ốc vít đã nới lỏng ra khỏi chiếc xe đạp đã sử dụng nhiều năm.

Nguyễn Lệ Uyên

(trích từ tự truyện Sau Chiến Tranh)

 

 

BÀI THÁNG TƯ

Hòn đá ném vỡ đầu thơ
Cây gậy đập nát giấc mơ son vàng
Bão giông tốc nóc địa đàng
Nhưng thơ với mộng cứ quàng vai nhau

Vén xưa tìm buổi ban đầu
Thương ai ủ ấm quạt sầu cho ai
Lếch thếch cõng con đường dài
Chưa qua đèo vội buông tay rơi đèo

Câu thơ ngủ dưới bóng chiều
Từng chữ mắc cạn liêu xiêu ngóng buồn
Chảy đi từ phía cội nguồn
Dòng đang ngầu đục dòng còn xanh trong

Quên tươi từ lúc xa hồng
Bốn mùa chìm dưới mênh mông đại ngàn
Cầm đời đo dọc đo ngang
Yên vui cực tiểu lầm than thượng thừa

Bài thơ cự tuyệt bài thơ
Giấc mơ bịt mắt giấc mơ mù lòa
Nụ cười rụng dưới phù hoa
Tiếng kêu chạm bóng chiều tà rưng rưng!

Lưu Xông Pha

Giạt

Năm tháng ngậm ngùi.

Sau khi tốt nghiệp trường Thánh Tâm năm 1972, như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết, bạn bè tôi bắt đầu lìa nhau như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi. Còn lại quanh tôi là một nhóm nhỏ, luyến tiếc Nha Thành, đăng tên vào Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải năm đầu tiên khi trường mới thành lập. Tôi có cảm nghĩ rằng, thầy cũng như trò, ai cũng có một vai trò sáng tạo và phát triển cho trường, xây đắp học trình như ghép nối những mảnh vụn vào nhau.

Tôi học ngành Pháp Văn cùng một số bạn cũ từ Thánh Tâm  hoặc từ trường Pháp. Tôi sống những ngày thật vui tại Nha Trang, không lo lắng, không buồn  rầu vì dù có con, tôi vẫn được đi học, đi chơi rất thoải mái. Tuy nhiên, những ngày vui mong manh ấy cũng qua thật nhanh, đó là ngày tôi phải đối diện với đời sống mới của một cô giáo mới ra trường.

Đầu năm 1975 tôi bắt đầu đi dạy học tại trường trung học Sông Cầu,  tỉnh Phú Yên,  cách thị xã Nha Trang 180km bằng Quốc Lộ 1. Thuở ấy, 180km là một khoảng đường xa vời vợi. Nhất là khi nơi mình rời xa là một vùng trời yêu thương, có đứa con gái nhỏ giao cho bà nội giữ, có cha mẹ anh em và bạn hữu, cùng họ hàng ruột thịt, người chồng đang công tác trên chiến hạm và phải xa rời vùng biển xanh lớn rộng ôm ấp bãi cát vàng lộng lẫy tuổi ngây thơ.

Cứ vài tuần, tôi lại về Nha Trang thăm nhà, lần nào đi ngang đèo Cả cũng sợ tái người, không phải sợ đèo cao nguy hiểm mà vì sợ việt cộng gài mìn. May thay, chuyến xe đò vẫn đưa tôi đi về bình an trong suốt mấy tháng đầu đời làm nghề dạy học.

Tôi sống vì lý tưởng mà hy sinh tất cả, bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình quá đổi dại khờ. An ủi rằng những sự khờ dại trong tuổi thanh xuân là những kinh nghiệm làm cho trí óc mình thêm khởi sắc, nhưng đôi lúc cũng cảm thấy buồn buồn.

Con gái nhỏ của tôi lúc ấy mới tròn một tuổi, có cô giữ trẻ săn sóc  dưới sự kiểm soát của bà nội hoặc bà ngoại, bé được chơi đùa với các cô, dì và cậu nhưng rất ít khi thấy mẹ, cho nên trong những năm tháng dài trong đời, tôi cứ trách mình vì ham chơi, ham học mà không biết thương con.

Tại Sông Cầu, tôi thuê một căn nhà gần chợ, ở chung với chị Bê và chị Hảo, hai cô giáo độc thân dạy chung trường. Đây là hai cô gái tuyệt vời và hiền thục. Các chị dạy cho tôi cách sống tự lập của một người đàn bà độc thân tại chổ: từ cách tắm giếng, cách nấu ăn, cách đối xử với các giáo sư cùng trường cũng như cách im lặng lắng nghe những thị phi trong thiên hạ, những lời châm biếm, và dòm ngó của những kẻ thiển cận trong thị xã.

Học trò rất mến tôi dù tôi chỉ dạy chúng trong một thời gian ngắn. Dưới mắt các em, tôi là cô giáo trẻ, tinh thần cởi mở, ý kiến tự do, đại diện cho một trào lưu mới. Các em hay đến chơi nhà tôi để hỏi bài vở và chuyện trò. Nhờ có chút kiến thức về y học truyền qua từ mẹ tôi, tôi săn sóc những bàn tay ghẻ lở, những vết nứt chảy máu bàn chân, những đôi mắt đỏ, tôi cho em viên thuốc cảm tôi mang theo  hoặc những viên kẹo ngọt hiếm hoi. Vì thế cho tới ngày tôi lìa bỏ Sông Cầu, chạy giặc về Nha Trang tôi vẫn có học trò cũ lặn lội kiếm tìm.

Buổi chiều Sông Cầu thật buồn, chợ chiều vắng lặng, những quầy hàng trống rỗng, trơ vơ các vách phên, gió thổi nhè nhẹ đong đưa các cọng rơm bên mái tranh lất phất. Nhìn qua con đê nhỏ, từng đoàn học trò đạp xe nối đuôi nhau về từ các làng xóm xa xôi. Đó là những em học sinh lớn, về lại thị trấn để ngủ qua đêm dưới sự bảo vệ của lính Cộng Hòa. Nếu ở tại làng mình vào ban đêm, việt cộng hay bắt các em lên rừng học tập ba bốn hôm mới thả. Cho nên vào buổi chiều, tôi hay ngồi trước hiên nhà, ngó qua bờ đê, mong chờ bóng dáng các em đạp xe xuống phố như một đàn chim quay về tổ ấm.

Buổi chiều là khoảng thời gian tôi hay buồn chảy nước mắt: Tai nghe tiếng bầy chim sáo kêu ríu rít trên tàn lá dừa sau vườn, trong tiếng gió thổi, tiếng chim não nùng; dưới ánh đèn dầu leo lét, tôi ngồi âm thầm soạn bài, âm thầm viết những lá thư đầy thương nhớ và nhỏ những giọt lệ xót xa.

Cuối tháng 3, 1975. Tình hình càng ngày càng biến động, chị Bê và chị Hảo bàn tính chạy giặc, vì các chị ở Sài Gòn nên không mang theo nhiều hành lý. Hai cô phải  lặng lẽ ra đi để tránh những đôi mắt tò mò có thể tạo nên nhiều bất trắc trong chuyến di tản. Gia đình tôi ở Nha Trang ai cũng mong ngóng tôi về.

Ông ngoại tôi mãn phần sau một thời gian bị bệnh vào cuối tháng 3, tôi xin phép ông hiệu trưởng về nhà thọ tang, thế là tôi danh chánh ngôn thuận ra đi. Biết rằng khi ra đi tôi sẽ không bao giờ trở lại.

 

Đám tang ông ngoại xong, tôi về ở lại với gia đình chồng đường Duy Tân, Căn biệt thự có khoảng sân rộng mênh mông, trồng nhiều dừa và mấy cây me khổng lồ. Cô Mai, em chồng tôi rất giỏi leo trèo, cô trèo lên cây me, rung cành cho những trái me chín rơi đầy xuống gốc, bọn trẻ thi nhau lượm cả rổ me đầy.

Trong khu biệt thự này, chúng tôi đã trãi qua một tình yêu nồng nàn và thơ mộng bên cát vàng, sóng xanh; trong bình minh cùng đi tắm biển hoặc hoàng hôn ngồi bên nhau trên bãi cát, uống nước dừa, nghe sóng biển và ngắm nhìn những ánh đèn ngư phủ nhấp nháy bờ xa… và không bao giờ có ý tưởng là sẽ rời bỏ nó.

Nhiệm sở mới của Tuấn là Chiến Hạm HQ14, thế nhưng anh được đưa về lại Nha Trang một thời gian ngắn để tu nghiệp ngành chuyên môn. Tình hình đất nước càng ngày càng nghiêm trọng, anh rất lo lắng, khi tôi về lại được Nha Trang thì anh yên tâm đôi chút nhưng gia đình ba mẹ anh lại được lệnh phải di tản của tòa Lãnh Sự Mỹ để vào Sài Gòn. Anh muốn tôi đem con gái đi theo cha mẹ anh, nhưng tôi và con tôi không có tên trong danh sách nên không được tháp tùng. Sáng hôm sau, khi gửi vợ con lên phi trường, ba anh nói với ông xếp Mỹ là nếu con dâu và cháu nội tôi không đi được thì ông cũng không đi. Ông xếp không muốn ba ở lại nên lật đật làm giấy cho mẹ con tôi đi theo ngày hôm sau.

Tâm trạng tôi lúc ấy như tơ vò, không biết gì nữa cả. Gia đình tôi còn ở lại, ba ruột tôi là một công chức; lúc này ông thường dấu kín cảm nghĩ và thôi không phát biểu nhiều ý kiến nữa, chắc ông đang suy nghĩ nhiều về hiện tình đất nước cũng như sự an toàn cho gia đình và bản thân của mình. Trước khi ra đi một ngày, hai ông nội, ngoại gặp nhau tại nhà ngoại ở Lê Đại Hành, hai ông nói chuyện rất lâu, tôi không biết hai ông đã nói những gì nhưng cuối cùng thấy tôi đến gần, ba tôi nói lớn:” Tuy nó là con tôi nhưng bây giờ đã là dâu của ông, được ông bảo bọc cho mẹ con nó thì tôi rất yên lòng,”

Đó là câu nói cuối cùng của ba tôi mà tôi còn nhớ. Vì khi tôi chào ba để ra đi thì tôi không nghe ông nói câu nào nữa mà chỉ lẵng lặng quay đi.

Đó cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ba tôi.

Anh Tuấn bảo : Em phải đưa con theo ba mẹ để anh rảnh tay đối phó với công việc và lo cho gia đình, nếu em ở lại, anh sẽ vướng bận nhiều mà không giúp chi được cho gia đình em cả.

Nghe như vậy, tôi cắn răng bồng con theo Nội. Những ngày cuồng điên trước đó, mỗi lúc chiều về, bầu trời Nha Trang mây như màu lửa, gió mạnh điên cuồng làm rớt những tàn dừa đầy sân. Tôi cũng cuồng điên chạy xe từ Duy Tân qua Lê Đại Hành, chạy qua chạy lại mãi, trái tim đau nhức, lòng dạ ủ ê, mà cho đến bây giờ tôi cũng chưa nhớ ra là tại sao mình làm như vậy!

Vào Sài Gòn, tạm trú tại nhà anh chị Toàn, bạn thân của người em rễ trên đường Phan Thanh Giản. Đại gia đình trải chiếu ngủ ngoài phòng khách. Tôi cũng trôi lơ mơ trong dòng đời mới; ba ngày sau nghe tin Nha Trang mất, tôi cảm thấy như đất trời sụp đổ, ngồi ôm con khóc sưng mặt mũi vì tôi biết rằng tôi đã mất hết tất cả những người tôi rất mực thương yêu. Có một điều an ủi là tôi được anh Hà Tĩnh, thư ký tòa soạn báo Tuổi Hoa ghé đến thăm, anh mang đến cho bé Nai một hộp bánh lớn. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối tôi đươc gặp anh.

Sau cuộc vượt thoát rất khó khăn từ Cầu Đá, chồng tôi đưa được anh Thanh ( anh cả) và người bạn là chị Ann lên chiếc thương thuyền quen để về lại Sai Gòn. Thành phố Sài Gòn lúc ấy đã bị ngăn cấm nhập cư nhưng nhờ may mắn, các anh chị được một tài xế xe tải giúp ba người vô được trung tâm thành phố.

Anh Tuấn về bộ tư lệnh Hải Quân trình diện và trở lại nhiệm sở là chiến hạm HQ14, chiếc tàu anh biệt phái ra miền trung, bảo vệ miền duyên hải Phan Rang, Phan Thiết. Sau đó tàu HQ14 và HQ17 được phái ra bảo vệ quần đảo Trường Sa và các quân nhân đang đóng trên đảo. Đến ngày 28 tháng 4, hai chiến hạm được lệnh đón bộ binh về Vũng Tàu. Ngày 30 tháng 4, tàu anh hải hành ra Côn Sơn rồi cùng hạm đội, chở người di tản qua Philippines. Tôi hoàn toàn không biết công việc anh làm hay nghe tin tức của anh từ cuối tháng 3 cho tới ngày gặp lại nhau bất ngờ trong Camp Pendleton.

Ngày 26 tháng 4, 1975  sau khi đợi chờ qua đêm tại Tân Sơn Nhất, gia đình ông bà nội và tôi được lên máy bay. Tôi đi theo mọi người như cái xác không hồn với đứa con thơ trên tay và hai đô la trong túi. Tôi không biết mình sẽ đi đâu, sẽ làm gì nhưng trong tim tôi, tôi biết một điều và luôn luôn nhớ một điều là: Từ nay, tôi phải quên đi tất cả những mất mác đau thương, dù mai sau sống ở nơi nào, tôi phải tự túc, tự cường để dựng xây một tương lai mới cho đứa con bé nhỏ của tôi và Tuấn.

Sau 42 năm sống trên đất Mỹ, anh chị em tôi cũng đã qua sống gần tôi. Các cụ thân sinh bây giờ không còn ai nữa, thế nhưng vào những ngày Giổ , Tết; chúng tôi luôn luôn tìm về bên nhau, gặp nhau để cười, để khóc, để cảm tạ những mối yêu thương và hồng ân nhận lãnh trong đời.

 

Tôn Nữ Thu Nga

San Dimas, California (April 13, 2017)

 

DIỀU GIẠT GIÓ ĐƯA …

 

gió mười phương tìm ghé tạm phương này
thoáng se lạnh lây buồn lan chút nhớ
phía cuối ngàn xa có bầy chim nhỏ
nhìn nhá nhem cứ ngỡ là cánh Diều

cuộc bể dâu xiêu giạt gió trăm chiều
cứ bâng khuâng nhớ cánh Diều ngày đó
xa lắm rồi sao cứ hoài thương nhớ
cánh Diều bay trên đồi Trọc mổi chiều

đồi đã mỏn đời theo năm tháng buồn hiu
tựa cánh Diều bay căng dây đứt chỉ
lảo đảo lộn nhào theo dòng trôi hệ lụy
bỏ mùa xưa lưu lạc thời ấu thơ

thời dán giấy thêm đuôi cho Diều ngon trớn
chỉnh lại dây lèo cho đằm cơn gió ngược
cuộn chỉ nhà nghèo nơi trầy nơi xước
gió căng dây Diều đứt chỉ lộn nhào

đồi Trọc xóm xưa Diều bay thấp bay cao
quà tặng tuổi thơ rong ruổi dặm đường đời
ngỡ mất dấu những cánh Diều ngày đó
sao chiều nay gió ngược ngàn về đây

về chi đây nơi xa xăm làm vậy
không ghé về chiều đồi Trọc xóm xưa
hay xóm làng giờ đã không còn nữa
mới tìm người xưa gởi bớt ngậm ngùi

tôi giờ chốn dặm ngàn ngăn gió núi
cuộn chỉ đời phiêu giạt đã phong rêu
nhắn vói mùa xa đồi Trọc mổi chiều
cứ giú thầm nhau đời nhau hoài niệm

chiều phương xa gió trượt ngàn tìm kiếm
cứ thúc hối tôi quày ngó lại hồi xưa
trễ muộn lắm rồi nhớ quên chi nữa
thôi cứ dòng đời …diều giạt gió đưa….

viết dưới hiên trăng
TRẦN HUY SAO

NHÀ THƠ ĐI LÍNH

(Để tưởng nhớ Y-Broc Niê và Lại Trọng Hà)

Tôi không biết làm thơ. Chính xác hơn là tôi dốt đặc về thơ. Nhưng có điều tôi rất mê thơ. Thời mới vào trung học, tôi đã từng nắn nót chép những bài thơ của mấy ông Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Thâm Tâm… vào những tập giấy pelure đủ màu xanh đỏ, đóng bìa cứng với cái tựa mạ vàng. Tôi còn thuộc lòng hết mấy bài thơ tình của TTKH. Biết ai làm thơ hay, có đôi bài đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Năm, Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn hay Văn Nghệ Tiền Phong là tôi xem như thần tượng, gởi thư cho tòa soạn xin địa chỉ viết vài dòng làm quen, dù rất hiếm khi nhận được hồi âm. Lớn lên, vào lính, ngoài hành trang ba lô súng đạn, tôi luôn mang theo hồn thơ lai láng. Khi ấy tôi cũng vừa khám phá ra điều thú vị: người lính, đời lính và tình yêu của lính chính là đề tài lớn nhất cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Những chiều dừng quân, nghe tiếng gió rừng hòa tiếng suối reo, hay những lúc băng qua cánh rừng đầy hoa sim tím, tôi lại buột miệng thì thầm vài câu thơ quen thuộc. Nàng thơ lúc nào cũng ngự trị trong tôi, theo tôi đến mọi chân trời góc biển.

Đơn vị tôi là một tiểu đoàn tác chiến lưu động, có mặt trên hầu hết các địa danh Vùng 2 Chiến Thuật. Rày đây mai đó. Có khi buổi tối còn đóng quân trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, chiều hôm sau lại có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 người lính, Thượng nhiều hơn Kinh. Trong đó có một anh trung sĩ, tên Y- Broc Niê, có học hành, tư cách và kỷ luật. Đặc biệt anh có đôi mắt đẹp, mơ màng. Không biết gia đình giàu có thế nào, nhưng nghe nói anh được học trường Tây, nói tiếng Pháp còn giỏi hơn tiếng Việt. Trong ba lô của anh lúc nào cũng có cuốn Le Petit Larousse rất cũ kỹ và vài cuốn truyện tiếng Pháp. Anh được tất cả lính Thượng trong đơn vị kính nể, bảo điều gì cũng nghe răm rắp. Ngược lại anh cũng luôn quan tâm lo lắng đến đời sống và tranh đấu cho quyền lợi của họ. Xin cho được đi phép và cam kết họ sẽ trở lại đơn vị (vì thời ấy đa số lính Thượng khi về buôn bản, họ không muốn ra đi, bỏ lại nương rẫy vợ con nữa). Rất may là anh ta rất quí mến tôi. Hai thằng trở thành bạn thân khi tôi biết anh cũng rất thích thơ và biết làm thơ. Những ngày đóng quân trong rừng, anh thường ngồi đọc cho tôi nghe mấy bài thơ tình lãng mạn của các ông Jacques Brévert, Lamartine. Anh còn cho tôi nghe những bài thơ được anh dịch ra tiếng Thượng, và dạy cho tôi nói một vài tiếng Ê-đê. Anh hãnh diện khoe với tôi, anh là cháu ruột của nhân sĩ trí thức Y-Yut, người đã tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Ê-đê để đặt ra bộ chữ viết Ê-đê ngày nay. Đôi lúc tôi thắc mắc và thầm tiếc là tại sao một người sắc tôc có trình độ như anh mà chỉ làm trung sĩ tiểu đội trưởng tác chiến, tại sao chính phủ không xử dụng anh ở những vai trò khác hữu ích hơn, Nhưng rồi lại thấy nhờ may mắn có anh mà đời lính của tôi vui và thi vị hơn.

Một hôm, sau cuộc hành quân tại vùng Đa Ngư Phú Lạc, một khu núi đá nằm gần Vũng Rô-Đá Bia, đơn vị tôi thắng lớn, tịch thu cả một kho vũ khí của địch, được lệnh kéo về Tuy Hòa làm lễ khao quân và tái bổ sung quân số, quân trang đạn dược. Trung đội tôi được nhận thêm sáu tân binh. Trong số đó có một trung sĩ và một hạ sĩ, mà trông mặt mày tôi đoán biết cũng chỉ vừa mới rời ghế nhà trường để đi “vào nơi gió cát”. Có điều khác là chàng trung sĩ trẻ thì vui vẻ, năng động, kỷ luật còn anh hạ sĩ thì hơi có vẻ lè phè, tóc tai để dài, có cả hàm râu mép, rất ít nói, thường trả lời chỉ bằng một cái gật đầu mĩm cười, lơ đãng. Tôi thường thấy anh ngồi một mình tư lự, đôi khi nhắm mắt nhìn trời miệng thầm thì những điều gì không ai hiểu được. Cái tên cũng đẹp: Lại Trọng Hà. Trùng họ và chữ lót với một thằng bạn khá thân của tôi thời trung học, Lại Trọng San. Mới đầu tôi nghĩ có thể là anh em vì hai chữ San-Hà, nhưng anh ta cho biết là không có bà con dây dưa rễ má gì với thằng bạn của tôi cả. Sau này, tôi biết anh đã bị đánh rớt trong một khóa Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Thay vì bạn bè ra trường với cấp bậc trung sĩ, chỉ duy nhất có anh là Hạ sĩ. Tôi vừa thấy tội nghiệp, nhưng cũng vừa có một chút thành kiến, nghĩ anh ta chắc cũng thuộc loại ba gai, bất cần đời, khó trị. Không khéo sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đám binh sĩ khi tôi chỉ là thằng trung đội trưởng còn non choẹt, chưa có một chút kinh nghiệm chỉ huy cũng như chiến trường. Dù vậy, lúc nào tôi cũng tỏ ra thân thiện và giúp đỡ mặc dù anh không hề có bất cứ yêu cầu nào. Với một chút tâm lý, tôi không đưa anh ra tiểu đội, mà giữ anh lại ban chỉ huy trung đội, mang khẩu phóng lựu M-79. (Thời ấy loại súng M-79 mới được trang bị, còn rất hiếm, nên mỗi trung đội chỉ có một khẩu, và người lính nào mang M-79 được đi theo trung đội trưởng).

Không ngờ anh ta cũng rất thích thơ và thuộc rất nhiều thơ. Và dường như những bài thơ là sợi dây màu nhiệm buộc bọn tôi lại với nhau. Chỉ một thời gian, anh trung sĩ Y- Broc, hạ sĩ Hà và tôi trở nên rất thân tình. Ngoài tình đồng đội, chúng tôi xem nhau như là bạn, là anh em. Nhưng ông tiểu đoàn trưởng của tôi thì không ưa chàng hạ sĩ này. Mỗi lần bắt gặp, ông luôn quát: “ông tướng này phải cắt tóc tai cho đàng hoàng, cạo râu đi nghe chưa. Lè phè là không được với tôi đâu!” Tôi bảo nhỏ anh ta “thấy đại bàng phải né đi chứ!” Anh chỉ cười trừ rồi đâu cũng vào đấy. Đúng lúc ông trung sĩ 1 trung đội phó của tôi lên thượng sĩ, được chuyển về làm thường vụ tiểu đoàn, tôi xin rút trung sĩ Y-Broc về làm trung đôi phó. Ba thằng chúng tôi ở gần nhau hơn. Ăn cơm chung và nằm cạnh nhau dưới các giao thông hào. Y-Broc có biệt tài mưu sinh. Những lúc đóng quân giữa núi rừng, anh thường làm bẫy bắt thú rừng hay hái về những loại trái cây, rau rừng ăn được, những bữa cơm lính trở nên “thịnh soạn” hơn. Còn anh chàng hạ sĩ thì chỉ mang về các cụm lan rừng hay đôi cành hoa sim tím treo lủng lẳng trên đầu võng hay trước các giao thông hào. Những chiều đóng quân, nếu không đụng địch, anh nằm đu đưa trên võng, đọc cho bọn tôi nghe vài bài thơ hay. Không ngờ những bài thơ đã làm cho bọn tôi thấy đời lính đẹp hơn, lãng mạn hơn, mà quên bớt phần nào nhọc nhằn, nguy hiểm.

Cuối tháng, trung đội nhận được tờ báo Chiến Sĩ Cộng Hòa do ban Tâm Lý Chiến tiểu đoàn phân phối, luân phiên trong đại đội. Theo thói quen, tôi mở đọc trang Thơ trước, và rất ngạc nhiên khi thấy một bài thơ đề tặng mình, có ghi rõ đơn vị nữa. Bài thơ dài chiếm cả nửa trang giấy, thật hào sảng mà cảm động, có cả những địa danh mà đơn vị tôi vừa mới đi qua. Tác giả là một cái tên khá quen: Mây Cao Nguyên. Trước đây tôi đã đọc nhiều bài thơ của nhà thơ này và thường gật đầu tâm đắc. Nhưng tôi đâu có vinh dự gặp gỡ quen biết mà anh làm thơ tặng tôi. Và làm sao anh ta biết đơn vị tôi đã từng đi qua những địa danh xa lạ, những vùng núi rừng, hoặc làng mạc nghèo nàn, xác xơ heo hút, mà qua bài thơ bỗng trở nên thơ mộng và đẹp đẽ đến không ngờ?

Tôi đem bài thơ ra khoe với anh trung sĩ Y-Broc và hạ sĩ Hà, và hỏi có phải một trong hai người là thi sĩ Mây Cao Nguyên. Cả hai lắc đầu. Hà bảo Mây Cao Nguyên không phải con trai, là một cô bạn gái của anh, có lẽ đọc mấy lá thư của anh gởi về tả cảnh hành quân và ông trung đội trưởng trẻ tuổi dễ thương, nên cảm tác bài thơ ấy. Anh bảo có dịp anh sẽ giới thiệu bọn tôi với nhà thơ nữ này. Y-Broc dịch bài thơ ra tiếng Thượng đọc cho đám lính Thượng nghe. Tôi chẳng hiểu gì ngoài những tiếng vỗ tay của những người lính rất đỗi chân chất hồn nhiên ấy.

Một lần trung đội đang ăn cơm để chuẫn bị đóng quân đêm, bỗng ông đại đội trưởng đến tận nơi ra lệnh trung đội nghỉ ngơi một lúc chờ trời tối sẽ di chuyển đến một địa điểm để phục kích. Tin tức cho biết có một mũi công tác VC vừa xâm nhập vào khu làng nhỏ bên cạnh nhận tiếp tế, đến khuya hoặc trời gần sáng bọn họ sẽ rút trở lại lên núi. Trung đội được tăng cường thêm một tổ trung liên, có nhiệm vụ phục kích để tiêu diệt trên đường địch rút ra. Địa điểm phục kích là một ngã ba nằm phía sau làng, cách chân núi vài trăm thước. Ông đại đội trưởng đưa cho tôi tấm bản đồ, chỉ cho tôi cái ngã ba, hướng dẫn cách bố trí quân và vài điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh ông đã chấm sẵn. Tôi lấy hướng trên địa bàn và tính khoảng cách từ điểm xuất phát đến mục tiêu khoảng bốn cây số, di chuyển trên con hương lộ nhỏ. Tất cả chỉ mang theo vũ khí và đạn dược, balô gởi lại cho đại đội. Đúng 8 giờ xuất phát. Trời cuối tháng nên tối như mực. Tôi lo ngại có thể thất lạc hoặc bị lọt ổ phục kích. Y-Broc tình nguyện dẫn tiểu đội đi đầu. Những người lính Thượng rất có kinh nghiệm đi đêm trong rừng. Đôi mắt của họ như là những ngọn đèn thần.

Chưa tới ba mươi phút, đã đến ngã ba. Tôi nắm tay từng anh tiểu đội trưởng đến địa điểm chỉ cách bố trí, và gài mìn Claymore phía trước tuyến phục kích. Hai cây trung liên Bar được đặt trên hai mô đất cao có xạ trường tốt nhất hướng về phía con đường làng, nơi địch sẽ rút ra. Y-Broc xin theo tiểu đội người Thượng được tăng cường tổ trung liên, nằm riêng tại địa điểm trọng yếu, bên kia ngã ba đường, nơi địch sẽ xuất hiện trước nhất. Anh cẩn thận gài một quả mìn Claymore ở phía sau tuyến đề phòng bất trắc. Tôi ra lệnh luân phiên canh gác và nghỉ ngơi, đến 12 giờ đêm tất cả đều phải thức để sẵn sàng tác chiến. Khi nào địch di chuyển đến giữa ngả ba, tôi sẽ đích thân bấm trái mìn Claymore tại đây thay cho lệnh khai hỏa, tuyến quân của Y- Broc là nỗ lực chính tấn công và chốt địch phía sau. Kiểm soát các tiểu đội xong, tôi trở về vị trí, dựa lưng vào một mô đất duỗi đôi chân ra nghỉ.

Khoảng hơn nữa giờ sau, có tiếng vài con chim lạ, dấu hiệu có người. Tôi đang nghe ngóng và phân vân không biết mấy con chim này thấy ta hay địch thì giật mình bởi tiếng mìn Claymore nổ chát chúa ngay hướng trước mặt, bên kia đường, sau tuyến của Y-Broc, cùng những tiếng la hét thất thanh. Nhiều tràng đạn khai hỏa từ cánh quân của Y-Broc. Rồi tiếng súng địch nổ khắp nơi, có cả tiếng trung liên, đại liên và B.40. Những vệt đạn lửa đan xéo trên đầu, trong màn đêm tĩnh mịch. Hỏa lực địch tập trung vào vị trí tiểu đội của Y-Broc. Tôi nghe tiếng hô xung phong của địch và biết lực lượng địch ít nhất cấp đại đội, nên không thể liều lĩnh. Hơn nữa tôi chưa nắm vững đựợc tình hình và vị trí địch. Tiểu đội Y-Broc chống trả mãnh liệt. Nhờ nằm dưới một con mương khô, bám được vị trí che chắn tốt, và những tràng đạn trung liên cùng những quả lựu đạn M-26 liên tục tung ra hiệu quả nên cánh quân của Y-Broc giữ vững được phòng tuyến. Sợ địch phát hiện, nên lợi dụng khi có tiếng súng và lựu đạn nổ, tôi báo cáo vắn tắt cho ông đại đội trưởng, xin tiếp ứng và Pháo Binh, nhưng không thể cận yểm được vì địch với ta quá gần nhau, nên chỉ xin tác xạ vào các điểm tiên liệu ngay sau lưng địch, vừa uy hiếp vừa dồn chúng lại, để chúng tôi đánh bằng lựu đạn. Hai tiểu đội còn lại bên này đường đã nhanh chóng dàn mỏng đội hình dọc theo con lộ tạo thành một tuyến hình chữ L để đánh bên sườn địch. Cây trung liên cùng với khẩu M-79 của hạ sĩ Hà di động liên tục khai hỏa vào bên hông địch, để vừa không lộ vị trí vừa nghi binh để bọn chúng nghĩ là lực lượng chúng tôi đông đảo hơn chứ không phải chỉ một trung đội. Địch không còn tập trung áp đảo tiểu đội của Y-Broc mà bung ra hướng tôi đối phó. Khẩu đại liên của chúng chuyển hướng, liên tục khạc đạn vào chúng tôi trong một khoảng cách thật gần với tầm rất thấp, làm chúng tôi không ngóc đầu hay di chuyển được. May mắn là có một con mương nhỏ dọc theo lề đường tương đối an toàn để chúng tôi ẩn nấp.Tôi gọi xin Pháo Binh bắn hai quả soi sáng. Khi trái sáng được bắn lên, tôi thấy vị trí khẩu đại liên của chúng được đặt trên miệng một cái hố lớn bên kia đường, có xạ trường tốt. Rất khó khăn và nguy hiểm để chúng tôi có thể băng qua con đường đất, tiếp cứu tiểu đội Y-Broc. Bỗng có người đập nhẹ vào vai, quay lại tôi nhận ra Hà. Anh ta dúi khẩu M-79 đã hết đạn cho tôi và bảo cho anh xin thêm hai quả lựu đạn “để triệt khẩu đại liên của tụi nó″ (Lúc ấy mỗi người lính đều được trang bị 2 quả lựu đạn M-26). Tôi chưa kịp hỏi gì thì Hà biến mất. Cầm chân được chúng tôi, địch lại tập trung áp đảo và bao vây tiểu đội Y-Broc. Tiếng địch la hét hô “xung phong”nhằm uy hiếp tinh thần. Bỗng tôi nghe ba tiếng lựu đạn nổ liên tiếp cùng những tiếng la hốt hoảng và tiếng chân của quân địch chạy. Tôi nghĩ ngay đó là lựu đạn của Hà. Khẩu đại liên của địch im tiếng. Chúng tôi nhanh chóng băng qua đường và đồng loạt tập kích bên cạnh sườn địch bằng một loạt những quả lựu đạn tung ra cùng môt lúc. Trên 20 trái lựu đạn tạo thành tiếng nổ kinh hồn, như rung chuyển cả cánh rừng và mặt đất. Bọn đich tháo chạy dưới những tràng đạn Pháo binh của ta bắn chặn. Chúng tôi có lệnh không truy kích, vì chưa kiểm soát được tổn thất và bắt tay với cánh quân của Y-Broc.

Tôi lên tiếng gọi Y-Broc, bảo ngưng mọi tác xạ và tránh ngộ nhận, tôi sẽ đến gặp. Khi tôi vừa bắt tay Y-Broc thì Hà cũng vừa chạy đến. May mắn cả hai đều không thương tích. Tôi bảo lần này nhờ vào sự can đảm liều lĩnh của Hà, diệt được khẩu đại liên địch, mới kịp tăng cường cứu nguy cho Y-Broc. Ba thằng vội vã ôm choàng lấy nhau. Y- Broc bảo vừa đánh địch phía trước vừa phải đề phòng sau lưng, vì sợ mũi công tác của VC từ trong làng kéo ra. Tôi bảo Y-Broc để một bán tiểu đội và tổ trung liên nằm tại chỗ, đề phòng phía sau. Pháo Binh tiếp tục bắn trái sáng để chúng tôi bung ra lục soát. Rất may mắn như một điều kỳ diệu,, bên ta chỉ có hai binh sĩ Thượng bị thương, đều thuộc tiểu đội bên cánh của Y-Broc. Địch bỏ lại 9 xác chết và 12 vũ khí đủ loại, trong đó có một đại liên bị hư hại và một khẩu K-54. Hai tên bị thương nặng, chúng tôi bắt sống. Đa số đich chết vì lựu đạn và mìn Claymore. Năm tên banh xác dưới cái hố lớn nơi đặt khẩu đại liên, bị hạ sĩ Hà tiêu diệt. Đây cái hố trũng do dân làng đào lấy đất đắp đường để lại.

Khi đại đội (-) tiếp ứng đến nơi, tình hình đã hoàn toàn yên tỉnh. Ông đại đội trưởng ôm lấy chúng tôi mừng rỡ. Cả đại đội được lệnh vừa di chuyển về vị trí tiểu đoàn vừa an ninh lộ trình để xe tản thương đến đưa thương binh về bệnh xá, kể cả hai tên địch.

Sáng hôm sau, chúng tôi được ông Tiểu Đoàn Trưởng và ông Tiểu Khu Phó đến thăm, bắt tay khen ngợi, bảo là tin tức tình báo không chính xác. Đám VC vừa tao ngộ chiến với chúng tôi không phải là mũi công tác như được cho biết là đã xâm nhập vào làng từ lúc chạng vạng tối. Thực ra đây là đại đôi địa phương của chúng đã hạ sơn trễ, mục đích chiếm ngôi làng này và tấn công quấy rối vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn, may mà chúng tôi phát hiện và phản ứng kịp thời. Tôi gọi hạ sĩ Hà đến và kể lại thành tích bất ngờ nhưng hào hùng của anh. Hai ông cười, bắt tay Hà khen ngợi.

Chiến công bất ngờ lần ấy, trung đội tôi được tưởng thưởng 5 anh dũng bội tinh. Một ngôi sao vàng và 4 ngôi sao bạc. Điều vui hơn, là từ hôm ấy, ông tiểu đoàn trưởng đã nhìn Hà bằng cặp mắt khác. Có nhiều thiện cảm hơn.

Khoảng hai tháng sau, trung đội được lệnh đi tiền đồn, bố trí quân trên một ngọn đồi có nhiểu tảng đá lớn che chắn, một bên là núi, phía dưới là biển rì rào, trên trời thì trăng sao vằng vặc. Khung cảnh thật thơ mộng, nên trời đã khuya mà ba thằng chưa ngủ, nằm cạnh nhau bên hốc đá tán gẫu chuyện thơ văn. Đang ngâm nga mấy bài thơ của thi sĩ Đinh Hùng thì VC pháo kích mấy quả 80 ly rồi từ bên kia núi bắn sang nhiều loạt AK và hô xung phong. Tôi nghĩ chúng chỉ hù dọa vì khoảng cách khá xa. Hơn nữa ngọn đồi chúng tôi đóng quân khá kiên cố. Ba thằng vội bò dậy, hạ sĩ Hà lấy cây M-79 thọt sang mấy quả, còn tôi thì điều chỉnh pháo binh tác xạ mấy tràng. Yên lặng. Trở lại hốc đá, Hà và tôi không thấy Y-Broc đâu cả. Vài phút sau nghe tiếng lựu đạn nổ phía sau, cả trung đội báo động. Tôi chưa biết chuyện gì xảy ra, thì Y-Broc chạy tới, bảo là có đặc công đôt nhập từ hướng biển, nơi mà chúng tôi không ngờ. Thì ra bọn địch chơi trò dương đông kích tây. Y-Broc có kinh nghiệm và đã nhanh trí trước mưu đồ của chúng, nên kịp phát giác. Tôi xin Pháo Binh bắn soi sáng. Và nhờ đã chuẫn bị các dấu hiệu nhận nhau cột trên cánh tay và mật khẩu, chúng tôi dễ dàng kiểm soát tình hình. Một tên địch bị banh xác bởi trái lựu đạn của Y-Broc. Hai tên khác bị lộ, nấp dưới một hố nhỏ, tôi cho ném lựu đạn cay và bắt được chúng.

Thêm một lần nữa trung đội lập được chiến công, nhưng cũng không phải nhờ tài năng hay đảm lược gì của tôi, anh chàng trung đội trưởng.

Không ngờ một anh hạ sĩ bị đánh rớt từ quân trường Đồng Đế, và một anh trung sĩ người Thượng hiền lành, đều là hai nhà thơ lãng mạn, chuyên khóc gió thương mây, mà lập được những chiến công hiển hách, cứu tôi và cả trung đội hai lần thoát khỏi tình huống hiểm nguy. Riêng tôi đã học thêm được một số kinh nghiệm chiến trường.

Sáu tháng sau, tiểu đoàn được tăng phái dài hạn một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113, xuống tàu Hải quân di chuyển vào Phan Thiết, để mở lại con đường QL-1 từ Phan Thiết đến Phan Rang, đặc biệt giải tỏa khu vực dọc theo Mật khu Lê Hồng Phong bị địch làm chủ tình hình hơn hai tháng nay. Đồng thời giữ an ninh cho Công Binh thiết lập căn cứ Nora và Mara nằm bên quốc lộ. Cuộc hành quân kết thúc tốt đẹp. Chúng tôi nhận lệnh bàn giao các căn cứ và vị trí cho các đơn vị địa phương quân của TK Bình Thuân, di chuyển đến phi trường quân sự Sông Mao để được không vận khẩn cấp bằng các phi cơ Caribou lên Quảng Đức. Mục tiêu cuộc hành quân lần này mới lạ và phức tạp hơn: trấn áp những cuộc nổi loạn của người Thượng, sau khi có tin một số sĩ quan người Kinh tại một căn cứ hay quận lỵ nào đó bị giết chết. Tôi thực sự khó xử khi trong đơn vị có khá nhiều người Thượng và đặc biệt trung sĩ Y-Broc là người mà tôi thương yêu quí mến. Nếu phải tấn công vào lực lượng người Thượng phản loạn, tôi không biết phải ăn nói làm sao, và liệu phản ứng của Y-Broc và các binh sĩ Thượng trong đơn vị sẽ như thế nào? Cuối cùng, không phải chỉ có tôi mà ông tiểu đoàn trưởng đã phải trông nhờ vào trung sĩ Y-Broc. Ông muốn anh về làm việc với bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhưng anh một mực xin được tiếp tục ở lại trung đội với tôi và sẽ thi hành tất cả những gì vị Tiểu Đoàn Trưởng cần đến. Anh hứa sẽ giải thích cho tất cả anh em binh sĩ Thượng trong đơn vị hiểu và cũng tình nguyện làm trung gian hòa giải giữa đơn vị tôi và lực lượng người Thượng nổi loạn ở Quảng Đức. Anh tin tưởng cuộc hòa giải sẽ thành công để tránh những cuộc đụng độ giữa hai sắc tộc anh em Kinh-Thượng. Rất may, khi đến Quảng Đức, tình hình đã lắng dịu. Sau đó khi đơn vị hành quân qua các vùng có đông đúc người Thượng, trung sĩ Y-Broc trở thành một cán bộ Tâm Lý Chiến tài ba, đã cảm hóa được hầu hết những quân nhân và dân chúng Thượng trong vùng.

Quảng Đức là một tỉnh nhỏ, nằm heo hút giữa biên giới Lào-Việt, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng lập với vài khu dinh điền, để định cư một số người Bắc di cư năm 54 và tạo thành một trọng điểm chiến lược. Có lẽ không một địa danh nào làm cho những người lính buồn chán bằng Quảng Đức. Vậy mà tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại đây gần một năm, giữ an ninh cho khu dinh điền Đạo Nghĩa và thường xuyên hành quân tảo thanh dọc theo biên giới.

Hơn mười tháng sau, ngay sau khi nhận lãnh chức vụ đại đội trưởng, tôi được ông tiểu đoàn trưởng chỉ định dắt đại đội solo xuống núi, tăng cường cho TK Lâm Đồng, giữ an ninh cho Công Binh tái thiết mấy cây cầu trên QL-20 bị VC giật sập. Tôi kéo Y-Broc và Hà về ban chỉ huy đại đội. Chúng tôi đóng quân trên một đồi trà mà ông chủ là một người Pháp. Nhờ Y-Broc giỏi tiếng Pháp, nên ông chủ có cảm tình đặc biệt với bọn tôi, thường đãi bọn tôi những bữa ăn với rượu Tây và thỉnh thoảng lấy xe chở bọn tôi lên thành phố Đà Lạt rong chơi. Cà phê Tùng và quán Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương là nơi mà bọn tôi thường có mặt.

Hơn một tháng sau, đại đội được trả về tiểu đoàn, vừa di chuyển đến Di Linh, tham dự một cuộc hành quân khẩn cấp, tiếp viện Tiểu Đoàn 22 BĐQ . Đơn vị thiện chiến này vừa trải qua một cuộc hành quân dài hạn tại một mật khu nằm giữa ranh giới ba tỉnh Bình Thuận – Ninh Thuân – Lâm Đồng, tiêu diệt một số đơn vị địa phương và phá hủy một số kho lương thực của địch. Trên đường rút quân về Lâm Đồng thỉ bị một đơn vị địch khác vừa mới được điều động từ Vùng 3 đến làm nút chặn, bao vây. Địch đã tổ chức trận địa sẵn, đặt nhiều cái chốt với súng đại liên và cả đại bác trên các cao điểm. Tiểu Đoàn BĐQ chiến đấu dũng cảm trong một địa thế khá cam go. Nhưng điều bất lợi là đạn dược sắp cạn mà không thể nhận tiếp tế được.

Từ tuyến xuất phát đến mục tiêu khá xa, khoảng mười lăm cây số đường chim bay. Lúc ấy phương tiện còn eo hẹp, trực thăng H-34 đổ quân rất hiếm hoi, cả tiểu đoàn phải hành quân bộ chiến. Để di chuyển nhanh, binh sĩ chỉ trang bị súng đạn và lương khô. Ngoài ra còn phải mang theo thêm một cấp số đạn để tiếp tế khẩn cấp cho BĐQ. Tiểu đoàn chia làm ba cánh, hổ trợ nhau. Vừa di chuyển thật nhanh theo lộ trình ngắn nhất, vừa tung các toán tiền thám ra phía trước và hai bên đề phòng phục kích. Đại đội tôi đi chung với BCH Tiểu Đoàn và đại đội chỉ huy yểm trợ. Hơn hai phần ba lộ trình, cả đơn vị dừng lại nghỉ vài phút, ăn cơm, chuẩn bị súng ống đạn dược cũng như tinh thần để tiến vào mục tiêu. Khi có lệnh di chuyển, Y-Broc cho tôi biết hạ sĩ Hà tự dưng bị đau bụng khá nặng, không thể đi được. Tôi cho y tá đại đội đi mời anh sĩ quan trợ y tiểu đoàn đến khám. Hà mặt mày xanh mét, mắt nhắm lại vì đau đớn, mồ hôi đổ đầy trên trán. Anh sĩ quan trợ y gốc cán sự y tế nhiều kinh nghiệm, cho biết hạ sĩ Hà bị sưng ruột thừa cấp tính. Anh cho Hà uống thuốc, nhưng bảo thuốc chỉ có thể giảm đau chốc lát, nhưng cần phải tản thương về quân y viện để giải phẩu. Nếu kéo dài ruột thừa có thể bị vỡ ra, nguy hiểm đến tính mạng. Tôi đi gặp ông tiểu đoàn trưởng trình bày sự việc. Ông đi theo tôi đến tận nơi quan sát. Thấy ông đến nói chuyện với anh cố vấn Mỹ, nhưng sau khi gọi máy liên lạc với ai đó, anh ta lắc đầu. Sau một hồi suy nghĩ ông quyết định đem Hà giấu trong hốc núi, để lại cho anh ta một ít thuốc uống giảm đau, lương khô và bốn trái lựu đạn. Khi nào thanh toán xong mục tiêu, đơn vị sẽ quay trở lại đón anh. Vì không thể tản thương và cũng không thể khiêng anh vào mục tiêu trong lúc này được. Nhìn nét măt đăm chiêu khổ sở của ông tiểu đoàn trưởng, tôi biết rất khó khăn để ông đưa ra quyết định này. Không thể vì một người mà gây trở ngại cho cả một đơn vị, nhất là trong tình trạng đặc biệt khẩn cấp. Tôi nhìn Hà đau đớn mà đứt ruột. Ông tiểu đoàn trưởng vừa bước chân đi, tôi vội chạy theo đề nghị xin cho tôi cử một tiểu đội, gồm những binh sĩ giỏi, nhanh nhẹn, võng hạ sĩ Hà ngược ra điểm xuất phát sáng nay để xe tiểu đoàn đến đón đưa đi bệnh viện. Tôi xin nhận lãnh mọi trách nhiệm được giao phó cho đại đội khi vào mục tiêu phía trước. Ông ngần ngừ, bảo rất nguy hiểm, theo kinh nghiệm, chắc chắn có vài toán thám sát của địch đã bám theo tiểu đoàn. Y-Broc nghe tôi trình bày vội vàng chạy tới, đứng nghiêm chào, xin tình nguyện tổ chức và chỉ huy tiểu đội đặc biệt đưa hạ sĩ Hà ra khỏi vùng hành quân. Ông tiểu đoàn trưởng gật đầu, vỗ vai bảo Y-Broc phải hết sức cẩn thận. Y-Broc chọn tám người lính Thượng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và rất sở trường việc di chuyển trong rừng. Sau khi sắp xếp cho việc tản thương hạ sĩ Hà xong, cả đơn vị tiếp tục di chuyển về hướng mục tiêu. Tôi cảm thấy lo âu, vừa cho sự an toàn của họ vừa thiếu mất một anh trung sĩ và mấy anh lính Thượng can đảm, giàu kinh nghiệm chiến đấu, khi đại đội sắp phải đánh vào một mục tiêu gay go trước mặt. Nhưng rồi lại thấy vui trong lòng, khi nghĩ đến hạ sĩ Hà sẽ được bình an, cứu chữa.

Sau gần một tiếng đồng hồ, đơn vị đến tuyến báo động. Không khí yên lặng nặng nề. Khi cho đại đội bung rộng ra thăm dò tình hình, tôi bỗng nghe nhiều tiếng súng nổ xa xa phía sau lưng. Tôi nghĩ có lẽ tiểu đội đặc biệt của Y-Broc đã đụng địch. Chưa kịp lo lắng cho số phận của anh em, nhất là hạ sĩ Hà đang trong tình trạng ốm đau không chiến đấu tự vệ được, thì địch bắt đầu nổ súng tấn công đại đội. Tôi phát hiện khẩu đại liên của địch trong hốc đá trên triền núi, sẽ là mối đe dọa cho đại đội. Cho binh sĩ tản vào các gốc cây và tảng đá tạm thời ẩn nấp, tôi xin tiểu đoàn tăng cường khẩu đại bác SKZ 75 ly, tác xạ liên tiếp 2 quả vào vị trí đại liên của địch, đồng thời cho trung đội đi một cánh riêng trên triền núi, bò lên ném tiếp mấy quả lựu đạn. Khẩu đại liên im tiếng. Tiểu Đoàn ồ ạt tấn công phía sau lưng địch. Phát hiện thêm vài ổ súng khác của địch trên triền núi, nhằm cầm chân đơn vị ta, anh sĩ quan đề-lô rất năng nổ của tiểu đoàn thay vì gọi Pháo binh tác xạ, đã trực tiếp hướng dẫn phi công L-19, đánh dấu chính xác địa điểm các ổ đại liên và ống phóng hỏa tiễn của địch. Hai phi tuần khu trục thi nhau oanh kích. Tiểu Đoàn 22 BĐQ biết có đơn vị bạn tiếp viện, đã anh dũng đánh ra. Địch quân bất ngờ bị kẹt trong thế gọng kềm, bung ra chạy thoát thân, nhiều tên bị các tay súng của ta đốn ngã. Tiếng anh phi công L-19 la hét vui mừng trên tần số, gọi các phi tuần tiếp tục rãi bom xuống đầu địch. Khi đại đội tôi tiến lên bắt tay cánh quân Biệt Động Quân, rất bất ngờ và cảm động khi nhận ra anh đại đội trưởng BĐQ đi đầu lại là người bạn học cùng quê và cùng khóa Thủ Đức: thiếu úy Trương Tấn Anh. Anh bị thương nhẹ, trên cánh tay còn tấm băng rỉ máu, nhưng vẫn điều động đại đội phản công quyết liệt với số đạn ít oi còn lại sau một cuộc hành quân dài hạn, đã vậy còn phải mang theo một số thương binh, tử sĩ. Chia đạn cho anh em BĐQ xong, chúng tôi cùng hợp đồng tiếp tục truy kích, thu nhặt nhiều chiến lợi phẩm. Xác địch nằm la liệt trên trận địa.

Khi có lệnh tạm bố trí nghỉ ngơi, tôi sực nhớ tới Y-Broc cùng toán lính đưa hạ sĩ Hà ra lại Di Linh, lòng bồn chồn, không biết họ ra sao. Mấy đợt súng nổ tôi nghe được trước khi tấn công mục tiêu có phải là họ đã phải chiến đấu với địch? Tôi cố gắng liên lạc, nhưng chỉ nghe tiếng rè rè của chiếc máy PRC- 10 (thời ấy chưa có PRC-25).

Mãi đến khi rút quân ra hơn nửa đường, tôi mới nghe tiếng ông thượng sĩ chỉ huy tiền trạm báo cáo trên hệ thống vô tuyến: Toán của trung sĩ Y Kroc đã chiến đấu rất dũng cảm để tiêu diệt đám VC chặn đánh, cứu hạ sĩ Hà khỏi bị bắt. Tuy nhiên bên ta có trung sĩ Y-Broc và hai binh sĩ bị thương nhẹ. Riêng hạ sĩ Hà bị thương nặng, đã được tản thương về QYV Nguyễn Huệ – Nha Trang.

Vừa về đến Di Linh, ông tiểu đoàn trưởng và tôi chạy đến thăm Y- Broc tại bệnh xá của huyện. Anh bị một viên vào cánh tay trái, may mắn là không vào xương. Anh kể lại khi bị VC tấn công, tất cả đều quyết liệt phản công. Hà lại bị thương ngay loạt đạn đầu tiên của đich, dù không di chuyển được, vẫn nằm môt chỗ chiến đấu. Tôi nghiệp, hai anh lính võng hạ sĩ Hà, vì phải nằm lại bảo vệ Hà, nên đã trúng đạn địch. Nhưng chính nhờ hai anh lính này, mà Y-Broc và sáu khinh binh còn lại đã quật ngã đám địch. Anh chỉ lo cho Hà vừa bị trọng bệnh lại vừa bị trọng thương. Tính mạng rất mong manh.

Sau trận ấy, Y-Broc được điều về tiểu đoàn làm phụ tá SQ Tâm Lý Chiến. Nhưng chỉ một tháng sau, khi có lệnh cho các hạ sĩ quan gốc thiểu số được ưu tiên theo học khóa sĩ quan. Y-Broc rời đơn vị, nhập học một khóa sĩ quan ở trường Thủ Đức. Nhờ có sức khỏe và khả năng Anh, Pháp ngữ, anh được tuyển sang Không Quân, ngành phi công trực thăng. Ra trường được bổ nhậm về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Sau đó một vài năm tôi mất liên lạc với anh.

Năm 1985, chỉ mấy tháng sau khi ra tù, tôi cùng vợ con vượt biển. Được tàu Na-uy cứu vớt trước khi một cơn bão ập đến. Chúng tôi được đưa vào trại tị nạn Singapore và sau đó chuyển tiếp sang trại Bataan ở Phi Luật Tân. Trại Bataan lúc ấy gồm có mười Vùng. Gia đình tôi ở Vùng 1 là nơi dành riêng cho những người được tàu Na-uy vớt, được học ngôn ngữ Na-uy từ 6 đến 8 tháng trước khi đi định cư ở đất nước Bắc Âu lạnh lẽo nhưng rất giàu lòng nhân đạo này.

Tôi tham gia vào Hội Cựu Quân Nhân do vị đại tá trại phó, người Phi, hỗ trợ mọi mặt. Ông đã từng có một thời gian phục vụ ở Việt nam trong lực lượng đồng minh và hết lòng ca ngợi QLVNCH, cũng như rất đau đớn khi nghe tin miền Nam VN thất thủ. Ông đã bàn giao lại cho Hội Cựu Quân Nhân chúng tôi lá quốc kỳ của Tòa Đại Sứ VNCH tại Manila. Hội Cựu Quân Nhân hỗ trợ các ban đại diện Vùng giải quyết các vấn đề an ninh trong trại.

Một hôm, một cô gái người Thượng đi tắm suối bị ba người lạ mặt bắt đưa vào rừng hãm hiếp. Địa điểm này lại nằm gần Vùng 1, nên mọi nghi ngờ đểu đổ dồn về Vùng 1 chúng tôi. Người Thượng tị nạn lúc ấy có khoảng 70 người, ở Vùng 2, tập trung kéo đến với gậy gộc, hò hét, đòi tập trung tất cả người Vùng 1 để cô gái kia nhận diện, tuyên bố là nếu tìm ra thủ phạm, họ sẽ tự giải quyết mà không cần đến ban chỉ huy trại.

Thấy tình hình quá căng thẳng, có thể nguy hiểm khôn lường, tôi nhờ anh Cảnh sát Phi, có trạm gác phía sau Vùng 1, liên lạc yêu cầu Đại Tá Trại Phó đến gặp tôi. Ông đại tá cho điều động cảnh sát võ trang, nhưng chỉ chia nhau ẩn trong các dãy nhà, ngại người Thượng có thể liều lĩnh tai hại. Ông yêu cầu người Thượng đề cử một ban đại diện không quá 5 người vào trạm cảnh sát nằm sau Vùng 1 gặp một số đại diện người Kinh. Tôi nằm trong ban đại diện người Kinh ấy. Chúng tôi vào trạm trước ngồi chờ.

Khi nhóm đại diện người Thượng bước vào, và anh trưởng nhóm chào ông đại tá và chúng tôi, tôi há hốc miệng khi nhận ra người ấy chính là Y-Broc, người bạn đồng đội thân thiết rất dễ thương từng sống chết với tôi ngày trước, tôi gọi lớn tên anh:

– Có phải Y-Broc Niê ở tiểu đoàn Hải Ưng ngày xưa đây không?.

Y-Broc ngước mắt nhìn rồi bước tới ôm chầm lấy tôi, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Anh quay lại nói với những người Thượng một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng nhận ra nét mặt của họ đột nhiên dịu lại. Tôi kể cho ông đại tá về sự quen biết giữa chúng tôi, ông bắt tay hớn hở. Tôi nói với Y-Broc là chúng tôi sẽ phối họp với an ninh trại, cho điều tra thật nhanh chóng sự việc đáng buồn này. Kết quả thế nào tôi sẽ báo cho Y-Broc biết, để cùng tìm một giải pháp. Tránh để xảy ra trường hợp thù hận giữa hai sắc tộc như năm nào ở Quảng Đức mà chính Y-Broc từng là vị sứ giả hòa bình. Y- Broc gật đầu cám ơn mọi người rồi dắt tay tôi ra chỗ những người Thượng đang tập trung chờ đợi phía trước, Anh ôm vai tôi, nói một hồi, toàn tiếng Thượng. Không hiểu gì, nhưng tôi nhận ra cái giọng rất cảm động, có chút nghẹn ngào. Thì ra anh ta vẫn có uy tín rất lớn với những người cùng sắc tộc. Những lời nói của anh đã nhanh chóng thuyết phục được họ. Tất cả im lặng kéo nhau về Vùng 2. Y-Broc mời ông đại tá trại phó và kéo tôi ra cái quán ở trước Vùng 5 uống bia, với sự cho phép đặc biệt của ông trại phó (người tị nạn không được phép uống bia rượu trong trại). Anh kể qua cho tôi nghe quãng đời binh nghiệp của anh sau này. Đặc biệt từ đầu năm 1971 anh được biệt phái giữ một chức vụ khá lớn trong Bộ Phát Triển Sắc Tộc.

Tuy nhiên, lòng tôi chưa hết ưu tư, vì nếu thủ phạm vụ hiếp dâm cô gái Thượng là người ở Vùng 1, liệu tôi sẽ phải ăn nói thế nào với anh và những đồng hương đang tin tưởng kính mến anh. Rất may, trời thương chúng tôi. Chỉ hai hôm sau, cảnh sát Phi đã bắt được thủ phạm, là ba thanh niên người Phi, thợ mộc được trại thuê vào làm việc.

Khi Y-Broc tìm đến găp tôi để cho biết tin này, chúng tôi có dịp ngồi bên nhau lâu hơn, ôn lại chuyện xưa. Y-Broc cho biết là anh vẫn còn độc thân. Khi làm việc ở Sài gòn, anh bất ngờ gặp lại hạ sĩ Lại Trọng Hà. Nhờ đọc được mấy bài thơ của tác giả Mây Cao Nguyên, trong đó có nhắc lại nhiều kỷ niêm ở đơn vị cũ. Cảm động nhất là bài thơ kể lại lần nhà thơ thoát chết khi được những đồng đội dũng cảm người Thượng võng ra khỏi vùng chiến trận. Anh không chết nhưng trở thành tàn phế. Y-Broc liên lạc với tòa soạn của tờ tuần san có đăng mấy bài thơ để hỏi thăm tin tức và địa chỉ của tác giả Mây Cao Nguyên.

Khi tìm đến căn nhà sàn nhỏ nằm cuối con hẻm bên bờ sông Thị Nghè, Y-Broc đã gặp lại Hà. Anh sống với vợ chồng bà chị. Y-Broc bật khóc khi nhìn thấy cả hai chân của Hà đã bị cưa tới đầu gối. Hai người bạn vừa làm thơ vừa chiến đấu ngày xưa ôm lấy nhau mà không nói được lời nào. Họ uống rượu, đọc thơ, rồi khóc cho đến lúc say mèm nằm lăn ra ngủ lúc nào không biết.

Vài hôm sau, trên một tờ tuần san văn nghệ, Y-Broc đọc được bài thơ của Mây Cao Nguyên, đề tặng anh. Bài thơ khá dài, Y-Broc chỉ còn nhớ vài câu:

Sao lại là ta đến nỗi này
là Mây mà chẳng thấy mây bay
gặp mi ta nhớ rừng núi cũ
một thưở làm thơ giữa đạn thù

Thôi kể làm chi chuyện mất còn
ném đôi nạng gỗ xuống dòng sông
còn dăm bầu rượu chia nhau cạn
gõ nhịp mà ca thiên nhất phương

Năm 1978, khi trốn thoát khỏi trại tù Gia Trung – Pleiku, Y-Broc không dám trở về quê Ban Mê Thuột, vì có rất nhiều người biết anh. Anh chạy thẳng vào Sài gòn, nhờ người mua được giấy tở giả, với một cái tên giả. Có lần anh trở lại con hẻm bên bờ sông xưa tìm thăm Hà, nhưng căn nhà ấy không còn, đã được phá đi để cất lên một ngôi nhà mới, và người chủ nhà cũng như những láng giềng không ai biết Hà, cũng như chưa bao giờ nghe nói có một nhà thơ Mây Cao Nguyên nào từng ở trong con hẻm nhỏ này.

Điều bất ngờ thú vị là sau đó Y- Broc cũng đến định cư ở Na-uy, vì có cô em gái đã đến đây trước, làm hồ sơ bảo lãnh cho anh. Tôi định cư sau anh năm tháng. Khi còn ở Bataan tôi có nhận của anh một ít tiền và mấy lá thư, chỉ cho một vài kinh nghiệm hội nhập và dặn dò đôi điều cần thiết khi đến Na-uy. Một tháng sau khi đến Na-uy tôi tìm thăm anh. Y-Broc ở một thành phố phía Nam, cách xa thủ đô Oslo, nơi gia đình tôi ở khoảng 500 cây số. Anh xin được chỗ làm tốt trong Công ty dầu hỏa Na-uy. Vừa làm vừa học thêm. Ba năm sau anh làm đám cưới với một cô giáo người Na-uy. Vợ chồng tôi dự đám cưới, được vinh dự ngồi chung bàn cùng cô dâu chú rể. Trong tiệc cưới tôi được anh mời lên kể cho thực khách nghe về những kỷ niệm của chúng tôi khi còn là lính chiến ở Việt nam. Tôi cũng không quên nhắc lại chuyện tôi bất ngờ gặp lại anh ở trại tị nạn Bataan, và chuyện một người bạn thương binh của chúng tôi, làm thơ rất hay, đánh giặc rất liều, có thể còn sống ở đâu đó tại quê nhà mà chúng tôi rất nhớ. Sau đó, bận rộn chuyện học hành, lo cho con cái hội nhập vào quê hương mới, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gọi phôn thăm, đôi lúc nhận được vài bài thơ của anh làm, được dịch ra tiếng Na-uy.

Năm sau, chị vợ sinh cho anh một cô con gái. Trông tấm ảnh. Cô bé lai khá xinh. Ngày cháu tròn ba tuổi, vợ chồng tôi có ý định xuống thăm và mừng sinh nhật cháu. Tôi nghĩ người Thượng theo chế độ mẫu hệ, nên được con gái đầu lòng chắc Y-Broc vui mừng lắm. Nhưng gọi mấy lần không gặp anh, chỉ nói chuyện với cô vợ. Lần cuối cùng cô sụt sùi cho biết là Y-Broc đã biến mất. Người em của anh cho biết là anh đã cùng vài người bạn cùng buôn bản lúc xưa, định cư ở North Carolina bên Mỹ, tìm đường trở về biên giới Việt nam, tổ chức cho những người Thượng nổi dậy chống chính quyền CS và cứu một số bạn bè chiến hữu người Thượng bị truy bắt, phải vượt qua biên giới còn đang ẩn trốn ở đâu đó. Cho mãi đến bây giờ vẫn không ai biêt tin tức của Y-Broc. Chắc chắn là anh đã chết.

Tôi thẫn thờ cả mấy ngày, như vừa mới mất đi một người thân, một người bạn chí tình, khí khái và có tâm hồn, nghĩa hiệp. Tôi cũng nhớ tới Lại Trọng Hà, nhà thơ Mây Cao Nguyên. Không biết giờ này anh đang ở đâu, và với đôi chân tàn phế ấy, anh sẽ phải sống như thế nào trong một xã hội mà kẻ thù đang ngự trị. Lúc trước anh còn có thể xoa dịu vết thương cùng nỗi bất hạnh bằng những bài thơ viết với trái tim mình, nhắc nhớ kỷ niệm chiến trường cùng những đồng đội yêu thương. Giờ thì ôm bao nỗi đau trong lòng mà chẳng biết chia sẻ cùng ai. Một vài lần bán sách góp vào quỹ các tổ chức cứu trợ thương phế binh, tôi có nhờ các vị trong những tổ chức nhân đạo này, nhưng không ai tìm thấy tên Lại Trọng Hà trong các hồ sơ hoặc danh sách thương phế binh xin trợ giúp..

Trong những giấc mơ đôi lúc tôi thấy ba thằng chúng tôi nằm bên nhau, ngâm nga thơ phú trên ngọn đồi có nhiều tảng đá, một bên là núi một bên là biển, giữa bầu trời vằng vặc trăng sao, trong tiếng đạn pháo và tiếng hô xung phong của đám quân thù. Giật mình tỉnh giấc, tôi có cảm giác như đang chơi vơi lơ lửng trong một khoảng không bao la nào đó.

Phạm Tín An Ninh

Tháng Tư


K
ính tặng những người chinh phụ

…Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo Quyên ca… ( Chinh Phụ Ngâm)

Mở trang Quân Sử Tháng Tư
Hồn anh linh cõi mịt mù về quanh
Mở trang Quân Sử…không đành
Tìm thư các
đọc tàng kinh…
nghẹn ngào
Rừng khô biển kiệt tâm hao
Ngàn năm dâu bể biết đâu cội nguồn
Thắp trong đêm một tàn hương
Nghe quanh quất vó ngựa buồn đâu đây
Nẻo quyên ca lỗi hẹn ngày
Hồn theo ngọn gió về lay hiên người…

Tôn Nữ Thu Dung

CHIẾC LÁ THÁNG TƯ

CÁNH CHUỒN CÁNH BƯỚM

 

Không rỗi hơi để chất lên tấm lưng trần vốn cõi còm thêm một hoặc nhiều sứ mệnh
Trên đôi cánh vay mượn từ nàng ta vẫn cứ tự nhiên như nhiên rong vui mọi đàng khắp nẻo gần xa

Không khác mấy ngày xưa thơ bé trốn học băng đồng lội ruộng lật đất lùng bắt từng con dế than dế lửa|
Ta lật mọi thứ có thể trên đường may ra tìm được chút gì khả dĩ đắp chườm chốn rỗng tối hơn đêm

Gặm nhấm sự tự huyễn rằng cây mục rồi nẩy lộc đâm chồi trái ngọt trĩu nặng cành khô và ngàn hoa nở bùng trên đá
Cừu ngơ ngác ngóng người chăn đàn chim di trú thôi không đợi mùa

Những cánh cò chẳng tìm thấy bến ca dao chấp chới lạc đường bay trong đêm nguyệt thực
Cá quẫy lao nhao xao động mặt hồ rúc rích cười trúc tre sầu rũ ngọn dáng buông câu

Cánh chuồn cánh bướm đậu bay người say kẻ tỉnh rủi may trong đời
Phần tất yếu của cuộc chơi bò trườn đi đứng nằm ngồi rồi buông.

 

NGUYÊN VI

 

 

thư thì mỏng

truyện ngắn phóng tác

Nguyễn thị Hải Hà

Ở một thành phố nhỏ ít người Việt mỗi lần muốn đi ăn nhà hàng Việt phải lái xe có khi cả tiếng đồng hồ. Đa số người Việt ở các thành phố nhỏ này tự nấu ăn, nếu là đàn ông thì vợ nấu. Người không vợ, hay vợ không biết nấu món ăn Việt thì ráng nhịn, riết rồi quen. Một nhà hàng nhỏ nghĩ ra cách này. Họ nhận nấu cơm tháng, giá phải chăng, giao tận nhà. Câu chuyện xảy ra như thế này.

Ông mở hộp cơm. Trong cái hộp nhỏ để đựng đũa muỗng và gia vị, có kèm một mảnh giấy. Giấy màu vàng có kẻ hàng, loại giấy đóng thành xấp thường bán trong siêu thị.

Ngày … Tháng … Năm …

Thưa ông,

Tôi tự hỏi ông có thích món ăn tôi nấu hay không. Đây là ngày thứ ba tôi để ý thấy hộp cơm của ông hết sạch. Ông có thể cho tôi biết những món ăn hợp khẩu vị để tôi phục vụ khách hàng tốt hơn.

Đầu bếp.

TB: Ông không cần phải rửa gà mên đâu. Khách hàng chẳng ai làm thế cả. Ông là người duy nhất.

 

Ngày … Tháng … Năm …

 Thưa cô,

Tôi đoán người nấu cơm là phụ nữ nên gọi bằng cô. Gọi cầu may chứ ở Mỹ này người đầu bếp là đàn ông cũng khá nhiều. Nếu tôi sai, xin đừng chấp. Thú thật với cô tôi chưa bao giờ được ăn cơm phần ngon đến như thế. Món ăn của cô thật vừa miệng với tôi. Cách cô bới cơm cũng thật công phu tươm tất.

Tôi đoán cô là đầu bếp mới, bởi vì chỉ gần đây tôi mới thấy món ăn ngon đặc biệt. Cô là người đầu tiên đã viết thư hỏi ý kiến của tôi. Theo thể lệ của nhà hàng tôi không được đặt món ăn. Nếu tôi đặt món ăn, nhà hàng sẽ tính giá khác. Cô nấu ăn rất ngon nên món gì tôi cũng thích.

Cô cũng là người đầu tiên sau mấy mươi năm tôi ở nước ngoài gọi hộp đựng cơm là gà mên. Tôi rửa gà mên là vì tôi đã giao ước với ông chủ nhà hàng. Tôi không thích dùng muỗng nĩa nhựa cũng như hộp nhựa để đựng cơm. Người ta ăn xong là ném hộp nhựa đũa muỗng nhựa vào thùng rác. Tôi không muốn dùng đồ nhựa vì ô nhiễm môi trường nên tôi đề nghị được dùng gà mên. Chúng tôi thỏa thuận là tôi sẽ có hai cái gà mên. Người giao thức ăn mới sẽ lấy đi cái gà mên cũ. Tôi rửa gà mên sạch sẽ trước khi giao lại người giao cơm. Trân trọng cám ơn cô.

 Khách hàng trung thành của cô,

An

 TB: À, tôi xin phép được trêu cô một chút. Sao cô tài thế? Làm thế nào cô biết tôi ăn hết thức ăn trong hộp, khi tôi đã rửa gà mên sạch sẽ?

 

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Cám ơn ông đã thích món ăn tôi nấu. Nếu được nhiều khách hàng như ông tôi sẽ giữ được công việc này lâu dài. Thời buổi này tìm việc khó quá nhất là những người bị tật câm điếc, có con nhỏ còn đi học, lại không biết dùng computer như tôi.

Tôi kể ông nghe cho vui. Thật ra những món ông ăn mấy ngày hôm nay là những món đặc biệt tôi nấu cho chồng tôi. Anh ấy làm việc ca ba trong một xí nghiệp, nên giờ nghỉ giải lao ăn tối của anh ấy cũng là giờ ăn cơm tối của ông. Trong xí nghiệp có nhiều người Trung Hoa và Ấn Độ họ cũng đặt cơm tháng ở nhà hàng, món Hoa và món Ấn do người khác nấu. Tôi nhờ người giao cơm tối cho khách hàng sẵn dịp giao cơm cho chồng tôi. Đây là một việc xa xỉ, chính chồng tôi cũng nói như thế, anh có thể tự mang cơm đi, nhưng tôi muốn chăm sóc anh ấy nhiều hơn.

Tôi không thể bày tỏ bằng lời nên tôi muốn bày tỏ bằng hành động. Dường như chúng tôi không còn tình yêu của buổi ban đầu. Giữa hai chúng tôi là sự im lặng bao la. Tôi nhớ mẹ tôi thường bảo rằng nấu ăn ngon là có thể chinh phục tình yêu của đàn ông bởi vì đường vào trái tim của người đàn ông đi ngang qua cái bao tử. Tôi muốn tái chinh phục chồng tôi dù khi mới quen anh ấy, tôi chẳng phải nấu nướng nuông chìu gì cả. Tôi tìm được cuốn sổ gia chánh trong đó mẹ chồng tôi chép lại cách nấu những món ăn chồng tôi rất ưa thích. Bữa đầu tiên tôi rất hồi hộp mong chồng tôi về để xem anh ấy nói gì. Anh chẳng nói gì, còn có vẻ lầm lì hơn bình thường.

– Anh ơi, món ăn em nấu hôm nay có ăn được không?

– Được!

– Chỉ được thôi sao?

– Chứ còn sao nữa!

– Anh thích món nào nhất?

– Bông cải xào thịt bò.

Anh lẳng lặng thay đồ lên giường ngủ, quay lưng lại phía tôi. Tôi ôm cánh tay anh, anh kêu nóng và mệt. Bông cải xào thịt bò? Tôi đâu có nấu món ấy. Đến ngày thứ ba thì anh ấy mắng tôi.

– Em chỉ ở nhà nấu ăn mà chẳng làm nên chuyện. Em phải thay đổi món chứ ngày nào cũng bông cải xanh xào thịt bò anh ngán tới cổ rồi.

Tôi đoán là ông giao cơm đã giao nhầm gà mên cơm của chồng tôi cho ông. Nhưng tại sao lại bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày? Thật là vô ý! Nhà hàng làm việc bất cẩn như vậy sẽ mất khách hàng và tôi sẽ bị mất việc làm.

Còn ông, đã đặt cơm tháng từ bao giờ? Ông không có người nấu ăn cho ông sao? Hỏi thế nhưng ông không phải trả lời nếu cảm thấy bị xâm phạm đời tư. Chúc ông ăn ngon và ngủ cũng ngon.

Đầu bếp trung thành của ông,

Anna

 

Ngày… Tháng… Năm…

Cô Anna thân mến,

Thật đáng tiếc chuyện nhầm lẫn như thế đã xảy ra, nhưng cô cũng hiểu lỗi không phải ở tôi vì tôi chỉ là người nhận. Thật là đáng buồn khi ông nhà phải ăn bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày mà tôi lại được ăn ngon. Tối qua, món canh khổ qua nhồi cá thát lát thật tuyệt vời. Cái cách cô dùng lá hành để cột cho trái khổ qua đừng bị bung ra thật tỉ mỉ và đẹp mắt. Ở xứ này làm sao mà cô tìm được cá thát lát? Ở đây, người ta dùng loại cá đóng hộp không vừa dai vừa dòn như cá thát lát ở Việt Nam. Trong nước dùng lại có vài cái nấm hương đã được nấu mềm. Tôi chỉ được ăn món ngon như thế này khi mẹ tôi còn sống. Cách nấu này có lẽ đã thất truyền từ lâu, phải nói là hiếm thấy ở xứ này. Ở Hoa Kỳ một mình lâu ngày, tôi rất dễ tính trong việc ăn uống, nhưng dễ tính không có nghĩa là không “appreciate” món ăn ngon.

Còn chuyện nhà hàng xào bông cải xanh với thịt bò liên tiếp ba ngày thì tôi có thể giải thích như vầy:

Ngày thứ nhất, sau khi ăn món bún thịt nướng cô làm, tôi thích quá nên gọi điện thoại với nhà hàng khen món ăn rất ngon. Cứ tiếp tục làm như thế. Ông chủ, nhà hàng vô cùng ngạc nhiên vì có lẽ chẳng ai gọi điện thoại khen nhà hàng thức ăn ngon bao giờ. Lôi thôi họ lại tăng giá cơm tháng. Tôi ăn cơm ở nhà hàng này bao nhiêu năm đâu có bao giờ tôi khen.

Xin cô đừng trách mắng người giao cơm, và tiếp tục nấu cho tôi ăn. Tôi có thể trả giá cao hơn cho nhà hàng hoặc là góp riêng cho cô. Thú thật với cô, mấy ngày nay tôi cứ nhấp nhổm chờ ông giao cơm. Thật ra tôi chờ lá thư của cô. Tôi phải đọc thư của cô trước rồi mới có thể ăn cơm một cách chậm rãi, ăn để thưởng thức món ăn. Những dòng ngăn ngắn của cô đủ để mang cho tôi một niềm vui nhỏ trong  một buổi tối cô quạnh của tôi. Tuy nhiên, thư thì mỏng…

Đồng nghiệp của tôi thường bảo tôi là một người cô độc. Tôi không nghĩ đến sự cô độc của mình mãi cho đến lúc gần đây. Buổi tối của tôi vắng lặng và dài thăm thẳm. Chính sự vắng lặng của những buổi tối khiến tôi ngại ngần không muốn về hưu. Vâng, tôi đã đến tuổi về hưu. Thật ra tôi có thể về hưu từ hai năm trước nhưng tôi cứ chần chờ. Ban ngày tôi vui với công việc nhưng buổi tối thì… tôi thật là thèm có người trò chuyện cùng tôi.

Trò chuyện là một nghệ thuật. Người ta bảo rằng về già nên kết hôn hay kết bạn với những người biết trò chuyện. Nhưng với tôi chuyện kết hôn đã quá trễ rồi. Còn kết bạn lại càng khó khăn hơn nữa. Ở đây ít người Việt, nhưng bạn Việt hay bạn Mỹ cũng thế, chúng tôi có gặp nhau thì cũng chỉ ăn và nhậu. Chỗ làm việc lại càng ít khi tâm sự với nhau. Tôi chưa hề gặp được người nào có thể nói chuyện cho tôi nghe hay chịu khó nghe chuyện tôi nói. Có được một người có thể trò chuyện với mình, chia sẻ ý nghĩ với mình thật là quá khó. Thảo nào ông hoàng trong truyện “Một Ngàn Lẻ Một Đêm” không thể giết cô gái chăn gối với ông chỉ vì cô biết kể chuyện và nghe chuyện ông kể.

Cô hỏi tại sao tôi ăn cơm tháng. Tôi xin thưa với cô vì không có ai chịu nấu cho tôi ăn. Xưa lắm rồi, tôi có lần kết hôn với một cô gái Hoa Kỳ nhưng cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được hai ngày. Chuyện khá phức tạp khó giải thích trong một lá thư nhưng nếu cô tiếp tục nấu ăn cho tôi thì một dịp thuận tiện nào đó tôi sẽ kể. Tôi không biết cô có tin tôi được không nhưng tôi nghiện món ăn cô nấu mất rồi. Dĩ nhiên tôi có thể ăn ngoài tiệm. Ở đây có biết bao nhiêu nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ. Thức ăn bình dân thì có Ihop, McDonald, Burger King, Roy Rogers, Kentucky Fried Chicken nhưng không có ai có thể mang hương vị thức ăn VN đến tận nhà cho tôi. Cái cách nấu chỉ những bà mẹ Việt Nam thời xa xưa mới biết.

Xin được phép kể cô nghe về một cuốn phim hoạt họa, nhân vật chính là một con chuột nấu ăn ngon. Con chuột Rémy này đã chinh phục được một nhà phê bình thức ăn nổi tiếng khắc nghiệt nhất Paris; một tay ông đã làm cho bao nhiêu nhà hàng phải đóng cửa và chủ nhân nhà hàng tự tử. Cái món ăn Rémy nấu đã chinh phục được Anton lại là món ratatouille một món ăn dân dã, giống như hương vị mà bà mẹ Anton đã nấu. Như vậy chắc cô biết là tôi quí thức ăn cô nấu đến mức nào.

A! Hôm nay tôi dông dài quá mức, xin cô tha lỗi. Cô có thể cho tôi biết vì sao cô bị mất tiếng nói và không thể nghe được không? Tai nạn hay bạo bệnh? Làm thế nào cô có thể học và viết thật rành rẽ khi không thể nói và không thể nghe. Không dễ dàng để viết được như vậy. Tôi thật khâm phục cô. Thân mến.

 Khách hàng trung thành của cô,

An

 Tái bút: Tôi quên cảm ơn cô đã kèm theo miếng sương sa được đổ khuôn thành đóa hoa nhiều màu. Đẹp quá nên tôi không nỡ ăn, còn để dành trong tủ lạnh. Thời bây giờ tái chinh phục trái tim chồng của cô bằng món ăn thì không thực tế chút nào. Tôi nghĩ cô nên thay đổi cách trang điểm và trang phục, hẹn hò ông chồng và thử có thêm một đứa con để hâm nóng lại tình yêu thì thiết thực hơn.

 

 

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Con gái của Anna được sáu tuổi. Cháu thích xem phim hoạt hình. Còn Anna thì thích tất cả những gì liên quan đến thức ăn nên Anna cũng có xem phim Ratatouille cùng lúc với đứa con gái. Hai mẹ con đều rất thích phim này. Anna cảm ơn ông đã “nghiện” thức ăn Anna nấu. Hôm nay Anna trổ tài, đây là một trong những tuyệt chiêu của Anna, vịt nấu măng. Măng khô loại ngon, được ngâm cho hết chát, Anna chỉ chọn những đoạn mềm, ngọn của búp măng khi còn tươi, xào cho ngấm trước khi cho vào nước lèo. Đây là một món ăn rất nhiều công. Gỏi để ăn với bún măng có cả bắp chuối bào mỏng, toàn là những thứ nhiều công và nguyên liệu khó tìm. Nói không phải để kể công hay đòi lên giá tiền vì Anna hay kiêu ngạo nghĩ rằng tiền khách hàng trả công chẳng thể bì với tấm lòng người chăm chút món ăn.

Chồng của Anna là người sinh ra lớn lên ở Mỹ chuộng thức ăn Mỹ hơn thức ăn Việt Nam. Không hiểu tại sao mẹ chồng của Anna lại nghĩ là anh ấy thích thức ăn Việt. Hôm qua anh ấy bảo Anna nên học nấu spaghetti và các loại thức ăn Mỹ hoặc Ý. Rồi anh ấy lại bảo thôi đừng bới cơm cho người giao cơm cho anh ấy nữa vì bạn đồng nghiệp của anh chỉ ăn sandwich nên chế nhạo anh mỗi lần thấy thức ăn có muỗng đũa lỉnh kỉnh linh tinh. Lúc sau này anh về nhà rất trễ, thường khi sặc sụa mùi rượu. Và sáng nay khi anh ngủ Anna soạn quần áo đem giặt thấy quần áo anh sực nức mùi nước hoa và áo anh có vết son. Son dính bên trong lớp áo như thể người ta dở áo anh lên rồi hôn vào đó làm dấu hiệu cho Anna biết. Anna chẳng biết nói sao, làm gì cho vơi bớt nỗi buồn của mình. Có những chuyện không thể nói với người thân nhưng lại có thể giải bày với người lạ, có lẽ vì người ta chẳng biết mình là ai, lời nói hay chữ viết thả theo gió bay.

Ngày xưa anh sang Việt Nam chơi gặp Anna, đem lòng yêu đòi cưới. Anna thích lấy chồng ở ngoại quốc vì nóng lòng muốn thoát khỏi đời sống tù túng của xã hội Việt Nam. Theo anh sang Mỹ Anna có giấy tờ hợp pháp nhưng tiếng Anh vẫn chưa giỏi và không có nghề nhất định nên rất khó gia nhập xã hội Mỹ. Trước kia Anna thích nấu ăn và ở nhà nuôi con. Bây giờ thì rất nhiều khi Anna mơ được đi làm như những người phụ nữ trên tivi. Họ ăn mặc sang trọng đúng thời trang. Nếu Anna có một cái nghề được ăn mặc như thế thì Anna cũng sẽ đi làm suốt đời chứ không chịu về hưu đâu.

Sáng nay thấy trên tivi, có một người phụ nữ tự tử bằng cách lao đầu vào xe lửa. Con gái của cô ấy và con gái của Anna học chung một lớp. Mổi buổi sáng chờ xe buýt đến đón con đi học Anna thường gặp người phụ nữ này. Họ ở cùng khu chung cư nhưng ở một building khác. Đứa con bị người mẹ nắm chặt tay cố vùng vẫy khi xe lửa đến nhưng không thóat được. Nghe nói rằng gia đình cô không được hạnh phúc, quá tuyệt vọng nên cô hành động điên rồ. Anna nghĩ rằng dù tuyệt vọng, dù làm mẹ, người phụ nữ này không có quyền tước đoạt sự sống của đứa con.

Anna nghĩ ông không nên lo sợ phải về hưu. Về hưu đâu có nghĩa là ông phải ở nhà hết ngày này sang ngày khác. Ông có thể đi du lịch. Ông có thể học thêm một sở thích gì đó như chụp ảnh, đánh cờ, đọc sách, hay viết văn. À sao ông không viết văn nhỉ? Anna thấy ông có khiếu văn chương lắm đó.

Mong ông có buổi tối yên lành. Hôm nay Anna kèm thêm món chè đậu mắt đen nước dừa. Ông ăn ngon nhé.

Đầu bếp

Anna

Ông viết “thư thì mỏng…” là có ý gì? Tại sao lại bỏ lửng?

Ngày…Tháng… Năm…

Anna thân mến,

 Như thế thì cô là di dân. Di dân thường thì giàu có hơn tị nạn. Hơn ba mươi năm trước tôi bước lên đất nước này với thân phận của người dân tị nạn. Từ lúc nào tôi trở thành di dân? Có lẽ từ lúc tôi nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Tôi có người bạn thích đi du lịch. Anh ấy thăm viếng Kyoto, cố đô của Nhật Bản nhiều lần, bảo rằng thích đời sống của thành phố ấy, có cảm giác thành phố Kyoto là của anh, và anh là dân Kyoto từ tiền kiếp.

Tôi vẫn tự hỏi mình sống bao lâu ở một thành phố thì có thể xem thành phố ấy là của mình, quốc gia ấy là quốc gia là quê hương của mình? Thời gian tôi sống ở nơi nầy đã dài hơn thời gian tôi sống ở Việt Nam, không hiểu tại sao tôi vẫn không cảm thấy nơi đây, thành phố này, là quê hương xứ sở của tôi. Và đáng buồn hơn tôi cũng không còn cảm thấy Việt Nam là quê hương của tôi nữa. Tôi có cảm giác xa lạ, thất lạc, với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Ngôi nhà tôi đang ở là nhà của tôi. Khi đi xa tôi vẫn muốn quay về nhà. Người ta vẫn thường dùng hai chữ đi kèm, nước nhà (hay quốc gia). Tôi có nhà mà không có nước. Quê hương tôi ở không hẳn là quê hương của tôi. Còn cô, cô có nhận nơi này là quê hương?

Có lẽ cô nên cho cháu bé đến gặp counselor của trường. Có bạn qua đời trong trường hợp như thế là một chấn động tâm lý có thể tổn thương lâu dài. Tôi tự hỏi tại sao người ta dám chết mà không dám sống. Trong chuyến vượt biển của tôi, cái chết ngay trước mặt, đói khát nhiều ngày chúng tôi vẫn cứ ôm hy vọng được cứu và được sống. Chúng tôi chống chọi với cái chết trong từng cái chớp mắt, từng hơi thở gấp. Sống trong nguy ngập đến tính mệnh vẫn cứ muốn sống. Còn người phụ nữ kia sao lại bẻ một ngọn đời xanh vứt vào đầu máy xe lửa như thế. Thật đáng thương mà cũng đáng trách.

Cấp trên của tôi lại gọi tôi vào văn phòng hỏi tôi có ý định về hưu không. Tôi bảo rằng để tôi suy nghĩ. Có những buổi sáng đi làm sớm, mùa đông tôi nhìn những hàng cây trụi lá trong sương mù chạy hun hút trên con đường. Khi về hưu chắc là tôi sẽ nhớ những hình ảnh như thế. Cửa sổ phòng làm việc của tôi ngó ra một con sông. Vắt ngang sông là một chiếc cầu quay sơn màu xanh nhạt. Buổi sáng mặt trời mọc ánh sáng chiếu lên cây cầu và dòng sông, màu hồng nhạt tím nhạt màu cam màu vàng rất đẹp. Tôi nhìn cây cầu mỗi ngày và nghĩ khi về hưu tôi sẽ không còn nhìn thấy cây cầu này nữa. Thật buồn cười, tôi sẽ nhớ quang cảnh chung quanh chỗ tôi làm rất nhiều nhưng tôi sẽ không nhớ những người đồng nghiệp. Có lẽ đúng như lời người ta nói, tôi là người xa cách và lạnh lùng, không muốn làm bạn với ai. Có lẽ người vợ hai ngày của tôi không chịu nổi tính lạnh lùng của tôi. Còn tôi suốt đời sống một mình cứ tưởng không cần bạn bè bây giờ bỗng dưng thèm có người trò chuyện.

Hôm nay tôi “nói” nhiều, mà lại nói với một người tôi chưa hề biết mặt. Mong Anna tha lỗi. Và nếu cô không có thì giờ xin cứ ném thư đi. Nhưng nếu cô có lòng nuôi bao tử của tôi, xin làm ơn nuôi thêm cái trí óc cằn cỗi của tôi, và viết cho tôi vài hàng nhé. Tôi mong được đọc thư cô còn hơn mong thức ăn nữa cơ.

 Khách hàng quí của cô

An


Ngày … Tháng … Năm

Ông An thân mến,

Anna vẫn còn suy nghĩ đến người phụ nữ tự tử và đứa con. Ngày mới lập gia đình, Anna thắm đẫm trong tình yêu và hạnh phúc không hề nghĩ đến ngày mình phải bấu víu vào sự đùm bọc hay thương hại của kẻ khác. Bảy năm về trước chắc là Anna không hiểu được sự sợ hãi và tuyệt vọng của người phụ nữ đến độ tự tử và bắt đứa con phải chết theo cô ấy. Đó là một người phụ nữ có thể nói và nghe được, có học, có bạn bè, sống ngay trên xứ sở của cô ấy. Còn Anna chẳng có ai ngoại trừ chồng và đứa con. Anna mặc áo đẹp, thay áo ngủ sexy nói bằng sign language là Anna muốn được yêu, và có thêm đứa con nữa. Tuy nhiên anh ấy từ chối và sẵn dịp thú nhận đã hết yêu Anna. Anh ấy có người yêu mới, một người làm việc chung với anh.

Trước khi lấy chồng và có con, Anna rất thích du lịch. Anna thích những nơi chốn xa lạ Anna chỉ có thể tưởng tượng. Ông đã xem phim The Wind Journeys chưa? Anna thường mượn phim của thư viện địa phương, và chỉ xem được phim có caption cho người khiếm thính. Ông hãy xem phim này để thấy vẻ đẹp của những quốc gia vùng Nam Mỹ. Phim nói về cây đàn phong cầm, bên trên có chạm cái đầu của quỷ Satan. Người giữ cây phong cầm phải đem trả cây phong cầm này cho một tu sĩ trên ngọn núi cao ở một vùng núi hẻo lánh. Ông ta và người đồ đệ đã mang cây phong cầm đi qua 80 địa danh nổi tiếng đẹp về phong cảnh thiên nhiên. Anna đã nhiều lần mơ ước được ngồi trên một đỉnh cao giữa núi rừng xanh thẳm bạt ngàn, hay ngồi bên bờ suối đá nghe dân bộ lạc thổi tiêu. Anna nghĩ rằng sẽ cùng chồng nuôi con đến lớn khôn và sẽ cùng chồng đi chu du như vậy. Một trong những cái đặc biệt của du lịch là ông có thể không là ai hết, chỉ là một khuôn mặt vô danh trong muôn vàn khuôn mặt vô danh. Hay ông có thể tiêu hết cả tiền dành dụm hàng chục năm để tưởng tượng mình là một người triệu phú.

Ông có lần kể về một người bạn của ông yêu thích Kyoto đến độ muốn qua bên ấy ở luôn. Anna cũng thích Kyoto như vậy. Anna xem rất nhiều phim về Nhật Bản, về geisha, về samurai. Anna đọc hầu hết những quyển sách du hành về Nhật Bản. Ông có biết thiền sư Basho đi một vòng phía Bắc Nhật Bản, và sau này người ta có giả thuyết ông là người do thám cho một sứ quân thời bấy giờ đang muốn triệt hạ một sứ quân khác không. Nếu Anna có điều kiện Anna sẽ đi Nhật.

Anna cũng muốn viếng thăm Bhutan. Người phụ nữ đã tự tử có lần cho Anna mượn mấy quyển sách về Bhutan, một xứ sở đo lường sự giàu có của quốc gia bằng chỉ số hạnh phúc. Anna nghĩ nếu Anna đặt chân lên quốc gia này Anna sẽ xin được ở lại và nhận Bhutan làm quê hương. Nếu ông sợ đi máy bay thì không nên đến Bhutan, vì phi đạo của xứ này rất nhỏ, rất ngắn, ở một vị trí rất hiểm trở, chỉ có khoảng mười phi công đủ tài lên xuống phi đạo này. Và xin giấy nhập cảnh Bhutan nghe nói cũng nhiêu khê lắm.

Nói như vậy để ông thấy rằng, cuộc đời không chấm dứt sau khi hết đi làm việc. Mong ông vui khỏe, và hãy suy nghĩ thêm về việc về hưu. Phải nói là khi ông về hưu và đi du lịch thì Anna sẽ rất buồn vì không còn người thuê Anna nấu ăn và đọc những dòng tâm sự của Anna. Đó là chuyện tương lai, còn bây giờ Anna phải suy nghĩ và quyết định, nếu chồng Anna cương quyết ly dị thì Anna sẽ ở đâu, làm gì để nuôi con. Dĩ nhiên người chồng sẽ trợ cấp nhưng có lẽ chẳng thấm vào đâu. Và căn nhà thì anh ấy mua trước khi cưới Anna nên nếu anh ấy không cho Anna ở thì Anna sẽ phải dọn ra.

Chúc ông ngủ ngon, và hy vọng món chè chuối với bánh cuốn nhân thịt hôm nay vừa miệng ông.

Đầu bếp trung thành của ông

Anna

 

Ngày … Tháng … Năm …

 Anna thân mến,

 Nghe lời cô, tôi đã mạnh dạn xin về hưu. Tôi chỉ cần thông báo trước hai tuần hay một tháng, tuy nhiên cấp trên của tôi có vẻ đã sẵn sàng. Tôi chưa nộp giấy tờ thì đã thấy có người dự đoán sẽ thế chỗ tôi vào học việc với tôi. Tôi nghĩ nếu người ta không muốn giữ tôi nữa thì tôi cũng chẳng muốn ở lại làm việc. Việc làm chắc cũng giống như tình yêu, không thể cứ yêu một chiều mãi mãi. Phải không cô? Tôi cũng tự thấy mình mệt mỏi. Trên chuyến xe lửa về nhà buổi chiều đông người tôi phải đứng. Tôi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trên kính cửa sổ, lưng đã còng, tóc bạc trắng, và cặp kính trắng dày cộm làm tôi trông giống như một con cá thòi lòi. Một cậu bé đứng dậy nhường chỗ cho tôi, bảo rằng xin bác ngồi cháu còn trẻ để cháu đứng.

Tôi sẽ đi du lịch Nhật Bản, Bhutan, và Chile, để tận mắt ngắm những quốc gia này thay cô, nhưng trước khi đi tôi muốn cô giúp tôi một vài việc. Ngôi nhà tôi đang ở chẳng to lớn gì, chỉ là hai cái toa xe lửa cũ tôi mua về sửa sang thành chỗ ở. Tiền thuế đất rất thấp, điện nước cống nhà vệ sinh hẳn hoi. Đồng nghiệp của tôi thường nói bóng gió lương cao, không vợ không con, ở căn nhà bằng hai toa xe lửa, tiền chất đầy nhà băng mà không chịu về hưu.

Khoảng mười năm trước tôi là kỹ sư trưởng của một nhóm kỹ sư. Vì tôi ít nói, dễ dãi trong việc kiểm tra nhân viên, nên người phụ tá lộng hành, thuê người bổ nhiệm người một cách vô trách nhiệm. Nghe nói ông ta lạm dụng tiền quỹ sao đó. Tôi chỉ chú ý đến kỹ thuật và an toàn của thiết kế và xây dựng các đồ án. Tuy nhiên khi việc đổ bể tôi vẫn phải chịu sự trừng phạt của công ty vì tôi không làm tròn trách nhiệm quản lý. Người ta đuổi việc nhân viên của tôi, còn tôi thì chỉ bị giảm chức vụ. Nếu là người khác thì người ta đã bỏ việc về hưu sớm, tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục làm việc. Nếu người ta để tôi đi làm không trả lương tôi cũng chịu, bởi vì ở nhà chắc tôi sẽ gục xuống chết ngày hôm sau vì nhàm chán và cô đơn.

Tuy nhiên, bây giờ cô đã thay đổi ý nghĩ của tôi. Tuy không giàu, nhưng tôi giỏi quán xuyến tiện tặn, đi chơi kiểu hà tiện tôi có thể đi vài năm không về nhà.

Tôi đi chơi xa, do đó không thể thuê cô nấu ăn, nhưng tôi muốn nhờ cô làm quản gia cho tôi. Nếu cần thiết, cô có thể mang con đến ở nhà tôi trong lúc tôi đi vắng. Tôi sẽ liên lạc với cô bằng thư từ qua địa chỉ nhà tôi. Có người ở trong nhà đề phòng hư hại hay trộm cắp. Mọi chuyện khó khăn cô cứ liên lạc với người bạn của tôi. Ông V. là bạn cũng là luật sư lâu năm của tôi. Ông có thể cố vấn cho cô nhiều vấn đề, chuyện nhỏ nhặt như thuê người sửa chữa đồ dùng trong nhà, chuyện lớn như ly dị hay giúp đỡ người có thu nhập kinh tế thấp muốn được trợ giúp về mặt pháp luật. Ở đây mấy chục năm tôi biết là người ta chỉ có thể đến với công lý hay được đối xử công bằng khi có tiền. Tôi đã yêu cầu ông giúp đỡ và hướng dẫn cô. Tôi đã mở sẵn một tài khoản ngân hàng, để trả lương cho cô. Tiền lương này, ngoài việc trông chừng nhà cho tôi, còn kèm theo tiền săn sóc con mèo (bốn chân) của tôi. Tôi nuôi nó cả chục năm nay. Nếu tôi có bao giờ yêu thương một người nào đó chắc cũng chỉ bằng với yêu thương con mèo này. Tôi ngại ngần chuyện đi du lịch cũng chỉ vì không ai săn sóc Nora. Tôi có linh tính cô là người kiên nhẫn và yêu thương thú vật. Thật tình, tôi có thể gửi con mèo cho một cơ quan nuôi thú vật, nhưng tôi muốn Nora được chăm sóc và thương yêu như một người bạn nhỏ của tôi.

Tôi có computer cô nên tìm cách học, bắt đầu ở thư viện người ta thường có lớp miễn phí. Cô cũng có thể nấu ăn cho một vài người nhưng nhiều hơn thì bếp nhà tôi không đủ sức.

Chúc cô vui khỏe và mong rằng ngày tôi trở về hoàn cảnh của cô sẽ khá hơn.

 Bạn của cô

An

 1.Có lần cô hỏi về “thư thì mỏng…” mà tôi quên trả lời. Đó là câu thơ tôi quên tên tác giả. Thơ thì mỏng như suốt đời mộng ảo. Tình thì buồn như tất cả chia ly. Những lá thư qua lại giữa chúng ta có thể chẳng đi đến đâu. Nhưng tôi muốn giữ một tình bạn giữa tôi và cô. Người ta không tin là có tình bạn giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng tôi thì tin. Tại sao không?

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

Dựa theo phim “The Lunchbox” của Đạo diễn Ritesh Batra