Nhớ Huế 

Nhớ gì như nhớ Huế thương,
Ngự Bình thông đợi, sông Hương thuyền chờ.

Nhớ gì như nhớ Huế mưa:
Mù trời, tối đất. Người chưa thấy về!

Nhớ gì như nhớ Huế yêu,
Nụ cười nón lá tím chiều áo ai!

Nhớ gì như nhớ Huế xưa,
Hoàng thành trầm mặc nắng mưa dãi dầu!

Nhớ gì như nhớ Huế thơ,
Trăng soi Vĩ Dạ, sương mờ Kim Long.

PHAN THÀNH KHƯƠNG

LƯU VONG

Có lẽ em không hay
Đôi cánh chàng, đã gẫy
Chàng cần được ngủ yên
Trong nấm mồ hiện tại
Phải, chính em đang mang
Bão bùng hung hãn tới
Quật mồ chàng lạnh tanh
Bỗng thành tang tóc, mới
Em buộc chàng hồi sinh
Sống, bằng đôi cánh gẫy
Định mệnh vút như tên
Cắm ngập từng thân phận
Phải, chính em giương cung
Hồn chàng đành rơi rụng
Hồn chàng đành rơi rụng
Ngoan ngoãn xuống tay ai
Như ngoài khung kiếng cửa
Chiếc lá khẽ qua đời …
Bây giờ vốn liếng anh
Chỉ còn đôi mắt dại
Trông vời hướng cố hương
(Tinh anh nào sót lại
Đủ xanh màu nhớ nhung ?)
Bây giờ trí óc anh
Vang vang hoài sóng bạc
Cách chi thơ thành vần
Tặng em mừng, chớp mắt
Ôi những chiều bên nhau
Hai đứa cười chung nụ
Gìn giữ được bao lâu ?
Chút sương tình óng ả ?
Ôi , những chiều bên nhau
Hát chung bài hát cũ
Dăm nụ cười nít nhỏ
Vơi  chén sầu lưu vong

Nguyễn Tất Nhiên

(Paris, 18/11/79)

CON MA DỄ THƯƠNG

 

Bà Trí giật mình, ngồi dậy thật nhanh, người bà toát mồ hôi lạnh, bà ngồi trên giường nhìn sững vào cái máy điều hoà không khí trong góc phòng đang chạy vù vù. Bà nhìn đồng hồ, bảy giờ rưỡi sáng, mặt trời tháng tư đang nhẹ nhàng ửng hồng qua khe cửa sổ, có tiếng xe chạy rầm rộ ngoài đường, có tiếng khóc của thằng bé con nhà bên cạnh mỗi sáng khi mẹ nó đi làm, và âm thanh vỗ về quen thuộc bằng tiếng Mễ của bà ngoại nó. Bà Trí lẩm bẩm… mình nghe rõ ràng mà.

Như thường lệ, bà Trí thức giậy từ sáu giờ sáng nhưng thích nằm chập chờn trên giường, sáng nay chợt bà nghe tiếng than khóc của một người đàn bà vọng ra từ cái máy lạnh làm bà sợ hãi tỉnh cả người. Đầu óc bà chênh vênh với ý nghĩ lạ lùng về một người đàn bà Mỹ lúc trước ở đây và đã chết trong phòng này. Bà Trí nói thầm, có lẽ tại tối qua bà kho nồi mắm sặc hôi qúa nên bà Mỹ này chịu không nổi phải lên tiếng cằn nhằn bà chăng?

Nghĩ thế bà rón rén bước xuống giường, can đảm bước đến góc phòng và vặn tất cả những ngọn đèn trong phòng lên. Cái máy lạnh điều hoà không khí vẫn tiếp tục chạy đều đều. Bà Trí cảm thấy rợn người, bà bất chợt tông cửa, mặc kệ là bà đang mặc bộ đồ ngủ mỏng tanh, bà chạy thẳng xuống văn phòng của người quản lý trong khu chung cư này, với vốn liếng anh ngữ ít ỏi, bà thảng thốt nói với cô ta về tiếng khóc mà bà đã nghe từ cái máy lạnh.

Cô Brenda, người quản lý da đen, vóc dáng to lớn, nghe bà Trí nói xong thì có vẻ không tin, nhưng nhìn nét mặt hoảng hốt của bà Trí nên đề nghị bà đưa lên phòng để cô ta xem xét tình hình như thế nào. Khi trở về phòng, cô Brenda cũng ngồi ngay chỗ giường của bà Trí và cũng nhìn chăm chăm vào cái máy lạnh, không có gì lạ xảy ra cả, chừng năm phút sau cô vỗ vai bà Trí và trấn an:

– Tối qua gió lớn nên tôi nghĩ cái máy lạnh nó chạy nhanh hơn. Bà đã nghe hơi gió đó mà.

Bà Trí đưa tay vặn đài truyền hình số 7 lên, qủa thật trên đài khí tượng đang nói về cơn gió lớn thổi qua từ miền bắc tối qua làm một số cây cối ngã khắp trên đường. Bà thở phào nhẹ nhỏm, nhìn cô Brenda thẹn thùng cám ơn. Trước khi ra về, cô Brenda ghi số điện thoại của văn phòng vào cái điện thoại cầm tay của bà Trí và dặn dò là nếu cần thì bà có thể gọi bất cứ lúc nào. Bà Trí cười thầm về sự ngớ ngẩn của mình, bà tự bảo chắc tại mấy hôm nay bà mê xem cuốn băng Thúy Nga Paris, trong đó ông Nguyễn Ngọc Ngạn kể về những chuyện ma trong khi đi trình diễn ở mấy rạp hát lớn cho nên có lẽ bà bị nhập tâm. Sau khi nghe lại đài khí tượng và nhìn cái máy lạnh vô tri vô giác một lần nữa, bà Trí yên tâm bắt đầu công việc hằng ngày của mình.

Một ngày của bà Trí bắt đầu từ lúc sáu giờ rưỡi sáng, việc đầu tiên là bà thử máu đường của mình và lo uống viên thuốc trị bệnh tiểu đường, rồi bà nấu một gói instant oatmeal ăn lót lòng, bà nghe nói oatmeal sẽ làm giảm bớt lượng mỡ trong máu. Sau đó bà thay áo quần và đi bộ thể thao trong xóm chừng một tiếng đồng hồ. Phần còn lại của ngày là nấu ăn cho bữa cơm trưa và tối, buổi chiều đón xe bus đi đến hội Cao Niên gặp bạn bè. Đời sống của bà Trí với những diễn tiến đều đặn đó đã kéo dài từ sáu năm nay.

Từ ngày chồng mất, bà Trí xin dọn qua ở căn nhà một phòng cho đỡ thấy trống trãi, cũng ở trong khu chung cư cho người nghèo này. Cũng may, khu chung cư có rất nhiều người Việt mà phần lớn là giới trí thức của một “thời xa xưa”. Ngày ông Trí còn sống, mỗi tối hai vợ chồng bà vẫn thường tụ tập uống trà hoặc đánh mạt chược với những người hàng xóm chung cảnh ngộ. Những người mà ngày xưa tiếng tăm một thuở, họ là những người từng cầm binh khiển tướng trong tay và đã bị tù đày một thời gian dài, dài vừa đủ để thân thể họ cưu mang những bệnh tật kinh niên và tâm trí họ rối loạn. Những lần ngồi lại với nhau cả nhóm tìm nguồn vui trong nỗi buồn khi nhắc nhở đến một quãng đời từ hơn ba mươi năm trước. Ngày đó những người chiến sĩ như họ mang trên vai hai chử tổ quốc với trọng trách nặng nề bao nhiêu thì bây giờ nỗi tủi hổ của người di dân càng đè nén hơi thở của họ từng ngày. Sau tháng Tư 75, khi ở tù về, những người như ông Trí phải đành đoạn ra đi vì ở lại sẽ không có một lối thoát ngoài sự nhục nhã và sự tàn phế tâm thần khi sống dưới chế độ mới.

Chiều nay từ hội Cao Niên về, bà Trí cảm thấy đầu óc căng thẳng vì còn bị ám ảnh từ tiếng khóc bà nghe từ ban sáng. Hôm nay, cả hội lại bàn chuyện tổ chức ngày tưởng niệm ba mươi tháng tư vào tuần tới. Cũng như mọi năm, bà cùng những bà bạn lãnh nhiệm vụ nấu ăn cho ngày lễ long trọng đó. Năm nào hội Cao Niên cũng cung kính tổ chức một đêm không ngủ để cầu nguyện cho những người đã hy sinh vì tổ quốc, và để cùng ngồi lại với nhau bên tách trà, bên ly café xót xa ôn lại một lịch sử thật gần trong tâm tưởng.

Vì qúa mệt nên bà Trí đi ngủ sớm. Trong cơn mơ bà Trí thấy mình đang trở về quê hương vùng miền Tây ruộng đất phì nhiêu, cây trái đơm hoa quanh năm, nơi đời sống rất hiền hoà trong căn nhà rộng lớn của ba má bà. Bà nhớ đến mùa gặt lúa, tiếng hò dòn dã của những tá điền vang vọng trong không gian nghe đượm tình quê hương trìu mến. Họ gặt lúa, rồi giã gạo trong đêm thâu bên bếp lửa hồng, bên nồi cháo trắng ăn với cá lòng tong kho mặn mòi. Ôi, một thuở thanh bình! Rồi súng nổ khắp nơi, bom đạn rơi khắp lối, ruộng đồng đổ nát tơi bời. Thời thanh bình qua đi,cuộc sống thu gọn trong ngôi nhà gạch thừa tự trong khu vườn nhiều cây lá bên cạnh con lạch nhỏ. Ông Trí ở trong quân đội nay đây mai đó, bà ở nhà với đứa con gái duy nhất của hai người. Bỗng dưng tháng Tư 75 đến một cách kinh hoàng, căn nhà gia phả của bà bị chiếm trọn, bà đành dọn ra ở căn lều nhỏ nhoi nằm trong góc vườn mà mỗi đêm khi nằm đơn côi một mình bà như còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng ai gọi nhau ơi ơi từ những chiếc thuyền nhỏ chèo lóc lách ngang qua con lạch sau nhà.

Đang nằm mơ màng, bà Trí bỗng tỉnh giấc vì tiếng gọi “bà ơi thức dậy uống thuốc”, tiếng gọi phát ra từ cái máy lạnh trong góc phòng. Bà tỉnh hẳn người, nhìn trân trối vào cái máy lạnh, không có gì thay đổi, vẫn âm thanh đều đều phát ra hơi mát khắp phòng. Đồng hồ trên chiếc bàn ngủ chỉ đúng bảy giờ rưỡi sáng. Bà Trí cảm thấy toàn thân mình như tê liệt, đúng giờ này hôm qua cũng có tiếng than khóc từ cái máy lạnh đó ra. Bà Trí run rẩy chồm qua bàn lấy cái điện thoại cầm tay và bắt đầu gọi xuống văn phòng.

Chỉ trong vòng vài phút, cô Brenda mở cửa phòng bước vào. Bà Trí oà lên khóc và kể cho cô ta về tiếng kêu vọng ra từ cái máy lạnh. Cô Brenda nghe xong thì nhìn bà Trí e ngại hỏi:

– Bà ngủ có đủ không?

Bà Trí dụt dè đưa tay chỉ vào cái máy lạnh:

– Tối hôm qua tôi mệt nên ngủ rất ngon. Sáng nay …nó đánh thức tôi.

Rồi bà ngập ngừng hỏi:

– Ngày trước có người chết trong phòng này phải không cô?

Cô Brenda lắc đầu:

– Tôi thật sự không biết điều đó, nhưng tôi nghĩ là bà đang suy tâm nhiều qúa nên nhiều tưởng tượng đó thôi.

Thật vậy, hai hôm nay lòng bà bồn chồn, nao núng khi bà nghe lại tin tức về vụ đặt bomb ở Boston Marathon cách đây một năm,vào ngày mười lăm tháng tư. Bà đã khóc khi nhìn thấy hình thằng bé chỉ mới tám tuổi bị chết thảm thương trong khi đứng chờ bố chạy bộ về ngay vòng dây cuối. Ba người chết, hàng trăm người bị thương. Bà chợt nhớ tới sự khủng bố năm xưa ở SàiGòn, hai trái C4 cài vào, nổ một trái, trái thứ hai cho nổ khoảng vài phút sau đó khi xe cứu thương tới và dân chúng đứng xem sẽ chết chùm theo. Sao mà tàn bạo, hãi hùng qúa.

Bây giờ là tháng Tư, tháng Tư trong ký ức đau thương của bà mang hình ảnh của đứa con gái còn rất trẻ của bà, là vợ của một chiến sĩ bấy giờ đang xông pha ngoài chiến tuyến. Con gái bà lúc đó đang mang bầu, bị xuất huyết qúa nhiều phải đưa từ Cần Thơ lên Sài Gòn, ngày hai mươi sáu tháng tư, đường xá ngập đầy bom đạn, xe cộ nghẹt lưu thông, đứa con gái của bà bị đưa trả về nhà thương ở tỉnh và đã chết vì bị sản hậu. Bà đau đớn nhờ người chôn con sau vườn. Ông Trí và thằng con rể của bà may mắn trở về từ những vùng địa danh đã không còn trong lịch sử và không bao lâu thì bị gọi đi tù.

Chiến tranh tàn nhẫn và hậu qủa của chiến tranh là những mất mát oàn oại, những căm hờn mang theo canh cánh trong lòng. Tháng tư, dân miền Nam mất tự do, mất đất nước, riêng bà thì mất một người con, một đứa cháu chưa ra đời, thằng con rể chết trong tù, và chồng bà từ ngục tù về với một thân thể quằn quoại và một tâm hồn hoang tàn. Bà âm thầm săn sóc chồng cho tới khi cả hai được viện HO bảo trợ qua Mỹ. Nhờ thuốc men đầy đủ và sự săn sóc chu đáo của y tế Mỹ, ông Trí cũng sống được mười năm trước khi mất vì bệnh tim.

Cách đây hai ngày, khi vừa cúng giỗ mỗi năm cho con gái, bà Trí nhận được điện thoại của cô em gái từ Việt Nam gọi qua cho hay là căn nhà ngày xưa của bà bây giờ người ta ủi đất san bằng để xây chùa. Cô em còn cho hay là sau khi chùa cất xong, mỗi đêm mấy tăng ni họp nhau tụng niệm liên tục một tháng liền vì tất cả đều qủa quyết là họ nghe có tiếng gõ cửa của một người vào lúc nữa đêm xin vào tá túc trong chùa. Mặc dù không tin dị đoan, nhưng sau khi nghe chuyện cô em kể xong, bà Trí cũng không tránh khỏi ý nghĩ là có phải cô con gái của bà, người đã chết tức tưởi từ một tháng tư dạo nào đang trở về tìm nơi nương náu. Tối đó bà thấy khuôn mặt rất thương yêu của con gái bà hiện về trong giấc mơ.

Với những dự kiện dồn dập làm rối loạn đầu óc trong mấy ngày qua, bà Trí nhìn cô Brenda và thở dài:

– Có lẽ cô nói đúng, chắc tinh thần tôi đang bị giao động quá thôi.

Cô Brenda cầm tay bà an ủi và một lần nữa căn dặn bà nên tịnh dưỡng. Cả ngày hôm đó bà Trí tự trách mình yếu bóng vía rồi đâm ra suy nghĩ vớ vẫn. Bà dành hết thì giờ cặm cụi nấu những món ăn cho ngày ba mươi tháng tư như đã hứa với hội Cao Niên. Tối đó bà lại ngủ thiếp đi trên chiếc ghế sofa trong lúc đang coi cải lương qua đài truyền hình satellite.

Bảy giờ rưỡi sáng, có tiếng gọi thật nhỏ nhẹ “ bà ơi tới giờ đi bộ rồi”. Bà Trí mở mắt, nhìn trừng trừng vào cái máy lạnh, rõ ràng lời kêu vọng ra từ đó, nhưng bây giờ bà chỉ cảm được làn hơi mát đang toả ra từ cái máy như một lời chế giễu đối với bà. Trên đài truyền hình, thấp thoáng những hình ảnh chiếu lại từ biến cố nổ ở Boston. Những hình ảnh đau đớn, tàn khốc mà bà nghe đi nghe lại cả tuần nay. Hình ảnh những người trẻ tuổi với cuộc đời đang đầy nhựa sống đã mất đi một phần thân thể một cách tức tưởi trong biến cố từ năm trước. Bà Trí lặng người, bà không bị nhập tâm đâu, tai bà nghe rõ mồn một về lời nói từ cái máy lạnh đó, bà biết kêu ai bây giờ, gọi cô Brenda thì chỉ để cho cô ta nghĩ là bà bị bệnh tâm thần thôi. Sau vài giây suy nghĩ, Bà Trí bình tỉnh, đứng dậy mở tung cửa phòng, bà lấy một cái ghế chặn cho cửa mở toang ra. Bên nhà hàng xóm tiếng khóc của thằng bé con mỗi sáng nghe như tiếng mi eo của một con mèo nhỏ. Bà Trí sửa soạn ra đón xe bus và đi thẳng đến hội Cao Niên vì bà đang cần gặp một người mà bà nghĩ có thể khi nghe bà nói về chuyện tiếng kêu từ cái máy lạnh sẽ không cười cho là bà điên loạn.

Qủa thật như bà mong muốn, ông bác sĩ Cần chuyên môn về bệnh tâm lý (psychiatrist), là người trẻ nhất hội vì ông chỉ mới sáu mươi lăm, hay đến hội vào sáng sớm để uống café,tán gẫu,và chơi cờ tướng với những cụ già khác. Khi thấy bác sĩ Cần đang ngồi một mình bà Trí mừng qúa, chào hỏi và mời ông qua quán McDonald bên cạnh uống acafé. Sau khi chăm chú nghe bà Trí kể về tiếng than khóc, tiếng kêu từ cái máy lạnh trong mấy ngày qua, bác sĩ Cần gật gù hỏi:

– Chị tin là có ma không?

Bà Trí bối rối:

– Tôi tin là có những vong linh.

Bác sĩ Cần lại hỏi:

– Thế chị có sợ ma không?

Bà Trí ngần ngại không trả lời vì quả thật thì bà có sợ, bằng chứng là mấy ngày qua bà bị ám ảnh hoài về tiếng kêu, tiếng than khóc từ cái máy lạnh đó.

Không đợi bà trả lời, bác sĩ Cần nói tiếp:

– Những bóng ma là những linh hồn đã đi về nơi cát bụi, như những hương linh mất mát

trong cuộc chiến, như những bóng dáng của người thương yêu mà chúng ta thương tiếc, nhớ nhung. Khi nói đến ma thì chúng ta thường nghĩ đến những hình ảnh xấu xí, quái gở, hay phá phách, dữ dằn. Theo lời chị kể thì tôi thấy “con ma” của chị rất dễ thương và tốt bụng vì rằng mỗi sáng nó đánh thức và nhắc nhở chị làm những chuyện rất hữu ích cho sức khoẻ của chính chị.

Bà Trí nhìn bác sĩ Cần, mặc dù ông đang cười nhưng không phải là cái cười chế diễu mà trái lại rất thành thật. Bác sĩ Cần nhỏ nhẹ khuyên:

– Tối nay chị về nhớ uống một viên Benadryl, ngủ thật an lành để sáng mai còn phụ tụi này sắp xếp cho ngày lễ trọng đại nữa.

Bà Trí gật đầu cám ơn, bà cảm thấy đầu óc thanh thản. Chỉ đơn giản thế thôi mà bà nghĩ không ra, bác sĩ Cần nói rất có lý, có ai thật sự quấy rầy bà đâu, nếu bà để ý thì những lời gọi từ cái máy lạnh đó có lẽ là những nhắc nhở rất ân cần, nhẹ nhàng. Buổi trưa từ hội Cao Niên về, bà ghé qua Chùa Linh Sơn, thắp nén nhang khuấn nguyện cho những hương linh yêu dấu của bà được siêu thoát, cho bà vị tha để quên đi nhưng đau đớn, căm hờn mà bà đã cưu mang trong bao năm qua. Tối đó bà Trí ngủ thẳng giấc đến sáng.

Đồng hồ chỉ đúng bảy giờ rưỡi, bà mở mắt, chờ đợi, một lúc sau bà nhìn sang cái máy lạnh và nói lẩm bẩm một mình… ủa sao hôm nay không có ai kêu mình dậy vậy kìa.

Nguyễn Thị Huế Xưa

Viết cho các con tôi

 

Kính dâng Mẹ

Khi các con khôn lớn thế nào cũng nghe kể chuyện đời ba
Chuyện một nhà thơ yêu hòa bình nên bị đời cho đi khiêng đạn
Khi chiều xuống, bụi mù trời trên ngọn đồi ba đóng
Ba bắt đầu thương nhớ các con ba
Dù ở tiểu khu này ba là tên tiểu tốt
Nhưng các con nên tự hào ở tấm lòng ba

Ôi câu chuyện người anh hùng lỡ vận
Nên bụi đời cùng những kẻ ngu phu
Ðó là câu chuyện đời ba các con cần phải nhớ
Ôi một quãng đời dài lê bước ưu du

Ba không cực lòng khi bị đời khinh rẻ
Con đường ba đi đã chọn từ lâu
Nhưng khi nhìn những đám hoa râm trên đầu tóc nội
Ba đã khóc thầm khi nghĩ đến mai sau

Rồi mai mốt khi các con đã lớn
Hãy tìm trong trang nhục sử Việt Nam
Ðể thấu hiểu vì sao ba khổ cực
Vì sao nên đất nước lầm than

Nguyễn Bắc Sơn

RU KHÚC TÌNH TANG

 

Bỗng dưng bước lạc cửa rừng
Gặp hoa trắng nở lưng chừng núi xưa
Dỗi hờn nắng thẹn thùng mưa
Lòng ngơ ngác dập duềnh mùa đang qua

Khăn len che tiếng hít hà
Dốc sương rụng trái thông già lẻ loi
Chiều chết yểu gió mồ côi
Lắc la lắc lẻo về nơi không nhà

Điệu đàng tóc thuở mười ba
Rẽ ngang đường rớt nụ hoa cài đầu

Cắm sào dò đáy nông sâu
Í a đời chợt bể dâu ai ngờ
Thất thời đứng hát vu vơ
Hoang vu ngọn sóng tím bờ phi lao

TRẦN VĂN NGHĨA

Hành trình hạnh phúc


Tỉnh dậy trong bệnh viện
Lang thang xuống phố chiều
Giọt cà phê liêu xiêu
Mưa Sài gòn chợt đến !
Lá thầm thì hổn hển
Hoa lao xao chơi vơi
Ta một mình không bến
Sợi mưa liên xiên rơi
Và cứ thế,
Đừng bao giờ tới đích
Hương và sắc,
Trăng và mây … vô định …
Huệ Trung

LIỆU MỸ SẼ PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH Ở BIỂN ĐÔNG?

 

https://www.voatiengviet.com/a/3961953.html

https://www.youtube.com/watch?v=NtizjV8u8Xg

Đô đốc Mỹ: ‘Sẽ tấn công TQ bằng hạt nhân,’ nếu có lệnh của TT Trump. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ hôm thứ Năm 27/7 nói ông sẽ tấn công Trung Quốc bằng hạt nhân ngay tuần tới. Xin mời quý độc giả đọc bài nhận định sau đây.

Từ sau năm 1945, những nhà tài phiệt thuộc các cường quốc tin tưởng vào thuyết Malthus và thuyết Darwin. Tóm tắt 2 thuyết như sau:

  1. Malthus theory (thường gọi là thuyết nhân mãn): Thomas Robert Malthus, nhà kinh tế, cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân và thực phẩm tăng theo cấp số cọng. Theo mô hình này, một lúc nào đó nhân loại sẽ cạn kiệt thực phẩm.
  2. Darwin theory (thường gọi là thuyết tiến hóa): Charles Darwin, nhà sinh học, cho rằng con người tiến hóa từ vượn lên đến người qua hằng triệu năm. Nhưng cốt lõi của thuyết này là “fittest for survival hoặc survival of the fittest”, nghĩa là “mạnh được yếu thua” (hay là thuyết sinh tồn). Qua hằng triệu năm, loài nào mạnh sẽ tồn tại và sống còn.

Những người này, mệnh danh là elitist (tycoons), giàu có và thế lực bậc nhất thế giới đã chuẩn bị cho một TÂN TRẬT TỰ THẾ GIỚI, (New World Order) ngay khi Thế Chiến II chưa chấm dứt. Quyền lực của họ (phần lớn là những nhà tài phiệt trong ngành ngân hàng) thì vô biên với cánh tay dài như vòi bạch tuộc. Họ điều khiển và hướng dẫn vận mệnh của cả thế giới. Họ có thể khuynh loát nền chính trị của bất cứ nước nào. Điều đáng bàn là những elitists này tin tưởng tuyệt đối vào hai thuyết nhân mãn và tiến hóa kể trên và gần một thế kỷ qua (1945-2017) họ hành động dựa trên hai thuyết nhân mãn và tiến hóa, đưa đến những kết quả “hữu hiệu” rất đáng sợ.

Chiến tranh lạnh (Cold War) đã được thành hình ngay sau khi Thế chiến II chấm dứt. Đầu tiên là cuộc chiến Triều tiên (1950-1953). Từ 1943, Mỹ đã tồn trữ một số đạn dược rất lớn trên đảo Okinawa, nhằm chuẩn bị một cuộc tấn công toàn diện đánh bại đế quốc Nhật. Kế hoạch cuộc đổ bộ này giống như kế hoạch đổ bộ lên bờ biển Normandi, chọc thủng phòng tuyến của Đức quốc xã. Bất hạnh thay cho dân Nhật, gần 2 tháng trước khi chấm dứt Thế chiến II, Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử (16/7/1945) tại Alamogordo, bang New Mexico. Nhật lập tức đầu hàng vô điều kiện sau khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử, san bằng 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki và giết hại hàng trăm nghìn thường dân. Trữ lượng đạn dược trên đảo Okinawa cung cấp cho khoảng 500 nghìn binh sĩ bỗng nhiên trở nên vô dụng. Đại tá Leroy Flectcher Prouty viết lại trong cuốn “JFK: The CIA, Vietnam, and the Plot to Assasinate Kennedy”, tàu cập bến Naha trên đảo Okinawa nườm nượp để chở kho vũ khí đạn dược đến Đại hàn, và cảng Hải phòng. HCMinh và Việt minh nhận hàng tấn đạn dược, bắt đầu thời kỳ tiêu thổ kháng chiến và đánh bại thực dân Pháp năm 1954 tại thung lũng Điện biên phủ. Cuối cùng, 2 cuộc chiến Quốc-Cọng đầu tiên khai mào thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã xảy ra tại Đại hàn và Việtnam, nhằm tiêu thụ số đạn dược còn dư thừa từ Thế chiến II. Ngoài ra, số lượng bom tồn kho đem sử dụng trong chiến tranh VN mới kinh khủng. Hồ sơ Pentagon Paper tiết lộ số lượng bom thả trong cuộc chiến VN là 7.6 triệu tấn, nhiều hơn 3.5 lần so với số lượng bom thả trong Thế chiến II, 2.1 triệu tấn. Mỹ chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài nên trữ lượng đạn dược quá tải. Giải quyết đạn dược tồn kho vì:

  1. thiếu kho chứa và phí tổn bảo trì
  2. cần chế tạo vũ khí mới theo nguyên tắc “muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, si vis pacem, para bellum”

Bất hạnh thay cho nước Việt, bọn tài phiệt chọn Đông dương (Việt, Cao-miên, Lào) làm thí điểm để tiêu thụ số đạn dược dư thừa. Sau 15 năm (1960-1975), Mỹ hầu như tiêu thụ hết số đạn dược còn sót lại từ thời Thế chiến II, và đồng thời thử nghiệm một số vũ khí mới trên chiến trường VN. Kết quả, hơn 4 triệu thường dân Việt, và hơn 2 triệu binh lính hai miền thương vong. Cuộc chiến tốn phí 168 tỷ USD, (giá trị vào thời điểm 1975). Sự chết chóc (giảm thiểu dân số thế giới) xảy ra do chiến tranh nhằm phục vụ thuyết nhân mãn của Malthus. Mới đây, Giáo sư Stephen J. Emmott lại lên tiếng báo động về dân số gia tăng trong cuốn “10 Billion” – thêm một phụ lục của thuyết Malthus – nhưng theo một cuộc khảo sát của Heinz-Wilhelm Strubenhoff thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank), (https://www.brookings.edu/blog/future-development/2015/04/28/can-10-billion-people-live-and-eat-well-on-the-planet-yes/), và James Pethokoukis thuộc Học viện American Enterprise (https://ricochet.com/archives/how-we-can-easily-feed-a-planet-of-11-billion/) thực phẩm trên thế giới vẫn dư thừa cho 10 tỷ người từ đây cho đến năm 2100, nhưng bọn tài phiệt vẫn tin tưởng rằng chiến tranh là một cách giảm thiểu dân số “chính đáng” và “hợp lý” nhất. Ngoài ra, họ theo đuổi thuyết “mạnh được yếu thua” của Darwin để khuất phục thế giới. Hơn nữa, lý do hấp hẫn bọn tài phiệt chính là lợi nhuận, giống như “bàn tay vô hình, invisible hand” mà Adam Smith (ông tổ nền kinh tế tư bản) đã miêu tả vào hậu bán thế kỷ 18, đẩy sau lưng con người tiến về phía trước không kịp suy nghĩ. Có chiến tranh là có lợi nhuận. Ngẫm nghĩ thấy thật dã man nhưng đó là thực tế mà (có lẽ) chúng ta không làm gì được, chỉ vì quyền lực và ảnh hưởng của đám tài phiệt quá lớn.

Nhìn lại các cuộc chiến tranh lớn xảy ra (do bọn tài phiệt âm thầm điều động), chưa kể các cuộc chiến lẻ tẻ không đáng kể ra đây:

– 1945, chấm dứt Thế chiến II

– 1960, nhúng tay vào Đông dương và khởi động cuộc chiến VN (1960, năm Mặt trận Giải phóng miền Nam hình thành). Cần nhắc thêm là JF Kennedy đã ký sắc lệnh rút hết cố vấn và lính Mỹ ra khỏi VN bắt đầu từ cuối năm 1963, cho đến cuối 1965 thì hoàn toàn rút khỏi VN. Ý muốn là vậy, kết quả ra sao ai cũng biết, Kennedy bị ám sát cuối tháng 11, 1963, trước khi nghị định rút quân được trình bày tại lưỡng viện Quốc hội.

– 1960-1975, cuộc chiến VN

– 1990, cuộc chiến vùng Vịnh (Gulf war)

– 2003, chiến tranh Iraq nhằm tiêu diệt Saddam

Tính rợ thì cứ khoảng 13-15 năm, bọn tài phiệt sẽ tạo ra một cuộc chiến lớn. Cuộc chiến Ba-tư từ 2003 đến nay đã 14 năm. Cứ theo nhịp độ này, và theo dự đoán của tôi, cuối năm nay (2017) hoặc trễ lắm là đầu 2018, bọn tài phiệt sẽ phát động một cuộc chiến lớn. Đó là lý do Trump (Cộng hòa) bất ngờ đắc cử trong nhiệm kỳ này để lót đường cho một cuộc chiến tranh (phải) xảy ra. Nên nhớ, các cuộc chiến đều khai hỏa trong thời đảng Cộng hòa nắm Nhà Trắng. Và đối đầu trong cuộc chiến này không ai khác hơn là bọn chệt và tên Ủn.

Chờ xem.

Sơn Nghị

ĐÊM MƠ

 

Buổi học đầu của lớp Toán Cao học. Người thiếu nữ đã đến lớp từ lâu, và người đàn ông, ngồi đằng sau, biết mình sắp chết đuối về bờ vai mềm và cái dáng dấp nhỏ bé rất Đông Phương ấy. Ông giáo sư già vào lớp, ngồi trên chiếc ghế và rảo mắt nhìn đám sinh viên. Sáu người học trò. Ông trao tờ giấy điểm danh xuống người ngồi hàng đầu. Tên tuổi. ID. Nhan thi Nguyen. Đến phiên người đàn ông. Việt Nam. Niềm vui nho nhỏ dấy lên. Nguyễn thị Nhàn hay Nguyễn thị Nhân. Nhàn hay Nhân. Nhàn. Tôi thầm thì. Tên của một người xưa. Tên mà tôi viết cả ngàn lần trong những đêm ngày nhớ nhung chất ngất. Tên tôi gọi khi tôi quằn quại cùng vết thương, khi tôi đứng trên cao để nhớ đồi Nam Ô, và nhìn xuống thấp để nhớ về biển xanh dưới chân đèo Hải Vân. Tên trên phong bì, trên trang thơ, trên những giờ, những phút trải trong lòng nhật ký từ một nơi nào của thành phố Đà Nẵng.Tôi nhắm mắt lại. Con tim già nua hôm nay bỗng nhiên rạo rực lại rồi. Tôi nhìn lên, gặp đôi bờ vai nhỏ. Ngày xưa, em cũng gầy guộc, em cũng dịu dàng, em cũng mong manh. Ngày xưa, Nhàn ơi, anh về phép, đội mưa ngoài cổng, để em phải bối rối tội tình trong chiếc áo mưa màu tím hoa cà. Ngày xưa cổng trường Phan Châu Trinh, học trò con gái khúc khích cười trước một cây si cổ thụ. Ngày xưa người về một ngày rồi lại bỏ đi, người đợi một ngày rồi lại ôm mặt khóc.Một người về đỉnh cao. Một người về vực sâu. Để cuộc tình chìm mau…Ông giáo sư bắt đầu giảng bài. Ông dùng vụ án O J để chứng minh về vai trò quan trọng của Toán học. Ông đùa: “Bọn mày xem, bây giờ ai ai cũng trở thành toán gia. Luật sư, bác sĩ, ông quan toà, bồi thẩm đoàn, những tên không bao giờ thích Toán học bây giờ luôn luôn nói về xác xuất probability trong việc thử máu, và dùng toán thống kê để chứng minh… Sự thật là tuyệt đối. Cho dù xác xuất sai là 1 phần tỉ tỉ đi nữa, kết quả vẫn không phải là sự thật. Có nghĩa là không thể chứng minh OJ phạm tội.  Phải nhờ Toán học O J mới thắng. Còn nữa, Unabomber, cái ông toán gia làm điên đầu FBI cả hai mươi năm qua…” Ông già nói liên tu bất tận. Có lẽ ông muốn trút hết nỗi hẩm hiu của một lớp quá chừng ít ỏi cũng như cái kiếp toán gia bạc bẽo của ông. Thật vậy, trong khi các lớp cao học khác, học trò chen lấn, đông đúc, thì mỗi lớp Toán, vỏn vẹn vài sinh viên. Cái thê thảm của một xã hội kim tiền. Có phải vậy không?

Cuối giờ, ông giáo sư đọc một mạch những bài homework cho kỳ đến. Tôi thấy Nhàn bối rối, chừng như không bắt kịp câu nói của vị thầy. Rồi lớp học tan. Bọn sinh viên mấy người hối hả đứng dậy. Chỉ còn Nhàn. Em ngồi lại. Như một con nai nhỏ tội tình. Vâng, tôi biết, ngày xưa, tôi cũng đã từng có những giờ phút khốn khổ như em hôm nay. Giờ đầu tiên tôi cũng đã từng tuyệt vọng nghĩ đến một cuộc đầu hàng. Tôi đến bên người con gái đồng hương, thăm hỏi. Nỗi buồn đến tội nghiệp. Và em đã bấu viú vào tôi.

 

Người đã gọi bên trời. Con sáo đã sổ lồng. Con sáo qua sông. Tôi như thằng bé nào cầm chiếc lồng trống trơn buồn so bên dòng sông đỏ máu. Hai toà lầu Twin Towers. Toà Empire State Building. Chinatown. Holland Tunnel. Tượng Nữ thần Tự Do. Cầu Pulaski Skyway. Những ngày hôm qua, tôi và người và Nữu Ước. Hôm nào trời Nữu Uớc mưa bụi. Mưa làm dòng Hudson mờ đi, để buổi học đêm, bên kia bờ, triệu triệu ánh đèn phải trở thành những con mắt ràn rụa lệ. Để giờ break time, người và tôi, đứng trên lầu cao, và nhìn qua thành phố. Tôi kể những gì tôi biết về Nữu Ước. Tôi kể về một đêm đứng trên chóp đỉnh của toà Twin Towers mà nhìn xuống những con đường ngang dọc đan kết những chuỗi kim cương ngọc ngà, ngời sáng hầu như bất tận. “Nhàn biết không? Đó là những đoàn tắc xi Nữu Ước”. Tôi kể về quả cầu được thả xuống tại khu Times Square vào lúc giao thừa duơng lịch với hàng trăm ngàn người từ khắp nơi đổ xô về. Trai gái hôn nhau. Những chiếc hôn dài của mùa hạnh phúc.  Và tiếng còi xe, tiếng kèn giấy, tiếng phong cầm, và rượu chát, rượu mạnh, nút chai bật tung như pháo nổ. Và người ta nắm tay nhau khiêu vũ… Em thốt lên: “Vui quá hả ông? Ông có bao giờ đến đấy tham dự chưa?” “Chưa cô à. Nếu cô muốn, tôi sẵn sàng làm người hướng dẫn”. “Vâng, thế nào em cũng nhờ ông”.  Nhàn ơi, tôi nhắm mắt lại đây. Cám ơn em, cho tuổi trẻ của tôi một lần trở dậy. Đêm nào như đêm hôm qua, khi tuyết trắng xoá phủ xuống Nữu Ước, khi muôn triệu ánh đèn kinh thành càng làm màu tuyết lung linh hơn, và rực rỡ hơn. Đêm cuối năm, em xa nhà, và tôi cũng xa quê hương. Xe chờ em ngoài khu nội trú. Em khoác chiếc áo dạ đen. Mưa tuyết dập dìu trên đầu. Mưa tuyết óng ánh dưới ánh điện nhiều nến. Khu nội trú nhiều cửa sổ đèn tắt. Chắc hầu hết sinh viên đã trở lại nhà. Tôi mở cửa xe. Mở thêm quạt tuyết. Xe theo con đường chánh của quê hương Frank Sinatra. “Nhàn ơi, Nhàn có bao giờ nghe Frank Sinatra hát chưa?.” “Frank Sinatra là ai hở ông?”  “Là một danh ca nổi tiếng của Mỹ. Ông ta có giọng hát thật ấm. Nơi đây là nơi ông lớn lên. Cả thành phố đều hãnh diện vì ông. Các quán cà phê, nhà hàng đều treo hình có cả chữ ký của ông nữa.” “Thế thì được làm ca sĩ hạnh phúc quá ông nhỉ?” “Vâng, bởi vì ít ra ông cũng mang hạnh phúc cho một số người.” FM106.7. Âm hưởng của một bản nhạc Giáng Sinh Holy Night. Vâng Đêm Thánh Vô cùng. Đêm ngày xưa hay là đêm nay. Cửa xe mở ra và em ngồi thu mình như con mèo nhỏ. Trời lạnh, nhưng hồn tôi ấm lắm. Xe chạy dưới mưa tuyết. Chiều cuối năm, khác với quê nhà, không có cảnh hối hả bồi hồi cho một cuộc trở về. Hay là tại lòng tôi, quá quen đến dửng dưng. Hơn mười năm xa quê hương, thời gian quá dài để làm chai sạn những nỗi nhớ nhung quay quắt. Con tim ngỡ đã ngủ yên. Bây giờ tự dưng em làm con tim tôi thức dậy. Em hay Nhàn xa xôi vời vợi  ngàn trùng. Em hay Nhàn một thời để yêu và một thời để chết. Em làm tôi cứ nghĩ đến một người.

 

 

Xe đã ra ngoài xa lộ. Nhàn co ro. Đôi mắt mở lớn nhìn đêm. Đêm sáng lòa như tấm thảm kim cương mờ nhạt lệ mềm. Đêm đẩy đưa hai kẻ không quen bỗng nhiên gặp. Em có biết là tôi quá hạnh phúc không. “Nhàn muốn nghe nhạc không?” “Ông có nhạc Bảo Yến không?” ” Không. Tôi chỉ biết Lệ Thu, Khánh Ly, Mai Hương, Thái Thanh.” “Họ hát ở bên này, phải không ông?” “Không. Họ là những ca sĩ nổi tiếng tại miền Nam trước 1975.” “Thế ư?” Rồi tiếng hát cất lên. Nhắm mắt. Cho tôi tìm một thoáng hương xưa. Nhàn có vẻ thờ ơ, lơ đãng nhìn ra ngoài đêm. Mưa tuyết rơi để đua tranh cùng cây quạt nước. Hàng xe đang chờ đợi nối đuôi. Dưới cầu phía Nam là phi trường Newark. “Nhàn thấy gì không, phi trường quốc tế Newark, đèn đuốc sáng trưng, cứ năm phút là mỗi chuyến bay đáp xuống hay cất cánh”. Tôi nói. “Quả thật vậy, thưa ông?” “ Vâng. Như vậy làm sao đủ thì giờ để người ta từ biệt, phải không ông?” “ Vâng, đời sống ở xứ sở này đều hối hả, gấp rút, ngay cả nỗi chia ly. Không còn cảnh người đứng trên ngôi nhà gió nhìn ra phi đạo, thấy bóng người thân yêu của mình lẩn khuất vào lòng tàu”. “Ông ơi. Chắc ông có nhiều người để ông phải đưa tiễn.” “Tại sao Nhàn lại hỏi thế. Vâng, thì trong đời của bất cứ một ai đều có một lần từ ly.” “Thế ông đã có lần từ ly nào để mà ghi nhớ ? “Tại sao Nhàn lại hỏi như thế. Vâng, tôi đang nhớ đây. Nhớ một người tên Nhàn. Nhớ một người mong manh như sương như khói. Nhớ người nào luống cuống bên tôi, má au hồng, đêm đêm viết về tôi bao nhiêu giòng nhật ký…Nhớ để mà hiểu rằng, có nhiều chuyện không thể ngờ nổi, tưởng tượng nổi. Như Nhàn của một thời bây giờ lại trở lại bão bùng…

Rồi tiếng hỏi bên tai.

“Ông ơi, có phải hai tòa lầu chọc trời kia là Twin Towers?

“Vâng.”

“Tại sao gọi là Twin?”

“Tại vì chúng giống nhau như đúc. Chúng sinh đôi. Tại vì người ta không muốn thấy chúng lẻ loi. Nếu lẻ loi, chắc chúng buồn lắm…”

Người con gái không nói. Em làm sao hiểu được thế nào là nỗi lẻ loi của một đời người. Muốn đọc lại câu thơ của Thanh Tâm Tuyền: ôi những người khóc lẻ loi một mình, nhưng không dám. Tuổi em không phải là tuổi tôi. Không thể mang nỗi buồn rầu của thế hệ tôi về thế hệ em.

 

 

Xe vào khu Chinatown lúc hơn 8 giờ tối. Giờ này hầu như khu phố Tàu trở nên vắng vẻ. Chúng tôi tìm một quán ăn Việt Nam. Nhàn ăn rất ngon miệng. Tôi vừa uống bia vừa nhìn nàng. Cảm tạ Đất Trời đã cho tôi được gặp lại một bóng hình. Cảm tạ gương mặt thanh tú, mái tóc cắt ngắn, đôi vai gầy mảnh mai, để đêm nay, tâm hồn tôi phải ấm áp. Đêm cuối năm, tôi thèm phà khói thuốc để mờ đi gương mặt của người bạn học. Để bóng hình như hình sương và bóng khói. Như niềm hạnh phúc mà tôi bắt gặp đêm nay.

 

Sau đó chúng tôi lái xe đến Twin Towers. Trời đã bớt tuyết, nhưng gió từ sông Hudson thổi về lồng lộng giữa hai dãy lầu cao khiến chúng tôi phải co rúm lại trước những cơn gió thốc. Hơi thở thành khói. Dưới hàng hiên, một người homeless đang nằm ngủ. Không hiểu sao y lại ngủ được giữa cái giá rét cũng như náo nhiệt của một đêm cuối năm. Trong một quán cà phê, những mái đầu chạm nhau. Xe cộ vẫn tấp nập. Không khí của đêm giao thừa ở đây khác với quê nhà. – đây hình như người ta đổ xô ra đường. Còn ở quê nhà, người ta về bên trong cánh cửa của đoàn tụ, của giây phút gần gũi giữa người sống và người khuất. – đây niềm vui mở ra trên những vỉa hè tấp nập người, trên những con đường tấp nập xe cộ, trên những tiếng cười nói rộn ràng và tiếng nhạc vui mừng rộn ràng cả lòng phố. Nhất là ở khu vực World Trade Center này. Hình như người ta từ các nơi khác dùng xe bus, xe điện ngầm để về đây, rồi chuyển xe để về Times Square. Và trước khi đến Times Square họ muốn nhìn cả một New York về đêm. Bởi vậy, chúng tôi phải vất vả lắm mới tìm một bải đậu xe. Sau đó chúng tôi hướng về Twin Towers. Hai bên đường, hầu hết các cửa tiệm đã  đóng cửa. Những đoàn tắc xi vàng tiếp tục nối đuôi trên đường Church, Broadway, Chambers. Từ dưới chân tòa lầu chọc trời, nhìn lên muốn chóng mặt. Rồi mua vé. Rồi thang máy mở ra. Người phụ trách bấm nút. Thang máy vụt phóng lên, đưa người chạm với tầng không. Rồi cửa mở. Hơi lạnh ùa vào. Hai tai đã nghe hơi ù và một cảm giác hụt hẩng như ta đang ở trong vùng không trọng lực. Mắt người bạn gái chợt sáng lên như bắt gặp một niềm kinh ngạc thích thú. Tầng cuối cùng 110 như chạm lấy trời. Trên cao, một  chấm sáng rất mờ nhạt giữa cõi. Không biết là  ngọn đèn của chuyến bay đêm hay là một tinh cầu lạc lỏng.  Nhìn xuống, nhìn quanh, cả Nữu Ước như ngập cả một biển kim cương lộng lẫy xen kẽ những mái nhà tuyết trắng như tấm thảm óng ánh bạc. Dưới nữa là những con đường xen kẽ dày đặc, với hằng hà ngọn đèn sáng rực như đuổi nhau không bao giờ dứt. Nhàn reo lên: “New York. Đẹp quá ông ơi…” Tôi chỉ nàng Tượng Nữ Thần Tự Do nằm bên sông Hudson. Tôi chỉ nàng hướng cửa biển, kể với nàng về những con tàu mang người di dân đến Nữu Ước đầu tiên. Tôi chỉ cho nàng cầu treo Brooklyn, với những sợi cable khổng lồ. “Nhàn biết không, đêm nay New York không ngủ. New York làm cả một nước Mỹ cũng không ngủ luôn”. “Tại sao vậy, thưa ông”“Tại vì mọi người đang hướng về New York trong đêm giao thừa. Có lẽ mọi người đều mở máy truyền hình để nhìn quả cầu khổng lồ ở Times Square được thả xuống đúng vào lúc đêm bước sang năm mới… Nhàn có thấy dưới đường kia không. Đại lộ American và đường số 5, rộng đến 6 lanes. Nhàn thấy cả đoàn xe đứng yên”. “Sao ông biết?” “Bởi vì chúng ta không thấy những ngọn đèn kia di động nữa”. “Đúng rồi. Ông hay quá. Chắc ông yêu New York lắm phải không?” “ Vâng. Nó làm tôi tìm lại một Sài Gòn xưa. Nó cũng có Phố Tàu, cũng có những quán cà phê lộ thiên, những vỉa hè đông như hội. Khi mình bước đi, mình không còn là mình nữa. Mình hòa nhập vào đám đông như dự phần vào một cuộc đại khiêu vũ…” “Chao ơi, ông kể làm Nhàn muốn chảy cả nước miếng…” “Nhàn ơi.” “Dạ. Thưa ông.” “Nhàn hãy tìm dùm tôi hướng nào là Việt Nam của mình.” Tôi hỏi Nhàn. Nhàn nhìn vào cõi đêm. “Thưa ông, hướng nào là Việt Nam. Em tìm không ra. Còn ông?” Tôi im lặng. Muốn nhìn thẳng vào đôi mắt để nói: “Tôi tìm được rồi.  Qua đôi mắt của em, qua giọng nói Việt Nam của em”.


Nhàn nhìn xuống thành phố. Người bạn gái nhỏ bé chắc buồn. Đôi mắt nàng long lanh. Hay là màu rực rỡ của New York phản chiếu. Nhàn hãy đứng yên để tôi chụp một tấm hình. Tôi nói. Nhàn nghe lời. Tôi điều chỉnh ống kính. Phía sau nàng, là cả một thành phố với muôn triệu ức ngọn nến đêm lung linh trang điểm như một bức tranh vĩ đại. Nhàn ơi, em biết không, tay tôi đang run đây. Tim tôi đang đập đây. Lòng tôi đang bồi hồi đây. Hãy cười. Hãy lung linh đôi mắt. Hãy co ro trong chiếc áo lạnh. Để tôi không bao giờ quên có một cơn mơ, một giấc chiêm bao trên tận cùng của chóp đỉnh Twin Towers, đêm cuối năm huyền nhiệm này.

 

Đêm còn lại, hai người đã hoà mình vào dòng thác người đông như kiến cỏ. Hầu như người mọi nơi đều đổ xô về Times Square. Đêm lạnh căm căm cùng những cơn gió lồng lộng thổi về từ sông Hudson. Trái cầu khổng lồ vẫn chờ đợi ở trên dàn. Đường Broadway, đường số 5, 6, 7 không còn di chuyển xe cộ được nữa. Nhạc Giáng Sinh tiếp tục lướt thướt từ những khu shopping gần đấy. Trời không tuyết nhưng trời lạnh xuống dưới độ đông. Hai người cầm tay nhau để khỏi lạc.  Không ngượng ngùng. Không có cả một áng mây vẩn đục che xám cõi lòng. Đêm nay. Đêm của điều ao ước. Đêm của rượu nồng hạnh phúc cho cả năm và cả đời. Đêm của resolution. Dù phương Tây hay phương Đông. Thì ra ở đâu, nhân lọai vẫn có những giây phút hướng về hy vọng. Dẹp nỗi buồn sang một bên. U uẩn mãi có ích gì.Nhàn ơi, cám ơn cô bạn nhỏ, cám ơn tuổi trẻ, cám ơn cái giây phút mầu nhiệm, để mọi điều chân thiện mỹ, hạnh phúc, tốt đẹp, bình an, len nhập vào trái tim của mỗi con người. Cám ơn Nữu Ước, thành phố không phải là quả táo mà là trái tim…Rồi quả bóng khổng lồ đã được thả xuống thật chậm. Chiếc kim đồng hồ to lớn trên khu Times Square vẫn tiếp tục nhích từng giây, cùng theo tiếng đếm vang rền: ten, nine, eight, seven, six, five, four, three, two, và one. Rồi một tiếng pháo nổ lớn cùng cả muôn hàng tia pháo bông rực rỡ in trên bầu trời đen đặc, tiếp theo là cả một tràng sấm động của mừng vui, của muôn lời chúc tụng, của bài hát Auld lang syne:  Should old acquaintance be forgot and never brought to mind.  Should all acquaintance be forgot and auld lang syne. Và trong giây phút ngất ngây kỳ diệu, tôi và Nhàn đã ôm choàng lấy nhau. Rõ ràng chúng tôi đã không thể cưỡng chống lại cùng niềm kích ngất này. Có chất rượu nào say hơn. Tôi nhìn vào đôi mắt của người con gái: “Nhàn có ước ao gì cho năm mới không?” Người con gái nhắm mắt lại. Ánh sáng từ những tia pháo bông làm gương mặt nàng sáng lung linh. “Em ao ước...” Nàng ngừng nói. Tôi hiểu. Rất hiểu. Ai cũng có một người rất thân yêu được cất giữ trong con tim. Và Nhàn cũng vậy. Tôi cũng vậy. Cũng có một người nữ, đến với tôi bằng tất cả linh hồn và thể xác. Nàng đã ngửng mặt, ngửng đầu vì tình yêu, không bao giờ đặt những câu hỏi. Tôi nói với người bạn học: “Vâng, tôi xin tôn trọng niềm ao ước của Nhàn. Này, Nhàn hãy đặt một bàn tay lên tim và ao ước đi… Cả những gì Nhàn muốn thực hiện… Đêm nay linh thiêng lắm. Dường như mọi lời ao ước của chúng ta đều được các thiên thần lắng nghe..”. “Thật như vậy, phải không ông?” “Vâng. Nhàn thấy cả trăm ngàn người Mỹ đổ về đây đêm nay”  “Vâng, thì em sẽ ước. Ông đừng nhìn, em mắc cỡ lắm đó” Rồi Nhàn nhắm mắt lại. Thành khẩn. Dịu dàng. Như một người nào. Xa xưa lắm. Mênh mông lắm. Vô lượng lắm. Phải. Em đã lay động con tim ngỡ một lần chai sạn. Ngày ấy, anh đã nằm trên giường bệnh xá, để quằn quại với vết thương, để đau đớn với những cơn đau nhức, để cắn môi bụm miệng mà giữ chặt nỗi cô đơn cho khỏi trào ra, biến thành nỗi hẩm hiu chai cứng. Mùi ê te hăng hắc. Chai nước biển bên cạnh đầu giường càng lúc càng vơi dần. Người y tá gốc thiểu số mỗi ngày đẩy chiếc xe dụng cụ y tế đến giường, thay băng. Viên bác sĩ với cặp kính cận thị đầy soi mói, lục tìm dưới gối những viên thuốc ngủ… Vâng, qua em, tôi thấy lại một người. Tội cho tôi, sương thì sương, suơng che tầm mắt, nhưng người thì hiện bên trời. Dịu dàng như ngưòi nữ tu buớc vào cửa thánh. Mềm yếu như áng mây trời, loãng đi, loãng dần trong vùng suơng và khói. Mong manh như chút hạt sương. Người đã gọi tôi bên trời. Ai nói với tôi một câu: “Nhàn vẫn đẹp như dạo nào, vẫn thánh thiện như dạo nào.” Trời ơi, tại sao tôi lại tàn bạo đến như vậy. Đến gần cuối cuộc đời, cả lòng tôi vẫn còn sân si. Tôi nhắm mắt trong một giây một phút. Cái kiêu hãnh của một tên đàn ông nay đã tàn lụi. Tôi phải làm gì để tạ tình, để hết gọi kêu giữa trùng thẫm, để thôi chạy Đông chạy Tây bắt chụp lấy hình. Tôi phải làm gì để trải con tim của tôi cho một lần, rồi thôi rồi hết. Tôi phải làm gì để một lần nào đó, khi tôi nhắm mắt, khi tôi khép lại cánh cửa thế gian, thì lòng tôi sẽ phải bình thản, vì có người sẽ tha thứ cho tôi, từ bi từ độ vì tôi. Vâng. Tôi đã biết lỗi rồi. Con ma ám chướng đã qui hàng ngã quị rồi. Vết thương lòng từ lâu ngỡ đã được vá lành giờ đây lại thêm một lần bị vỡ nhọt. Vâng, Nhàn ơi, anh hiểu rồi. Và đêm nay, anh cũng xin ao ước như mọi người. Không tiền bạc. Không sang giàu. Không nhà nhiều phòng, xe tốt. Chỉ có một điều. Duy nhất. Cầu chúc những người gặp nhau sẽ không bao giờ chia xa…

 

Bây giờ lại thêm một ngày cuối năm nữa lại về trên đất khách. Trở lại dòng sông này mấy bận. Bên kia thành phố đã lên đèn. Cơn mưa nhòa nhạt hoàng hôn lạnh. Chiều cuối năm trời mau tối thêm. Đàn chim biển trên bến phà gọi nhau náo lọan. Những con tàu nằm bất động bên bờ xa. Đằng sau tôi, dãy building nội trú im lìm. Vài ô cửa thấy thấp thoáng ánh đèn. Tôi biết hầu hết sinh viên đều trở lại nhà trong mùa Season greetings này. Tôi tìm trên ấy một ô cửa. Ô cửa đã không còn ánh đèn. Ô cửa đã đóng lại, bởi vì người bạn học nhỏ bé ấy đã bỏ trường bỏ lớp để trở lại cùng quê hương.Tôi đang thấy lại người. Người đứng ở bên này sông, sông mờ theo mây thấp, và tóc người bay cuống quít, và những ngón tay người giữ lấy những sợi mây mềm. Tôi đang nghe tiếng nói của người. Tôi thấy dáng dấp của người. Trong phòng lớp. Từ chiếc ghế đầu bàn. Trong thư viện. Bên này, bên kia, bàn xanh, và hồn sách vở. Trong nhà ăn, trưa đói cồn cào, mệt lả sau giờ lab, và những cọng french fries vàng ngậy giữa hai bờ môi xinh. Trong câu lạc bộ sinh viên người lạc lỏng không bạn bè, đứng áp mình vào khung cửa kính, nhìn dòng Hudson. Dưới ánh đèn đường vàng vọt của con đường Sinatra, dẫn xuống phố. Gió sông thổi lạnh người, tôi thấy hai vì sao, và bờ vai gầy run rẩy. Và một đêm trên Twin Towers. Một Twin Towers đã bị bức tử trước cái thù hận ác độc của một lũ người man di mọi rợ. Một Twin Towers chỉ còn là giấc chiêm bao mà em như đứng đó như cả trăm năm trong đời tôi. Và một đêm giao thừa trên Times Square. Và cái giây phút vĩnh cửu khi chúng tôi cùng chúc tụng cho nhau những lời chúc thành thật nhất, yêu dấu nhất. Chắc là những gì mà người con gái ao ước khi nàng nhắm mắt lại, giờ đã được toại nguyện. Còn tôi, cuối cùng, vẫn là một giấc mơ. Cánh chim đã bay về miền Nam, tìm nơi có nắng ấm. Chỉ còn lại một mình tôi. Chờ đợi ai. Chờ đợi điều gì trên bờ sông Hudson của ngày cuối năm này.

Trần Hoài Thư
6/12/1996 – 10/2001

RIÊNG EM NGÀY CHỞ NẮNG

 

có tiếng hạc chiều rơi buồn trên đá
mưa tự trăm miền là lạ bước chân
em vỗ khúc đàn rong đêm chối bỏ
trăng ngợp hoàng thành khép nửa mi cong

mắt đại nội huyền thẳm sâu rất huế
chiều tím vai nghiêng vạt tóc thảo hiền
tay vịn vai cầu ngấm lòng nhân thế
đò dạt đôi bờ níu bến lương duyên

em hút mắt xa.đường xa gió nổi
lăng tẩm rùng mình bịn rịn khoắt khuya
em là huế.huế là em.vời vợi
một đâu về.một đâu đến.đành chia

chiều khép mắt chôn tiếng chuông đi lạc
nông nổi một đời trẻ trẻ thơ thơ
buồn đẫy đà nuôi trái tim nhưng nhức
một chớp mắt chờ.một tiễn nhau xa

lần lựa về ngang khoác chiều vai tím
con mắt trần gian lạc lỏng xưa nhoà
huế mãi là em dẫu lòng quyến luyến
vẫn phải quay về núi cũ sông xa

hạt đắm đuối gieo giếng khơi nông.cạn
vò võ lá đêm đẫm nguyệt khều sương
ta giốc bầu tình tưới xanh lăng tẩm
dáng dấp khuê xưa.lạt quế phai hường

Lê Hát Sơn

TRÒ CHƠI MÙA THU

 

 

Mùa thu rủ rê
Những thiếu nữ
Trong tranh của Luyện
Những nhân vật xưng Em và Ông
Trong truyện của Biền
Những vầng trăng mỏng manh
Trong thơ của Mường
Rong chơi qua mùa tím.

Nhiều thu đi qua đi qua
Những thiếu nữ trong tranh quên lớn
Những nhân vật trong truyện quên buồn
Những vầng trăng trong thơ quên phai
Những Luyện những Biền những Mường
Đôi khi chợt thấy mình
Đi chổ khác chơi.

Thu nay
Từ điệp trùng những ô cửa mở
Từ mênh mông ngọn triều con chữ
Rất nhiều ngọn nến cùng cháy lên
Họ lại tìm thấy nhau
Những thiếu nữ không bao giờ lớn
Những Em và Ông không bao giờ buồn
Những vầng trăng không bao giờ phai
Và những Luyện những Biền những Mường
Lại tiếp tục
Rong chơi qua
Mùa thu.

Mường Mán