NGƯỜI ĐÀN BÀ CÔ ĐƠN

 

 

Người đàn bà chưa học hết lớp ba
Hai chữ “yêu anh” đã đầy trang giấy
Bốn phép tính gặp eo, nỡ làm khó vậy
Dãy số cuộc đời còn  thiếu một số không

 

Người đàn bà ngày đợi đêm mong
Con vô chủ, không tu mà hiền y Phật
Ngồi giữa chợ vá mảnh đời lây lất
Không dám trách trời, chẳng biết giận ai

 

Người đàn bà chân thật như nắng mai
Dây chùm gởi bò quanh sạp chợ
Quả ớt bó rau khóc thầm duyên nợ
Cỏ quanh hè cứ thế lại xanh hơn

 

Người đàn bà gánh cô đơn về phía hoàng hôn
Nhà không số, đất không nghiệp chủ
Chưa biết mặt cha, đẻ không nhờ bà mụ
Rớt dưới gầm cầu gọi ếch nhái bằng cha

 

Người đàn bà dễ vỡ như một cành hoa
Cuộn trong kén cả đời không hóa bướm
Chuyến xe đời,  giấc mơ chiều trễ muộn
Thương tấm chân tình đắp hụt phía sau lưng.

 

Nguyễn Tam Phù Sa
Sài Gòn 08.7.2017

Xưng tội

 

Có thể tôi đang tự lừa mình trong đêm chấp chới trốn chạy
Những ảo giác luôn luôn có sự mù lòa dẫn đường xuyên suốt những tối tăm của tưởng tượng
Có thể em đang lừa mình qua những đêm thăm thẳm trôi
Và rằng tôi có một vị trí nào đấy để dừng chân?

Có thể nơi thanh xuân vừa tắt nắng một hi vọng nảy mầm
Mặc dù không phải mầm xanh nào cũng xanh và tươi tốt
Có những nụ mầm chưa bao giờ thành cây và không phải tia sáng nào cũng tràn trề hi vọng
Những vòng lặp tròn xoay chỉ dẫn tới vô cùng
Cắt ngang một đoạn đường những đường chéo nhau trong không gian cũng quá lao lung
Có những giao nhau không phải là bến đậu.
Những bàn tay mỏi nhừ buổi tiệm cận tìm nhau

Đi qua cho hết những buổi ngày không nhau để rồi sẽ sợ một đêm gió rét. Những nhành đối nhau trên hyberpol làm gì có cùng giao điểm
Để trang trắng màn hình tôi treo tang cho những giấc mơ.
Chúng ta đã lướt qua nhau chưa?
Giữa những khoảnh khắc người tấp nập?
Hay là tôi đang tự lừa mình trong thương nhớ
Giữa những khúc ăn năn em chắp tay xin lời cứu rỗi
Dấu thánh buông rơi chuỗi thập tự lưu đày
Tôi nuốt ngược những hạt mầm chết yểu
” Xin Người đừng thứ tha con”

Hoàng Phương Uy

Thủa làm thơ yêu em

 

Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió mây lưng bờ dậu

Chiều sương đầy bốn phía
Lòng anh mấy cách xa
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha

Thủa làm thơ yêu em
Cả dòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố

Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi

Mười bảy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ

TRẦN DẠ TỪ

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc thành nhạc phẩm cùng tên.

Ngày về không nắng

 

Cơm nước xong, không khí trong nhà đột nhiên căng thẳng khác thường. Mọi người đều thấy bứt rứt, tuy ai ai cũng cố gắng chứng tỏ mình bình tĩnh, hơn thế nữa, thản nhiên, bất cần. Bà mẹ ngồi bệt trên mặt nền đã bóc mất lớp gạch hoa, bỏm bẻm nhai trầu như mọi bữa. Cô em gái rửa chén ở dưới bếp mải suy nghĩ làm vỡ mất cái dĩa sứ độc nhất còn lại. Đứa cháu lẻn ra sân trước chơi không ngủ trưa mà không bị bà nội la rầy. Còn chàng thì dụi hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, cổ khô, uống liên tiếp nhiều ngụm nước trà vẫn không dằn được cơn ho. Mẹ chàng lo lắng hỏi:

– Con không bị đau phổi đấy chứ? Có mỏi ở hai bả vai không?

Chàng vội đáp:

– Không đâu, mẹ yên tâm. Thuốc điếu bây giờ tệ quá. Hút đắng cả cổ.

Mẹ chàng trách móc:

– Biết thế mà còn hút. Mẹ nghe nói toàn là lá đu đủ.

Rồi sợ không còn cơ hội nào để xóa tan nỗi lo canh cánh, mẹ chàng hỏi đột ngột:

– Con đã viết sẵn đơn xin tạm trú chưa?

Chàng liếc nhìn mẹ. Mẹ chàng chăm chú têm tràu, làm như chưa bao giờ đặt câu hỏi, hoặc nếu có, thì cũng hỏi qua loa cho có chuyện vậy thôi, một câu hỏi không đáng quan tâm.

Chàng cố làm ra vẻ ơ hờ, đáp:

– Con đã viết rồi. Gớm, mọi bữa có nóng như hôm nay không hả mẹ? Bữa nay ăn cơm muộn. Chắc hơn một giờ chiều rồi!

Mẹ chàng nói:

– Ờ, khoảng đó.

Hai mẹ con im lặng. Chàng vừa ho vừa hút thuốc. Mẹ chàng nhìn quanh như định tìm cái lon nhổ bã trầu, rồi se sẽ bước ra sân. Chàng đoán thằng bé bỏ ngủ trưa sắp bị bà nội mắng cho một trận. Nhưng chờ mãi chàng không nghe thấy gì. Đứa con chàng mở cửa ngõ chạy đi đâu mất. Một lúc sau, có tiếng thằng bé nói lớn:

– Chưa tới hai giờ, bà nội.

Chàng giật mình hồi hộp. Theo thói quen từ hơn sáu năm về trước, chàng ngước lên nhìn chiếc đồng hồ Odo. Ở chỗ vách vẫn treo chiếc đồng hồ quả lắc có chuông báo giờ chỉ còn dấu vết một khoảng vôi mới hình tròn chập trên hình chữ nhật đứng. Chàng chợt hiểu vì sao con chàng phải chạy đi hỏi giờ hàng xóm. Hơi thuốc lá đắng chát trong cổ chàng. Cơn ho lại kéo đến, lần này dữ dội hơn lúc nãy. Nhưng mẹ chàng không vào trách móc con. Ngược lại, đằng sau bếp, dường như có tiếng trách mắng và tiếng phân bua. Lắng tai chăm chú hơn, chàng nghe em gái đang nói :

– …mẹ dặn nên con bỏ thư bảo đảm. Trong thành phố, nhất định phải tới tay rồi. Thư thường hai ngày. Thư bảo đảm có chậm cũng không thể quá một tuần. Không. Con nhớ rõ địa chỉ. Vả lại…

Em gái chàng phân bua đến đó rồi im. Chàng nghe mẹ chàng thảng thốt hỏi :

– Vả lại thế nào ? Hay mày có viết thêm cái gì trong thư, nó giận không tới ?

Em gái chàng đáp, giọng pha chút bực bội :

– Thì con đã đọc lại thư cho mẹ nghe trước khi ra bưu điện, mẹ không nhớ sao ? Vả1ại… vả lại… hôm qua con gặp chị ấy, con có nhắc…

Chàng đứng bật dậy lúc nào không hay. Có lẽ mẹ chàng cũng kinh ngạc như chàng. Mẹ chàng hỏi vội :

– Mày gặp nó ở đâu?

– Dạ ở trường thằng Vinh.

– Mày gây chuyện với nó phải không ? Nó đến đó làm gì ?

– Lúc con đến đón cháu thì đã thấy chị ấy đến trước rồi. Chị ấy bồng thằng Vinh từ trong sân trường đi ra. Con định đến nạt bảo thằng Vinh bước xuống đi, nhưng… nhưng thấy mắt chị ấy đỏ hoe, con không nói gì. Con chỉ nhắc buổi hẹn chiều nay.

Mẹ chàng hạ thấp giọng rất khó nghe, gần như thì thào :

– Nó… nó đến một mình hay với…với…

Em gái chàng đáp nhỏ :

– Không đi một mình. Cái thằng cô hồn lắm! Người với ngợm! Mặt mày đăm đăm. Chị ấy vừa ghé ngồi lên yên sau nó đã rú ga phóng đi, làm chị ấy suýt té. Thằng Vinh sợ quá kêu Má! Má!.

Chàng không thể chịu đựng thêm nữa. Chàng ngồi xuống ghế, đưa hai tay bịt tai lại. Tiếng lùng bùng âm u cùng với sức ép lên thái dương phần nào lấn át nỗi đau của chàng. Lúc tĩnh tâm trở lại, chàng nếm thấy vị nước mắt mằn mặn ở đầu lưỡi, và thằng Vinh con chàng đang kêu khóc : “Của Má cho Vinh mà! Trả lại đây. Trả lại đây!”.

Em gái chàng quát lớn :

– Từ đây về sau, cấm không được nhận gì của nó nghe chưa! Nó không xứng là má mày nữa! Không được kêu Má.

Con chàng nín khóc. Có lẽ nét mặt cô nó dữ dằn quá, thằng bé đâm sợ hãi. Lạ một điều là mẹ chàng không nói gì để an ủi cháu. Sau bếp hoàn toàn im lặng. Chàng lắng tai chờ. Chờ. Chờ. Chàng giật thót cả người khi có tiếng xe Honda ngừng nổ ngay trước cổng.

***

Đôi mắt mờ yếu sau sáu năm học tập cải tạo, cộng với nắng loá bên ngoài khiến chàng hoang mang không nhận ra ai. Nhíu mày nhìn kỹ hơn, chàng yên1òng, nhờ bám vào hai điều: thứ nhất, khách mới đến không phải đàn bà, và dù khuôn mặt khách có nhoè đi, chàng vẫn ghi nhận được vệt trắng của một hàm răng cười. Chàng nghĩ nhanh : “Nhất định không phải thằng đó rồi! Nó không dám cười với mình”.

Chàng nghe tiếng cười rổn rảng thật đặc biệt, mang máng nhớ giọng cười của một người bạn thân. Cùng lúc đó, khách hỏi lớn :

– Quên cả bạn bè sao cậu ?

Chàng không lầm được nữa. Đúng là Vui bạn chàng. Chàng mừng rỡ hơn cả nỗi mừng được gặp một người bạn cũ. Như vừa thoát khỏi một tai nạn chết người vào phút chót. Vui, bạn chàng cười hô hố, nhắc :

– Thì mở cửa cho người ta vào! Có phải công an khu vực đâu mà sợ!

Chàng rộn rã cả lòng, lật bật mở cánh cửa sắt mãi không được. Khi đứng qua một bên nhường chỗ cho bạn dắt xe vào sân, chàng hớn hở nói :

– Nghe giọng cười của cậu từ xa một cây số đã nhận ra cậu rồi. Nghe tin mình về hồi nào ? Ai cho biết? Cứ để đó, không cần khoá đâu !

Vui vẫn tiếp tục khoá xe bằng cái xích loại lớn, ngửng lên nói :

– Cậu chỉ cần nói một câu đó thôi, công an cũng đủ biết cậu là dân mới nhập cư trái phép. Ở đây lúc nào cũng phải kè kè theo bên mình một cái khoá. Bài học đầu tiên đấy !

Chàng mỉm cưởi không nói gì, quá quen thuộc với lối phóng đại khôi hài của người bạn cũ. Vui khoá xe xong, hỏi liền :

– Bà xã đâu rồi ?

Chàng giật mình, nhìn bạn ngờ vực. Chàng chuẩn bị để thủ thế. Nhưng hình như Vui chỉ hỏi để mà hỏi, nên không chờ chàng trả lời, bước trước một cách tự nhiên vào phòng khách. Gặp mẹ chàng, Vui liến thoắng ngay :

– Chào bác ạ ! Chắc bác không nhớ cháu ! Cháu là Vui, bạn học cùng lớp với Tịnh hồi còn ở Chu văn An. Một lần cháu có đến xin phép bác cho Tịnh đi học thêm toán, thực ra hai đứa hẹn ra nhà thờ Đức Bà ngắm các cô đi lễ. Bác thấy cháu hiền hậu ít nói, bác tin ngay. Bác còn nhớ không ?

Mẹ chàng biết ông khách chỉ muốn tếu cho vui, nên cười dễ dãi, đáp lại :

– Vâng, tôi nhớ.

Chàng vẫn khâm phục đức tính lạc quan và khả năng có thể biến mọi chỗ mình đến thành nơi ấm cúng, thân mật, cởi mở, ngay từ lúc ban đầu ngỡ ngàng của Vui. Ngồi chưa ấm ghế, Vui lại hỏi :

– Bà xã đâu ? Đem trình diện coi. Mày thật tệ. Cưới vợ mà không thèm gửi cho tao lấy tấm cạt báo hỉ. Hồi 74 tao ở Tổng tham mưu, mày hay về Sài gòn họp chẳng lẽ không nghe ai nhắc đến tên tao ?

Một lần nữa, chàng bỏ thế thủ. Lối chuyển sang xưng hô mày tao chứng tỏ vui hỏi thành thực, không có hậu ý. Chàng liếc nhìn mẹ trước khi đáp :

– Bà xã mình vừa đi đâu đó. Chắc ra chợ.

Vui cười lớn, hỏi liền :

– Lại chợ trời chứ gì ? Đúng là cái nghề thời đại. Hay nói theo cách bây giờ, cái nghề mang tính quần chúng. A ha! Đàn bà lăn lóc ở chợ trời, còn đàn ông thì lui cui nội trợ.

Mẹ chàng thấy vui, chen vào hỏi :

– Cậu có phải đi học tập không ?

– Thưa có chứ ạ.

– Về lúc nào ?

– Cháu may mắn hơn Tịnh. Về từ 78.

– Thế từ đó đến nay làm gì ? Có chỗ nào kiếm đủ tiền mua gạo, cậu rủ thằng Tịnh theo với !

Vui đáp liền :

– Thưa cũng có đấy. Chỉ sợ bác không thích thôi !

Mẹ chàng vui mừng hỏi :

– Nghề gì vậy ?

– Nghề chà đồ nhôm, bác ạ.

– Ờ ! Nghe nói hiện nay ngành làm đồ nhôm khá lắm. Cháu làm ở tổ hợp hay xí nghiệp quốc doanh ?

Vui cười lớn :

– Xin lỗi bác,cháu chỉ đùa thôi. “Chà đồ nhôm ” là “chôm đồ nhà ” . Nghề của cháu là mỗi sáng chờ vợ đi làm xong, đi ra đi vô tính lui tính tới xem nên lén vợ lấy thứ đồ đạc nào bán được giá, mau mắn, mà vợ không dễ nhận ra. Phải có tí tiền còm hút thuốc và uống tách cà phê dỏm chứ bác !

Cả nhà cùng cười. Mẹ chàng yên tâm, bỏ đi ra phía sau. Có lẽ bà nhận thấy khỏi cần phải ở lại để giúp chàng đương đầu với những nỗi khó khăn. Chỉ còn hai người trên phòng khách. Vui thôi đùa cợt, nhìn quanh phòng nói :

– Căn phòng này cũng mang tính thời đại. Trống trơn, đúng là chỗ dành cho những khách qua đường. Nơi tạm trú!

Chàng thấy đau nhói ở tim. Chàng trầm ngâm một lúc, rồi hỏi bạn :

– Hồi cậu về, việc xin giấy tờ có rắc rối như bây giờ không ?

– Giấy tờ gì ?

– Chắc vẫn bấy nhiêu giấy. Như đơn xin tạm trú.

– Tạm trú ở đâu? Hồi 78, tụi này có được về Sài gòn đâu!

– Thế cậu về chỗ nào ?

– Đi thẳng khu kinh tế mới.

– Cậu có đi không ?

– Cậu hỏi gì kỳ ! Người ta lũ lượt kéo nhau về nằm đầy trên sân ga, vỉa hè, mình điên hay sao mà lên.

– Cậu dám ở lì ở Sài gòn à ?

– Còn cách nào khác đâu ! Mình tự cấp giấy phép. Thuộc loại thường trú ? Không. Thuộc loại tạm trú ? Không. Mình thuộc loại đặc biệt: Loại tự trú. Bây giờ hình như khá hơn thì phải.

– Hình như thế. Đầu tiên cho tạm trú ba tháng để tìm việc làm ở ngoài thành phố. Phải làm đơn xin, nộp cho “cơ quan quản lý người đi học tập cải tạo về” ở đường Phan Thanh Giản. Đơn phải có chữ ký chấp thuận của chủ hộ. Thật oái oăm! Phải xin tạm trú ngay trong căn nhà của mình !

– Thế ai đứng tên chủ hộ?

Chàng do dự trước khi đáp :

– Vợ mình !

Vui tưởng chàng giả vờ do dự để khôi hài, phá lên cười :

– Vậy là phải xin phép bà xã cho tạm trú. Phái nữ lên chân quá lắm ! Chuyến cậu có ai quen được về cùng không ?

– Tất cả 78 người, ở rải rác từ Huế trở vào. Đến ga Bình Triệu chỉ còn 9 mạng. Toàn lạ cả. Có thằng Sửu không biết cậu có quen không ?

– Sửu nào ?

– Chắc cậu không biết đâu ! Bên hải quân. Chính nó hôm 2 tháng 5 còn lái tầu từ Singapore đem về nộp cho nhà nước. Tiếp đón linh đình lắm, sau đó…

Vui chợt nhớ, cắt lời chàng :

– À, nghe nói thằng Hiển Gà Tồ cùng học một chỗ với cậu, đã về chưa ?

Chàng ngửng lên nhìn bạn, hơi ngờ vực. “Vui chưa biết tin sao ?”. Chàng e dè trước khi hỏi :

– Cậu không biết gì à ?

– Chuyện gì thế ?

– Nó chết rồi !

– Thật sao ? Không nghe gia đình nó nói gì cả. Hôm kia còn gặp con em gái nó ra chợ Tân Định mua cốm dẹp, mì khô, thuốc lào… để gửi đồ thăm nuôi…

Chàng xác nhận ngay cho Vui khỏi dài dòng :

– Nó ở cùng chỗ với mình. Treo cổ tự vận cách đây một tháng.Vui kinh ngạc kêu lên :

– Việc gì phải thế ?

– Bạn bè cũng nghĩ vậy. Nhưng về sau thấy nó biến đổi khác thường. Nói xuống tinh thần thì không đúng hẳn, hình như đột nhiên nó tìm ra được một chân lý nào đó. Nó ăn, ngủ, nói, cười bình thường, tinh ý lắm mới thấy nó hay bàn về cách chết. Nó chê cách ngậm nòng súng lấy chân đạp cò của Hemingway là yếu. Nó cũng chê cách đứng lên chồng sách đưa đầu vào thòng lọng của Tam Ích là quá “sách vở”. Cả hai còn yếu đuối, sợ sệt, phải tự đặt mình trước sự đã rồi. Đạp vào cò súng hay đu người đẩy ngã chồng sách, chỉ cần tí xíu can đảm trong cái tích tắc. Anh em chán, chê nó lập dị. Không ngờ nó đang dự tính cách chết mạnh cho mình.

Vui hấp tấp hỏi :

– Nó chết cách nào ?

Chàng cố dằn xúc động bằng cách kể thật chậm :

– Nó chọn cách thắt cổ. Nó lén xé quần đùi bện thành dây thòng lọng. Cậu biết đấy, mái láng trong trại thấp lắm. Nó lại phải tự vận ở ngoài láng, nên cột được dây vào đầu kèo, nút thòng lọng thấp đến ngực là cùng. Thế mà nó vẫn tự vận được. Cậu thử tưởng tượng, muốn chết, nó phải dùng bao nhiêu sức mạnh ý chí để co hai chân lên ! Và làm sao sức mạnh ấy, ở chỗ giáp ranh sống chết, có thể thắng được phản xạ tự nhiên của bản năng sinh tồn .

Vui lặng người bần thần, một lúc lâu mới hỏi :

– Chắc họ chửi bới tùm lum ?

– Có, nhưng không nặng nề như các vụ đào thoát. Sau khi chôn Hiển, cả trại nặng trĩu như một nhà mồ. Không khí đột nhiên thê lương u ám hẳn, tuy khoảng đó trời rất đẹp. Ban giám thị cũng nhận ra điều khác thường , nên tập trung toàn trại thuyết cho một hồi. Vẫn bấy nhiêu. Hèn nhát. Trốn trách nhiệm. Kỳ cục nhất là cái tội “tự vẫn để trốn học tập cải tạo ” !

– Thật thế à ? Rồi tụi mình phản ứng ra sao ?

– Nghe đến câu “hèn nhát tự vẫn để trốn học tập cải tạo”, anh em cười ồ. Rừng dội tiếng cười vang xa, giữa đêm tối. Thật vừa bi tráng vừa khôi hài !

Vui lắc đầu, như không muốn dây dưa đến chuyện đau lòng.

Bạn chàng hỏi :

– Sao giọng cậu kể chán chường như của một người cùng cảnh ngộ ? Cậu có chuyện gì không vui? Ban đầu mới về, ai cũng thế. Ở trong đó, mình yên tâm hơn, thế mới ngược đời. Biết gia đình khổ, nhưng chữ KHỔ chung chung, trừu tượng. Về nhà, chữ KHỔ hiện ra cụ thể, chi li, ngay trong mắt vợ con, anh em… Mình cảm thấy hụt hẫng, hơi tiêng tiếc. Cảm thấy hoang mang không biết làm gì với cái tự do mình chờ đợi bao nhiêu năm. Có phải cậu đang ở trong tâm trạng đó không ?

Chàng cảm động, biết Vui có thiện chí an ủi chàng, đem những kinh nghiệm của ba năm được tự do trước chàng ra để ngừa giúp bạn những thất vọng, những tiếc nuối… Đi xa hơn, Vui còn muốn tìm cách hướng câu chuyện sang phía có tiếng cười. Vui nhìn quanh, tìm đề tài. Bắt gặp hình đôi chim vành khuyên rỉa lông cho nhau trên tấm sáo trúc ở cửa ngăn, Vui hớn hở nói :

– Hơn nữa vợ chồng có nhau thì mọi sự êm đẹp hết. Lấy kinh nghiệm vợ chồng mình, mình biết. Có thể nói là ba năm nay, tụi này rất hạnh phúc. Luật bù trừ chăng ? Có thể lắm ! Cậu còn có… nhưng ơ kìa, sao lâu quá bà xã cậu chưa về? Này, hình như cậu có khách thì phải! Hồi mình mới về cũng thế, khách khứa lu bù. Hình như bà ta muốn hỏi thăm gì đấy, vì lúc nãy thấy lấp ló một lúc, ngập ngừng định gõ cửa, rồi lại bỏ đi. Bây giờ bà ta trở lại. Thôi, cho mình về.

Chàng hốt hoảng kéo áo Vui:

– Không, cậu cứ ngồi chơi.

Chàng đoán không sai! Vợ chàng đã đến.

***

Chàng vét hết sức mạnh của ý chí, thu được có thể không thua sức mạnh co đôi chân lên ở biên giới sống chết của Hiển, để trấn tĩnh. Giờ phút nghiêm trọng đã đến ! Chàng nấn ná, không dám ra mở cửa. Em gái chàng, nặng nề, chặm rãi đi từ sau bếp ra cổng trước để mở cửa cho chị dâu.

Vợ chàng vào sân xong, em gái chàng dập thật mạnh cánh cổng sắt. Hình như vợ chàng có nói cảm ơn, nhưng chỉ có tiếng chân bước thình thịch của Bích ở hẻm phụ đáp lại. Không thể trốn tránh được nữa, chàng đứng dậy. Tiếng guốc ngập ngừng, rồi dừng lại ở cửa lớn. Chàng tiến thêm hai bước. Vợ chàng gầy ốm hơn chàng tưởng. Đôi vai so trong chiếc áo dài mầu hoa cà có in hoa trắng trang nhã, quà chàng tặng vợ sau một chuyến đi xa. Da mặt nàng tái xanh, hai bên má phơn phớt hồng. Vợ chàng có thói quen dùng sáp môi xoa một lớp mỏng lên hai bên má thay cho phấn, và ngay từ ban đầu, chàng nhận thấy nàng vẫn còn giữ thói quen cũ.

Có lẽ trước khi đến gặp chàng, nàng điểm trang vội nên một vệt son còn rõ ở má phía trái. Chàng chú ý nhất đến đôi mắt vợ. Đôi mắt hớt hải, ngượng ngùng, chới với, giống y đôi mắt Sonia trong tranh bìa cuốn tiểu thuyết Crime et Chatiment của nhà xuất bản Marabout nàng mua tặng chàng hồi còn học ở Văn khoa. Chàng cảm thấy thương hại, chứ không thù hận nàng, như chàng đã chuẩn bị để thù hận từ buổi sáng.

Vợ chàng dừng lại ở chỗ ngạch cửa, chờ chàng tiến đến. Chàng bước thêm hai bước nữa, chỉ còn cách nàng không đầy một thước. Nàng liếc nhanh nhìn chàng, rồi cúi xuống nhìn chiếc guốc phải đang di di trên nền xi măng loang lở, nói nhỏ trong hơi thở :

– Em xin đến thăm con !

Chàng xúc động đến ngộp thở. Bắt gặp cái nhìn đầy ngỡ ngàng tra hỏi của Vui, chàng vội nói :

– Em vào chào anh Vui đi ! Bạn cũ của anh hồi cùng học ở Chu văn An. Nhà tôi đấy, Vui ạ!

Vui reo lên mừng rỡ :

– Thế à! Té ra chị. Nãy giờ tôi cứ tưởng một cô dâu mới về nhà chồng. Chị tưởng tôi là công an khu vực đến “làm việc” với thằng Tịnh hay sao mà đi thẳng một lúc mới quay lại? Giá cả chợ búa hôm nay ra sao hở chị ?

Vợ chàng ngợ đi một lúc, nhưng ngay sau đó, hiểu rằng người bạn chưa biết cảnh ngộ éo le của hai người. Có thể trước lúc nàng đến, Tịnh đã phải nói dối nhiều điều về mình. Câu chuyện bịa đặt có liên quan đến chợ búa, giá cả. Nhanh trí, nàng lấy giọng tự nhiên đáp :

– Chán lắm, anh ạ. Giá cả cứ lên vùn vụt. Một nải chuối tuần trước 50 đồng, nay lên 80. Nghe nói xăng dầu khan hiếm không có xe chở về. Trên Long Khánh chuối để chín ối mà dưới này đắt như vàng .

Vui tự nhiên như chủ nhà, lên tiếng mời :

– Chị ngồi xuống đây đã. Không. Ngồi bên thằng Tịnh cho bõ những ngày xa cách. Gần hơn nữa. Đấy đấy. Được rồi! Chị có thấy nó được “cách mạng ” cưng chìu quá đáng không? Chỉ lo ăn rồi học tập, nó chậm hiểu, học mãi hơn sáu năm mới thuộc bài! Tệ quá!

Nàng bật cười, quên cả ngại ngùng. Mẹ chàng, có lẽ kinh ngạc vì sự vui nhộn không hợp cảnh, vén tấm sáo nhìn ra phòng khách. Vui không bỏ lỡ cơ hội, nói ngay :

– Cháu vừa bảo Tịnh học bài lâu thuộc quá, một bài ngắn học những hơn sáu năm. Về đây bù khú vợ con, sợ lại quên. Công an khu vực, công an quận, công an sở sẽ đến khảo bài đều đều. Phải thế không bác ?

Thêm một người nữa bị buộc phải đóng kịch! Mẹ chàng cười, hỏi nàng dâu :

– Con mua thứ đó có được không ?

Nàng lễ phép đáp :

– Thưa mẹ, họ đòi giá cao quá. Con hẹn chiều mới trả lời mình có lấy hay không.

Mẹ chàng trề môi :

– Hàng ôi hàng thôi mà cũng làm giá! Đã ngã giá rồi, hẹn hai giờ chiều tới lấy, bây giờ còn nói hàng hai.

Vừa lúc đó, con chàng chạy về. Nó trố mắt nhìn mẹ, rồi phóng đến ôm chầm lấy nàng. Giọng thằng bé thảng thốt :

– Má, má ! Má về luôn hở má ?

Mẹ chàng mắng át :

– Vinh, nhà có khách không được hỗn. Đã vòng tay thưa bác chưa ?

Thằng bé tuân theo lời bà nội như cái máy, rồi lại sà vào lòng mẹ. Nó hỏi dồn:

– Má ở với con luôn nha má ! Cô Bích lấy mất con khỉ nhựa má cho con rồi. Đòi lại cho con nha má !

Vui vuốt má con chàng, nhận xét:

– Cháu nó làm nũng với má quá nhỉ. Gớm, má mới đi một chút đã sướt mướt thế kia.

Chàng liếc nhìn mẹ, e ngại. Vợ chàng tận dụng cơ hội, ôm lấy con hôn lấy hôn để. Vừa hôn, nàng vừa khóc :

– Con tôi hư quá. Để mũi chảy thò lò thế này! Khăn của con đâu? Mất rồi à? Má sẽ mua cho con cái khác. Nhưng con phải nhớ lấy kim băng ghim vào ngực áo nghe chưa. Ừ, làm như lũ bạn con đó. Lúc cần, đưa lên lau mũi như thế này, tiện biết mấy. Chiều về đưa cho má, à quên, đưa cho nội hay cô Bích giặt giùm cho. Nào, hỉ mạnh đi, mạnh nữa. Đấy, được rồi, chùi nhẹ thôi, mạnh quá đỏ cả mũi.

Giọng mẹ chàng nghiêm khắc, dứt khoát hơn :

– Vinh, đứng dậy ra sau bếp rửa mặt mũi cho sạch đi. Đã bảo đứng dậy. Không được mếu! Con thả tay cho nó đi, cưng riết nó hư lắm. Nghe nội nói đây: Con rửa mặt sạch sẽ, rồi nói cô Bích đưa tiền qua bà Tám mua cho nội gói thuốc Hoa Mai. Nhớ thưa gửi đàng hoàng. Thưa bà Tám nhà con có khách, bà Tám bán cho nội con một bao Hoa Mai thứ thiệt.

Con chàng líu ríu vâng lời. Thằng bé đi rồi, vợ chàng chới với không biết phải làm gì, như vừa mất chỗ tựa cuối cùng khiến cuộc đời trở nên chênh vênh. Vui lại nhận xét :

– Trông chị khổ sở quá !

Mẹ chàng vội nói :

– Trời ơi, thật vô ý vô tứ quá chừng! Khách đến từ lâu mà thằng Tịnh không bảo đi pha nước.

Vui can :

– Bác cứ để cháu tự nhiên. Cháu không khát đâu.

Mẹ chàng không trả lời Vui, nghiêm mặt bảo vợ chàng :

– Con xuống xem nước đã sôi chưa. Lấy trà Tam Thai ở trong cái hộp thiếc vuông ấy.

Nàng hiểu ý mẹ chồng, đứng dậy đi xuống bếp. Tấm sáo kêu lách cách một lúc rồi im.

Vui bắt đầu cảm thấy có cái gì không được tự nhiên xảy ra trong gia đình này. Trong cách liếc dò chừng của Tịnh, cách săn đón thái quá hay cứng rắn thái quá của bà nội che giấu một điều bất thường. Vui cảm thấy thừa thãi. Bạn chàng đưa tay nhìn đồng hồ. Ba giờ kém năm. Đoán được ý Vui, chàng khẩn khoản :

– Hãy nán lại ít lâu nữa. Chờ uống nước đã.

Thấy bạn vẫn chưa lấy lại được vẻ thoải mái ban đầu, chàng cố tìm cách phân bua:

– Thằng bé được má nuông chìu, đâm ra yếu đuối. Kể cũng tội. Lúc mình đi trình diện, nó còn nằm trong bụng mẹ. Hôm mình về, nó không cho bồng. Nội đẩy mãi, ép phải hôn ba. Nó sợ hãi, mắt hớt hải như mình là ông kẹ không bằng. Nội khuyến khích “Ba con đấy. Hôn ba đi. Ngoan lên, ngoan nào!’. Nó tiến vài bước, lại dừng. Mình phải tiến gần hơn, ngồi xuống, giơ sẵn má để chờ. Cậu biết không, nó đến sát mình, run lẩy bẩy thật tội nghiệp. Và vào lúc bất ngờ nhất, nó tát cho mình một cái, rồi khóc oà. Dỗ thế nào cũng không nín, kêu mãi “Má ơi, má ơi !”.

Chàng bị chính lời chàng kể cuốn hút. Chàng xúc động, cảm thấy vừa thương hại mình, vừa ghen tức vợ. Khi nàng bưng khay nước trà bốc khói lên mời Vui:

– Anh xơi nước ạ.

rồi bưng tách nước thứ hai đến đưa cho chàng, chàng không đưa tay nhận.

Nàng yên lặng, kiên nhẫn chờ. Chàng ngước lên, và lần đầu tiên, thấy trong cách nàng mỉm cười, trong ánh nhìn mời mọc âu yếm, có cái gì đĩ thõa tráo trở. Lòng chàng sôi lên hận thù. Phải, nàng đã nhìn hắn hằng trăm lần, hằng nghìn lần một cách mơn trớn vuốt ve như thế, có thể còn mơn trớn vuốt ve hơn lúc này nữa. Bây giờ, chàng thấy lối trang điểm vội vàng qua loa là dấu hiệu sự chểnh mảng, xem thường. Đi với hắn, nàng có dám trang điểm cẩu thả thế đâu! Nàng còn cả gan mặc chiếc áo tím hoa cà ngày xưa ! Thêm thái độ tự tung tự tác của người chủ nhà nữa chứ! Không, nói đúng hơn là chủ hộ. Nàng nắm đằng cán. Nắm vận mệnh của đời ta. Không có chữ ký chấp thuận của nàng, chàng thành kẻ vô sở trú, không nhà cửa, không nghề nghiệp, lang thang đầu đường xó chợ. Càng nghĩ, hận thù càng dâng trào.

Bàn tay bưng tách nước của nàng bắt đầu run. Mọi người, kể cả Vui, đều chăm chú quan sát thái độ chàng. Đã đến giờ phút của sự thật. Chàng ngồi im không nhúc nhích. Vợ chàng mất kiên nhẫn, nhưng cố bình tĩnh đặt tách nước xuống bàn, ngay trước mặt chồng. Vui vội đứng dậy nói :

– Mình quên có cái hẹn lúc ba giờ. Bây giờ đã 3 giờ 15 rồi. Thôi xin phép bác cháu về. Hôm nào rảnh đến chơi, nhé Tịnh. Vẫn ở chỗ cũ. Xin phép chị.

Không ai lưu khách lại. Và khi cửa cổng khép, căn nhà chàng trở thành tầng đầu của địa ngục.

***

Chỉ còn hai vợ chồng ở căn trước. Bích đã dẫn cháu đi mua thuốc lá, và theo lời mẹ dặn, cố ý nấn ná đâu đó chờ chị dâu đi ra khỏi mới được trở về. Mẹ chàng lui ra sau bếp sau khi đặt trước mặt hai vợ chồng tờ đơn xin tạm trú viết sẵn và cây bút bi mở nắp. Cả hai hiểu ý nghĩa của hành động đơn giản ấy. Mẹ chàng muốn nói gọn : “Ký vào đây, rồi cút đi cho khuất mắt”.

Ban đầu, chàng cũng mong ước như mẹ, nhưng khi thấy vợ chàng nhìn theo mẹ chồng nước mắt doanh tròng, chàng bùi ngùi thương hại. Chàng không nỡ. Chàng biết đằng sau tấm sáo in hình đôi vành khuyên rỉa lông cho nhau, mẹ chàng không bỏ sót một lời thì thào, một cử chỉ nhỏ nhặt nào của hai người. Nhưng chàng không thể tàn nhẫn. Hận thù lại tan dần, thay thế bằng lòng thương hại. Chàng đẩy tách nước về phía vợ, mời nho nhỏ bằng câu hỏi :

– Em có khát không ?

Nàng ngước lên bỡ ngỡ, và khi nhận ra nét mặt dịu dàng của chàng, nàng vui mừng nói:

– Em không khát.

Nàng trầm thêm giọng :

– Em không dám oán trách ai cả. Em đáng kiếp. Anh hiểu cho em được chút nào, em cảm ơn anh chút ấy. Anh ghét bỏ, hay từ chối như lúc nãy, em cam chịu.

Nàng thút thít khóc. Chàng thấy khó xử, không biết phải làm gì. Nếu bình thường, chàng đã choàng tay ôm lấy vai nàng, ấp cái đầu nhỏ tóc thơm mùi chanh vào ngực và tìm ngay một câu khôi hài. Bây giờ thì… làm thế nào đây? Chàng đâm bực bội, giọng hỏi hơi xẳng:

– Nhưng tại sao các người lại giấu tôi cho tới phút chót? Làm như vậy có ích gì ? Thà cho tôi biết ngay từ hai năm trước, để hôm về, trời không đổ sập lên đầu tôi. Làm như vậy là lừa dối tôi tới hai lần. Phải thương hại tôi một chút chứ!

– Em có định tâm dối anh đâu!

– Thế sao mỗi lần gửi đồ thăm nuôi đều có thư của cô ?

– Em thương con quá. Xa con, em đứt cả ruột.

– Chuyện đó ăn nhập gì đến chuyện này? Nếu nghĩ đến con từ đầu, nếu thương con, cô đã… cô đã…

Chàng nghẹn lời, không dám nhắc đến điều đau lòng. Nàng cũng sợ, vội nói:

– Mẹ cấm em không được gặp con. Về sau, phải đi với cô Bích gửi quà ra cho anh, viết cho anh vài dòng, em mới được dẫn nó đi chơi sở thú vài giờ.

Chàng chua chát :

– Hoá ra những lời lẽ trong thư – tôi còn giữ đủ đem về đây – đều do mẹ tôi cưỡng ép cô viết cả. Tội nghiệp tôi cả tin.

– Không phải thế. Em muốn viết cho anh nhiều hơn, muốn anh mắng chửi em, chà đạp em…

– Không dám.

Nàng khựng lại, nhìn chàng dò dẫm. Thấy khuôn mặt chàng không có gì khác thường, nàng tiếp :

– Em van anh, cho em được đến đây thăm con. Cho em…

Chàng cắt lời nàng :

– Chỉ sợ đến một lúc nó không chịu gặp cô nữa thôi!

Nàng lịm người vì sợ hãi bất chợt. Lần đầu tiên nàng nghĩ đến cảnh huống đau xót ấy. Tưởng nàng không tin vì quá tự tín, chàng nói dỗi :

– Vả lại, cần gì cô phải xin. Cô là chủ hộ. Cô muốn làm gì trong nhà này chẳng được.

Nàng mím môi lại. Không nói năng, nàng chụp lấy cây bút bi, ký vào phần ý kiến của chủ hộ. Cây bút bi để lâu ngày không ra mực, nàng phải di di đầu bút lên lòng bàn tay nhiều lần. Chữ ký của nàng run rẩy. Nét gạch bên dưới không được ngay, trông giống như một chữ ký giả mạo.

Chàng lấy giọng khách sáo :

– Nhờ cô mà tôi được tạm trú trong nhà mình. Cảm ơn cô.

Phần nàng, nàng trở lại van lơn :

– Em van anh, cho em được ở tạm đây với con đến sáng mai. Em ao ước được ôm con ngủ trọn một đêm. Em van anh!

Giọng nàng rạn đi, pha lẫn nước mắt. Chàng cảm động, nhưng vẫn cố cứng cỏi :

– Tại sao lại xin tôi? Xin một người tạm trú để được tạm trú? Có ai xin phép một khách qua đường để ngủ tạm trong cái quán trọ?

Nàng tưởng đó là lời từ chối khéo léo nhưng dứt khoát. Nàng khóc nức nở. Chàng đâm hối hận, muốn ôm lấy vai nàng, muốn nói điều gì đấy để an ủi. Nhưng cổ họng chàng nghẹn. Rụt rè do dự mãi, đến lúc không thể dằn được, chàng run run đưa lưng bàn tay lên gạt nước mắt trên má nàng. Ban đầu, hình như nàng chìm đắm trong nỗi thống khổ da diết, không hay biết gì. Về sau, nàng hiểu thiện chí của chàng. Nàng càng nghẹn ngào hơn, đưa hai bàn tay ôm bàn tay chàng, gượng nhẹ, như e sợ nắm phải một điều gì không thực.

Có tiếng tằng hắng đằng sau tấm sáo. Rồi tiếng trúc va vào nhau lách cách. Mẹ chàng ngơ ngác nhìn hai người. Tấm sáo trúc bị rẽ đôi, đôi vành khuyên đang rỉa lông cho nhau xao động biến dạng không còn hình thù gì nữa…

Nguyễn Mộng Giác

Hương Xưa

Em về bến ấy cho tròn mộng
Ta ở nơi này, dở cuộc say
Ngày mai, ai biết ra sao nhỉ
Thôi cứ một đời như cỏ cây

Em đi về phía chân trời lạ
Mây có còn xanh như chốn xưa
Ta lìa phố chợ về thăm núi
Ngày ngắm mây trời, đêm thắp sao

Học đời sông cứ trôi vô lượng
Học suối vô tâm chẳng biết buồn
Học núi ngàn đời không đổi khác
Học rừng muôn thuở tính bao dung

Em qua mấy bến bờ xa lạ
Có để buồn vương nơi bến sông
Chim bay để bóng rơi sông lạnh (*)
Gió thổi- sương rơi – bóng nhạt nhòa

Chim ơi, thôi cứ bay xa nhé !
Đừng nhớ chốn này chim đã qua
Còn ta ngồi ngắm mây ngang núi
Chợt nhớ một mùi hương đã xa !

Trần Hồ Dũng 

ÁO TÍM

Sách vở đầy tay em rất ngoan
Mơ thật xa-mà mộng thật gần
Áo tím phải chăng vì thu tím ?
Hay nắng hồng phai mắt biếc buồn

Anh lỡ tương tư ngày mới lớn
Tình xanh như phiến lá non tơ
Hồn nhiên là lúc em chớm vội
Giấu thương trong ngực-nhớ trong lòng

Hàng cây cơm nguội hoa nở muộn
Thơm suốt con đường nhịp guốc êm
Tóc phủ vai gầy em áo tím
Chầm chậm anh theo hết nửa đời

Nửa đời kia anh tập làm thơ
Thơ có khác chi sóng vỗ bờ
Nhè nhẹ len vào tim thiếu nữ
Chút phù sa ngọt mật một thời

Một thời sau nữa xa vời vợi
Chim hót bên sông tiếng ngậm ngùi
Em đi bỏ lại sân trường cũ
Vuông lớp- hành lang- con bướm xưa

Anh đứng bao năm sầu ngóng gió
Đem mưa về cố xứ mùi hương
Mới hiểu quê người em vẫn đợi
Mùa thu biền biệt phấn thu vàng

Mùa thu áo tím qua ngõ vắng
Nhịp guốc em khua đã lâu rồi
Vẫn còn văng vẳng trong ký ức
Sóng sánh tình yêu thuở dại khờ

LINH PHƯƠNG

Một chuyến lãng du

Sau hai tuần du ngoạn bằng thuyền qua Bắc Hải, chúng tôi bắt đầu chuyến đi riêng của mình: xuyên Âu Châu bằng xe lửa để đến địa điểm cuối là Paris trước khi về Mỹ.

Từ thuở nhỏ, mộng tang bồng bị gieo vào trí óc do cha tôi và những cuốn sách du ký, các cuốn báo”Thế giới tự do” ông mang về nhà cho con cái đọc. Vì thế, bây giờ có ai trách rằng tại sao tôi đi chu du thế giới mãi thì tôi đổ lỗi cho ông già. Lúc còn trẻ tuổi, tôi mơ ước một ngày nào đó, mình được đeo ba lô, nhảy xe lửa nhẩn nha trôi qua những con đường làng, những thành phố nhỏ của Châu Âu, tự do như một đám mây. Lần này, tuy không còn trẻ nữa, thế nhưng tôi cũng như một đám mây, lại phiêu bồng trong mùa xuân mới của Châu Âu.

Tallinn old town Estonia

Từ Copenhagen, tôi và Tuấn đáp xe lửa Deutsche Bahn Intercity Express về Hamburg. Xe lửa Âu Châu thoạt đầu thì có vẻ phức tạp vì trạm xe lửa tại các thành phố chính rất rộng lớn, chia ra nhiều tầng nhiều nhánh, có tầng toàn là tiệm ăn, tầng khác là các tiệm bán áo quần, mỹ phẩm, giày dép, đủ mọi thứ cho các bà ưa thích mua sắm. Ngoài những tầng khác còn dùng để đậu xe; đường rầy cũng nằm nhiều tầng khác nhau. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào những chi tiết trên vé hoặc ghé lại các quầy chỉ dẫn là bạn sẽ tìm được chuyến xe của mình, toa nào mình sẽ lên và cả số ghế nếu có đặt chỗ trước. Trong trạm xe có nhiều bảng điện tử liệt kê giờ giấc khởi hành, xe chạy đúng giờ nên hành khách không phải chờ lâu. Chỉ có những du khách như chúng tôi, khi nào cũng ráng đến sớm cho chắc ăn vì dù sao mình cũng đang đi thám hiểm xứ lạ quê người. Hành khách tại vùng Bắc Âu rất lịch sự, không dành nhau hoặc chen lấn, đàn ông tôn trọng phụ nữ nên hay nhường bước cho các nàng. Trái lại, thấy ông xã tôi hai tay kéo hai cái hành lý lớn, anh lúng túng khi phải bước xuống thang cuốn; một cô gái trẻ, da nâu, tóc vàng thật xinh đã khiêng hộ anh một valise. Dễ thương quá chừng!

Trên đường qua Hamburg, cảnh đồng quê thật xanh tươi vì đang mùa xuân, những cánh đồng vàng hoa Colza (hạt dùng ép ra dầu Canola) nở rộ xen lẫn giữa màu xanh của lúa mì hoặc các loại cây xanh đang đơm chồi nẩy lộc. Những cánh đồng Canola là phong cảnh của Bắc Âu và Đức xưa nay, ai cũng thích màu vàng tươi thắm này và nhiều du khách hay chọn mùa xuân để đi thăm cảnh đồng quê Châu Âu khi hoa rộ nở, cùng lần với các loại hoa xuân khác như hoa Uất Kim Hương, hoa Anh Túc, hoa Đỗ Quyên, Hoa Sơn lựu (Rhododendron), …

Cánh đồng xuân

Vì phải xuyên qua biển, tàu lửa chui vào một chiếc phà khổng lồ, trên phà có đường rầy, ngay bên cạnh những xe hàng lớn đã đậu sẵn. Vì sự an toàn, hành khách buộc phải lên tầng trên của phà 45 phút để hóng gió, ăn uống hoặc mua sắm nếu muốn. Tới giờ, họ sẽ báo hiệu cho khách trở xuống xe lửa để chạy tiếp. Tôi vác một cái ghế xếp, ngồi ôm máy ảnh, gác chân lên lan can phà, tha hồ chụp ảnh bến tầu lúc phà khởi hành rồi ung dung nhàn hạ chụp ảnh mấy con chim biển sà thật thấp trên đầu mong kiếm thức ăn. Chả mấy chốc, tàu lửa lại chạy ngang qua các cánh đồng rực rỡ, các thành phố nhỏ có từng khu nhà xinh xắn vây quanh một tháp nhà thờ cao vun vút. Chúng tôi ghé và ở lại Hamburg 3 ngày, sau đó lại ghé Cologne chơi 2 ngày. Đó cũng là những ngày rất thích thú mà tôi phải để dành cho một bài viết khác.

Từ Cologne, chúng tôi lên tàu Thalys để về Paris, xe chạy rất nhanh 300km giờ nên chỉ ba giờ mười lăm phút là tới Gare du Nord. Ngồi trên xe tôi cố gắng chụp ảnh những làng quê, các ga nhỏ và nhất là những graffiti đầy màu sắc trên các vách đá ven theo đường rầy, chỉ khi nào xe chạy thật chậm vào ga hoặc ngừng lại vài phút đón khách tôi mới có vài tấm hình rõ ràng, ngoài ra vì xe chạy quá nhanh, dù có để tốc độ máy thật cao tôi cũng bấm máy không kịp, mà có kịp chăng nữa thì hình ảnh cũng mờ nhạt, run rẩy!!!

Sau hơn ba tuần không được đi xe hơi riêng, chỉ thong dong như chim cánh cụt, hôm nay chúng tôi được chị Bích và anh Hóa ra tận ga đón về nhà. Ngồi trên xe cảm thấy thoải mái thật sự khi anh chạy ra khỏi trung tâm thành phố Paris. Khu vực quanh ga thật là hỗn tạp; người và xe cộ lúc nhúc ồn ào. Nghĩ tới chuyện bị phá hoại, tấn công, gài mìn lại càng bi quan nhiều về tình hình chính trị và người tỵ nạn tại xứ này. Trước ngày chúng tôi đi, con gái tôi lo lắng bắt viết xuống cả lịch trình của cha mẹ cho cháu cất giữ, có rủi ro gì còn biết ngã đi tìm. Chưa khi nào lũ con lại lo lắng như vậy khi chúng tôi lặn lội bốn phương trước những năm thế giới bị khủng bố, nhất là những biến động gần đây tại Âu Châu. Tôi và Tuấn thường hay biện luận rằng: nếu mình tới số thì ở nơi nào cũng chết cả, chi bằng được chết trong lúc mình đang sung sướng vui chơi.

Anh Hóa chở chúng tôi về nhà anh chị tại Torcy,nhà anh là chốn nương thân của chúng tôi trong 5 ngày tới. Torcy là một làng nhỏ về phía đông của Paris, cách trung tâm Paris 22km. Làng này có ngôi nhà thờ nhỏ rất xinh ngay giữa phố, bên kia đường là các tiệm cà phê, bánh mì, tiệm hoa… Trong làng có ba chợ Á Đông và tiệm ăn Việt. Tuy vậy, thức ăn ngoài tiệm không ngon bằng thức ăn Việt của chị Bích nấu ở nhà.

Nhà anh chị trồng rất nhiều hoa hồng, hoa tường vi và nhiều loại hoa đẹp. Hoa xuân nở rộ khắp vườn, có những cây hoa hồng đầy cả hoa, cao hơn hiên nhà, thơm ngát hương gió. Tôi cầm máy ảnh, len lỏi ngoài vườn tìm hoa để chụp; nào là mẫu đơn, uất kim hương, hoa chuông, tử la lan, hoa lồng đèn, hoa ti gôn, hoa quỳnh, hoa giấy, hoa cẩm tú cầu và hoa diên vĩ, hoa đổ quyên, hoa lưu ly tím và còn nhiều loại hoa đẹp không kể xiết, mọc len lỏi trong vách, khe đá, bậc thềm. Phía trước nhà có cây hạt dẽ và cây anh đào, trái anh đào còn nhỏ xíu, xanh bóng như viên ngọc bích.

 

Căn nhà tại thành phố Torcy

Vì chúng tôi đã thăm nhiều danh lam thắng cảnh của nước Pháp và thành phố Paris trong những chuyến đi trước, chuyến này anh Tuấn muốn dành thời giờ để thăm viếng các anh chị họ và tiệc tùng yến ẩm với nhau để ôn chuyện ngày xưa. Tôi thì muốn đi thăm các làng của mấy ông họa sĩ lừng danh nên chúng tôi lập một thời khóa biểu cho cả hai mục đích.

Buổi chiều thứ nhất, anh chị dẫn chúng tôi đi bộ ra phố uống cà phê. Tôi xách theo vài máy ảnh, trong túi có thêm cái điện thoại di động để chụp hình gửi liền cho lũ con. Ai cũng phải chờ tôi vì tôi vừa đi vừa mê mải chụp ảnh các con đường cây xanh chạy song song thật xinh, công viên mát mẻ có các vòm hoa tuyết cầu dễ thương và ngôi nhà thờ cổ kính. Chị Bích thích chụp ảnh nên không nề hà, chỉ có anh Tuấn là hay nhăn nhó vì sợ mụ vợ mình làm phiền mọi người… như thường lệ vì tánh đam mê chụp ảnh. Dùng giải khát xong, chúng tôi đi bộ về, vì thấy tôi mệt, anh Hóa và Tuấn thương tình đi nhanh về trước, lấy xe ra đón hai bà vợ.

Mấy hôm nay thời tiết ở đây trở nên nóng ấm, buổi tối chúng tôi phải mở cửa sổ vì cần hơi gió, may mà không có muỗi nên không bị cắn. Sáng dậy vừa mở mắt tôi nghe tiếng ong bay vù vù, thì ra có một chú ong vừa mập vừa đen xâm nhập vào từ cửa sổ, sợ quá tôi vớ tấm khăn trãi giường trùm kín lên đầu. Sau khi bay mấy vòng do thám, chú ong thấy không có gì hấp dẫn nên bay trở ra ngoài. Mừng quá, tôi vội nhỏm dậy đi đóng cửa sổ, nhanh nhẩu quá nên lăn tòm xuống nền nhà, may mà cái giường chỉ cách mặt đất nửa thước nên tôi hạ cánh an toàn và nguyên vẹn. Đóng được cửa sổ rồi mới ngồi xuống ôm bụng cười khì.

Dùng điểm tâm bằng cà phê, bánh mì baguette, fromage, pâté và bánh ngọt chị Bích mới mua từ tiệm bánh đầu đường. Thật ra thì bên nhà tại California chúng tôi cũng thường ăn như vậy nhưng có một điểm khác là phải lái xe đi xa mới có bánh mì nóng mới ra lò, còn không thì nướng lại bánh mì đông lạnh. Cái thú khác biệt là ở Pháp hoặc Đức, mình chỉ cần tản bộ chút xíu ra phố là được ăn sướng như …Tây!

Van Gogh ngày tháng cuối

Hôm nay chúng tôi đi Auvers sur Oise (làng Auvers trên sông Oise), cách Torcy 65 cây số. Làng Auvers hướng Tây Bắc, ngoại ô Paris, cách Paris chỉ 35 cây số. Địa danh này liên hệ với một số họa sĩ nổi tiếng. Người được nổi danh và nhắc đến nhiều nhất là Vincent Van Gogh. Một họa sĩ tôi rất ngưỡng mộ , tranh ông vẽ chưng bày tại nhiều Bảo Tàng Viện khắp thế giới và có nhiều tấm giá có thể từ 80 đến 150 triệu US dollars.

Thời gian ông sống tại Auvers Sur Oise chỉ 3 tháng cuối đời, trước khi ông tự sát vì bệnh tâm thần ở tuổi 37. Trong thời gian này, ông đã vẽ 77 bức tranh.Tôi muốn tới đây để nhìn ngắm tận mắt những quang cảnh Van Gogh đã nhìn thấy quanh làng trong tháng 5 cho tới tháng 8 năm 1890. Khoảng thời gian ông đã vẽ những bức tranh linh động và màu sắc rực rỡ nhất, khi ông đang ở trong trạng thái xuất thần tột độ trước khi kết liễu cuộc đời mình bằng các viên đạn bắn vào ngực, trên cánh đồng lúa mì. Hai ngày sau ông lìa đời tại phòng trọ của mình tại Auberge Ravoux , căn nhà số 8 Rue de la Sansonne. Trước nhà trọ là tòa thị chính của Auvers, cơ sở này đã được Van Gogh vẽ lại trong một bức tranh, đến bây giờ là 127 năm vẫn không thay đổi.


Bờ Tường Vi

Từ đường Sansonne, chúng tôi rẽ vào con lộ nhỏ thoai thoải dẫn lên đồi. Tôi sung sướng ngất ngây vì cảnh đẹp, mê mải chụp hình các vách tường rêu mốc cũ xưa, dọc theo chân tường. Hoa diên vĩ tím nở hoa màu tím đậm, tím nhạt hay ngả sắc hồng; gợi nhớ bức tranh Irises (Paul Getty Museum). Tôi hình dung người họa sĩ với mái tóc đỏ hoe, ngồi sau giá vẽ, vạch lên khung vải những lằn sơn mạnh mẽ thắm tươi để lưu lại cho đời một mùa xuân miên viễn. Tôi cũng đi trên con đường theo bước chân ông, nhìn ngàn hoa đua nở trong tháng năm, nhìn những bức tường loang lỗ phủ đầy hoa hồng để nhớ luôn cả câu “bờ tường vi…” trong bài ca “Hà Nội ngày tháng cũ” của Song Ngọc. Quá khứ bao giờ cũng tuyệt diệu, thế nhưng Van Gogh càng tuyệt diệu hơn khi ghi lại được những hình ảnh của quá khứ bằng màu sắc hiện thực với tâm tư sôi động của mình. Ngợi khen nước Pháp đã bảo tồn Auvers như trăm năm trước để ngày hôm nay tôi được chiêm ngưỡng những cảnh thật trong tranh.

Nhà thờ Notre Dame tại Auvers

Nhà thờ Notre Dame của làng Auvers ngự trị trên ngọn đồi thấp, tuy vậy đứng trong sân nhà thờ có thể nhìn ra xa quang cảnh phố, mái ngói cổ kính và dòng sông Oise nước trong xanh phản chiếu màu lá cây hai bên bờ. Căn nhà thờ này cũng hiện diện trong một bức tranh, màu sắc cũng tương tự như cảnh thật. Phía bên phải của nhà thờ, tôi thấy một vạt hoa Oải Hương màu tím nhạt, thơm nhẹ trong gió, mấy con ong bay nhảy trong đám hoa, tuy sợ ong chích, tôi cũng cố gắng chụp cận cảnh ong hút mật hoa. Sau khi bước lui ra xa, tôi chợt thấy có một khung cửa gỗ bạc màu sương gió, giữa bức tường loang lổ, vôi tróc khá hoang tàn, cạnh đó là một gốc hoa hồng xum xuê những đóa hồng nhạt và một vạt oải hương tím. Tôi vội vàng chụp vài tấm, vừa dùng máy chuyên nghiệp vừa dùng máy điện thoại di động. Tấm hình trong điện thoại là tấm tôi ngắm nhìn hoài, dù vui dù buồn, đớn đau hay giận dữ, khi nhìn vào tấm ảnh ấy, lòng tôi thường dịu lại ngay tức khắc, có lẽ nhờ màu sắc nhu hòa hay sự cô quạnh và đơn giản của tấm ảnh có khả năng xoa dịu tâm hồn mình. Họa sĩ Van Gogh ngày xưa dùng sơn và cọ, bây giờ tôi dùng máy ảnh, cùng ghi lại những bức tranh hoài cảm. Nếu Van Gogh sống trong hiện tại, có thể ông cũng vác máy hình đi lang thang khắp bốn phương trời như chúng tôi.

Ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tôi rẽ qua phía trái. Trời bắt đầu mưa lâm râm, tôi ôm máy hình che trước ngực, rảo bước trên con đường nhỏ, hai bên là rặng cây xanh. Góc đường có tấm bảng chỉ dẫn hướng đi về phía mộ của Vincent và Theo Van Gogh (Theo là em trai của Vincent, người đã cận kề săn sóc anh mình nhiều năm cho đến ngày Vincent tạ thế – Theo cũng chết trẻ vì bệnh, mới 33 tuổi, sáu tháng sau Vincent Van Gogh). Theo con đường trước mặt, chúng tôi đi bộ trong mưa, lúc mưa nặng hạt, chúng tôi kiếm được một băng đá dưới tàng cây rậm ngồi lại trú mưa, lúc bớt mưa lại chụp ảnh cho nhau trên con đường mòn, hai bên là cánh đồng lúa mì còn xanh nhưng trĩu hạt. Vào thời điểm tháng 5 , 1889, Vincent Van Gogh đã vẽ bức tranh “Green wheat Field” và “ Wheat Field with Rising Sun”  tại St. Remy. Tháng bảy, khi lúa chín vàng, lũ quạ đen kéo về kiếm ăn tại cánh đồng lúa mì của Auvers là lúc Vincent Van Gogh vẽ bức tranh “Wheatfield with crows”. Trong tranh, đường mòn uốn cong giữa hai cánh đồng, trên đường cỏ còn xanh nhưng lúa mì đã chín vàng trong bầu trời mùa hạ xanh đậm, vần vũ vài đám mây trắng, bầy quạ đen từ chân trời bay đến như hồ hởi, vồ vập trên mâm cổ, chúng dang đôi cánh, lượn lờ như đám mây đen trên cánh đồng vàng thắm. Tôi đã ngừng tại con đường mòn phía trái của bức tranh, để chụp tấm ảnh hoang tàn đầy cỏ dại trên con đường đất ấy, một con đường ngày xưa tôi thoáng thấy trong tranh.

Bức tranh Wheatfield with Crows được cho rằng đó là bức tranh cuối cùng Van Gogh vẽ, trước khi tự kết liễu đời mình.

Đi được nửa cánh đồng, gió bỗng thổi mạnh , mưa ào ạt đổ xuống, ướt nhưng không lạnh. Chúng tôi chạy như ma đuổi về phía cổng nghĩa địa vì thấy có chỗ trú mưa, không phải lo cho mình mà sợ mấy cái máy ảnh bị ướt. Ha ha, ông Vincent ơi, nếu mưa làm loãng sơn thì làm sao ông vẽ được những tấm tranh với sắc màu tuyệt diệu? Ông cũng phải chạy đi tìm chỗ trú mà thôi!

 

Mưa dứt, tôi rảo quanh tìm ngôi mộ Van Gogh. Thấy hai ngôi mộ của hai anh em nằm bên nhau; mộ được phủ kín bằng dây Ivy, hai tấm bia đá giản dị có khắc tên năm sinh và năm mất. Tuy mộ không bề thế xa hoa như các ngôi mộ trong khu nghĩa địa nhỏ này, nhưng đó là địa điểm được viếng thăm nhiều nhất.Tôi đi quanh quẩn chụp hình những ngôi mộ khác, nhiều ngôi mộ phủ đầy hoa, cả giả lẫn thật, có nhiều cành hoa bằng sứ thật xinh. Có ngôi mộ thật xưa, rêu mốc đen sì nhưng lại có cây hoa hồng rũ bóng thật đẹp, những đóa hoa hồng tươi đậm làm tấm hình tôi chụp có một sự tương phản đặc biệt giữa đời sống và sự chết, giữa quá khứ và hiện tại.

Đi bộ về phố, ba người đồng hành bương bả đi kiếm tiệm ăn, tôi thủng thẳng đi sau, ngó trời ngó đất, bỗng dưng khi nhìn xuống chân, tôi thấy một cái nắp kim loại tròn, màu bạc, đường kính khoảng 1 tấc. trên có khắc chữ Vincent. Tôi bèn rút điện thoại di động, chụp cái hình để sau này tìm hiểu tại sao lại có dấu hiệu này trên đường mình đi. Khi tôi nhìn lại tấm hình thì thấy nửa bàn chân mình đang bước tới, tính xóa đi để chụp tấm khác, không hiểu sao tôi lại ngần ngừ, tấm hình cũng lạ, có cái bàn chân đi tìm dấu tích của Vincent Van Gogh. Tôi bèn chụp thêm vài tấm nữa; vì ống kính của điện thoại rất rộng nên tôi phải né ra xa mới không thấy bàn chân mình trong ấy. Sau này nhìn lại, tấm ảnh với nửa bàn chân có nhiều ý nghĩa hơn là tấm hình kỷ niệm tên ông Vincent. Chỉ có nửa bàn chân thôi, tấm ảnh kỷ niệm đơn giản ấy đã biến thành một tấm ảnh nghệ thuật.

Thăm thêm vài di tích và chụp thêm mấy tấm ảnh căn nhà trọ Ravoux Inn, tòa thị sảnh và các quán cà phê lộ thiên chúng tôi giã từ Auvers. Nài nỉ tài xế cho xuống bờ sông Oise, tôi hí hửng chạy một mạch ra tận bờ, chụp ảnh dòng sông xanh như ngọc thạch. Hai bên bờ sông, rặng cây mùa xuân mượt mà rũ tóc xanh non, trên chiếc bè gỗ, bọn trẻ con chơi đùa, nhảy bơi trong dòng nước mát. Ôi tuổi xuân trong mùa xuân, sao mà sung sướng quá! Aurevoir Mr. Van Gogh!

Dòng sông Oise

Vườn hoa mùa xuân của Monet

Hôm nay trời có mây mù, ánh sáng thiên nhiên cũng trung dung giữa hai thái cực trong thế giới ánh sáng của bình minh và hoàng hôn mà họa sĩ Monet đã tận dụng trong kỹ thuật vẽ. Vì đường đang bị sửa chữa nên chúng tôi phải đi vòng vo tam quốc một chút khi du hành tới Giverny, nơi họa sĩ Monet sống, xây dựng vườn hoa, hồ sen để vẽ tranh trong nhiều năm. Đi vòng vo thì khổ cho tài xế nhưng tôi thích lắm. Trước hết là phải đi qua một cái làng xưa cổ, có nhà thờ (dĩ nhiên) rất xinh xắn ngay giữa làng, sau đó là con đường ngoằn ngoèo xuyên qua làng, nhà trong làng phần lớn bằng đá, vách tường cũng bằng đá; hoa leo trèo khắp nơi rất duyên dáng và tôi may mắn được xuống xe 5 phút để chụp hình; lực sĩ chạy bộ trong thế vận hội chắc cũng chào thua khi thấy vận tốc vừa chạy vừa chụp của tôi. Trong lúc tôi đang chờ phút tái sinh thì xe lại chạy qua những làng xóm khác, cũng yên lặng, cây cối cũng xanh tươi nhưng không có đặc tính, tôi không còn hứng thú chụp hình nữa nên lăn quay ra ngủ.

Đến Giverny, xe đậu ngay dưới một cây hoa hồng trắng khổng lồ, tôi hớn hở nhảy ra khỏi xe ngắm nghía loại hoa đặc biệt này, hoa trồng thật nhiều và cao nên chỗ đậu xe khá im mát. Ra khỏi khu xe đậu, sau hàng rào hoa là bảo tàng viện, những sườn đồi thoai thoải quanh viện phủ đầy hoa Anh Túc màu đỏ. Trong một tấm tranh của Monet, ông vẽ đồi hoa Anh Túc có cô gái cầm dù, đi bộ với một cô bé gái chỉ cao hơn thân hoa chút xíu, đội mũ lát có dây ruban cùng màu với hoa. Ẩn hiện sau rặng cây xanh là tòa biệt thự, có lẽ hai tiểu thơ này là người trú ngụ tại căn biệt thự nọ và đang đi dạo trong cánh đồng hoa dưới bầu trời xuân xanh biếc có những cụm mây trắng lững lờ bay. Xa xa trên đồi, có hai người khác cũng đang đi ngắm hoa, quang cảnh trong tranh thật an bình (Coquelicots, La promenade). Bây giờ, tại Giverny, khu vực bảo tàng viện cũng có cánh đồng hoa poppy gần giống đồng hoa tại Argenteuil, du khách lũ lượt thay nhau chụp ảnh, kêu réo chí chóe tiếng Tiều, tiếng Quảng. Thấy vậy chúng tôi chỉ nhìn xem chút xíu qua hàng rào rồi theo bảng chỉ dẫn đi kiếm nhà cụ Monet (Monet thọ đến 86 tuổi).

Vườn hoa của họa sĩ Monet

Monet sống tại Giverny từ năm 1883, ông mua nhà và bắt đầu xây dựng một vườn hoa cùng với hồ hoa súng (Nympheas). Năm 1899 ông bắt đầu vẽ loạt tranh hoa súng và chiếc cầu Nhật Bản ông xây trên ao. Trong vòng 20 năm, ông đã vẽ rất nhiều bức tranh hoa súng trên hồ, và trở thành lừng danh vì ngày nay ai cũng nhớ tới tên ông qua những bức tranh này. Tranh ông vẽ treo khắp thế giới trong các viện bảo tàng hoặc các bộ sưu tập tư nhân, giá cả thì cũng mấy mươi triệu đô la một tấm. Ngày nay, toàn khu vực được  Foundation Monet quản trị vì cả khuôn viên được hiến cho Academie Des Beaux-Art từ năm 1966 do con trai của Monet là Michael Monet.

Nhà của họa sĩ Monet

Căn nhà được trùng tu lại rất đẹp, tường màu hồng và cửa màu xanh lá cây, trên lối đi bộ quanh nhà, có các thân dây leo, lá xanh rậm quấn quít duyên dáng trên hàng cột bên hiên. Trong nhà bạn có thể thấy phòng ông dùng để vẽ tranh, phòng ngủ của ông và thân nhân, phòng ăn, phòng bếp v.v. phòng nào cũng trang hoàng thanh nhã, màu sắc hài hòa. Trong bếp có dụng cụ nấu ăn sáng loáng treo trên tường đủ làm các nội trợ mê hồn.

Bếp nhà Monet

Toàn thể khuôn viên chia làm hai phần: vườn hoa trước nhà gọi là Clos Norman và khu vườn Nhật phía bên kia đường, xuyên qua một địa đạo để tránh con đường bên trên.

Chúng tôi tha thẩn trong khu Clos Norman chụp hình hoa đã đời, vị trí nào cũng xinh tươi đáng chụp cả nên không rời bước được. Thế nhưng khi qua bên khu vườn Nhật thì quang cảnh lại càng thích thú muôn phần. Bên này là vị trí họa sĩ Monet vẽ cảnh chiếc cầu Nhật Bản, hồ hoa súng và các bức tranh khổ lớn đang được luân phiên triển lãm tại những viện bảo tàng danh tiếng khắp thế giới. Tôi đã được ngắm ba bức tranh hoa súng khổ lớn tại MOMA (Museum of Modern Art in New York) năm 2008 và tấm ảnh chiếc cầu Nhật Bản trên hồ hoa súng tại Metropolitan Musewm of Art trong cùng thời điểm.


cầu Nhật Bản

Trong khu vực này, bạn có thể dạo quanh  hồ, lạch nước và những chiếc cầu nho nhỏ rất xinh xắn bắt qua dòng nước quanh co, bóng phản chiếu trên mặt nước, khi phẳng lặng, khi lăn tăn nhăn nhúm theo cơn gió nhẹ . Trên đường đi, có rặng tre xanh mướt, đủ loài hoa khoe sắc thắm trang điểm lối đi, có hoa Tử Đằng rủ bóng trên cầu, tha hồ mà chụp ảnh. Trên hồ, hoa súng đang nở rộ, có màu hồng đậm, nhạt, vàng hay trắng trên chùm lá tròn xanh tía trải mong manh trên nước, vài người làm vườn đứng trên thuyền nan nhỏ, dùng lưới vớt rong quanh quẩn trong hồ.

Dạo chơi mãi lâu, thấy gần giờ đóng cửa, chúng tôi ra về, trên đường ra khu đậu xe, chị Bích ngồi chờ chúng tôi trong quán cà phê xinh xắn, chúng tôi sà xuống bàn, thở dốc, gọi thức uống và ăn mấy cái bánh beignet nhỏ xíu nhưng ngon tuyệt. Trên đường về, ba hành khách ngủ gà gật để một mình tài xế là anh Hóa lái xe chạy bon bon trên xa lộ; đôi khi tôi chợt tỉnh, nhìn ra cảnh đồng quê, nóc nhà xưa của các làng mạc nho nhỏ thật thơ mộng lướt qua nhanh như thời gian tôi lang bạt tại Âu Châu. Chuyến đi nào tôi cũng luyến tiếc, không muốn về nhà.

Có người nói chuyến đi này của tôi là một chuyến hành hương để tìm thăm các họa sĩ nổi tiếng, nhưng tôi thì cho rằng đây là một chuyến đi cho thỏa mộng giang hồ lãng tử của mình và dù có ráng đi tìm lại hồn mình thì tôi cũng chỉ tìm ra được cái hồn lãng tử mà thôi. Vì thế, tôi còn phải ra đi nhiều lần nữa!

Tôn Nữ Thu Nga    

California- San Dimas, July 21, 2017.

Chú Thích:Tài liệu từ Wikipedia and museum brochures. Ảnh tư liệu Nhiếp Ảnh Gia Tôn Nữ Thu Nga

HOA TÌNH ĐẦU

Từng ngày qua xa vắng
Tâm hồn anh đơn côi
Thẩn thờ nhìn mây trắng
Đâu bóng em cuối trời?!

Em xa mùa xanh xưa
Tóc mây sầu gửi lại
Hoa Tình Đầu không trái
Anh một đời hái mơ!

Cấm Ông Nghè Vệ giang
Độ ấy xuân vừa sang
Tuổi mới lớn thơm phức
Đôi ta tựa thiên thần.

Chữ khắc vào đá tảng
Tên hai đứa chưa mờ.
Dấu răng chung trái ổi
Thơm hoài những đêm mơ!

Hoa học trò e ấp ép
Nhật ký vàng đêm thơm
Quẹt lọ tết xưa đùa cửa bếp
Dấu thang còn in mãi trong hồn!

Sợi tóc xưa tìm thấy
Cứa vào hồn thương đau
Giọt lệ yêu ngày ấy
Sao chẳng thắm duyên đầu!

Dòng mực xanh còn đây
Nét chữ em run run còn đây
“Trao anh món tóc nầy
Thề yêu nhau mãi mãi!”

Mình yêu nhau mãi mãi!

Anh Đào ơi! Em hỡi!
Mưa xưa ướt má hồng
Anh quỳ lạy mùa đông
Trái tim không biết nói!

Trái tim không biết nói!

Bởi vì đâu em hỡi
Sông xưa rụng trăng thề
Em nào đâu gian dối
Anh nào đâu bỏ đi!

Ôi Tình Yêu ngọn lửa
Đốt cháy cả trang đời!
Vầng trăng ai cắn nửa
Đáy cốc rượu đêm say!

Dòng Vệ giang chảy mãi
Nước xuôi một dòng sầu.
Còn mình anh ở lại
Đêm buồn ôm sông sâu!
.

Từng ngày qua xa vắng
Tâm hồn anh đơn côi.
Thẩn thờ nhìn mưa nắng
Đâu bóng em cuối trời ?!

Em xa mùa xanh xưa
Tóc mây sầu gửi lại.
Hoa Tình Đầu không trái
Anh một đời hái mơ!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Mười Năm

Nhiều người nói Mười Năm, ôm mặt khóc nức nở.  Bài Mười Năm Tình Cũ, ai hát cũng nghe buồn…

Tôi cũng có mười năm, nhiều lần mười năm, nhé, xa Quê Hương diễm lệ, xa Đất Nước diễm tình, nhiều khi cũng giật mình…thời gian hay nhát chém?

Những vết thương chỉ xém mà nghe lòng đã đau!  Vết thương không máu trào, nước mắt trào thay máu!

Ba mươi năm nương náu quê người…rồi bao lâu?  Ai có tóc trên đầu không vò cho tóc rối?  Ai biết mình có tuổi…mà không lần tủi thân?

Ôi mười năm, mười năm, tưởng là tình rất cũ!  Hồi nao, hồi rất nhỏ, tôi thấy nước mình to, tôi yêu những bài thơ tụng ca Tình Ái Quốc…

Tại sao tôi nuốt nhục, bây giờ, ở tuổi già?  Một cuộc chiến đi qua,  Nước Non tôi tàn tạ!  Tôi nhớ chiếc nón lá Má đội thành…nón mê!

Tôi nhớ bữa cơm quê, con cá trê nướng cháy, chén nước mắm động đậy, gió heo may thì thào…

Ba tôi nói làm sao?  – Mình!  Mình ăn đi chớ!  Má nâng niu đôi đũa giẻ miếng ngon đưa Ba…

Ôi những mười năm qua, từng trái cà, trái ớt, từng bữa cơm mặn, lạt…vì Tổ Quốc mà thôi!

Ngày Thống Nhất tới rồi, đời chia năm xe bảy, cửa nhà và nương rẫy…còn gì đâu, nữa đâu!

Rồi Ba đi qua cầu.  Rồi Má đi qua cầu.  Các con trai đi tù.  Các con gái gãy gánh…

 

Mười năm…đời hiu quạnh.  Cũng tưởng chỉ mười năm!  Chuông Chùa cứ boong boong.  Chuông Nhà Thờ lạnh ngắt!

Mười năm…biển nước mắt chập chờn cánh buồm xa…Một mười năm trôi qua.  Hai mười năm trôi qua.  Ba mười năm trôi qua.  Bốn mười năm trôi qua…

 

Trần Vấn Lệ

 

Dặn bừa

Dặn bừa em nhớ giữ gìn
đừng ham quá việc nhắn tin các chàng
giá như em có mơ màng
nhớ đừng có lật đôi bàn tay thon

Dặn bừa em cứ mi nhon
ăn rau cải phải nhiều hơn thịt thà
tấm lưng mảnh dẻ mượt mà
hai vòng cân đối vòng ba tuyệt vời

Dặn bừa em chớ lụy lời
thế gian toàn bọn mê tơi rẻ tiền
nói yêu dẻo quẹo mà em
đi xa vài bữa đã tìm món chua

Dặn bừa em khỏi ăn thua
mấy nàng ấy với anh chưa có gì
thông thường gào thét tình si
nhập vai diễn đã chắc chi thiệt tình

Dặn em mà bụng rối tinh
thấp tha thấp thỏm sợ mình u mê
mỗi khi tâm trạng nặng nề
em ơi nhớ rót sơn khê vào chiều!

Nguyễn Hàn Chung