CÔNG THỨC GIẾT CHỒNG

 

Nguyên tác: Recette de meutre
Tác giả: C.P. Donnell, Jr Afred Hitchcock 
Thùy An dịch

 

*
Thanh tra Miron đứng tần ngần trước ngôi biệt thự lộng lẫy. Giàn hoa giấy trên vòm cổng bừng lên màu đỏ thắm, rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ông đưa tay bấm chuông.
Nữ chủ nhân –bà Chalon, bốn mươi tuổi –tiếp ông trong một phòng khách sang trọng, màn voan trắng, ghế nệm lót nhung và sàn trải thảm. Bà có một vẻ đẹp lạ lùng. Miron nghĩ ngay đến một khuôn mặt tạc đầy thạch cao với đôi mắt trong xanh như mây trời Địa Trung Hải thấp thoáng ngoài cửa sổ. Thân hình bà nẩy nở săn chắc, hứa hẹn dù cho đến tuổi sáu mươi, những đường nét quyến rũ ấy vẫn không bị thời gian bôi xóa. Chà, ông nghĩ, điều này cũng chẳng cung cấp được gì thêm cho những dự tính của mình.
-Một ly Dubonnet nhé, thưa ông thanh tra?
Đang nhìn vào đôi môi mọng của nữ chủ nhân, Miron giật mình. Ông cố lấy giọng tự nhiên:
-Cám ơn.
Bà Chalon nâng ly uống trước, mắt nhìn ông tinh quái. Rồi bà mỉm cười, tuyên bố thẳng thừng:
-Ông đến điều tra về vụ tôi đã đầu độc mấy ông chồng cũ phải không?
Miron sững sờ, lúng túng:
-Thưa bà… tôi…
-Ngay từ lúc ông đến trình diện ở Tỉnh đường, tôi đã đoán ra điều đó.
Thanh tra Miron trấn tĩnh, lấy lại vẻ lạnh lùng nghề nghiệp:
-Thưa bà, tôi đến để yêu cầu bà cho phép khai quật thi thể các ông Charles Wesser và ông Etienne Chalon, để các chuyên gia giám định y khoa tiến hành xét nghiệm nội tạng. Thưa bà, tại sao trước đây bà lại từ chối việc ấy với hạ sĩ Luchaire của Sở Cảnh Sát địa phương?
-Luchaire thiếu tế nhị nên tôi ghét ông ta. Tôi từ chối vì thái độ cá nhân chứ không chối từ với luật pháp.
Bà Chalon lại nâng ly lên đôi môi mọng, ánh mắt tình tứ:
-Với ông, tôi có từ chối đâu nào. Thưa ông thanh tra Miron, tôi biết rõ phương pháp của các ông là tiến hành khám phá bí mật khởi đầu bằng cách hỏi lại xác chết…
Bà ngừng một tí để thích thú thấy viên thanh tra ngượng đỏ mặt, nhưng lại tảng lờ như không chú ý, tiếp tục nói rất tự nhiên:
-Và, những cuộc xét nghiệm y khoa đã hoàn tất, ông đã bối rối vì chẳng tìm thấy gì cả. Thế rồi ông đến tận đây để nắm vững về tôi: về khả năng, cá tính… biết đâu, nhờ may mắn trong cuộc đối thoại, ông có thể tìm ra những dấu hiệu phạm tội của tôi.
Bà nói một hơi, đánh trúng chính xác những mục tiêu của ông. Nếu ông không chịu thú nhận thì thật là ngốc.
-Rất đúng, thưa bà Chalon, đúng trên giấy tờ. Nhưng… khi người ta có hai ông chồng cùng chết vì rối loạn tiêu hóa dữ dội, cùng chết sau ngày cưới chưa đầy hai năm, lại cùng ở cái tuổi chưa phải là già lắm và cùng để lại toàn bộ tài sản lớn lao cho người vợ góa thừa kế… Bà hiểu chứ?
-Vâng, tôi rất hiểu.
Bà Chalon tiến lại cửa sổ. Chiếc áo cổ rộng cắt khéo ôm lấy bộ ngực tròn đầy, quyến rũ, làm mờ đi màu xanh của biển dịu dàng thăm thẳm ngoài kia.
-Thanh tra Miron, ông có thích nghe tôi xưng hết tội lỗi không?
Giọng nói của bà êm ái như vuốt ve dỗ dành khiến Miron phải đề cao cảnh giác. Ông thầm nghĩ, người đàn bà này rất nguy hiểm, quá sức nguy hiểm.
-Nếu bà muốn như thế, thưa bà Chalon.
-Vậy thì, tôi sẽ làm ông hài lòng.
Bà Chalon không cười nữa. Qua cửa sổ mở rộng, một cơn gió tỏa vào phòng mùi hương ngào ngạt, nhưng không phải hương thơm của hoa cỏ ngoài vườn.
-Ông có biết tí gì về nghệ thuật nấu ăn không, thưa ông Miron?
-Tôi từ Paris đến, bà biết mà.
-Và còn nghệ thuật yêu đương?
-Tôi đã thưa với bà, tôi từ Paris đến.
-Vậy thì…
Sau một hơi thở sâu làm bộ ngực căng lên, bà Chalon tiếp:
-Tôi, Hortense, Eugénie Villerois –Wesser –Chalon, có thể nói với ông rằng, tôi ám sát có chủ tâm người chồng thứ nhất, ông Wesser năm mươi bảy tuổi cũng như người chồng thứ hai, ông Chalon sáu mươi lăm tuổi.
“Bà ta điên chăng?” Miron nhủ thầm.
-Tôi kết hôn với ông Wesser bởi sự ép buộc của gia đình. Chưa đầy nửa tháng, tôi đã nhận ra rằng, ông ta có đầy đủ mọi thói xấu của một kẻ làm loạn lúc về già, nghĩa là thô bỉ, phàm ăn và dâm dục như một con yêu râu xanh. Tất cả những cái ấy đã gây nên tình trạng tồi tệ cho bao tử. Điều này có ghi hết trong hồ sơ, ông đồng ý chứ?
-Thế còn ông Chalon?
-Ông ta già hơn, cũng như tôi đã lớn tuổi khi kết hôn với ông ta.
Miron hỏi giọng pha chút mỉa mai:
-Và bao tử của ông Chalon cũng ở trong tình trạng tồi tệ?
Bà Chalon thản nhiên:
-Chắc chắn là thế. Chalon ít thú tính hơn Wesson, nhưng ông ta lại tàn bạo, đối xử ác độc với trẻ con và nốc rượu mạnh như hũ chìm. Ông ta dã man đến nỗi tôi đã không ngần ngại quyết định: Chalon phải chết như Wesson đã chết.
Miron lạnh người. Một phút yên lặng trôi qua. Miron dùng giọng thật nhẹ nhàng để không làm xáo trộn giòng tư tưởng của kẻ đang thú tội.
-Bằng cách nào? Thưa bà Chalon.
Bà Chalon quay lại, nở nụ cười rạng rỡ:
-Có lẽ ông biết những món ăn như Gà tây nhồi hạt dẻ, Vịt nấu ngũ sắc, Cá mú đút lò, Xúp gân nai, cua gạch…
-Kìa, bà đã làm tôi phát thèm lên đấy.
-Ông hỏi tôi giết người bằng cách gì ư? Thưa ông Miron, tôi đã phục vụ họ với thực đơn hàng trăm món, và với mỗi món, tôi thêm vào một tí…
Đột nhiên, bà ngừng nói. Bàn tay thanh tra Miron siết chặt ly Dubonnet, dồn hết nghị lực để khỏi lộ vẻ nôn nóng.
-Bà đã thêm vào… thêm vào tí gì vậy?
-Ông đặc trách vụ án này, ông có biết thân sinh của tôi là ai không?
-Ông Jean –Marie Villerois, một bậc thầy của những bậc thầy về ẩm thực.
-Đúng thế. Ba tôi đã truyền hết nghề nấu nướng cho tôi.
Miron căng thẳng, bực bội nhưng cũng đành chấp nhận câu chuyện lông bông của người đàn bà xinh đẹp này.
-… Nhưng bà vừa bảo rằng, bà đã thêm vào mỗi món ăn một tí…
Bà Chalon quay lưng lại. Miron bỗng choáng ngợp trước bờ vai thon thả, vóc dáng cân đối, vòng eo tuyệt mỹ.
-Một tí… một tí nghệ thuật, thế thôi, không có gì khác nữa, ông thanh tra ạ. Loại người như Wesser hay Chalon làm sao mà cưỡng nổi. Một ngày ăn ba bốn bữa thịnh soạn… no đến cành hông, rồi lại nốc rượu vào. Ở tuổi ấy, ăn uống như vậy làm sao mà thọ nổi.
Bà Chalon ngưng nói. Căn phòng yên tĩnh, chỉ nghe tiếng tíc tắc từ xa của chiếc đồng hồ quả lắc.
-Xin lỗi, thế còn nghệ thuật yêu đương… Chính bà đã nêu lên…
-Thưa ông thanh tra, điều này phải có sự giúp đỡ của một vài cô bạn trẻ thật hấp dẫn. Tóm lại, tôi đã giết hai đức lang quân của tôi bằng công thức ĂN NO cọng với RỮNG MỠ. Chỉ thế thôi.
Lại yên lặng. Một sự yên lặng căng thẳng, chờ đợi. Chợt thanh tra Miron đứng dậy, đột ngột đến nỗi bà Chalon quay phắt lại, mặt tái xanh.
-Chiều nay, mời bà đi với tôi đến Nice.
-Đến… Sở Cảnh Sát ư? Thưa ông thanh tra.
-Không, chúng ta sẽ đi uống champagne, nghe nhạc và khiêu vũ.
-Ơ… thưa ông…
-Hãy nghe tôi nói. Thưa bà, tôi độc thân, bốn mươi bốn tuổi, không nhiều thói xấu lắm. Tôi có dành dụm một khoảng tiền với lợi tức hàng năm không đến nỗi tệ…
Ông nhìn thẳng vào đôi mắt thăm thẳm của bà:
-… và tôi mong mỏi… được chết vì bà.

THÙY AN

giới thiệu tác phẩm mới

 

Thơ Nguyễn Tấn Cứ – TỰ DO CHO SỚM MAI
Lotus Media xuất bản lần đầu tiên tại Hoa Kỳ, 2017
Bìa và trình bày: Uyên Nguyên

——————

Một trong những cây viết trong ngoài nước phản kháng chế độ đương tại Việt Nam, Nguyễn Tấn Cứ viết rất bộc trực, thẳng thừng. Cứ can đảm, dũng lực ở chỗ biết những gì mình viết rất dễ bị tai họa không lường giáng xuống thân mạng mình bởi thế lực đỏ/đen trùm khắp, nhưng Cứ vẫn viết huỵch toẹt. Những dòng thơ chính luận, thời sự hiện thực của Cứ không chỉ rĩ máu oan khiên từ nỗi xa xót phận mình, phận người, phận dân đen, mà còn vang to những lời phản đối, kêu gọi sự phản tỉnh, hô hào đứng dậy đấu tranh. Muốn có những câu để viết biểu ngữ xuống đường, rất dễ tìm thấy trong thơ Cứ. Đọc những gì Cứ viết về thực tại, ta sẽ ngậm ngùi, tủi hận, nghẹn uất, có thể nhỏ nước mắt bi thương hay phẫn nộ nhưng rồi ta vẫn thấy lấp ló hy vọng về cuộc đổi thay trước những bỉ ổi, dối trá, đốn mạc của hiện tiền nhan nhãn. Bởi chữ nghĩa của Cứ là sự lật tẩy, tố cáo mạnh bạo, ngoan cường, và dựng lại “ý thức mới”[1].  Chữ nghĩa của Cứ, đặc biệt keo quánh lại trong thơ, có máu lệ và niềm an ủi, có tuyệt vọng lẫn niềm tin. Chữ nghĩa đó là sự cứu rỗi, ở nhiều mặt. Ở mặt này, cứu rỗi cho chế độ chuyên chính, toàn trị nếu họ kịp thức tỉnh. Ở mặt khác, cứu rỗi thế hệ trẻ nếu kịp mở mắt rời bỏ những gian trá, xảo quyệt đang điều kiện hóa, robot hóa họ. Mặt khác nữa, chữ nghĩa của Cứ đang cứu rỗi những văn nhân, nghệ sĩ, nhà báo khỏi những oan khiên do bó buộc phải hay lỡ u mê chấp nhận “văn hóa chuồng trại”. Trên hết, chữ nghĩa đó là sự cứu rỗi cho mọi người bị áp bức, trù dập. Chữ nghĩa của Cứ như thế, nói theo Edward Hirsch, là một hình thái cứu chuộc, một nguồn hy vọng cứu thế – a form of expiation, a hope for redemption[2]. Cứ đã tự mình đóng đinh mình trên thập giá của chợ đời náo hoạt, cuồng loạn, ngập ngụa những thanh toán, thù hận, chạy theo danh vọng, tiền tài,  để cứu chuộc tội lỗi cho mọi người. Chắc chắn sau này sẽ có rất nhiều văn thi sĩ biết ơn Cứ, lịch sử văn chương Việt Nam sẽ tô một vết son cho những cây bút như Cứ, tựa như những tay viết kiên cường của Nhân Văn Giai Phẩm một thời bị chà đạp, trù dập và bây giờ lại được đề cao.

Thơ của Nguyễn Tấn Cứ làm nhớ lại thời đất nước Ba-lan tối tăm, thê thảm, bị phanh thây xẻ thịt  dưới các chế độ Phát xít và Cộng Sản. Những nhà văn, nhà thơ Ba Lan lúc đó, ngoài tình trạng bất mãn vì bị gò ép, bó buộc sáng tác theo một định hướng sắt thép chủ nghĩa xã hội, dân tình điêu linh, lại còn tuyệt vọng trước viễn cảnh mờ mịt, mất hướng của thế giới sau Thế Chiến II đang chạy hộc tốc theo kỹ thuật hóa. Nhưng đã có rất nhiều nhà thơ Ba Lan của thế hệ hậu chiến phản tỉnh, nhìn ngó lại hiện tình và dấn thân vào cuộc sáng tạo mới. Họ từ chối thơ trữ tình, vần nhịp êm ái, chữ nghĩa rất kêu mà rỗng tuyếch, rất ấn tượng mà giả tạo, dối gạt. Họ đã quyết liệt xổ toẹt lên thứ văn chương, chữ nghĩa hoa mỹ, cường điệu, khoa trương. Thơ họ viết không cần ngôn ngữ ma mị, yểu điệu,  mà vô cùng đơn giản, dễ hiểu, cụ thể. Thơ của họ tỏ bày sự bất phục, không tin tưởng một chút nào vào tín điều và ý hệ, giáng mạnh vào sự không tưởng, ma mị, phù thủy của chủ nghĩa Cộng Sản. Chữ nghĩa của họ vừa như lời thống hối của kẻ được sống còn sau chiến tranh, kẻ có tội với lịch sử, vừa biểu đạt mạnh mẽ, quyết liệt tố cáo mọi sự xấu xa, phi nhân, rừng rú của lũ thống trị. Nhại lại nội hàm bài “Thơ và Lịch Sử: Thơ Ba-lan sau khi Thế Giới Chấm Dứt” của Edward Hirsch, có thể nói rằng Nguyễn Tấn Cứ VIẾT lịch sử bằng thơ, viết thẳng thắn, rõ ràng, cụ thể như nói, như kể, như đàn hạch. Và mong rằng đây cũng là điều khải đạo cho sứ mạng người viết ở Việt Nam sử dụng chữ nghĩa, thơ văn để LÀM lịch sử, những trang sử mới và trung thực.

Thơ của Nguyễn Tấn Cứ cũng làm kinh hoàng nhớ đến lối cai trị bá đạo, phi nhân, tham quyền cố vị, luôn tìm cách tru diệt những người yêu nước, phản kháng; dập tắt mọi tiếng nói đòi hỏi công chính; xua đuổi hay đày đọa, giam cầm, tống xuất những người vô tội, hiền hòa, tay không tấc sắt để gìanh ưu thế, gian manh chiếm dụng tài sản, đất đai, ruộng vườn, ao cá, biển khơi… mà những chế độ nô lệ, đế chế, bạo quyền, xâm lược, chuyên chính, toàn trị, quân phiệt và cận đại là những nhà nước Cộng Sản, những tập đoàn Khủng Bố đã và đang ra tay. Daniel Jonad Goldhagen, dạy môn chính trị học tại đại học Harvard, trong cuốn “Tồi Tệ Hơn Cả Chiến Tranh”, đã dùng chữ “Eliminationist” (chủ nghĩa/chủ trương  Loại Trừ) để mô tả và dẫn chứng lối cai trị bá đạo trên[3]. Chủ nghĩa Loại Trừ này được nhà nước áp dụng không chỉ bằng võ lực công an, quân đội, mật vụ, mà còn tác động bằng văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, truyền thông, báo chí, cách sử dụng nhân sự, kế hoạch kinh doanh, hoạt động ngân hàng,…để tận diệt mọi thành phần cản ngại sự tham lam vô bờ, sự tàn ác vô nhân; để dập tắt mọi tiếng nói đòi bứt xích phá xiềng. Đọc văn thơ của Nguyễn Tấn Cứ để thấy những tấn tuồng thảm thương này đang diễn ra thường xuyên trên quê hương Việt tộc. Cái khốn nạn lớn nhất mà Cứ hay vạch trần là chủ trương Loại Trừ những tay viết văn làm thơ yêu nước, chọn đứng về phía người dân bị áp bức, đày đọa.

Còn thơ tình của Cứ ra sao? Yêu nhau trong một xã hội bất toàn, đầy rẫy giả dối, nghi hoặc; bủa vây bởi những đe dọa, thanh trừng khốc liệt; ngập tràn những trò phô diễn tung hứng kịch cỡm,… làm sao tìm cho được một ngày êm đềm, hạnh phúc thật sự. Tìm đến nhau, dù cháy rực đam mê, quấn quyện chan hòa, nhưng như chừng Cứ vẫn thấy cô đơn, vẫn chập chùng những ám ảnh về tình trạng thất tán, đổ vỡ, bất an như đang diễn ra trong sinh cảnh hiện tại của lứa đôi, cái cảnh đời u ám, tàn hoại mà Cứ phải vật vã kinh qua.

Nhưng, dù có chán ngán, buồn bực, bế tắt, Nguyễn Tấn Cứ vẫn tin vào lòng nhân và tình thương sẽ cứu rỗi tất cả. Và chữ nghĩa sẽ là con sông trăm nhánh, là biển cả bao la dung chứa và chuyển tải lòng nhân ái kia đi xa, đi khắp.

Uyên Nguyên
(tháng 8/2017)

 

Sao em không là ngọn nến ?

Lâu lắm không còn nghe chim hót
Không còn đối diện vầng trăng
Cứ ngỡ xa em là hết
Là như bông cải về trời

Cần tôn tạo di tích Hòn Chồng
Phải thổi rêu xanh vào đá
Bi kịch nhà thơ
Đầu đội trang kinh
Em ngốc nghếch tưởng tờ giấy bạc!

Ai nói đồng lòng tát cạn biển Đông
Tát giùm sông Ba bớt chảy
Nghiêng vai gánh vầng nhật nguyệt
Để nghe muối mặn gừng cay

Không gì đáng sợ hơn bóng đêm
Sao em không là ngọn nến?
Ta triệu phú không tiền cao ngạo thế
Cũng không đốt nổi mình

Thề có mênh mông vô tận
Ta không cắt nửa vầng trăng
Em dắt ta qua cầu giấy
Thế là thành kẻ trôi sông

Ta tháo máu
Đẩy câu thơ tới bờ vô tận
Nơi thi ca lồng lộng vì em
Rồi ta chết từ từ từng chút một
Trong im lìm có sáo thổi của hai ta.

Nguyễn Tam Phù Sa

LÚC TÔI RÓT NẮNG VÀO LY.

1)
ở đâu vài nắng tắt ?
hồn xanh xao dặm đường
hẫng lời tay em buông
giờ nầy anh vẫn nắm
2)
ở đâu chuyện dòng sông ?
trôi mịt mờ hạnh ngộ
bong rã nhạt màu đời
chùm cát đằng bấu rễ
3)
ở  đâu mưa vụng dại ?
ướt thầm áo nhã ca
chuỗi hoa tiên xâu nhặt
mưa thì mưa em về
4)
ở đâu vó ngựa hồng ?
sải qua khuya bạc mệnh
giấc dập dồn cổ tích
máu nhỏ hồng đề thơ
5)
ở đâu mùi run rẩy ?
khói thơm môi nửa vời
đôi tay em lá ủ
tôi rót chiều lưu ly…
 Chu Thụy Nguyên

VẾT THƯƠNG CỦA MỘT HẠT BỤI

 

1.

Em cúi đầu, giọng thấp hẳn xuống:

– Cô ơi, theo em được biết, hồi xưa, một trong những hình phạt vô cùng kinh hãi là tứ mã phanh thây.

– Ừ, chỉ hình dung thôi cũng đủ khiếp sợ.

– Dạ, tay chân của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào chân bốn con ngựa. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng; nếu không có nài ngựa, người ta sẽ thét to lên hoặc đánh ngựa để chúng hoảng sợ bỏ chạy. Và bốn sợi dây sẽ kéo tay chân phạm nhân đến khi thân thể của họ bị xé ra.

– Ôi thôi! Nghe sợ quá!  Sao bỗng dưng em lại nói đến chuyện đó?

Em chậm rãi:

– Dạ, em đã tìm đọc nhiều thiệt nhiều những kiểu hành hình đau đớn nhất để coi cái đau của mình cỡ nào. Cô ơi, em đã từng bị hành hình theo cách tứ mã phanh thây!

Tôi kinh hoảng:

– Hả? Cái gì?

Em trầm ngâm.

– Dạ, mà… có thể còn đau hơn đó cô, vì em không phải là phạm nhân, em không làm gì nên tội, em hoàn toàn vô tội, bấy giờ em chỉ là một đứa nhỏ dại khờ chưa đầy tám tuổi.

– Hả?

– Dạ, ba em đã đem em ra cá độ, rồi ba bị thua.

– …

– Dạ, thực ra những chuyện như vậy không xa lạ gì ở xứ em.

Làn gió xuân êm ái thổi qua, giọng em nhẹ tênh:

– Không hiểu sao em nhớ rõ lắm cô à. Cứ như thước phim được quay rất chậm, chậm đến độ không thể nào chậm hơn được nữa. Ðó là buổi xế trưa, nắng quái hắt vào giữa sân, ba em cùng năm người đàn ông đang ngồi nhậu trên bộ vạc tre kê trước hiên nhà. Nhưng thôi, để tuần tới em kể cô nghe tiếp, tới giờ vô lớp rồi.

Em và tôi cùng nhanh chân xuống cầu thang lộ thiên. Những bậc thang rộng bằng xi măng giả đá nâu với những nét vân đen đẹp tuyệt. Gió biển lồng lộng đuổi theo tóc chúng tôi. Cửa phòng lớp học Yoga đang hé mở. Chúng tôi rón rén bước vào. Vài người khác cùng vào. Chúng tôi khe khẽ, nhè nhẹ trải tấm chiếu nhỏ của mình ra. Cô giáo Amy có mái tóc vàng sáng, đôi mắt xanh lá cây, miệng luôn nở nụ cười tươi vui ấm áp, nét mặt an lạc, đang đứng bên cửa đón chào học trò.

Và hôm ấy, suốt buổi tập, tôi không thể nào tập trung được, tôi khó chú tâm vào hơi thở. Ôi! Câu chuyện của em chỉ mới bắt đầu!

2.

Khoảng tám năm trước đây, một sáng Thứ Bảy, tôi đang dạy lớp Tiếng Việt trong  nhà thờ, một người đàn bà Mỹ trắng dẫn em vào lớp. Bà tự giới thiệu đơn giản, bà tên Julie. Rồi bà nói, con gái yêu của bà vừa làm xong bài khảo sát trình độ, thầy hiệu trưởng xếp con gái yêu vào lớp nầy. Trước khi ra về, bà bắt tay tôi, vui vẻ nói, con gái yêu của bà rất thích học tiếng Việt, nhất định bà cũng sẽ học tiếng Việt.

Con gái yêu của bà là em, người Việt, dáng gầy guộc, da hơi ngăm tái, đôi mắt to mênh mang ánh nhìn xa vắng, đôi môi không hề nở nụ cười. Khuôn mặt buồn bã của em được ôm kín bởi mái tóc đen dày xõa ngang vai.

Giờ ra chơi, em không rời khỏi chỗ. Tôi đến bên em. Em đang lần giở những bài học tiếp theo, chăm chú đọc.

– Chào em!

Em hơi giật mình, ngẩng lên, vẻ dè dặt:

– Em chào cô!

– Cô rất vui khi có em trong lớp. Em chăm học như thế nầy chắc vài bữa nữa em sẽ được lên lớp Năm.

– Dạ… em… em muốn học lẹ thiệt lẹ… để đọc sách tiếng Việt dễ dàng hơn.

– Tuyệt lắm. Nếu em có gì cần hỏi, cô sẵn sàng giúp em.

– Dạ… Cám ơn cô.

Em tiến bộ rất nhanh. Những bài tập làm văn tả cảnh tả người của em khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Ẩn chứa trong đôi mắt u buồn xa vắng của em là cả một khoảng trời nồng ấm tình yêu thương đằm thắm dịu dàng.

Rồi mùa học qua nhanh. Sau đó em cũng mau chóng rời trường Tiếng Việt của nhà thờ.

3.

Em nói, giọng buồn hiu:

– Em đã đọc ngốn ngấu sách báo tiếng Việt, như thể người đói được ăn, người khát được uống. Như thể khi lạnh run quơ được tấm mền để đắp. Cô ơi, được đọc sách là một hạnh phúc lớn của em.

Em đọc nhiều loại sách: sách tôn giáo, sách văn chương, sách lịch sử… Hễ rảnh là em đọc. Bởi em muốn biết nguồn cội mình. Em muốn biết tại sao ba em nghiện rượu. Em muốn biết tại sao má em cúi đầu nhẫn nhục chịu đựng khổ đau. Tại sao tại sao tại sao? … Em muốn biết quá nhiều, mà em hiểu thời gian thì trôi quá nhanh nên em không thể phí phạm. Lắm khi nhức đầu quá, em chỉ muốn quên quên quên…, tất cả tất cả… nhưng rồi em không thể nào quên. Cái buổi xế trưa nắng quái hắt vào giữa sân, ba em thua cá độ. Cô ơi, tại sao?

– …

– Ba em cùng năm người đàn ông đã nhậu suốt từ sáng. Họ nhậu tơi bời. Lưỡi họ dường như đã cứng lại nên giọng họ nhừa nhựa. Họ nói năng bậy bạ, hát xướng bậy bạ. Em là người đi mua rượu. Cứ chừng một hồi, ba em kêu em đi mua rượu. Em  không nhớ bao nhiêu lần em đã phải lội bộ vô trong ấp để mua rượu.

– …

– Và lần cuối cùng, khi em, một tay vịn thanh cầu, một tay ôm bình rượu, từng bước chân men trên cây cầu tre dẫn vào nhà, em thấy ba em chỉ tay vào em, lè nhè: “Nó đó”. Rồi ba đổ sụm xuống như cây chuối bị chặt gốc. Sau nầy em mới hiểu “Nó đó” tức là ba em đem em ra cá độ. Họ cá nhau chuyện gì em không biết. Vậy là năm người kia kéo em xuống chiếc xuồng. Lúc đó em vẫn chưa hiểu gì ráo. Em kêu khóc, em giằng co, em giãy giụa. Ba em vẫn gục trên bộ vạc tre.

Em dừng lại như để lấy hơi, rồi tiếp

–  Má em đang nấu cơm chiều, nghe tiếng kêu khóc, má nách bé Út chạy ra, ngơ ngác, líu quíu xà quần quanh sân bởi vướng mấy cái lu, cái khạp đựng nước mưa. Má vấp té mấy lần trước khi chạy men theo bờ sông, mặc cho bé Út đang bò lê khóc thét trên vũng nước. Anh Hai em hơn em ba tuổi, đứng chỗ sàn nước cạnh chân cầu, miệng há hốc, ngơ ngác nhìn. Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Giống như cơn ác mộng.

Em gục đầu lên vai tôi:

–  Cô ơi! Hình bóng má cuối cùng trong trí nhớ em là tóc má xổ tung ra, xấp xải, bước chân trần của má liêu xiêu tuyệt vọng dọc theo bờ. Em nghe rõ tiếng gào khóc của má, của anh Hai, của bé Út đuổi theo, chạy dài dài theo khúc sông một đỗi rất lâu. Chỗ nhà em vắng nên không ai nghe tiếng kêu cứu. Chuyện diễn ra nhanh như một ánh chớp.

Tôi ôm em, rên rỉ:

– Ôi!

Dưới kia không xa, biển đang bình yên vỗ sóng. Biển muôn đời vỗ sóng. Giọng em như bị cắt thành từng lát mỏng dính bay trong thoáng gió biển lướt qua:

– Cô ơi, đó chỉ là bắt đầu. Chỉ là bắt đầu.

Em dừng lại. Không dưng em và tôi cùng nhìn ra bờ Thái Bình Dương vào chiều xanh thăm thẳm. Trời cũng xanh thăm thẳm nên biển và trời như tan hòa vào nhau. Xa xa, những con sóng trắng phau nhấp nhô lấp lóa dưới ánh nắng trông như dát bạc. Xa tít, giữa biển trời xanh ngát, thấp thoáng vài cánh thuyền buồm nhỏ xíu như những chiếc lá, lấp lánh. Gió biển lồng lộng. Gió thổi tung mái tóc em và tôi. Gió như muốn thổi tung hê tất cả những bất hạnh đời em. Giọt nước mắt vẫn cứ trào ra dù tôi cố nén, nhưng gió biển đã kịp thổi khô.

– Cô ơi, giá như ngày đó, họ cầm dao giết em, coi bộ đỡ độc ác hơn là họ đã tứ mã phanh thây em. Giày vò hành hạ tâm hồn em. Em đã mấy lần tìm cái chết, nhưng không thành, cũng qua đó, em hiểu rằng, chết không phải là điều dễ dàng.

– …

– Em đã qua nhiều ngày điều trị tâm lý sau khi được cứu ra khỏi hang ổ bọn buôn người. Ngay cả khi được sang đây, em vẫn tiếp tục được điều trị,  nhưng làm sao em quên được.

Càng về chiều, biển càng sẫm màu, đẹp dịu dàng trong vẻ đẹp vĩnh cửu. Nắng đã nhạt dần. Gió bắt đầu lạnh. Tận chân trời đằng tây, xa tắp, mặt trời màu vàng cam vừa tựa cằm trên đường chân trời, nhuộm đỏ tía một vùng rực rỡ. Em dừng lại, trầm ngâm nhìn biển.

– Mẹ Julie thường đưa em đi tắm biển ở đây. Mỗi lần em ngập người trong biển, em cảm thấy dễ chịu lạ lùng. Nước biển mênh mông. Sóng biển lúc êm ái vỗ về, lúc mạnh mẽ dữ dội dường như muốn xóa sạch mọi vết thương, vết hằn trên thân thể em. Biển bao la dường như nhắc nhở rằng em chỉ là hạt bụi, vết thương của một hạt bụi có nghĩa gì đâu.  Phải không cô? Ngâm mình trong biển, ngửa mặt nhìn trời xanh trên cao, em tự nhắn nhủ rằng em còn nhỏ hơn một hạt bụi, nỗi đau của cái chưa bằng hạt bụi thì có đáng gì.

– …

– Mẹ Julie thương em lắm. Có những đêm khuya, cơn ác mộng ngày xưa hành hạ em, em ú ớ, vùng vẫy, gào khóc, cào cấu. Mẹ Julie chạy qua, ôm em vào lòng, vỗ về em, thì thầm cầu nguyện.

4.

Nhớ hôm đầu tiên vào lớp Yoga, tôi ngỡ ngàng, vui mừng, em đó phải không? Em chạy ùa đến bên tôi, dạ em đây, em chào cô. Lâu quá gặp lại cô, cô khỏe không? Cô khỏe, cám ơn em, còn em? Dạ em cũng khỏe, em đã vào đại học. Ừ, cũng lâu rồi, mà em xinh quá, nhìn mãi cô mới nhận ra em. Cám ơn cô.  Quả thật cô và em có duyên với nhau ha, cuộc gặp lại hiếm có đó em. Dạ.

Từ đó, em và tôi hay đến trường sớm độ vài chục phút, cô trò cùng leo lên tầng hai, ngồi trên chiếc ghế đá chỗ hành lang hướng về biển. Cô trò đều yêu thích nơi nầy. Hành lang thênh thang rộng, thênh thang nắng gió, cấu trúc rất nghệ thuật, đẹp mê hồn. Có bữa biển chuyển mình, gió nhiều, lạnh thấu xương, cô trò vẫn co ro trong chiếc áo khoác, thưởng thức hương gió, thưởng thức vẻ đẹp kỳ vỹ của trời biển, và chuyện trò.

Rồi khi vào lớp, cô trò trải tấm chiếu cạnh nhau. Chúng tôi thở chậm, đều, sâu và nhẹ. Chúng tôi mềm mại trong những động tác căng duỗi người và cân bằng. Rất thú vị khi cô giáo nói rằng stress tự nó không phải là vấn đề. Rồi cô giáo hướng dẫn thực hành chữ “S.T.O.P.” (*)

Phần cuối của buổi học rất dễ chịu. Cả lớp nằm im trên sàn, thả lỏng người. Cô giáo sẽ kéo kín tấm rèm cửa hướng ra biển chiều đang phai nắng, và tắt tất cả các ngọn đèn, để ru mọi người bằng tiếng chuông nhẹ ngân nga cùng lời ru êm ái ngọt ngào.

5.

– Hè năm ngoái, em về Việt Nam. Em đã đi qua gần như suốt chiều dài của đất nước mình. Cô ơi, em đã đi qua nhiều thành phố, nhiều miền nông thôn. Ô thôi! Ðất nước mình thì bé nhỏ mà quán nhậu thì nhiều vô kể, em cứ tự hỏi tại sao tại sao?

Tôi dè dặt:

– Rồi… em đã tìm được gia đình?

– Má em, sau khi em bị người ta mang đi, đã bị điên, rồi mất vì uống nhầm phải chai thuốc trừ sâu. Anh Hai em buồn giận ba em, bỏ nhà đi xa, nghe đâu đi xuất khẩu lao động gì gì đó, không ai biết tin tức. Bé Tư lên Sài Gòn đi làm thuê để kiếm tiền gửi về quê nuôi ba. Rồi ngày nọ, bé bị người ta dụ dỗ đi lấy chồng Ðài Loan… Nghe kể, không bao lâu sau, người ta đưa cái hũ tro cốt của bé về… Bữa đó ba em nhậu xỉn, ôm hũ cốt bé Tư chạy qua cây cầu, trợt chân rớt xuống sông chết đuối. Chuyện gia đình em đó.

– …

– Giờ em vẫn còn đang học, và em đã định hướng cuộc đời mình. Em đã hiểu ra nỗi đau của em. Cô ơi, nỗi đau của em chưa bằng hạt bụi, sá gì với nỗi đau của má, của anh Hai, của bé Tư; thấm tháp gì với nỗi đau của biết bao nhiêu những đứa trẻ, những cô gái đang bị đày đọa trong các chợ buôn người rải rác trên nhiều quốc gia trên thế giới, và còn nhiều nữa… Nỗi đau của em đã dạy em bài học sống. Phải sống như thế nào, phải làm gì? Em không muốn nỗi đau của em trở thành vô ích.

6.

Chúa Nhật rồi, một chị bạn rủ tôi đi nhà thờ Mỹ. Tôi ngỡ ngàng trước cách trang trí thanh nhã và trang trọng của nhà thờ. Tôi lặng im chiêm bái những bức tranh minh họa cuộc đời Ðấng Cứu Thế trên các khung cửa sổ kính màu phỏng theo phong cách Gothic. Tôi rảo mắt tìm kiếm người quen, và bỗng hết sức kinh ngạc. Kìa! Có phải là em? Tôi đeo mắt kính vào, rồi gỡ mắt kính ra, có phải là em? Một cảm xúc rất lạ trào dâng khiến tôi rưng rưng.

Ðúng là em! Em đang đứng trong ban hát dẫn trên bục giảng. Em bé nhỏ giữa các cô gái Mỹ trắng, Mỹ màu cao lớn. Em xinh xắn tinh khôi trong chiếc đầm trắng, giày trắng, dây buộc tóc màu trắng. Em như một đóa huệ trắng nuốt. Em thanh khiết trong sáng như thiên thần. Em hát hết lòng hết dạ. Thỉnh thoảng em nhắm mắt như để lắng sâu tâm hồn vào lời ca thánh.

Kìa là bà Julie, mẹ em. Tôi vừa bắt gặp đôi mắt long lanh hạnh phúc của mẹ Julie đang ngồi dãy ghế cạnh tôi. Tôi biết lát nữa đây, khi nói về em, bà Julie sẽ vô cùng sung sướng “Con gái yêu của tôi, con gái yêu của tôi…”

Em đó ư? Ðứa bé đã từng quằn quại dưới gánh nặng quá khứ đau buồn tủi hờn.

Em đó ư? Ðứa bé mà ngày nọ, trước giờ vào học, thường ngồi ủ rũ trong góc nhỏ chỗ chân cầu thang nhà thờ, đôi mắt vô hồn, vẻ mặt lạnh lẽo, môi không bao giờ nở được nụ cười.

Ừ, đó là Em! Em ngày xưa đã từng bị hành hạ đau đớn như cách tứ mã phanh thây và đã học được rằng đó chỉ là vết thương của một hạt bụi.

TỊNH TÂM

(*) “S.T.O.P.”
S: Stop what you’re doing and thinking… Interrupt the stress response!
T : Take a few deep breaths (as you say to yourself: I breathe in… I breathe out.)
Elicit the relaxation response!
O: Observe and let go of the physical tension and the mental chatter . RELAX!
Know that thoughts are not facts and are not permanent.
Let go of any emotions present and how they’re being expressed in the body.
SMILE… Think: PEACE TITHIN.
P: Proceed with something that will support you in the moment.

(Bài dạy của cô giáo Yoga)

VẮNG

 

VẮNG 1

Trong những ngày cuối mùa hè này, cùng ngồi với tôi xuống đây đi em. Chúng ta đã đi quá xa mùa xuân cũ rồi, hãy dừng lại, ngồi giữa những tháng năm hoang tàn này, và chiêm bái lần nữa những điều đau đớn cuối cùng. Nơi chúng ta đi qua bằng trận mộng du của thế kỷ trước, đã không còn lưu trữ lại được gì cả. Người đàn bà xõa tóc của ngày hôm qua đã không thể trở về bằng lời triệu hồi của cánh đồng, dù rạ rơm vẫn tỏa đắp. Khi mùi hương của đóa tỷ muội sau mưa không thể ngát thêm để chảy tràn trề qua dịch não, lấn át trận viêm xoang lưu cữu của những tán cây ngấm nước mưa, thì chúng ta không thể nào phục chế cho những im lặng đã rơi vãi sau kì phân hủy đó.

 

” Hãy khuấy động không khí ẩm ướt này” tôi nói với tôi khi sự im lặng đã đi quá dài. Vết muỗi châm đêm qua không còn mang lại điều đau đớn hơn trong một buổi sáng đầy nắng. Thì cơn lạnh buốt gai óc tràn về trên những lọn tóc ngắn, trên gáy và trên đôi vai đã sớm mỏi mệt, cũng sẽ không cứu vãn được gì cho những tàn phai có tính toán sẳn, như những hợp âm mưa vẫn cứ trút trên mái nhà tháng tám. Ngồi xuống đây đi em.

 

Hãy ngồi xuống đây , em. Nơi bóng đêm sẽ ngự trị cho những mệt mỏi thường nhật. Mùi mắt lá sẽ tỏa hương cho những khúc cầu nguyện còn nguyên vẹn những ám thị xanh nhức nhối. Chúng ta hãy hát cho những cái chết đã đi qua cuộc đời mình., mùa xuân đã chết, mùa hè đã chết, tuổi trẻ đã chết, hi vọng đã chết….. những ám vong trong ngục Azkaban cũng đã chết trên những trang sách ố vàng. Chúng ta chỉ còn hôm nay trong tay mình. Liệu những ngón tay gầy khô có giữ được gì cho em, cho tôi? Khi ngày hôm nay cũng đang nhích dần về quá khứ?

 

Rồi những cái bóng sẽ dịch chuyển về những khu rừng , mọi u buồn sẽ trở nên mốc meo trong những xanh xao của thời gian. Thời khắc chúng ta không còn cảm ứng được mọi bất trắc phù phiếm sẽ xảy đến. Chúng ta đã tìm ra nhau chưa?

Ngồi xuống đây đi em, trên những con sóng cuối cùng, bên những ngọn suối cuối cùng, hãy cùng tôi hát ca cho những tồn tại sót lại của ngày hôm nay. Trước khi dần tan ra trong những cơn áp thấp tháng tám, hãy nhảy múa với tôi bên ánh sáng của que diêm cuối cùng vẽ ra trong đêm trắng, tiếng hát lầm lũi một mình một ngày rồi úa tàn, đốm lửa que diêm sáng lên rồi cũng tàn, trong căn phòng vắng ấy, khúc luân vũ sau hết có được trỗi lên, với em , với tôi?

 

Vắng 2

 

Tôi sẽ ngồi nhớ về em
Khi không còn đủ sức để viết nên những câu thơ nữa.
Những con chữ lạc loài vất vưởng dắt nhau đi trốn
Tôi đã hụt hơi

 

Sáng sẽ là tháng tám
Tôi ngồi vuốt ve những cánh hoa dị dưỡng đã chết khô đêm qua
Trên trang kinh mù lòa không lời cứu rỗi
Vòng chuỗi giật mình
Lời xưng tội bơ vơ

 

Tôi sẽ ngồi nhớ em
Giữa sự rỗng hoác mênh mông không hề mang gương mặt nào
Giữa những sâu thẳm và lạnh không hề mang bóng dáng nào
Giữa thời khắc câm- lặng- không- từ- bóng- tối nào
Vòng vô sắc nở ra những xoáy ngút gió.
Lúc này em ở đâu?

 

Tôi sẽ ngồi nghĩ về em
Về những kỷ niệm chỉ còn như một bản scan mờ
Chúng ta có bao nhiêu kỷ niệm về nhau?
Em đã quên chưa?

 

Giữa những sắc câm- lặng- mờ – mịt của quá khứ đã trôi qua như bản in lỗi Giữa những hồi ức của những tháng năm chơi vơi trên đường dẫn
Giữa những tình cảm neo đậu trên ánh xanh leo lét của màn hình điện thoại lúc nửa đêm
Những gì còn lại của chúng ta
chỉ – là – sự – dần – dần- biến – mất

Hoàng Phương Uy

bạn cứ tiếp tục làm thơ yêu nhau

 

bạn cứ tiếp tục làm thơ yêu nhau
đừng gọi tôi là phản động
vì tôi
sẽ khóc

khi tôi bị kéo lê vào chiếc xe bít bùng
trong đó chỉ có bóng tối của quê hương
khi biển đã mất
đất đang mất
đã và đang bị gậm nhấm từng phân

tôi xuống đường

đừng gọi tôi là ph̉ản động
nhắc lại thời đấu tố xa xăm
nhắc lại thời xa xăm cùng nhau đi đánh thuê
hơn ba triêu người đã chết
tám chục triệu người đang chết
vì quê hương tôi
dường như
sắp thiếu bóng dáng đồng bào

các bạn cứ gọi tôi phản động
đừng nghe tôi khóc

đừng thấy mặt tôi bị đạp trước khi bị kéo lê vào chiếc xe bít bùng
đừng có niềm tin nơi tôi
chỉ có đôi tay bàn chân và con tim
xuống đường
múa may bài ca yêu nước
các bạn cứ tiếp tục làm thơ viết những bản tình ca
gái gặp trai nơi những hẹn hò
đừng nhìn thấy tôi buồn xo
nằm trong chiếc xe bít bùng
khóc
ngây thơ
như lần đầu biết yêu
nằm mơ
em
nguyễn thị đồng bào

ôm bóng tối
nhớ mẹ cha xưa cũng đã từng ngây thơ như tôi
hẹn hò nhau trong ngày hội nghị Dziên Hồng ……

đừng gọi tôi phản động
cứ gọi tôi là phản động
bạn cứ tiếp tục làm thơ yêu nhau yêu quê hương

còn tôi
tôi xuống đường

NGÔ YÊN THÁI

BỐN MƯƠI NĂM VĂN HỌC HẢI NGOẠI – MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG MONG CHỜ

 

 

 

Cuốn Bốn Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại mà Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng là tác giả vừa phát hành tại Mỹ (có thể cũng trên nhiều nước khác nữa) có đáng là hay đúng là một cuốn sách nói về Thơ Việt Nam ở ngoài nước đáp ứng được niềm mong mỏi của nhiều người?  Cứ cho là “đáng là” để mừng, “đúng là” để vui.  Sự xa vắng hay lìa bỏ Quê Hương năm này là năm thứ 43, là đã quá lâu, đã quá buồn.  Cái buồn này khó vơi, chỉ ngày càng đầy thêm thôi, hy vọng vài ngàn năm nữa nó cũng chưa tràn!

 

Xưa, không xưa lắm, Nguyễn Du với tấm lòng hoài Lê, không theo phe Tây Sơn, đành theo phò triều Nguyễn, phải rời bỏ quê nhà vào Kinh (Huế) làm việc rồi lãnh nhiệm vụ đi sứ sang Tàu (Bắc hành), Nguyễn Du buồn khi mỗi bước chân đi.  Nguyễn Du nhớ nhà, nhớ quê nhà lắm lắm.  Nguyễn Du từng than mỗi lần ông có dịp đi ngang quê nhà Hà Tĩnh trên dặm đường Bắc Hành quá Quỷ Môn Quan (mà giới trí thức và sử gia Việt Nam gọi là ải Nam Quan), Nguyễn Du buồn:  Quê nhà cỏ lợt màu sương, đường xa thêm một tấc đường một đau!  Hễ đi là buồn.  Người mình có cái vốn sẵn là Buồn.  Cái vốn này không sinh lời bao giờ, nếu có lời thì toàn là lời than van, lời than thở…Nguyễn Du ở bên Tàu, có làm thơ (tập Bắc Hành Thi Tập), không ai xếp thơ làm ngoài nước là thơ-hải-ngoại vì chữ Hải Ngoại có ba nghĩa: 1, Ngoài Biển, nhan đề tập ký sự của Phan Bội Châu là Hải Ngoại Huyết Thư – sách viết bằng máu, trên biển, sau khi Phan Bội Châu qua Nhật “xem” tình hình thanh niên Việt học tập như thế nào (đầu Thế Kỷ 20).  Chữ Hải Ngoại, Phan Bội Châu dùng có nghĩa Ngoài Biển / Trong Biển / Trên Biển.  2, Hải Ngoại xưa trong Kinh Thư của Tàu không có chữ này, chỉ có chữ Hải Nội, có nghĩa Trong Biển, Trong Cõi Đời Này, có thành ngữ Hải Nội Chư Quân Tử, không bao giờ viết là Hải Ngoại Chư Quân Tử cả dù rằng Tứ Hải vi Gia, Tứ Hải giai Huynh Đệ.  3, Hải Ngoại, theo từ điển Pháp Việt của Đào Đăng Vỹ, Outre Mer, là Thuộc Địa, là xứ chiếm được, từ đế quốc (như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha…)muốn đến đó đặt nền cai trị thì phải đi bằng đường biển, có nghĩa là xa lắm.  Tây nó nói Đông Dương (Indochine) là Outre Mer của nó vì nó làm chủ vùng lãnh thổ này, mình dịch ra thành chữ Hải Ngoại.  Việt Nam Cộng Hòa chưa đời nào xâm chiếm nước Mỹ, Canada, Australia, Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản…sao chúng ta lại gọi những nước này Hải Ngoại của chúng ta?  Nước ta có thời tên là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam, tất cả các sử gia nức tiếng đồn đều không ai hiểu chữ Cồ, Đại Cồ Việt, là gì; họ hiểu rất rõ chữ Đại là gì…nhưng cứ vòng tay thưa với thế giới:  nước chúng em là Quốc Gia Nhược Tiểu, nghe mà xón!

Trong nước là Quốc Nội.  Ngoài nước là Quốc Ngoại.  Người mình ưa nói tiếng Tàu…bốn mươi ba năm nay, không hiểu sao người mình vẫn cứ hoài là dân nô lệ, vẫn cứ ưa nói tiếng Tàu…lai, tiếng Tào…lao!

Nhìn cái bìa sách, tôi thấy xốn mắt.  Bỏ tiền ra mua, chẳng đau lòng đâu bởi buồn trong dạ đã đau nhiều rồi.  Thấy sách mới, bề thế, bắt mắt thì mua.  Hơn nữa, gần trăm năm rồi không thấy có cuốn sách nào nói về thơ đáng đọc hơn cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân xuất bản cuối  thập niên 1930 Thế Kỷ 20.  Đáng rồi Đúng, cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, đối với tôi là sách-đáng-đọc, là sách đúng-với-lòng-chờ-mong!   Nếu mấy chữ đó đồng nghĩa Sách Hay, là điều tôi rất mừng!

*

Về hình thức cuốn sách, tôi đã nói rồi:  bề thế.  Dài dòng thêm:  sách đẹp, dày 660 trang, xuất bản bởi Văn Việt ở Sài Gòn – California 2017 và nơi phát hành khắp thế giới là cơ sở kinh doanh Amazon của Mỹ.

Tôi có đọc trên website trannhuong trong nước, Thư Mời và Thông Báo của tác giả, Nguyễn Đức Tùng, về cuốn sách đó, như sau:

THƯ MỜI VÀ THÔNG BÁO

Nguyễn Đức Tùng

Thứ tư ngày 2 tháng 8 năm 2017 8:33 AM


Về Tuyển Tập Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại

Kính thưa quý độc giả, văn hữu, các nhà thơ có mặt trong tuyển tập:

Chúng tôi vui mừng thông báo đến quý bạn, cuốn sách “Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại” vừa được Văn Việt và Người Việt Books in xong, chuẩn bị ra mắt tại California. Sách hiện nay đã có mặt trên thị trường.

Có 53 nhà thơ có mặt trong tuyển tập:

1. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, 2. Nguyễn Thị Thanh Bình, 3. Nguyễn Thanh Châu, 4. Nguyễn Hàn Chung, 5. Đinh Cường, 6. Nam Dao, 7. Hà Nguyên Du, 8. Thế Dũng, 9. Trần Nguyên Đán, 10. Trần Trung Đạo, 11. Phan Tấn Hải, 12. Pháp Hoan, 13. Luân Hoán, 14. Phạm Cao Hoàng, 15. Trần Nghi Hoàng, 16. Lê Thị Huệ, 17. Khế Iêm, 18. Đỗ Kh., 19. Lê Đình Nhất Lang, 20. Vi Lãng, 21. Du Tử Lê, 22. Trần Vấn Lệ, 23. Đinh Linh, 24. Trần Đình Lương, 25. Chu Vương Miện, 26. Vương Ngọc Minh, 27. Lâm Quang Mỹ, 28. Đỗ Quang Nghĩa, 29. Bắc Phong, 30. Đức Phổ, 31. Thường Quán, 32. Nguyễn Linh Quang, 33. Đỗ Quyên, 34. Lữ Quỳnh, 35. Như Quỳnh de Prelle, 36. Phan Xuân Sinh, 37. Hoàng Xuân Sơn, 38. Cao Tần, 39. Phan Ni Tấn, 40. Nguyễn Xuân Thiệp, 41. Vũ Hoàng Thư, 42. Trịnh Y Thư, 43. Nguyễn Đăng Thường, 44. Trangđài Glassey – Trầnguyễn, 44. Trần Mộng Tú, 46. Nguyễn Đức Tùng, 47. Cung Trầm Tưởng, 48. Huy Tưởng, 49. Lưu Diệu Vân, 50. Thi Vũ, 51. Nguyễn Lương Vỵ, 52. Ngu Yên, 53. Tô Thùy Yên

Một tác phẩm tập hợp tương đối đầy đủ các khuôn mặt thơ Việt hải ngoại trong hơn bốn mươi năm qua. Đây là kết quả của sự hợp tác đẹp đẽ hiếm có giữa những người viết trong nước và những người viết hải ngoại, vượt qua các rào cản về địa lý và lịch sử.

Chúng tôi hết sức cảm kích sự ủng hộ của độc giả, các nhà thơ và thân hữu trong thời gian qua.

Quý thi sĩ tác giả có mặt trong tuyển tập, xin cho chúng tôi biết địa chỉ để gởi tặng sách. Ngoài ra, quý vị có nhã ý ủng hộ hoặc đặt mua thêm sách tặng bạn bè, cũng xin vui lòng liên lạc bằng một trong hai cách sau:

– Nhà xuất bản Người Việt Books: 14771 Moran St, Westminster, CA 92683, USA, Tel: 714-892-9414, Fax:(Tòa Soạn) 714-894-1381, Fax: (Biên Tập) 714-893-7891, email: nguyen.phuong@nguoi-viet.com

– Nhóm chủ trương: ynhi1809@gmail.com hoặc bachnguyen@shaw.ca

Riêng quý độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với nhà xuất bản:

https://www.nguoivietshop.com/products/2843-40-năm-thơ-việt-hải-ngoại/

Ngày 3 tháng 9 năm 2017, từ 2 PM đến 4 PM, chúng tôi sẽ tổ chức buổi:

Ra Mắt Sách Và Đọc Thơ

tại hội trường báo Người Việt, 14771 Moran St, Westminster, CA 92683, USA, Tel: 714-892-9414, Fax: (Tòa Soạn) 714-894-1381

Đặc biệt với sự tham dự của một số nhà thơ tác giả, có mặt trong tuyển tập, đến từ California và từ nhiều nơi khác.

CHÚNG TÔI TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI ĐỘC GIẢ VÀ THÂN HỮU

Văn Việt và Việt Books

*

Nội dung của bản Thông Báo / bức Thư Mời, trên, có mấy dòng, dù chỉ có mấy dòng, nói hết cái nội-dung-của-cuốn-sách:  “Một Tác Phẩm Tập Họp Tương Đối Đầy Đủ các khuôn mặt Thơ Việt Hải Ngoại trong hơn bốn mươi năm qua.  Đây là kết quả của sự hợp tác đẹp đẽ hiếm có giữa những người viết trong nước và những người viết hải ngoại, vượt qua các rào cản về địa lý và lịch sử”.

 

Sự hợp tác đây, theo tác giả, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, về trong nước thì tác giả có biết ơn hai thi sĩ Hoàng Hưng và Ý Nhi, về ngoài nước thì có sự đóng góp bài Tựa của Học Giả Bùi Vĩnh Phúc cũng là một thi sĩ đa năng:  có biệt tài dịch thơ chữ Anh ra chữ Việt, làm thơ Lục Bát, thơ Xuôi và thơ Tân Hình Thức.

Nội dung nói rằng có 53 tác giả, tức 53 nhà thơ, đều ở nước ngoài, đa số ở Mỹ, ít ở Canada, Pháp, Úc, Đức, Ba lan, Tiệp Khắc…Con số 53 này bao gồm cả tác giả cuốn sách đồng thời là tác giả một mục thơ dành cho thi sĩ Nguyễn Đức Tùng.  Nếu Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dám hy sinh mình thì chỉ có 52 tác giả thực thụ và tiêu biểu cho Thơ Việt Ngoài Nước Hơn Bốn Mươi năm nay.  Nhưng…rõ ràng có 53 tác giả thực đó mà vẫn chưa đúng: còn thêm Học Giả Bùi Vĩnh Phúc qua bài Tựa có dẫn chứng ba bài thơ của mình, ba bài đều khá dài, rất xuất sắc, coi như Bùi Vĩnh Phúc cũng là một phần “xương thịt” của cuốn sách Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, thì nên nói cho phải đạo:  Cuốn sách Bốn Mươi Năm Thơ Việt hải Ngoại Có 54 Tác Giả Tất Cả.  Cũng nên để ý:  con số thứ tự tên tác giả ghi trong Thông Báo & Thư Mời kia, không phải là số thứ tự để trong sách.  Chẳng hạn: trên thư mời, Chu Vương Miện được ghi: 25 – Chu Vương Miện, trong sách thì Chu Vương Miện đứng hạng 43.  Các con số này là các con số, không đề cao hay hạ thấp tác giả nào.

Cái bề dày của cuốn sách hơn sáu trăm trang, tác giả của nó, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dành riêng cho mình hết một phần tư hơn để đăng năm bài Tiểu Luận của mình về Thơ, gọi là Thơ Ca (hai chữ Thơ Ca hay Thi Ca thật tình tôi không hiểu, Thơ là Thơ còn Ca là chuyện khác.  Tác giả mấy bài Ca người ta cũng chưa hề gọi là Ca Sĩ, chắc những tác giả bài Ca cũng chưa định danh được cho mình?  Năm bài Tiểu Luận đó, tác giả, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng gọi là Chương.  Chữ Chương có vẻ quan trọng lắm đây và mang tính hàn lâm rõ ràng.  Tôi nhớ Lâm Ngữ Đường có “phán”:  Viết văn là ghép Chữ thành Câu, nối Câu thành Đoạn, kết hợp Đoạn thành Chương và kết hợp các Chương lại thành Sách.  Nhưng đó là viết Văn bình thường, không hay; làm sao mà rút Sách thành Chương, rút Chương thành Đoạn, rút Đoạn thành Câu, rút câu thành Chữ, rút Chữ đến không còn Chữ nào…thì mới đáng là Văn Nhân!  Nguyễn Du, tiên sinh của Lâm Ngữ Đường nói gọn hơn:  Vô Tự Kinh Thị Như Chân Kinh”.  Kinh là Sách.  Điển là Sách.  Sách là xấp giấy được xếp, đóng, làm bìa…bề thế thôi!  Ai cũng biết Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Phật, Kinh Thánh…vì tất cả những cuốn Kinh đó đều là Cuốn Sách.  Còn Điển, bạn nghe hai tiếng Kinh Điển?  Bạn từng xem/tra Từ Điển mà!  Năm Chương Tiểu Luận của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, tôi đọc và tôi tự rút cho tôi được cũng kha khá cái hay, nhất là ở Chương Năm “Đi Tìm Tiếng Nói Mới”.  Ở Chương này, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dẫn dắt người thưởng thức thơ tới chỗ thưởng thức xác thịt đàn bà…khỏa thân hay ít nhất cũng thấy cái nịt vú.  Thơ Trần Mộng Tú thật hồi hộp, đi từng bước từng bước, sướng rên mé đìu hiu luôn:

Tôi bắt đầu tháo bỏ chàng

Như tháo đôi hoa tai ra khỏi tai

Tháo từng chiếc

Từng chiếc một

Hai tai đã khỏa thân.

 

Ố là là!  Thơ Ca Ca ca ha ha…khoái tỉ tê mê!

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dẫn một đoạn thơ của Đỗ Lê Anhdao, nhìn mà muốn rớt nước…miếng, mới thấy tiếng Việt của mình tiệt…vời:

 

Người tình nhắc tôi thường xuyên

Phụ nữ Việt Nam tứ đức

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Nhưng riêng anh thì vẫn lui tới mấy “quán cà phê bikini” đều đều

Tự do ngâm mộ những cô gái mặc áo dài may bằng loại vải “tơ mỏng”, lặp đi lặp lại khen khoa học hiện đại biết cách mô cấy vú nhân tạo.

“Em cũng nên đi sửa đi”, anh nói

Cuối cùng thì chúng tôi chia tay

Tôi cũng chẳng cần tìm hiểu coi có phải vì ngực tôi lép hay không.

Tôi không bao giờ tự sửa sang mình cho thích hợp với đòi hỏi của đàn ông.

Đôi khi tôi cũng mặc áo lót,  nhưng tôi không có ý định làm vợ.

 

Tôi lần lần / từ từ / chậm chạp hiểu được thơ ca là cái giống gì rồi, nhất là tới chỗ Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng nói về thi sĩ Đinh Linh viết về sự kiện 9-11:

Hắn có thân hình vạm vỡ

Với cả ngàn cái nứng lên

Làm rực bầu trời về đêm

Nhưng không gì nứng cao hơn

Đôi cặc sinh đôi.

 

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng “trích dẫn” xong bèn đệm thêm câu tưng tửng:  “đã gây ra xúc cảm mạnh ở một số người đọc.  Có lẽ đối với họ bài thơ của anh là sự xúc phạm.”.  Tôi nói “tưng tửng” vì tôi không hiểu hai chữ “có lẽ” và hai chữ “xúc phạm”.  Có lẽ…là không hề chi?  Xúc phạm…là va chạm nhẹ nhàng?  Theo tôi, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu với độc giả trong cuốn thơ của mình, có một họa sĩ tài ba, là họa sĩ Đinh Linh,  vẽ hình hài một con người quái…kiệt, có tới hai cái dương vật?

Thế là vui!  Đọc một cuốn sách dày không thấy ngán, nhờ thế đó!

Năm mươi hai, năm mươi ba (tính luôn Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng), năm mươi bốn (tính luôn học giả Bùi Vĩnh Phúc) tác giả có tác phẩm in trong cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại cho người đọc Một Sự Sảng Khoái Lạ Lùng.  Thơ của ai cũng thuộc loại tuyệt cú mèo, thí dụ thơ của Nam Dao:

TA CHÚC GÌ NHAU TRONG MÙA BẤT AN

(gửi đám ăn mày, không chỉ văn chương)

 

Thần linh bỏ cuộc

Đền thờ hoang

Bầy ngôn sứ nay câm

 

Còn đâu con người?

 

Còn đâu? Đám ngư dân nổ máy

Cắm đầu bỏ chạy

Chẳng phải sợ  quá ngày giúm cá đánh lên ươn

Biển nay cũng vạch đầy biên giới

Tàu tuần tra lạ hoắc đón đường

 

Còn đâu?  Cạnh những mỏ kim cương

Đất đá đào lên lổn nhổn

Đám đanh thuê bản xứ súng ngoại gầm gừ

Canh cho những ông chủ

Đang đợi mở xâm-banh

Hân hoan kết thu một năm lợi nhuận

 

Còn đâu?  Bọn như tôi như anh

Hàng hàng lớp lớp

Chen nhau ngày boxing day

Mắt dán vào những mặt hàng

Bán tháo

 

Lời và lẽ, bát nháo

Bầy ngôn sứ nay câm

Thế giới lửng lơ

Hải hạm khoe răng nanh

Pháo phòng không chỉa lên mặt trời

Cánh chim thép sà vào lòng biển

 

Trong khi bán đảo bên này

Đã lắp giàn tên lửa tầm xa

Trong khi bán đảo bên kia

Tiềm thủy đỉnh gắn đạn đầu nguyên tử

 

Trong khi tôi luồn vô em

Nhưng không cương cứng nổi

 

Còn đâu, con người?

 

Thế thì cho tôi hỏi

Ta chúc gì nhau trong mùa bất an?

 

Đó là bài thơ trong 6 bài thơ của Nam Dao được dẫn ra trong mục nói về thi sĩ Nam Dao, giáo sư Kinh Tế Học tại Đại Học Laval, Québec, Canada, đã có 14 tác phẩm in thành sách bán, trong đó có 4 tập thơ.  Nam Dao là sinh viên VNCH đi học nước ngoài trước 1975, với tư cách là du học sinh (là học sinh đi chơi?) ở lại tị nạn Cộng Sản, sau đó về nước phục vụ cho chế độ mới với vai trò cố vấn kinh tế dưới thời Võ Văn Kiệt, rồi hết hạn giao kèo lại trở về Canada…tị nạn tiếp.  Nam Dao được Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng trang trọng mở lời giới thiệu như thế này:  “Nam Dao là một người viết tiểu thuyết nổi tiếng, nhưng ít người biết anh cũng làm thơ và từ lâu.  Những mối quan tâm của anh nặng về lịch sử, xã hội, cộng đồng, điều này thể hiện rõ trong văn xuôi.  Tuy nhiên, trong thơ, chúng ta nhận ra một Nam Dao khác của tình yêu, của khắc khoải siêu hình, những bày tỏ cá nhân, và vì vậy, những ước vọng thầm kín.”

Đọc mấy lời bình đó, tôi chịu thua.  Một là tôi dốt quá, tôi không hiểu sao Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng viết một câu kỳ cục:  Nam Dao là người viết tiểu thuyết nổi tiếng, nhưng ít người biết…”.  Mấy chữ tiếp theo chỉ là gở gạc?  Phần tiểu sử, Nam Dao viết 10 cuốn văn xuôi, có cả tác phẩm viết bằng chữ Pháp…mà chữ champagne ông lại phiên âm xâm banh, chữ xâm này trật lất, phải là sâm mới đúng, trong khi đó ông viết boxing day thì correct!  Có nên mạ kền bằng thơ Hàn Mạc Tử ngay chỗ này không nhỉ?  Vô tình để gió hôn lên má, bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm!  Thưa ông giời!

Tôi khoái cảm nhất hai câu :  Trong khi tôi luồn vô em  / nhưng không cương cứng nổi!  Hèn chi chính phủ Canada cho Nam Dao tị nạn “quài”.  Về Việt Nam hay đi đâu nữa thì chỉ còn nói tiếng Tàu thôi:  Ngộ mậu hẩu lớ!  Ngộ hết xí quách lớ!  Luồn vô em mà mềm xèo như cái bánh xèo, tội nghiệp lắm!  Hay cắt ra băm làm nhân bánh xèo?

*

Đọc cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, phải nói là vui kể sao cho xiết!  Nó không là một cuốn sách “khảo luận” hay “biên khảo” mà nó là tác phẩm quần chúng, đọc để giải trí.  Chúng ta hãy đọc phần tiểu sử tác giả của từng nhà thơ, chúng ta sẽ khoái cảm làm sao đâu đó!

Đa phần tiểu sử tác giả trình bày gần như một kiểu:  giản dị, đơn sơ mà đầy đủ, có ít tiểu sử tác giả hơi dài và lắm chi tiết nhưng thấy chưa thỏa mãn người đọc tò mò (thí dụ Tiểu Sử của Chu Vương Miện), người đọc, cũng là người dân của một thời binh lửa, thắc mắc tại sao một hạ sĩ quan truyền tin lại phải xuất ngũ.  Binh chủng truyền tin coi có vẻ hiền nhưng nó không chấp nhận sơ xuất.  Ai mà sơ xuất…thì không thể cho xuất ngũ một cách bình thường thế mà Chu Vương Miện ra khỏi đó như ông Thầy Chùa thõng tay vào chợ!  Còn tiểu sử của nhà thơ Ngu Yên thật là độc đáo!  Bạn nghe nè:

“Ngu Yên tên Nguyễn Hiền Tiên.  Quê quán Bình Định gốc miền Kim Châu.  Kể rằng thân thế khởi đầu, 20 tháng 11, sinh vào năm 52.

 

Mặt mày trên mức xấu trai, học hành đại khái, ngày ngày rong chơi.  Nuôi hoài bão nhưng biếng lười, nên thường lấp liếm vài lời cuồng ngông.  Sinh ra tâm tính lông bông, lớn khôn chỉ giỏi bềnh bồng nổi trôi.  Giữa cơn binh loạn đổi đời, xuôi dòng tản lạc thành người lưu vong.  Tháng ngày trồi sụt long đong, vui buồn thơ động tiếng lòng nghêu ngao.”

 

Đọc phần tiểu sử trên, chúng ta nghĩ:  nếu nước mình ai làm thơ cũng có phần tiểu sử đẹp đẽ, truyền cảm như thế nhỉ…cần gì phải có thơ trích dẫn làm chi?  Tiểu sử đã là bài thơ.  Tác giả không biết đàn ông hay đàn bà (vì ảnh chân dung đính kèm để nhận diện có hai người đờn ông và hai người đờn bà, chắc tác giả là đờn bà nên mới có chuyện tháng ngày trồi sụt long đong?).  Cái vụ này là bất ổn nha!  Coi chừng huyết âm nó ầm ầm đấy nhé!

Cũng cái tiểu sử này, chúng ta nghi ngờ cuộc chiến tranh Việt Nam là “binh loạn” thôi, là nhẹ nhàng lắm, là cuộc cãi cọ giằng giai giữa Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu?  Hà cớ gì mà tác giả phải long đong?  Hà cớ gì mà thành người lưu vong để rồi cực lòng làm thơ cho mệt?  Vũ Hoàng Chương còn sống nhất định vỗ đùi ngâm:  “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa, bị Quê Hương ruồng bỏ, giống nòi khinh!”.  May mà Vũ Hoàng Chương đã ra người thiên cổ…

*

Cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, tôi phục Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng ở điểm Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dám minh xác về Thơ Tự Do:

Những người mới làm thơ có thể có chung một ý tưởng sai lầm rằng làm thơ tự do nghĩa là tự do.  Tự do có nghĩa là không có thể thơ.  Thật ra tự do là một thể, thể thơ tự do.

 

Vâng, cái gì hiện hữu trên cõi đời này cũng có hình thể cả, chỉ có những cái gì không nói ra, không vẽ ra…thì vô hình trung!  Thơ tự do đã được “sáng tác” bởi Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Phạm Công Thiện…từ cuối thập niên 1950 thế kỷ 20 ở Sài Gòn.  Bài nào cũng có hình thể – báo Văn Nghệ Tiền Phong hồi đó hay vẽ cái hũ nút và chua:  thơ Tự Ro.  Chúng ta có thể “tư duy” một đoạn thơ trong bài Ngày Sanh Của Rắn, tác giả là Phạm Công Thiện, nhé:

tôi chấp chới 
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt 

 

Và đây, trọn vẹn một bài thơ danh giá của thi sĩ nổi tiếng Nguyên Sa:

Nhìn Em, Nhìn Thành Phố, Nhìn Quê Hương

Buổi sáng thức dậy, anh cởi bộ quần áo ban đêm

và cơn ác mộng
em còn ngủ
anh bỗng nhìn thấy em
như mới nhìn thấy em
như trời đất bỗng nhiên mùa xuân
như cánh tay bỗng nhiên rạo rực.

Em ngủ đi
ngủ cho ngoan
thành phố, dưới kia, đã thức giấc
có quan hệ gì
thành phố trống rỗng
thành phố nào đầy chiến xa đại bác
đầy non sắt đầy dây thép đầy mìn chông
mà không trống vắng
đám đông nào buồn bã
mà không cô đơn.

Mặt trời đã mọc
vẫn ở phía đông
nỗi đau xót và tủi nhục
của quê hương
vẫn ở bốn phía
chút nữa thức giấc
em sẽ thấy
tất cả vẫn còn đó
chiếc hẻm đưa tới đường
con đường đưa tới phố
ở đó
dù nắng
dù mưa
nắng như chưa từng có
mưa như chưa từng có
nhơ nhớp vẫn chạy cùng đường
vẫn tanh tưởi
mùi sắt
mùi lừa đảo
mùi xác chết
ở đó
dưới nắng
dưới mưa
em sẽ thấy
anh vẫn đi
vẫn cất lên những lời thô tục
nguyền rủa

Những lời thô tục và nguyền rủa
đập vào mặt cuộc đời
cuộc đời chó đẻ
thế kỷ chó đẻ
chiến tranh chó đẻ
anh đã nói với cuộc đời
theo em có điều gì để nói
có điều gì khác cần nói
nói với ai
nói ở đâu
nói ở phương đông
với loài rắn
nói ở phương tây
với loài quạ
anh đã lên tận miền băng giá
nói với loài gấu mùa đông
chút nữa em nhìn coi
thân hình anh tiều tụy

Đấy là anh đã làm đúng lời em dặn
mỗi ngày
anh mượn của hiệp sĩ thanh gươm
mượn ân sủng của nhà tu hành
mượn của mẹ lòng nhẫn nại
mỗi ngày anh soi gương
những võ khí em cho anh
trên má
trên môi
những hình tượng lạ kỳ
những hình tượng
mang lại sức khỏe vô biên
như tổ tiên anh
xâm hình thủy quái

Đấy là anh đã làm đúng lời thần linh
mỗi đêm trong chiêm bao
anh trở về đó
ai không muốn trở về đó
anh nghe thấy tiếng em hát
cùng với nỉ non của sóng
anh nghe tiếng em cười
với chân bước xôn xao
anh thấy chiếc thuyền đánh cá
có mùi muối mặn
nằm ngủ trong đêm
em nằm trong tay anh
em thấy không
em nhớ không
tiếng em dặn dò
tiếng gió đêm dặn dò
bao giờ trở về quê hương
anh sẽ mua một chiếc thuyền
chở em ra biển đông
và hôn em
cùng với tia mặt trời thứ nhất

Ôi, trái đất có nơi kỳ diệu đó chăng
cao hơn núi cao
sâu hơn biển sâu
lạnh hơn chốn giá băng
nóng hơn vùng nhiệt đới
nơi, lần đầu, nhìn thấy mắt em
cầm được tay em
thở được hơi em
nơi anh tìm ra loài cây kỳ lạ
vừa chạm tới lá
đã rung động tới cành
vừa trở gót ngó lui
quên nhìn hoa
đã mùa đông rã cánh,

Nơi, ngày anh làm thơ
sáng anh làm thơ
chiều anh làm thơ
ban đêm trong chiêm bao
anh thấy những hành tinh
đứng nhìn mắt em
những thảo mộc thơm ngát
đứng nhìn tóc em
những loài thú
run rẩy
lông mượt và dịu hiền
đứng nhìn thân thể em
rồi cám ơn anh
đã làm vinh quang cho vũ trụ

Ngủ đi em
ngủ cho ngoan
cứ ở nơi đó
chút nữa thức giấc
nếu muốn
em sẽ nhìn xuống phố
nhìn anh
đang đi
với những buồn bã
những thô tục và nguyền rủa
có sự thô tục nào không yếu đuối
có sự nguyền rủa nào không đớn đau

Em nhìn coi
mùa xuân đã trôi qua
mùa hạ đã trôi qua
mùa thu đã trôi qua
bây giờ là mùa đông
mùa đông ở trên vai
mùa đông trên thành phố
lá chết ở trên cành
cành chết ở trên cây
cây chết ở trên đường
thành phố
phải thành phố đó
thành phố chiến xa và đại bác
thành phố trống vắng
quê hương trống vắng
con giun xéo đã quằn
anh đi ở đó
mặt trời vẫn mọc ở phương đông
anh vẫn đi ở đó

mà vẫn còn yêu em.

Nguyên Sa

 

*

Bạn “thưởng thức” thơ Phạm Công Thiện rồi, thơ Nguyên Sa rồi, chắc bạn “nhất trí” đó là hai ông Tổ của Thơ Tự Do Việt Nam?  Nếu không là ông Tổ sao hai “quỵ” đó lại được “tấn phong” là Đại Thi Hào?  Hãy tự hào:  đất nước ta, dân tộc ta hơn người ta ở chỗ:  Thơ Tự Do là Thơ Có Hình Thể!

Cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại là một cuốn sách bình thơ rất đáng mong đợi, nó đã ra mắt, sau năm năm ấp ủ có sự chỉ đạo từ hai thi sĩ trong nước là Hoàng Hưng và Ý Nhi.

Trước khi khép lại cuốn sách, tôi cầu Trời khẩn Phật thương nhà thơ Du Tử Lê, phù hộ độ trì cho Du Tử Lê có bệnh hoạn gì cũng qua khỏi, chớ:  Đêm về theo vết xe lăn, tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên, vàng thì thương quá!

Thơ Việt Nam phải vạm vỡ, phải uy nghi, phải đi tới…tới chỗ đoạt quyền của đấng Tạo Hóa, cướp lấy Thời Gian, nói rỗn rảng um sùm như thi sĩ Trần Trung Đạo:  Ví mà tôi đổi thời gian được, đổi cả Thiên Thu tiếng Mẹ cười!  Ngon nha!  Tôi xưa nay chỉ nghe nói Đấng Tạo Hóa là người “sáng tạo” ra Vũ Trụ bao gồm Trái Đất, Chúng Sinh Muôn Loài, Không Gian, Thời Gian, nay có thi sĩ Trần Trung Đạo đại gia hơn Tạo Hóa, còn chi mà không mừng?  Ôi Thời Gian và đồng Dollar khi không mà cùng chung lò đúc tiền!

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, tác giả cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại và tác phẩm đó, xứng đáng với lòng chờ mong của những người yêu Thơ, đón tiếp tác giả và tác phẩm trong ngày ra mắt Thơ long trọng.   Nhưng tôi dám đoan chắc:  Khi nào nước Việt Nam không Có Thơ nữa, khi nào dân tộc Việt Nam không thấy Thơ nữa…thì lúc đó giang sơn mới thật là giang sơn cẩm tú vậy!

Mà…bao giờ?  Biết có bao giờ?  Cho nên chúng ta hãy cứ chào đón cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng với lòng biết ơn…rộng rãi!  Đừng làm như Tố Hữu:  “Tôi giẫm giày đinh trên phố Huế, lòng dửng dưng không chút cảm tình chi!”.

Trần Trung Tá

Ngậm

 

Ngậm đôi môi em lộng lẫy điêu tàn
và tráng lệ làn mi ruồng rẫy
anh không tiễn tình đi
nhưng anh không níu lại
tụ tán tụ tan là một lẽ vĩnh thường

Ngậm sợi tóc em
đâu đó có một phần chín sợi vàng
anh ngẫm câu thơ mùa thu không trở lại
Houston không có lấy một con sông
mà dẫu có sông đi nữa 
cũng không tìm đâu ra một cánh buồm
từ vạn đợi

Ngậm câu thơ em
nuốt không trôi nỗi buồn 
không gặp gỡ mà chỉ còn li biệt

Ngậm đôi môi em lộng lẫy điêu tàn 
điêu tàn và thê thiết
cũng có thể là đôi môi thứ mười mười lăm mười bảy thứ một trăm
những đôi môi anh không bao giờ biết đến 
lưỡi câu thơ không đề kháng nổi thi nhân

Ngậm môi anh đi chiều Sugarland
biển Galveston đục ngầu đỏ quạch
dòng nước không xanh mơ như mơ tưởng 
trong những câu thơ phá cách 
chỉ dành riêng cho một người 
(không phải là em)

Vì sao không phải là em 
chỉ một mình anh biết.
một mình em biết

 

Nguyễn Hàn Chung

Đừng bao giờ là tôi!

 

“ Con thú ăn thịt đồng loại rồi đi ngủ.
Con người làm trái rồi ăn năn. ”

Francois- Réne de Chateaubrian

Tôi nói với con gái:

– Con cho ba ghé chỗ bác Trung vé số nghe. Ba ngồi chơi với Bác, khi nào ba gọi thì ra chở ba về.

Đứa con gài tấp xe vào quán cà phê Tùng, nơi có quầy vé số của anh Trung. Từ ngày vào Sài gòn định cư, tôi thường hay nhờ con chở đến chỗ anh Trung, Tôi quen biết anh ban đầu là một hai lần mua vé số, thấy anh cởi mỡ, tôi thường ghé chơi, có khi mua vài tấm vé, có khi không… chuyện trò cùng anh là chính.

Sáng nay, đi cắt tóc về, tôi nhờ con chở thẳng đến anh Trung ngồi chơi.

Vừa thấy tôi, anh đã đưa tay vẩy chào, miệng hô to vào quán:

– Hai ly cà phê cho hai thằng già này nghe cháu!

Cô bé bàn quán ngững mặt nhìn rồi gật đầu chào tôi, cũng là tỏ cho anh Trung biết là đã nghe thấy, cô bé đi vào quầy…Anh kéo cho tôi cái ghế có chỗ tựa lưng rồi ngồi xuống dán mắt vào tờ báo cũ.

– Có tin gì mới và gay cấn lắm ha anh Trung?

– Không, báo từ đời nao rồi, nhưng có cái này hay hay, chú đợi chút tôi đưa chú xem…

Tôi ngồi xuống ghế, nghiêng người bỏ cặp nạng tựa vào gốc cây, châm điếu thuốc rồi nhìn vu vơ ra đường trong khi anh Trung vẫn chăm chú với tờ bào.

Tôi thích chuyện trò với anh vì anh là người có tâm có tình, ngồi bán vé số, anh gặp nhiều người và biết được nhiều chuyện đời khá thú vị. lại nữa, những hiểu biết của anh rất phù hợp với tôi, tính ra anh chỉ hơn tôi bốn tuổi, học trước tôi vài năm, ngày tôi học lớp 11, thì anh rớt tú tài II, dăng linh, khóa 4 năm 1971 trường Bộ Binh Thủ Đức. Anh không xuất cảnh được vì chỉ cải tạo hai năm, hai lần trọng cấm trong ba năm lính, đến ngày 30/4/75 anh trình diện với cấp bậc thiếu úy ĐPQ. Nghĩa là ra trường chuẩn úy, 18 tháng sau, anh lên Thiếu úy đúng như quy đinh, rồi nằm đó cho đến khi đi cải tao! Bạn bè cùng khóa anh ra tác chiến, phần nhiều lên Trung úy, có người cố Đại úy và cải tạo trên ba năm nên giờ ở hải ngoại rất đông. Lâu lâu anh có tí quà từ bạn bè, bao giờ anh cũng kéo tôi đi làm vài lon đưa  cay với dĩa mồi to tướng.

Nhiều người biết anh là sĩ quan, không được xuất cảnh, khơi lại chuyện cũ, anh cười nói:

– Con người có số cả rồi, xuất ngoại cũng phải có số xuất ngoại chứ.

Hồi mãn khóa, anh nắm trong số tốt nghiệp từ 1 đến 10, được chọn đơn vị, vì có mẹ già nên anh chọn Tiểu khu Biên Hòa, ĐPQ.

Chiến sự năm 1972 rất căng thẳng, bạn bè phần nhiều chọn Dù hoặc Biệt Động Quân.

Khi biết anh về Tiểu Khu, bạn bè đùa, ném cho anh những chiếc mũ đen :

– Cho mày, về “ Rùa” đội, tụi tao có nón khác!

Nóng máu, anh muốn chọn Dù cùng các bạn ra tái chiếm Cổ Thành…nhưng Mẹ và chị anh khóc lóc, không cho.

Khi anh chưa hết phép mãn khóa, bốn thằng bạn cùng Đại Đội anh về Dù, đã nằm xuống nơi ấy. Số còn lại, bây giờ đang ở Mỹ, những lần về Việt Nam, gặp lại nhau, khi tuổi đời đã gần thất thập, ôn chuyện quân trường, chuyện lính tráng sinh tử cận kề, ai cũng cho là mỗi người có một số mệnh riêng…Ngồi bán vé số bên đường như anh Trung chưa chắc đã khổ, sung túc ở hải ngoại làm kiếp lưu dân chưa chắc đã là hạnh phúc…

Chưa cầm súng ngày nào nhưng lại sống trong thời đất nước loạn lạc, bạn bè tôi cũng nhiều người nằm xuống trên chiến trường, nên tối rất đồng cảm với những chuyện anh Trung kể.

oOo

Khi cô bé mang cà phê ra cũng là lúc anh Trung rời mắt khỏi tờ báo:

– Không biết chú có khi nào gặp tâm trạng này chưa?! Đọc đoạn này này…

Tôi nhận tờ báo từ tay anh.

“…Bây giờ, việc thi hành án cho một tử tù bằng hình thức tiêm thuốc độc vô cùng rắc rối. Nếu phạm nhân nằm ở trại giam đã xây dựng “phòng” tiêm thuốc độc thì còn đơn giản, nhưng nếu ở các tỉnh xa thì không đùa được. Cả một đoàn người trong ban tổ chức thi hành án gồm hàng chục cán bộ của công an, tòa án, viện kiểm sát, cảnh sát bảo vệ, pháp y. Cảnh sát dẫn giải phạm nhân phải đi từ nửa đêm gà gáy, vượt quãng đường có khi hàng trăm cây số để đến trung tâm thì mệt mỏi đến mức thế nào.

Nhưng rắc rối nhất, khó khăn nhất lại chưa phải là chuyện đó, mà là từ việc “ai sẽ là người lấy ven, chọc kim vào tay tử tù?”.

Thế mới có chuyện rằng, để một bác sĩ lấy ven tử tù, người ta đã phải làm một văn bản gần như đánh lừa người bác sĩ đó với một cụm từ hết sức mơ hồ là “hỗ trợ”. Tất nhiên, sau lần ấy thì chắc chắn người bác sĩ này sẽ không bao giờ tham gia nữa.

Rồi lại có chuyện ở đơn vị công an nọ, tìm mãi không ra người lấy ven, tiêm thuốc cho tử tù. Cuối cùng, họ tuyển một cô mới học Trung cấp Y kèm theo lời hứa, nếu chịu làm công việc ấy thì cho vào biên chế để cô gái nhận lời. Không hiểu rồi cô gái ấy sẽ làm được công việc này trong bao lâu?

“…Có anh lính mới, láu cá lắm, phải làm nhiệm vụ, anh ta sợ ám ảnh nên cố tình không bắn vào tim tử tù (vị trí có dán cái băng dính để làm “cọc tiêu”), mà anh ta bắn vào chân tay họ, rồi tự nhủ “mình không hề giết người”…

Tôi trả tờ báo:

– Có gì đâu anh?

– Nỗi ám ảnh, lòng hối hận! Không biết bây giờ thế nào. Tôi nghe nói, ngày trước, tiểu dội hành quyết có 12 người, mỗi cây súng chỉ có một viên đạn, lấy từ 12 viên đạn trước mặt, trong 12 viên dạn đó có một viên đạn giả, không gây chết người, vậy là mỗi người trong đội hành quyết ai cũng hy vọng là mình đã chọn đúng và đã bắn viên đạn ấy, yên tâm mình không giết người, không đem cài chết đến cho tử tủ. Trong chiến tranh, giữa trận mạc, bắn búa xua chẳng chủ tâm trúng ai, có khi nhiều người chết vì đạn của mình nhưng mình không hề biết và không ray rứt, nhưng khi dối phương vô tư trong tầm đạn, nâng súng lên ta không dám bắn, không phải vì ta hèn, mà vì ta sợ chính lương tâm mình! Tôi cũng đã có lần như thế !

– Anh kể đi.

– Ừ. Anh Trung nhấp ngụm cà phê, chậm rải: Hồi đó, đang có hiệp định ngưng bắn, tôi đóng quân ở Hố Đá, Biên Hòa. Trung đội tôi nằm bên con suối, án ngữ con đường vào làng. Tiếng thì ngưng bắn nhưng bên kia cứ thấy bên này sơ hở là tấn công, cắm cờ dành đất, vì thế nên luôn luôn phải đặt trong tình trạng báo động, căng thẳng hơn cà lúc không ngưng bắn. Để giữ đất, nên trung đội tôi chia mỏng thành 3 toán. Mỗi toán một tiểu đội trừ! Chiều hôm đó, sau cơm tối xong, tôi ngồi với trung sĩ trung đội phó, bên máy truyền tin. Bất chợt, tôi thấy một chú vi xi trẻ măng, quàng một lá cờ Xanh đỏ quanh cổ đi ngang trước mặt, cách chừng 15 mét, tôi với tay cầm cây M 16 lên, với tầm này thì không cần nhắm nhiếc gì, bóp nguyên băng là nó tiêu. Tay trung sĩ đưa tay ấn nhè nhẹ mũi súng chúc xuống, tôi nhìn hắn, hắn đưa ngón tay lên miệng ra dấu im lặng. Khi tên vi xi khất xa về phía làng, tôi hỏi:

– Sao vậy?

– Thứ nhất là sai chiến thuật, biết đâu đây là thằng cảnh giới đi trước, đàng sau là cả trung đôi, đại đội. Thứ hai là ông liệu có quên được hình ảnh nó chết trước mắt bởi loạt đạn của chính ông trong khi lệnh ngưng bắn vẫn còn hiệu lực không?!

– Khoảng một giờ sau, khi tay trung sĩ xuống suối pha ca phê, tôi đang ngồi nhìn về hướng Biên Hòa thì chính thằng vi xi trẻ kia quay lại, lần này thí hí hửng lơn tơn, là cờ vẫn còn quấn ngang cổ, trên lưng đeo ba lô, trên ba lô còn có mấy đòn bánh tét. Tôi nâng súng lên, hướng về phía cậu ta,  bụng nhủ thầm: “ Hai lần rồi nghe nhóc con, mày mà cắm là cờ trong làng là mai bỏ mẹ tao!”

Đêm đó yên lành và cả ngày mai cũng không có rắc rối nào, tôi nhẹ người! Có nhiều khi ta thở phào như vậy lắm trong đời.  Nhiều năm sau này, tôi cũng một lần nữa thở phào, cảm ơn trên đã không đễ tôi sai phạm…

Tôi nhìn anh hỏi:

– Sao anh ?

Anh Trung lại nhấp ngụm cà phê, tay sửa mấy xấp vé ngay ngắn dưới mấy hàng dây thun…

– Dạo đó, vào những năm 79-80, đói kém lắm, Tôi xót xa đến đứt ruột mỗi khi nhìn đứa con gái tôi nổi ghẻ chốc đầy người vì ăn không có chất, vợ tôi xanh xao, môi thì lỡ loét, rát đau mỗi lần đưa thức ăn vào miệng hay uống nước! Tôi xin vào làm bốc vác cho một nông trường cao su ở Đồng Nai mong kiếm tí tiêu chuẩn Gạo, mắm muối…cải thiên cuộc sống! Tay kế toán công ty, biết tôi là sĩ quan cải tạo về, cho tôi lên phụ cho một cô kế toán Đội. Thằng này ăn bẩn khủng khiếp, Công nhân than trời than đất nhưng hắn vẫn thản nhiên tại chức, Giám đốc cũng ghét hắn nhưng không dám đụng vì hắn là em ruột của tổng giám đốc cao su miền Nam. Hắn hài lòng tôi vì tôi chăm chỉ, từ ngày có tôi, sổ sách ít sai, cô kế toán là bồ của hằn nên hằn quan tâm hơi nhiều…Một buổi chiều, hắn gọi điện tới bảo tôi tối chuẩn bị sẵn, sau cơm tối, hắn sẽ đến đón đi chơi…còn dặn: “ Bí mật nhé”. Tối đến hắn chạy chiếc xe Vespa mới cứng đến chở tôi đi. Chiếc xe này hắn mua lại của một Linh mục trong vùng. Chiếc xe được đem từ Ý về hôi ông ấy đi học bên đó,  Ông Cha nhận giáo xứ xong thì 75 ập đến, nó được đắp chiếu từ khi về đến nay vì không có xăng…Tôi không biết hắn đi đâu mà lại chạy vong vèo trong các lô cao su vắng vẻ. Gần một giờ sau mới tới nơi, đó là căn nhà to như biệt thự, cũng nắm trong lô cao su. Hắn đi đánh bạc với những tay đồng liêu, có lẽ cũng là những tên hạm như hắn. Tôi được hắn chỉ vào nằm trên chiếc võng của trạm bảo vệ. hắn dựng xe ở đó rồi vào trong nhà. Tôi nằm trên võng,  lạnh và muỗi không ngủ được. Thì ra hắn đem tôi đi theo vì đoạn đường dái và vắng, hắn sợ cướp, có tôi ngồi sau xe hắn yên tâm hơn. Tôi kéo cao cài mủ của chiếc áo khoác, kéo sợi dây buộc trùm mật cho đỡ muỗi. Gần sáng, hắn đi ra với cái túi xách căng, chật cứng tiền, hắn thắng bạc vơ sạch sòng đêm đó.

Kể đến đây anh Trung ngừng lại nhấp một ngụm cà phê, nhấp thêm ngụm nữa. Hỏi tôi:

– Chú hồi trước có hay đọc truyện trinh thám không?

– Có, Thích lắm anh.

– Chú có khi nào đọc cách giết người không bằng dao, bằng súng mà bằng dây cước hay dây dù không?

– Có nhiều…mà sao anh?

Anh kể tiếp:

– Ngồi sau lưng tay kế toán gian ác, tôi nảy ra ý định giết hắn đễ cướp cái túi tiền. Tôi rút cái dây nơi áo khoác một cách nhẹ nhàng, vo lại, cầm trong tay. Trong khi đó hắn vô tư chở tôi đi vòng vèo trong đường cao su vắng, lạnh và tối. Ánh đèn pha của xe Vespa rất sáng, rọi khá xa… nên hắn có lẽ cũng bớt sợ. Tim tôi thì đập thình thịch liên hồi, muốn ngộp thở. Khi hắn dừng xe trước phòng kế toán đội cho tôi xuống, tôi thở phào bắt tay hắn rồi đi nhanh vào chiếc giường của tôi nơi cuối phòng, nằm vật xuống. Ban đầu tôi trách mình nhát, bỏ qua một cơ hội có thể đổi đởi, hay ít ra cũng có một cuộc sống khá hơn, hết đói khát… nơi một tỉnh nào đò ở miền Tây xa xôi…Tôi thiếp đi trong chập chờn những mưu toan, sáng ra tỉnh dậy, tôi nằm im và ý thức là vẫn không có chuyện gì, nỗi sợ qua đi, tôi thở phào nhẹ người vì đã không có chuyện gì!!!

Tôi nhìn anh cười cười, nói:

– Sao không tận dụng cơ hội loại bỏ một con sâu?!

– Sâu sia gì, những tử tù cũng đều là những tên gian ác, đáng tội chết tòa mới kêu án tử. nhưng nó chết vì ai đó, sao đó… chứ không phải là mình. Còn nếu là mình thì không tránh được ray rứt trong tâm trí! Chú không đọc đoạn bài báo nói không ai dám nhận công việc tìm tỉnh mạch đễ chích mũi thuốc độc vào tay kẻ lãnh án  tử à?

Tôi nhìn bâng quơ ra đường rồi nhìn lại anh Trung…Lâu sau mới trả lời anh:

– Có !

Sài gòn, 17 tháng VIII năm 2917.

Trạch An-Trần Hữu Hội