Mưa Đầu Mùa

 

Một chút mây và một chút mưa
Chừng bao nhiêu đó thỏa lòng mơ!
Sáng nay chim hót nghe vui quá
Mở cửa ôi mừng Một Chút Mưa!

Một chút mưa là chẳng phải nhiều
Nhưng làm đứng dậy nhánh cây xiêu
Lát đây hoa nở bình minh mới
Có một chữ, đời đẹp lắm:  Yêu!

Tôi viết chữ Yêu trên giấy hồng
Tôi nhìn mưa rải ở phương Đông
Mặt trời chưa hiện trên đầu núi
Sau núi, quê nhà tôi, phải không?

Ở đây, tôi thấy Thái Bình Dương
Thăm thẳm chân mây vẫn tỏ tường:
Đất nước của tôi mưa nắng thuận
Tiếc lòng người chửa ngập Yêu Thương!

Một chút mây và một chút mưa
Một cơn gió thoảng phất phơ cờ
Trời ơi cờ của người ta nhé
Cờ của mình đâu hỡi ước mơ…

Hy vọng:  lửa nhen từng chút lửa
Nhớ thương:  lòng trải biển bao la
Thái Bình Dương…chỉ là con chữ
Nước biển nào không mặn…mặn mà?

Nước mắt nào ai ngọt, uống đi!
Cơn mưa nhỏ quá, chẳng mưa gì?
Mưa đầu Thu chợt nghe lành lạnh
Tôi tỉnh hay là tôi vẫn mê?

 Trần Vấn Lệ

Ăn Kiêng Và Chết

Tác giả: Wenzell Brown
Thùy An dịch

Kính gởi Giáo sư khoa Thẩm mỹ Trường Đại học X… , Thưa ông, tôi là một tên sát nhân. Nhưng tôi không bao giờ thú tội trước cảnh sát vì bọn họ chỉ là những cục đất ngờ nghệch, không thể nào hiểu được sự nhạy cảm cũng như động cơ thúc đẩy tôi lần lượt giết chết hai người vợ yêu quý mà không một giây phút ăn năn. Tôi giết vợ không vì phản bội, vì chán ghét nàng, vì muốn chiếm đoạt tiền bạc hoặc vì những lý do thông thường khác – Tôi giết vợ để bảo vệ tính sáng tạo, óc thẩm mỹ và làm đẹp thêm đời sống mà thôi. (Tôi tin rằng, chỉ có những người trông xa hiểu rộng như ông mới thông cảm được tôi).
Trước khi nói đến cái chết của Yvette, người vợ đầu tiên của tôi, tôi xin kể sơ qua về mình. Tôi sinh trưởng trong một gia đình quý tộc. Bố tôi suốt đời bận bịu công việc kinh doanh. Mẹ tôi là một nghệ sỹ, lúc nào cũng muốn thấm nhuần trong lòng tôi tình yêu thơ ca và âm nhạc của bà. Dường như hầu hết quãng đời niên thiếu của tôi trôi qua trong các viện bảo tàng nghệ thuật, những cuộc họp mặt các văn nghệ sỹ. Mẹ tôi đi du lịch khắp nơi và thường dẫn tôi theo.
Tôi được học về ngôn ngữ, nghệ thuật và âm nhạc. Song tôi cảm thấy, mình sành về nghệ thuật thưởng thức hơn là nghệ thuật sáng tạo. Tôi vào được đại học nhưng vì điều kiện tổ chức ở đây quá tồi tệ, nhất là những bữa ăn nhạt nhẽo, cách pha chế gia vị vụng về đến nỗi tôi không chịu được, phải bỏ trường vào năm thứ hai.
Mẹ tôi và tôi lại tiếp tục những chuyến du lịch. Tôi thất bại về mặt học tập nhưng lại thành công trên lãnh vực khác. Tôi đã trở thành chuyên gia về ăn uống, ý kiến về nghệ thuật nấu ăn của tôi không chê vào đâu được. Bất cứ nơi nào chúng tôi đến, Paris, Rome hay Vienne, tôi đều có thể khám phá ra những nhà hàng nhỏ nằm khuất trong hẻm, ở đó có những món ăn thật độc đáo, tuyệt vời. Mẹ tôi và bạn bè của bà rất hài lòng về tôi.
Bố tôi mất. Sau đó mẹ tôi cũng qua đời để lại cho tôi một khoảng trống cô đơn và một gia sản hầu như đã cạn. Qua một loạt tình huống phức tạp khó thể kể ra, tôi kinh hoàng nhận thấy mình lạc lõng giữa New York bởi công việc đè nặng trên vai với đồng lương rẻ mạt. Quả thành phố náo nhiệt này không dành cho một người đa cảm như tôi!
Tôi hoàn toàn cô đơn. Đêm đêm, tôi lang thang qua những con đường nhỏ tìm kiếm những nơi phục vụ những món ăn đúng nghĩa. Nhưng vô ích. Tôi luôn luôn tức giận trước những món ăn dở dang, vô vị: nước xốt mặn chát, rau đậu nát nhừ, bánh ngọt trương phình, còn bánh mì thì cứng như da giày… Cuộc sống thật tệ hại. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng được cho đến một hôm, tôi bắt gặp một quán ăn nhỏ tối tăm ảm đạm mang tên Chez Yvette trong một con hẻm ngoằn ngoèo. Tò mò, tôi bước vào quán và gọi một món ăn đơn giản: Cá bơn xốt cà. Khi cô hầu bàn mang đến khay thức ăn, nắp vịn mở ra, tôi nghe trong lòng mình dâng đầy hưng phấn. Tôi đã thấy được những gì mà bấy lâu nay tôi cố công sục tìm. Đó là một đầu bếp am hiểu hoàn toàn nghệ thuật nấu ăn. Không có món cá bơn nào ngon hơn được nữa với nước xốt tuyệt vời, gia vị thấm thía.
Sau khi nhấp cạn ly rượu nho, tôi đề nghị được gặp người đầu bếp để tỏ lòng ngưỡng mộ. Yvette hiện ra trước mắt tôi với dáng dấp to lớn, thô kệch trong chiếc áo đầm xám bạc thếch, gương mặt ngăm đen lấm tấm mồ hôi bên bếp lò đỏ rực. Dù trông nàng già hơn tôi nhiều, tôi vẫn thấy nàng thật đẹp và dè dặt đặt lên má nàng những nụ hôn cảm kích. Yvette rất vui mừng khi gặp được một khách hàng tri kỷ. Chúng tôi cùng hàn huyên đàm luận, cùng ngây ngất khám phá những điều kỳ diệu của nhau. Từ đó, tôi trở thành khách hàng thường xuyên của quán Chez Yvettẹ Nàng đã chăm chút cho tôi từng miếng ăn tuyệt hảo, bánh mì ngọt, tôm hùm, giò gà trống thiến… Nàng luôn ở bên tôi, và sau bữa ăn thường uống cùng tôi một cốc rượu hoặc một tách cà phê kèm với món bánh ngọt ngon nhất.
Yvette là một kho báu, đời tôi không thể thiếu nàng. Nhưng biết làm sao hơn khi món tiền dự trữ của tôi cạn dần, tôi không đủ tiền trả cho những món ăn ngon miệng ấy nữa. Có lẽ Yvette đã cảm nhận được sự bối rối của tôi, nên một hôm, nàng đề nghị tôi ở lại qua đêm. Sự tỏ tình của Yvette thẳng thắn và quả quyết, so với các cô gái mình hạc xương mai thì nàng sâu sắc hơn nhiều. Một tuần sau, chúng tôi cưới nhau. Thoạt đầu, cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Chúng tôi mở rộng quán thành nhà hàng và làm ăn càng lúc càng phát đạt nhờ những món ăn độc đáo do sự sáng tạo của hai vợ chồng chung sức chung lòng. Sự phồn thịnh của nhà hàng đã đưa tôi lên vị trí tầm vóc của một người đàn ông. Tôi yêu nhà hàng và tôi yêu nàng, bởi nàng là một phần đem lại sự hoàn hảo cho nhà hàng. Hạnh phúc biết bao!
Rồi thảm kịch bắt đầu. Một hôm Yvette ngất xỉu trong nhà bếp. Bác sĩ cho biết, trọng lượng quá tải của nàng dẫn đến tình trạng nghẽn mạch, kèm theo bệnh tiểu đường mới phát làm cho bệnh nàng càng phức tạp thêm. Yvette đã phản đối trước một thực đơn ăn kiêng rất khắc nghiệt. Nhưng vị bác sĩ lạnh lùng phán:
– Bà không còn cách lựa chọn nào khác. Hoặc là ăn kiêng, hoặc là chết.
Yvette đã tuân thủ lời bác sĩ một cách tuyệt đối. Nàng sụt ký rất nhanh. Trong vòng vài tháng, nàng không còn là bà vợ mập mạp vui vẻ của tôi nữa, mà trở nên thon thả, ưa nhìn. Vì bị tước mất niềm đam mê ăn uống, Yvette trở nên say sưa chăm chút vẻ bề ngoài của mình (điều mà trước đây nàng không màng đến), do đó tính tình của nàng cũng thay đổi theo. Từ hào phóng, nàng trở nên keo bẩn. Nàng hà tiện mua những vật liệu rẻ tiền để chế biến món ăn, đồng thời bán cho khách những khẩu phần ít hơn thường lệ, dần dần nàng từ chối phục vụ những món ăn cầu kỳ tinh tế khiến cho nhà hàng càng ngày càng vắng khách. Mặc cho khách hàng riêng của chúng tôi ra đi, Yvette chẳng hề bận tâm. Nàng đã có những vị khách đặc biệt cho riêng mình. Đó là những con người tầm thường, thực đơn lúc nào cũng chỉ bánh xăng uýt và rau xanh. Thêm vào đó, chế độ ăn kiêng đã làm cho Yvette mau mệt mỏi nên không đáp ứng được những sinh hoạt vợ chồng, quan hệ giữa chúng tôi tuột dốc nhanh. Từ yêu thương, tôi trở nên căm ghét nàng, nhất là việc nàng không còn khả năng sửa soạn một bữa ăn hợp khẩu vị trong gia đình. Không đếm xỉa đến sự bực dọc của tôi, Yvette còn lên án tôi quá coi trọng miếng ăn và có những nhận xét xúc phạm về vòng eo càng ngày càng phình ra của tôi.
Để giải khuây, tôi thường rời nhà đi lang thang. Một hôm, tôi khám phá ra quán Golden Cock trong một tầng hầm tối có món xúp tôm cà chua tuyệt hảo nhất thành phố. Chủ quán là Germainẹ Nàng già và đẫy đà hơn cả Yvette trước kia, gương mặt khá đẹp, má mịn hồng, ánh mắt xanh xám, mái tóc mềm mại. Chúng tôi bị thu hút lẫn nhau bởi một sở thích chung trong nghệ thuật nấu ăn. Chúng tôi góp ý cách làm một món ăn, bổ sung hoàn chỉnh cho nhau. Một lần nữa, hạnh phúc đã đến với tôi.
Tuy nhiên, tôi là người đã có vợ. Yvette không bằng lòng việc tôi ăn tối ở ngoài. Nàng kiểm soát tiền bạc của tôi rất chặt chẽ. Những món ăn vô vị của nhà hàng Chez Yvette càng làm tôi chán vợ thêm. Tôi không thể ly dị được vì Yvette là tín đồ Thiên chúa giáo, nên đành chờ cơ hội thuận tiện để đến với Germaine mà thôi. Về sau, Yvette đã phá đám chúng tôi, nàng cạn tàu ráo máng với tôi bằng cách biến tôi thành một tên kiết xác, không đồng xu dính túi, buộc lòng tôi phải trở thành người làm công cho nàng, hằng ngày phải ăn những món cà bầm dập, thịt đông hôi mỡ, bánh mì hạ cấp… mà khi nuốt vào chỉ muốn ói ra.
Nàng đã đẩy tôi đến bước đường cùng nên buộc lòng tôi phải nghĩ đến cách loại trừ nàng. Ông nghĩ xem, có gì là quá đáng đâu. Ông thấy đó, tôi không phải là loại người thích bạo lực. Tôi rất sợ dùng súng, dao hay bất cứ hung khí nào. Thuốc độc là phương cách duy nhất tôi nghĩ đến để giải thoát tôi ra khỏi vòng vây kìm kẹp của Yvettẹ Tôi cân nhắc các khả năng của Asen (thạch tín), Cyanur… hai chất này cực độc nhưng rất dễ nhận biết. Vả lại, làm thế nào để bảo đảm hành động của mình không để lại dấu vết hoặc không gây nghi ngờ cho cảnh sát cơ chứ. Suốt một tháng trời, tôi nghiền ngẫm vấn đề đến gầy rạc người đi.
Trong phòng ngủ của chúng tôi, trên bàn trang điểm của Yvette chất đầy những lọ thuốc viên và thuốc con nhộng trợ giúp thêm vào thực đơn ăn kiêng và giảm cân của nàng. Một buổi sáng, có người bạn đi du lịch phía nam về, tặng Yvette một lọ thuốc viên nhãn hiệu Yarubex. Đây là loại thuốc giảm cân rất công hiệu được sản xuất ở Mexico, rất khó tìm ở Mỹ. Yvette rất mừng. Nhưng cùng ngày hôm đó, tờ thời báo New York in đậm bản tin của Bộ Y tế Hoa Kỳ: “Không nên dùng thuốc Yarubex. Những viên thuốc nhỏ đó có thể gây chết người khi uống với liều lượng cao. Đặc biệt gây nguy hiểm cho những người bị bệnh tiểu đường. Đã có 20 trường hợp tử vong vì loại thuốc giảm cân này.” Yvette hoảng hồn quăng lọ thuốc vào thùng rác và tôi đã lén nhặt lên. Tôi quan sát rất kỹ. Những viên Yarubex nhỏ, có màu trắng giống hệt những viên Saccharine đựng trong hộp thuốc khảm vàng của Yvette để nơi bàn trang điểm. Không suy nghĩ, tôi trộn những viên Yarubex lẫn vào những viên Saccharine và chờ đợi, lòng không chút hy vọng cũng như mặc cảm tội lỗi nào.
Tôi không thể tin là mình đã thành công dễ dàng như vậy. Vài ngày sau, Yvette chết. Tôi về nhà vào buổi chiều và thấy nàng nằm sóng soãi trên giường ngủ, người còn nguyên quần áo. Sau khi kiểm tra, biết chắc tim nàng đã ngừng đập, tôi lục ví nàng tìm hộp thuốc khảm vàng, trút tất cả xuống cống và thay vào những viên Saccharinẹ Xong, tôi lấy lọ Yarubex để cạnh nàng, rồi gọi cảnh sát.
Tên trung úy cảnh sát Stevens phụ trách cuộc điều tra là một người cục mịch, thô lỗ, cứ nhìn chầm chập vào tôi, mắt thoáng vẻ nghi ngờ. Tuy nhiên, vì không tìm ra dấu vết cũng như bằng chứng, việc điều tra được xếp lại. Tên Yvette được liệt kê vào danh sách nạn nhân của những kẻ vô lương tâm trong ngành kinh doanh dược phẩm.
Tôi bán nhà hàng Chez Yvette và đến với Germaine. Quán Golden Cock của nàng càng ngày càng nổi tiếng bởi các món ăn ngon đặc biệt, hợp khẩu vị với những người sành ăn. Sau một thời gian vừa đủ, chúng tôi cưới nhau. Tôi trở thành người tự mãn vì hạnh phúc quá tràn đầy. Tôi không hề nghĩ rằng, một cuộc sống quá êm đềm không thể lâu bền được. Cho nên, vào một ngày đẹp trời, Germaine đã sụt sùi bảo tôi:
– Anh yêu, bác sĩ bảo em phải ăn kiêng thôi!
Thưa ông, ông là người giàu trí tưởng tượng. Tôi không muốn làm ông nhàm chán bằng cách nhắc lại những chuyện đã kể. Điều này giống như một cuốn phim hay vở kịch truyền hình phát lại lần thứ hai, chán ngắt. Chỉ nói rằng, phản ứng của Yvette và Germaine rất giống nhau. Và dĩ nhiên sau đó, tôi gặp Suzane.
Khi sa vào bẫy của tên trung úy chết tiệt Stevens, tôi mới nhận ra mình ngu ngốc lạ lùng khi dùng lại phương cách cũ – những viên thuốc Yarubex – để giải thoát cho mình. Tại sao tôi không nghĩ ra cách khác chứ. Vả lại, làm sao tôi tiên đoán được rằng, Stevens lại chuyển công tác về chỗ tôi đang sống?
Tuy nhiên, tôi vẫn tự hào về hành động của mình. Trên đời này, biết bao nhiêu kẻ sát nhân chỉ vì vài trăm đô la hoặc vì một mối hiềm khích vớ vẫn. Còn tôi, tôi chịu sự trừng phạt chỉ vì muốn bảo đảm những món ăn được nấu đúng nghệ thuật để phục vụ cho quý thực khách thân yêu. Người bị kết án có đặc quyền chọn thực đơn cho bữa ăn cuối cùng. Tôi nghĩ đến món sườn thỏ rừng sốt cam, bồ câu nhồi yến kiểu Trung Quốc, hay là gà hấp rượu anh đào. Nhưng thôi, những món này rất khó làm, phải tự tay tôi pha gia vị thì sự thơm ngon mới đạt tới đỉnh cao. Hẳn ông đồng ý với tôi? Xin chào ông – vĩnh biệt.

Thùy An

BĂNG GIÁ

nguyentancu

Tôi hoang vu và băng giá
Trắng xanh như nam cực
Trắng xóa như bắc cực
Tuyệt đối …trắng
Không có chỗ cho đại dương nhoi đầu
Không cơ hội cho biển già dậy sóng

Tôi nứt ra quả thị mùa hè
Trong đáy cặp cô học trò mười sáu
Em tỏa hương
Tôi tỏa hương
Trong khu vườn
Thơ dại

Tôi sống trong tôi
Con cá trong băng
Quẫy đạp
Thích nghi
Tuyệt vọng
Không buổi sáng không buổi chiều
Không bình mình không hoàng hôn
Chết lặng

Có lúc em khỏa thân
Trắng như tuyết
Lạnh như băng
Tuyệt vọng
Không có chổ cho lòng tôi hung bạo
Không nỗi buồn – không cả niềm vui

Tôi đóng băng đến tận chân trời
Bóng tối không hiện sinh
Không giấc mơ
Không mặt người
Xám ngắt

Sẽ không có gì khi tôi băng giá
Hi vọng lẻ loi trước nụ cười tuyệt vọng
Tôi xóa hết – Phẳng lì – góc cạnh
Không đám đông – không cả một người

Tôi đóng băng tôi

Đập nát
Tìm một chổ độ lượng
Cho đại dương
Nhoi đầu
Lên
Thở .

NGUYỄN TẤN CỨ

ÁO TÍM QUA ĐỒI

 

Trăng xưa rơi ngoài nội cỏ
Em xưa áo tím qua đồi
Hạ huyền đêm thơm mùi sữa
Hồ ly thấp thoáng liêu trai…

 

Trang kinh nhuốm màu cổ tích
Dòng thơ từ độ khuya rằm
Gởi người phương nào u tịch
Lời thầm có gọi trăm năm?

 

Chiêm bao mơ hồ khói nhớ
Âm u suốt cõi thăng trầm
Áo tím qua đồi thuở nọ
Ngàn thu lạnh giọt hồ cầm.

 

Trăng xưa rơi ngoài nội cỏ
Hiên xưa đợi tiếng chân người
Vườn xưa rung hoài chuông gió
Em xưa áo tím qua đồi!

Tôn Nữ Thu Dung

NGHĨ VỀ MẸ 

 

 

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: “Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai” mày sáng đi mà chiều về, “tắc ngô ỷ môn nhi vọng” thì ta tựa cửa mà trông. “Mộ xuất nhi bất hoàn” chiều đi mà không về, “tắc ngô ỷ lư nhi vọng” thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.

Truyện dân gian mô tả lòng mẹ thương con thì rất nhiều. Thử lấy một. Người mẹ bị rắn độc cắn. Biết mình sắp chết bỏ con, vội vã chạy về nhà, đổ lúa vào cối mà xay, đổ thóc vào cối mà giã, gấp gáp sao cho có gạo để lại cho con ăn sau khi mình chết. Không ngờ điều huyền diệu đã xãy ra: dồn cả sức lực, bắp thịt đến rã rời, truyện kể rằng chất độc toát ra theo mồ hôi, thoát ra theo hơi thở… và người mẹ được cứu sống.

Còn nhớ truyện vua Salomon xử kiện? Hai người đàn bà tranh nhau một đứa nhỏ, ai cũng nói mình là mẹ của nó. Dùng đủ mọi lý lẽ mà không giải quyết yên, cuối cùng vua phán: “Ðem đứa nhỏ ra xẻ hai, mỗi người lãnh một nửa.” Một người đàn bà nói: “Dạ, thà như vậy cho công bằng.” Người đàn bà kia: “Thôi, tôi xin nhường.” Ðó, lời nói của mẹ bạn đó, hỡi người bạn nhỏ đang lắng nghe tôi. Mẹ bạn cũng sẽ xử sự như vậy nếu bị đặt vào hoàn cảnh nêu trên.

Trường hợp này thì còn đáng phục hơn: Chàng Côdắc hỏi tiên nữ Ôcxana rằng đến khi nào nàng mới yêu chàng? Nàng trả lời rằng nàng sẽ yêu người nào đem tặng mình trái tim người mẹ… Chàng Côdắc im lặng, lòng đượm buồn và chẳng thiết gì ăn uống nữa. Nhưng rồi cuối cùng chàng cũng mang đến cho Ôcxana trái tim mẹ mình.

Ðường dài chân mỏi, mắt hoa,
Vừa lên thềm cửa, chân xa ngã nhào.
Tim mẹ đập ứa máu đào,
Mà còn hỏi nhỏ “Nơi nào đau con?”

Hỡi ơi, chỉ có trái tim người mẹ mới vị tha tới mức vẫn cứ thương đứa con bội bạc dường kia!

Tưởng cũng nên nhìn qua vài gương mẹ hiền, dạy con nên người xả thân vì nghĩa. Mẹ Mạnh Tử chọn láng giềng tốt, cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung để làm bài học dạy con. Mẹ Vương Lăng với bài thơ tiễn sứ giả, mẹ Từ Thứ, mẹ… Vài gương thôi vì ai cũng muốn được xúc động bởi tình thương hồn nhiên, tự nhiên, ít muốn thán phục lý trí nhiều khi chỉ là trò tính toán, hư thực khó phân.

Lòng mẹ đối với con như vậy, còn lòng con dành cho mẹ thì sao? Trong bốn câu thơ Ðoạn Trường Tân Thanh nêu trên, một câu đầu nói nỗi lòng người mẹ thì hai câu sau là nỗi lòng của con. Câu trước dành cho đứa con nhỏ tuổi là Hoàng Hưng, câu sau chọn tả nhân vật hiếu tử già nhất lịch sử: Lão Lai. Suốt cuốn Nhị Thập Tứ Hiếu là 24 gương con hiếu. Nhiều gương ngang tầm với người thường, người thường làm được. Truyện Quách Cự chôn con, được chum vàng. Trời chu đáo chôn sẵn để thưởng Quách Cự, hơi khó tin đối với chúng ta hôm nay. Có vẻ như do một thi sĩ của cung đình sắp đặt dựng lên nhằm ca tụng vương khí của triều đại. Riêng truyện Vương Thôi có khí vị đặc biệt. Mẹ Vương Thôi sợ sấm. Ngày thường Thôi ra đồng làm việc, mà hễ trời nỗi cơn sấm sét là lật đật chạy về nhà cho mẹ bớt sợ. Khi mẹ chết rồi, mỗi lần sấm sét là Thôi lại vội vàng chạy ra ôm mộ mẹ mà nói: “Có con đây, mẹ đừng sợ.” Tâm hồn Vương Thôi có cái gì chất phác đơn giản của một người nông thôn quê mùa, khiến ta tin là hoàn toàn có thật. Và không cần cố gắng, khỏi phải lý giải, hễ đọc lên là lòng mỗi chúng ta đều xúc động rưng rưng.

Trong câu truyện cổ của ta có chuyện Bát Canh Hẹ. Một tù nhân một hôm nhìn vào mâm cơm thấy có bát canh hẹ liền khóc òa bảo người cai ngục: “Tôi biết mẹ tôi vừa tới thăm tôi, nhờ ông chuyền cho bát canh hẹ này. Vì hồi ở nhà mẹ tôi thường nấu canh hẹ cho tôi ăn.”

Truyện kể một vị hiền giả nọ (Hán Bá Chu), một hôm phạm lỗi bị mẹ đánh. Ông khóc tức tưởi nhiều hơn mọi lần. Mẹ hỏi: “Lần này mẹ đánh ít, sao con khóc nhiều?” Thưa: “Những lần trước mẹ đánh nhiều, ngọn roi mạnh, con khóc vì đau. Lần này mẹ đánh ít, ngọn roi nhẹ, con thấy ít đau, nhưng con biết sức mẹ đã yếu, mẹ đã già, nghĩ vậy mà con khóc.” Sách vở ghi biết bao nhiêu gương hiếu.

Mà nào phải lục tìm trong cổ văn mới thấy gương mẹ hiền biết cách thương con. Mẹ của người bạn cùng quê với tôi, anh Phạm Ngọc Ân, vốn không biết chữ quốc ngữ như mọi bà mẹ thời đó. Khi Ân học vỡ lòng, anh lẫn lộn M với N, P với Q… rồi sang vần ngược thì càng tha hồ lẫn lộn. Cha giận vừa nạt nộ, vừa vụt roi. Mẹ thương con, lén đứng dòm, lẩm nhẩm nhớ để rồi bày lại cho con. Kết quả là bà đọc được Quốc ngữ và sau đó Ân học hành giỏi, làm tới chức thanh tra giáo dục. Ân nay đã đông vầy con cháu và mẹ già đã nằm yên dưới ngôi mộ bên sườn núi Ngân Sơn.

Chỉ không lưu ý đó thôi, chứ hình ảnh mẹ con diễn ra quanh ta đầy đẫy, vạn trạng thiên hình kể sao cho siết! Mẹ ẵm con đi chợ, mẹ bồng con đi nhà thương, mẹ dắt con tới trường… Trên sân: gà mẹ dẫn gà con bươi rác. Trên đồng cỏ: trâu mẹ đứng yên cho trâu con sục mõm vào bầu vú, mắt nhìn hiền từ, thỉnh thoảng âu yếm liếm vai liếm lưng. Con cò luộm thuộm, vụng về, cái cổ dài ngoẵng, cặp chân lêu khêu vậy mà từ lưng chừng trời khéo xếp đôi cánh đáp xuống nhẹ nhàng cạnh bầy con, dùng cái mõm nhọn hoắt để sú mồi, để rỉa lông âu yếm… Tình mẹ con quả là thứ tình cảm thiêng liêng khó giải khi ta nhìn cặp mắt vàng lợt đó như thiếu vắng sự thông minh, cái cổ quá mảnh quá dài làm khó khăn biết bao cho sự dẫn truyền tình cảm.

Cho chí cỏ mộc vô tình cũng gợi xúc cảm mẹ con. Cây chuối mẹ và bầy chuối con xúm xít. Cây ổi mẹ và lũ ổi con ngơ ngác vây quanh. Lũ cây con như rất cần mẫn nhìn mẹ mà bắt chước, mà nhại theo hình dáng mẹ.
Trên đời không ai yêu thương ta bằng mẹ. Người tình dẫu thủy chung cũng chỉ yêu ta với điều kiện: Hoặc là ta đẹp, hoặc ta có tài. Mẹ thì không, xấu xí cũng thương, xấu xí càng thương như nhằm bù lại những thiệt thòi cho con, như ngầm nhận sự xấu xí là do lỗi mẹ.

Không đến nỗi quá lời nếu nói rằng với mẹ, con là tất cả. Khi có con, mẹ bình tâm vạch vú cho con bú, áo xống xốc xếch, quần xăn quá đùi cũng không còn thấy ngượng. Có con là như đã đủ rồi. Không như những bạn lấy chồng năm mười năm mà chưa con, vẫn cứ thẹn thùng kín đáo.

Ðúng, đã có đủ rồi. Vì có con, mẹ mới yên tâm, mẹ vừa hãnh diện. Con là tác phẩm tuyệt hảo của mẹ, là vật báu thiêng liêng mà mẹ vẫn không hiểu làm sao mà mình có đủ khả năng tạo thành. Cái sinh vật nhỏ đó dần dần lớn lên, có trí thông minh, thân thể phát triển vẹn toàn để có thể trở thành danh nhân, trở thành vĩ nhân. Càng thêm hãnh diện, càng được đền bù bởi mẹ mang thân phận đàn bà, từ mới sinh ra đã chịu mọi thiệt thòi. Làm con gái đâu được cha mẹ nuông chiều bằng con trai. Lớn lên phải phụ tay trong bếp, dọn dẹp trong nhà. Sự thiệt thòi đeo đẳng suốt đời chỉ vì là thân phụ nữ. Luân lý thời xưa khắc nghiệt bắt người đàn bà không được bước đi bước nữa, phải ở vậy thờ chồng nuôi con. Trải bao cuộc chiến tranh, bao nhiêu góa phụ chôn vùi tuổi thanh xuân, đến khi nhắm mắt xuôi tay là coi như xóa sạch cuộc đời, vĩnh viễn không còn dấu vết. Cho dẫu có được sắc chỉ “Tiết hạnh khả phong” hoặc dãy vòng hoa và bài ai điếu.

Rốt cuộc dường như niềm vui lớn nhất trên đời là khi sinh được đứa con. Tình yêu chồng dần dần sớt qua con và nếu gặp trường hợp đớn đau phải hy sinh đời mình để cho con sống thì hầu như mọi người mẹ đều nuốt nước mắt nhận cái chết về mình, ít cần lưỡng lự.

Nước ta có hai bậc quần thoa xuất chúng Bà Trưng và Bà Triệu, được ca ngợi là cân quắc anh hùng, hào quang xuyên suốt lịch sử. Nhưng không thấy sử ghi là hai bà có được đứa con. Khiến có hôm xúc cảm nhìn cảnh mẹ con vui vầy của những bà mẹ, “mẹ của Quỳnh Chi, Thanh Hải, Nhật Thành…” Tôi chợt ngậm ngùi nghĩ đến hai bà:

Tôi chợt nhớ về Bà Trưng, Bà Triệu,
Chưa một lần được gọi tiếng “con ơi!”
Vì nghĩa lớn, xả thân mình lo liệu,
Phần ấm êm: xin nhường hết cho người.

Phần ấm êm là đứa con, là tình mẹ con, dẫu rằng thế tục tầm thường nhưng không phải dễ mà có được.

Tôi, thuở ấu thơ không được sống gần mẹ, đã vậy mới mười một tuổi mẹ đã từ trần. Theo cha đến chùa một lần là nhân lễ mãn tang mẹ. Lớn lên mới biết lễ Vu Lan báo hiếu nên cứ mỗi lần xé tờ lịch nhìn thấy ghi tháng bảy âm lịch là lòng u hoài nghĩ đến mẹ. Có một thôi thúc nhẹ nhàng, một háo hức tiềm ẩn muốn được làm một cử chỉ báo ân. Nhưng mẹ còn đâu? Ðành tìm trong chỗ bạn quen thân có ba người còn mẹ già, ngày Vu Lan tự tay đem một tặng vật nhỏ, gọi là góp lời cầu nguyện cùng bạn. Rồi âm thầm nghĩ đến tích Mục Liên Thanh Ðề, nhớ đến quê hương xa cách, ngôi chùa làng vắng vẻ tịch liêu. Ðến ngôi mộ của mẹ tôi, của bác tôi, của ông bà tôi nằm rải rác quạnh hiu nơi sườn núi cuối thôn. Ðến những vị xuất gia đã cát ái từ thân, giờ này đang trì chú hộ niệm. Nhưng cát ái từ thân đâu có nghĩa là không nghĩ đến mẹ? Ðại đức ơi, thầy nghĩ đến mẹ tha thiết như thế nào? Hòa thượng ơi, thầy nghĩ đến mẹ bồi hồi như thế nào?

Hiện rõ cái đầu bạc phơ của hòa thượng, chân mày sợi dài trắng sóa, dáng đứng như chỏm núi cao. Như đỉnh Hy Mã Lạp Sơn tuyết phủ. Ðỉnh núi tuyết uy nghi có biết báo ân mẹ không? Những bụi sim quây quần dưới chân núi rì rào nhớ mẹ. Mẹ là hột sim do con chim bay qua thả rơi xuống đất. Cây bồ đề cổ thụ thân lớn mấy người ôm, tàn lớn phủ sườn núi cũng xào xạc nhớ mẹ. Mẹ là hột bồ đề rất nhỏ ngẫu nhiên ngọn gió bay mang tới. Nhưng hùng vĩ như Hy Mã Lạp Sơn thì mẹ là ai? Tôi đành âm thầm lắc đầu vừa tưởng như nghe ầm ầm những chuyển động tạo sơn quăn quại dựng nên dãy núi. Thành ra núi cô đơn.

Ở nhiều nước văn minh trên thế giới, người ta thỏa thuận lấy một ngày trong năm đặt là ngày lễ mẹ (Mother’s Day.) Vào ngày đó, các con dẫu ở xa cũng cố gắng tụ hội về quanh mẹ, dâng hoa tặng quà, đọc lời chúc tụng và vui vầy tiệc tùng. Trên ngực áo mỗi người còn rực rỡ một đóa cẩm chướng màu đỏ. Những người con nào mà mẹ đã qua đời thì lạnh lẽo nơi ngực áo một đóa hoa cẩm chướng màu trắng.

Ở ta, từ thập niên 50 nhiều địa phương nhân ngày lễ Vu Lan đã tổ chức nghi thức bông hồng cài áo: ai còn mẹ thì được gắn một hoa hồng đỏ, ai mất mẹ thì một đóa hồng trắng. Một cách để nhớ mẹ, để tôn vinh mẹ, để mừng mẹ còn tại thế, để xót xa nghĩ đến mẹ đã qua đời.

Bản thân người mẹ Việtnam không đòi hỏi được tôn vinh. Vào thế hệ tôi, người mẹ gần như chỉ lúc thúc ở nhà dưới, nhà ngang, lăng xăng xuốt ngày và hạnh phúc với muối dưa, với con cháu. Cha già được thong dong ngồi hút thuốc, được thưởng thức tách trà sớm, được nhấm nháp ly rượu buổi hoàng hôn, chớ mẹ thì hầu như không biết hưởng thụ là gì. Cả ngay khi số tuổi chồng chất, đóng vai bà nội, bà ngoại. Có một thời gian, láng giềng tôi là một gia đình giàu. Khi người vợ sinh đứa con lên bốn tháng, người ta nhắn về quê nhờ bà kế mẫu già, nghèo, tới coi sóc giùm nhà. Một hôm qua khung cửa tôi thấy bà ngồi vá quần cho đứa nhỏ. Tôi ngạc nhiên bồi hồi đứng nhìn. Trẻ con dưới một tuổi lớn mau, quần áo vải mới, mặc không vừa nữa thì bỏ một chỗ, quần áo vải cũ, rách thì ném làm giẻ lau, ai hơi đâu nheo mắt ngồi vá? Thôi, hiểu rồi, tâm lý người mẹ, người mẹ quê, người mẹ nghèo, tần tảo, quên mình, người mẹ của thế hệ tôi đó. Thời nay có khá hơn, có biết vị kỷ hơn, nhưng có được bao nhiêu người con, dẫu đã thành đạt, nhớ đến Ngày lễ Mẹ? Nhiều bà mẹ tổ chức kỷ niệm sinh nhật cho con hằng năm, có tiệc, có cắm nến trên cái bánh to, có chụp hình… Nhưng này các con, sao sinh nhật mẹ, các con không gom một bó hoa — ngắt hoa dại trong vườn, ngoài rào cũng được — sáng sớm trao tay mẹ? Nếu mắc cỡ không nói được thì có thể viết trên mảnh giấy nhỏ: “Con mừng sinh nhật mẹ” chẳng hạn. Ðó, vì đa số các con vô tâm mà phải mượn lễ Vu Lan để cài một đóa hồng.

Nhưng rằm tháng Bảy không chỉ là ngày nhớ mẹ, báo ân không chỉ có báo ân mẹ. Còn có phần hiếu thảo dành cho cha. Rộng hơn, dân tộc ta còn nhận ngày này là ngày xá tội vong nhân, chú nguyện cho thập loại chúng sinh vừa mở rộng lòng bố thí cho người nghèo khó nơi dương thế. Lòng nhân ái tựa biển, tràn khắp bao la trong tiếng chuông ngân vang ngày lễ.

Hãy thương yêu mẹ hết lòng, săn sóc ân cần, hầu hạ trìu mến, nhất là khi mẹ già yếu, bệnh hoạn xấu xí bẩn thỉu. Hãy nhớ lại thuở mình còn nhỏ, mặt mũi chưa được trơn láng như hiện giờ, ỉa đái ngay trên mình mẹ, và khi lên năm lên mười mẹ phải nhịn phần mẹ để mua món ăn ngon, sắm cái áo đẹp cho mình. Hãy xúc động sụt sùi mà cầm tay mẹ, nhìn mặt mẹ, theo dõi bước đi dáng ngồi của mẹ. Không như tấm lịch đẹp treo tường, tấm năm sau sẽ thay tấm năm trước, không như cái bàn gỗ mộc sẽ đứng mãi đó nếu ta không tự ý phế bỏ. Mẹ thì không, dẫu ngó vững chắc nhưng sự sống vốn rất dễ rung rinh, chẳng chóng thì chầy, rồi cũng tới một ngày — thậm chí có thể chỉ trong khoảng chốc — ta sẽ chỉ còn thấy được mẹ trong trí nhớ.

Võ Hồng

Dỗ lại bóng mình

 

Gửi Đình, kẻ ngộ giác đầy như nhiên

Tôi và bóng dỗ  dành nhau
Khói bụi tràng giang dột ướt đầu
Đàn ai bật khúc tương ly oán!
Ồ không tiếng Cú tự ngàn sau

 

Sá chi một lũ hề bôi mặt
Một lũ đười ươi vỗ bụng cười
Tiếc ta không phải nòi kiếm sĩ
Bằng không đã có mấy đầu rơi…

LÊ SA

Ba Giờ Sáng Thứ Bảy 26 August 2017

 

Ba giờ sáng Thứ Bảy,  tôi dậy đọc báo.com, ngóng tin bão Houston tới đâu coi cho biết…

Tin…chưa có gì hết!  Vẫn tin chiều hôm qua:  nhiều ngàn người tránh xa vùng bão Harvey sắp…

Thật uổng công tôi thức?  Hay đó, triệu chứng mừng?  Bão chưa tới Houston…thế thì còn yên tĩnh?

Mở cửa.  Nghe lành lạnh.  Los Angeles Thu về.  Tiếng dế gáy rè rè.  Tiếng xe nghe thưa thớt…

Vẫn nghe tim hồi hộp:  bão đã bay hết tin?  Nói là sáng, vẫn đêm, báo, đài đều im ngủ!

Hình dung những đổ vỡ…Hình dung những điêu tàn…Tưởng nhớ New Orlean, bão Katrina năm nọ…

Hình dung người bó rọ núp gió mưa tả tơi…Hình dung những mảnh đời tơi tả trong mưa gió…

Tôi nhìn ra cửa sổ, mùa Thu đây đang về.  Những bóng điện vàng hoe soi lòng đường lạnh ngắt…

Tôi nguyện cầu Texas, bão Harvey tan đi…Bão Harvey tan đi!  Bão Harvey tan đi!

 Và tôi cũng nhớ quê – Quê Hương tôi mùa bão, em ra vườn nhặt áo – áo vàng lụa Mã Châu…

Rồi, tôi nhớ về đâu?  Thuở qua cầu đổi áo…rồi ai thả con sáo – con sáo bay sang sông!

Mười bảy em theo chồng, tôi bồng…cây súng đợi một cơn bom bay tới, tiếng máy bay bay đi…

 Trần Vấn Lệ

Nghĩ rời về tuyển tập” 40 năm thơ Việt hải ngoại ” của Nguyễn Đức Tùng (Văn Việt – Người Việt book xuất bản 2017)

Tôi đọc tuyển tập thơ “40 năm thơ Việt hải ngoại’ từ khi còn đăng từng phần trên Da Màu,Văn Việt với sự háo hức chờ đợi, có hơi một chút ngạc nhiên vì nghĩ rằng  những người chủ biên Nguyễn Đức Tùng, Hoàng Hưng,Ý Nhi không phải là những tác giả trước 1975 của văn học thời Việt Nam Cộng Hòa sẽ rất khó kêu gọi các nhà thơ hải ngoại từng chiến đấu trong hàng ngũ những người chiến sĩ Cộng hòa chống Cộng cộng tác và cũng rất lo cái tiêu đề tuyển tập hơi lớn không biết các tác giả có đủ dũng lực sàng lọc tuyển chọn các tác giả các lứa tuổi có tài thơ tiêu biểu đại diện cho một dòng văn học của người Việt ngoài đất nước hay không ?                Tôi linh cảm có một sự bất hợp tác của một số nhà thơ và như vậy trong tuyển sẽ thiếu những nhà thơ mà tên tuổi của họ xứng đáng có mặt trong tuyển tập hơn một ai khác.Những linh cảm ấy hôm nay đã thành sự thật khi tôi đọc tuyển tập, một số nhận định của anh Phan Nhiên Hạo trên facebook , email của  anh Trần Kiêm Đoàn và nhất là ” Lá thư chủ biên tháng 7/2017” của chị  Lê Thị Huệ trên Gió O.Tôi đã đem những điều ấy trao đổi với anh Nguyễn Đức Tùng và anh trả lời tựu trung gồm 2 ý :

  • Một số nhà thơ danh tiếng ban chủ biên đã mời nhưng họ không hợp tác
  • Một số nhà thơ tài hoa đã khuất không thể thiếu mặt họ trong tuyển song vấn đề liên lạc với những người thừa kế bản quyền tác phẩm có nhiều khúc mắc .

Vậy là đã rõ bởi đọc bốn mươi năm thơ một thời gian đời người mà văn học hải ngoại không đề cập đến  những tài danh: Thanh Tâm Tuyền , Mai Thảo,  Hà Huyền Chi,Viên Linh, Minh Đức Hoài Trinh, Nhã Ca,Trần Dạ Từ, Cao Đông Khánh, Nguyễn Tất Nhiên, Quỳnh Thi , Lâm Hảo Dũng, Hạ Quốc Huy, Phương Tấn, Hoàng Lộc , Sương Biên Thùy , Dư Mỹ, Quan Dương, Trần Yên Hòa… và những tác giả   có đóng góp nhiều tác phẩm rất có giá trị cho văn chương hải ngoại như:Phan Nhiên Hạo,Thận Nhiên, Lê Văn Tài , Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Khánh Minh, Chân Phương, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Ngô Tịnh Yên, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Hoàng Tranh, Chim Hải, Lê Đình Nhất Lang, Đỗ Lê Anh Đào, Pháp Hoan, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phan Thị Trọng Tuyến, Hứa Hiếu, Võ Quốc Linh, Phan Quỳnh Trâm…chúng tôi thấy hụt hẫng thế nào. Rất mong khi tái bản hoặc tập tiếp theo các tác giả chủ biên cố gắng bổ sung cho đầy đủ hơn. Chúng ta còn 8 năm nữa để có thể cho ra đời 40 năm VHHN tập 2,tâp3 công phu và chắt lọc hơn.Rất mong các nhà PBVH và các nhà thơ, nhà văn hải ngoại cao niên cộng tác để giữ được ngọn lửa văn chương không ngừng ngún cháy trong tâm thức những người Việt xa quê mong ngóng quê nhà .
Trước đây viết về dòng Văn học hải ngoại cũng có một số tác phẩm mà sự chuẩn bị khá công phu như: Sưu tầm và tiểu luận”Trong dòng cảm thức văn học miền Nam -Phân định thi ca hải ngoại của Trần Văn Nam (Tác giả xuất bản ), Nhìn lại 30 năm Văn-Học Hải-Ngoại của Nguyễn Vy Khanh (Tạp-chí Văn Học CA,225, 5&6-2005). Nghĩ về văn học hải ngoại của Nguyễn Mộng Giác, Hai mươi lăm năm Văn học hải ngoại của Thụy Khuê,Tình trạng lão hóa của Văn học hải ngoại (Nguyễn Văn Lục ),Vài suy nghĩ về văn học chính thống Việt tại Hải ngoai (Nguyễn Văn Sâm –Tin Văn ), Phỏng vấn Nhật Tiến về VNVN HN 30 năm qua (Hoàng Khởi Phong ),Văn học Hải Ngoại từ giấy lên mạng của Nguyễn Hưng Quốc, Nhà văn VN và VHVN Hải ngoại (Nguyễn Tà Cúc ) vv..
Nhìn chung hầu hết các tác giả đều biểu hiện sự quan tâm lo lắng đến sự tồn vong, lão hóa của văn học hải ngoại khi lớp nhà văn rời tổ quốc từ sau 1975 đã lớn tuổi sự lão luỵện trong văn nghiệp thì còn song sự nhạy bén tinh anh có chiều giảm sút.Vì thế “Tuyển tập 40 năm thơ Việt hải ngoại” ra đời năm 2017 này rất sát hợp với tình hình chung của văn chương hải ngoại khi hầu như các báo giấy đã đình bản nhường chỗ cho  các trang mạng Damau.org,Tiền Vệ, Sáng tạo, Diễn Đàn thế kỷ, Ăn mày văn chương, Vuông Chiếu, Bạn văn Nghệ, dutule.com, Chim Việt Cành Nam,Tương tri, Văn nghệ Boston, Bản Sắc Việt…vv… và các blog như nấm mọc sau mưa cộng với những tác phẩm văn chương update hằng ngày trên Facbook và ta bắt gặp những tên tuổi cũ một thời vang bóng trên chiếu văn chương  miền Nam trước 1975 song hành với các tên tuổi mới xuất hiện. Lê Mai Lĩnh, Dư Mỹ, Đặng Phú Phong, Phạm Hồng Ân , Hứa Hiếu, Haj thij, Ngô Tịnh Yên, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Lý thừa Nghiệp, Dung Nham, Đặng Toản, Tiffany Nguyễn, Nghiên Long Trọng Nghĩa,Nguyên Lạc,Hư Vô, Châu Hồng Thủy…góp phần làm nên một dòng văn học hải ngoại facebook đông đảo đa thanh, đa sắc…Hầu hết các tác giả sáng tác theo hướng tổng hợp trữ tình tự sự có nhiều yếu tố truyện tâm lý lẫn triết lý, các cảm xúc riêng tư thường được đặt trong liên hệ với những chấn động lịch sử lớn .Trước hết văn học hải ngoại bây giờ hiển lộ tất tật đời sống những vận động bí ẩn thể hiện trong hình tượng ngôn từ những xúc cảm trầm sâu về thế giới bên ngoài trở thành mô hình tâm hồn của người sáng tác. Dòng hoài niệm vẫn tiếp tục nhưng sự bi thiết lại xoay qua một chiều kích khác hướng về tổ quốc với những nỗi buồn lo cho vận mệnh của tổ quốc dưới bàn tay nhào nặn của giới cầm quyền độc tài khóa chặt tự do dân chủ và kẻ thù phương bắc hàng ngày gậm nhấm quê hương.

Cám ơn nhà thơ nhà PBVH Nguyễn Đức Tùng các nhà thơ Hoàng Hưng,Ý Nhi đã  tập hợp được một số lượng đông đảo các nhà thơ khắp nơi trên thế giới tự do. Dù vẫn còn thiếu sót những tên tuổi rất xứng đáng tiêu biểu cho VHVNHN qua một thời gian dài hơn 40 năm nhưng dù sao tuyển tập đồ sộ này cũng khởi đầu cho các tuyển tiếp theo sẽ bổ sung những thiếu sót nhất định phải có, đồng thời bổ sung  một đội ngũ những người làm thơ trẻ tiếp tục khơi gợi và lưu giữ nguồn mạch văn chương Việt nam ở ngoài đất nước .

 

Nguyễn Hàn Chung

 

Mơ Tàn Chữ Loạn

Chim gãy cánh trên đường bay khổ nạn
Tiếng kêu thương lặng lẽ níu chân trời
Còn hiu hắt từ vực buồn năm tháng
Những cuộc đời như đá sỏi rơi rơi

Mẻ lưới chiều vãi mênh mông giăng bủa
Cả bầy đàn vẫn hái lượm cơn mê
Mặc bóng tối trùng trùng cương tỏa
Sóng vô minh biển chết vô tình

Ta ẩn nấp vào cô đơn nho nhỏ
Lạnh trọn đời thất thủ trước hư vô
Đi cũng đến ngả lưng buồn cũng đến
Cuộc cờ tàn thí chốt bộ xương khô

Răng nghiến chặt sợ hiền lương bay mất
Ôm con đường im lặng gối trăng sao
Mong ngày mai bình minh còn rửa mặt
Đôi tay gầy rưng rức vẫy trời cao

Giữa xao xác tiếng cười đùa man dã
Vỡ trận đời mặc cả với mây bay
Đành gom góp đám tàn ngôn loạn ngữ
Bày trận thơ treo bảng miễn chiến bài!

Lưu Xông Pha

HOA CẨM CHƯỚNG TRÊN BÀN

 

(CHO CPTN)
1.
Mỗi cánh, mỗi cánh
Nở ra dâng hiến
Và tàn . rụng
Vào lãng quên.
2.
phút giây chúng ta nghĩ về sự trở lại
nơi tiền thân của nước và không khí
mùa thu chúng ta như loài chim
ca vang trên ngọn đồi lộng gió
và mùa hè, trên khuôn mặt dòng sông
chúng ta là đám mây hạ sinh sự bình yên vô tận.
3.
Khi đêm buông bức màn sự thật
Chúng ta tìm đến ngôi nhà của lá
Tiếng gõ cửa vội vã
Làm giật mình dòng nhựa đang luân chuyển
“Hãy để chúng tôi vào
Trú tạm trong linh hồn thuần khiết của hoa”.
4.
Tôi muốn chìm vào sự im lặng của hoa
Để lắng nghe
Bài ca về mùa xuân huyền diệu
Tiếng đập cánh của chú bướm mới thoát ra khỏi kén
Khuấy động bầu trời.
Trong mỗi cánh hoa
Tôi lắng nghe sự thổn thức của vũ trụ
Chiếc xe thời gian , với những chuyến di cư
Hải đảo cô đơn trên đài hoa khi cánh lìa đời.
5.
Mặt bàn lốm đốm
từng chấm, từng chấm
máu hoa.
Tôi ngồi trên khát khao già cỗi
ngậm ngùi đọc lá thư di mệnh của hoa.

 

Trương Đình Phượng