TRĂNG KIM TUYẾN

ngotinhyen

Trăng mười mấy…
vẫn là trăng thuở ấy
thuở hai mươi rực rỡ mối tình đầu
lúc thẹn thùng e ấp gởi trao
chẳng nghi ngại trái tim nào thay đổi
Trăng mười mấy…
vẫn là trăng thơ dại
rộn rã yêu vén mây bước xuống đời
nắm tay nhau lòng rộn gió lên khơi
cần chi biết dòng đời rồi bão nổi
Trăng mười mấy…
vẫn là trăng lụa vải
ủ tơ lòng từng sợi mãi vấn vương
nối đời nhau cuộn chỉ rối nhớ thương
những sợi chỉ dệt tâm hồn quấn quít
Trăng mười mấy…
vẫn là trăng tình ái
của người yêu lộng lẫy bước lên ngai
đôi ta giờ mái tóc ngả màu mây
còn lóng lánh một vầng trăng kim tuyến.

Ngô Tịnh Yên (Mùa trăng 2013)

Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

trantrungdao
KỶ NIỆM 84 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ ÁI QUỐC NGUYỄN THÁI HỌC VÀ 12 ĐẢNG VIÊN VNQDĐ (17.6.1930-17.6.2014)

Vào khoảng thời gian này 84 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

BÀI CA ĐẤT VIỆT

nguyenngoctho

 

Khởi dấu biên thùy bắc Ải quan!
Giang san nước Việt trải xanh ngàn
Chín dòng sông thắm câu hò hẹn
Một gánh non dài bước dọc ngang
Hồng Lĩnh bao đời nung khí phách
Bạch Đằng mấy độ rửa hờn oan
Biển Đông đang động trời giông bão
Mắt mẹ còn đây sóng biếc vàng!

NGUYỄN NGỌC THƠ

CŨNG NGẦN ẤY THÔI

linhphuong

Bàn chân dẫm phải
gai đời
Buốt đau hết kiếp
con người trầm luân
Mai tôi
nằm dưới mộ phần
Thì thôi em nhé !
Cũng ngần ấy thôi
Lời thề
nửa thực-nửa hư
Rơi trên vạt áo
Tố Như năm nào
Nghìn xưa
cho đến nghìn sau
Dòng sông bạc mệnh
hai đầu
tôi-em
Câu Kiều
lúc nhớ-lúc quên
Tài hoa một thuở
tình thiên thu buồn
Thì thôi em nhé !
Đa mang
Chữ duyên
chữ nợ .
Cũng ngần ấy thôi

LINH PHƯƠNG

SAY HUẾ

nguyenthy

Huế của nghìn thu tiếng nguyệt cầm
Lưu ly còn đọng giọt trầm ngâm
Ta ngồi bên dốc chiều phai nắng
Nhớ cõi tà huy một kiếp nào…

Tiên tửu ba đào trên sông Huế
Cổ thành chuếnh choáng bước đê mê
Áo Em rợp cả trời mây tím
Giữa Huế bâng khuâng một nẻo về

NGUYỄN THỴ

NÓI VỚI ÚT ĐÔNG

dangchaulong

Ngày giỗ Ba, vừa gặp nhau Út Đông đã trách « anh ác lắm » làm mình cũng khựng, không biết « ác » chỗ nào. Tôi thường post ảnh gia đình lên blog và chua thêm vài câu thọt lét cho vui. Nhưng thời gian này, nhớ lại, thì mình đâu có « sáng tác » ra câu nào đáng quan tâm cho mấy cái ảnh. Út Đông biết tôi đoán không ra nên mới nói ngọn ngành là do cái bài « Nói với Ba » của tôi. Út Đông đọc xong thì chạnh lòng khóc sướt mướt.
Thôi thì ngày giỗ anh Sơn sắp đến rồi, anh không nói với anh Sơn nữa, mà nói với em.
Đúng là anh sống với anh Sơn hơn em tám năm. Những ngày còn chút xíu, anh thường được anh Sơn « na » đi khắp xóm cùng làng, có khi còn quấn cho anh cái vòng dây antigone lên đầu mà có lúc em nhìn thấy trong tấm ảnh còn sót lại, hoặc khi cùng cả gia đình đi chơi, chụp ảnh khi Ba về Sài gòn làm Trưởng ga, năm l952, Út Đông có thấy anh đứng xớ rớ ngoài nhóm gia đình thoải mái mút cây cà rem không ?.
Thật ra thì thời gian sống cùng anh Sơn cũng không nhiều lắm đâu. Chỉ thời gian nghỉ hè, hai anh Điệp và Sơn trở về từ trường Lasalle Mossard Thủ Đức, hay họa hoằn là những lần anh đột ngột về thăm gia đình khi ba má đổi ra Tuy Hòa, thế thôi.
Những mảnh nhỏ ký ức về anh giống như những hạt bay tung muôn hướng, bây giờ nhặt nhạnh lại nó cũng gian khó vô cùng. Nhưng có những thời khắc ta có thể cùng nhớ và không quên.
Đó là chuyện của ba năm trước, lúc anh chị em mình đi về quê Nội Bình Chánh để đưa anh Sơn về cùng Ba Má và anh Điệp ở Gò Dưa.
Anh chị em mình nhớ lại những kỷ niệm về anh, nhớ lần anh bị nạn, năm 1966, mà cả gia đình không ai về kịp để tiễn anh lần cuối. Chú Thiếm Tám phải đứng ra thay Ba Má và em Tuyết Nga thay mặt anh em mình chịu tang đứng bên áo quan che dù cho anh đỡ nắng trên đường ra nghĩa trang. Theo sau áo quan là người vợ chưa kịp cưới của anh. Buồn hay vui khi mình lìa trần đúng vào ngày sinh nhật của mình, khi vừa đúng 24 tuổi đời ? Cuộc đời là một chuỗi Tái ông thất mã phải không Út Đông ? Anh Điệp chưa kịp mừng vì sắp nhận được giấy giải ngũ thì đã nằm xuống vì loạt đạn oan nghiệt khi anh làm nhiệm vụ cứu thương. Anh Sơn chỉ còn chưa đầy một tháng làm đám cưới thì nhận một quả mìn trong ngày sinh nhật. Vậy thì có nên nhắc lại cái triết lý của John Steinbeck « Những kế hoạch hoàn hảo nhất của chuột và người, cuối cùng, thường không thực hiện được » để tự an ủi cho số phận dân đen không ?
Em có biết anh chờ gì khi cầm máy ảnh đứng bên mộ anh Sơn giai đoạn sắp mở nắp không ?
Anh không hy vọng thấy lại hình ảnh anh trước khi mất hút, tan biến vào hư vô như Triều chuẩn bị camera chờ thời khắc đó, bởi hòm anh Sơn là hòm kẽm. Thời gian phá lớp kẽm đủ để anh có thời gian tan biến vào hư không rồi.
Điều anh chờ đợi là nhìn thấy vết thương chí tử của anh. Thấy để chắc chắn điều đã từng nghe khi nhận tin báo tử. Ngày đó, dì Tám đã phải nhét cả một chiếc khăn lông vào hộp sọ vỡ tung của anh để chỉnh lại khuôn mặt anh được đầy đặn lại, để người thân bớt muộn phiền vì cái chết không toàn vẹn đó.
Và, lạy Trời, đã cho anh nhìn thấy vừa đủ để xác nhận mọi thông tin. Dù xương cốt anh Sơn còn tươi đỏ như mới vài năm nào chứ không phải 42 năm, nhưng hộp sọ anh không còn nguyên vẹn, vỡ vụn như đã từng…
Bên cạnh đó là chiếc khăn lông nhét vào hộp sọ anh năm nào. Tất cả đồ tùy táng còn y nguyên, cả những tờ giấy vàng bạc gởi theo anh.
Anh xé thử cái poncho bằng chất nylon qua 42 năm dưới mộ. Vẫn còn độ dẻo như lúc ban đầu, Có lẽ do nơi anh an nghỉ là vùng ruộng trũng ngậm nước.
Mọi việc gần xong, lúc anh em mình sắp về, anh lẳng lặng mang theo tấm đá hoa cương đầu mộ có ghi ngày sinh tử của anh Sơn, gọi là một chút gì về anh Sơn, để mỗi lần anh em mình về nghĩa trang Gò Dưa lại có cái để nhớ về. Tấm bia này bây giờ được gắn vào cùng mộ Ba đó.
Nếu có một điều ước nguyện của anh Sơn được như ý, chính là việc anh ao ước nếu có mất đi thì có quanh mình 25 vòng hoa tươi. Điều đó đã xảy ra đúng như vậy. Ước nguyện đó anh đã thổ lộ với dì Chín khi đến nhà dì Chín nhờ cố vấn áo cưới cho ngày thành hôn sắp đến.
Tiếc thay ! đó là một dự tri đau đớn.

ĐẶNG CHÂU LONG

LỜI CUỐI CHO BA

tonnuthunga

Ngày cuối năm, con nghe tin ba mất.
Vực sâu nào mở rộng dưới chân con,
Đời mênh mông con vẫy vùng xuôi ngược,
Nào hay đâu năm tháng đã phai tàn.

Con vẫn biết cuộc đời ba chiến sĩ,
ba kiên trì tranh đấu đến cùng thôi,
nhưng tự do bây giờ đâu có nữa,
nên kẻ thắng ba, ngự trị mất rồi.

Thôi ba ạ, hãy nhắm đôi mắt lại,
Hồn oan khiên không thỏa nụ môi cười,
Con phương xa không được nhìn lần cuối,
Hẹn gặp nhau vùng cát bụi mù khơi.

Thuở còn bé ba dạy con chử nghĩa,
Sống vô vi, hành xử thế trung dung,
rằng sinh ký , tử quy, con vẫn nhớ,
rằng con ngoan, học giỏi, ba mừng!

Ba hay kể: từ chiến khu về lại,
Bao gian nan, rừng rú phải xuyên qua,
Bao ánh mắt dỏi theo từng vết bước,
Nhưng Ba quyết tìm ánh sáng tự do.

Thế là ba dẫn mẹ ra đi,
Tay ẳm con còn bé nhỏ biết gì,
Nhoẽn miệng con cười, trong tay ba ấm,
Vạn dặm trường lòng vẫn sắt gan thi.

Nay ba cho con tự do của riêng mình,
Vùng quê nghèo ba ở vẫn đẹp xinh,
Con vượt trùng dương tìm đất mới,
Ba ở lại cùng tiên tổ anh linh.

Ba mất đi, lòng con héo mòn,
Đời cũng mất rồi một kẻ đấu tranh,
Ba yêu tự do, căm thù chủ nghĩa,
Chí anh hùng nên sống quá mong manh!

Tôn Nữ Thu Nga ( viết sau ngày ba mất cuối năm 1976)

NHÀ PHONG THỦY

vudinhhuy

Những năm bao cấp tôi làm đủ nghề,không riêng gì tôi mà còn rất nhiều thanh niên phải vất vả vật lộn với cuộc sốngmới.Một số ít lý lịch tốt hoặc được xem là trong sạch thì được nhận vào các Cơ quan Nhà nước,đa số còn lại thường phải tham gia trong các Hợp tác xã,Tổ hợp sản xuất.Thu nhập các nơi này rất thấp,không đủ ăn.Tôi cũng cầm cự thời gian mấy năm ,sau bức bách quá lại phải trốn ra ngoài. Thị trường ngoài bấp bênh,không được xã hội đương thời công nhận,nhưng được cái tự do,muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ.Tôi và mấy người bạn làm đủ nghề..sản xuất lậu..Kem đánh răng,xà phòng,sơn..lớp xe đạp..kẹo đậu phụng..nói chung là đủ thứ hùm bà lằng.Làm ra thành phẩm phải tìm mối tiêu thụ chui.Có tiền lại kéo bạn bè đi đập phá,có khi thất bại hết vốn lại ngửa mặt kêu trời.Thất thường như thế nhưng được cái nhàn hạ,buổi sáng lê la ở quán Cafe chán chê rồi mới làm việc.Thời gian này tôi võ vẽ nghiên cứu chỉ tay,nhân tướng,ngồi quán nào các em cũng bâu lại nhờ thầy xem .Và có một lần….
Buổi sáng trời mưa,quán cafe vắng chỉ dăm ba người khách,em chủ quán buồn tình lại ngồi cùng bàn với tôi than thở…Buôn bán kiểu này chắc em chết quá anh ơi.Tôi buộc miệng…Hôm nào em cúng Trời Đất,Thổ địa,Thần tài đi…anh có quen với một Thầy không tốn kém gì.Em chủ quán mừng rỡ…Em tính nhờ thầy cúng mấy lần mà không biết ai..Anh giúp dùm em nghen,mà thầy nào vậy anh..Tự dưng tôi bung ra một cái tên…Anh có quen với thầy Bảy Tà lơn…thôi anh nhờ ổng giúp cho,Chũ nhật này em sắp xếp đi..anh đưa thầy Bảy lại…Tôi nói y như thiệt,dặn dò em thêm một vài điều nữa ,xong tôi đi làm và quên mất câu chuyện vừa rồi.Tính tôi vốn lãng đãng như vậy.T
Sáng Chủ nhật tôi đang ngủ.Thằng bạn phóng xe đạp vô nhà dựng tôi dậy…Trưa 12 giờ nghen…Mày đưa thầy Bảy tới,em Lệ chuẩn bị xong hết rồi..nhang đèn,một cặp vịt,bánh trái..vv…Tôi giật mình nhớ lại…Chết cha rồi,không biết sao đây….,.Thằng bạn đi rồi,tôi ngồi lo ngay ngáy…Bất chợt cu Long xuất hiện…À..thằng này nhanh nhẫu,vui tính và mồm mép.Tôi nhanhchóng phát họa kế hoạch. Hai đứa ra quán Cafe đầu hẻm,tôi kể lại toàn bộ sự việc và mời cu Long vào vai Thầy Bảy Tà Lơn.Cu Long vô cùng ưng cái bụng,hai mắt sáng rỡ,…Thời gian còn lại không nhiều,tôi tranh thủ truyềnđạt một ít nghi thức cúng bái và phong thủy đại khái cho cu Long.Không hiểu sao nó tiếp thu rất nhanh,cũng là một chuyện là lạ. Đúng 12 giờ trưa hai đứa có mặt tại quán cafe.Cu Long vào vai thầy Bảy Tà lơn y chang Nguyễn chánh Tín trong bộ phim Ván bài lật ngửa.Em Lệ chủ quán gật đầu sái cổ và ngưỡng mộ thầy Bảy Tà lơn vô cùng tận. Cái thằng cũng hay,bình thường thì rất lôi thôi,hôm nay thay đổi 180 độ.Ăn nói mực thước đâu ra đó,phán câu nào cũng chắc như đinh đóng cột.Cứ tưởng chừng như…Bảy Tà lơn thiệt.
Những ngày sau đó có hai chuyện lạ,chuyện thứ nhất quán cafe của em Lệ bỗng dưng ngày càng đông khách.Chuyện thứ hai…cu Long bắt đầu chuyên tâm nghiên cứu bói toán và phong thủy.Thời gian đầu tôi có phụ đạo cho cuLong,về sau nó chê tôi,tự tìm tòi thêm tư liệu và tầm sư học đạo.Thỉnh thoảng gặp nhau..nó khoe…Tao vừa cúng chổ này…chổ kia…Tôi cảnh báo.Nó nhăn răng cười…Thì taogiúpđở họ chứ có tiền bạc gì đâu …..tiếp theo…..
Bẵng đi một thời gian hai đứa không gặp nhau.Một ngày cu Long lên nhà tìm tôi mặt mày xanh mét…Chết tao rồi Huy ơi…Bà vợ tao biết hết rồi,chắc tao đi luôn không dám về nhà,mày năn nỉ bả dùm tao…Tôi bật cười,về khoản sợ vợ cu Long là số một.Thì ra câu chuyện như thế này….Buổi trưa vừa ăn cơm xong,cu Long ra đứng trước nhà hút thuốc.Bên kia đường đột ngột một chiếc xích lô dừng lại,hai người phụ nữ bước xuống…Thầy Bảy…thầy Bảy….Cu Long hết hồn chạy bay vào nhà, hồi nào đến giờ khua môi múa mép với khách hàng nhưng cu Long dấu nhẹm tông tích.Hai người phụ nữ thản nhiên vào nhà ngồi chờ,vợ cu Long ở nhà dưới lên không hiểu chuyện gì…thế là bom gào đạn xé.Rất nhanh chóng Cu Long ra lối sau chạy thẵng một mạch đến nhà tôi.
Câu chuyện kể trên cũng đã xa lắm rồi,bây giờ cu Long là nhà phong thủy thứ thiệt,có thẻ Hội viên có in Carte visite. Những năm tháng miệt mài nghiên cứu cọng với thời gian,cu Long trở nên trầm tính và hiền lành hơn,mở miệng ra là triết lý về nhân quả,nhân duyên.Buổi chiều hai đứa ngồi với nhau,cu Long tâm sự….Chắc thời gian tới tao sắp xếp công việc rồi vô chùa ở luôn…mày thấy sao,được không .Cái thằng nói láo như máy…hám gái số một,ham vui là quên hết, chỉ được mổi cái tâm thiện..Tôi nhìn nó..khuôn mặt vuông,cằm nở..hậu vận không đến nổi,nhưng cặp mắt tròn và lộ,ánh vẫn vẫn lóng lánh ham vui…nợ trần còn nhiều lắm con ơi,ráng mà trả cho hết.Tôi trả lời…Mày tính giũ bụi trần hả..còn lâu lắm con ơi,như sư phụ mày nè mà còn chưa được.Cu Long chửi ỏm tỏi…mày làm thầy tao hồi nào..chỉ là mấy tháng đầu tiên nghe chưa…Trời ơi…Nhất tự vi sư,bán tự vi sư..hơn nữa nó lại phủi ơn.Mười mấy năm về trước ai phong cho nó chức danh…Thầy Bảy Tà lơn….hết….

VŨ ĐÌNH HUY

MƠ HỒ TỨ TUYỆT

tranvanle

Ba hôm nay rồi không nắng mưa
Ngày âm u như tối trăng mờ
Nằm yên nghe gió bên thềm thổi
Không nghe ai về vang guốc xưa…

Không tiếng xe ngừng kêu trước cổng
Con mèo ngước nhìn lên ngọn cây
Có chiếc lá vàng chưa muốn rụng
Phất phơ lá vàng tưởng áo bay…

Ba hôm nay buồn, buồn mông lung
Những câu thơ lạnh, lạnh vô cùng
Hình như mực đọng không buồn chảy
Một chữ buồn xa tưởng bến sông…

Phải chi có tiếng ngựa bên đồi
Để mình đừng nghĩ mình mồ côi
Nhớ hồi đi dạo cùng ai đó
Sót lại trong lòng một chút vui…

Cũng muốn làm chơi bài tứ tuyệt
Rồi cầm coi thử nó ra sao
Biết đâu cũng đỡ niềm hiu quạnh
Cũng đỡ buồn xanh mướt cỏ lau…

Trần Vấn Lệ

ĐÊM RA BIỂN

tranhoaithu

Đêm ra biển, đêm dậy đàn. Đêm tuyệt mộ
Đêm lạy Trời lạy Phật lạy Ba Ngôi
Đêm lên thiên đàng hay địa ngục, đêm ơi
Đêm chới với lằn ranh miền sống chết
Đêm rất lặng mà đêm tru thảm thiết
Đêm hiền từ mà đêm nổ lòng ghe
Đêm sóng gào mà đêm lại nín khe
Đêm gió dữ mà bình an nhắm mắt
Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát…

TRẦN HOÀI THƯ