KHÚC HÁT TIỄN NGƯỜI BUỔI ĐI XA

tranvannghia

Có xa mới thấy lòng thương nhớ
Chảy tràn trong đáy trái tim anh
Có xa mới thấy đời tan tác
Bước đi một bước dạ chẳng đành

Em ơi chiều nay se gió bấc
Áo nào ngăn được nỗi hắt hiu
Tay nào đâu níu nhau trọn kiếp
Khi tình ta quá đổi tiêu điều

Ôi mắt đã đầy sương khói phủ
Nhìn em qua sông vắng một mình
Còn lại trong anh sầu khúc hát
Đưa em về trăm cõi điêu linh

Em đâu biết trong dòng lệ ứa
Là tang thương chảy suốt một đời
Những cánh hoa rụng buồn tháng chạp
Tưởng như từng giọt máu đang rơi

Máu của anh ngậm hờn xiết kể
Đẫm con đường em sắp đi qua
Ai xui áo người xanh như lá
Để lòng buồn như cơn gió xa

Cơn gió xa nghe còn hơi rét
Se mềm lòng nhớ dưới trời xưa
Bến qua em rắc đầy hương sắc
Bờ anh đứng lại hắt hiu mưa

Dù cầm lòng hẹn với ngày sau
Thì cũng chỉ thôi là giấc mộng
Mắt chiều nay đẫm cả trời sầu
Nhớ người xa ngàn năm hút bóng

Tóc chẳng phai sương gió tháng ngày
Tình sao nở bạc lòng lẩn khuất
Hình như có bước ai về đây
Dẫm hồn anh vàng bao lá chết

Có thấy chăng dưới trời quạnh quẽ
Áo người bay nghe nát cả lòng
Chỉ thấy chăng giữa đời nghiệt ngã
Tình anh lả tả trận mưa giông

Nắm tay nhau thấy xa nhau một chút
Rời tay nhau là biết mất nhau rồi
Hỡi em trên con đường vạn dặm
Có hồn anh trăm hạt bụi phơi

TRẦN VĂN NGHĨA

B’Lao 1974

CON SÔNG TUỔI NHỎ

tranthitrucha

Buổi chiều thả nắng xuống sân trường, những chiếc lá bàng úa đỏ lả tả rơi theo từng cơn gió, đám chồi non mới nhú lên đêm qua lóng lánh sau cơn mưa, bầu trời cao xanh ngát nhưng nắng vẫn u buồn. Thuỳ bổng nhớ về con sông Thanh Thuỷ với rừng dương liễu bên kia bờ của quê ngoại, con sông tưởng chừng như vói tay qua là tới, vậy mà chưa lần nào Thuỳ bơi qua khỏi bờ sông bên kia. Một vài chú chim sẻ lướt qua sân trường rồi bay mất, những sợi tóc mai của Thuỳ lấm tấm mồ hôi sau một giờ giảng bài trên lớp, một câu hát nhói đau vọng về từ miền kí ức
“Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm….”
Ngày xưa sao lại có những lời hát tha thiết quá?!….Dường như anh đã quên tất cả sau chuyến đi lênh đênh ngoài đại dương và những bến bờ tấp nập của thành phố nước ngoài đầy hoa lệ. Chỉ còn Thuỳ vẫn đứng đây với dòng sông, mái trường và những kỉ niệm đong đầy…Hằng ngày Thuỳ vẫn đến ngôi trường cũ dạy học cho những đứa trẻ nông thôn đầu trần chân đất để rồi miên man trong nỗi nhớ.

Kí ức vương vấn như mới hôm qua, dòng sông vẫn còn đó như một nhân chứng già nua cho tuổi nhỏ chúng ta. Dòng sông là bãi chiến trường cho Dũng, cho anh em Thuỳ và bọn nhóc xóm rừng, xóm chợ. Thuỳ đã ngồi đây suốt buổi chiều canh giữ áo quần cho bọn anh đánh giặc giả để rồi bật khóc ngon lành khi nhìn thấy phe anh thua trận bắt làm tù binh và bị bọn xóm rừng hành hạ. Thuỳ đã cứu bọn anh bằng cách chạy vào túp lều ở cuối rừng dương gọi ông Cửu Tín bụng phệ đến can thiệp ” Ông bắt chúng mày ông làm thịt hết”. Tiếng hét của ông đã bọn xóm rừng phải dừng ngay những hình phạt man rợ để trốn thoát. Ánh mắt anh thật trìu mến nhìn em biết ơn ” Không có Thuỳ chắc bọn nó đánh bọn anh chết mất”. Rồi những viên kẹo ngọt ngào anh đền công, những con thú bằng đất sét lấy từ trong lò gạch bên bờ sông, được chính đôi tay khéo léo của anh làm nên.

Dũng ơi! có thể nào quên được, cũng trên dòng sông này, người ta đưa xác má anh từ bên kia bờ sông về chôn cất trong rừng dương liễu, làm sao có thể quên được dãi khăn tang trên tóc và những giọt nước mắt đớn đau của người con trai khóc mẹ. Má của anh là người phụ nữ suốt đời tần tảo trên cánh đồng nuôi con và chung thuỷ đợi chờ chồng. Em vẫn còn nhớ bàn tay chai sạn rám nắng của má vuốt lên tóc em ” Làm con gái má nghe Thuỳ!” Điều đó đã không thực hiện được. Dũng ơi! vì sao? Định mệnh- duyên số, em căm ghét những tiếng đó vì nó không nói lên điều gì ngoài sự bất lực. Không có duyên số, không có định mệnh mà chỉ có ý chí và sự tất yếu khắc nghiệt.
..
Chiều ngày ấy, một buổi chiều nhạt nắng,những giọt nắng vàng hiếm hoi còn rơi rớt lại trên những ngọn dừa cao ngất, nước sông dâng cao, những đợt sóng lăn tăn trôi dạt vào bờ, gió dịu dàng mơn man những khóm lục bình tím ngát. Anh vẫn ngồi lặng bên bờ sông, dãi khăn tang trên tóc và nỗi đau mất mẹ dâng đầy trong đôi mắt đỏ hoe.
Thuỳ!.. sáng mai anh đi rồi
Dạ…
Thuỳ cúi đầu di di những ngón chân trên cỏ. Sáng mai anh đi rồi, điệp khúc đó thật buồn, cứ như tiếng một tiếng khóc…Anh đi rồi sẽ không ai lang thang với Thuỳ trên cánh đồng đầy hoa dại, ai sẽ bênh vực Thuỳ mỗi khi bị anh trai ăn hiếp, ai sẽ giảng cho Thuỳ những bài toán khó…Rồi đây tất cả những nơi nào anh đi qua chỉ còn lại những dấu chân.
Bãi cỏ xanh còn đó
Bầy chim sẻ đã bay về đâu?
Chiều tắt hẳn nắng, gió từ mặt sông thổi lên se lạnh, ngững chiếc thuyền nan xuôi nước trên sông, mắt Thuỳ ướt đẫm, bàn tay Thuỳ ấm mềm trong tay anh.
Chiều sắp tối rồi, để anh đưa Thuỳ về kẻo lạnh.
Thuỳ ngoan ngoãn đi theo anh, rừng dương liễu tối thẩm, gió thì thầm một âm điệu trầm buồn. Đến cổng nhà, Dũng dừng lại, anh cúi xuống nhìn sâu vào mắt Thuỳ.
Vào nhà đi Thuỳ, nhớ thắp nhang lên mộ má giúp anh nhé! Thuỳ ngước nhìn anh, đôi chân ngập ngừng, quyến luyến. Dũng vẫn đứng ở cổng , dáng cao gầy, ánh mắt thật buồn và quá đỗi thiết tha. Chính ánh mắt đó đã đi theo Thuỳ suốt cả cuộc đời sau này.

Dũng theo người chú về thành phố được một năm thì chiến tranh ập đến quê hương khốc liệt, trường học không thầy cô giáo, cổng trường im ỉm khoá, lớp học đổ nát chỉ còn bầy chim sẻ chiêm chiếp đếm sầu trên mái ngói loang lỗ. Cây phượng ở cuối sân trường ghim đầy những mảnh đại bác, nhựa chảy ra như nhuốm máu. Đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn, anh em Thuỳ bị đánh thức dậy núp hầm vì tiếng đại bác thật gần, ba me Thuỳ sợ con cái thất học nên gởi con cái về thành phố để học tiếp. Thế là anh em Thuỳ cũng giống như Dũng bỏ quê hương, bỏ mái trường, dòng sông, bạn bè và những người thân thuộc để đến thành phố đầy ánh sáng, nhưng thành phố không có dòng sông dâng nước lên mỗi chiều lộng gió, không có những con đường làng quanh co rợp bóng tre xanh, không có những sợi khói lam chiều lan toả trên cánh đồng trong bóng chiều hoàng hôn…Thuỳ nhớ quê nhà đến rát lòng và thường hay lén ra sau nhà ngồi khóc một mình. Những giọt nắng vàng lấp lánh trên tầng lầu cao ngất làm Thuỳ nhớ đến những giọt nắng rơi rớt trên hàng dừa ở quê nhà. Anh ở đâu rồi hở Dũng ? Chúng ta cùng ở trong một thành phố mà sao lạc mất nhau?!…

Đầu mùa thu năm đó, anh em Thuỳ xin vào học ở một trường trung học tư thục, điều diệu kì đã đến, Thuỳ đã gặp lại anh tại ngôi trường này, không thể nào tả hết niềm vui hạnh ngộ. Dũng bây giờ thật rắn rỏi, lịch thiệp và Thuỳ cũng dịu dàng trong áo dài lụa trắng và tiếng guốc khua vang…Rồi những chiều hẹn hò đưa đón, ánh mắt trao nhau trên lan can đầy nắng thiết tha, nồng nàn…Chúng ta đã có những ngày tháng tươi đẹp của thời học trò hoa mộng phải không anh?!…Những bức thư tình vội vàng trao nhau trong hoàng hôn tắt vội…và những dấu chân luống cuống anh theo em về trong giờ tan học…Cuộc sống có bao giờ dừng lại, dù chúng ta đang sống trong thời khắc đẹp nhất của đời người!…

Có ai ngờ ngày chấm dứt chiến tranh là ngày chúng ta mất nhau mãi mãi…
Ba anh trở về với chức vụ quan trọng ở thành phố. Niềm vui lớn làm anh hoàn toàn đổi khác, một khoảng cách mơ hồ nào đó làm anh cứ xa dần….Thuỳ nhớ anh từ lúc bình minh vừa thức giấc cho đến khi bóng tối của nỗi đợi chờ vây quanh. Thuỳ ngồi lặng trong những buổi sáng mùa đông mưa gió đầy trời và đi miên man trong ráng chiều tím thẩm với những bước chân hụt hẫng như cố tìm lại những dấu chân đã mất…Và cuối cùng cũng chẳng biết đi đâu ? về đâu? đành trở về trong căn phòng nhỏ đơn độc của mình úp mặt vào gối khóc lặng lẽ. Bức thư cuối cùng của anh là những giọt buồn cay đắng
” Thuỳ yêu thương của anh!
Đêm nay anh cơ hồ như có sự biến động dữ dội nào đó làm cho đất trời nỗi gió, đó là cơn gió chuyển mùa. Thuỳ ơi!…làm sao nói hết được nỗi day dứt cũng như làm sao hiểu biển kia yên tỉnh mà ngăn cản đường về của những cơn sóng.
Anh dối Thuỳ rồi ư !…Anh muốn quên đi tất cả, nhưng chuyện bây giờ như sóng dội vào lòng, dữ dội, ồn ào và tan loãng…biết nói sao đây?!….nói gì rồi cũng buồn, cũng đau…nhưng cũng đành phải nói, như có lần anh đã nói ” Hạnh phúc tôi, tôi lại đi tìm ở đâu ra ! nếu không từ trong nỗi khổ đau và day dứt khôn nguôi.
Thuỳ! tuổi thơ của anh và em đã đong đầy như ánh nắng trên cánh đồng bên con sông quê mình, vậy mà giờ đây anh phải nói với em lời chia tay trong sự dày vò tâm can. “Lâu đài tình yêu tôi dựng trên mặt đất, nhưng riêng tôi phải ngủ bụi nằm bờ! Tôi bắt chiếc cầu của hồn tôi say đắm nhất, cầu gãy rồi tôi với đá chơ vơ”.
Thuỳ yêu thương ! anh muốn gọi như thế thật nhiều và thật lâu…nhưng Thuỳ ơi, hãy tha lỗi cho anh. Với anh, em luôn thành thật và yếu đuối. Sự thành thật đáng để trân trọng và sự yếu đuối đáng để yêu thương !…Vậy mà anh đã không xứng đáng với em, không vì em. Thuỳ ơi!…hiểu cho anh, mỗi câu chuyện có một lịch sử của nó…Em biết rồi đó, anh là một đứa trẻ mồ côi, luôn khao khát một mái ấm gia đình có bóng dáng của người thân, má đã nằm xuống, anh trở thành kẻ ăn nhờ ở đậu, ba trở về như một sự bù đắp… Thế nhưng bi kịch cũng bắt đầu từ đây…
Ba anh đã hứa với người đồng đội của mình trước khi nhắm mắt… cưu mang đứa con gái duy nhất của bác ấy như con gái và sẽ thành con dâu của ba.. Chiến tranh đã đi qua mà nỗi đau của chiến tranh thì cứ mãi mãi ở lại…Thuỳ ơi!…Nếu còn sống má sẽ không bao giờ để anh mất em…má đã yêu thương em biết dường nào!…
Hãy quên anh đi, nếu có thể thì em hãy xem như anh không còn tồn tại để em đỡ đau buồn nhưng anh xin em, đừng mất niềm tin vào cuộc sống, đó là ân huệ cuối cùng em dành cho anh…”
Thuỳ đã gục đầu khóc ướt đẫm vai áo của anh trai mình, anh đã xoa đầu vỗ về Thuỳ như những ngày Thuỳ còn bé dại.
– Đừng khóc nữa em gái của anh, con đường phía trước còn dài lắm, em phải đứng dậy đi tiếp…
Những ngày sau đó anh đưa đám bạn vui nhộn của anh về đàn hát trong khu vườn đầy tiếng chim. Thuỳ vẫn ngồi lặng lẽ, thờ ơ bên khung cửa sổ ..Những người bạn của anh, ai cũng thương Thuỳ như em gái, họ cười đùa, trêu chọc Thuỳ , chỉ có một người rất ít nói, lặng lẽ nhìn Thuỳ với ánh mắt thật lạ
– Nếu anh có một người yêu như Thuỳ…anh hứa sẽ không bao giờ để người yêu khóc…
Và Thuỳ đã đau, cơn đau dữ dội lúc nửa đêm về sáng, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, rồi Thuỳ chìm vào cơn mê trong phẩu thuật…Khi Thuỳ chập chờn tỉnh dậy, thấy mình như bồng bềnh trong đám mây trắng xoá …nghe tiếng thầm thì : ” Cô bé đã qua cơn nguy kịch, khoảng vài tiếng nữa sẽ tỉnh …nhưng có điều cũng cần nói cho gia đình biết…là cô bé sẽ không còn có khả năng làm mẹ…Khối u đã nhiểm trùng …phải cắt bỏ tất cả…Tội nghiệp cô bé xinh quá…”
Thuỳ mở choàng mắt trong tiếng khóc oà của mẹ…Ba đứng bên cạnh cầm tay Thuỳ, mắt đỏ hoe:
– Con đau lắm phải không con, có ba me bên cạnh con rồi, con đừng sợ gì hết nghe con…
Con hãy hít vào thật sâu và thở ra thật chậm….hít vào là đón nhận sự thanh thản, bình yên, thở ra là trút bỏ tất cả ưu phiền, đau đớn con à…
Thuỳ nhẹ như chiếc lá, tập chập chửng đi lại trong nhà như đứa trẻ…Anh trai cũng không còn đưa bạn bè về đàn hát nữa, khu vườn rợp bóng cây ủ rủ buồn trong nắng, đàn chim sẻ vẫn trở về ríu rít đếm sầu trên mái ngói…thỉnh thoảng tiếng đàn lạc lỏng của anh trai vọng lại những âm điệu thật buồn…Một buổi trưa vắng Thuỳ chập chờn trong giấc ngủ mê mệt của thuốc giảm đau, giật mình thức giấc vì tiếng anh trai thật gắt gỏng:
– Cậu về đi…Em gái mình đã đau nhiều rồi, mình không muốn ai làm em mình đau nữa…
– Cậu là bạn mình mà cậu không hiểu, mình yêu Thuỳ , mình không giống Dũng, mình chấp nhận tất cả và muốn đem lại hạnh phúc cho Thuỳ…
Mình hiểu và cám ơn cậu …nhưng cậu phải nhớ cậu là con trai duy nhất của gia đình cậu, cậu không làm khổ Thuỳ thì gia đình cậu cũng làm khổ Thuỳ, em gái mình không còn sức để chịu đựng thêm nổi đau nào nữa, mình van cậu đấy…
Thuỳ ngồi lặng trong bóng chiều im vắng, vậy là hết, cuộc sống như đã chấm dứt rồi sao?…
Anh trai đem một đống sách vở luyện thi về dỗ dành Thuỳ
– Anh sẽ cùng học với em để thi vào trường sư phạm, ngày xưa em nói với anh, em thích làm cô giáo để dạy cho trẻ em nghèo thất học ở quê mình, em nhớ không?
Thuỳ cúi đầu rưng rưng
Thuỳ à, cuộc sống còn có nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc, nhiều mơ ước…ở phía trước…Em đừng ngoái đầu nhìn lại phía sau nữa nghe em…
Dạ…em sẽ nghe lời anh!…
Thuỳ đã đứng dậy và đi về phía trước.
Niềm vui của Thuỳ là bục giảng, giáo án, tiếng cười hồn nhiên và ánh mắt trong veo của học trò…Cuộc sống thật bình lặng đã đi qua mỗi ngày ….
Vậy mà anh lại trở về.
Anh đứng trước cổng trường trong giờ tan học, không còn là anh ngày xưa nữa, mái tóc bồng bềnh như mây, dáng dấp lãng tử rắn rỏi đâu mất rồi. Chỉ còn lại ánh mắt mệt mõi ưu phiền, làn da xanh như màu lá.
-Thuỳ!…
Thuỳ đứng lặng, tiếng ồn ào náo nhiệt của học trò trong giờ tan trường che giấu nỗi bối rối của Thuỳ. Có phải là anh không?!…Trong giấc mơ Thuỳ vẫn mơ thấy anh nhưng không giống như anh bây giờ.
– Sao anh trở về?
– Để gặp em…có thể là lần cuối cùng…
– Sao vậy hở anh?
– Sau đó anh sẽ vào lại đó để xạ trị…xin em tha thứ cho anh, anh chỉ có lỗi với mình em thôi.
Thuỳ oà khóc tức tưởi
– Em có bao giờ giận hờn, oán trách gì anh đâu, đó là số phận mà, coi như chúng ta không có duyên nợ…mà sao đến nỗi này hở anh? em vẫn thường cầu mong cho anh bình an và hạnh phúc.
– Thời gian của anh còn lại ít lắm Thuỳ à, con anh còn nhỏ dại nhưng đã có ba và cô ấy chăm sóc, anh chỉ còn nợ em thôi, món nợ này anh không trả được cho em ở kiếp này.
– Anh đừng nói điều đó nữa…em không chịu nổi đâu…
– Hằng năm anh vẫn về trong ngày giỗ má, anh đã đứng trước ngôi trường này nhìn em từ xa không biết bao nhiêu lần, thấy em tươi cười với học trò lòng anh nhói buốt, nụ cười của em thật hiền nhưng vẫn đượm buồn…

Buổi chiều , anh đưa Thuỳ về thăm mộ má anh, ngôi mộ đầy cỏ may nằm bên sông, rừng dương liễu ngày xưa không còn nữa, người ta đã đón sạch, chỉ còn trơ trụi những gốc dương già nhú lên những mần non yếu ớt. Anh thắp nhang trên mộ và thì thầm trò chuyện cùng má.
Má ơi, con đưa Thuỳ đến thắp hương cho má lần cuối, ngày xưa má đã yêu thương Thuỳ và mong Thuỳ lớn lên sẽ làm con gái má, vậy mà ba và con đã không làm theo lời ước nguyện của má. Bây giờ má đã nằm yên trong lòng đất, còn con và Thuỳ mỗi đứa một nơi. Con ao ước được về nằm cạnh má bên con sông này. Con sông đã chứng những nhọc nhằn, vất vả của những năm tháng má vò võ nuôi con một mình và cũng chứng kiến tuổi thơ của con và Thuỳ. Dòng nước con và Thuỳ đã tắm thời thơ dại đó đã trôi về biển rồi má à…cho nên con muốn về nằm lại đây cùng má để nhớ hoài về những ngày tháng cũ.
Anh cầm lấy bàn tay của Thuỳ, tay em vẫn mềm, mắt em vẫn ướt, nhưng tan nát hết rồi Thuỳ ơi, con người sinh ra là để nhận chịu thương đau, càng thương yêu bao nhiêu thì càng đau đớn bấy nhiêu. Ngay trong sự sống con người đã phải chuẩn bị cho cái chết, anh không hề sợ cái chết, cái chết chỉ là sự trở về thôi em à…Cám ơn em đã tha thứ và trở về thăm má cùng anh, em bao giờ cũng hồn hậu, bao dung nhưng anh thì chưa bao giờ anh tha thứ cho chính anh.

TRẦN THỊ TRÚC HẠ

PHÍA SAU VÒM LÁ

levanhieu

Anh tình cờ nấp sau vòm lá
Nhìn em cười ,
Nhìn Bướm bay.

Ở ngoài kia có vài bông hoa lạ
Đang ngát hương
Lượn đến nơi này .

Anh tình cờ nấp sau vòm lá
Như dõi em xa
Ai ngờ dõi em gần .

Miệng em cười lùa đi nắng hạ
Lá anh đội đầu,
Mát rượi như không .

LÊ VĂN HIẾU

M.T

thuydo

Gửi H
Người về không nhớ chiều xưa ấy
Vai sánh cùng vai những lối đường
Dừa xanh nghiêng lá che bờ tóc
Ta đã nói thầm bao nhớ thương

Như nhớ thuyền xưa sông nước cũ
Tóc cuốn bay bay, vạt nắng mềm
Ngây ngô từng rặng bần xanh lá
Trưa nắng hôm nào nghe tiếng chim

Như nhớ cây cao bóng trải dài
Chân về quen những lối xa xôi
Bùn phù sa, đỏ hồng con nước
Đôi mắt người reo những nét cười

Người về không nhớ người năm cũ
Mà, buổi ấy nào đâu ngỡ trôi

THỤY ĐỖ

ĐỪNG LAY TÔI NHÉ

buithanhxuan

Tôi đang mơ giấc mộng dài
Đừng lay tôi nhé, cuộc đời chung quanh
Phạm Duy

Nhớ có một mùa đông, những ngày cuối năm trời lạnh buốt giá. Tôi lãng du về một nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân đến, một nơi gần như hoang vắng, loe hoe vài ngôi nhà. Một vùng rừng núi vừa mới được khai hoang trở thành một khu kinh tế mới. Tôi đi trên con đường đá sỏi đầy ổ gà. Con đường từ Ninh hoà dẫn lên huyện miền núi Khánh Vĩnh và xa hơn nữa, thành phố mù sương Đà Lạt
Tôi bước đi trên con đường mù sương này. Tâm hồn tôi bỗng phiêu dao. Bước đi trên quá khứ buồn vui của mình, những bước đi chênh chao, lấp liếm nỗi đau. Cơn đau chợt xé toạt, vỡ ra nơi cuối con đường.
Đó là cái cảm giác lạ lùng mà từ đó không bao giờ tôi có được lần nữa.Không bao giờ điều gì có thể mang lại một tâm trạng xúc động của tôi lên một tầng cao như vậy. Tôi mang cảm xúc kì lạ ấy đi hỏi nhiều người và người ta giải thích theo nhiều cách khác nhau. Có người nói tôi lúc ấy đang quay về nơi mình ở kiếp trước. Người khác lại bảo tôi đang nhận thông điệp từ thế giới bên kia. Người bạn Bác sỹ của tôi giải thích rằng lúc ấy lượng adrenalin tiết ra trong máu.
Và từ đó tôi có những giấc mơ.
Tôi nhớ những ngày cùng khổ, khó khăn lắm mới có được niềm vui. Âý là khi được nhường lại miếng cơm cho ai đó khổ hơn mình. Những ngày mà tôi chẳng có gì để làm và rượu bia là một thứ thật xa xỉ. Nó xa xỉ như cái gọi là hạnh phúc. Tôi nhớ cái ngày ngộ nhận mình trở lại làm con người thật sự giữa mọi người. Nhớ cái ngày tôi chịu mang ơn những người đã cưu mang mình, đã cho miếng ăn để được lại hít thở thứ không khí xa xỉ, được tái sinh một lần nữa. Tôi lan man và nhầm lẫn giá trị con người !
Một thời tuổi trẻ tôi mơ mình là một nhà văn. Bốn mươi năm quay lại nhìn, cơ hội vuột mất từ bao giờ. Nhưng rồi tôi cũng cố gắng viết. Tôi viết bất cứ thứ gì mình đã nhìn thấy, đã cảm nhận được.
Và sau này chịu khó viết thay vì cứ chạy theo cơm áo gạo tiền và ba cái trò chơi vớ vẩn ở đời
Tôi còn nhớ bài viết đầu tiên được cô gái Huế xinh đẹp rất thích. Ba mươi lăm năm sau gặp lại, cô bạn gái và cũng là độc giả đầu tiên ấy, hỏi tôi: “ Anh còn viết văn như ngày xưa nữa không?” Tôi cười: “ Đời anh phong ba bão táp vùi dập lên bờ xuống ruông. Viết làm sao được, em“. Tôi nhận được cái nhìn cảm thông và tha thứ.

Và những ngày tôi kiếm miếng cơm nhà người khác. Cơm nhà người lúc nào cũng đắng ngắt!
Tôi mười chín tuổi.
Cuộc chiến tranh đi qua. Với nhiều người cùng thế hệ tôi, họ chỉ được nghe kể về cái đau của nó nhưng chưa chạm vào sự tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh. Những đoạn đường đầy xác người, những bàn tay yếu ớt vẩy gọi giửa trưa hè nắng gắt. Từng đoàn xe lướt qua. Bàn tay đưa lên, yếu ớt rồi lịm dần trên mặt đường nhựa bỏng rát. Đôi mắt mãi mãi không nhắm lại
Trở về sau cuộc chiến tôi cố gắng học cách lọc lừa. Nhưng chịu!
Tôi cũng không quên cô bạn gái củ, người đã giúp tôi hoàn thành tác phẩm đầu tiên. Người đã khen tôi viết hay nhất trên đời. Người mà ba mươi lăm năm sau đã cảm thông và tha thứ cho tôi vì đã không hoàn thành được một tác phẩm nào như cô mong đợi!
Mỗi sớm mai thức dậy với điếu thuốc trên tay, tôi thường mò mẫm đi trong bóng tối để cảm nhận được ngày mới từ trong đêm sang ngày. Từ tối sang sáng. Điều đầu tiên tôi nghĩ đến những thân phận con người.
Tiền không phải là thứ đầu tiên tôi nghĩ đến vào mỗi sáng mai thức dậy!
Tôi trở lại viết văn! Trước đây tôi đã đi nhiều nơi trên đất nước này. Tôi gian nan để hiểu được nhiều điều, làm quen với cuộc sống của nhiều thân phận. Tôi hiểu rất khó nhọc!
Thành phố này đáng trân trọng từng viên đá, ngọn cỏ, hàng cây.Từng cơn gió thoảng qua, mặt sóng lăn tăn trên con sông hiền hoà mỗi chiều. Từng góc phố với những tà áo dài ngược gió.
Những chiếc thuyền nho nhỏ lửng lờ trên mặt nước sông Hàn bây giờ không còn nữa. Những di tích một thời mà những kẻ không hiểu biết gì, đã phá tan tành.
Có lẽ bạn đang nghĩ tôi viết lan man. Không đâu! Những điều tôi viết nó xuất phát từ trải nghiệm sống mình. Những nơi tôi đến hay đi đều có những kỉ niệm đáng nhớ.
Tôi mơ, đừng lay tôi nhé.
Trong những giấc mơ dữ dội làm người thỉnh thoảng có những giấc mơ ngọt ngào. Tôi mơ được một lần nữa chở em đi trên chiếc xe đạp vào một chiều Thu vàng. Em ngồi trên thanh ngang trước vì chiếc xe không có yên sau. Mùi bồ kết từ tóc em ngược cho tôi ngất ngây. Tôi bảo thà em đau cái mông còn hơn để đằng sau tôi có nhiều kẻ cơ hội.
Tôi mơ được trở lại tuổi thơ ngọt ngào.
Nơi tôi sinh ra là bên giòng sông. Thời niên thiếu của tôi là giòng sông và tôi mơ trở về với giòng sông tuổi thơ của mình.
Giòng sông ấy bây giờ sạch sẽ và tráng lệ hơn nhiều nhưng sao tôi vẫn thấy như còn rác rưởi nhiều quá. Giòng sông tuổi thơ tôi trong veo và phẳng lặng hơn.
Tôi bắt đầu vớt rác cho giòng sông và lọc lại tâm hồn mình.
Bài văn đầu tiên tôi viết chỉ còn trong kí ức. Thỉnh thoảng tôi đem ra đọc lại để nhớ về một thời trẻ dại, ngu ngơ nhưng lại trong veo như giòng sông tuổi thơ tôi.
Ai cũng có một tuổi thơ. Dù nó có êm đềm hay dữ dội, chúng ta cũng đã tắm trên giòng sông tuổi thơ ấy rồi, mãi mãi giòng sông ấy không bao giờ quay lại được. Ta vẫn nhìn thấy ở đó những ngọn sóng lăn tăn, dịu êm.
Tôi mơ một giòng sông.
Nó không giống bây giờ, mãi mãi như vậy.

BÙI THANH XUÂN

NÍU BÓNG TRĂM NĂM

lesa

Rằng ai mua cái truân chuyên
Mà ngồi bán mãi lệ nguyền phong phơi
Chợ chiều rát mặt mẹ tôi
Chắt từng ngụm gió giữa trời ưu dung
Tiếng chim hót lãnh bên rừng
Mẹ ngồi bán suốt những truân chuyên buồn!

LÊ SA

CHIỀU ĐÔNG XỨ HUẾ

nguyenlamthang

Mái phố co ro đón mùa đông về
Cơn mưa nhạt nhòa đường phố hôn mê
Lạnh buốt vai xưa chạm mềm mưa Huế
Đường về một bóng bao niềm tái tê

Ngọn gió bâng quơ gác buồn hơi người
Trong cơn mê này thương nhớ khôn nguôi
Một cánh chim bay giữa mùa đông tới
Nghe hồn lạc loài trong chiều mây trôi

Đường chiều về đâu? Lạnh màu mây xám
Lặng lờ sông trôi, thuyền xa mỏi bóng
Phố chiều bơ vơ, giáo đường xa vắng
Dốc Phủ Cam buồn mờ lối đi xưa

Một mình chờ ai? Một mình ngơ ngác
Nhặt lời mưa rơi, lòng thêm hiu hắt
Đắng giọt cà phê, đắng lòng muối xát
Như tiếng kinh cầu từ thuở yêu em

Câu hát cho nhau rã rời bên trời
Giấc mơ muộn màng đã khép trên môi
Thôi nhé em ơi! Tình là bão nổi
Biết đến bao giờ tình hết đơn côi?!

NGUYỄN LÃM THẮNG

THĂM NHỊ NGUYỄN ĐẤT PHAN THIẾT

voxuandao

Đó là anh Nguyễn Bắc Sơn (70 tuổi) và anh Nguyễn Như Mây (65 tuổi). Cả hai cùng họ, nhưng không phải là họ hàng nên tôi gọi là nhị Nguyễn. Cả hai người sinh và lớn lên ở đất Phan Thiết và khá thân nhau qua những vần thơ của mỗi người, một người có chất ngang tàng của kẻ sĩ (Nguyễn Bắc Sơn), một người lại đem vào thơ mình hơi thở của thiền dù trong những bài thơ ca ngợi tình yêu (Nguyễn Như Mây). Nguyễn Bắc Sơn là dân Bình Thuận gốc, còn quê hương của Nguyễn Như Mây là Gò Bồi, Tuy Phước, Bình Định. Anh Bắc Sơn ở trong một con hẻm đường Trần Lê (thuộc phường Đức Long), phía nam thành phố Phan Thiết, còn nhà anh Như Mây thì nằm trên đường Cao Thắng, phía bắc của thành phố này.

14/3/2014:
8h30 sáng, từ chiếc điện thoại 01264249949:
-D. nghe đây anh Đào.
-Chào Tôn Nữ chủ bút, chủ báo. Nghe thiên hạ đồn Thu Dung về Việt Nam và dự định đi nhiều nơi, nhưng bị bịnh nằm bẹp dí ở Nha Trang nên gọi hỏi thăm xem đã khỏe chưa?
-Dạ, cảm ơn anh, D. khỏe nhiều rồi!
Chất giọng nữ Huế nghe ngọt lịm, còn ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn, ngon hơn đường phổi của xứ Quảng (Quảng Ngãi)! Lại thêm tiếng xưng “D đây. ” dịu dàng rất đặc biệt từ người bạn trang lứa làm tôi nhớ đến Lê Ngọc Dũng (Dulehue) người bạn học đang sống ở Vũng Tàu đã từng nói cùng tôi: “Tao là dân Huế chính gốc mà cũng phải điêu đứng và lên bờ xuống ruộng vì chất giọng nữ Huế đấy!”. Nguy hiểm quá!
-À, mà anh Đào đang làm gì và ở đâu vậy?
-Đang ở Sài Gòn, chuẩn bị để mai đi Phan Thiết dự đám cưới con trai Cao Hữu Hùng.
-Anh đi bao lâu?
-Dự định sáng đi, tối dự đám cưới xong, khuya lên tàu về lại.
-Anh ở lại ngày chủ nhật, thứ 2 hãy về. Chủ nhật anh thay Tương Tri đi thăm các anh Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Như Mây ở Phan Thiết giúp D. đi.
-Nhưng, mình chưa biết và cũng không có địa chỉ của các anh ấy!?
-Phan Thiết cũng nhỏ mà, có thể anh Cao Hữu Hùng bạn anh biết các anh ấy hoặc anh gọicho anh Trần Văn Nghĩa hỏi địa chỉ. Làm ơn làm phước nhen !!!
-Cũng được. Mình sẽ đi thăm các anh.

Đúng là tôi chưa một lần diện kiến các anh, nhưng những ngày còn học phổ thông trước 30/4/1975 qua Bách Khoa, Đối Diện, Ý Thức … tôi đã “biết đôi chút” các anh qua những vần thơ bàng bạc sông, trăng (Nguyễn Như Mây) hay những câu thơ phản chiến có chút khinh bạc, ngang tàng (Nguyễn Bắc Sơn) như:
“Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu
Râu tóc mọc dài như bầy cỏ loạn
Sống thật âm thầm, ai hiểu ta đâu”.

(“Cười lên đi tiếng khóc bi hùng” của Nguyễn Bắc Sơn)
Trăng ở bên này sông
Đêm đêm còn một nửa
Nửa kia vàng thương nhớ
Ai gửi nước xuôi going
Trăng ở bên kia sông
Đêm đêm mòn nước chảy
Ai có về bên ấy
Cho gửi nỗi chờ mong
Trăng hai bên bờ sông
Đêm đầy rồi đêm khuyết
Nỗi niềm nào ai biết
Chỉ thấy trăng mãi còn
(“Trăng” – Nguyễn Như Mây)

Thời ấy, hai anh cùng những văn nghệ sĩ khác như Nguyễn Mạnh Côn, Du Tử Lê, Hoàng Ngọc Tuấn, Mường Mán, Mai Thảo, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng v.v… đã thổi những ngọn gió mới, lạ vào mảng văn hóa, nghệ thuật miền Nam tạo thành những đợt sóng trong các phong trào “du ca”, “thơ tự do”, văn học mang nhiều tính chất như: dấn thân, phản kháng, siêu hình hoặc triết lý.
Nên khi Tôn Nữ Thu Dung đề nghị thay mặt và đại diện cho Tương Tri (oai quá) đi thăm các anh, tôi nhận lời ngay.

15/3/2014:
11h15 tại quán café Villa gần nhà Cao Hữu Hùng:
-Chào anh Trần Văn Nghĩa, em Đào đây, anh còn nhớ em không?
-Ừ…ừ.
-Võ Xuân Đào đây anh, đã gặp anh ở Sông Trăng hôm hội ngộ với Tương Trí đó! Anh
khỏe không?
-Khỏe. Rồi! Anh nhớ rồi, Đào đang ở đâu?
-Dạ, Phan Thiết, em đi dự đam cưới con người bạn ở đây!
-Anh ở Phan Rang, nếu có dịp đi ngang qua Phan Rang thì gọi anh với Nguyên Vi, anh em mình bù khú nhé.
-Dạ, cảm ơn anh. Nếu đến Phan Rang em sẽ gọi. Chúc anh khỏe.
Vậy là ý định “cù rủ” anh Trần Văn Nghĩa cùng đi thăm anh Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Như Mây không thành rồi! Quay sang Cao Hữu Hùng hỏi nhỏ:
-Này, ông có biết anh Nguyễn Bắc Sơn, anh Nguyễn Như Mây không?
-Biết chứ! Còn thân nữa. Lúc bà xã tui mở quán café ở công viên đối diện nhà anh Nguyễn Như Mây, sáng nào các anh ấy cũng đến uống.
-Ông biết nhà không?
-B…i…ế…t.
-Vậy chiều nay mình đi tới nhà các anh đi.
-Chiều nay phải lo chuyện đám cưới cho con, làm sao đi được. Để sáng mai đi cha nội!

16/4/2014:
7h00 sáng tại nhà Cao Hữu Hùng:
Cao Hữu Hùng đưa tôi chiếc xe hắn gọi là “cần câu cơm hàng ngày” và bảo:
-Nhà anh Nguyễn Bắc Sơn ở Đức Long, còn anh Nguyễn Như Mây ở đường Cao Thắng, đi đâu trước?
-Nhà ai gần đây nhất thì đến trước. Ông là “thổ địa” dẫn đường.
-Ông đi xe tui, tui với Lưu Đình Trọng (cũng là bạn học thời đệ nhất cấp) đi xe của thằng con đến nhà anh Nguyễn Như Mây.
Trời ạ, “cần câu cơm hàng ngày” mà mỗi lần muốn thắng xe phải “dậm từ sáng mồng 1 đến tối rằm” xe mới đứng lại, cũng may còn sớm và Phan Thiết cũng ít xe, chỉ phải luồn qua lách lại giữa cái chợ tạm độ dăm phút là đến nhà anh. Vừa dừng xe trước nhà, cửa sắt nhà anh cũng vừa được kéo ra, Cao Hữu Hùng hỏi người con gái vừa kéo cửa:
-Ba có ở nhà không con?
-Dạ, ba con đi rồi. Mới đi lúc sáng. Chắc tí nữa về. Hay chú gọi cho ba con đi.
-Số máy của ba là?
-Dạ, 0913837992.
-Nói với ba là có chú Hùng (cô Khánh Linh) lại là ba biết.
Tôi nói với Hùng:
-Tới nhà anh Nguyễn Bắc Sơn đi, gọi anh Như Mây sau.
Hùng chạy trước dẫn đường về hướng nam thành phố, đến đường Trần Lê, lòng vòng đến con hẻm thứ ba của đường này mới đến đúng nhà anh.
Đứng trước ngôi nhà có sân vườn nhiều cây cảnh, Hùng bảo đây là nhà của anh Nguyễn Bắc Sơn. Mấy chú chó thấy có người đứng trước cổng chạy ra sủa vang, một lát sau chị vợ anh lửng thửng bước ra cổng, Cao Hữu Hùng ghé tai nói nhỏ với tôi:
-Chị vợ anh Nguyễn Bắc Sơn đấy! Khó tính lắm. Để tui hỏi cho.
-Chào chị, có anh Bắc Sơn ở nhà không ạ?
-Ổng đi Sài Gòn chữa bịnh vài ngày nay rồi!
Tôi hỏi thêm:
-Dạ, khi nào thì về hả chị? Bọn em ở trong Sài Gòn ra, ghé thăm anh.
-Cũng không biết nữa.

Không gặp được ai trong hai anh. Tôi nói với Hùng:
-Về nhà ông đi rồi tính.
Trở lại nhà Hùng, cất xe và kéo Trọng, Hùng ra quán café Villa gần đó. Tôi gọi cho anh Nguyễn Như Mây theo số của con gái anh đã cho lúc sáng:
-Dạ, xin lỗi phải số máy của anh Nguyễn Như Mây không ạ?
-Dạ, đúng rồi. Xin lỗi ….
-Em là Đào, bạn của Tôn Nữ Thu Dung trang Tương Tri đây anh ạ.
-Chào anh.
-Em đang ở Phan Thiết, lúc sáng lại nhà, nhưng không có anh. Giờ không biết anh đang ở đâu?
-Anh ở chỗ nào? Tắm xong tôi sẽ chạy lại.
-Dạ, em đang ngồi ở quán café gần ngã ba Tam Biên.
-Đường nào?
-Dạ trong hẽm Trần Hưng Đạo. Anh nói chuyện với Hùng, bạn em, hắn sẽ chỉ đường cho
anh.
-Chào anh Như Mây, em Hùng (Khánh Linh) đây.
……….
-Dạ, nhà em trong hẽm giữa Ngân hàng Nông Nghiệp và hãng xe Bích Thanh đó anh.
…….
5 phút sau anh đến trong dáng dấp của một nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hùng là người đã quen biết anh nên chủ động giới thiệu Lưu Đình Trọng và tôi với anh.
-Vợ Hùng là Khánh Linh, em gái của thầy Ngô Minh Triết dạy toán tôi năm đệ tứ. Các anh là người Bình Định hả? Tui cũng gốc Bình Định đấy, cha tôi ở Gò Bồi, Tuy Phước.
-Em là Võ Xuân Đào, bạn của Tôn Nữ Thu Dung. Biêt em ra đây, Thu Dung nhờ em đến
thăm anh.
-Thu Dung …..?
-Dạ, chủ bút trang Tương Tri đó anh.
-Có nghe tên, nhưng chưa gặp mặt.
-Dạ, Dung về Việt Nam với dự định đi nhiều nơi, nhưng bị bịnh nên chỉ ở Nha Trang, không đi đâu được.
-Tôi giờ cũng nhiều thứ bịnh lắm, thấy cái bụng tui không? (anh đưa tay xoay tròn cái bụng bự của mình) giống như bụng bầu chưa biết lúc nào đẻ, phải ăn chay trường để chữa bịnh; nhưng có một thứ bịnh mà không bác sĩ hay bệnh viện nào ở Việt Nam hay nước ngoài chữa được.
-Bịnh gì vậy anh? Sáng nay bọn em vào nhà anh Nguyễn Bắc Sơn, chị vợ anh ấy nói ảnh đi Sài Gòn chữa bịnh rồi!
-Có thể anh Bắc Sơn đi chữa bịnh thật, dạo này anh ấy cũng yếu lắm. Bịnh của tôi là ngồi hay đứng bên phụ nữ là bị mất điện. Ha…ha… Nói vậy chứ đi nhiều lắm, thích là lấy xe máy chạy đi, đi Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, … Trưa nay Đào về hả? Thế nào tí nửa cũng phải ghé tệ xá một chút nhé.
-Dạ được, em sẽ lại.
-Ta chụp mấy tấm hình kỷ niệm đã.
Nói xong anh lấy máy hình của mình ra chụp từng người trong chúng tôi và chụp chung với anh, anh mở máy hình cho tôi xem những tấm hình anh chụp trên đường mình đi qua mà bất chợt bắt gặp vẻ đẹp độc đáo của cảnh vật nơi ấy như hình ảnh những cây đay còn sót lại lung linh dưới bóng nước sông Mao.
Tôi bấm máy gọi cho Thu Dung:
-A lô, Dung hả? Mình đang ngồi uống café cùng anh Nguyễn Như Mây đây, Dung nói
chuyện với anh ấy nha.
…………
– Chào Thu Dung, cảm ơn. Hy vọng sẽ có dịp gặp Dung. Tôi có nhiều bịnh lắm, có một bịnh mà không bác sĩ, bệnh viện nào chữa được, kể cả ở Mỹ, tôi đã nói với Đào rồi.
……
-Bịnh ngồi bên phụ nữ là bị mất điện. Ha…ha…ha…
Nói chuyện một lúc, anh lấy hai tập thơ chép tay “Núi” do anh tự mình thực hiện, ghi tặng cho Lưu Đình Trọng và tôi thật trang trọng rồi chở tôi về “tệ xá” của anh, đưa tôi lên phòng anh, cho tôi chiêm ngưỡng những tấm ảnh do anh chụp, những tấm ảnh đẹp, sống động cứ như của một nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chứ không phải là người chụp ảnh nghiệp dư như anh khiêm tốn. Tôi được xem những bài thơ của anh đăng trên các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Giác Ngộ … của nhiều năm trước được anh cắt, giữ cẩn thận trong tập album, anh chỉ cho tôi chiếc ghế trong phòng mà đêm qua anh đã ngồi nhìm trăng trải dài trên cửa sổ nhà anh như lả lơi, mời gọi. Cũng nơi chiếc ghế này, nhiều đêm hay mỗi sáng anh ngồi ngắm “núi” và những ý thơ về “núi” đã xuất hiện. Anh đang thực hiện (cũng chép tay) một tập thơ tình “thơ tình nắn nót” của anh và hứa sẽ tặng tôi một tập khi làm xong.
Biết tôi vội đi, anh lấy tập thơ “Núi” (bản thứ 168) ghi tặng cho Tôn Nữ Thu Dung nhờ tôi chuyển lại rồi chở tôi qua lại nhà Cao Hữu Hùng, trên đường đi anh dặn:
-Khi nào Đào ra Phan Thiết cứ lại nhà tôi ngủ, nghỉ, có gì ăn nấy, anh em ta nói chuyện nhiều hơn.
Trở lại nhà Cao Hữu Hùng, anh bảo phải trở về để giữ xe cho khách hàng của con gái vì khách đang đông mặc cho tôi nài nỉ.
Anh Nguyễn Như Mây và Võ Xuân Đào trong quán café Villa (Phan Thiết)

Cuộc viếng thăm nhị Nguyễn của tôi theo ủy thác của Thu Dung kết thúc như thế đấy. Tiếc là không được gặp anh Nguyễn Bắc Sơn!

VÕ XUÂN ĐÀO

CHO TÔI MƠ GIẤC MƠ PHÙ ĐỔNG

nguyenanbinh

Cho tôi mơ giấc mơ Phù Đổng
Qua một đêm sức mạnh thần kì
Tin báo dữ bay nhanh làng Gióng
Tiếng sứ truyền theo tiếng ngựa phi.

Cho tôi mơ tiếng trống Mê Linh
Lễ tế cờ trước khi ra trận
Lưỡi gươm thiêng truyền lệnh xuất binh
Lũ giặc sợ kinh hồn bạt vía.

Cho tôi mơ trùng dương cưỡi sóng
Chém cá kình giữa chốn biển khơi
Ai dám bảo đàn bà yếu bóng?
Cũng có khi lấp biển vá trời.

Cho tôi mơ sóng dậy Bạch Đằng
Trên cọc nhọn còn tươi máu đỏ*
Chiến công xưa tạc dấu ngàn năm
Chui ống đồng trốn không kịp thở.

Cho tôi mơ cành đào ngày tết
Vẫn nở hoa giữa đất Thăng Long
Chiến bào còn vương mùi khói súng
Giặc kinh hoàng hai tiếng Quang Trung.

NGƯỜI về cùng đàn con ra trận
Ngựa sắt thành chiến hạm tàu bay
Nơi biển Đông kẻ thù gây hấn
Trận cuối nầy đáy biển chôn thây.

*Đằng giang tự cổ huyết do hồng( Giang Văn Minh)

NGUYỄN AN BÌNH
(THÁNG 6/2014)