THÌ THẦM VỚI MÙA THU

trantrungdao

Bên nhà trời đã sang đông nhưng ở đây vẫn còn là mùa thu. Mùa thu năm nay đến chậm và ra đi cũng chậm. Giữa tháng mười một rồi, hôm qua ngay cả một cơn tuyết nhẹ đến thăm nhưng lá vẫn chưa rơi hết. Nhiều hàng cây vẫn còn choàng trên thân chiếc áo màu vàng. Chung quanh nhà đâu cũng lá và lá. Mùa thu New England, tuy không “có gốc sim già đó” nhưng vẫn nghe đâu đây như có tiếng “thu hát cho người”.

Những buổi sáng trời không mưa, như sáng hôm nay, tôi ngồi nghe tiếng chổi vọng qua từ ngôi chùa nhỏ bên kia đường. Các thầy trong thiền viện dậy rất sớm. Thay vì dùng chiếc máy thổi lá như nhiều người ở xứ này, các thầy vẫn quét lá bằng chổi như những ngày còn ở Việt Nam. Thật lạ, giữa thị trấn sầm uất của phía nam thành phố Boston lại có một khoảng đất nhỏ mang trọn vẹn một khung cảnh, một nếp sống Việt Nam. Thiền viện với mái ngói cong, với tiếng chuông ngân dài hòa trong tiếng lá rơi xào xạc buối sáng cuối thu. Êm dịu. Một không khí êm dịu khó có thể tìm đâu trong thành phố kỹ nghệ này.

Gia đình tôi dọn về thị trấn phía nam này đã 8 năm rồi. Không bao lâu sau khi ổn định chỗ ở, ngày nọ nhìn ra đường, một thầy còn khá trẻ đang đứng ngắm căn nhà đang treo bảng bán.Vợ tôi nhìn tôi “Anh đến đâu là có chùa theo đó.” Thật vậy, vài tháng sau, căn nhà của người láng giềng bên kia đường trở thành ngôi thiền viện. Thiền viện Bồ Đề như tên chùa được khắc vào viên đá trước cổng ra vào. Ngoại trừ những ngày lễ lớn ghé qua thăm và chúc sức khỏe các thầy, tôi ít khi đến chùa và cũng không nhớ hết pháp hiệu các thầy. Một phần vì bận rộn với đời sống và phần khác cũng không cảm thấy cần thiết. “Trong núi không có Phật” như thiền tổ Trúc Lâm đã dạy, thì trong chùa cũng chưa hẳn có Phật. Đến để tìm gì? Tôi niệm Phật và nghĩ đến những lời dạy của ngài ở bất cứ nơi đâu dù khi ngồi nhìn những đám mây bay bên kia cửa sổ phi cơ, những đêm thao thức và ngay cả những chiều kẹt xe trên xa lộ.

Công việc làm buộc tôi thường dậy sớm, như sáng nay. Pha một tách cà-phê và ngồi nghe tiếng lá thu rơi, tiểng chổi của các thầy nhẹ vang. Một âm thanh quen thuộc vọng về. Kỷ niệm. Vâng, cũng ngôi chùa nhỏ, cũng quét lá trong sân chùa như thế. Mới đó mà đã 40 năm rồi. Bốn mươi năm mà như mới hôm qua. Cậu bé trong tâm hồn tôi cũng chẳng lớn hơn chút nào từ những mùa thu cũ.

Ngày đó, năm giờ sáng, khi phần đông người trong chùa còn ngủ, cậu bé thức dậy bắt đầu công việc mỗi ngày của mình. Cậu bé phải quét lá sớm để bảy giờ thì đi bộ đến trường. Sân chùa rộng, nhiều khi vừa quét xong nhìn lại phía đầu sân bên kia, lá rơi đầy như trước, lại phải quét thêm lần nữa, nếu không thầy trụ trì thức dậy sẽ trách vì nghĩ là cậu bé chưa quét.

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn.

Nhiều buổi sáng khi quét lá xong, trời còn sớm cậu bé ngồi trên bệ đá trước giảng đường học bài. Nhìn những chiếc lá đang nhẹ nhàng rơi xuống, cậu bé nghĩ về mình và những đứa bé cùng cảnh ngộ. Số phận của chúng cũng mang nổi cô đơn sâu thẳm và mong manh như chiếc lá đang rơi.

Thế hệ của cậu bé ngày đó là thế hệ của những chiếc lá bị cuốn đi trong mùa bão lửa. Lá rơi trên đường phố Đà Nẵng. Lá rơi dọc bến xe đò Hùng Vương. Lá rơi vào những hố rác hôi thối ở Hòa Cầm. Lá rơi bên ngoài các căn cứ lính Mỹ. Mỗi sáng, bên ngoài các hãng kem, hàng trăm chiếc lá tuổi mười hai, mười ba sắp hàng chờ nhận kem đi bán. “Trường học”, “mái ấm gia đình”, “tình thương cha mẹ”, “một bữa cơm ngon”, hình như lâu lắm rồi không ai nhắc với chúng những chữ gần như xa lạ đó nữa. Cuộc hành trình chúng đi không có bóng mát. Những bàn chân nhỏ nhoi trên con đường Việt Nam đầy hố đạn.

Cám ơn Đức Phật và những lời dạy của ngài. Tình thương, bao dung và tha thứ như những giọt nước mát rót vào tâm hồn cháy bỏng hờn căm của cậu. Nếu không có tiếng chuông chùa, không có lời kinh khuya ru tuổi thơ nhiều mất mác, cuộc đời cậu, như hàng triệu chiếc lá chiến tranh khác đang lang thang khắp ba miền đất nước sẽ về đâu?

Năm năm sau, vào một buổi chiều mùa thu, cậu bé đã trở thành một thanh niên 18 tuổi, lạy Phật ra đi. Hôm đó trời đã vào thu. Lá chưa rơi nhiều như sáng hôm nay nhưng tiếng xào xạt hòa trong gió lớn hơn. Hai cây đa già cùng tấu lên khúc nhạc tiễn đưa cậu bé. Tạm biệt chiếc đại hồng chung và những tiếng ngân dài, tạm biệt chiếc giường gỗ và bầy rệp đỏ, tạm biệt chiếc mùng ngăn muổi nhiều chỗ vá. Không giọt nước mắt nào nhỏ xuống trong giờ chia tay người đi kẻ ở, không, cậu tự tay mở cánh sắt nhỏ ngăn hai thế giới, và ra đi âm thầm như ngày mới đến chùa:

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly.

Sáng nay ngồi nhớ lại mình và những đứa bé bất hạnh thời chiến tranh. Tự hỏi, những chiếc lá vàng trên hè phố Đà Nẵng, trên bến xe đò Nam Lộc, trong hố rác Hòa Cầm ngày xưa đã bay về đâu. Thời gian âm thầm trôi như giòng sông bất tận. Bỗng dưng thấy thương mình hơn bao giờ. Bỗng dưng thèm được về bên sân chùa cũ ngồi dưới ánh trăng thu để lắng nghe tiếng lá ru như tiếng mẹ vỗ về. Bỗng dưng thèm được hát, bài hát của một thời hoa niên đầy nước mắt. Nhưng không, tuổi thơ sẽ không bao giờ trở lại như những chiếc lá chiến tranh ngày xưa nay đã già, đã rơi tan tác ở một nơi nào đó trên quê hương hay đang thì thầm với mùa thu ở một góc phía nam của thành phố Boston xa lạ.

Dù bay bao xa, một ngày, chiếc lá cũng sẽ trở về, để được hôn lên mảnh đất đầy oan nghiệt nơi giữ gìn xương thịt của mẹ cha, và cũng để lần cuối cùng viết nốt những bài thơ dang dở.

Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Vá tình người rách nát thuở hoa niên
Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

TRẦN TRUNG ĐẠO

TÂM THỨC

tranhodung

Chỉ cần một nụ cười
Tâm ta sen hồng nở
Chỉ cần một ánh nhìn
Hồn ta tràn ánh sáng

Nụ cười em vừa tắt
Tâm ta , cánh hoa khô
Em quay mặt bước đi
Lòng ta đầy bóng tối

Bàn chân em ngây thơ
Bước qua đời rất nhẹ
Sao lòng ta già cỗi
Hóa sa mạc ưu phiền

Tâm, khát một nụ cười
Hồn , bóng đêm chờ sáng
Ta bước vào cơn mê
Nghe đời trôi rất lạ

Em là ta ngày trước
Ta là em ngày sau
Ta và em là một
Nở chung đóa vô thường

TRẦN HỒ DŨNG

NGƯỜI LÍNH LÀM THƠ MANG BÚT HIỆU TRẠCH GẦM

dinhlamthanh

Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy, tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản.

Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !

Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng…tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.

Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách càfé vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.

Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương

(Lời trước nghĩa trang)

Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người.

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không

(Lời trước nghĩa trang)

Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả…đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…

Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh :

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn – Nổi trôi vận nước
Giọt ngắn giọt dài ướt đẫm quê hương

(Vụn Vặt)

Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh

Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay

(Cho nhau, Thơ DinhLamThanh)

Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.

Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời

(Hỏi)

Đối với bạn bè còn sống, Trach Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :

Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao…

Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười
(Trả lời)

Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng :

Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân

Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.
(Từ cơn mưa dài)

Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :
Tao bây giờ không tiền mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng – Nước vẫn tang thương !

(Nói với bạn bè)

Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay

Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ

Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha
(Lời trước nghĩa trang)

Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh :
Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên

Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn
(Quà sinh nhật cho người yêu)

Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ :
Đọc thơ mầy…
Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lõng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đợi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết

Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngửa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngào nầy mới chết mẹ tao
Cám ơn mầy
…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức
(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)

Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :
– Đ.M. ông thầy húp canh không ?”
Tôi hỏi lại :
– Đ.M. canh gì đó mầy ?”
– Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”
‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !

Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xữ dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng:

Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao

Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm

Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh

Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì…. mầy hèn đến thế sao

Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy… chết tiệt còn sướng hơn

Đàn gảy tai trâu…. xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.
(Cho tao chưởi mầy một tiếng)

Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.

ĐINH LÂM THANH
Paris

KHOẢNG CÁCH

dangkimcon

Là muôn trùng giữa môi và mắt
(Giọt lệ lăn sâu xuống nụ cười)
Thèm nói , thèm nghe một lời ước hẹn
Đã đành không ngày mai, cũng vui.

Không phải là nửa vòng trái đất
Không phải là năm năm , mười năm
Mà khoảng cách là những dòng nước mắt
Sẽ đêm đêm úp mặt chảy âm thầm

Khoảng cách là nửa đêm bật dậy
Có ai vừa huyên náo chiêm bao
Để khắc khoải bờ thương bờ nhớ
Đêm thở dài chi lạnh môi nhau.

Khoảng cách , không phải là mong đợi
Trăm năm , một giờ cũng chỉ là mơ
Như con sông mang chung giòng nước
Gần bao nhiêu thì cũng cứ đôi bờ …

ĐẶNG KIM CÔN

CHIẾC LÁ THU PHONG

 

daolam

Ta vẫn sống những tháng ngày mõi mệt
Vẫn phù hư bụi đỏ cõi xa mù
Những chấm phá trét tô lên y hệt
Một con hề mộng mị khóc thiên thu

Ta vẫn sống những tháng ngày xưa cũ
Vẫn âm thầm ngồi nhặt lá mơ phai
Xếp u uất giấu vào trong giấc ngủ
Nghe yêu thương mời gọi dấu tàn phai

Ta vẫn thở dẫu biết mình đang chết
Cây hư vô nặng trĩu trái ưu phiền
Thôi cũng xong một nhánh đời mõi mệt
Lá đau thương xin rũ xuống mộ phần

Mai mốt ai về qua con dốc nhỏ
Thả xuống giùm ta một đoá Quì vàng
Thả chút giận hờn…chút thương…chút nhớ
Chút thơ ngây dại dột để tình buông!

Thả yêu dấu tan theo ngày mưa xuống
Con dốc tình ướt đẫm những chờ mong
Cho ta được gối đầu lên vạt nắng
Mộng mị bên người…chiếc lá thu phong!

ĐƯỢC MỘNG MỊ BÊN NGƯỜI…
ƠI! CHIẾC LÁ THU PHONG!

DaoLam

“ĐỨA CON HOANG ĐÀNG VIỆT NAM HÃY TRỞ VỀ NHÀ!”

 

khuatdau

Theo đài RFA, báo chí Trung Quốc, mô tả chuyến thăm Việt Nam của Dương Khiết Trì như một món quà của Trung Quốc, nhằm tặng cho Việt Nam một cơ hội nữa để “tự kiềm chế trước khi quá muộn”. Trung Quốc thúc giục “đứa con hoang đàng Việt Nam hãy trở về nhà!”
Cái giọng điệu khốn nạn đó tiếc thay 700 tờ báo và hàng trăm đài phát thanh Việt Nam không hề nhắc đến dù chỉ một chữ. Cũng như trước kia Đặng Tiểu Bình bảo “dạy cho bọn côn đồ Việt Nam một bài học”, nhưng báo Nhân Dân đã cắt xén 3 chữ “bọn côn đồ” vì sợ và hèn!
Một nền văn minh có đến 6000 năm của Trung Quốc với các bậc hiền giả như Khổng tử, Lão tử, Trang tử, những thi bá như Lý Bạch, Đỗ Phủ, sao giờ lại có thứ báo chí hỗn láo, mất dạy như báo Hoàn Cầu?
Năm 2012, Khổng Dưởng Nghị gọi dân Hồng Kông là con hoang,đồ chó của Anh.
Sinh thời, Mao Trạch Đông gọi trí thức không bằng cục cứt!
Thì ra, cái thứ mất dạy đó là của cọng sản Trung Quốc. Cũng như cọng sản Việt Nam đã từng gọi bọn “đế quốc rẫy chết” là thằng. Thằng Mỹ, thằng Pháp, thằng Nhật. Còn Thiệu, Kỳ ra rả ngày nào họ chẳng gọi là thằng. Ngay cả liệt sĩ hùng anh Ngụy văn Thà, họ cũng bảo, chỉ là một thằng lính ngụy!
Cái cách “dạy một bài học”, “khuyên nhủ” của Trung Nam Hải, thực ra là dạy và đe nẹt cái đảng cọng sản Việt Nam, một đảng tép riu được cọng sản Trung Quốc nuôi dạy giờ đủ lông đủ cánh tỏ ra hỗn láo (dám đánh Campuchia và tranh giành đảo Gạc ma).
Sau năm 1975, nếu miền nam Việt Nam không giàu có, rủng rỉnh bạc tiền nhờ theo tư bản, thì cả nước Việt Nam ngày nay cũng chỉ là một Bắc Hàn mà thôi. Chừng đó thì cả đảo Phú Quốc cũng là của đàn anh vĩ đại. Cái gọi là “đổi mới” thực chất là làm giàu theo tư bản, còn cai trị thì vẫn theo cách của cọng sản.
Đương nhiên cái giọng điệu chợ búa đó chỉ giành cho một cái đảng già nua, ốm yếu, ngớ ngẩn chứ không thể nào dạy cho một dân tộc đã từng chém Liễu Thăng, đuổi Tôn Sĩ Nghị chạy bán sống bán chết, cái dân tộc ấy không thể và không bao giờ là “đứa con hoang đàng của Trung Quốc”
Nếu báo Hoàn Cầu chạy cái tít như thế này: Đứa con hoang đàng, là đảng cọng sản Việt Nam hãy trở về nhà, thì tôi không viết bài này. Vì, đúng quá “chời dồi”!

Khuất Đẩu
6/2014

CŨNG LÀ MỘNG MỊ

vungocgiao

(tặng chính tôi)

ta trở về nơi đã bỏ mà đi
con đường cũ giờ không còn bóng mát
dãy phố xưa đứng cau mặt lầm lì
sao vườn em hương dạ lan thơm ngát ?
hơn mười năm , ta sống đời khinh bạc
rất ngông nghênh ( dù đói rách kinh niên )
hơn mười năm , ta hóa thân trôi giạt
sáng , ngóng vĩa hè – đêm , trọ mái hiên ..
hơn mười năm , ta thắp sáng muộn phiền
bằng thơ , nhạc ( cũng như bằng chén rượu ..)
hơn mười năm , ta đã sống như điên
và , nhăng nhố nói cười như con khướu
ta trở lại một nơi không chỗ trú
vườn hồn em cửa khép tự lâu rồi
ngồi giữa chợ một mình nghe gió hú
rượu cạn vò sao chưa thấy mềm môi ?
phía cuối trời còn một đám mây trôi
chiều tắt thở níu chân ngày hấp hối
“ thôi , về đi ..! ” – ai hát điệu ngậm ngùi
giữa hiu quạnh ngỡ như lời trăng trối
mai lỡ nhớ , xin em đừng khóc nuối
giữa bụi hồng – lạc một dấu chim di
mai lỡ quên , cũng xin đừng bối rối
đời chỉ là mộng mị – có hề chi !
ta trở về nơi đã bỏ mà đi
con đường cũ giờ không còn bóng mát
dãy phố xưa vẫn cau mặt lầm lì
nhưng , vườn em hương dạ lan thơm ngát !

VŨ NGỌC GIAO

LẠNH CÓNG

authiphucan

trở giấc
trên cánh tay chiêm bao
em nhớ
tháng hạ xưa đầy nắng
xa xôi
hình như rất rất lâu
xa nhau
chưa kịp chùi nước mắt

nửa đêm
bão bùng từ Lousi…
có phải
anh từ trong cổ tích
có phải
anh chưa hề bỏ đi
có lẽ
em lâu rồi không khóc

đi về
một ngày một đường bay
thời gian
những vòng quay tích tắc
yêu thương
chập choạng một lần yêu
yêu anh
muốn chết cùng áo lính

bây giờ
bây giờ anh ở đâu
bây giờ
sài gòn mà cũng lạnh
cánh tay
anh cho em gối đầu
để cho
em bây giờ lạnh cóng…

ÂU THỊ PHỤC AN

RƠI TỪ GIỌT NẮNG

 

tonnuthudung

( Trích từ truyện NHẬT KÝ CỦA MẶC MẶC )

1.

Mặc Mặc nói : Đường dài hạnh phúc , cầu chúc cho người …
Hải Âu nói : Chị Mặc ơi . Ước chi những lời cầu chúc đều trở thành sự thật .
Nếu tôi nghe những lời nói ấy , tôi sẽ ôm Hải Âu để em thấy mình không bao giờ cô độc, nhưng tôi đã không nghe , tôi chỉ đọc được ở trang cuối cùng trong NHẬT KÝ CỦA MẶC MẶC , quyển sổ màu xanh lá cây rực rỡ em đã tặng tôi trong một ngày sinh nhật xa xưa . Em nói :
-Chị Mặc ơi , chị viết vào đây những điều mình không thể nói với ai .
Nhưng tôi đã không hề viết : Một điều giấu kín trong tim con người là điều giấu kín thôi. Quyển sổ nằm hờ hững trong ngăn kéo rất lâu, chỉ có Hải Âu viết những câu vu vơ đọc ở đâu đó như một thông điệp gởi gió cho mây ngàn bay… và tôi chưa bao giờ coi đó là điều quan trọng… Cho đến một ngày : Chị Mặc ơi ,em đã không thể nói được điều này với ai : Khi em nhận đươc món quà mà em hằng mơ ước thì em lại cảm thấy đau đớn vì nó chẳng phải là thứ mình cần !

2.

Bây giờ là mùa thu
Tôi không thể chờ thêm một phút một giây nào nữa … Với đôi giày vải cột dây màu tím nhạt, một áo thun rộng thùng thình vẽ hình EVIL & DEVIL màu cam rực rỡ và chiếc quần Jeans bạc phếch … Tôi đã sẵn sàng để chạy đi tìm Kym cùng trời cuối đất . Nói cho văn vẻ vậy thôi chứ tôi biết rất rõ Kym đang ở một nơi , một nơi tôi vẫn đi qua hằng ngày nhưng chưa bao giờ bước chân vào đó… Kym nói : Cấm !
CRAZY KYM , tên một quán rượu tối âm u , một nơi trần gian tội lỗi đầy khói thuốc , nhạc Rock và ma quỷ …Tất cả mọi người đều tới được , trừ tôi, như một ngoại lệ để Kym còn giữ tôi mãi mãi là một EVIL can đảm trong ký ức… Tôi không cần là một EVIL , tôi muốn đau nỗi đau của con người yếu đuối… Tôi mõi mòn chờ trong tuyệt vọng… Mặc Mặc từng nói : Em hãy tự mình đi nói điều em nghĩ là cần nói . Không ai giúp tôi , mà có gì đâu để giúp chứ . Cứ nói những điều đang đốt cháy trái tim , rất dễ thôi mà.
Kym ngồi trong phòng tối , ngọn đèn vàng hắt lên một quầng buồn bã , như một vầng trăng cô đơn nhợt nhạt , Kym ngước lên :
– Hải Âu ?
– Kym , em yêu anh , yêu vô cùng tận .
Tôi thảng thốt nói vì sợ rằng nếu ngần ngừ thì tôi lại ngậm câm và trở về với một trái tim tan vỡ .
Kym cười , chẳng biểu lộ chút ngạc nhiên gì về điều tôi vừa thổ lộ, cứ như hằng ngày anh đều quen nghe những lời tỏ tình thống thiết. Tôi chớp mắt , rất buồn , buồn không thể tả . Kym vẫy tay :
– Nhóc con , qua đây với anh, đừng đứng ngoài khung cửa mà ném những mũi tên tình yêu vào người khác !
Kym đẩy chiếc ghế xoay tròn về phía tôi ,theo thói quen , tôi nhặt chiếc gối bông , ôm vào lòng, áp má mình vào đó , thơm , mềm , ấm và vô cùng dễ chịu
– Nghe này Nhóc con , Yêu thì dễ thôi nhưng giữ gìn tình yêu thì không hề đơn giản , Em đã ném bao nhiêu con poupee vào hốc tủ ?
Tôi không đếm bao giờ những con poupee mình không còn yêu thích… chỉ mường tượng là hơi nhiều , nhiều lắm . Căn phòng bé nhỏ âm u đang ngập chìm trong tiếng Piano lặng lẽ – bài Bốn Mùa của Vivaldi-
– Nói xong điều ấy , em thấy dễ chịu hơn phải không Hải Âu ?
Tôi không biết , âm nhạc đã tác động đến tâm hồn như thế nào để có thể dìm tôi vào giấc ngủ. Tôi đã quên , không nhớ là Kym có đáp lại tình yêu của tôi bằng những lời chân thành , cảm động như các đôi tình nhân khác hay nói với nhau : I love you too , Honey … hay không . Chỉ biết rằng tôi đang rất dễ chịu… Tôi biết , Kym đang ngồi cạnh , giữ cho tôi một giấc mơ tuyệt đẹp. Một mùi khói thơm nhẹ nhàng không biết là khói thuốc hay khói nến bao bọc quanh tôi ấm áp.Chiếc gối bông hình gấu trúc êm như mây trời, và ngón tay Kym dịu dàng trên mũi : Mỗi lần nói xạo là cái mũi dài thêm một chút đó nhé Nhóc con.
Tôi hất tay Kym , không thèm cãi , chỉ hơi thắc mắc : Sao mỗi lần tôi nói về điều gì nghiêm trọng thì mọi người chẳng bao giờ cho đó là sự thật. kể – cả – nói- về- tình yêu ???
Tôi cũng nhớ , năm đó tôi mười sáu tuổi .

Tôn Nữ Thu Dung