LỜI THÚ TỘI CỦA THẰNG CU TÍ

 

trantrungdao

Tôi, công dân của cường quốc Hoa Kỳ
Vừa sống sót qua một thời dâu bể
Tôi nhuộm tóc cho đời thêm tươi trẻ
Đổi tên mình cho dễ đọc, dễ nghe

Thưa, tôi chính là thằng Cu Tí ốm teo
Một dạo mót khoai trên vùng Kinh Tế Mới
Đêm Sông Bé căn nhà tranh tăm tối
Bữa ăn chiều không đủ cháo thay cơm

Tôi quên rồi, tôi là kẻ vong ơn
Sẽ gởi nắm xương tàn nơi đất khách
Trong giấc ngủ, tôi mơ về Bahama, Las Vegas
Mơ con tôi một ngày sẽ vào Harvard, Stanford

Tôi nghiêm chỉnh chào cờ trước mỗi trận football
Nhưng ghét những lễ thượng kỳ quốc gia, quốc kháng
Mặc ai chết, ai vào tù ra khám
Gánh sơn hà đâu phải để tôi lo

Tôi thích nói về chuyện stock, mutual fund
Hơn là chuyện cháo rau khoai sắn
Đời là thế, có khi mưa khi nắng
Tôi trả lời về quá khứ đau thương

Tôi thích khoe mình mới được lên lương
Giấu đi những món nợ đời tôi chưa trả hết
Tôi nợ cha đôi mắt trừng khi chết
Nợ mẹ già dòng máu chảy trong tim

Tôi quên rồi, tôi có vạn thằng em
Đang lây lất trên vỉa hè, góc phố
Sẵn sàng giết nhau vì chén cơm manh áo
Và học đường là những tối đi hoang

Tôi quên rồi, tôi có vạn đứa con
Trôi giạt giữa quê hương mùa bão lửa
Là tôi đấy những ngày xưa thiếu sữa
Trong tay gầy của mẹ buổi sơ sinh

Tôi quên rồi, tôi có vạn người anh
Trong ngục tối, trên rừng sâu núi thẳm
Người đi khuất vào hư vô quên lãng
Không mộ bia và không cả họ tên

Tôi quên rồi, những người chị thân yêu
Đang lạc lõng nơi nào trên đất Thái
Đêm chị ngủ có mơ về quê ngoại
Bên hàng dừa, bên ruộng lúa nương dâu

Đêm giao thừa trên đất khách mưa bay
Nghe ai gọi từ bên kia biển rộng:
Nầy Cu Tí, mầy là thằng phản bội
Tôi giật mình và sực nhớ ra tôi.

TRẦN TRUNG ĐẠO

DẤU CHÂN THƠ

 

chuthuynguyen

 

1. đứa bé khóc
giọt lệ nhỏ
vào bình mực tím
kể từ dạo ấy
những dòng chữ bé viết ra
từ bình mực ấy
hóa thành thơ.

2. cái bóng
giỡn với hình của nó
bức tường vô tình in lại
chỉ mỗi cái hình
bữa sau trên tường
người đọc thấy
toàn lời thơ.

3. Con chuột chạy suốt
trên màn hình
màn hình càng lúc
càng đông các con chữ
con chuột chẳng biết trốn đàng nào
bèn lủi đại vào
các con chữ bỗng chốc hóa thành thơ.

4. giọt dương cầm cuối dốc ban chiều
thờ thẩn rụng
những nắm hạt lời tình
rơi vãi
em tôi cố nhặt nhạnh
bằng hết vào rổ
chiếc rổ thoáng chốc hóa toàn thơ
lời tình …

CHU THỤY NGUYÊN

THÁNG BẢY KỂ CHUYỆN XƯA

 

buithanhxuan

Chúng ta mấy ai không một lần trong đời nghe kể về chuyện ma. Có người tin nhưng cũng lắm người cho điều này là nhảm nhí. Nhưng với tôi, tuổi thơ gắn liền với những tiếng đạn bom xa xa vọng về hằng đêm như những tiếng hú rợn người từ khu rừng âm u hoang vắng,

Chuyện ma quỷ hiện hình ám ảnh tuổi thơ tôi. Sợ nhưng lại thích nghe kể những câu chuyện ma quái. Khi mà từ làng quê ra phố thị không ồn ào náo nhiệt như bây giờ thì cũng có lúc một lần chúng ta đi qua những con đường vắng lặng, thỉnh thoảng nghe một vài âm thanh kỳ lạ nào đó và bỗng dựng tóc gáy ù té chạy như ma đuổi.

Chuyện ma hiện hình nhát người hay bóng trắng của cô gái bán hột vịt lộn với tiếng rao thống thiết. Chuyện chàng trai gặp một cô gái xinh đẹp giữa đường và được cô gái đưa về nhà ân ái, sáng hôm sau tỉnh lại thấy mình nằm bên cạnh đống rơm với đủ thứ rác rưởi. Chuyện quỷ một giò hay ma chó trả thù thỉnh thoảng lại ám ảnh chúng ta. Không biết ai đã từng một lần gặp ma chưa, nhưng với tôi đã một lần chết đi sống lại rồi. Nhưng thật ra cho đến tận bây giờ tôi chưa một lần nhìn thấy ma hiện hình.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một thành phố khá sầm uất của miền nam Việt Nam, trước cuộc chiến. Nhà tôi ngay trước Bộ Tư lệnh Quân đoàn Một. Đối diện với BTL là một nghĩa địa của người Tàu. Xa hơn tí nữa là ngôi chùa Tứ Bang. Từ nhà tôi muốn đi ra chợ Mới phải băng qua ngôi miếu thờ Thần Hoang và ngôi chùa này, cần việc gì đó đi vào ban đêm, phải gồng mình, bặm môi vượt qua đoạn đường đất kinh hoàng này. Tối om như mực, con đường nhỏ hẹp nằm giữa nghĩa địa nên tôi phải luồn lách để tránh va vào những ngôi mộ hai bên đường.

Tôi nhớ một lần Ba tôi bị bệnh phải nằm viện. Bốn giờ sáng xách cà men đi mua thức ăn rồi đến bệnh viện giúp Mẹ chăm sóc Ba. Phải thức dậy trong cái rét, cả thân người run lập cập vì lạnh thì ít mà sợ ma thì nhiều. Lần khần không biết nên đi ngã dưới hay băng qua con đường ngoằn ngoèo trong nghĩa trang người Tàu. Đi bọc ngả dưới thì hy vọng có người qua lại nhưng phải vượt qua  cái am thờ một cô gái trinh nữ bị chết oan từ thời Pháp. Nghe nói cô gái này hay hiện hình về giữa khuya, mặc bộ đồ trắng lượn lờ trêu chọc mấy anh đa tình. Nghe đâu  có người đã chết bất đắc kỳ tử nhưng không đau ốm gì cả vì cái tội hám sắc.
Đằng nào thì tôi cũng phải vượt qua đoạn đường kinh hoàng dù là ngả dưới hay lối trên. Quyết định cuối cùng tôi chọn lối đi băng qua nghĩa trang vì nó ngắn, Hơn nữa, đoạn đường này tôi đã đôi lần vượt qua trong đêm tối rồi, nhưng vào sáng sớm thì chưa lần nào. Đi lối này nếu lỡ có ma hiện hình thì ba chân bốn cẳng ù té chạy về nhà cho nhanh, còn hơn phải nhìn ánh đèn dầu leo lét, âm âm u u trong ngôi miếu trinh nữ, chỉ nghe thôi cũng ớn lạnh tận xương tuỷ.
Tôi lấy hết can đảm, hít một hơi thật mạnh vào buồng phổi, kéo cổ áo lạnh lên trùm kín khuôn mặt, chỉ để lòi hai con mắt mà nhìn rồi bước ra cổng. Miệng niệm Phật liên hồi. Tôi nghe người ta nói, khi niệm Phật ma quỷ sẽ không làm gì được mình. Ngón tay cái và ngón giữa bấm chặt vào nhau sẽ không còn sợ con ma nào quấy rầy nữa. Kể cả loại ma cà rồng sát thủ chuyên hút máu người cũng phải sợ mà tránh xa. Vậy là tôi yên tâm, mạnh dạn xấn tới trên con đường đầy đá sỏi ngoằn ngoèo.

Nhưng Trời ạ! Miếu Thần Hoàng của xóm sững sững ngay trước mặt. Ngôi miếu nằm dưới rặng cây um tùm. Văng vẳng tiêng kêu của côn trùng, tiếng lít chit của lủ chuột, tiếng meo meo của bọn mèo hoang.
Không dễ dàng cho tôi để băng qua vì ngay lúc ấy phía trước miếu có ánh lửa đỏ, lúc mờ mờ, lúc sáng rực lên. Lúc chập chờn, nhưng có khi lại băng nhanh như sao xẹt. Nó lập loè như ma trơi. Tôi khựng lại ngay tức thì. Tiến thoái lưỡng nan. Chạy về thì sợ con ma nó đuổi theo. Nghe nói ma nó bay trên mặt đất nhanh lắm! Tiến lên lại sợ nó hút mất hồn. Có khi nó lại đè ngửa mình ra hút máu thì biết chống cự làm sao được. Sợ quá, tôi sờ lên chổ mềm mềm nơi cổ mình, nơi có trái khế vừa lú ra. Vậy là tôi đứng im như trời trồng ngay giữa nghĩa địa hoang vắng.Tim muốn nhảy vọt ra khỏi lồng ngực. Thằng con trai mười ba tuổi tôi lúc ấy như bị thôi miên bởi ánh lửa ma trơi đang vờn trước mặt, tê dại toàn thân. Tôi cố định thần lại để nhìn cho rõ mặt mũi con ma ra làm sao, ít ra cũng phải biết nó đang ở hướng nào để dễ bề đối phó. Có lẽ cách đối phó thượng thặng lúc ấy là dọt cho lẹ.
Sợ hãi cùng cực, hai đầu gối đánh vào nhau lốp cốp còn tay tôi run lên cầm cập khiến tiếng leng keng của chiếc cà mèn phát ra to hơn. Bỗng ánh sáng màu đỏ ấy dừng lại trong chốc lát rồi mất hút vào đâu đó trong miếu. Thừa lúc con ma không xuất hiện lại, tôi ba chân bốn cẳng phi liền một hơi. Vừa được vài bước chân đã nghe tiếng hét vang : “ Đứng lại!”. Âm thanh ma quái, rợn người khiến chân tôi vọt nhanh hơn.
Bằm! Bằm! Bằm! ( Âm thanh tiếng súng tôi nghe được lúc ấy như vậy. Không phải đùng đoàng hay bằng! bằng! gì hết). Ba phát súng chỉ thiên, sát rạt ngay trên đầu tôi. Riêng tiếng bằm thứ ba hình như cái lổ tai tôi ran rát. Tiếng rít cộng thêm màu đỏ rực của mấy viên đạn lửa xẹt qua tai khiến tôi ngã quỵ, lăn quay bất tỉnh ngay lập tức.

Khi tỉnh lại trong nhà mình tôi nghe tiếng lao xao của nhiều người.  Có tiếng cười, nói oang oang của ai đó. Qua ánh sáng của ngọn đèn neon, tôi nhận ra vài người quen mình hay gặp, mặc áo lính. A, thì ra mấy ông lính trong đại đội Mãnh hổ bảo vệ BTL Quân đoàn. Đại đội này đóng ngay tại nghĩa địa Ba Tàu. Vậy là tôi lờ mờ hiểu ra mọi chuyện. Trời đất ạ! Ánh sáng lập loè như ma trơi ấy chính là điếu thuốc của ông lính mãnh hổ nào đó đang làm nhiệm vụ trong phiên gác của mình. Có lẽ khi phát hiện ra tôi đang mò mẫm trong bóng đêm nên vội nấp vào trong miếu để quan sát. Khi tôi vụt chạy, người lính này đã bắn sát rạt phía trên đầu tôi để hòng uy hiếp đối phương là tôi. Kết quả là thằng cu tôi nằm lăn quay, ngất lịm bên ngôi mộ của một bà già Tàu rụng răng. Tôi đoán bả rụng răng vì tấm bia mộ toàn chử Tàu có hình một bà già tóc bạc trắng.

Khu vực phi quân sự này chỉ có đại đội Mãnh hổ canh giử. Người dân sau mười giờ đêm không còn qua lại nữa nên sự việc mới như vậy

Chuyện xảy ra gần nửa thế kỷ rồi nhưng cái cảm giác sợ hãi ngày ấy tôi vẫn nhớ mãi, không bao giờ quên được.
Ba tôi là một Sỹ quan quân đội, mất sau cuộc chiến hai tháng. Thời gian này cuộc sống gia đình rất bi đát nên mộ Ba tôi được chôn cất vội vã ngay nghĩa trang người Tàu này cho gần nhà. Cái nghĩa địa Ba Tàu bây giờ không còn nữa. Thay vào đó là một sân quần vợt, một nhà hàng và ngôi nhà trong khu đất rộng lớn của một ông cán bộ về hưu mở quán cà phê dưới những lùm cây um tùm không một giọt nắng nào có thể xuyên qua được. Dưới những tán cây âm u ấy, những đôi tình nhân quấn chặt lấy nhau như những bóng ma chập chờn trên nền nghĩa địa củ. Nơi cánh cổng sắt quán cà phê là mộ phần của Ba tôi yên nghỉ trước đây thấp thoáng những cặp tình nhân lấm la lấm lét, lặng lẽ ra vào như những bóng ma. Họ chui tọt vào bên trong quán âm u này một cách nhanh chóng và bước ra âm thầm như thoát khỏi một hang động ma quái.

Đêm chuyển hài cốt Ba tôi từ Đà Nẵng vào Hội An trên một chiếc xe cải tiến củ kỉ. Tôi không nhớ vì sao nhà tôi lại có chiếc xe này. Loại xe hay dùng để kéo vật liệu trong các công trường xây dựng, gần giống như xe bò ngày trước. Hai anh em tôi phải thay nhau kéo bộ suốt đêm. Cái cảm giác kéo chiếc xe chở Ba mình đi trong đêm tối như vậy thật nhiều ý nghĩa. Chúng tôi không hề sợ hãi, mà ngược lại. Có lúc mệt mỏi quá lại van vái, cầu nguyện xin Ba giúp chúng tôi đi nhanh để sớm mai còn kịp chôn cất cho đúng giờ. Vậy là chiếc xe cải tiến kêu cót két nhanh hơn. Cảm thấy bước chân của tôi nhẹ tênh, như lướt đi trên mặt đường nhựa. Đoạn đường ba mươi cây số, đi mất mười tiếng đồng hồ, nhưng khi đến nơi anh em tôi vẫn thấy khoẻ mạnh một cách kỳ lạ.

Trong chuyến đi ấy cũng để lại một chuyện khá hài hước. Khi chúng tôi đi hơn một nửa đoạn đường, khoảng hai giờ sáng. Lúc gần đến một chốt kiểm soát của dân phòng, tôi thấy thấp thoáng một vài bóng người bỗng vụt chạy như ma đuổi. Thì ra trên chiếc hòm đựng hài cốt của Ba tôi khói hương nghi ngút. Có lúc đỏ rực lên vì gió. Lại thêm tiếng cút kít của cái xe cải tiến cũ kỷ, tiếng cầu nguyện thì thầm, tiếng bước chân của anh em tôi đập xuống mặt đường tạo ra một âm thanh ma quái khiến cho đám thanh niên kia hoảng hồn bỏ chạy.

Chuyện ma có thật hay không thì tôi không dám khẳng định vì chưa bao giờ được nhìn thấy người âm hiện về nhưng tôi tin thế giới người âm là có thật.

Ngày Ba tôi mất, Khoảng tháng bảy năm một chín bảy tư. Đêm đó từ trong tận rừng sâu, khi đi ngang qua khoảng sân tối đen vào lúc tám giờ tối, tôi thấy có một bóng đen lướt qua bên cạnh mình và gọi tên tôi khe khẽ. Lần đó tôi đã sỡn tóc gáy và tự nhiên trong đầu chợt nghĩ về người cha đau ốm của mình. Một tuần sau tôi hay tin Ba mất.

Nhiều năm sau và khi đã có gia đình, tôi làm quen với phương pháp cầu cơ từ một người bạn gái là giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng. Cô bạn từ Hà Nội vào nam sau cuộc chiến, mang theo cách cầu hồn này hướng dẫn cho tôi. Tuy gọi là cầu cơ nhưng không phải dùng mãnh ván hòm như người ta nói. Cách cầu của tôi đơn giản hơn. Chỉ cần tờ giấy có ghi rõ hai mươi bốn chữ cái và hàng số từ O đến 9. Thêm hàng chữ Thăng, Nhập. Một ly đựng gạo thắp ba cây nhang, một ly nước trong, cùng hương hoa.Vậy là xong. Trước khi cầu, để úp ly sành trên đầu những cây hương đỏ cho đọng khói. Câu chú cũng không có gì rùng rợn. Chỉ cần đọc “Hôm nay ngày,tháng, năm (âm lịch). Tôi tên… Ông đi qua, Bà đi lại xin về đây nói chuyện cùng chúng tôi”. Đọc vài ba lần cho đến khi nào cái li để úp bằng sành nhỏ như li uống rượu, có ba ngón tay trỏ của ba người đặt lên bắt đầu chuyển đông. Lúc ấy biết chắc là có người âm nào đó đang về trò chuyện với mình. Cách cầu này cho cảm giác giống như mình đang nói với chuyện với người câm nhưng không phải bằng ngôn ngữ tay chân, mà là bằng cách viết ra giấy.
Tôi đã được gặp Ba tôi hai lần, người anh rễ một lần và đặc biệt làm quen với Thiếu uý Thọ, người miền Nam đi lính cho binh chủng Dù, chết trận Thượng Đức, Quãng Nam. Câu chuyện anh kể rất cảm động. Mẹ anh mất, Ba anh có vợ khác. Anh và em gái sống chung với dì ghẻ cho đến ngày Ba Anh mất đi, bà dì ghẻ đã đuổi cả hai anh em ra khỏi nhà. Anh đi lính rồi chết trận nhưng không có ai nhang khói. Mỗi năm đám giỗ Ba tôi, Mẹ tôi thường mời anh cùng về dự.
Một thời gian sau vì ông Thần giử nhà hiện lên trong bàn cầu hồn không cho phép và doạ cục bướu trên cổ vợ tôi to lên rồi chết. Lúc đó tôi không còn dám chơi trò này nữa.
Chuyện đã qua hơn ba mươi năm rồi. Tôi cam đoan trước linh hồn Ba tôi rằng chuyện này có thật một trăm phần trăm.

Chuyện ma của tôi cũng là kỷ niệm đời mình. Không thêu dệt thêm cho rùng rợn như truyện kinh dị được vì nó là câu chuyện có thật. Viết lên để nhớ một thời trẻ con sợ ma nhưng lại muốn nghe người lớn kể những câu chuyện kinh dị giữa đêm khuya. Nghe xong rồi sợ hãi, trai gái ôm chặt lấy nhau. Có khi nhờ vậy mà nhiều năm sau vài cặp nên duyên vợ chồng từ những câu chuyện sợ nhưng vẫn thích nghe này.

BÙI THANH XUÂN

THU HOANG

authiphucan

khi mùa thu bỏ hoang
những phần của đồi núi

tôi che nốt phận người
bằng áo choàng sương khói

chàng ngóng về ảo vọng
mê tàn trong hư không

ngủ trên tôi đôi môi
chàng hôn lên ngực mộng

nằm trên tôi xa xôi
một xác trần vọng động..

ÂU THỊ PHỤC AN

BÓNG BIỂN BÓNG SÔNG

nguyenthikhanhminh

Biển ơi
1.
Bóng em áo màu trăng huyễn ảo
Hạt lệ ngân thành tiếng sóng
Tiếng sóng đêm đêm rợn tiếng khóc
Tiếng khóc đêm đêm vỡ giấc mơ
Cát đêm rất mặn
Những mảnh thuyền dao cắt
Những con ma nhìn em cúi mặt
Những con ma ăn thịt người tanh mùi quỉ dữ
Nhờ nhờ dưới màu nguyên sơ ánh mắt em
Tha Sala em ơi biển động về hư không*
Bóng em bản thông điệp máu thời mạt pháp
Bóng em áo màu trăng ngây thơ
Bóng em mảnh ván thuyền vĩnh quyết
Bóng em biển một thời cuồng phong
Bóng em thời gian miên viễn
Đêm nay, em nghe, tôi nghe, người nghe
Tiếng chuông những trái tim
Bồng em từ biển người bay về cố quận
Một dải biển thơm mùi khói hương ruột thịt
Đón em về.
Tha Sala em ơi biển động về mỗi trái tim

2.
Bóng mẹ ngồi khung xương cong
Bóng thịt bóng da
Bóng đập phập phồng trái tim mẹ
Biển vời vợi xa
Biển không theo con về với khoang cá đầy
Nuôi vợ nuôi con nuôi mẹ nuôi dân chài những đời rất nhỏ
Biển theo con đi vào hàm cá mập
Hàm cá mập thời hải lý răng cưa chiếc vòi bạch tuộc
Bóng mẹ khô
Ôi con không về nữa

Bóng vợ lô xô cát mặn
Nón trắng xếp hàng như nón tang
Bóng vợ nhấp nhô đêm
Xa khơi đèn biển lập lòe mắt mộng
Biển chở về những con sóng lạnh,
Âm âm tiếng đàn ông reo tiếng cá
Trôi đi đâu những con thuyền bé miệng
Bóng vợ oằn như sâu
Máu nóng đau chờ. Đá sợ
Ôi chồng không về đâu

Biển từ thuở Em bắt đầu viết trên sóng đường đi đẫm máu
Biển từ thuở hòa lệ mẹ lệ vợ lệ con
Muối có thể mặn thêm
Lệ không thể khóc thêm

Sông ơi

Mẹ bản nghèo
Chiều nay bên bờ sông lặng lẽ
Sông dạt về những bóng xác lạnh
Nhấp nhô con đò vỡ
-Con đò làm từ giấy bạc lòng tham-**
Sinh mạng em chiếc lá rừng bay
Hồn em hoá bướm bên sông
Rừng bản dập dềnh bướm trắng
Em bay về đâu…
Chiều khách về qua sông
Ảo ảnh chiếc đò chở em đi học
Đó là chiếc thuyền rất chắc chắn
Đàn bướm kết trong giấc mộng
Đưa em sang sông và lành lặn trở về

Biển cúng
Sông cúng
Oan hồn thảm tử
Đất ngập nước mắt
Trời mờ khói hương
Biển khóc
Sông khóc
Hạt nước mắt nghìn năm
Hôm nay hoá cọc Bạch Đằng

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

* Tha Sala, Em Ơi Biển Động Về Hư Không, Lê Đại Lãng
** Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến, Những Ánh Mắt Con Cuông

HẠ NHỚ

 nguyenthingoclan

Xong một buổi sáng và qua đi một ngày ngắn ngủi với tiếng ve réo gọi ở sân trường. Rồi từng buổi sáng tiếp nối, từng xác phượng rụng rơi để xa dần những bước chân chim, những môi cười và ánh mắt thiên thần.
 
Dư âm gì đang lắng đọng trong nỗi nhớ tận cùng của em đó? Lời chia ly em nào đã mời gọi và phút tạ từ em nào có trông mong. Giữa khoảng không cận kề cùng lời thì thầm nhung nhớ, em đã nhận diện nhan sắc mùa hạ vào một trưa tan học, vẫn rực rỡ, yêu kiều trong màu áo nắng vàng.
 
Rồi sẽ cách biệt, sẽ vắng xa phải không bạn bè, lớp học, bàn ghế và sân trường thân mến? Em đã không mong sẽ có những ngày giã từ ấy. Cả áo dài, cặp vở của em nữa …, chúng cũng luyến lưu, cũng nặng trĩu buồn phiền tiếc nuối theo bước chân em đến trường vào buổi trưa có bóng dáng nàng hạ hiện hữu. Khi đi ngang qua con đường có hàng me cao rợp bóng, con đường quen thuộc của em mà đã bao ngày tháng em làm học trò, bước chân em đã phải ngập ngừng. Sao hôm nay, bỗng nhiên em thấy con đường trống vắng và đơn độc quá, chẳng còn đùa giỡn với lá me và gió lộng nữa mà lại nằm im lìm, buồn bã tưởng chừng như chiều nay em sẽ giã từ.
 
Em lại ghét cái màu hoa phượng đỏ chói trong sân trường , giận cả lũ ve sầu ồn ào. Sao hoa cứ rụng rơi, còn ve cứ hát mãi những bài ca buồn bã, ve chẳng biết em đang buồn và buồn lắm sao?…
 
Lớp học, sân trường ơi! Đừng bao giờ nghĩ là em gọi tên người lần cuối nhé! Em biết, chẳng bao giờ em quên được hình ảnh quen thuộc muôn đời đó, dù mai đây đã xa cách thật sự rồi và thời gian đợi chờ bao giờ cũng dài thật dài trong nhung nhớ. Những lần đến trường hay tan học bây giờ cũng chẳng xôn xao. Em và hai tà áo cứ mãi trốn tránh, xua đuổi màu nắng giăng mắc vương vãi khắp hàng cây, con đường nên cũng chẳng còn thời gian để vui đùa nữa. Những cánh phượng thì chẳng biết buồn đâu, chúng rụng rơi lên tóc ,mặc cho bước chân em dẫm lên mình, em cúi xuống nhặt lên vài cánh để mang về ép vào lưu bút cho bạn bè nữa …
 
Buồn là phút giây này thôi hở ngày tháng học trò? Em sẽ tạ từ vào một sớm có hoa chia ly rụng ngập sân trường và nụ cười của bạn bè sẽ không bao giờ níu kéo thời gian được. Thời gian ơi! nếu không thể mãi xa em thì cũng đừng xóa bỏ kỷ niệm mến thương trong hồn em nhé! Cho em được nuôi những dáng hình quen thuộc đó bằng hình bóng một loài chim di, chợt hiện rồi chợt mất. Trong dặm ngàn xa cách chim vẫn mang những ánh mắt ngây thơ nhạt nhòa đến với em.
 
Xin hãy gọi tên nhau rồi ngày mai cúi mặt giã từ, còn lại những kỷ niệm và ước mong. Niềm vui bé nhỏ trong em vừa chợt tắt, hình bóng kỷ niệm có đầy khoảng không gian cho em vui không? Ánh mắt kỷ niệm có dẫn dắt em đi mãi trên lối đi thiên thần không?
 
Không hiểu niềm vui của em đã rong chơi đâu mất, em lại buồn từng phút giây. Em muốn được trốn chạy, muốn quên đi phút giây tạ từ sắp đến và những gì sẽ có cho lần gặp gỡ cuối cùng. Có được cái vẫy tay an ủi không? Có được một làn mắt đưa tiễn thật buồn không? Em hy vọng nó sẽ đến, đến bằng lát đao phù thủy để mình lặng yên đi gói trọn trong lòng nhớ nhung.
 
Nhưng rồi em lại sợ, sợ những kỷ niệm của em rồi cũng vụn vỡ, rụng rơi theo tháng ngày xa cách. Em sẽ không níu kéo được, mà trọn đời chỉ là một kẻ lữ hành duỗi rong theo ngày tháng. Sẽ theo dòng thời gian lặng lẽ rồi cuối cùng trở về chốn cũ, nhìn lại những dấu tích, những kỷ niệm đã phôi phai hay đã khuất lấp bởi lớp rêu xanh của tháng ngày, nghe nỗi tiếc nhớ gậm nhấm từng phút giây hồi tưởng.
 
Cho em ôm ấp, giữ gìn mãi những dáng hình thân mến, những con đường ghi dấu chân em với ngày tháng học trò. Em sẽ không quên mang theo nỗi rộn ràng, vui tươi những ngày qua và nỗi ưu tư, buồn phiền của một ngày sắp đến để làm hành trang cho đường dài.
 
Bây giờ, nói lại với bạn bè hai tiếng thương yêu, vì em vẫn cố hy vọng và vẫn nghĩ chưa muộn màng gì, xa cách chưa hẳn là nghĩa chia lìa. Em sẽ còn tình thương của bạn bè, những ánh mắt thiên thần ấy sẽ là của em và mãi mãi với em bên cạnh cuộc đời. Lớp học đó và trong đó hiện rõ hình ảnh thơ ngây, âm vang tiếng cười đùa hồn nhiên. Em lại chới với giữa nỗi niềm ray rứt của lần giã từ sẽ đến. Tiếng thì thầm réo gọi của kỷ niệm quá tha thiết, bùi ngùi đã ru em vào xót xa của nỗi niềm xa cách.
 
Niềm đau nào cũng thường được dưỡng nuôi như một hình hài bé nhỏ, yếu đuối. Em nghĩ thế vì niềm vui, cuộc vui nào cũng chóng tàn . Và rồi sau buổi tiệc tàn, nhung nhớ sẽ nhắc em hồi tưởng – em biết, sự nhắc nhở nào cũng làm người ta tiếc nhớ, và giây phút hồi tưởng bao giờ cũng chỉ buồn muốn khóc hay chỉ là những tiếng thở dài.
 
Nhìn lên bầu trời, có cánh chim bay qua thật lẻ loi như đang tìm một nơi trú thân. Màu hoa phượng dưới nắng vàng vẫn đỏ rực, tiếng ve vẫn kêu rộn rã, vui mừng … Em tự nhủ, còn có gì ràng buộc em nữa, nhớ thương dâng tràn đủ rộng lớn bằng bầu trời này, con đường lá me em đi vẫn chưa mỏi gót và lá me vẫn hoài tiếp nối rụng rơi.
 
Thế mà! Mai đây em đã thật sự tạ từ, thật sự trả lại cho sân trường, lớp học và bạn bè những kỷ niệm của tháng ngày ấp ôm tà áo trắng. Hình bóng em rồi cũng nhạt nhòa. Bạn bè xa em, kỷ niệm thân yêu xa em, xa tất cả… Em chỉ biết cúi đầu xếp nỗi tiếc thương vào hành trang giã từ, gom năm tháng qua gởi lại cho khung trời kỷ niệm. Gởi lại hồn nhiên của tuổi dại khờ, mộng mơ rồi thầm nghĩ, liệu trong chuyến viễn du sắp đến, hành trình thương mến có làm nặng đôi vai và những kỷ niệm hôm nay có được em mãi giữ gìn cho tròn một lần mơ ước.

(Viết vào mùa hạ 1973)
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

NHẬT KÝ THÁNG TÁM

tonnuthudung

Tạm biệt những ngày vàng thu thương nhớ
Tạm biệt tiếng chim hoang vắng lưng đèo
Mùa trái chín nồng nàn hương thơ dại
Lối em về… chong chóng cỏ trôi theo.

Tạm biệt nắng …tạm biệt mưa vườn cũ
Tạm biệt em , mắt biếc thuở xa vời
Khăn áo lụa cuối đường bay lơ đãng
Chiều thênh thang lồng lộng gió … mình tôi.

Tạm biệt dòng sông , vầng trăng huyền hoặc
Tạm biệt môi hôn …thời ấy xuân thì
Ai gõ cửa mở về khung trời vắng
Tôi nghẹn ngào đánh đổi cuộc ra đi …

TÔN NỮ THU DUNG

HƯƠNG XƯA

tranhodung

Em về bến ấy cho tròn mộng
Ta ở nơi này ,dở cuộc say
Ngày mai , ai biết ra sao nhỉ
Thôi cứ một đời như cỏ cây

Em đi về phía chân trời lạ
Mây có còn xanh như chốn xưa
Ta lìa phố chợ về thăm núi
Ngày ngắm mây trời ,đêm thắp sao

Học đời sông cứ trôi vô lượng
Học suối vô tâm chẳng biết buồn
Học núi ngàn đời không đổi khác
Học rừng muôn thuở tính bao dung

Em qua mấy bến bờ xa lạ
Có để buồn vương nơi bến sông
Chim bay để bóng rơi sông lạnh (*)
Gió thổi- sương rơi – bóng nhạt nhòa

Chim ơi ,thôi cứ bay xa nhé !
Đừng nhớ chốn này chim đã qua
Còn ta ngồi ngắm mây ngang núi
Chợt nhớ một mùi hương đã xa !

TRẦN HỒ DŨNG

(*) Ý trong bài NHẠN ẢNH – Thiền sư Hương Hải (1628-1715 )

” nhạn quá trường không
ảnh trầm hàn thủy
nhạn vô di tích chi ý
thủy vô lưu ảnh chi tâm ”

( Bản dịch của Trần Hồ Dũng ) :

Cánh chim mỏng vút qua trời sương khói
Bóng vô tình soi đáy nước chơ vơ
Chim nào mong lưu dấu bên sông lạnh
Nước chẳng buồn giữ lấy bóng mà chi

TRÊN ĐỒI CAO

khuatdau

Họ chưa là gì của nhau. Anh, vẫn gọi nàng bằng cô và xưng tôi. Cô, tuy gọi bằng anh nhưng cũng không xưng em. Cứ như hai kẻ xa lạ mới gặp nhau lần đầu.
Nhưng họ đã quen biết nhau khá lâu.
Anh là sĩ quan pháo binh, trông coi hai khẩu pháo 155 ly đóng tại sân vận động quận lỵ, sát cạnh trường của cô.
Cả hai không có duyên cớ gì gặp nhau, nếu không có những lá đơn thưa kiện của trường. Cứ mỗi lần, hai khẩu pháo thi nhau nhả đạn, cả thầy và trò đều phải tháo chạy ra khỏi lớp. Bao nhiêu ngói đều lần lượt rơi xuống đất, tường thì nứt, cửa thì xệch xạc. Đó là chưa kể cái mùi thuốc mồi nồng nặc đến cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa chịu tan.
Nắng, trông thấy cả trời xanh. Và mưa, nước lênh láng như ngập lụt.
«Trường học mà như thế, kiện là phải!».
Đó là kết luận của anh. Nhưng anh bảo, «tôi đâu có muốn thế. Quận bảo đóng ở đâu thì đóng ở đó. Cả năm, đóng cạnh trường cô, tôi biết ai cũng khó chịu. Nhiều lúc thấy thầy trò leo lên mái che chắn bằng bao nilon, tôi thực áy náy. Chiến tranh là vậy, nhiều cái thật phi lý!»
«Không phải nhiều cái mà là tất cả», cô nói cay nghiệt.
«Có lẽ là vậy, nhưng biết làm sao được. Tôi đâu có muốn đi lính. Cũng như cô đâu có muốn giảng bài trong mùi thuốc súng. Chúng ta bị cuốn vào cuộc chiến chết tiệt này, không biết đến bao giờ!»

Cuộc chuyện trò của họ cứ như thế, nhàn nhạt, chan chán. Anh cố giải bày, còn cô vẫn cứ cố chấp. Làm như thể bao nhiêu tai họa là tự anh gây ra. Vậy nên, chẳng bao giờ thấy họ ngồi thân mật với nhau trong một quán ăn hay một quán cà phê não nuột những bài ca phản chiến. Một chút gì đó nghe ra có vẻ tình cảm, thì chỉ là mùi hương kín đáo trong những trang sách.
Anh thường cho cô mượn mà không bao giờ muốn đòi lại: những Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh, Giã từ vũ khí, Một thời để yêu và một thời để chết…
Toàn là những sách về chiến tranh. Cứ tưởng cô sẽ ném vào một góc nào đó, không ngờ cô lại đọc say sưa. Cuộc chiến ở Tây Ban Nha, ở Đức thật khốc liệt, tàn bạo nhưng nó không bẩn thỉu và hèn hạ như ở đây, một nơi, người ta sẵn sàng giết cả đàn bà và trẻ con để lên án lẫn nhau là tàn ác!
Dần dần cô cũng nhận ra thấp thoáng bóng dáng anh trong đó, một kẻ lạc lõng, cô độc, mang trên lưng một nỗi buồn dài.

Lúc này, hai khẩu pháo đã dời ra khỏi phố quận, đặt trên một ngọn đồi cheo leo.
Anh bảo: «ở đó tha hồ mà ngắm mặt trời lặn. Đẹp thì có đẹp, nhưng buồn quá!». Một lúc, anh lại nói: «nhất là ngồi ngắm một mình!» Lúc ấy, cô mới chịu cười, một nụ cười đối với anh là dịu dàng quá đỗi.
«Thế thì anh giống như hoàng tử bé rồi. Tôi chỉ ao ước một lần thôi mà chẳng được!»
«Sao vậy?», anh hỏi.
«Chẳng sao cả, lên một mình thì có mà điên!»
«Tôi sẽ đưa cô lên!»
«Lại để nhìn hai con quái vật ấy à?»
«Đâu có sao. Giờ nó hiền lắm. Mỗi đêm bắn vài chục quả vào các mật khu để các cụ ở quận ngủ ngon, vậy thôi.»
«Nó hiền với các anh chứ không hiền với tôi!»
«Thế thì hết chiến tranh tôi sẽ đưa cô lên.»
«Chừng đó cả tôi và anh đều chống gậy, lên sao nổi!»
«Không lâu đến thế đâu. Mỹ rút, Đại Hàn rút, cũng sắp hòa bình rồi. Có điều Bắc Việt không rút, chẳng biết hòa bình kiểu gì: trong chiến thắng hay chiến bại!»
«Kiểu gì thì cũng không giống như «nước thanh bình ba trăm năm cũ»

Khi hàng trăm khẩu pháo giấu kín trong núi rừng Buôn mê thuột cùng lúc nhả đạn, cứ tưởng khẩu đội pháo của anh phải gấp rút lên trấn giữ ở đèo Dốc cao để khống chế con đường tiến quân của địch, thì được lệnh kéo vào Phan Rang. Rồi lại vào Phan thiết, Long Khánh…Sau cùng bỏ cả pháo cả xe, chạy bộ, rồi lại phải tháo cả giày, vứt cả mũ để khỏi bị bắt sống.
Một cuộc tháo chạy lạ lùng và kỳ quái nhất trong lịch sử chiến tranh. Còn hơn quân Napoléon khi rút khỏi Moscow, quân Anh chết dí ở Dunkerque!
Trong cơn hoảng loạn đương nhiên họ chẳng thể nào nghĩ đến nhau. Họ còn có cả cha mẹ, anh em. Nhưng những lúc một mình trong cô đơn và cơ cực, người nọ nhớ tới người kia với bao nhiêu điều hối tiếc.
Anh, trong trại cải tạo, càng khổ nhục lại càng nhớ tới ngọn đồi quạnh hiu và anh cứ tiếc là không được ngồi với cô dù chỉ một lần để xem mặt trời lặn. Khi cô bảo anh giống như hoàng tử bé, quả thật anh sướng ran, chiều nào anh cũng ngồi trên chiếc ghế và cứ dịch chuyển mãi cho đến khi mặt trời khuất hẳn.
Còn cô, sau khi bị đuổi khỏi trường, không biết làm gì hơn, chỉ ngồi dài lưng ra coi quán cho mẹ, cũng ao ước phải chi ngày đó đừng kiêu ngạo khép kín, đừng cố chấp thì đã ít ra là một lần, theo anh lên đồi, đưa tay để anh dắt qua những gộp đá…!

Ôi chao, sao mà sến và cải lương quá, (đọc tới đây chắc có người kêu lên như vậy), nhưng nếu không cải lương và sến như thế, thì bốn mươi năm sau, khi người đàn bà đã trên sáu mươi và người đàn ông đã bảy mươi, làm sao có thể gặp nhau được.
Và cũng lẩn thẩn làm sao khi ta thấy họ gặp nhau trên đồi.
Họ chưa phải chống gậy. Ông vẫn còn đủ sức nắm tay dắt bà bước qua những gộp đá chông chênh và bà, một đôi lúc quá đà tưởng sắp ngã vào ông. Trên đỉnh đồi toàn đá sỏi, chẳng còn để lại chút gì dấu vết của hai khẩu pháo. Những vỏ đạn, ngay cả những viên thuốc mồi, những bao cát, những vòng dây thép gai đã được dân chúng quanh vùng nhặt nhạnh đào bới mang đi. Giờ, chỉ còn có bầu trời, vẫn cao và xanh ôm lấy ngọn đồi bé nhỏ giống như tinh cầu của hoàng tử bé.
Họ ngồi xuống bên nhau. Và, như hai đứa nhỏ cùng chơi một trò chơi bí mật, họ ngắm mặt trời đang lặn. Trời và đất như cũng đang ngỡ ngàng. Xanh hơn, cao hơn. Mặt trờì tưởng chừng không chỉ một lần lặn, mà đến cả chục lần. Cứ lặn xuống rồi lại trồi lên, có vẻ như muốn bù đắp chọ họ những gì đã mất.
Như chàng chăn chiên xứ Provence, ông kể cho bà nghe những câu chuyện lưu lạc ở xứ người, những vùng đất ông đã qua, những sa mạc nắng cháy hoang vu, những con sông dài bất tận, những ngôi nhà chạm tới lưng trời và nỗi buồn lạc lõng, đất và người của ai chứ đâu phải của mình, những hàng cây cổ thụ râm mát, những cây cầu rực sáng trong đêm, đẹp ngời ngời như thế nhưng sao không bằng bụi chuối sau hè, cây cầu khỉ bắc qua một con lạch, và những lúc tan trường bao nhiêu tà áo bay bay như cánh chim, trong khi cô giáo kiêu kỳ đủng đỉnh gõ từng bước trên hè phố như một nàng quận chúa …
Đó là bản trường ca ngọt ngào, êm ái, mà bà được nghe, dù muộn. Và khi sương đêm đã thấm lạnh, bà gục đầu lên vai ông mà ngủ. Cũng là lúc, ông nói một câu, lẽ ra phải nói những bốn mươi năm trước: «Tôi yêu em xiết bao!»

Giả sử trước kia ông nói như vậy, thì sao nhỉ? Thì hai người sẽ lấy nhau, sẽ sinh ra những đứa con, bà sẽ một thân một mình vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong tù, sau đó họ sang Mỹ theo diện HO, bà gọt khoai, rửa bát trong nhà hàng, ông cắt cỏ, đẵn cây, rồi cố học để có thể ngoi lên, làm đến hai job, cứ chồng về thì vợ đi, chồng đi thì vợ về, ngay cả gặp nhau trên giường cũng khó huống gì là rủ nhau lên đồi, họ dốc sức nuôi con, lo cho chúng vào đại học, hãnh diện khi chúng tốt nghiệp, rồi chúng có nhà riêng để lại căn nhà mênh mông chỉ có hai người, ông thì tìm vui trong internet, bà ngồi xem phim bộ.
Đến một lúc nào đó ngôi nhà chỉ còn một người. Rồi chẳng còn người nào nữa!
Vậy thì, mất bốn mươi năm nhưng còn được một đêm như đêm nay, cho dù có vì cảm lạnh mà hai người không bao giờ thức dậy nữa, thì cũng giống như một câu vọng cổ đang xuống xề, thôi hãy cứ vỗ tay như thường lệ!

KHUẤT ĐẨU
4/2014

TRÒ CHUYỆN VỚI NGƯỜI…

trandzalu

Anh có những bài- ca-không- hạnh –phúc
Thử hỏi làm sao kịp đến bên em
Anh có một tâm hồn trù phú
Nhưng đời bọt bèo không gọi nổi thành tên!

Anh có những nỗi niềm để ném xuống giòng sông
Với những chiều cô độc
Gọi tên em dù không hề khóc
Nhưng con tim ngơ ngẩn đến vô cùng…

Giữa SàiGòn người đông, anh vẫn âm thầm
Nhớ về B’Lao, nơi em đến
Có thể anh chẳng bao giờ ước hẹn
Sao nợ này trả mãi vẫn chưa xong ?

Anh có những bài ca khi hát nhói lòng
Bởi chinh phu đi tìm cô phụ
Năm tháng nào giữa tim em còn dấu
Những điều bí mật chứa long đong ?

Nơi ấy, thị trấn nhỏ như lòng bàn tay nên anh thuộc lòng
Những trạm chờ xe nơi em đến
Nơi em về huyện X
Nhá nhem đêm chụp xuống tâm hồn…

Anh có những bài- ca -không-hạnh -phúc
Thì làm sao hí hửng chuyện vàng son?
B’Lao,nơi em đến
Rất âm thầm sao hương ngát trong anh ?

Trần Dzạ Lữ