THÁNG 7 VÀ HOA LARKSPUR

nguyenthikhanhminh

Larkspur đầu mùa
Bật tiếng reo
Toả sáng đi. Tan đi.
Như nắng đang nạm bạc những con sóng đổ vào bờ Laguna
Như gió đang chở hương
Cánh én nhỏ. Gọi Phi Yến
Đánh thức ánh sáng ngái ngủ dưới tàng cây
Mùa hè mọc lên từ những bụi hoa nơi ghềnh đá
Màu tím pha huyễn xanh vào ánh mắt những cô gái đang chạy bộ
Những bước chân bay mùi cát và muối biển
Chuông sóng. Gọi anh và em
Trên con đường sinh nhật có hàng cây cọ thắp nến
Gió thổi rạo rực
Thắp ngày cháy lên những tia nhọn đầu lá
Trong veo đồng ca
Thánh đường mùa hạ. Tháng 7. Và mùa hoa larkspur
Anh đính ước bằng chuỗi đàn én bay
Trên vòm tóc em. Hạ nào xưa

Những cánh hoa lao xao
Phi Yến ơi mùa xuân gieo hạt đã xa
Cọng rơm tháng 7 đang hút no nắng cánh đồng hạ
Nói với nhau về một vụ mùa
Tình yêu chín ửng
Anh hái tặng em ánh nhìn của ban mai
Hạt pha lê quý nhất em có được
Con đường óng ánh ngôn ngữ của những lời thơ tình
Hoá em thành con én trên đường bay những ý nghĩ của anh. Điểm mùa xuân em nương náu
Cho em được trở về mùa thơ lãng mạn
Những thi sĩ của mặt trời mặt trăng mặt đất bình yên
Và nụ cười đôi cánh. Thả xuống
Tháng 7 tràn tiếng ríu rít
Hãy toả hương đi
Những nốt nhạc bé con. Xanh. Và tím
Hãy nhảy nhót như cặp tình nhân kia
Trong vũ điệu mùa hè
Biển Laguna dồn dập nhịp tim
Và nhịp gió bàn tay anh. Trong tóc em

Trước khi tháng 7 rụng xuống theo bóng tối
Biển chìm vào đêm
Ánh nến trên hàng cọ lụi tàn
Những cánh hoa bay xa
Bỏ lại thánh đường cô đơn mùa hè âm vang tiễn biệt

NGUYỄn THỊ KHÁNH MINH

*Hoa Larkspur, tên việt là Phi Yến, nở vào mùa hè, cánh hoa như nhũng cánh én bay, màu xanh, tím, hồng.
7.2014

TRƯỜNG CA RAMMASUN

luuthy

Lới giới thiệu :Nếu gọi TRƯỜNG CA ĐAM SAN là một khúc tình ca bi tráng của dân tộc Ê Đê anh hùng, thì có thể nói mà không hổ thẹn là TRƯỜNG CA RAMMASUN là một khúc hoan ca lịch sử của dân tộc Ba Hoa bất khuất…

Anh hùng Rammasun, dân tộc Ba Hoa, là một trong những cảnh sát biển đã ngày đêm canh chừng tàu địch và tìm cách tiếp cận giàn khoan 981. Những ngày tháng 7 là những ngày gian lao hao tâm tổn trí với đồng chí Rammasun, vừa phải luôn luôn anh dũng bám trụ hoàn thành nhiệm vụ trên giao, vừa đọc hàng ngàn tin nhắn mỗi ngày của bà con trong nước và Việt Kiều gửi tin động viên cổ vũ, vừa dành thì giờ theo dõi World Cup, nhưng đồng chí Rammasun vẫn luôn luôn tin tưởng thắng lợi, do nắm vững phương châm “trường kỳ bám biển, tự lực cánh sinh” của chủ nghĩa Mác Lê Mao vô địch.

Đúng 21 giờ ngày 15 tháng 7 năm 2014, Rammasun kêu gọi anh em cảnh sát biển vùng dậy tổng tiến công cùng nhau truy lùng và tiêu diệt giàn khoan. Bị tấn công bất ngờ, tàu bảo vệ của Trung Quốc rối loạn đội hình, một số dàn hàng ngang bảo vệ cho giàn khoan, còn số đông bảo vệ giàn khoan rút về đảo Hải Nam.

Anh hùng Rammasun đã tiêu diệt được 12 tàu bảo vệ giàn khoan của Trung Quốc, loại khỏi vòng chiến 2 tàu hải giám và đồng thời cũng bắt sống được 300 tên địch, mà trong số đó có 100 tên Việt gian đội lốt Trung Quốc xâm lược.

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Lê Hải Bình sau khi nghe tin thắng lợi đã tuyên bố yêu cầu và hăm doạ Trung Quốc không nên đưa giàn khoan 981 quay trở lại… nếu không thì hậu quả sẽ khó lường, đồng thời biểu dương tinh thần chiến đấu của đồng chí Rammasun và anh em cảnh sát biển.

Rammasun được truy phong Anh Hùng Lực Lượng Võ Trang Biển, được hơn 700 tờ báo phong tặng là Nhân Vật Trong Năm 2014.

Nhân dân trong nước và quốc tế nhắn tin chúc mừng đồng chí Rammasun, mà một trong số những tin nhắn có tin nhắn của đồng chí Obama, đồng chí Merkel, đồng chí Hillary, và đồng chí Messi (khi đồng chí Messi biết được anh là một trong những fan hâm mộ của mình). Đồng chí Messi gửi tin nhắn chúc mừng thắng lợi của Rammasun đồng thời gửi lời thăm hỏi và xin lỗi cổ động viên và người cá độ Việt Nam.

LƯU THY NGUYỄN ( Nguồn vietnamnest.com)

TIẾNG HÁT CHIỀU

nguyendinhbon

Tặng DUY THỦY.

ngồi nghe em hát trong chiều
những cung trầm tưởng buồn hiu hắt buồn
lên xe tiễn bậu về nguồn
sân ga đèn vỡ cuối cồn mây bay
mưa rây sầu kéo qua ngày
ngoài khung kính nhỏ vàng bay phố phường

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

BUỔI CHIỀU LỬNG THỬNG Ở PRICETOWN

chuthuynguyen

những hạt có cánh thắp sáng đêm
chênh vênh rừng thưa mịt mờ
bàn tay trái thập thò lén nhìn
điều bàn tay phải vừa trót làm

tôi ghé lại bên rìa vực
nhìn em u trầm mênh mang ngực nở
bóng mây dạ cổ vá vai
thuyền đã khẳm lừ trăng độ nhật

bế bồng nhau rương tráp truân chuyên
dạ lòng chật nêm thôi thúc
người đàn bà quay đi e thẹn
như vừa bước qua chính linh hồn mình

hàng giậu thưa lấm tấm nụ hoa vàng
từng vạt nắng vẫn chần chờ
níu vai nhau ngoài phố
lòng trống tuếch kẻ không nhà

trên vách các ô cửa sổ đầy rêu
tiếng Khổng Tước gọi nhau bầu bạn
tôi khỏa tay lòng dầy đặc như rừng
chẳng một chỗ chen chân …

Chu Thụy Nguyên

TÌNH SẦU

nguyentri

Tôi đến khổ với Thu Hương.
Là bạn của chị tôi, vì vậy tôi phải gọi cô bằng chị cho phải phép, chứ thực ra Hương hơn tôi chỉ một tuổi. Nếu là bạn tôi Hương phải gọi, không anh thì cũng tên như bao cô khác cùng chung lớp. Đó không phải lí do để tôi than khổ mà vì một cái khác. Cái nầy lỗi trước là do tôi. Cái thói hay khoe khoang không phải cách của thời mới lớn. Cái thuở mười sáu mười bảy cũng võ vẽ yêu đương và thư tình cứ là đầy trong trang vở.
Đi học tôi khá nhất môn văn. Cứ mỗi kì thi cá nguyệt là từ đệ nhất đến đệ nhị cấp, thằng tôi cứ ôm bài thi Việt Văn về làm sơ-mi. Hai từ sơ-mi thì chỉ có khoảng thời gian đi học trước 75 mới biết. Nghĩa là trò nào cao điểm nhất trong bất kì môn thi nào là ôm bài về nhà làm thứ tự điểm cho Giáo Sư dạy môn đó. Đó là vinh dự và là niềm hãnh diện cho bất kì ai. Bạn bè nhìn với đôi mắt ngưỡng mộ có pha tí tí tị hiềm. Cánh tóc dài thì luôn đưa tia nhìn trìu mến đến với mấy nhân vật nầy.
Tôi thường ra cái vẻ ta là nhân tài. Vậy mới khốn. Bà chị có lẽ nghĩ tôi sẽ là một nhà chi đó lớn lắm trong tương lai nên khoe tôi với bạn của bà, trong đó có Thu Hương. Cô đến và nhờ tôi viết tình thư.
Chả là Hương và Tuấn yêu nhau. Tuấn là dân sống bằng nghề sửa xe tải. Nhà có garage bề thế ở thị trấn. Hương tốt nghiệp lớp ba trường làng thì chia tay bút mực. Tuấn thì tôi e là thấp hơn vì những lá thư anh ta gửi cho Hương, tôi thẩm định trước khi trả lời, phải đọc và chí ít cũng cả ngày mới thẩm thấu hết ý tứ.
Thoạt tiên tôi khoái lắm vì tài năng được công nhận, kế tiếp là Thu Hương chung tiền. Nhà Hương tương đối có ăn có để. Hương cũng làm ra tiền nhờ nghề thợ may. Không biết họ yêu nhau ra làm sao mà cứ luôn luôn giận hờn. Mỗi lần vậy là Tuấn viết thư xin lỗi, Hương vất tiền ra nhờ tôi viết trả lời. Cô lớp ba nên chữ nghĩa như gà bới, tôi thì thuở ấy, nói không phải khoe, văn đã hay thêm cái chữ tốt. Nội san hoặc báo tường do tôi đích thân viết và trang trí. Và riết rồi tôi đâm chán cái nghề viết thư tình mướn kiểu nầy. Cứ hai ngày một lá thư thì ai đâu luận ra được ý để mà viết. Thực là chán chết đi thôi.
Chán đến độ mỗi lần bóng Hương thoáng ở đầu ngõ là tôi trốn. Nhưng có trốn cũng không thoát. Khổ lắm, có mỗi một đề tài là giận hờn trong yêu đương thì có thánh cũng bó tay chịu trói. Có lần tôi hỏi sao chị không gặp ảnh mà giải quyết vấn đề phải nhanh gọn và đẹp hơn không? Té ra là như thằng tôi, Tuấn ta tuy tướng tá bặm trợn, mình mẩy toàn dầu nhớt, tay chai sạn bởi cờ lê, mỏ lết nhưng yêu nhau qua thư là chính, còn có gặp nhau thì thanh thiên bạch nhật thì chớ, thêm cái đông người mới không bối rối. Điều nầy hôm nay, trong kỷ in tờ nét nầy nói ra bầy trẻ cho rằng tôi xạo chúa. Nhưng thật vậy. Nói chi cho xa xôi, chả phải là ông Đỗ Trung Quân viết rằng … là bài thơ còn hoài trong vở, giữa giờ chơi mang đến lại mang về đó sao? Cái thời yêu nhau của những năm cuối thập niên 70 kỷ 20 thường là vậy.
Chuyện xẩy ra về sau tôi càng cực hơn dù có đồng minh. Hè năm ấy để chứng tỏ mình là tao nhân mặc khách như ai, tôi và những người bạn quyết dựng nên một thi văn đoàn. Không lí những kẻ yêu văn thơ đến nhiệt cuồng, thành tích là được thầy cô khen nức nở. Lại có thơ, có truyện in trong nội san, đặc san mà không dựng được một sân chơi cho mình sao? Vậy là Tôi, Ngô và Trịnh ra sức đi săn thêm vài tao nhân khác để dựng hội.
Ngô cùng trường, nhưng học trên tôi một lớp. Lớp trên mà chơi với lớp dưới là không đùa. Chẳng qua là tài văn của tôi đã vươn ra khỏi ngưỡng cửa… lớp và lan ra đến tận mọi ngõ ngách trong sân trường, vì thế Ngô mới hạ mình xem tôi là bạn. Tuy hơn tôi hai tuổi nhưng Ngô cũng cho tôi mày mi tao tớ cho thân mật. Với Ngô tuổi tác chả có kí lô gì trong trường văn trận bút. Thi văn đoàn được lập có tên Nắng Sân Trường chủ nhiệm là Ngô, phó là Trịnh còn thằng tôi là Thư Ký Tòa Soạn. Bài vở thì cả ba đi vận động.
Trịnh chuyên thơ. Thơ của Trịnh phải nói là chỉ dưới thiên tài một chút thôi. Bằng chứng là ngọai trừ ngưỡng mộ Trịnh tôi còn ganh với nó nữa. Hể cứ đọc thơ của Trịnh là tôi biết mình là con chí mén bên con chí đực, có tức không? Lúc đầu tôi cũng có võ vẽ thơ, nhưng sau khi biết mình không ra ôn gì trước Ngô và Trịnh tôi lui về gò lưng với truyện. Trịnh yêu thầm một em bên trường Trinh Vương. Tên nàng là Kim Loan. Nhà nàng cách nơi cư ngụ của lũ chúng tôi hai cây số. Bằng cách lội bộ toát mồ hôi Trịnh lôi tôi và Ngô đến nhà nàng, mời nàng tham gia cái gọi đoàn thi văn. Trịnh đẹp trai, cao ráo, lại tài năng. Nó và Kim Loan nếu mà ra một cặp thì phải gọi là hết ý. Kẹt cái Kim Loan đi học thường cặp kè với một anh trên Trịnh một lớp. Chắc chắn là Kim Loan không ngó chi đến tình nên thơ Trịnh chất chứa sầu buồn. Tôi thì đang thất vọng bởi yêu dám tỉnh tò luôn nhưng nàng chê tôi là ranh con nên văn chương cũng ủ ê. Hôm đó tại văn phòng hội là nhà tôi. Ngô cười khà khà mà rằng:
– Hai thằng mầy đúng là đồ ủy mỵ. Con gái là cái thớ gì mà bây quan trọng quá?
Tôi ra cái vẻ am hiểu tình trường:
– Mày thì biết khỉ gì. Không nghe câu sống mà không có tình yêu là chết mà biết thở à?
Đúng lúc ấy Thu Hương có mặt.
Cũng cần diễn tả qua tí nhan sắc của nàng. Hương thấp thấp nhưng không ú. Dáng nhỏ nhỏ thanh thanh, tóc dài đến vai. Mắt xanh như lá hành, môi đỏ như tương ớt, da trắng như giá sống. Ăn nói thì phải nói đúng dịu dàng và duyên dáng. Cô thân mến gật đầu chào rồi gọi tôi ra ngoài nói nhỏ. Chuyện chi thì từ đầu tôi đã nói. Vậy là sau đó tôi cầm lá thư của bạn tình cô, chuẩn bị vắt óc trả lời. Thấy tôi vuốt mép(dù chả có cọng ria nào) đăm chiêu. Ngô hỏi:
– Nhỏ nào vậy?
Vậy là bao nhiêu nổi khổ về Thu Hương tôi đem ra tâm sự với hai nhà thơ lớn. Nghe xong Ngô gật gù:
– Mày đưa lá thư tao coi thử.
Xem xong Ngô trầm ngâm:
– Để tao viết rồi mày sao y lại.
– Có lý đa. Mày giúp tao cái. Mỗi lần nó cho tao một trăm ( Lúc đó một ổ bánh mì thịt đặc biệt chỉ bốn chục đồng) tao chia mày năm chục.
– Khỏi, tao không cần, cho mày hưởng hết luôn.
Nhưng khi nhận cái hồi âm từ Ngô. Đọc xong tôi không duyệt:
– Mày viết vậy là không ăn, sao lại nói đến chia tay. Con Hương không muốn vậy đâu.
– Mày dốt quá. Là giả vờ nói chia tay cho thằng sửa xe nó sợ, hiểu không? Phải xé chuyện ra mới có đề tài mà viết chớ, đúng không?
Tôi nghe cũng có lí, nên bàn với Thu Hương rằng chị phải làm giá một tí, phải ra vẻ mình con nhà vân vân và vân vân. Vậy là nường đồng ý. Lá thư được tống đi và vấn đề đương nhiên căng như giây đàn. Không phải sao? Bên viết thư xin lỗi chuyện đã qua, bên bảo thôi ta nên chia tay. Cả ba lần như vậy, và tất nhiên tình của Hương và Tuấn có nguy cơ tan vỡ. Chả có thằng nào không tự ái khi mình ỉ ôi mà người đẹp cứ đòi chia với lìa. Sau đó Tuấn chả thư từ gì ráo. Và vậy là tiếng thở của Hương thăm thẳm dài. Cô hoảng lên khi thấy bạn tình có vẻ như muốn chia thì chia.
Mọi diễn biến đều lọt vào tầm ngắm của Trịnh. Trịnh nói riêng với tôi:
– Mày mắc vô mưu thằng Ngô rồi.
Tôi ngu si:
– Mưu gì?
– Tao nói có sai cho trời sập đi. Thằng Ngô cố tình chia lìa cặp Hương Tuấn.
Tôi tiếp tục ngu:
– Chi vậy? Chia mà tế bà nó hả?
Không ngăn được Trịnh mắng luôn tôi:
– Mày ngu không can được. Văn thơ gì cái loại mày. Mày không thấy thằng Ngô nó có tình với con Hương à.
Tôi ngớ người ra một lúc, không tin điều Trịnh nói. Sao lại có thằng mưu mô kì cục vậy kìa? Ngẫm một hồi mới ngộ ra. Không loại trừ Ngô si tình người đẹp rồi tung chiêu thức nầy ra để chia uyên rẽ thúy. Rẽ được rồi Ngô nhảy vô. Có lí lắm. Tôi hỏi Ngô:
– Mày thích bà Hương phải không?
Vậy là Ngô tâm sự rằng mới gặp Hương lần đầu cu cậu đã bị mái tóc, dáng đi, điệu cười của nường mê hoặc. Nay diễn biến trên tình trường đã nghiêng về chiều có lợi cho Ngô. Nên với tư cách là bạn bè, lại cùng hội thơ văn Ngô xin tôi và Trịnh ủng hộ hắn nhập cuộc chơi:
– Thì làm hoa cho người ta hái, mày muốn thì làm sao đó thì làm. – Tôi nói.
– Tao nhờ mày đưa dùm tao một lá thư cho em.
– Ok. Có gì khó đâu.
– Có cái hơi khó…
– Cái gì?
– Tao viết bằng tiếng Anh…
Không đừng được tôi và Trịnh lăn ra cười. Không phải sao? Lớp ba trường làng viết tiếng em chưa chắc em hiểu, viết tiếng anh đúng là khùng tầm cỡ bao bố tời. Ngô giãi thích:
– Hai thằng mầy dốt đặc. Em đang buồn vì tình tan vỡ. Nay có người khác theo em phải chú ý, thơ tao viết bằng tiếng Anh em phải tò mò, phải nhờ người dịch. Vậy là em sẽ thích thú khi được người có trí thức đeo đuổi. Mà trí thức thì phải hơn thợ sửa xe. Tao nói hai thằng mày nghe có lí không?
– Hết sức là có lí. Nhưng ai sẽ dịch cho nàng nghe, trúng cái thằng chơi ác nó dịch tầm bậy là mày ăn chổi chà đa con.- Trịnh nói.
Ngô nhìn tôi:
– Mày dịch. Chắc chắn là nàng sẽ nhờ mày dịch, đúng không?
Tôi lắc đầu. Tâm sự rằng gì chứ tiếng Anh tôi dốt đặc. Tuy mang tiếng học đến hai ngoại ngữ là Anh và Pháp, nhưng tình thật mà nói tôi chỉ biết yes là vâng, no là không trong anh ngữ, oui là vâng, non là không trong tiếng pháp. Ngô nói:
– Mày cứ thuộc lòng bản tao dịch là xong ngay.
Thực thà mà nói tôi có hàm Ngô tí ơn. Tôi yêu một nường, có nhờ Ngô làm chim xanh. Tuy tình tôi chẳng ra ngô khoai gì. Nhưng làm thằng đàn ông có ơn không trả là đâu có đạo. Vậy nên tôi đồng ý học thuộc lòng bản dịch và chim xanh lại cho Ngô. Tất nhiên là chả có hồi âm hay phúc đáp gì. Nhưng chỉ sau ba lá thư loại nầy Ngô tiến một bước rất rõ. Nó bảo tôi:
– Ngày mai mày dẫn tao tới nhà em chơi được không?
Với tôi, nhà Hương không lạ gì. Nhưng kể ra Ngô gan góc hơn tôi và Trịnh nhiều. Dám tới nhà người mình yêu là ngon cơm. Chả bù tôi với Trịnh chỉ gặp thôi đã run như run thần tử thấy long nhan. Tôi nói với Ngô:
– Nếu mày thích thì đi với tao.
Nhà Hương tuy bằng gỗ nhưng hai tầng. Dưới là tiệm may, trên dùng để tiếp khách. Hương mời ngồi thì chớ còn có nước trà và bánh ngọt tiếp khách. Ngô, tôi và Trịnh được Hương ân cần như thượng khách. Tất nhiên là kịch đã được dàn dựng. Hai thằng chầu rìa tôi rút êm để Ngô muốn đao hay kiếm chi đó giữa trận tình mặc kệ nó.
Sau đó Ngô lúc nào cũng phởn phơ như người bắt được trân châu mã não. Năm tôi đậu đệ thất cha tôi đã thưởng cho một cây đàn guitar. Tôi võ vẻ cũng nhạc nhẽo như ai, ba cái giai điệu từ bô-lê-rô đến van viếc chi tôi cũng tàm tạm. Ngô chả biết chi đàn địch, nhưng cũng ôm đàn mò mẫm bài Anh Yêu Em và hát rằng: “ anh vẫn biết… anh vẫn biết… yêu em là tuyệt vời và tình yêu.. và tình yêu …không đến với riêng ai…
Ngô say sưa đến độ Trịnh phải lôi ra khỏi mộng tình:
– Mày dẹp dùm tao cái. Bài vở cho thi văn đoàn đang ứ đây nè.
Tỉnh mộng Ngô lao vô hoàn tất cho kịp trước niên học mới. Số một của tuyển Nắng Sân Trường được hai chục bài thơ và mươi truyện ngắn. Tổng cộng có ba mươi tác giả. Tôi phải gò lưng gõ máy chữ còn Ngô và Trịnh lo vụ quay rô-nê-ô. Thời ấy in ấn kiểu nầy là dạng sư chứ không đùa. Bìa do Trịnh vẽ. Đến lúc cuối Ngô nói:
– Tao đề nghị như vầy hai thằng mầy nghe được không?
– Nói.
– Tao thấy ba từ Nắng Sân Trường có vẻ con nít quá, mình nên thay một cái tên khác cho lớn chút được không?
Trịnh biểu đồng tình:
– Cũng có lí. Theo mày thì tên gì?
Ngô nói:
– Nắng Thủy Tinh. – Quay qua tôi, Ngô hỏi – được không thằng khùng?
Đang thất vọng vì tình tôi trả lời:
– Tao sao cũng được.
Vậy là Nắng Thủy Tinh ra đời. Nó gồm ba mươi ba cuốn. Ba mươi cho tác giả. Còn ba cuốn. Một, tôi tặng tình tuyệt vọng của tôi. Trịnh cho tình của nó. Còn Ngô tặng em Thu Hương.Trong ba thằng chỉ duy Ngô là thuận buồm mát mái.
Vào năm học mới. Chúng tôi vẫn cố gắng duy trì cho bằng được đoàn thi văn. Và Giáng sinh năm ấy đủ bài cho số thứ hai. Vẫn nhà tôi là tòa soạn. Ba thằng vẫn cứ là những ông trời con sinh sát cho bài được vào tuyển hay không. Hôm ấy Hương đến trên honda 67. Tài xế cho nàng là Tuấn thợ máy. Cả hai vào nhà và họ gửi … thiệp mời đám cưới.
Tôi thường nghe nói đến ba từ chảy chữ nải. Xưa nay tôi chưa biết chữ nải là chữ gì, e là thiên hạ cũng hiếm người có cơ hội mục kích. Và tôi cùng Trịnh đã biết thế nào là chữ nải. Nó buồn xo và dài sọc trên gương mặt của Ngô.
Tôi và Trịnh phá ra cười. Trời ơi cười. Buồn cười quá đi mất. Riêng Ngô cứ như một cao thủ bị tẩu hỏa nhập ma. Xụi lơ.
Và rồi vì chiến cuộc chúng tôi chia tay mỗi đứa một phương trời. Thằng nầy cứ tưởng thằng kia đã chết bởi bom rơi đạn lạc. Ngờ đâu cả ba vẫn sống nhăn. Rất tình cờ tôi thấy Ngô và Trịnh trên một bìa sách. Cả hai bây giờ đã là những nhà thơ có tiếng. Chỉ mình tôi là bận kiếm cơm nên chả ra ôn dịch gì. Tôi gọi điện hỏi thăm về gia đình về sự nghiệp vân vân. Cuối cùng:
– Mày nhớ Thu Hương không?
– Hương nào? – Ngô hỏi.
Tôi không ngờ Ngô đã quên chuyện xưa. Buồn quá tôi hỏi Trịnh;
– A lô … Trịnh hả? Tao nè Trí khùng nè. Mày nhớ tao không?
Chuyện xưa được nhắc lại, nhưng Trịnh cũng không nhớ. Nó trả lời như Ngô:
– Mày hỏi Kim Loan nào? Tao quên mất tiêu rồi. Bốn mươi năm rồi có nhớ gì đâu.
Vậy mà tuần sau bưu tín viên của xã ghé qua nhà và tôi kí nhận hai bưu phẩm. Ngạc nhiên quá tôi mở ra. Và bàng hoàng khi đó là hai tập Nắng Thủy Tinh bản photo.
Đúng là tình đầu mà nếm mùi sầu đố ai mà quên được.
NGUYỄN TRÍ

NGHIÊNG GIÓ CHIỀU XƯA

tranvannghia

Lòng mỏng manh như gió
Thổi qua đồi tinh sương
Đời lênh đênh sóng nhớ
Đuổi theo tình ai buông

Dẫu vô vàn nuối tiếc
Cũng tan chìm hư không
Bóng mùa phai lá chết
Rơi đắng ngõ ngô đồng

Mây về đâu , xa lắm !
Mắt đỏ chiều ngóng trông
Hẩm hiu bờ dốc vắng
Tủi thân mưa phập phồng

Phố đời xôn xao gọi
Lạnh con đường về ngang
Chợt bàng hoàng quá đỗi
Hoa nhà xưa nở vàng !

TRẦN VĂN NGHĨA

MƯA SÀI GÒN – EM SÀI GÒN

linhphuong

 

Theo gió em về rất vộị
Chiều qua mưa ngập phố phường
Uống tách cà phê anh đợi
Hôm nay vạt nắng chơi rong

 

Mắt em là một dòng sông
Biếc xanh màu xanh biêng biếc
Bầy sẻ ngoan hiền chưa kịp
Mừng em đẹp nhất Sài Gòn

 

Mừng em hương xoan chớm muộn
Tóc thả dài lưng áo hoa
Sóng sánh hồn anh như đã
Có mưa thơm phức đầy lòng

 

Mưa xa rồi lại mưa gần
Mưa rớt xuống đời hạnh phúc
Mưa nhảy điệu Slow Rock
Mỗi lần hai đứa hôn nhau

 

Sài Gòn mưa tạnh đã lâu
Tự dưng thèm môi em đỏ
Tự dưng thèm ly kem nhỏ
Ngọt ngào chiếc lưỡi không xương

 

Sài Gòn mưa nhớ-mưa thương
Ngực em bên thương-bên nhớ
Trái tim anh thành sương khói
Ngủ nhờ bờ ngực nhớ thương…

LINH PHƯƠNG

GIẤC MƠ VIỆT NAM


trantrungdao

Nhà bình luận nổi tiếng của chương trình News Hour, Roger Rosenblatt, tóm lượt về nguồn gốc nước Mỹ: “Quốc gia được thành lập từ những giấc mơ, và cũng qua đó, đã hun đúc nên giấc mơ của cả một quốc gia”
Vâng đúng thế. Ngoài trừ số nhỏ người bản xứ, đất nước Hoa Kỳ được xây dựng nên do bàn tay và khối óc của những kẻ bên ngoài. Họ đến đây từ trăm ngã đường khác nhau và hàng trăm vùng đất khác nhau.
Cậu bé có tên Mỹ là Irving Berlin sinh tại Nga vào năm 1888. Cậu theo cha mẹ đến định cư tại New York khi mới vừa lên 4 tuổi. Khi còn rất nhỏ, cậu Irving phải vừa làm nghề dọn chén bát trong một nhà hàng và vừa học sáng tác nhạc, một bộ môn mà cậu say mê. Sau khi nhạc phẩm đầu tay được xuất bản vào lúc 13 tuổi, tên tuổi của nhạc sĩ trẻ tài ba Irving Berlin đã trở thành đồng nghĩa với nền âm nhạc Hoa Kỳ thế kỷ 20 qua những nhạc phẩm vượt thời gian như God Bless America, White Christmas, v.v…
Madeleine Albright, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao và là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ cao cấp nhất trong chính phủ Hoa Kỳ, vốn là người Tiệp Khắc. Cha mẹ bà đã phải vượt qua nhiều biên giới để trốn tránh chế độ Cộng Sản khi tiếng xích xe tăng Liên Xô nghiền nát đường phố thủ đô Prague vào năm 1948. Cuối cùng bà cùng gia đình đã vượt thoát được và định cư tại Hoa Kỳ khi Madeleine Albright vừa 11 tuổi. Bà theo học Luật, đỗ tiến sĩ và cách đây không lâu, trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ chức Ngoại Trưởng Hoa Kỳ.
Edward Bannister, họa sĩ nổi tiếng về phong cảnh của Mỹ là một người da đen thuộc vùng West Indian, Phi Châu. Ông đến định cư tại Mỹ qua ngã Canada vào năm 1848. Tác phẩm Under The Oaks của ông là một trong những thành tựu nghệ thuật lớn của nền hội họa Hoa Kỳ thế kỷ 19. Tác phẩm này đoạt giải nhất trong cuộc thi đánh dấu 100 năm hội họa tại Philadelphia Centennial Exposition. Khi khám phá ra Edward Bannister là người da đen, ban giám khảo có ý định thu hồi giải thưởng. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh của những họa sĩ đồng nghiệp, nhất là của những họa sĩ da trắng đã từng cùng tranh giải với ông, Ban Giám Khảo đã hủy bỏ dự tính.
Những người di dân điển hình thuộc nhiều lãnh vực, màu da và chủng tộc khác nhau. Họ không từng quen biết nhau, không cùng một thế hệ, không cùng huyết thống và chẳng hẹn hò đính ước gì nhau. Những người di dân đầu tiên thường không giàu có, học hành, trí thức, trái lại phần đông họ rất nghèo nàn, ít học, đến đây từ hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, dù từ đâu đến và trong hoàn cảnh nào, họ đã cùng góp bàn tay đưa nước Mỹ từ một vùng đất hoang vu thuộc địa của Anh thành một cường quốc tự do, dân chủ và thịnh vượng nhất thế giới ngày nay.
Câu chuyện thành công của nước Mỹ, đúng như Roger Rosenblatt viết, đã bắt đầu từ một giấc mơ chung: Giấc Mơ Người Mỹ hay American Dream như chúng ta thường nghe gọi bằng tiếng Anh. American Dream được định nghĩa trong tự điển Wordsmyth như là “một lý tưởng của người Mỹ, nhờ đó, con người nhận được sự giàu có vật chất, bình đẳng, tự do, và các giá trị tương tự (the American ideal that any man or woman may obtain material wealth, equality, freedom, and the like)”.
American Dream đã giúp nhân dân Mỹ chiến thắng đạo quân tinh nhuệ của Anh Hoàng George III trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1775-1783), đã giúp nhân dân Mỹ vượt qua những bất đồng kinh tế chính trị sâu sắc trong thời kỳ chiến tranh nội chiến (1860-1865), đã giúp đưa nước Mỹ trở nên quốc gia có lợi nhất sau cả hai cuộc chiến tranh thế giới.
American Dream là giấc mơ mà những người cha sáng lập của quốc gia Hoa Kỳ từng ôm ấp và theo đuổi: Tự Do, Dân Chủ và Cường Thịnh. Tổng Thống đầu tiên George Washington đã từng dặn dò: “Tôi mong được thấy Hoa Kỳ mãi mãi là đất nước của tự do và công lý”. Tượng đài kỷ niệm Tổng Thống George Washington được kiến trúc dựa theo tinh thần độc lập, tự chủ và vươn lên đó.
American Dream là giấc mơ bình đẳng mà Mục Sư Martin Luther King đã đọc trên thềm đài kỷ niệm Lincoln ngày 28 tháng 8 năm 1963: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, và con cháu của những chủ nô cũ, ngồi lại với chung một bàn trong tình huynh đệ…Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng của chúng”.
American Dream, qua nhiều thời đại, từ những người trên chiếc tàu Mayflower cho đến hôm nay, đã được làm phong phú thêm để trở thành một bản sắc văn hóa, một truyền thống đặc biệt của quốc gia này.
Trở về với lịch sử Việt Nam, tổ tiên chúng ta, ông bà chúng ta đã bao giờ mơ và theo đuổi Giấc Mơ Việt Nam chưa?
Trong lúc khó có thể so sánh giữa 380 năm dựng nước của Hoa Kỳ thời hiện đại với gần 5 ngàn năm lịch sử Việt Nam, qua bao nhiêu thăng trầm thay đổi, chúng ta vẫn vững tin rằng tổ tiên chúng ta, không những đã mơ mà còn từng đeo đuổi giấc mơ độc lập, tự chủ và cường thịnh như thế từ nhiều ngàn năm trước.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những người để lưng trần, tóc cắt ngắn, đóng khố che thân, đầu đội mũ lông chim Hồng, tay ẵm đàn con Lạc Việt, vượt bao nhiêu núi rừng ghềnh thác trong cuộc Nam tiến đầy gian nan nhưng vô cùng hiển hách, từ vùng Nam Hoa di dân xuống lưu vực sông Hồng cách đây 48 thế kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ tộc Bách Việt khác đã hoàn toàn bị tiêu diệt hay đồng hóa vào những tỉnh, những huyện như Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay, giòng giống Lạc Việt qua bao độ thăng trầm, vẫn tồn tại và trưởng thành nên quốc gia Việt Nam độc lập và tự chủ.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những người đã tạo nên nền văn minh Hòa Bình. Nơi đó, ngay từ 20 thế kỷ trước Công Nguyên, tổ tiên chúng ta đã biết trồng cây ăn trái, biết làm đồ gốm, biết đẽo đá thành những lưỡi cuốc nhọn, biết đắp đất ngăn bờ để đưa nước sông vào ruộng. Từ thuở nhân loại còn trong buổi sơ khai, tổ tiên chúng ta đã biết xây dựng các cơ xấu xã hội, lấy thôn làng làm căn bản, lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế, lấy tình nghĩa đồng bào làm sức mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên (một mẹ trăm con, chung cùng bọc trứng) làm nơi nương tựa tinh thần. Những hình ảnh thân thương quen thuộc của cây đa, bến nước, sân đình gắn liền trong tâm thức của mỗi người Việt Nam, đã bắt đầu từ thời xa xưa đó.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những bàn tay khối óc xây dựng nên nền văn hóa Đông Sơn, bắt đầu từ hàng ngàn năm trước, trải dài đến thời điểm cực thịnh vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lữ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Những cổ vật quý giá đó, không phải chỉ là những biểu tượng cho văn minh dân tộc chúng ta mà còn đại diện cho cả nền văn minh vùng Nam Á đương thời. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.
Thật vậy, mặc dù hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất. Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hiếm có trên một đất nước nào, ở đó, tên của một con sông, một ngọn núi, một thôn làng, cũng có thể làm cho người dân khi nhắc đến phải rơi nước mắt. Những Phong Hóa, Nam Quan, Mê Linh, Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Thiên Trường, Diên Hồng, Chi Lăng, Lam Sơn, Đống Đa, v.v… không phải chỉ đơn giản là những địa danh lịch sử, mà hơn thế nữa, còn là là nơi giữ gìn anh linh hùng khí của dân tộc chúng ta. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở Sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên Lạc Việt đã đổ xuống trước áp lực của các triều đại Bắc phương xâm lấn khác.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của hai người phụ nữ Việt đất Mê Linh uy danh lừng lẫy, đã can đảm thắp lên ngọn lửa tự do cho dân tộc. Một ngàn năm trăm năm trước Jeanne d’Arc, người phụ nữ Pháp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách cai trị của người Anh, tại vùng Đông Á đã có hai người phụ nữ Lạc Việt, Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa chống nhà Hán và lập nên một triều đại huy hoàng. Dù chỉ trị vì được 3 năm, tinh thần “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” của hai bà đã trở thành truyền thống yêu nước tồn tại đến ngày nay.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của các bô lão được Vua Trần Thánh Tông triệu đến Điện Diên Hồng để hỏi ý trước cuộc xâm lăng của đại quân Mông Cổ vào tháng Chạp năm 1284. Lần đầu tiên trong lịch sử, sức mạnh dân tộc Việt thể hiện không chỉ bằng lòng yêu nước nhưng còn bằng tinh thần dân chủ. Chính sức mạnh tổng hợp vô địch của lòng yêu nước và tinh thần dân chủ đã đẩy lui bao nhiêu vạn hùng binh Mông Cổ trong ba cuộc chiến chống quân Nguyên lừng lẫy. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã cảm khái sau cuộc kháng Nguyên lần thứ hai:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông muôn thưở vững âu vàng

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của Bình Định Vương Lê Lợi sau ba lần tổn thất phải lui về tử thủ Chí Linh. Quân kháng chiến đã phải đào củ chuối, giết ngựa chiến mà ăn. Suốt mười năm nằm gai nếm mật đầy hy sinh gian khổ, khi hòa khi chiến, lúc cương lúc nhu, tổ tiên chúng ta trong thời đại nhà Lê cuối cùng đã giữ được Giấc Mơ Việt Nam còn sống. Nguyễn Trãi đã kết luận trong Bình Ngô Đại Cáo: “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới, càn khôn bĩ rồi lại thái, nhật nguyệt hối rồi lại minh, ngàn năm vết nhục nhã sạch làu, muôn thuở nền thái bình vững chắc, âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”. Sử gia Phạm Văn Sơn trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã nhận xét về Giấc Mơ Việt Nam: “Và cũng có thể nói rằng những cuộc hưng vong thê thảm này đã hun đúc cho dân tộc chúng ta một tinh thần tranh đấu bền bỉ, để tồn tại đến ngày nay, oanh liệt dưới vòm trời Đông Nam Á”.
Một điều hiển nhiên rằng, nếu tổ tiên chúng ta không có Giấc Mơ Việt Nam thì ngày nay Dân Tộc Việt Nam đã không còn là dân tộc Việt Nam nữa, và đất Nước Việt Nam đã không còn là đất Nước Việt Nam nữa.
Thế nhưng, các thế hệ con cháu Hùng Vương, trong cũng như ngoài nước ngày nay, có còn biết mơ, có còn biết sống với giấc mơ, có còn biết theo đuổi một Giấc Mơ Việt Nam như bao nhiêu thế hệ Việt Nam trước chúng ta đã hằng ôm ấp và theo đuổi hay không?
Nếu có, xin hãy cùng tôi mơ.
Một ngày, những khách du lịch nước ngoài sẽ không còn vội vã dừng xe bên những cánh đồng lúa cằn khô ở Quảng Nam, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Thái Bình để chiêm ngưỡng hình ảnh một bác nông phu, con trâu già với chiếc cày để lại từ thời Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp.
Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, trên màn ảnh truyền hình của các chương trình du lịch sẽ không còn chiếu cảnh những chiếc ghe bầu với cánh buồm mang hàng trăm mảnh vá, đang bồng bềnh trên Vịnh Hạ Long.
Tại sao? Bởi vì, người du khách thu hình bác nông phu đang cày ruộng, sẽ không bao giờ ghi được và hiểu được một điều quan trọng, rằng phía sau vẻ đẹp thiên nhiên, bên trong chiếc áo bà ba đen, chiếc khăn rằn vắt ngang cổ, chiếc nón lá rách viền, là một thân thể Việt Nam đẫm ướt mồ hôi với hàng trăm vết hằn in sâu trong da thịt già nua của bác. Cuộc đời bác nông phu, có thể là người lính già trở về sau trận Điện Biên, Hà Nam, Hà Bắc, giống như bao nhiêu thế hệ nông dân Việt Nam trước bác, đã chịu đựng cảnh nghèo nàn, lao khổ. Họ là thế hệ đã bị lãng quên và lừa gạt về những chân trời không bao giờ có thực.
Tương tự, những khán giả truyền hình xem những chiếc thuyền buồm, thoạt trông vô cùng thơ mộng, đang lênh đênh giữa Vịnh Hạ Long, sẽ không bao giờ biết được rằng, bên trong chiếc ghe bầu cũ kỹ kia là một đám dân chài cùng khổ. Họ là những con người không biết đến hai chữ tương lai. Họ không đủ cơm để ăn, áo để mặc. Họ được sinh ra ở hầm ghe, ăn đó, ngủ đó, cưới nhau đó, sinh con đẻ cái và lớn lên từ đó. Không thể gọi cảnh bác nông phu đang cày ruộng, cảnh những chiếc thuyền buồm trôi lênh đênh kia là nét đẹp Việt Nam. Những cảnh đó không đại diện cho một quê hương Việt Nam gấm vóc với gần năm ngàn năm văn hiến. Hình ảnh chiếc thuyền buồm, con trâu, cái cày chỉ nói lên sự buồn thảm, tuyệt vọng của một dân tộc không có một cơ hội để vươn lên. Những cảnh đó, có thể đẹp và lạ với người nước ngoài nhưng đối với những người Việt Nam tự trọng, là một sỉ nhục. Những cảnh đó chỉ nói lên sự lạc hậu của một nền kinh tế đứng yên tại chỗ từ bao nhiêu thế kỷ và tố cáo sự bất lực, thờ ơ, của một nhà cầm quyền vô trách nhiệm.
Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, trên đất Nước Hùng Vương, sẽ không còn cảnh hàng trăm em bé Việt Nam đói khát đang ngồi chờ những đồng bạc lẻ trên những bậc tam cấp ở Chùa Hương, trong sân Nhà Thờ Đức Bà, trong những quán ăn của người ngoại quốc, giữa Chợ Bến Thành, ngoài đường phố Sài Gòn, Hà Nội. Một ngày, người dân Việt sẽ không còn mắt thấy tai nghe thảm cảnh tuổi thơ Việt Nam giành giật chém giết nhau chỉ vì một chén cơm thừa, một tô canh cặn. Những con cháu Hùng Vương đáng thương kia sẽ có cơ hội đến trường như bao nhiêu triệu trẻ thơ khác trên thế giới. Các em sẽ lớn lên trong thanh bình, tự do, no ấm. Tâm hồn Việt Nam trong sáng của các em sẽ không còn bị những chủ thuyết ngoại lai nhuộm đen, nhuộm đỏ. Hạt mầm trí thức xanh tươi của các em sẽ không còn bị đầu độc bằng những liều thuốc hận thù, rẽ chia, ganh ghét. Giòng sông chảy róc rách qua tâm hồn các em không phải là Sông Gianh phân cách hay Bến Hải chia đôi, mà là giòng sông huyết thống Lạc Hồng bắt đầu tận cội nguồn Dương Tử từ 48 thế kỷ trước đây. Bài hát các em hát mỗi ngày không phải bắt đầu bằng những lời hô hào đấu tranh giai cấp mà sẽ bắt đầu bằng lòng kính nhớ đến ơn đức tổ tiên, công ơn cha mẹ, tình thương yêu dành cho đồng bào ruột thịt và kết thúc bằng ý chí vươn lên sánh ngang vai cùng thời đại con người đang không ngừng đổi mới.
Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, những mục đích đấu tranh vì tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, cơm áo mà dân tộc ta đang theo đuổi hôm nay sẽ không còn cần thiết, hay ít ra không còn là một ưu tiên tối thượng nữa.
Một ngày, những khái niệm, những phạm trù chính trị cộng sản, quốc gia, cách mạng, phản cách mạng, thanh trừng, cải tạo, ly khai, phản động, một thời vốn là những ám ảnh nặng nề trong tư duy, trong cảm xúc của mỗi người Việt Nam, sẽ không còn là những vấn đề đáng quan tâm nữa.
Một ngày, các chế độ độc tài đã thật sự tàn lụi và nền dân chủ đã mạnh khỏe lớn lên. Các nhà tù chính trị đã được san bằng và cũng từ trên đó, nhiều trường đại học, viện hàn lâm vừa được dựng nên. Người dân Việt sẽ không còn nghe nhắc về những bản án dành cho những người ly khai chống đối. Nhân dân Việt Nam sẽ chẳng còn ai bận tâm về chuyện Bắc Nam. Những con số thống kê sẽ không còn là dụng cụ tuyên truyền mà là những con số nói lên thành quả.
Một ngày, nhà thờ, chùa chiền, thánh thất sẽ thật sự là nơi rao giảng đức tin và tinh thần Chân Thiện Mỹ. Các Thầy, các Cha sẽ là những người dìu dắt, những chủ chăn của tín đồ, giảng cho họ bằng ngôn ngữ của thương yêu và tương kính.
Một ngày, những vướng mắc lịch sử, một thời xé nát trái tim dân Việt, thật sự đã đi vào lịch sử. Trên đất Nước Hùng Vương của thời đại mới, trọng tâm của các nhà lãnh đạo một Nước Việt Nam Mới là xây dựng và phát triển đất nước thành một cường quốc đa phương được thế giới kính nhường, một đất Nước Việt Nam có ý thức cao về dân chủ, độc đáo và sáng tạo về văn hóa, vững mạnh về kinh tế, hiện đại về khoa học kỹ thuật và chan hòa tình dân tộc.
Việt Nam sau hơn một phần tư thế kỷ, như nhà văn Dương Thu Hương đã viết: “trên dải đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Con chim ngậm cành ô-liu kia còn lẩn khuất nơi chân trời mù sương nào đó. Trên dải bờ xa xôi. Và chờ đợi bình minh”. Vâng, nếu chỉ nhìn vào thế hệ Cách Mạng mùa Thu 1945, thế hệ Điện Biên 1954, hay thế hệ gọi là “chống Mỹ cứu nước” còn sống sót hiện nay để trông chờ một cuộc cách mạng dân tộc, thì đó quả là một thực tế bất hạnh cho đất nước. Bởi vì điều đó sẽ không bao giờ đến.
Những thế hệ 45, thế hệ Điện Biên dù ở miền Bắc hay miền Nam đều kiệt sức như nhau. Họ là những múi chanh đã bị vắt đến khô cằn, xơ xác. Họ là những dây cung đã hết độ đàn hồi. Những chiếc bóng già nua thu mình trong căn nhà tập thể với những đồng tiền hưu cố định, chua xót nghĩ về hàng triệu anh em đồng chí đã thật sự làm ma ở Hà Bắc, Sông Lô, Trường Sơn, Khe Sanh, An Lộc. Có chăng, một vài tiếng rên u uất vang lên đâu đó không đủ mang lại sinh lực cho một thế hệ đã kiệt mòn năng lực. Có chăng, một vài ngọn đèn le lói được thắp lên từ những căn phòng tập thể, không đủ xua đi bóng đêm dày đặc mấy mươi năm đã phủ trùm trên đất nước.
Nhà thơ Tạ Ký, một nhà thơ miền Trung thuộc thế hệ 45, dù may mắn ở lại miền Nam, cũng chua chát nhìn lại thời hăng say cách mạng của ông:
Thời gian qua đã ba chục mùa Xuân
Trai mười tám tóc ngả màu sương gió
Những đêm đô thành men cay mắt đỏ
Nhìn trong ly bỗng thấy bóng mình xưa
Gác trọ buồn thiu nằm khểnh nghe mưa
Xót thân thế, nhớ từng thằng bạn học
Ngâm thơ người xưa đau mình cô độc
Rồi áo cơm thay thế chuyện giang hồ
Đôi lúc buồn tình làm một bài thơ
Bốn lăm!
Bốn lăm!
Những kẻ ra đi, những kẻ đang nằm
Những kẻ chết, những kẻ còn vất vưởng
Chúng ta làm gì?
Thuyền trong cơn gió chướng!

Đúng thế, tâm trạng của nhà thơ chắc chắn cũng là tâm trạng của những ai đã một thời hăng say chiến đấu, hăng say khăn gói lên đường tập kết ra miền Bắc, để rồi sau cuộc chiến trở thành những kẻ đứng bên lề. Những kẻ sống sót chắc chắn đã “sáng mắt sáng lòng” nhưng không đủ can đảm để nói lên sự thật, không đủ can đảm tố cáo sự lọc lừa phản bội của giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.
Chế Lan Viên, sau mấy mươi năm làm thơ ca tụng đảng, cuối cùng đã viết hàng loạt bài thơ để thú nhận tội đồng lõa của chính mình, trong đó có bài “Tôi? Ai?” dưới đây:

Mậu Thân, 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ.
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

Tuy nhiên, dù hoàn cảnh đất nước còn bất hạnh, một điều rất thật, rằng con chim ngậm cành ô-liu mà nhà văn Dương Thu Hương ám chỉ, vẫn chưa chết.

Dù còn lẩn khuất bên kia khu rừng già hay dưới chân trời xa, Giấc Mơ Việt Nam vẫn còn sống trong lòng nhiều triệu người dân Việt. Trong lòng mỗi người Việt Nam vẫn còn đó một giấc mơ về một Việt Nam Mới dân chủ, nhân bản và hiện đại.
Cuộc cách mạng nào cũng thế, đều bắt đầu từ một nhu cầu, một giấc mơ thời đại, và được biến thành hiện thực từ những người cùng ôm ấp một giấc mơ của thời đại đó. Việt Nam đang cần, không phải là những đổi mới nửa vời, nhưng là một cuộc cách mạng Dân Tộc, Dân Chủ và Nhân Bản thật sự, toàn diện và triệt để.
Và một trong những lực lượng chủ yếu để biến mơ ước hôm nay thành bão tố cách mạng không ai khác hơn là tuổi trẻ.
Gần sáu chục triệu tuổi trẻ Việt Nam (65 phần trăm của dân số Việt Nam trong và ngoài nước), dù đang ngồi trong giảng đường đại học xứ người hay đang chăm lo đèn sách nơi quê nhà, rồi vẫn phải vươn vai gánh lấy trách nhiệm lịch sử để ngậm cành ô-liu về trên quê hương đầy bất hạnh của họ.
Quốc Gia Do Thái không chỉ được thành lập từ những người lính nhảy dù xuống Palestine vào buổi sáng tháng 5 năm 1948 nhưng một phần không nhỏ từ túi tiền của những nhà tài chánh Mỹ gốc Do Thái đang làm việc trên Wall Street ở New York, từ những khối óc đang ngồi trong các giảng đường Harvard, từ sự vận động của những nghị sĩ, dân biểu, bộ trưởng gốc Do Thái đang nằm trong các cấp lãnh đạo chính quyền Mỹ, Anh, Pháp, và từ những đóng góp máu xương của hàng triệu người Do Thái lưu dân khắp thế giới. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, những tinh hoa dân tộc Việt đang lưu lạc khắp bốn bể năm châu, chắc chắn một ngày sẽ cùng với anh em, bè bạn cùng thế hệ trong nước, bằng tài năng và bằng khối óc, ra sức phục hồi sức sống Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam, dù sinh ra ở Hà Nội, Sài Gòn, ở trại tỵ nạn hay lớn lên ở Paris, Boston, London, trái tim của họ vẫn cùng chung một nhịp đập và lòng họ đều ôm ấp một giấc mơ chung: Giấc Mơ Việt Nam. Đàn nai tơ Việt Nam đáng yêu kia, dù đi lạc trong rừng già tăm tối, vẫn dể dàng nhận ra nhau qua tiếng hú thân quen, để rồi từ đó cùng đưa nhau về bên dòng suối mát Mẹ Việt Nam.
Tuổi trẻ Việt Nam là thế hệ của những kẻ biết bay, biết vượt thoát ra khỏi ao tù nước đọng của quá khứ. Tuổi trẻ Việt Nam, khi bước qua sông, không mang theo trên lưng chiếc ghe quá khứ nặng nề như các thế hệ cha anh. Tâm hồn họ trong sáng như ước mơ của đời họ. Những gì nên giữ họ sẽ giữ và những gì cần phải xóa bỏ, họ sẽ không ngần ngại đập đổ đi mà không hề nuối tiếc, vấn vương công sức. Hành trang trên vai của họ là một tương lai đất nước đầy hy vọng. Họ sẽ dắt tay nhau đi về phía chân trời có thực, đó là bình minh cho một đất nước Việt Nam Mới.
Dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu chịu đựng, xứng đáng để có và chắc chắn sẽ có một cơ hội tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Giọt nước mắt vui mừng cuối cùng sẽ nhỏ xuống để làm tràn Giấc Mơ Việt Nam. Đêm liên hoan của lịch sử dân tộc sẽ không còn xa xôi nữa.
Xin hãy cùng tôi mơ.

TRẦN TRUNG ĐẠO

san bớt qua đây

tranthienthi

san bớt qua đây
buồn giùm cho một ít
em liêu xiêu cũng đã duyên rồi

san bớt qua đây
một ít chiều mưa miết
em sầu nên phố đã thành thu

ừ thì
buồn ấy khôn nói được
ừ thì
buồn ấy khôn chia được
chỉ có chung nhau một trời mưa
mà khôn che được nhau rồi

san bớt qua đây
một ít hờn trong mắt
xanh rờn ngọn tóc chẳng buồn thu

san bớt qua đây
một ít đêm dằng dặc
uống giùm chén rượu để ngơi say

ừ thì
đêm vắng khôn vai tựa
ừ thì
tay mỏi khôn tay cầm
chỉ có chung nhau đêm mịt mùng
nghiêng lòng rụng xuống rưng rưng

Trần Thiên Thị

THỜI GIAN

 

nguyenvi

Thời gian sôi động và lặng lẽ
Đều phải được soi qua lăng kính con người
Những sinh linh trần trụi nhỏ bé
Với đủ thứ tật bệnh đất hỡi trời ơi.

Thời gian cứ trôi đều chẳng chút phiền muộn
Không già không trẻ không xấu cũng không đẹp hơn
Chỉ có loài người mới mắc bệnh hoang tưởng
Lui cui vá lỗ đen và lấp biển dời non.

Ta thương ta thường tin điều chưa có
Thời gian cười hồn hậu mãi trôi xuôi
Tội nghiệp cái thằng không dám xuất hành giờ chính ngọ
Ngồi hát ru nhau người ở đừng về.

NGUYÊN VI