BÊN KIA DÒNG SÔNG

nguyendinhbon

buổi chiều Saigon lại mưa đó T
anh nhớ bên kia dòng sông có một chỗ trú
là quán cà phê nhỏ
có lần mình núp mưa gặp hai cô gái trẻ
ngồi trong góc thầm thì và hôn nhau
em nói nhớ anh ngay lúc này
nhớ anh khi về phòng trọ
nhớ anh khi ngủ
giọt mưa trên má T như là nước mắt
hai cô gái trẻ không nhìn chúng mình
bởi hình như họ khóc
em nói sau này khi anh chết
em sẽ đợi mười năm rồi nhảy xuống dòng sông này
để nếu có kiếp sau mình sẽ không có khoảng cách muôn trùng
anh không thuộc về người khác
trước khi gặp em…
anh nói thôi cô nương đừng có sến
hãy nhìn cặp đôi đang yêu nhau cạnh mình
chắc họ không mong kiếp sau…
tháng mười
những con bão ngoài khơi lại vào bờ…
anh đọc báo
có cô gái nhảy xuống sông Sài Gòn
để lại chiếc xe máy trên cầu Bình Triệu.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

NHÃN TIỀN

nguyentri

Cáp Diệp mất con bò Nu ngoài ba tạ, trăm phần trăm cư dân ấp Sông Trầu chắc nụi thủ phạm là cha con Tư Tấu. Không ai vô, họ tin thế. Nhưng Cáp Diệp không tin:
– Lúc bầy bò đi ăn về tôi và Tư Tấu đang nhậu ở quán Tài Rùi…
– Thôi ông im đi cho tui nhờ – Bà Diệp hét lên – ông lúc nào cũng chỉ ba giọt rượu…
Diệp già im thít. Lại đội áo mưa đi kiếm tiếp. Cả hai tiếng đồng hồ, bốn đứa con, bà vợ cùng một lốc anh em xóm giềng xúm vô lục tung mấy cái lô cao su tìm cho ra tăm tích. Nhưng mà thiệt hay, con bò như ông khổng lồ bốc hơi không tăm dạng. Trộm kiểu nầy thì quả là thần khốc quỷ khấp, giữa ban ngày ban mặt nữa mới chì. Và ai cũng nghĩ đến cha con Tư Tấu:
– Bà má nó – Tư Rừng lên tiếng – Tao quá rành thằng Tấu. Nó rủ thằng Diệp nhậu, trời mưa, đi chăn bò lạnh thấy bà nội có rượu uống, có bạn tâm sự tao còn uống nói chi ai. Nó nhậu nhưng hai thằng con trai ra tay. Bây hiểu hông?
Nhưng mà con hỏi chú dấu đi đâu trong cái khu dân cư nầy?
– Vậy mới là Tư Tấu. Mấy vụ trước đây không phải cha con hĩa(1) đem tao chặt làm ba khúc lấy cái đầu cho bây ngồi chơi. Dấu đâu hả? Tụi nó có âm mưu, chỉ một chiếc xe tấn rưởi đậu đâu đó là con bò ra tới miền campuchia luôn. Trong khu dân cư nầy xe ra vô hà rầm, ai hơi đâu mà để ý, hiểu hông mấy ông nội?
– Chú nói như là có tham gia.
– Tham cái bà cố mày.
Cuộc truy tìm đến tám giờ tối thì ai về nhà nấy. Cả gia đình họ Cáp cũng giơ tay xin hàng. Thật là muốn ói mật, con bò hai mươi triệu ngoài, cả một đời dành dụm, ăn nhín nhịn thèm, nay bị mất quả là tức, giận, hận dồn một nùi vô cả gia đình nầy. Bầy con thì chả nói chi chứ vợ chồng Cáp Diệp khóc ra cả biển nước chứ không ít.
Trời ơi, ai chứ Cáp Diệp và vợ đến con bò còn sướng hơn. Được mấy sào đất làm không nên ăn Diệp phải nhờ vô bò, bò cũng nuôi rẽ của người ta mà ra. Ngó vậy chứ con bò đến cái chất thải của nó cũng là tiền. Bao năm trôi qua, từ thuở hồng hoang của ngày còn trẻ đến nay ngoài sáu chục. Vợ chồng Diệp nào biết chi đến hai từ thong thả. Tất cả đều phải dụm dành vì tương lai bầy trẻ. Không có cái đận nhà nước thu hồi đất làm đường, thì Cáp Diệp dễ chi có cái nhà đàng hoàng mà ở như hôm nay. Tuy ở khu dân cư nhưng Diệp vẫn cứ bò mà nuôi. Đất được chia ba trăm mét. Diệp làm cái chuồng trăm rưởi vuông chứa sáu con bò, chỉ sáu mà thôi, hơn là gã cho mấy lò mổ, ai cần nghé Cáp ta chu cấp liền. Mấy thằng chơi kiểng khô kiểng ướt đặt hàng cho Diệp hàng tấn phân khô một lần. Thu nhập tuy bạc lẽ nhưng bầy con Cáp Diệp cũng ngon lành, đứa nào cũng xong cấp ba… Nếu không có cái kiểu sống đãi cứt gà lấy tấm dễ chi được vậy.
Vậy mà mất con bò thì ói mật là đúng quá.
Và khi cơn tức chận ngang bộ ngực già nua lép kẹp thì chả ai ngủ được cả. Cáp Diệp cứ ra vô lên xuống trong cái phòng khách mà chép miệng. Dám lắm – Diệp nghĩ – Tư Tấu gài mình uống rượu, hai thằng Hải và Hà con trai Tấu ra tay. Nhưng mà nó dẫn con bò đi đâu? Mấy lô cao su quanh khu dân cư đã được cày nát. Giữa ban ngày ban mặt, không người nầy thì người kia phải thấy chớ. Còn xe? Nếu có thì dấu bánh phải có, trời mưa dấu chân chuột còn thấy nói gì cái khác. Vậy con bò bốc hơi đi đường nào? Tức, cha chả là không chịu nổi.
Nghi cho cha con Tư Tấu, cũng không chắc. Vì sao? Vì lúc kiếm bò thì thiên hạ thấy anh em Hải Hà đang ngồi trong quán Cờ Tây nhâm nhi ba sợi. Tụi nó nhậu còn ai đi trộm? Bộ có phép phân thân à? Nhưng Tư Rừng nói:
– Cha con thằng Tấu ăn trộm có nghề, thấy vậy mà không phải vậy đâu. Tin tao đi, ba đời ở xứ nầy, tao rành dòng họ Tư Tấu thuở còn nhà lầu năm tầng chứ không phải ra cái thân xơ xãi như ngày hôm nay đâu… À mà khoan…
– Khoan sao chú?
– Tụi bây có kiếm chỗ cống hộp trên đường mới chưa?
Rồi. Có thấy chi chú ơi.
– Vậy là tao cũng xin thua, thật ra cả cái xã nầy, phía chính quyền cũng biết Tư Tấu là cha của Đạo Chích nhưng bó tay vì không quả tang. Cha con nó còn hơn cả Thời Thiên trong truyện Thủy Hử nữa
Gặp tui, tui lôi lên phang cho một trận là lòi ra hết.
– Mày nói chuyện như hài, có bắt được đâu mà phang với đấm. Bộ tưởng dễ đánh người lắm sao? Mà thôi, xem như Cáp Diệp mất hai chục triệu, và chính quyền xứ nầy bị trộm vuốt râu. Tao dzề à.
Còn sớm mà chú… kể chuyện Tư Tấu tụi con nghe chơi xí được không?
***
Tư Tấu hả?
Rằng ông nội Tấu tên Tiền cha của bầy con trai có tên Tính, Tinh, Tình, Tịnh. Tịnh là cha của Tấu. Còn có một một bà cô tên Tâm. Họ giàu nhứt xứ. Sự giàu có bắt nguồn từ cái nghèo rớt mồng tơi mà ra.
Ông Tiền cùng bầy con tha phương đến xứ nầy. Tạt vô một góc rừng cất cái chòi ở tạm, kiếm sống bằng nghề ve chai lông vịt. Vợ chết trên đường lưu lạc. Năm đứa con như năm cái tàu há mồm, Tiền ra hết sức mà mấy cái bụng vẫn cứ ỏng eo. Nhìn qua rất chi tội nghiệp, nhưng bà con ai cũng khó nên thây kệ cha con bây. Ai đó tới chòi rách tặng cho cái chép miệng cám cảnh là quý hóa lắm rồi. Con Tâm là chị lớn, uy lắm, nó trị bầy em như nữ tướng, chẳng thằng náo dám cà cháo với bà chị tuổi Dần.
Có một chuyện mà cả ba quân cười chết bỏ và có rất nhiều người chứng thực. Một hôm ông Tiền lôi cả bầy con đi lượm xương bò, lục nát bấy thùng rác mấy quán phở, hủ tíu… đến tận lò bò, lò heo tận thu xương. Gom thành đống, thôi thì nó thúi inh trời đất, dân tình chửi như nước lũ tràn bờ. Sau đó xe và lái tới cân. Lúc nầy dân tình mới biết xương cũng có tiền, xúm vô hỏi, Tiền cũng thật thà nói người ta thu đủ thứ xương để nấu cao. Lái xương thông báo cho bà con cứ gom đống họ sẽ mua. Vậy là cả xóm bỏ việc đi lượm. Chả hiểu họ truy ở đâu mà nhà nào cũng một đống không to thì nhỏ, lần nầy chả ai than thở chi vụ thúi tha. Chỉ có mấy đứa con gái tha hồ ụa, vì dòi ngo ngoe lổm ngổm trên đống xương nhìn mà kinh tâm, rởn gáy.
Sau đó dòng sông chảy qua ấp Sông Trầu phải chịu trách nhiệm nuốt hết xương bò. Bà nội cha nó – họ chửi – chửi cũng phải thôi, bọn lái một đi không trở lại, lúc đó mới nghe nói tụi nầy tính màn nấu xương bò ra cao hổ nên thất bại. Vụ nầy ai chăm chỉ chừng nào thua lớn chừng đó. Gia đình ông Tiền đậm nhất vì có kinh nghiệm đi lượm xương. Ông Tiền nghèo nên khôn lắm, vô luôn trong lò bò phụ việc lấy thù lao là xương bò. Kha kha kha… nghe buồn cười chết bỏ.
Cốt khỉ nên chả có chi đáng lo. Ông Tiền lại vươn vai kiếm sống. Nhưng ông chủ lò bò lại đến nhà tìm Tiền để nhờ giúp việc, lương lậu hẳn hoi. Thấy hoàn cảnh Tiền bi đát quá, liền lôi cả bầy về cho ngụ một gian trong lò. Bầy trẻ mừng lắm, đang cạnh mí rừng nghe cú kêu sợ chết bà nay vô tường gạch ấm áp gì đâu.
Ông chủ khỏi luận chi cái vụ giàu, chả hiểu ông ta nghĩ sao có một đứa con gái mà lại chơi một căn năm tấm. Đứa con gái tuy đẹp nhưng suốt đời đội tóc giả, không phải cô cầu kì mà vì cái đầu không một sợi tóc. Thiên hạ nói nhỏ nhau nghe rằng cái nghiệp nầy nó vậy đó… Đó là đó làm sao? À… kiểu như ăn mặn khát nước vậy mà… Lại thêm rằng ông chủ nói, ai chịu lấy con ổng làm vợ ổng cho nguyên cái lò bò. Năm đó Tịnh cha Tấu mới mười sáu, còn cô chủ đà mười tám. Chả hiểu ra làm sao mà cô cậu yêu nhau. Chắc là lửa gần rơm nên bén. Vậy là anh làm thuê tên Tiền thành sui gia với ông chủ lò.
Cả hai đẻ ra Tấu, duy nhất Tư Tấu vì hai ba không nuôi được. Đẻ tiếp thì cô vợ tóc giả mất vì hậu sản. Ông chủ lò buồn tình ôm cháu ngoại làm ba sợi sương sương, vấp chân té đập đầu vô tường, máu mồm chảy như suối, bệnh viện chào thua vì động mạch chủ bị vỡ. Đã cao huyết áp mà còn dộng rượu vô thì thánh còn chết nói chi người.
Tịnh nghiễm nhiên là chủ lò.
Dưới sự điều hành của ông Tiền và cô Tâm, lò bò dười thời ông chủ Tịnh cực kì rực rỡ.
***
Sự giàu có của gia đình ông Tiền còn dững dừng dưng hơn cả truyện Chum vàng bắt được. Đúng nghĩa của trên trời rơi xuống. Không đúng sao? Người ta mời ông tới nhà, kết tình sui gia rồi lăn ra chết giao cả cơ ngơi cho ông, thiệt là nhẹ hơn bấc, không làm sao mà luận cho ra. Dễ như làm một con bò vậy.
Thật vậy. Một con bò cả hai tạ ngoài, dềnh dàng vậy mà ông Tiền nhoáng không quá mười lăm phút là gọn. Con bò khi chết không biết đau đớn là gì, với một cái búa hai đầu tròn, tục gọi búa củ tỏi, cô Tâm xách vàm mũi lên, gõ nhẹ vào tam tinh, ngay lập tức con bò sụm gối. Kĩ thuật nầy chỉ một mình cô Tâm là siêu đẳng. Những con bò thiến bị lại dữ dằn khét tiếng, chả hiểu làm sao đứng trước mặt cô là rúm ró, tay búa vung lên, bò chưa kịp sụm gối thì lưỡi dao phay trong tay ông Tiền đã vào tim, huỵch ra đất là xong cái vụ tiết. Thiên hạ nói nhiều về cái uy của cô Tâm lắm, có lẽ vì vậy nên tuy giàu có, nhan sắc không đến nổi tầm thường mà cô lại chết trong cô đơn, đã uy lại tuổi dần nó thế.
Quăng lưỡi dao phay, ông Tiền cầm lưỡi dao rọc. Nó nhọn hoắt và bén như nước, loại dao nầy hơn cả dao xắt thuốc của xứ Cao Lãnh. Ba thằng con Tính, Tinh, Tình phụ nắm tấm da cho cha rọc. Không quá năm phút là xong, ra thịt thì khỏi chê, một cục xương quăng ra bảo đảm con chó ngửi rồi bỏ vì chả có còn chi mà liếm láp. Từng loại thịt được xếp vô cần xé. Tịnh, với tư cách ông chủ sẽ đánh xe ra chợ và thị trấn. Da bò được quăng vào một bể nước muối, cứ mươi, mười lăm tấm là những cơ sở thuộc da sẽ mang đi một lần. Mỗi sáng lò cha con ông Tiền hạ thủ hai chú bò, và trên dưới chục chú trư. Làm ăn vậy mà không giầu thì làm chi?
Cái ngon lành nhất của một lò mổ là mua của bọn trộm. Người ta thả bò đi ăn ngoài mông quạnh. Chỉ cần chủ ý một tí là có thể ung dung dắt một con lẫn vào rừng hay vào một nơi kín đáo nào đó rồi chờ đêm xuống. Những con bò nầy ông Tiền mua với giá rẻ hơn bèo. Một loại khác cũng bèo là những con đã sức tàn lực kiệt hay bệnh tật. Chủ dắt đến năn nỉ hết phép Tiền mới hạ cố mua cho. Một thứ khác là thịt đã ra thành phẩm của bọn trộm, chúng đưa tới cả cần xé nhờ lò bò giải quyết… Nói chung nghề nghiệp chi cũng có cái gian manh của nó. Và dưới trần gian nầy cái gì mà thiên hạ không ăn? Có câu vè rằng thợ may ăn vải thợ hồ ăn xi măng, đồ tể thì ăn thịt nhưng chủ lò sát sinh thì uống luôn cả máu của ta bà nghèo chăn nuôi.
Ông Tiền sinh ra lớn lên trong nghèo khó. Một thứ dân cấp phó. Phó dân Tiền và bầy con kiếm cái ăn đà chết lên chết xuống. Mắt luôn ngó xuống đất, lâu lâu ngước mặt nhìn đời thấy kẻ ăn trắng mặc đẹp đều dân có chữ múa cây bút mà ra tiền. Vẫn biết một chữ đáng giá ngàn vàng, dù không chức phận cũng nhàn tấm thân. Nhưng cha con ông Tiền đâu có cơ hội. Thôi thì kẻ có trí bán trí mà ăn, ta không có thì bán sức vậy. Đùng một cái tất cả hóa thành chủ, tiền bạc vô như nước. Chữ nghĩa không mảy may tham gia vô sự giàu có của gia đình nầy. Tuy không hò reo mừng rỡ, nhưng họ biết giải tỏa nổi niềm khi chén chú chén anh, cái nghề ngập ngụa trong máu đỏ, khiến họ uống thôi là uống. Đảm bảo Võ Tòng cả Lỗ Trí Thâm chả dám tạc thù, mấy thằng rượu cỡ Lệnh Hồ Xung hay Kiều Phong trong kiếm hiệp của Kim Dung là đồ bỏ.
Cả cô Tâm cũng làm một li trước khi vung cái búa củ tỏi vào tam tinh chú bò. Cô sợ ư? Vâng, sợ. Đôi mắt của loài vật nầy vốn to, tròn và u buồn rất chi tội nghiệp. Khi cô Tâm xách vàm mủi giơ lên cao, biết chết nên nước mắt nó ròng chảy, chúng luôn ụm bò bi thiết trước khi đầu củ tỏi vô tam tinh. Quen tay và lạnh lùng như đá cục cỡ ông Tiền mà còn tu ừng ực trước khi vung dao vào cổ họng con bò. Để tránh cơn hãi sợ với nghề. Họ dùng rượu làm bạn.
Trước khi ra tay. Rượu. Hoàn tất, lại rượu cho tới bến. Tỉnh giấc lại tiếp tục, đứa đi bắt heo, thằng đi xem con bò, con trâu ở a bê chi đó kêu bán. Tối lại cùng nhau trên bàn rượu. Cứ vậy hết ngày dài rồi lại đêm thâu. Ngày qua tháng qua năm qua. Thiên hạ hỏi:
Sao mấy thằng con ông không thằng nào lấy vợ vậy ông Tiền?
Kệ mẹ nó, chuyện gì đến nó đến ông ơi.
Còn lâu chuyện mới đến. Vì sao?
Khi rượu thấm vô tim gan phèo phổi và hòa cùng máu lưu thông trong cơ thể, thì đảm bảo cái vụ giường chiếu là đồ bỏ. Người ta dùng rượu để hoàn thiện cái vụ kia, uống hoàn thiện và uống bất thiện khác nhau như nước với lửa. Chuyện đàn bà khi thích thằng trai mới tìm đến, không một kẻ nghiện rượu nào trên trần thế nầy cần đối tác. Rượu hủy diệt bản năng, chắc chắn thế.
Với ông Tiền chả quan trọng chi vụ nối dõi tông đường. Nghèo trong cốt đó không là vấn đề, với lại út Tịnh cũng có thằng con trai ngon cơm rồi. Thêm cái ngon thứ hai là trong khi ai cũng như hủ chìm thì Tịnh tuyệt không, dù một giọt. Anh ta ung dung cầm lái chiếc Daihatsu. Cái thời mà ai có của, được chiếc Lambro 550 đạp hộc gạch mới bành bành bành mà tới là xem xem thiếu gia. Tịnh đề nhẹ là máy nổ, êm ru bà rù mà tới luôn bác tài. Có câu một trăm lời nói không bằng làn khói Daihatsu. Vợ chết Tịnh có liền một người đẹp nhảy vô thế chỗ. Em chả cần cưới xin chi ráo. Vớ được cái hủ vàng ngu sao làm giá, nó đổi ý là vong liền.
Tịnh dẫn cô vợ về nhà cũng chả ai kêu rêu. Kêu cái gì? Ai có việc có phần nấy. Cả Tư Tấu cũng chả quan trọng mẹ ghẻ con chồng. Cái phòng của ba nó ai muốn ngủ thì ngủ mắc chi đến nó. Bà hai cũng chả dám động chi Tấu. Cặp mắt nó lườm lườm nhìn thấy ớn. Thôi yên cho xong. Tịnh quý vợ mới lắm, em muốn chi anh chiều nầy. Tịnh ra chợ mua cho người đẹp một chỗ trong sạp thịt, cả cây vàng chứ không ít. Còn thịt thì ngày nào Tịnh cũng giao cho vợ cả tạ. Vợ cứ thế mà ung dung thu tiền. Chị Tịnh nổi tiếng khắp chợ về nết hào phóng, chị cho bên nầy, đãi bên kia. Uy tín lắm lắm nên khi vợ Tịnh ra tay cầm cái hụi là chị em hùa theo xin góp của. Đúng là tiền đẻ ra tiền, không tiền đẻ ra nợ. Có tiền nhưng cha con ông Tiền chả ham hố chi sang cả, chỉ riêng một Tư Tấu khỏi chê cái vụ xài. Thích một con chim đội mũ, còn gọi chào mào đỏ đít Tấu bỏ ra cả năm chỉ vàng để có cho bằng được. Chơi chán Tấu quăng lồng ra cho con mèo đùa chơi.
Tấu cũng được đi học đó chớ, nhưng con nhà giàu, giàu quá, thêm cái gia đình mà chữ nghĩa là một cái gì đó xa xôi, đâu ai quan tâm đến sự học. Tấu lại khoái ông nội lột da bò và ra thịt, sáng nào cũng thức sớm xem cô vung búa, nội vung dao. Ông Tiền chỉ một thằng cháu nên cưng lắm, cho mày chơi mút mùa lệ thủy. Tấu la cà với giới thương lái bò lậu, những kẻ mà đêm đêm đi rình rập nhà người cùng những kĩ thuật bắt trộm heo, bò. Bắt mà không kêu mới gọi là thầy. Tưởng khó khăn chi lắm, ai ngờ dễ ẹc. Bọn trộm canh ke xong nhảy vào chuồng, chú lợn chưa kịp kêu thì miệng bao đã kề mặt, hít một hơi thì bao nhiêu tro bếp đã vào đầy phổi… bò thì chỉ cần một đụn cỏ tươi là vong mạng. Quan trọng là làm sao cho gia chủ ngủ yên, ngủ thật yên.
Bọn trộm gia súc lớn nầy bè lũ, phe cánh không ít. Có nghề và gan dạ mưu trí không kém ai. Chả hiểu ra làm sao mà giầu có, cơ ngơi hùng hậu vậy Tư Tấu lại khoái nghiệp nầy, khoái nên chơi cho thỏa chứ chẳng cần chia chác chi. Một thằng hoạn là sư phụ của Tấu trên bước đường hội nhập vào giới đạo chích. Thằng nầy ngây thơ ông cụ lắm, hắn la cà làng trên xóm dưới, thôn nầy ấp kia thổi cái kèn toe toe. Nhà nào cần thiến heo bò là ra tay kiếm tí tiền còm. Trong khi thiến hắn quan sát kĩ càng nhà gia chủ rồi thông báo cho đồng đội ra tay. Bọn chuyên sẽ đột kích vào nhà và làm sao đó cho gia chủ mê man. Bỏ thuốc mê vào lu nước sinh hoạt của chủ nhà là chiêu đắc dụng nhất.
Tấu chăm chú nhìn sư phụ hoạn lợn. Nào, gia chủ đâu, xách hai cái cẳng sau giở lên cao cho tôi. Chú heo eng éc inh ỏi khi lưỡi dao cau thọc vào hạ bộ lấy hai hòn nan của nó ra, một sợi nhợ nằm trong mũi kim khâu chớp nhoáng khâu lại vết mổ, hay nhất là lọ nồi, nó được bôi vô vết thiến để sát trùng. Ra cái thứ đen thui nầy là trụ sinh cho lợn đấy. Mỗi chuồng heo khi hoạn ít cũng mươi con. Hai mươi hòn nan ấy ông thầy hoạn làm một đĩa để nhâm nhi cùng ba xị đế.
Thiến trâu thì không vậy, công cán bằng hai mươi lần thiến heo vì khó và mệt lắm. Công việc nầy một mình là không thể. Những con trâu tới thì động, chúng dữ dằn hung tợn không tưởng được. Nhưng con nào tốt đẹp sẽ được giữ để làm nhiệm vụ truyền giống, con nào xấu một nết thì phải chấp nhận cày kéo cho hết kiếp. Người ta hủy diệt cái hung tợn bằng cách lấy hai hòn nan của trâu làm thức nhấm nhậu chơi. Thứ nầy với loài người là đại bổ.
Người ta cột chặt bốn chân trâu vào bốn chiếc cọc được đóng thật chắc chắn. Một đòn dài hai mét, đặt lên cần cổ và sẽ do hai tay thanh niên lực lưỡng ghìm xuống thật chặt. Đến lúc ấy thầy hoạn mới ra tay. Lưỡi dao cau ngọt như nước rọc nhanh vào bìu, hai hòn nan được lấy ra. Vết mổ sẽ được khâu lại bằng dây cước và cũng được bôi lọ nồi. Khác với con heo khi thiến xong được quăng vào chuồng, bẩn thỉu chi cũng mặc. Con trâu thì không vậy, sau khi thiến nó sẽ được nhà chủ luân phiên dẫn đi, trâu nằm xuống bị nhiễm trùng hay bục chỉ là vong mạng. Họ sẽ dẫn đi chí ít ba ngày đêm ròng rã, có thể hơn, khi nào vết thương lành chú trâu mới được quyền nằm.
Nhưng để hoạn một con bò thì không vậy, nó khó hơn bội lần. Có câu yếu trâu hơn mạnh bò. Con trâu lấy hai hòn nan của nó, nhưng vẫn cứ là trâu, cày bừa hay kéo đều uy phong lẫm lẫm. Bò thì không vậy, một đực bò sau thiến sẽ hóa một mụ bò vô dụng. Bò cái thì còn đẻ và cho sữa, kẹt còn có thể móc ách vô đi kéo đi cày. Còn gã bị thiến thì chỉ biết ăn và cuối cùng bán cho lò mổ. Vậy nên khi thiến bò thầy hoạn phải làm sao cho gã bị thiến phải lại.
Đó là một tuyệt kỹ. Nếu lấy hẳn hai hòn nan ra khỏi bìu thì ai cũng làm được, miễn xem chuyện tanh máu là thường. Nhưng làm sao để lại? Và phải lại đủ để không thèm cái vụ truyền giống, gã bị thiến phải uy và mạnh mẻ như… trâu mà phục vụ cho lợi ích của con người. Muốn được vậy phải là sư hoạn thượng thừa. Thiến bò phải có đồ nghề loại đặc biệt. Rất ít người mục kích nói chi biết bộ đồ nghề nầy.
Một cái đe bằng gỗ, tầm cao từ sáu đến bẩy tấc, sao cho khi đặt giữa hai chân bò thì hai hòn nan phải nằm gọn trên đe. Một cái búa gỗ và mũi ve (đục) cũng bằng gỗ. Hoạn dùng vải bó chặt nan bò rồi dùng búa gõ nhẹ vào đầu mũi ve chung quanh cuống của hạ bộ. Con bò không thể động đậy vì bốn chân cũng bị cột chặt và cổ bị vít xuống như khi thiến trâu. Nó phì phì thở để chống lại đau đớn mà không thể kêu la. Lí do? Đơn giản muốn kêu thì phải ngước, nay cổ bị vít xuống thì làm sao kêu? Hoạn vừa dùng tay lắc, vừa ghè búa… Hai mươi phút đi qua, sự đau đớn đủ để con bò ba ngày sau không thể đưa cái lưỡi liếm mật đường trộn cám. Răng thiếu điều rụng vì đi qua khủng khiếp. Và một tháng sau chủ nhân mới có thể biết con bò có bị lại hay không mà thanh toán tiền công cho Hoạn. Nếu lại, hoạn sẽ hả hê, còn không chỉ một chầu nhậu là hết. Nghề nầy phải kẻ cùng đường mạt vận mới theo vì ai cũng cho nó thất đức vào bậc nhất. Ba Me – người Tư Tấu gọi thầy – là một loại sư hoạn có tên, lừng lẫy lắm nhưng mười con đực vào tay nhiều lắm là sáu em lại hồn. Cho hay rằng thiến để lại một con bò không hề dễ:
Tư Tấu hỏi thầy:
Sao lại dùng đe búa bằng gỗ vậy ông Ba?
Mày có biết người bị hoạt tinh không?
Không. Sao?
– Hoạt tinh là khi bị xúc động mạnh tinh trùng sẽ tuôn ra như khi làm tình. Bệnh nầy rất nguy hiểm vì làm tiêu hao nguyên khí của con người. Muốn trị nó phải đông y và một vị không thể thiếu là Hà Thủ Ô Huyết, khi khai thác người ta phải dùng dao, hay vật nhọn bằng gỗ để đào. Thiến bò muốn lại phải sử dụng mọi thứ bằng gỗ, và chỉ duy nhất loại gỗ Tung mới được… Mọi thứ khác là thất bại. Hiểu không?
Ai bày ra vụ này vậy ông?
Tao đách biết, thầy tao biểu sao tao hay vậy. Xưa giờ vậy.
Tư Tấu theo Ba Me gọi thầy. Gã hoạn heo được xưng thầy khoái lắm, có bao nhiêu ngón truyền hết cho trò. Trò con nhà giàu nên vung tiền cho thầy bớt cảnh lầm than. Ba Me ba đời vợ nhưng không con. Mụ nào bá vô Me vài năm là dông tuốt kiếm cái hậu duệ khi về già. Thiên hạ nói Ba Me làm nghiệp hủy diệt mầm sống thì không sự sống nào theo. Me cười:
Bà nội nó… tao không làm, ai làm?
Tư Tấu nghe có lý nên làm luôn. Khi Ba say không cầm nổi dao cau hoạn lợn đã có trò Tấu. Tấu làm nhanh gọn và đẹp hơn thầy nhiều. Riêng cái thiến bò thì về sau Tư Tấu danh qua mặt thầy. Mười đực vào tay Tấu là mười em hoàn hảo. Việc nầy nhờ rất nhiều vào cái chết của ông Tiền. Một cái chết cực ngoạn mục.
***
Chết sao mà ngoạn mục hả chú Tư?
– Khì khì…là vì sau khi ông Tiền chết nó kéo theo một lô một lốc những cái bi thiết khác trong gia đình ổng.
Con nghe kể ổng chết thảm lắm hả.
Cũng chả thảm đạm gì, nhưng mà kì lạ.
Ông Tiền ngụ trên tầng năm của căn nhà. Trong gian riêng nầy là nơi thờ phượng của bà vợ, vợ chồng ông sui và cô con dâu bạc mệnh. Ông Tiền thường ngủ trưa ở đây.
Căn lầu nầy có ba cái lỗ thông gió hình tam giác. Ngày xưa thợ làm vậy để thoáng khí. Hôm đó là tháng giêng, trời oi bức kinh khủng, ở xứ nầy thời tiết vậy cũng chẳng ai lấy làm lạ vì nó vốn vậy. Bổng nhiên gió ào ào kéo mây đến làm đen nghịt cả bầu trời và ầm ầm sấm động. Bầy con nít hò reo mừng mưa trái mùa, nhưng mấy ông già lắc đầu, rằng không mưa đâu, sấm trước thì không bao giờ mưa… Rồi trong tiếng rền rền một luồng chớp lóe lên sáng rực, giáng xuống ngay mấy cái ô tam giác. Luồng sét đánh nát một góc lầu. Ông Tiền lảnh trọn.
Mấy ông già nói thiệt hay, gió lại ào ào thổi tan mây và bầu trời xanh trở lại.
Tính, Tinh, Tình, Tịnh khiêng cha xuống lo hậu sự. Nhìn cái xác khô khốc và đen thui bởi sét thiên hạ táng đởm kinh tâm. Họ xì xào to nhỏ về cái quả của nghiệp đồ tể. Thiên hạ nghĩ cũng kì, thêm thắt toàn những tích cũ đầy mê tín dị đoan. Con trâu, con bò, nói chung tất cả các loại con, nuôi mà không ăn thịt thì để mà tế à? Không giết thì nó ăn luôn mình chứ đừng có đùa. Nói ác thì quý ông bà đừng có ăn, nhất là mấy bợm nhậu xơi cả bò tái, có cha đòi cho bằng được hà nàm(2) của bò, chứ heo thì nghĩa địa gì.
Thiên hạ nói vậy mà không chừng trúng đó nghe. Sau cái chết, tai họa bắt đầu ập đến ngôi nhà nầy. Bắt đầu là chị Tịnh bị vỡ hụi. Bọn em út hốt xong là xù. Xù chứ không dông. Chúng không đóng mà còn nhơn nhơn cái mặt kiểu tao không đóng làm chi tao. Để dằn mặt chị vung tiền ra thuê du đãng chém kẻ nào dám ngang ngạnh. Thằng du đãng ngu như bò làm ăn sao để bại lộ, trốn không thoát bị cảnh sát hốt cốt, nó khai do chị Tịnh thuê làm. Cảnh sát lôi chủ Tịnh lên, muốn yên thì chung. Bằng không con dại cái mang, chồng hoang vợ chịu, nay vợ làm chồng phải lo. Tịnh bỏ tiền ra đền bù cho người bị hại, chung chi thiệt đậm cho cả cuộc trưởng cuộc cảnh sát quốc gia, còn không họ đóng cửa lò bò, vì tình nghi trong lò có chứa việt cộng. Mẹ ơi, súng nói thì khỏi cãi. Chị Tịnh được thả về, canh me ôm mớ tiền rồi bay cái vù. Cái dòng rỗ rá cạp lại, không do tình nó vậy.
Tư Tấu phải thay ông nội việc thọc tiết, rọc da, ra thịt tất cả các loại con. Đúng là ông nội truyền cháu nối, Tư Tấu danh trấn ngay tắp lự cái sự vụ thiến bò. Khi lột cái bìu để lấy trứng làm mồi nhậu, Tư Tấu lĩnh hội được chiêu thức thiến bò làm sao để lại mười con như một. Chiêu nầy Tấu sẵn sàng nói bí quyết cho tất cả nhưng không ai làm được. Tấu cười:
– Chỉ có mổ bò thường xuyên mới biết. Trong mấy cái dây gân níu hạ bộ phải biết sợi nào là ống dẫn tinh. Ai làm tê liệt ống đó là tiêu. Tao mổ bò thường xuyên nên biết. Mấy cha nội kia chỉ ăn may, còn tao là chính xác.
Tiếp tục đến mấy ông bác bị rượu giết. Ông Tính bị chết vì xơ gan. Ông Tinh bị bể mạch máu vì cao máu và ông Tình cũng chết nốt. Trong một năm ba con người ra nghĩa địa, nó làm cư dân Sông Trầu hốt thật sự. Kẻ bảo gieo nhân gặt quả, người nói ông Tiền chết nhằm ngày trùng nên lôi con cháu theo cho vui. Nhưng Tư Tấu cười khè khè:
Nhân quả cái cóc khô. Trùng tang cũng cóc chết luôn. Mấy ổng uống quá nên phải vậy.
Trẻ và rất khỏe. Sau cái điểm búa của bà cô, Tư Tấu ra tay một mình chả cần ai giúp. Mọi việc trong lò vẫn chảy, tuy có hơi lừ đừ một chút. Vì sao lừ đừ ư? Sau những biến cố long trời chủ Tịnh phải bán Daihatsu, tậu lại chiếc 67 để làm phương tiện giao dịch. Thịt bỏ cho mối mang đương nhiên phải hóa lừ đừ.
Nhưng lò ngưng hoạt động sau cái chết của chủ Tịnh.
Hôm ấy có người kêu bán một con trâu. Mấy vụ nầy, tình thiệt mà nói là mánh hời. Khi ta đi tìm, giá nào cũng phải chung, còn đối tác kêu là chắc chắn gia đình không bị nầy cũng nọ, ta có quyền chẹt. Kẹt quá chủ phải bán. Tịnh dong 67 cùng đối tác đến nhà.
Đường đến phải qua cả mười cây số lộ nhựa. Thời chiến xe nhà binh chở lính tráng chạy ào ào. Ba ông cộng hòa thôi thì khỏi chê cái vụ phóng nhanh giành đường vượt ẩu. Tịnh tăng tốc 67 để vượt qua một GMC chở đầy lính mặc đồ hoa mũ nồi xanh. Thằng tài thủy quân lục chiến cũng tăng tốc đua chơi, tay bán trâu kể lại:
– Tao tưởng theo ông bà rồi. Má nó… thằng Tịnh ngu như bò… Chiếc 67 bị cuốn vô gầm rê em xê… may quá tao bị hất ra, còn nó và chiếc xe nát bấy dưới lòng xe.
Đang hành quân, mấy ông cảnh sát sợ lính chết bà, đâu ai dám rảnh mà vi bằng hay ăng kết. Tư Tấu phải bò xuống gầm xe lượm xác cha. Tịnh bị bấy bá không thể nào ráp lại thành nhân mạng, hai cái chân bị kẹp giữa hai bánh xe, phải tháo bánh mới lôi ra mà bỏ vô quan tài.
Tư Tấu treo bảng bán nhà, tính kiếm tí vốn kiếm nghề khác làm ăn. Nhưng loại nhà nầy ai dám ở mà mua? Tính phải tiếp tục nghề giết và thiến… Đang lây lất qua ngày thì cái biến mùa hè đỏ lửa đến. Bên đánh bên giải tõa, một chiếc máy bay mang bom đi thả, và một trái rơi xuống lò bò. Cô Tâm có lẽ không biết mình vì sao mà chết. Lúc ấy Tấu đang thiến bò không có mặt, bằng không cũng không còn xác để ra nghĩa địa mà đoàn tụ cùng ông bà cha má.
Cuộc đời Tư sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, tiền bạc như rác rưởi. Ăn chơi chả thiếu chi, may thay, Tư chơi và thân với bạch ốc cùng đinh nên khi tay trắng cũng đủ bình tâm mà bước tới. Tấu che tạm và vá víu một túp lều đủ cho mình và một gú, mẹ của hai thằng Hải và Hà. A ha, thiên hạ cười rằng:
Vậy là Tấu cũng có con trai. Bảnh thiệt.
***
Đến đây thì Tư Rừng kêu lên:
Bà nội mẹ ơi, mấy giờ rồi bây? Tao dzìa à, kiểu nầy mệt với bà xã rồi đây.
Một thằng trẻ bấm cái di động:
– Ái da… một giờ rồi. Tại chuyện nhà Tư Tấu ly kì, hấp dẫn quá… Ủa mà ai đi ngoài lộ giờ nầy vậy kìa?
Cả bọn nhìn ra đường, một thằng khác kêu lên:
Mẹ ơi… Ông Diệp, chắc ổng đi kiếm bò.
– Ê, Cáp Diệp – Tư Rừng kêu lớn – Vô đây cha, giờ nầy mà kiếm gì nữa. Bỏ đi, gầy con khác, ông còn năm con nữa mà.
Cáp Diệp co ro trong chiếc áo mưa, trông tội nghiệp làm sao. Những kẻ bị mất của luôn luôn có gương mặt của người di dự đám ma. Tư Rừng rót rồi đưa cho ly rượu cho bạn già. Cáp Diệp ực một phát, mắt nhìn ra đường. Có một bóng đèn của xe mô tô rọi sáng con đường ở hướng chùa Y Ngọc. Tư Rừng bật kêu lên:
Ê, tụi bây có kiếm chỗ miếng đất trống sau lưng chùa Y Ngọc chưa?
Rồi, lúc chiều ghé đó rồi chú Tư.
Tao nghi quá.
Nghi sao?
Tụi nó dấu con bò đâu đó rồi nửa đêm đi thịt sau chùa…
Dám lắm à – Một thằng hưởng ứng – Nếu không giờ này ai chạy xe hướng đó.
Mình xuống đó coi thử đi.
– Mày có bị khùng không? Tụi trộm liều chết mẹ, mình xuống đó tụi nó dám thọc luôn để đánh tháo à, lỡ suông đòn sao mậy?
Mày gọi điện thoại cho Công an Trường nói có trộm ở chùa là nó đến liền.
Mười lăm phút sau tay công an tên Trường có mặt.Tay nầy dạng săn bắt trộm có tiếng khu vực Sông Trầu. Chưa kịp nhằn nhò khuya khoắt đêm hôm làm mất giấc thì Tư rừng vỗ mạnh lên vai:
Mày coi kìa Trường?
Trường nhìn theo hướng tay Tư Rừng. Một ngọn đèn xe đang từ lô cao su chạy về hướng chùa Y Ngọc:
Gì vậy chú?
– Tao nghi bọn trộm xẻ con Nu của Cáp Diệp sau lưng chùa, chỗ bờ sông. Tao chắc tụi nó đang chuyển thịt đi tiêu thụ.
Dám lắm nghe… Ông để tui.
Nói xong Trường móc di động. Alô… Tao đây…. Mày xách xe chạy gấp xuống chùa Y Ngọc cho tao, tạm giữ bất kì ai lãng vãng xung quanh chùa. Tao lên liền… Mày kêu thằng Tâm trực thế nghe… rồi rồi, cứ vậy mà làm… ô kê.
Dưới sự điều động của Trường. Một mũi gồm ba em, một tập kích ngõ trước, một ngõ sau, ập vào bãi đất trống. Đèn pin loang loáng bật. Y như rằng, hiện trường còn cái đầu bò và tấm da. Đúng là cái đầu của con Nu. Cáp Diệp thẩn thờ:
Vậy là coi như tiêu.
Ông già ngồi ôm cái đầu bò thấy mà tộị.
Công an viên tên Trường thiếu cái văng tục:
Bà má nó… tao mà bắt được chắc tao cho bọn nầy ăn cù loi.
Nói vậy cũng như không. Quả tang chắc không đến lượt Trường. Bọn nầy đúng vuốt râu hùm. Trộm mà có nghề thì trời còn chết nói chi ba con cọp không vây. Thôi, chấp nhận thua cho xong. Tư Rừng an ủi:
Thôi thì chấp nhận ăn đầu bò Cáp Diệp ơi.
Một thằng trẻ lên tiếng:
Ủa sao hồi nảy tui nghe chú Trường lịnh cho lính xuống đây mà sao không thấy?
Đúng lúc điện thoại trong túi Trường reo lên:
A lô… Thắng hả? Tao đây… mày đang ở đâu?
Gương mặt Trình có vẻ căng thẳng qua cuộc gọi:
Có gì mà mày nghiêm như Bao Công vậy?- Tư Rừng hỏi.
Thằng Thắng nói có tai nạn trong lô ba ba. Mấy ông đi với tui vô đó không?
Đi thì đi.
Cả bọn lại kéo nhau vào lô cao su ba mươi ba. Đường lô đen như mực, không có đèn pin, đảm bảo chẳng ma nào dám vô. Tay công an tên Thắng đang đứng giữa đường, đờ rim xình xình nổ. Thấy có người Thắng lên ga và ánh đèn rọi sáng rực một gốc cao su. Ở đó là một chiếc honda 78c ngã ngang, trên ba ga là một giỏ cần xé. Một thân người, đầu chúi vô gốc cao su, chân vẫn nằm trong xe. Cảnh tường rất kinh dị và có máu chảy. Trường run giọng:
Sao vậy?
Tui cũng không biết. Anh biểu xuống chùa, mới tới đây thì thấy vầy rồi.
Mày có đụng vô cái gì chưa?
Ông nội tui cũng không dám… mà hình như…
Sao?
Hình như thằng Hà chết rồi.
Hà nào?
Hà con Tư Tấu.
Mẹ ơi…
Trường rọi đèn pin vào giỏ cần xé. Một giỏ thịt. Thịt bò. Nghĩa là tay nầy chở thịt bị va vô gốc cao su mà chết. Mà sao vậy ta? Thật khó hiểu… Trường gọi cho hình sự huyện. Bốn giờ sáng mọi sự được giải quyết êm xuôi. Cái xác đưa về nhà vĩnh biệt của bệnh viện cho pháp y xác định nguyên nhân cái chết. Tư Tấu và thằng con lớn tên Hải được triệu về công an xã để trả lời vài câu hỏi liên quan.
Ở quán cà phê, bà Tư Rừng bận nghe thời sự quanh vụ mất bò và cái chết bất đắc kì tử, đâu có thời gian mà nhằn ông chồng ham vui đi cả đêm không về. Một nhiều chuyện luận rằng:
Chắc chắc là mấy con ma lạc loài xô thằng Hà đòi mạng .
Ma cái đầu mày. Ma ra sao mày chỉ một con tao xem thử cái coi.
– Mày đúng là không trời đất thành thần gì ráo… Dòng họ thằng Hà tay vấy toàn máu, nay anh em nó cũng máu luôn, quả báo mày ơi. Nhất là cái nghiệp ăn trộm, không chết vì cái nầy cũng chết vì cái kia… Không tự nhiên mà nó đâm vô gốc cao su.
– Mày nói nghe không lọt tai, bộ mày hay tao hay tất cả mọi người ngồi đây không chết chắc? Còn chuyện nghề nghiệp, xứ mình giết con trâu con bò cho là ác, mày coi trên truyền hình, thấy trong lò mổ ở mấy nước châu âu họ giết lần cả trăm con bò, đâu có ai tin vô ba cái nhãn tiền này nọ. Tin như mày lấy đâu ra thịt bò đóng hộp mà ăn?
Vậy sao ở nhà không chết lại đâm đầu vô lô mà chết.
Chuyện lạc tay lái là thường thôi mày ơi.
Tư Rừng xen ngang:
Thôi yên đi hai ông thần nước mặn. Đợi đi, thằng Trường tới là biết liền.
Và Trường tới. Anh bảo rằng tội nghiệp Tư Tấu quá, nghe tin con chết ông ta rủ như tàu lá chuối khô. Khai sạch bách đầu đuôi chuyện con bò. Xã cho ổng và thằng Hải về lo hậu sự cho thằng Hà rồi tính tiếp:
Không sợ ổng trốn sao anh Trường?
Trốn đâu mậy?- Tư Rừng nạt – Cha con hĩa dấu con bò ở đâu mà thần tình vậy Trường?
Trong cống hộp.
Ủa, chớ sấp nhỏ kiếm ở trỏng rồi mà.
Đứng ngoài nghìn vô làm sao thấy chú Tư…
Hải và Tư Tấu đưa anh em dân phòng vào nơi dấu con bò. Đường cống hộp từ trong khu công nghiệp đổ ra lộ có mỗi cạnh cả hai mét. Cống phụ nối vô cống chính mỗi cạnh của nó cũng mét năm. Nước thải tuy đã qua xử lí nhưng vẫn đen ngòm, ba cái nước nầy toàn chất độc hại thải ra, đi kiểm tra mà anh em phải mang giày ống mới dám vào. Tư Tấu dấu trong đó rồi mười hai giờ đêm dẫn ra khúc sông sau chùa hạ thủ. Với tay nghề lão luyện, con bò được vào cần xé tống lên chợ thị xã. Hải và Tư Tấu ra thịt, Hà chở đi. Lúc Hà bị nạn thì Tấu và Hải đang ngồi nhậu bò tái chanh ở nhà…
Thằng Hà chạy xe có nghề lắm mà tai nạn thì…
Thì sao nói luôn đi ông nội.
Thì trời trả chớ sao?
Trả cái đầu mày… lại mê tín dị đoan.
– Thôi yên đi – Trường nói – Là thằng Hà chạy xe khi có rượu. Mấy ông nghĩ coi, cha con Tư Tấu xưa nay uống như hủ chìm, làm cái gì cũng có ba xi đế kề bên. Cái xe thằng Hà chạy không còn một giọt xăng, nhưng không phải hết vì ngã xe bị chảy…
Vậy là tui hiểu rồi.
Hiểu sao?
– Xe hết xăng khi đang chạy, ông con một tay giữ ga , một tay kéo e chạy cho hết xăng trong bình xăng con chớ gì?
– Mày nghĩ giống tao. Đã chạy đêm, cần xé cả tạ thịt, miệng đầy mùi hèm không làm chủ được tay lái lao vô gốc cây thì chết là phải quá.
Còn cái cần xé thịt tính làm sao?
Mọi người nhìn nhau. Dường như ai cũng tự hỏi “ Còn cái cần xé thịt tính làm sao?”

NGUYỄN TRÍ

TÌNH NHẠT

khatiemly

Người trói hồn ta trong mắt biếc,
Từ thơ rơi xuống bước chân đi,
Rót ngang bình rượu, sầu chưa cạn,
Rượu nhốt hồn ta trong đáy ly!

Em trói hồn ta bằng sợi tóc,
Bao đêm mờ ảo bóng liêu trai.
Thơ chan vào rượu màu u uất,
Tình thả theo từng chiếc lá bay!

Rượu đã cạn rồi, thơ cũng thẹn.
Ai mơn rồi mái tóc em xinh.
Để ta rượu uống đong nghìn chén,
Mà chẳng sao đong được chén tình!

Phượng đỏ chen mình trong nắng lửa,
Tình ta làm nặng cánh ve sầu.
Thơ ta chua xót đời giông bão,
Mái lá chao nghiêng, rượu cạn bầu!

Thôi đã tan rồi bao ước mơ,
Dù ai cười cợt với duyên hờ.
Cám ơn người những lời tha thiết,
Làm sống tình ta tuổi dại khờ!

KHA TIỆM LY

DƯỚI BÓNG TỬ UYÊN ƯƠNG

nguyenthikhanhminh

Buổi sáng loang dần
Trên nấc thang cao nhất
Mặt trời cười thoả mãn
Không còn len lỏi vào bóng những tàng lá đang đổ dài
Cũng không thể nhìn chúng ta qua những khoảng trống nhỏ cánh hoa tím
Những cặp hoaTử Uyên Ương
Đong đưa cợt tình cho đến khi nắng chỉ còn là những đốm
Lỗ chỗ. Im lặng. Trên thềm
Nơi chúng ta vừa đủ một vệt sáng cho ánh nhìn
Em thấy anh
Tiếng nói đậu mong manh
Trên miệng tách cà phê
Chúng ta nói về một mùa đông đang dần qua,
về một con bệnh còn ở lại,
về con gió thanh tân mùa xuân chưa tới
Em. Con chim nhại hót bằng tiếng rơi của nụ cười anh
Tiếng vang rất trong của chiếc thìa buông vội vàng trên mặt gương
Em không nghe tiếng nói nào nữa dưới bóng rợp những cánh lá
Ngày rớt xuống, im, bất ngờ như thể cơn mưa chợt tạnh
Thềm im lặng như những cánh hoa mắc cở vừa khép
Những chiếc lá nhỏ như mắt em, là anh đang nói khẽ
Bóng tối ấy sẽ không ngần ngại
Nói những điều bí mật
Và em sẽ không nhìn thấy anh
Chúng ta sẽ chẳng nhìn được nhau
Khi khoảng cách gần như thế
Kể cả màu của son môi cùng nỗi im lặng của em

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

LÀM VỢ NGƯỜI NỔI TIẾNG.

thuyvi

Tuần vừa rồi nước Mỹ nổ lớn 2 vụ dính tới tình dục của 2 nhân vật nổi tiếng, trước tiên là ông Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Domimique Strauss-Kahn – là một trong những người quyền lực nhất thế giới bị kết tội trong vụ xâm hại tình dục một nữ hầu phòng ở thành phố New York. Kế là cựu Thống đốc kiêm tài tử Arnold Schwarzenegger của California thú nhận đã có con riêng với một phụ nữ vốn giúp việc cho gia đình ông.
Sau sự việc xảy ra, bà Maria Shriver, vợ ông tài tử, lập tức bỏ căn nhà hai vợ chồng đang sống chung, ra ở riêng và đang mướn luật sư tiến hành thủ tục ly dị. Về phần bà Anne Sinclair, vợ ông Tổng giám đốc IMF (nay là cựu Tỗng giám đốc, vì vừa gởi thư xin từ chức), vội vã bay từ Paris sang New York để lo việc tranh tụng cho chồng với lời tuyên bố: “Tôi không tin những lời buộc tội chồng tôi xâm hại tình dục. Tôi chắc chắn sự trong sạch của ông ấy sẽ được chứng minh”. Câu binh vực của bà làm người ta nhớ lại tạp chí nổi tiếng Paris Match đã từng cho đăng bức ảnh hai ông bà đang đi dạo trong một công viên trên trang bìa với câu trích dẫn của Sinclair bên cạnh: “Để bảo vệ chồng mình, tôi sẵn sàng dùng cả nanh vuốt”.

Hai bản tin làm xôn xao dư luận và dường như làm người ta tạm quên chuyện súng đạn rào rào khắp vùng Ai Cập và Trung Đông đang diễn biến thật ác liệt và đầy bất ngờ.

Song song đó, người ta cũng cảm nhận sự đau khổ cùng cách hành xử của các bà vợ những người nổi tiếng không dễ chút nào. Các bà thật sự là những người đàn bà đầy bản lãnh trong cách ứng xử với vô số tai tiếng về tình dục của chồng. Như trong cuốn Living History, bà Hillary, vợ cựu Tổng thống Clinton, thú nhận: “Sở dĩ bà có thể đè nén được những bất mãn là do bà đang nuôi dưỡng một tham vọng tìm kiếm sự nghiệp độc lập và danh tiếng tách biệt với chồng. Bà không muốn những ầm ĩ thường tình của những nỗi ghen tương làm ảnh hưởng cản trở bước đường chạy đua vào Thượng nghị niện và Nhà Trắng trong tương lai.”

Tôi không phải là một chuyên gia tâm lý, nhưng là một phụ nữ, tôi thật tình cảm phục sự chịu đựng tột cùng trong sự phản bội của chồng cùng với vai kịch thỏa mãn hạnh phúc hết sức tài tình mà các bà phải đóng dù bất cứ lý do gì.

Cách hành xử tuyệt vời của một số qúy bà, khiến tôi chạnh nhớ lại cung cách của bà Hoàng hậu Nam Phương trong những tư liệu tôi gom lại trong một bài viết:
“… Càng ngày ông Vĩnh Thụy (tên tộc của vua Bảo Đại) càng sa đà trác táng thì bà Vĩnh Thụy càng im lặng nghiêm trang, có lẽ vì muốn giữ uy tín cho Hoàng tộc và cho cả con cái mình cho nên bà cứ cam chịu theo cái cách của người vợ có học và có nhân cách.
Vào năm 1950 bà Vĩnh Thụy quyết định mang các con sang Pháp, chấm dứt những liên hệ dây dưa với những tai tiếng của chồng. Trong những năm dài cuối đời, bà sống trong sự lẻ loi nhưng kiêu hãnh. Bà là một vị mệnh phụ uy nghi, đẹp trang trọng quý phái, nhưng trên hết, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, bà vẫn sống một cách đàng hoàng đúng bậc mẫu nghi của một bà hoàng hậu…” (ngưng trích (*)

Sáng nay, hãng tin Reuter lại tung ra một danh sách về qúy ông dính vào những bê bối với tựa đề “Quyền lực và Sex”, với lời kết luận: “Trong lịch sử không thiếu những trường hợp các nhà lãnh đạo đầy quyền lực dính líu đến các vụ ngoại tình hay quan hệ với gái điếm… Sự hớ hênh về tình dục đã làm suy yếu các chính phủ và chôn vùi nhiều sự nghiệp chính trị ở tân và cựu lục địa trong cả hôm nay và quá khứ”.

Tiếc thay quý ông được nâng lên, thăng hoa bởi Tình yêu, nhưng rớt xuống tận đáy bởi những bê bối tình dục thật không đáng.

thuyvi

(Hầm Nắng Michigan, 21-5-2011)

TÌM NHAU

dunga

Tôi về
Trong một ngày mưa
Mưa làm ướt mái nhà thờ xám trắng
Ướt cây thánh giá trên cao
Ướt cả kỷ niệm tôi
Ướt một màu tím ngát
Ướt dấu môi em
Trên bàn tay đánh mất

Mưa theo tiếng thánh ca nhà tập
Lăn theo con dốc dài
Còn đâu rập rờn bướm trắng
Áo người chập choạng tàn phai

Mưa nhòa ký ức giáng sinh
Nép bên mái hiên đường chật
Những ngón tay tìm nhau lật bật
Thoáng gần rồi lại xa

Tôi đi mãi những mùa nến tắt
Đếm mưa qua chiều mưa qua ngày lặng
Mưa này rồi mưa mai

Về trong một ngày mây
U ám
Tôi đứng trong chiều
Như là đứng tạm
Một chỗ không phải của mình
Cho đến lúc phải rời xa

DU NGÃ

HẠT BỤI

tranhodung

Xưa là hạt bụi
Chúa thổi hồn vào
Sống đời trần thế
Khóc cười trăm năm

Mai hồn đi mất
Thân xác nào còn
Trở về hạt bụi
Nỗi buồn đi quanh

Ta là hạt bụi ?
Hạt bụi là ta ?
Bụi
ngàn năm trước ?
Bụi
người hôm qua

Bụi bay vào mắt ?
Hay ta
Nỗi niềm ?

tranhodung (saigon-washington 2014.)

CHUYẾN TÀU TUỔI THƠ

nguyenthingoclan

Tôi luôn tự hào mình được sinh ra bên dòng sông Hương núi Ngự.

Mẹ kể lại rằng vào cuối mùa đông năm ấy.Mẹ được Ba đưa vào bệnh viện khi trời chưa sáng tỏ lắm. Ba tiếng sau, tôi đã o oe chào đời trong niềm vui của Ba, khi người hộ lý câm bước ra khỏi phòng sinh lúc Ba đang gật gù ngái ngủ vì phải thức dậy từ mờ sáng trong cái lạnh cắt da của xứ Huế mộng mơ. Bà ấy đã đánh thức Ba dậy lúc đang trong cơn mơ, thấy vợ mình sinh một cô công chúa đầu lòng. Và thật đúng như trong giấc mơ của Ba lúc đó, khi người hộ lý câm diễn tả bằng ngôn ngữ trên hai ngón tay trỏ và giữa vòng lại với nhau ý muốn nói là con gái. Một công chúa vừa ra đời và tên gọi đó được theo tôi cho đến hết năm đệ lục mới mất đi mà không hiểu vì sao.
Tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của Ba Mẹ. Nhất là Ba luôn cận kề chăm sóc tôi từng li từng tí.
Hằng ngày, mỗi ngày sau khi đi làm về Ba hay chở tôi trên chiếc xe Lambretta dạo quanh khắp phố phường. Tuy mới ba, bốn tuổi nhưng dường như tôi quen và nhận biết được tất cả các con đường ở Huế . Trừ những ngày mua gió còn không ngày nào không được Ba chở đi, nhà những người thân quen của Ba tôi cũng được đến vì Ba muốn khoe cô công chúa có đôi mắt to tròn của mình và lấy làm hạnh phúc lắm. Đó là những lời Mẹ kể lại cho tôi nghe sau này.
Khi lên sáu tuổi tôi chập chững với cặp vở đến trường. Nơi đặt bước chân vụng về đầu tiên là trường tiểu học Đoàn Thị Điểm ,Huế.
Mỗi sáng đi học như vậy tôi treo chiếc cặp vào phía trước xe, rồi đứng giữa hai chân Ba quay đầu lại ôm chặt người chở đến trường. Khi bóng tôi khuất vào lớp học Ba mới chịu cho xe chạy dến Đài phát thanh Huế làm việc.
Một lần đi học về tôi muốn được ngồi sau để biết được cảm giác, được nhìn ngắm cảnh vật chung quanh. Ba chìu ý và cho tôi ngồi sau ôm chặt ngang hông Ba chứ không đứng đằng trước quay đầu laị như mọi lần. Say mê nhìn cảnh vật lướt qua đôi mắt mình, những dòng xe cộ. những người ngồi trên xe máy hoặc xe đạp cứ đều đều trôi đi như cảnh quay trong phim mà có lần Ba đưa tôi đi xem. Lúc xe qua cầu Bạch Hổ, một cơn gió mạnh lùa đến làm tung chiếc mũ rộng vành màu hồng, thắt nơ xanh lên cao rồi rơi xuống dòng nước chảy dưới kia. Ba dừng xe lại định bước xuống nhặt chiếc mũ đang lững lờ trên dòng nước, nhưng vì quá xa không với đến được. Tôi nhìn theo chiếc mũ mà ngậm ngùi tiếc nuối và hờn dỗi Ba sao không bước xuống lấy để cho trôi mất đi. Tôi im lặng trên suốt quãng đường còn lại, về nhà tôi không ăn cơm mà ngồi khóc như muốn bắt đền Ba cái mũ. Hình ảnh ngày đó vẫn còn hiện rõ trong tâm trí cho đến tận bây giờ không hề phai, Ba đến bên tôi ôm chặt rồi lau những giọt nước mắt trên mặt dỗ dành:
-Con ăn cơm đi rồi cái mũ tự nhiên nó sẽ trôi về lại nhà mình cho coi. Sáng mai thức dậy con sẽ thấy nó nằm trên chiếc cặp đó. Tối nay Ba đi gọi nó về mà.
Tôi tin lời Ba và cầm chén cơm lên ăn ngon lành. Con bé sáu tuổi dại khờ như tôi luôn xem Ba mình như vị thánh có quyền năng làm bất cứ thứ gì cũng được. Tôi đi vào giấc ngủ có giấc mơ Ba đưa tay lên trời làm phép và chiếc mũ thắt nơ xanh từ từ bay về trước hiên nhà rồi nhẹ nhàng liệng quanh phòng, cuối cùng đáp xuống chiếc cặp của tôi đang đặt trên bàn học.
Sáng hôm sau thức dậy thật sớm, khi cả nhà còn đang ngủ say, tôi vội vã bước xuống giường chạy đến bên bàn học và mừng rỡ thấy chiếc mũ màu vàng nhạt, có những bông hoa nhỏ li ti màu xanh quanh mũ. Tôi sung sướng vô cùng vì Ba đã gọi về chiếc mũ đẹp quá. Lúc chuẩn bị đi học tôi hỏi Mẹ:
-Răng hắn trôi về được rứa Mẹ?
Mẹ đến bên cạnh sửa lạichiếc mũ cho ngay ngắn rồi nói:
-Cái mũ ni hắn lì quá gọi hoài không chịu về. Ba đánh một trận xong tắm rửa cho hắn nên chừ mới đẹp rứa đó. Con có thích không?
-Rứa mà con tưởng hắn tự trôi về nhà mình…??
Mẹ nhéo nhẹ má tôi:
Ba con đi tìm hắn cả đêm đó. Trốn trong bụi cây không chịu ra.
-Răng Ba không kêu hắn lên cho bánh?
-Ba quên đem theo. Phải lội xuống nước xách lỗ tai hắn kéo về đó con.
Tôi nhìn Mẹ mỉm cười tỏ ra vui mừng lắm. Buổi sáng hôm đó trời dịu mát nên Ba chở tôi chầm chậm đến trường, con đường hôm nay sao mà ngắn quá. Tôi muốn Ba chạy xe thật lâu để nghe tiếng gió vi vu qua vành mũ mới, nhưng rồi cũng phải bước xuống xe để vào lớp học. Trưa hôm đó về nhà tôi không ngủ như thường lệ, mà cứ nằm nhìn chiếc mũ xinh xắn đang treo ở góc phòng, mong cho đến giờ đi học để được sung sướng đội nó lên đầu.

Thời gian trôi qua nhanh nhưng trong ký ức tôi, chiếc mũ đầu tiên ấy mãi mãi xinh đẹp hơn tất cả những nón mũ sau này đội trên đầu mình. Cho đến bây giờ màu sắc của nó tôi vẫn còn nhớ mãi, cùng với những kỷ niệm yêu thương một thời thơ ấu Ba Mẹ dành cho tôi mà tiếc nuối một tuổi thơ êm đềm.
Sau này có những lúc làm ăn xa trở về thăm nhà, nhìn hai đứa cháu nội được Mẹ nó sửa soạn cặp vở mũ nón chuẩn bị đi học, tôi lại nhớ đến ngày thơ ấu ấy, nhớ cái cảm giác mình hạnh phúc trong vòng tay Mẹ. Cái cảm giác dịu dàng của bàn tay Mẹ mơn man trên má mình mỗi sớm mai thức dậy đi học. Nhớ vòng tay Ba ôm chặt khi bước ra khỏi cổng trường. Nhớ thời gian đầu đời bước chân vào lớp học, nhẹ nhàng cởi chiếc mũ rộng vành treo lên chiếc đinh đóng sẵn trên tường.

Ngôi trường đầu tiên tôi học chỉ được một năm. Khi lên lớp tư, cả gia đình theo Ba vào Vũng Tàu làm việc. Cuộc sống cả nhà bềnh bồng như vậy mỗi lần Ba chuyển đơn vị công tác. Cho đến năm tôi học lớp nhì, cả gia đình tám người lại lênh đênh trên chiếc thuyền lãng tử là Ba trôi dạt về Dục Mỹ, vùng đất huyền thoại của nhiều người tứ xứ đổ về đây. Có những người chọn nơi đây là bến đậu cuối cùng của mình, mang theo cả gia đình đến bây giờ không rời xa. Họ bám víu vào mảnh đất tưởng khô cằn nhưng nhiều màu mỡ ấy như một vùng đất thiêng. Cho đến nay nhiều gia đình sống qua ba thế hệ rồi và thế hệ thứ tư đang hình thành. Gia đình tôi là một ví dụ.
Ngày mới chuyển đến Dục Mỹ, cái nóng hun người thiêu đốt tôi trong thời gian dài mới thích nghi được. Ba mua căn nhà cũ nằm sâu trong con đường đất bên cạnh Trại gia binh Pháo Binh. Căn nhà lợp tranh nhưng cũng khá rộng đủ để cả gia đình sinh sống, có cả khoảng sân trước nhà cho anh em chúng tôi chạy nhảy.
Về Dục Mỹ khi tôi chưa được mười tuổi, nhưng đi học phải lội bộ gần cây số ngược ra quốc lộ rồi băng qua bên kia đường mới đến trường. Ngôi trường ấy có tên Nguyễn Thành Nguyên. Đó là năm 1966. Con đường đất nhỏ đầy đá lởm chởm ấy, hai bên là những mái nhà tranh và trước những căn nhà thường có khoảng sân rộng, người ta trồng vài ba khóm mì, vườn rau nho nhỏ và chăn nuôi gà vịt làm cho đoạn đường đến trường của tôi vui nhộn, sôi động hẳn lên nhờ những âm thanh phát ra từ những con vật ấy. Qua khỏi dãy nhà là bệnh xá Lai Thiện Căng. Nơi đây những đứa em sau này của tôi được sinh ra.
Tôi đi bộ đến trường cùng con bé Phương Hà nhà bên cạnh, nó học thua tôi một lớp nhưng chơi với nhau rất thân. Mỗi buổi chiều về hai đứa tôi thường lang thang trên đoạn đường ngắn nhưng nhiều cây cỏ để bắt bướm và chuồn chuồn. Một sự đam mê thích thú rất trẻ con ngày ấy, nhất là những bé gái như chúng tôi. Phương Hà nhỏ hơn nên thường bị giao giữ cặp sách, còn tôi được quyền đuổi bắt khi phát hiện ra chú bướm hay chuồn chuồn. Hình ảnh khuôn mặt trẻ thơ của tôi và Phương Hà ngày ấy đến bây giờ tôi vẫn còn ghi nhớ rất rõ. Khi bàn tay run run của tôi nhẹ nhàng đưa gần đến cái đuôi của con chuồn chuồn hay chạm đến đôi cánh đang nhấp nhô của chú bướm, miệng Hà mở rộng, hồi hộp căng mắt ra nhìn. Những lúc như vậy môi tôi mím chặt lại, tim như ngừng thở sợ tiếng động chú chuồn chuồn sẽ bay mất.Lúc hai ngón tay kẹp chặt cái đuôi chuồn chuồn hay đôi cánh bướm là nghe tiếng reo cùng tiếng vỗ tay của Hà, đó cũng là lúc tôi nở nụ cười sung sướng khi cái cảm giác được chinh phục “đối thủ” nhỏ bé kia. Chao ôi! Cái cảm giác được chạm vào, rồi kẹp chặt cái đuôi hay đôi cánh ấy sao mà nó lâng lâng, hạnh phúc quá. Cái hạnh phúc không diễn tả nên lời ấy với tôi nó thật thiêng liêng khi ngón tay mình vừa chạm khẽ và nó không kịp vụt bay đi. Một cảm giác khó quên nhất trong đời cô bé lên mười tuổi như tôi lúc đó. Trông thấy Hà không được cái cảm xúc ấy tôi thấy tội nên hay an ủi Hà:
-Mi giữ cặp để tau bắt rồi về cho mi con đẹp nhất. Con chuồn Ớt nghe!
Tôi nói vậy cho con Hà tươi lên một chút chứ trông nó tội nghiệp vì thân phận đàn em lo giữ cặp. Tôi hí hửng trên tay giữ con vật bé nhỏ cũng không được lâu, vì khi về đến nhà, thấp thoáng thấy bóng tôi là Mẹ đã biết thế nào tôi cũng la cà để bắt bướm nên chạy ra nói:
-Thôi con. Thả cho nó bay đi rồi vào rửa tay. Đừng bắt hắn, ác lắm.
Khuôn mặt con Hà buồn thiu, còn tôi nghe Mẹ nói đã hoảng hồn tung con vật lên trời rồi quay sang an ủi con Hà:
-Đừng buồn nghe mi. Chiều mai nhứt định dành cho mi con chuồn chuồn Ớt.
Vậy là chiều nào cũng lập đi lập lại như thế.

Trên đường dẫn tới trường tôi phải băng qua một căn nhà có nuôi hai con ngỗng to tướng. Tôi diễn tả to tướng vì khi nó vươn cái cổ dài ngoằng ra có lẽ còn cao hơn tôi. Con vật trông hiền lành vậy mà lúc đó sao tôi ghét nó vô hậu. Toàn thân phủ một màu trắng trông giống như mấy người mặt đồ tang, kinh lắm nên lúc nào tôi cũng cần phải cảnh giác. Không còn nhớ rõ trên đầu nó có cái mồng màu vàng hay đỏ tía nữa , bởi vì nó là mụ phù thủy đáng sợ nhất trên đời, đâu dám nhìn cho kỹ để được nhớ đến bây giờ.
Một lần đi học về tôi và con Hà đang say sưa nhìn cảnh vật thơ mộng trên con đường đất, với những đóa hoa dâm bụt bên hàng rào nhà ai đó, đang vươn những cánh đỏ thắm ra ngoài đường, nó như thách thức tôi phải chinh phục cho bằng được. Tôi nói với Hà:
-Mi đứng canh để tau hái cành hoa ni cho hai đứa mình nghe.
Vậy là con Hà mắt dáo dác ngó xuôi ngó ngược, quan sát có ai đi đến gần không, còn tôi nhón chân lên bờ rào với tay định ngắt cành hoa đó. Với tay hai ba lần mà chưa chạm được cuống hoa để ngắt, tôi bực mình nói với Hà:
-Hắn cao quá Hà ơi!
Con Hà bày tôi:
-Mi tìm cái cây rồi khoèo hắn.
Nghe nó nói vậy tôi vội chạy đi tìm nhánh cây dài, rồi vạch chùm lá ra khoèo cho bắng được. Vừa rướn người, vừa mở to mắt nhìn vào cái hoa dâm bụt, bỗng đâu một cái mỏ màu vàng thò ra ngoài từ bên trong hàng rào, phía dưới chân tôi. Rồi tiếp theo là cái cổ màu trắng , dài ngoằng của mụ “phù thủy ngỗng” vươn tới cạp vào chiếc váy. Tôi hoảng hồn vất nhánh cây, ba chân bốn cẳng chạy một mạch, băng qua cửa ngõ căn nhà đó, tưởng như vậy là đã thoát thân được rồi ai ngờ đến khi quay đầu nhìn lại, giật mình khóc thét lên bởi cái con phù thủy nó đang rượt thheo tôi cho bằng đươc. Hai cánh nó xòe ra như cánh máy bay, còn cái cổ vươn dài cứ thế chạy theo, cố cạp vào cái vạt áo đầm của tôi. Còn đầu kia con Hà mặt xanh như tàu lá đang đứng run cầm cập, miệng ngậm chặt, cặp sách văng tung tóe dưới chân. Tôi định thần lại rồi cắm đầu tiếp tục chạy một hơi về nhà, trong lòng vẫn còn sợ hãi, miệng mếu máo khóc hu hu. Mẹ trông thấy vậy hỏi:
-Răng mà con khóc, đứa mô chọc phải không?
Tôi trả lời, vẫn còn run:
-Con ngỗng rượt con chạy. Hắn giữ cặp của con rồi.
Mẹ nghe nói vậy hiểu ra chuyện nên cười:
-Tại con không lo về mà còn mãi mê bắt bướm làm chi. Nó thấy vậy nên giục con về nhanh đó thôi.
Nói xong Mẹ chạy đi tìm cặp cho tôi và dẫn con Hà về tận nhà nó.
Từ đó mỗi lần ngang qua nơi có hai bà “phù thủy ngỗng” đang thơ thẩn trong sân là tôi nín thở, một hai ba chạy ào qua thật nhanh, không dám quay đầu nhìn lại.

Gần một tháng nữa là kết thúc năm học. Một buổi chiều đi học về trông thấy hai chiếc xe chạy vào đổ xuống một đống đá thật to. Có lẽ nhà ai đó chuẩn bị làm nên mới đổ loại đá này trong khu đất trống.Tôi không quan tâm lắm đến đống đá này, vì mắt đang chăm chăm nhìn vào cái đuôi màu đỏ thắm của con chuồn chuồn ớt đang đậu trên một bụi cây gần đống đá đó. Nín thở vươn tay ra định bắt thì có tiếng đứa con trai hét lên:
-Ê! Xí mê. Không được bắt.
Con chuồn chuồn nghe tiếng động, bay vút lên cao. Tôi quay ngoắt lại nhìn nơi phát ra tiếng hét thì thấy một cục thịt vừa to vừa tròn đang “lăn” từ từ đến chỗ tôi. Nó nói;
-Mày ở đâu lạ hoắc, tới đây bắt mấy con chuồn chuồn với bươm bướm của tau nuôi?
Tôi nhìn khuôn mặt mập ú của nó mà phát khiếp nhưng cũng không chịu thua:
-Mi nói chi lạ rứa? Chuồn chuồn nó bay trên trời chứ phải của chi mi?
-Mi mi cái chi. Mi…bà li xi.Tao nói tao nuôi là tao nuôi. Mi muốn cái chi?
Thằng mập này lếu láo quá. Nó dám giả cả giọng Huế của tôi nữa chứ, tức điên luôn, nhưng nhìn thân thể đồ sộ với đôi mắt như hai lằn ngang trên khuôn mặt và cái miệng to như cái chén tôi cũng hơi ngán nên nhỏ nhẹ:
-Thì mi cho tau bắt mấy con thôi.Làm chi mà dữ rứa?
-Không được là không được. Mi hiểu chưa?
Tôi năn nỉ:
-Mi con trai đâu có chơi chuồn chuồn. Thôi cho tau bắt đi.
-Không được! Nó nói như hét vào tai tôi.
-Đồ ác! Tôi lẩm bẩm.
Hình như thằng mặp bị lãng tai hay sao mà nó la lên:
-Á..á…Mi nói ai lác. Muốn cái miệng mi lác không?
Tôi nghe nói cười tủm tỉm:
-Tau không nói rứa.Nói mi ác như quỷ.
Hai lằn ngang trên khuôn mặt hắn biến mất mà lại xuất hiện hai con mắt cọp:
-Mụ nội mi. Về Huế mà bắt.
Nó giả giọng Huế như thật.
Lúc này tôi tức lắm nhưng không thể làm gì được hắn. Nhìn nó rồi lại nhìn chung quanh xem có ai đi ngang qua không. Thoáng thấy bóng áo lính từ xa, tôi ỷ lại có người lớn nên lấy hết sức hét:
-Đồ ba nhe. Mập…xịt!
Thằng mập bất ngờ vì bị tôi táng cho một câu xúc phạm nặng nề đến cái thân hình của nó nên định rượt tôi chạy. Thấy có chạy cũng không thoát được nó nên tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ không nhúc nhích, mặt vênh lên, hai tay chống nạnh…thủ thế. Nó hơi khựng lại, đưa nắm tay lên dọa:
-Mi nói lần nữa coi?
Tôi bĩu môi:
-Nói rồi đó, ngu răng nói nữa?
-Mi tưởng Huế ngon lắm hả?
-Răng không …ngon.
Nó tức tối bước đến gần đưa nắm đấm ngay miệng tôi:
Liệu hồn mi nghe con …Huế.
Nét mặt nó bây giờ trông thật dữ tợn, đỏ gay. Hai môi cong lên như bà cọp muốn nhào vô ăn thịt nên tôi không dám nhìn vào khuôn mặt úc núc đó nữa ,nhưng vẫn tức:
-Con trai mà ăn hiếp con gái..
– Con gái chi cái mặt mi?
Nước mắt tôi bắt đầu rơm rớm nhưng nhất định không thể khóc trước cục thịt này, tôi lí nhí nhưng lại sợ hắn nghe:
-Thằng hột vịt.
Chắc chắn nó bị điếc nghe không rõ nên vặn lại;
-Mày nói ai thằng mặt …ịt?
Lúc này tôi không còn muốn khóc nữa mà lại buồn cười nên nhếch môi. Nó thấy vậy giả giọng Huế hỏi tiếp:
-Mi cười cái chi con vịt trời Huế kia?
-Cười chi kệ tau.
-Cái miệng như…cá sấu.
Tôi tức điên vì hắn nói miệng cá sấu, tôi suy nghĩ tìm cách trả thù:
-Còn hơn miệng…
Nó dí nắm đấm sát miệng tôi hơn, gằn giọng:
-Nói …đi
Tôi hất tay nó ra:
-Đàn ông mà ăn hiếp đàn bà.
Thằng mập nghe tôi nói vậy, ôm bụng cười ha hả:
-Ngu…dễ sợ. Con nít mà nói đàn bà. Ha…ha!
Trong lúc nó đang gập người ôm cái bụng mỡ cười sung sướng, tôi loi vô cánh tay của nó rồi vùng chạy:
-Đồ mập…xịt!
Chạy biến một hơi về nhà.
Vậy là tôi và thằng mập coi như tuyên chiến với nhau từ đó.

Kết thúc năm học, tôi đạt danh hiệu học sinh giỏi nên được phần thưởng. Gần những ngày cuối cùng lúc nào cũng hồi hộp trông ngóng cho mau đến bế giảng để được ôm phần thưởng về nhà. Thầy Điển, người phụ trách lớp học của tôi kêu gọi các bạn trong lớp tập hát để lên trình diễn văn nghệ trong ngày đó. Tôi về nhà nói với Mẹ:
-Mẹ, Thầy bắt con phải hát một bài mới được nhận phần thưởng mà con không biết hát bài chi hết.
-Mẹ có biết hát mô mà bày cho con.
Vừa thời điểm đó Dì út tôi từ Đà nẵng vào thăm, giúp Mẹ trông coi em bé vừa mới sinh, thường hay hát ru em bài ‘Ai ra xứ Huế”, vậy là Mẹ nói Dì tập cho tôi bài hát này. Tôi hỏi Dì:
-Răng mà Dì hát nghe buồn rứa?
Dì út tôi có lẽ buồn thật;
-Tại Dì có tâm sự không được vui chứ chi mà con hỏi.
-Tâm sự là răng Dì ?
-Thì tâm sự là tâm sự chứ răng mi hỏi cắc cớ quá. Thôi mi còn nhỏ biết làm chi.
Dì tập cho tôi bài hát đó rất hay nhưng còn tâm sự là chi thì đến mấy năm sau, khi tôi bắt đầu có những nỗi buồn vu vơ đầu đời mới hiểu được câu nói của Dì út.
Ngày làm lễ cuối năm, trước khi nhận phần thưởng tôi lên hát bài “Ai ra xứ Huế” không ngờ được giải nhất toàn trường. Cả nhà hãnh diện vì tôi lắm. Nhất là Ba, hôm đó Ba xin nghỉ làm việc đến dự ngồi hàng ghế đầu để trông thật rõ cô con gái yêu của mình lên nhận phần thưởng và hát. Khi tôi chưa kịp bước xuồng sân khấu, Ba đã chạy lên ôm chặt lấy tôi rồi hôn lên mặt. Tôi nghe có dòng nước ấm chảy xuống má.

Không ngờ hôm bế giảng trường tôi cũng có thằng mập lảng vảng ngoài cổng trường và đã nghe tôi hát, Từ đó mỗi lần gặp nhau là nó giả giọng Huế:
-Ai ra xứ Huế thì…vô. Ai về là về xứ …ẹ.
Nó cố tình nhại tiếng Huề ra đủ cách để trả thù tôi cái tội đã gọi nó là thằng mập xịt. Tôi cũng không vừa:
-Ai vô…xứ…ú…ù…u Ai về…lạ…là..Mập xịt
Nó nắm tay nhứ nhứ:
-Cầu Tiền …hiền…sáu vài …mười ..lăm,,, Mệ…
-Mệ ..là mệ..cô…mi…
Nói đến đó tôi ba chân bốn cẳng vọt chạy mau, dằng sau tiếng xình xịch trên nền đất như xe lửa rời ga trong những ngày tôi còn ở Huế.

Ba tháng hè tôi chỉ quanh quẩn trong căn nhà tranh, lúc này Mẹ nuôi thêm đàn gà vừa nở ra hai mươi mốt chú gà con đẹp như thiên thần có cánh. Mỗi sáng thức dậy tôi lấy gạo rải tứ tung quanh sân cho đàn gà ăn. Mẹ nói tôi phải lo chăm sóc đàn gà khi nào lớn đẻ trứng sẽ cho một quả để chơi. Tôi biết Mẹ nói cho vui chứ trứng gà mà chơi sao được. Vậy mà sau ba tháng ở nhà đàn gà bây giờ đã lớn, có đủ lông cánh bay nhảy khắp nơi, không có chỗ nào thiếu mặt chúng khiến tôi phải quét dọn suốt ngày.

Năm học mới bắt đầu khai giảng. Tôi bây giờ là cô nữ sinh đàn chị trong trường, xách cái cặp to hơn năm trước, mỗi lần bước vào cổng trường là liếc ngang liếc dọc trông oai lắm .
Lâu không gặp lại thằng Mập cũng buồn vì không có ai để mình chọc tức. Tôi cứ tưởng nó học hơn tôi vài lớp nhưng sau khi nhập học trở lại mới phát hiện ra nó cũng chỉ như tôi thôi , bằng lớp nhưng khác trường. Nó học Bồ Đề còn tôi Nguyễn Thành Nguyên. Vậy là từ nay cũng chẳng có chi phải sợ sệt nó, kẻ thù không đội trời chung với tôi suốt một năm qua.
Tôi thiệt thòi hon vì phải đi học ngang qua nhà nó, đó là điều bất lợi nhất nhưng vì luôn luôn cảnh giác nên chưa bị ăn đòn của nó từ lúc lên lớp Nhất. Thường thì tôi về nhà rồi nó mới bước vào cổng nên không việc gì phải sợ. Mà việc gì phải sợ nó chứ, tôi nghí thầm như vậy. Nó cũng biết sợ tôi chọc quê nên không dám gọi tôi là con Huế nữa.
Vào một buổi chiều chủ nhật, Mẹ cho tôi theo Dì út đi giặt ở suối. Đang ngồi vọc nước, nhìn nước chảy thì giật mình vì một hòn đá to quăng xuống ngay trước mặt tôi làm nước văng tung tóe. Quay đầu nhìn lên bờ, tôi giận run người vì thằng mập đang đứng chống nạnh nhìn xuống cười hì hì, khuôn mặt của nó rung rinh hai cục thịt, trông tức điên mà chưa biết phải làm gì. Tôi đứng dậy hai tay chống nạnh nghênh chiến:
-Ê, mi có giỏi xuống đây. Tau…tau nhận nước mi chừ.
Ỷ lại có Dì Út mới dám nói vậy chứ thật ra tôi run bắt chết, tức quá không biết làm sao nói đại chứ lúc đó mà nó xuống thật, có lẽ tôi co giò, ba chân bốn cẳng mà chạy cho thoát chứ không thôi bị nó nhận nước chết. May mà cái thằng to xác nhưng nhát gan. Tôi đoán vậy nên thách thức tiếp:
-Mi dám xuống không?
-Xuống cho miệng con cá sấu táp một cái, ăn thịt hả?
-X..í..í. Ai thèm ăn thịt mỡ mi.
-Liệu hồn, tau “luộc” xương mi chừ.
-Có giỏi xuống đây “luộc”. Tau nướng mi chảy mỡ. Mập…xịt.
-Còn hơn mi ốm nhom, ốm nhách như …gà dịch. Đồ con “chàng hiu”.
-Gà dịch nấu cháo cho mi ăn hí?
-Đồ phù thủy Huế trời đánh trật búa.
Dì Út đang giặt đồ nghe nó nói như vậy tức lắm. Lặng lẽ
đứng dậy leo lên bờ rồi đi vòng ra sau lưng, bất ngờ cầm lỗ tai nó vặn ngược ra sau, kéo xuống suối:
-Chừ mi nói đi. Ai phù thủy Huế. Ai trời đánh trật búa?
Trông cái mặt thảm thương của nó mà buồn cười . Tôi cười thật to. Dì tôi xách lỗ tai, nó đau quá cái miệng méo qua một bên, ngược với cái lỗ tai bị Dì nắm chặt. Nhìn mặt nó nhăn nhó tôi sướng lắm nhưng cũng không hết tức, vừa ngó vô mặt hắn, vừa đi ra sau lưng rồi lấy hết sức đá vô mông kêu cái bốp, không biết nó có đau không chứ bàn chân tôi muốn tóe lửa, đỏ hoe đau muốn khóc mấy ngày sau còn đi cà nhắc đến trường.
Dì Út xách lỗ tai xoay tròn quanh nó. Càng xoay, mặt nó càng nhăn, mắt trái nhắm tít, miệng méo về bên phải. Tôi thấy cũng tội nên can:
-Thôi rứa được rồi Dì. Tha cho nó.
Dì nghiến răng, bặm môi:
-Huế nì…Huế nì…Mi chừa chưa?
-Chừa…
-Mi nói rứa hả? Nói lại như ri: “Dạ thưa… chị.. Huế..em chừa rồi.
Nó hét lên:
-Không
Dì Út vặn lỗ tai tiếp:
-Nói không?
-Thì..thả ra rồi nói.
Dì tôi thả tay ra:
-Mi nhớ đó nghe! Liệu chừng hồn mà chọc.
Thằng mập vừa thấy Dì lơi tay đã tuôn chạy lên bờ, đứng nói vọng xuống:
– Huế… mắc dịch. Đồ bà chằn Huế.
Nói rồi sợ Dì tôi đuổi theo nên cắm đầu tuôn chạy một mạch đến nổi không trông thấy một bà đang bưng thau áo quần xuống suối. Cú va chạm đó làm cả hai người té lăn cù. Nó lóp ngóp ngồi dậy bị ăn nguyên cái thau vô lưng. Người phụ nữ định cho thêm một đá nữa, nó đưa tay lên đỡ rồi tuôn chạy mất hút. Tôi và Dì Út nhìn ôm bụng cười nghiêng ngả.

Khi học gần hết năm lớp nhất Ba tôi mua được ngôi nhà cũ ngay đường quốc lộ và sửa chữa lại. Vậy là nhà tôi chuẩn bị dời ra ngoài. Ngày dọn nhà tôi lo sắp xếp lại đồ đạc của mình cho gọn để chuyển đi. Đang loay hoay bỏ đồ chơi vào thùng giấy thì con Hà đến ngồi bên tôi rươm rướm nước mắt trông tội nghiệp. Cả dãy nhà bên trong này nó chỉ có tôi là bạn thân thiết với nhau vậy mà bây giờ tôi chuyển đi chỗ khác nên trông nó rất buồn . Hà chạy đến ngồi bên cạnh tôi, chẳng nói được lời nào. Tôi nhìn nó rồi hai đứa cùng khóc, cầm bàn tay của nó thật chân thành:
-Lan ra ngoài kia ở khi mô Hà muốn tới chơi thì tới nghe.
Hà quệt nước mắt gật đầu. Vậy mà chưa một lần nó bước đến nhà tôi và từ đó gần như không còn được gặp nó nữa mà cũng chẳng hiểu vì sao. Sau này lên đệ nhất cấp cũng không thấy nó đi trên xe chở học sinh để đến trường. Tôi mất người bạn thân yêu đầu tiên trong đời.

Ba nộp đơn cho tôi thi vào lớp đệ thất trường Trần bình Trọng. Đó là năm Mậu Thân 1968. Ngày treo bảng tôi không đi mà Ba chạy xe xuống trường để coi. Trước khi đi Ba dặn nếu tí nữa về thấy chạy xe thẳng vô nhà là rớt, còn nếu Ba bóp còi từ ngoài cổng là đậu. Cả nhà quên cả ăn trưa ngồi chờ tin Ba mang về, ai cũng lộ vẻ căng thẳng. Nhất là tôi, hôm thi dù làm hết ba môn nhưng tôi cũng không tin tưởng nhiều lắm. Mọi người không ai nói chuyện với nhau vì mãi đợi chờ trong lo lắng thì ngoài cổng có tiếng còi của xe máy vang lên liên tục. Cả nhà chạy ra mừng rỡ vì đó là tiếng còi báo tin vui.

Một tháng sau tôi trở thành cô nữ sinh trung học duyên dáng trong chiếc áo đầm trắng leo lên xe Ba chở xuống trường nhập học. Nhưng những ngày sau đó và về sau này tôi theo xe chở học sinh đến trường chứ Ba không còn chở nữa.
Thằng Mập không may mắn vào được trường công như tôi nên qua trường Bán công hay trường Tư thục Đức Linh tôi không rõ lắm. Chỉ biết nó hay đi xe chở học sinh của Biệt động Quân, còn tôi đi xe Lam Sơn nên không bao giờ đụng độ nhau trên xe. Tôi thường hay xuống cổng Nhà Thờ và đi bộ về nhà.
Trong một lần đi bộ như vậy bất ngờ phát hiện thằng Mập lẽo đẽo sau lưng khiến tôi hoảng hồn bước nhanh như chạy. Tôi càng cố gắng tránh xa nó ra càng nghe bước chân nó to và gần hơn. Tức quá, tôi đứng ngay lại và nhìn vào mặt thằng mập đáng ghét:
-Làm chi mà chạy theo tui ? Không sợ hả?
Hắn im lặng nhe răng cười hì hì trông mà ghét quá:
-Mi mà đi theo tau nữa tau gọi Dì Út ra xách lỗ tai mi chừ!
Thằng Mập có lẽ còn nhớ bài học dưới suối , nhớ Dì Út tôi là ai nên hơi khựng lại:
-Tui đi ngoài đường kệ tui.
-Rứa thì đi đi. Mắc chi cứ đi sau lưng họ?
-Con gái dô diên. Tao đi học về chớ theo gì mày? Làm như đẹp lắm …Hứ!
-Ai nói đẹp xấu.
-Xí, cái mặt hách hách.
Nghe hắn nói như vậy tôi chịu thua quay mặt bước đi tiếp vào nhà. Tưởng như vậy từ nay sẽ yên chuyện nhưng không ngờ trong lòng nó vẫn còn hận tôi lắm, tìm mọi cách phục thù lại cái chuyện hắn bị nhéo tai dưới suối.

Gần đến tết, Dục Mỹ trời mưa lâm thâm suốt ngày. Trời lạnh buốt nên tôi phải mặc áo ấm kín người. Con đường một đoạn ngắn nhưng tôi phải nhảy qua, nhảy lại để tránh những vũng nước còn đọng trên đường không biết bao nhiêu lần, mới về được đến nhà.
Hôm đó thằng mập không đi học buổi chiều mà ở nhà canh tôi về ngay trước cổng chùa. Khi ngang qua đó tôi phát hiện bên kia đường, nó đang ngồi trên chiếc xe đạp nhìn tôi, mặt kênh kênh, nghĩ có lẽ thằng này đang toan tính chuyện gì đây nên cảnh giác, vừa đi vừa liếc ra phía sau lưng mình xem có nó hay không. Còn cách nhà khoảng trăm mét, một vũng nước mưa lớn bên lề đường nên tôi định bước qua tránh thì nghe xoẹt một tiếng. Nước bùn đặc quánh văng lên ướt khắp người, chiếc áo ấm màu trắng như được nhuộm màu nâu sền sệt. Thằng mập vụt qua rồi quay lại hỉnh mũi, nhìn tôi cười sung sướng. Vậy là cuộc chiến giữa tôi với nó chưa đến hồi kết thúc mà căng thẳng , trầm trọng thêm.
Gọi là chiến tranh đang leo thang, như người ta thường nói trên đài phát thanh lúc đó, cuộc chiến giữa Mập và Ốm.

Tôi suy nghĩ mất mấy ngày vẫn không tìm ra được cách trả thù, thì một hôm đang ngồi trong nhà nhìn thấy nó đi học về ngang qua trước cổng, vào buổi chiều thứ sáu hằng tuần. Tôi nảy ra ý nghĩ sẽ cho nó một bài học nhớ đời.
Ngày thứ năm tuần sau đi học về tôi chuẩn bị đạn dược là những trái mận thối rơi từ trên cây xuống. Nhặt mấy trái mận đem vào nhà rồi khoét một lỗ nhỏ, đổ thuốc đỏ vào trong, bịt lại cũng bằng thịt trái mận, xong đem ra sát cửa quán đứng núp chờ thằng mập. Tôi kéo cái ghế ngồi bắt chéo chân lại nở nụ cười sung sướng, nhìn cái kho đạn dược tôi đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trước mặt, rồi nghĩ đến khuôn mặt mập ú của nó tái xanh, nhìn vạt áo vừa trắng vừa đỏ vì dính đạn của mình.
-Mập ơi! Đời mi tàn rồi.

Tôi nghĩ thầm vậy rồi cười một mình
Chờ hoài cho đến khi những bóng áo trắng không còn trên đường nữa, nhưng vẫn không thấy nó đi ngang qua nhà mình nên lấy làm lạ, tự hỏi không lẽ thằng này ma quỷ hay sao mà biết được tôi đang phục kích rồi đi tránh đường khác.
Hôm sau đi học về tôi chạy thật nhanh vô nhà, rồi đem thùng đạn của mình ra ngồi canh tiếp. Xe học sinh Biệt động quân chạy qua rồi nhưng vẫn không thấy thằng mập xuất hiện, tôi rất ngạc nhiên. Rồi hôm sau, hôm sau nữa.
Tiếp một tuần nữa qua đi, tuần sau nữa cũng vậy, không thấy nó đi học tự nhiên như thiếu thiếu một điều gì đó thân quen mà mỗi ngày mình luôn phải đối diện. Một cảm giác mất mát trong tôi không lý giải được vì sao và nhận ra cái buồn buồn trẻ con, mất đi người bạn thật gần gũi mà lâu nay xem nó như kẻ thù với mình.
Buồn như mất mát một cái gì thật quý giá, Như cái mũ bay xuống sông buổi chiều hôm ấy. Nhưng cái mũ Ba tôi đã tìm lại được, còn thằng mập nó “ trôi” luôn giữa dòng sông mù mịt cuộc đời.
Hình bóng to to tròn tròn, lừ lừ tiến về phía tôi sao mà thân thương, quý mến đến như vậy. Tôi vụt mất nó rồi. Những chiều hôm sau đó tôi nghẹn ngào rơi nước mắt cho một tình bạn thân thương nhưng chưa nhận diện được.

Mập đi luôn từ đó. Có lẽ Ba nó đã chuyển về đơn vị khác, không còn ở Dục mỹ nữa.
Mập đã đi vào kỷ niệm đẹp thời thơ ấu của tôi. Nó là một phần tuổi thơ thân yêu tôi mang theo suốt cuộc đời mình. Hình ảnh kẻ thù không đội trời chung với tôi ngày đó không bao giờ phai nhạt mà sau này lớn lên, để rồi vượt qua phong ba bão táp, mập luôn là hình ảnh thân thương của tôi. Ứơc gì tôi gặp lại “thằng Mập” ngày xưa đó một lần để nói với “nó” rằng, tôi yêu quý nó vô cùng như chính tuổi thơ dại khờ của tôi.
Nếu như trên đời này có sự tình cờ dễ thương cho tôi dược gặp lại “Mâp” một lần nữa, lời đầu tiên gởi đến là hỏi Mập tên gì và lời xin lỗi đã làm cho Mập buồn ngày ấy. Và biết đâu mập đọc được những giòng này lại không giận mà vui mừng rồi tìm gặp nhà văn Nguyễn nhật Ánh, xin một vé đáp chuyến tàu quay về tuổi thơ của mình. Chắc chắn vây, phải không Mập?
Người bạn, kẻ thù thứ hai tôi mất trong đời.

Nhà tôi sau khi chuyển ra ngoài quốc lộ, Mẹ muốn có một công việc làm để thêm thu nhập cho gia đình nên bàn với Ba mở quán làm ăn. Quán café Dung nổi tiếng từ lúc đó và ba năm sau khi nói về Dục mỹ người ta thường nhắc đến Café Dung với khung cảnh hữu tình được bài trí nhẹ nhàng nhưng dễ thương. Nó càng dễ thương hơn khi bên trong quán có cô bé nữ sinh nói giọng Huế nét mặt lúc nào cũng buồn buồn và nghiêm nghị.
Quán café mang lại cho tôi nhiều kỷ niệm buồn vui thời đi học nhưng nó cũng là khúc quanh ngặt nghèo khiến tôi lận đận trên đường đời gập ghềnh cho đến tận bây giờ.

Ghi lại kỷ niệm thời thơ ấu mấy ai có thể vui được, vì nó chỉ đi qua một lần trong đời.
Tuổi thơ dù đắng cay hay ngọt ngào nó vẫn luôn là ký ức đẹp.
Trái tim mỗi người luôn có chỗ cho ký ức tuổi thơ đọng lại. Nhớ về rồi tan đi.

Nhưng đêm qua tôi đã cùng Phương Hà và Mập đáp chuyến tàu quay về tuổi thơ, sống những ngày trẻ dại ấy một lần nữa đấy.

Tháng 7. 2012
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

TỨ TUYỆT RỜI 2

nguyenngocnghiaTHƯƠNG NHỚ HƯ VÔ

Mỏi mắt tìm dấu xưa
Bóng ai xa vời vợi
Muôn trùng ai sóng nổi
Thương nhớ hoài hư vô

NGHE EM HÁT TÌNH CA

Ta uống từng ngụm nhỏ
Độc dược từ môi em
Lời tình rơi thánh thót
Ngân mãi những cung trầm

ĐÊM TRĂNG MUỘN

Thềm rêu lặng mấy mùa
Buốt bóng trăng thiếu phụ
Lá vèo một âm khô
Ngỡ tình vừa hút. gió…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

CHƯA KỊP

huynhminhle

Nước mắt chưa kịp chảy
Đã vội khô trong hồn
Bàn tay chưa kịp vẫy
Đã tận cùng thâm sơn

Con mắt chưa kịp nhắm
Hạt bụi đã rơi vào
Mũi tên chưa kịp bắn
Đã gục đầu thương đau

Chén rượu chưa uống cạn
Vội hất đổ đi rồi
Chỉ còn cơn mê sảng
Từng đêm về với tôi.

HUỲNH MINH LỆ