SÀI GÒN KHÔNG CÓ MÙA THU

linhphuong

Sài Gòn mùa thu sao chưa vàng lá
Để mây bay giăng kín áo một người
Ở nơi đây thu chẳng đến bao giờ
Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng

Em đừng trách Sài Gòn thường thiếu vắng
Hương cà phê quán nhỏ lúc mùa sang
Góc phố chiều hoa cúc nở dịu dàng
Thu giận hờn ai mà thu đi biền biệt

Em đừng trách khi anh buồn da diết
Thèm môi hôn thơm phức chiếc que kem
Cái mát lạnh chạy xuống thấu tận tim
Thời mới lớn- ve sầu -chùm phượng đỏ

Thương con đường chật mùi thơm hoa cỏ
Cánh chuồn kim-con bướm-tuổi học trò
Thương vô cùng.Ôi ! Nhịp guốc nhẹ khua
Hồn mơ mộng anh hóa thành sương khói

Em hẳn biết Sài Gòn mình khi đó
Luôn tự hào là Hòn Ngọc Viễn Đông
Đẹp chao ôi ! Dù thiếu lá thu vàng
Lẫn chút xíu gió heo may lành lạnh

Em đừng trách Sài Gòn mưa lâu tạnh
Bong bóng bên hè vỡ buốt lòng anh
Thiếu nắng mai hồng thiếu khoảng trời xanh
Mang hy vọng tuổi mười ba xa ngái

Em còn nhớ thuở chúng mình vụng dại
Mơ cánh buồm hạnh phúc cuối chân mây
Nhưng hỡi ơi ! Sau mấy chục năm dài
Cát bụi thời gian xóa nhòa ký ức

Em ạ ! Lỡ mai này anh nhắm mắt
Cứ coi như thu rụng lá khô vàng
Đau lòng chi em nhé ! Chuyện ly tan
Hãy chôn chặt dưới nấm mồ quá khứ

LINH PHƯƠNG

MÙA HOA VÀNG ĐàCHẾT

phamkhanhvu

Em mới về sáng nay
Nên vô tình đâu biết
Chim chóc trong rừng cây
Đã nghìn thu vĩnh biệt

Em mới về sáng nay
Hồn xanh còn ngời đẹp
Nên có bao giờ hay
Mùa hoa vàng đã chết

Chỉ mình ta mình ta
Tiễn ngày về cõi chết
Sao hôm qua hôm qua
Em không về tưởng tiếc

Chỉ còn đây dấu giày
In trên bờ cỏ mượt
Mùa xuân chắp cánh bay
Làm sao ta giữ được

Chỉ còn đây hơi sương
Thềm rêu xanh ẩm mục
Chỉ còn đây nỗi buồn
Cành cây khô muốn khóc

Đêm qua vầng trăng thanh
Rơi xuống dòng suối nhỏ
Và nghìn năm nghìn năm
Không bao giờ về nữa

Ta đứng trên đồi cao
Ngó bốn bề hiu quạnh
Thèm ôm hết tình sầu
Ném vào lòng vô tận

Em mới về sáng nay
Ôi mịt mù gió rét
Chỉ còn mây , mây bay
Mùa hoa vàng đã chết …

PHẠM KHÁNH VŨ

HỘI NGỘ 30 NĂM Ở BRISBAN

sonnghi

Ý kiến độc đáo của ông chủ tàu ĐN1601CA mời tất cả mọi người vượt trên chiếc tàu với vợ chồng ông cách đây 30 năm tụ họp tại Birsbane, nơi gia đình ông sinh sống từ ngày qua Úc, vào ngày 9 tháng 10, 2010.
Mấy tháng trước ngày hội ngộ chủ tàu, ông Nguyễn kim Đỉnh, gửi đi một bức thư ngỏ. Lá thư nói rõ mục đích của ngày hội ngộ lịch sử. Ông nhắc đến những nguy hiểm mọi người đã trải qua, từ lúc nửa đêm chuyển người qua bãi chà là để trốn vào chỗ vắng chờ taxi ra tàu lớn. Sau ba mươi năm mọi người đã an cư lạc nghiệp ở khắp nơi trên thế giới, nhiều nhất ở Úc. Đây là dịp gặp gỡ để cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa vì ai cũng biết rằng chỉ có phép lạ mới đưa hết 163 thuyền nhân đến bờ tự do an toàn. Nhưng tôi tâm đắc nhất một câu nói của ông trong bức thư: nếu không vượt thoát thành công thì mặc dù 163 người sinh khác ngày nhưng chắc chắn chúng ta đã có chung một ngày giỗ. Câu nói chân tình đọc lên tôi chợt nghe một luồng hơi lạnh chạy suốt sống lưng khi nhớ lại cơn bão kinh hoàng vào đêm thứ 2 trong chuyến vượt biển. Cơn bão với những con sóng cao ngất trời suýt nhận chìm từng ấy người vào lòng biển khơi. Thêm vào đó bọn hải tặc kéo chiếc tàu ĐN1601 chạy vòng vòng trong vịnh Thái lan suốt nửa ngày đường làm mất phương hướng. Đứng bơ vơ giữa biển rộng mênh mông, chúng tôi không biết phải quay mũi về hướng nào. Thật may khi buổi tối bầu trời khá quang đãng để nhận diện một vài vì sao qua sự hiểu biết của ông tài công. Sớm ban mai đã thấy mặt trời, thấy hướng Đông, đoán phương hướng để tiến về phía đất Mã-lai. Câu nói trong bức thư thật đúng, chúng tôi may mắn đã không có chung một ngày giỗ.
Tôi bay từ California đến Hobart thăm Cậu Mợ tôi vài ngày rồi cả gia đình bay sang Brisbane ngày thứ 6, mùng 8 tháng 10. Mấy cô em gái của mợ tôi cũng bay từ Texas đến. Đây là những người chung với tôi một chút quá khứ 30 năm trước. Ba cô gái giờ đây đã trở thành bà nội, bà ngoại. Mặc dù tuổi đời đã chồng chất nhưng họ vẫn giữ được nét thanh tú thuở xưa. Tôi nhận ra họ ngay là nhờ những nét thân quen còn đọng lại trên khuôn mặt, ở giọng nói, từ dáng đi đến tiếng cười dòn tan, liến thoắng. Tay bắt mặt mừng, chúng tôi có dịp ôn lại một vài mẩu quá khứ và chạnh lòng nhớ lại những vui buồn trong chuyến hải hành và những ngày trên đảo. Ôi! Thời gian thấm thoát đã 30 năm.
Phi cơ hạ cánh xuống Brisbane lúc 9:15h sáng. Chúng tôi dự định có cả một buổi sáng rong chơi cho biết thành phố rồi chiều mới ghé vào nhà ông chủ tàu. Rất may, một gia đình quen hiện ở Brisbane, anh chị Luật/Mai thật tốt bụng sẵn sàng nghỉ việc để tiện việc đưa đón chúng tôi. Loay hoay với chiếc xe van thuê mãi đến quá trưa mới ra khỏi phi trường. Lẩn quẩn trong thành phố vì không quen đường sá và cách sử dụng chiếc máy GPS nên lại mất đến hơn tiếng đồng hồ mới về nhà anh chị Luật. Căn nhà rộng rãi, vườn sau có bụi mía, cây lựu, và một vài cây ăn trái khác như một khu vườn tiêu biểu Việt nam. Nghỉ ngơi một chút, tất cả kéo nhau ra khu Việt nam ăn trưa.
Lần đầu đến Úc, tôi khá lạ lẫm khi bước vào khu thương mại của người Việt. Chợ búa bày trái cây, rau trái ngay trước cửa, rất tiện cho người mua. Hàng quán khá sầm uất, khách vào ra ăn uống tấp nập. Ngay ở giữa khu thương mại là một mảnh đất trống rộng rãi với dù che, bàn ghế. Khách có thể ngồi nghỉ chân hoặc mua càphê, nước uống và tụm năm tụm ba ngồi tán gẫu, chuyện trò. Trời mưa không nặng hạt nhưng rỉ rả từ sáng mang theo chút lạnh của mùa đông vẫn còn lưu luyến chưa chịu nhường hẳn lại cho tiết xuân. Ăn trưa xong, chúng tôi kéo hết từng ấy người vào thăm ông chủ tàu.
Đường từ motel đến trang trại của ông Đỉnh chừng 17 cây số thì đã có 9 cây số đường rừng. Tuy là rừng nhưng con đường trải nhựa bằng phẳng gồm hai phân lộ, xe chạy bon bon. Rừng thưa nhưng cây cối đủ rậm che tầm mắt. Thấp thoáng sau hàng cây nhà cửa nằm cô đơn xa cách mặt đường. Trời vẫn mưa rỉ rả từ sáng đến giờ, thỉnh thoảng lại xối cả thác nước xuống nhân gian. Thời tiết Brisbane đáng lẽ phải nắng ráo, hứa hẹn một cuối tuần hội ngộ tuyệt vời thế mà ông trời vẫn rơi rớt nước mắt như thương tiếc ai. Xe chạy ngoằn nghoèo một lúc rồi dừng lại trước một căn nhà hai tầng, nằm thênh thang trên mảnh đất đỏ ngoét rộng rãi. Rừng cây đen rậm bao bọc chung quanh khiến căn nhà nhìn nổi bật trên bầu trời xám. Ngõ dốc đứng dẫn từ ngoài cổng dẫn vào nhà lầy lội, trơn trượt, choẹt bùn đỏ quạnh làm dính bước chân. Khách phải bước chậm, cẩn thận từng bước đi. Con ngõ dài chừng 20 mét nhưng phải vất vả chừng mươi phút mới lên được thềm nhà. Bà Hồng, vợ ông Đỉnh, đon đả chạy vội ra đón tiếp chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, mọi người vồn vã chào hỏi nhau, kể chuyện đường dài. Bức tường trước mặt tôi in hình bản đồ hình chữ S, phía dưới vẽ hình một con tàu và bài thơ thất ngôn.

Ba mươi xuân sắc thoáng qua rồi
Năm ngày cơ cực đã dần trôi
Hội ngộ mừng nhau nhiều thành quả
Tụ họp về đây một mái nhà

Bài thơ thật tuyệt. Tôi được biết đây chính là thủ bút của tác giả. Ông thân chinh đến nhà này và phóng tay viết bài thơ lên vách. Nét chữ bay bướm in hằn lên bước tường trắng nổi bật màu mực đen. Tôi bước lên cầu thang nhỏ dẫn ra phía nhà sau. Nói là nhà nhưng thật sự chỉ là cái mái đủ che mưa nắng. Trừ một mặt có bức tường sau của căn nhà còn ba phía kia để trống hoác. Những tấm bạt nhà binh to rộng che từ mái kéo dài ra hai bên để tránh mưa hắt vào nền nhà. Chái nhà đâm dài ra mảnh vườn có cây cối nằm ngổn ngang, có lẽ chúng vừa bị đốn ngã lấy đất cho buổi hội ngộ. Những khúc cây sần sùi nằm cồng kềnh lăn lóc trên sân sẵn sàng làm mồi cho đống lửa lớn đang cháy ngùn ngụt. Sức nóng tỏa ra làm ấm cả một không gian rộng khuyến khích mọi người kéo đến chuyện trò gần đống lửa. Nhà sau không có vách nên gió lạnh thổi lồng lộng từ phía rừng cây mang theo cái lạnh se sắt. Ở một góc chái, đã có hơn chục người đang mải mê tập hát cho thánh lễ ngày mai. Anh Tỵ ôm cây đàn thùng kiên nhẫn với từng nốt nhạc, từng bài hát. Bài Mẹ Thuyền Nhân nghe an ủi và ấm lòng khi biết có Mẹ đang dẫn những thuyền nhân đến bến bờ tự do. Tập hát một lúc, ông Đỉnh yêu cầu mọi người tạm ngưng để dùng cơm chiều. Cơm nước dọn ra trên chiếc bàn dài. Mọi người ngồi xuống cầm đũa. Hình như niềm vui tràn ngập trong lòng mọi người nên mọi người chỉ gắp thức ăn cho có lệ, còn lại ngồi ôn lại chuyến vượt biển.

Một số thuyền nhân của tàu ĐN1601

Đoàn chúng tôi ngồi rải rác trên chiếc bàn dài chuyện trò rôm rả. Chuyện nổ ra như bắp rang. Tiếng cười sảng khoái vang lên rộn ràng trong màn đêm phủ kín căn nhà giữa cánh rừng. Chuyện kể lại với những chi tiết không ngờ, buồn có, vui có, giận hờn có, nước mắt có. Tôi không nhớ hết những chi tiết oái oăm nhưng người kể một hai đoan quyết chính tôi là tác giả những câu nói. Thôi, cười xòa và nhận lỗi vậy. Mọi người muốn ôn lại chuyến hải hành đầy gian truân vì có ông cậu tôi là tài công bất đắc dĩ khi tài công chính thức của chuyến tàu bị… say sóng ngất xỉu. Lúc trên tàu không ai biết hết mọi diễn tiến ngoại trừ ông chủ tàu và một vài người thân cận. Người coi sóc máy móc ở dưới hầm tàu nên không thể biết những con sóng cao nghễu nghện đến thế nào. Người đứng ở cuối tàu không thể biết tiếng gió rít thổi xéo qua tai nghe rùng rợn ra sao. Người mệt xỉu vì say sóng cũng không thể nào biết con thuyền bị nhồi lên nhồi xuống trong cơn giông bão xem ra mong manh, nhỏ nhoi hơn bao giờ. Câu chuyện gom góp lại từ ký ức của nhiều nhân chứng nên bây giờ mọi người hình dung được những khó khăn, những gian truân trên chuyến tàu cách đây 30 năm.
Gió lạnh len lỏi giữa bàn ghế ngồi khiến mọi người ngồi gần nhau hơn để câu chuyện thêm ấm lòng. Ông chủ tàu đã mời được một ban nhạc gồm 4 nhạc công và hai cô ca sĩ. Ban nhạc bận rộn với nhạc cụ, máy móc và dây nhợ dàn rộng trên chiếc bục gỗ. Nốt nhạc đầu tiên búng lên với tiếng trống rộn ràng. Họ cũng biết đây là cuộc họp mặt sau 30 năm nên toàn ban nhạc hết lòng với những bản tình ca về lính, đánh dấu một thuở chinh chiến với bao mối tình tha thiết. Bài Tuyết Trắng mở đầu với tiếng súng nhân tạo vang lên từ chiếc organ và tiếng hát ngọt ngào điêu luyện của một nam ca sĩ. Điệu bolero chải chuốt như những mối tình lớn lên trong chiến tranh tuy vội vàng nhưng nhiều say đắm.
Mọi người thả hồn theo tiếng nhạc. Có người ngồi trầm ngâm, lặng lẽ hút thuốc ở một góc vắng. Có kẻ sôi nổi với những bài hát giúp vui. Tiếng trống rộn ràng của một bản nhạc kích động. Giọng cô ca sĩ cao vút ở nốt nhạc của một bài hát thời thượng trong nước. Tôi nhìn mông ra khu rừng âm u ở phía sau. Một màu đen kịt sơn phết lên rừng cây, lên cả bầu trời nên không thấy ranh giới giữa trời và đất. Tất cả chỉ một màu đen u ám. Ba mươi năm trước, tôi đứng ở mũi thuyền khi cơn giông bão hòng nhận chìm con tàu, cũng một màu đen rùng rợn phủ kín trời và biển. Ngọn đèn bão treo ở đầu con thỏ tỏa ánh sáng héo hắt nhưng đủ sáng để tôi thấy những con sóng cao ngất ngưỡng. Phận người bèo bọt có đáng gì trước cơn thịnh nộ của biển cả, của giông bão. Ôi! Mong manh quá, nhỏ bé quá. Tôi khẽ rùng mình; không biết vì hơi lạnh của núi rừng hoặc vì nhớ lại một lần thân phận yếu ớt mỏng dòn khi lênh đênh trên biển?
Ngày hôm sau, ngày 9 tháng 10 là ngày cao điểm của lần hội ngộ. Mọi người đổ về nhà ông chủ tàu. Có người từ Sydney, Melbourn, Tasmania, và các tiểu bang ở phía bên kia nước Úc. Ở Hoa kỳ chỉ có mấy cô em của bà mợ tôi đến từ Texas, và một mình tôi từ Cali. Có nguyên một gia đình đến từ Tân-Tây-Lan. Sáng Chủ nhật hôm đó trời đổ mưa nặng hạt, con đường từ cổng vốn đã lầy lội bùn lại càng trở nên nhão nhoẹt hơn vì dấu chân người dẫm lên không ngừng. Có người bước không khéo đã ngã xóng xoải lên con đường đất. Bùn đất dính bê bết vào bộ đồ vest. Thế là mất toi bộ đồ, đành phải quay về khách sạn để thay bộ đồ khác. Có kẻ thấy cảnh “tung vó đo đất” đã vội khôn ngoan vào xe thay hết bộ đồ vía, chỉ mặc bộ đồ cánh để bước qua “đại lộ kinh hoàng”, bàn tay giữ chặt bao ni-lông đựng bộ đồ vía. Vượt qua đoạn đường đất khá vất vả bước lên thềm nhà rồi mới thay bộ đồ vía.
Số người đổ về nhà ông chủ tàu tăng dần. Xe hơi đậu chật trước cổng. Chủ nhà phải xin phép chủ nhà bên cạnh cho khách đậu nhờ. Vợ chồng ông chủ tàu tiếp khách ngay tại thềm nhà. Tay bắt mặt mừng, ông chào hỏi mọi người. Có những khuôn mặt lạ lẫm, hỏi ra mới biết mấy thằng bé vượt biên theo diện mồ côi, nghĩa là không có họ hàng thân thích ở ngoại quốc. Thế mà bây giờ đã vợ con hai ba đứa. Vợ chồng gom góp đi dự ngày hội ngộ, không màng công ăn việc làm đang lúc khó khăn. Có những mái tóc lấm tấm bạc, lúc ra đi trên đảo đang còn là thanh niên khỏe mạnh, nhớ lại đêm vào Côn sơn xin nước sau một ngày lênh đênh trên biển và ông chủ tàu khám phá không đủ nước cho từng ấy người, họ đã can đảm buộc dây vào người nhảy xuống tàu trong đêm tối bơi vào bờ. Lần theo sợi dây, cả chục thanh niên mới nhảy theo bơi vào một hòn đảo ở Côn sơn. Người giữ đảo thật tốt, anh không những cho cả chục can nước mà còn biếu thật nhiều trái cây. Ông chủ tàu sẵn sàng dành cho anh một chỗ trên tàu nhưng anh quyết định ở lại chỉ vì vợ con còn kẹt lại trong đất liền.
Những thuyền nhân đứng ở thềm nhà ông Đỉnh hôm đó ôm chầm lấy nhau, hỏi han về gia đình, công ăn việc làm. Họ sôi nổi ôn lại dĩ vãng những ngày trên đảo, nhất là 5 ngày 6 đêm lênh đênh trên biển cả với cơn bão và những cơn sóng thần cao nghễu nghện đến chóng mặt; với hải tặc, và với những hiểm nguy chưa từng đối diện một lần trong đời. Những hình ảnh kinh hoàng vẫn còn tươi rói trong ký ức. Họ kể cho nhau nghe rõ từng chi tiết cơ hồ họ mới vượt biển tháng trước. Mà người nghe cũng là một trong những nhân chứng của chuyến hải hành chứ chẳng ai khác. Thế mà họ chăm chú nghe kể và góp lời như đang nghe một chuyến vượt biển của một người xa lạ. Có người chép miệng thở dài nói đến buổi sáng tàu bị gãy bánh lái. Cả tàu cứ xem như đã chết vì làm sao hướng mũi tàu vào đất liền. Thế mà ông chủ tàu bàn bạc với mọi người rồi quyết định lấy nắp hầm tàu thay thế bánh lái. Trong chuyến đi làm gì có đồ nghề để sửa chữa một trục trặc chết người như thế. Không đinh, không ốc, chỉ buộc chặt vào cần lái bằng hai sợi dây kẽm khá to. Thế mà cái nắp hầm bằng gỗ đã quằn quại dưới sức nước đưa 163 người lênh đênh thêm 2 ngày nữa và đến bờ biển Mã an toàn. Cuối cùng tất cả đều đồng ý một điểm, chỉ có phép lạ mới có thể giải thích được chuyến vượt biển kỳ lạ của con tàu ĐN1601CA. Phép lạ nhãn tiền mọi người đã gật đầu ngay sau khi đặt chân lên đất liền, và 30 năm sau, họ lại xác tín niềm tin vào Thiên Chúa thêm một lần nữa.
Ông chủ tàu đọc một bài chào mừng ngắn. Ông nhấn mạnh đây là dịp hội ngộ nhưng mục đích chính vẫn là cảm tạ Thiên Chúa. Thánh lễ tạ ơn do cha Trần Bạch Hổ chủ tế. Ngài thổ lộ thật không ngờ sau 30 năm lại mà con tàu qui tụ được từng ấy người. Đây phải kể là một kỳ công. Ngài cũng chưa bao giờ dâng một thánh lễ đặc biệt đến thế. Thánh lễ của những thuyền nhân. Ca đoàn hình như hát hay hơn bao giờ, bõ công luyện tập cả một ngày thứ Sáu. Giọng của ca viên tha thiết hơn, trầm bổng hơn dâng lên Thiên Chúa đã cứu vớt 163 người hơn 30 năm trước. Tiếng hát lơ lửng giữa vùng đất đỏ, quyện với hơi thở của rừng cây để lại trong lòng những thuyền nhân mối thân tình ấm áp của bầu trời Brisbane. Dâng của lễ lên Thiên Chúa gồm chiếc thuyền gỗ cùng với bánh và rượu, nói lên tấm lòng biết ơn của những thuyền nhân tàu ĐN1601. Chúc bình an, mọi người nồng nhiệt bắt tay nhau nhớ lại những ngày gian truân lênh đênh trên biển. Thánh lễ kết thúc với bài hát “Mẹ Thuyền Nhân” trong niềm hân hoan của mọi người.
Bàn ghế rộn ràng kê dài dọc theo căn nhà trống vách. Năm dãy bàn dài, cỡ 40 người mỗi dãy; tính ra thực khách và bà con thân thuộc của ông Đỉnh đổ về hơn hai trăm người. Bếp núc nhộn nhịp, lửa đỏ rực dưới đáy nồi, hầu như không bao giờ tắt. Đầu bếp bận rộn rửa, cắt, thái từ sáng sớm đã đành và hầu như suốt bữa ăn cũng chẳng ngừng tay. Thức ăn dọn la liệt trên bàn, mọi người thưởng thức các món trên thực đơn. Ông bà Đỉnh vui vẻ đến từng bàn cụng ly, hỏi han, chụp hình lưu niệm. Có người bảo, chụp đi kẻo không biết khi nào còn gặp lại. Tôi ngẩn người nghĩ đến câu nói mà không nén được tiếng thở dài. Những thuyền nhân ba mươi năm trước bây giờ tóc đã hoa râm, da mồi. Có người đề nghị lần hội ngộ 35 năm. Lòng hiếu khách của ông bà chủ tàu vẫn nồng nàn nhưng với tuổi đời chồng chất, không ai dám chắc sẽ gặp lại hết từng ấy người trong lần tới.
Có một chi tiết thú vị khi có người đố tổng số người của tàu ĐN1601 đặt chân lên đảo Biđông là bao nhiêu? Câu trả lời ai cũng biết là 163 thuyền nhân. Con số này chưa đúng hẳn. Đúng ra là 163 ½ người vì vừa lên đảo được hơn tháng có một phụ nữ sinh hạ một bé gái. Một phụ nữ mang thai gần đến ngày sanh dám vượt biển kể là một kỳ công. Thời gian đó, chủ tàu thường mê tín dị đoan nên dứt khoát không bao giờ chấp nhận khách mang thai lên tàu. Sở dĩ phụ nữ này vẫn lên tàu như mọi người là vì ông chủ tàu là người có đạo, không tin chuyện mê tín. Một điểm lý thú nữa là bé gái sinh ở đảo năm đó nay đã lập gia đình, một người mẹ với đứa con mấy tháng tuổi. Mẹ bồng con bay từ Tân Tây Lan đến tham dự ngày hội ngộ. Lịch sử của con tàu ĐN1601 gắn liền với số tuổi đời của người đàn bà này. Ba mươi tuổi đời kể từ ngày sinh ở đảo Biđông bằng với ba mươi năm hội ngộ.

Trinh, bé gái vượt biên trong bụng mẹ nay đã tay bồng tay bế

Một buổi tối đầy ắp tiếng nhạc. Mọi người đua nhau hát. Thức ăn dọn vào rồi lại dọn ra mời khách còn quyến luyến đêm hội ngộ. Khách vơi dần khi trời về khuya nhưng tiếng hát vẫn cất lên. Bài “Xin đời một nụ cười” vang lên rộn rã với điệp khúc: TỰ DO ơi TỰ DO! Tôi trả bằng nước mắt, TỰ DO ơi TỰ DO! Anh trao bằng máu xương, TỰ DO ơi TỰ DO! Em đổi bằng thân xác, Vì hai chữ TỰ DO! Ta mang đời lưu vong.
Vì hai chữ Tự Do, 163 người đã bỏ nước ra đi. Cũng vì hai chữ Tự Do mà hơn nửa triệu thuyền nhân bỏ xác trên biển Đông.
Cảm tạ Thiên Chúa đã đưa con tàu đến chốn bình an. Cám ơn ông bà Đỉnh, chủ nhân con tàu ĐN1601. Sau cùng, cám ơn khung trời Úc đã đón nhận hơn nửa số thuyền nhân hội ngộ sau 30 năm.
Hẹn gặp lại nhân dịp 35 năm.

SƠN NGHI

THỜI GIAN

quynhdo

Cơn mưa đêm,
ào qua nỗi nhớ
ru đôi mắt tôi
thao láo

tiếng đồng hồ
đơn điệu
đã bao năm
sao chưa dừng?

chúng ta cứ nói
côn trùng cứ kêu
mưa vẫn rơi
thời gian cứ trôi

lạ lắm
trái tim biết khóc
vì anh mang tình vu vơ
gieo nơi cơn mơ héo

tôi còn muốn nói gì
mọi thứ đã muộn
khô cằn đôi môi
tình đời đã mỏi

ừ, chén rượu cho ngày mai
chưa nhấp môi đã say
tình chợt vừa qua tay
chết gục…

QUỲNH ĐỎ

KHÔNG ĐỀ

nguyennhumay

Quán khuya ngồi lại một mình
Tôi nghiêng ly rượu để tìm bóng tôi
Quán khuya ngồi đã cuối đời
Tôi nghiêng tôi xuống để cười
bóng trăng
Neo thuyền chơi ở cuối sông
Rượu ngon vừa uống nửa chừng
đã say
Sáng ra tỉnh rượu mới hay
Đêm qua
trăng đã đổ đầy
trong chai …

NGUYỄN NHƯ MÂY

Vua Tango

khuatdau

Với dáng vẻ tự tin của một ông hoàng Ả Rập, anh nói, đây là “tệ” xá, xin mời vào. Khi tìm đến khu kinh tế mới N. Tr, tôi không hề có ảo tưởng sẽ bước vào một ngôi nhà lát gạch men bóng lộn, nhưng không ngờ cái “tệ xá” của anh lại tệ đến như vậy. Ngôi nhà như một con bệnh liệt giường chỉ mong được mau chết để thoát khỏi cảnh đày đọa nhọc nhằn. Bốn bức vách đang oằn xuống vì cố sức đỡ cái mái tranh mục nát khiến tôi bỗng nhớ tới Huấn cao và những người bạn tù ốm đói khiêng cái gông trong truyện Chém treo ngành. Trời không gió, nhưng rõ ràng ngôi nhà đang run rẩy, nó như không còn đủ sức chịu đựng thêm phút giây nào nữa để cho chủ và khách có thể bình yên mà trò chuyện sau nhiều năm xa cách.

-Vào đi, chưa sập đâu mà sợ!
Giọng nói bỡn cợt kèm thêm tiếng cười kiêu bạt của anh khiến tôi vẫn chưa hết ái ngại. Cái ái ngại của một người đàn bà khi gặp lại người tình cũ không ngờ lại sa sút đến thảm hại. Ngồi xuống đi, anh đẩy về phía tôi một chiếc ghế mà bốn chân của nó không khác gì bốn bức vách của ngôi nhà. Những luồng sáng giữa ngọ xuyên qua mái tranh đen xỉn, làm thức dậy những hạt bụi đang ngủ yên. Chúng múa may nhào lộn long lanh như một bầy phù du dưới ánh đèn. Bất giác tôi thầm hỏi, không biết hạt nào là của anh, hạt nào là của tôi nếu một mai chúng tôi chết đi.

Ba mươi năm trước anh là ông hoàng của các vũ trường. Với một chiếc vespa duyên dáng, anh lượn tới lượn lui trong ánh đèn màu y như một con ong đào hoa trong vườn thượng uyển. Những vũ nữ thân gầy thơm tho hơn bao giờ, duyên dáng hơn bao giờ vây lấy anh như các phi tần trong truyện Nghìn lẻ một đêm. Mỗi khi anh xuất hiện bọn họ có cảm giác như mình đẹp hơn, nhảy hay hơn nhất là lúc bay bổng cùng anh với những bản tango quyến rủ. Anh đã tiêu pha tuổi trẻ và những đồng tiền kiếm được dễ dàng cho những cuộc chơi rập rình tiếng nhạc, để được những người chuyên sống về đêm tôn xưng là vua, mà không hề biết rằng cuộc đời là con một mụ cho vay nặng lãi.
– Mọi sự là do tớ, anh nói, có vay là phải có trả vậy thôi. Có điều là phải trả bằng một cái giá cắt cổ, chán bỏ mẹ.
Nhìn ra bên ngoài đầy nắng, một thứ nắng làm cho người ta chán chường mỏi mệt, tôi thẫn thờ vì không thể tin được là anh đã phải sống ở một nơi mà dù Quỷ Cốc tiên sinh có tái thế cũng không cách gì đoán được.
– Anh bị đưa lên đây à,
tôi hỏi.
– Không,
anh nói,
-tớ xung phong đấy chứ.
Trầm ngâm một lúc, anh lại nói,
– ngữ như tớ không cách gì ở lại được. Cơ nghiệp bỗng chốc tiêu tan, nhà không, việc làm không, thì sống bằng gì nào. Thôi thì đi trước khỏi phải đi sau. Với lại xung phong cũng có được ít nhiều quyền lợi. Được ưu tiên chọn đất canh tác, được giúp đỡ dựng nhà. Cái nhà này hồi đó là đẹp nhất xóm này đấy.
-Còn bây giờ, như hiểu ý tôi định hỏi,
anh nhún vai, ậm ừ:
-cũng như tớ, nó sắp tàn rồi.
Một lúc, anh bỗng đứng lên,
-phải kiếm thứ gì cho cậu uống chứ, cà phê nhé.
Rồi không đợi tôi có muốn uống hay không, anh đi nhóm lửa đun nước.
Khói bắt đầu trùm kín căn nhà. Tôi phải bước ra khỏi “tệ xá”, đến trú nắng dưới bóng một cây dầu mà chủ nhân cố tình để lại như một chứng tích của núi rừng xa thẳm. Nơi đây, hươu nai và đôi khi có cả cọp chắc đã từng thong dong qua lại. Bãi mía chung quanh rộng chừng nửa mẫu tây nằm thiêm thiếp dưới cái nắng tháng sáu như cũng đang bốc khói. Những cây mía khẳng khiu không biết sẽ cho anh được bao nhiêu đường để đổi lấy gạo mắm cho vợ con. Đúng là cuộc đời không phải lúc nào cũng là những đêm màu hồng để cho anh có thể lả lướt mãi với nhịp điệu tango.
-Cà phê xong rồi đây, vào nhấm nháp tí chút cho tỉnh người,
tiếng anh từ trong bếp vọng ra. Tệ xá bỗng dưng tươi hẳn lên trong mùi hương ngát thơm. Trước mặt tôi là hai cái phin bằng đồng mạ bạc của Pháp đang thong thả nhỏ xuống những giọt nước đặc quánh nâu sẩm. Những chiếc phin này tôi đã từng thấy hơn hai mươi năm trước và đã từng uống những giọt đắng từ đó chảy ra cùng với anh trong gian phòng có gắn máy lạnh và có những đĩa nhạc đắt tiền của Chopin.
– Xin lỗi ông, tôi nói, ông giống như gã ăn mày trong truyện của Nguyễn Tuân quá. Đến bây giờ mà ông vẫn còn giữ được những chiếc phin này có khác gì cái ấm trà Thái Đức của lão ấy.
– Lão ấy còn phải đi xin trà chứ tớ lúc nào cũng có cà phê xịn đấy nhé, ngay cả những lúc bị ngăn cấm còn hơn thuốc phiện.
– Giỏi thế!
– Ừ, không giỏi sao sống được. Anh cười héo hắt.
Cà phê của anh được rang tẩm đã khéo mà pha chế còn khéo hơn. Dù trời mưa hay trời nắng, bao giờ anh cũng tráng phin cho thật nóng trước khi bỏ từng thìa cà phê bột vào. Anh lắc đều, đặt rá lên, xoay nhẹ rồi cẩn thận châm nước từ từ. Nước trong phin phải thật trong như chưa hề có cà phê để tất cả tinh túy của đất trời cao nguyên hòa tan cùng nước sôi nhỏ xuống mới không bị đục, và vị cà phê khi ấy mới thật thanh,thật dịu đủ sức ngấm sâu vào tận thịt da và tận tâm hồn.
Cũng như gã ăn mày kia đã từng tiêu phá cả gia tài chỉ vì cái tính nghiện trà, anh cũng đã từng để những giọt cà phê nung chảy cả một hộp bích quy đựng đầy vàng lá. Anh không ghiền rượu, bia, không bài bạc hút xách, chỉ ghiền có mỗi cà phê và thuốc lá. Lệ thường là ba cữ, vui gấp đôi, buồn gấp ba. Có lần anh uống đến những hai mươi mốt tách cà phê không đường vì giận vợ! Thuốc lá thì phải là Capstan không đầu lọc. Sau 75, không còn tìm đâu ra được một điếu thuốc sợi vàng chính hiệu Virginia anh buồn còn hơn khi bị mất sạch cả nhà cửa.
– Tớ lên đây một phần cũng vì vậy, anh nói, ai trồng gì mặc, tớ chỉ trồng mỗi một thứ là thuốc lá Lạng Sơn. Tớ pha chế cũng hay lắm, cậu hút thử một điếu mà xem.
Tôi đón lấy điếu thuốc, mới trông có vẻ như xì gà, thực ra là thuốc xắt được vấn bằng lá thuốc rất khéo.
– Ừ, kể cũng ngon, tôi gật gù khen.
– Ngon quá đi chứ lị, anh cười tít mắt nói, vợ tớ có muốn về thì mặc bà ấy chứ tớ đếch thèm về. Ở đây tớ có còn thiếu thứ gì nữa đâu.
– Còn thiếu vũ trường, tôi cười lớn.
– A, vũ trường, những cái sàn nhảy chết tiệt ấy đã tống tớ ra khỏi nhà rồi, cậu không nhớ sao?
– Nhớ chứ, tôi nói, làm sao tôi quên được cái cảnh ông ném bà nhà vào cái phòng nhỏ như lỗ mũi cùa tôi ở phường Củi rồi dông đi đâu mất tiêu.
– Đi uống cà phê chứ đi đâu, buồn không uống cà phê thì chỉ có nước uống thuốc chuột thôi!
– Ông đến là điên, bà nhà ông cứ khóc mãi làm mọi người xung quanh tưởng tôi là một thằng Sở Khanh. Đau hơn nữa là sau này, bà nhà tôi cứ vặn vẹo tra hỏi, dù có nói thế nào cũng không tin đó là vợ của bạn.
– Thế à, hôm nào có dịp tớ sẽ minh oan cho cậu. Nghĩ lúc đó tớ cũng bậy thiệt. Trên đời này làm gì có bà mẹ nào chịu nhận cave làm con dâu đâu. Ông anh cả tớ cũng thế, ông còn xách súng định bắn nếu tớ không chịu xéo đi. Thực ra bà cụ và ông anh vẫn rất thương tớ. Khi nghe nói tớ sắp có vợ, cả nhà sôi lên như cơm sôi, ai cũng bảo phải đem về ra mắt. Bà nhà tớ lúc ấy nhỏ xinh ai thấy cũng thương, nhưng khi biết làm nghề không được đẹp thì đồng loạt gầm lên như đại bác: Xéo! Xéo! Xéo! Thế là tớ lôi bà ấy đi như giông như gió, cũng định ghé lại cậu để cùng đi uống cà phê, nhưng sao lúc ấy tớ cảm thấy ghét tất cả mọi người. Tớ muốn ngồi một mình, uống một mình. Nếu cắc cớ ai pha thuốc chuột tớ cũng uống luôn cho rồi đời.
– Trời, tôi kêu lên, nếu ông mà chết thì tôi chẳng biết làm sao với bà nhà. Chỉ sáu tháng sau ông đã mời tôi ăn đầy tháng!
– Nói thế chứ chết thế nào được.
– Thế bà nhà và các cháu bây giờ ở đâu?
– Xuống phố buôn bán chứ ở đây có mà chết đói cả lũ à! Ông trời cũng chơi khăm tớ hêt biết, chỉ có ba lần sinh mà đến những sáu đứa.
– Ba lần sinh đôi à?
– Không, cứ lần sau nhiều hơn lần trước một.
– Nghĩa là sao?
– Nghĩa là nếu bà nhà tớ tiêp tục sinh thì sẽ sinh tư ở lần thứ tư. Rồi sinh năm ở lần thứ năm và cứ thế, sinh mười ở lần thứ mười!
Khi hiểu ra tôi cười đến chảy nước mắt. Cà phê đã được bỏ nhiều đường mà sao vẫn đắng chát. Con tàu tốc hành của anh ngày trước lộng lãy bao nhiêu thì bây giờ lệch bệch tối ám bấy nhiêu. Thật khó mà vui được khi biết đứa con gái đầu lòng xinh đẹp của anh đã phải lấy Mỹ đen lai để có chút tiền đô cứu vớt gia đình. Cặp sinh đôi thì một đứa câm, một đứa tưng tửng suốt ngày cứ nhìn lên trời chẳng biết tìm gì. Ba đứa cùng tranh nhau sinh một lúc thì may mắn hơn, chân tay lành lặn, mặt mũi cũng dễ coi nên đã được mẹ nhanh chóng cho gia nhập vào đội quân bán vé số từ lúc mới lên sáu!
– Lúc ấy một đứa con trai ốm tong teo từ ngoài hiên bước vào. Nó thò cánh tay dài ngoằng ra chụp lấy tách cà phê của anh đổ ụp vào mồm nghe cái rột.
– Nó đấy, anh nói, mê cà phê còn hơn cả bố.
– Uống nữa không, tôi hỏi.
– Không đợi đến lời mời lần thứ hai, nó cũng lại chụp lấy tách cà phê của tôi và làm cái rột.
– Hỗn, anh mắng, thôi đi đi. Con nhỏ kia khá hơn nhưng lại không biết nói. Tôi phải khổ vì hai đứa nó, cậu nghĩ mà xem, mang chúng nó về để cả họ nhà tớ mắng cho té tát à?
– Con bé ấy đâu không thấy, tôi hỏi.
– Lang thang ở đâu đó ai mà biết được. Câm mà lại đa tình mới bỏ mẹ! Thấy đứa nào trắng trẻo đẹp giai là mê tít. Chắc lại theo cái thằng Đại Hàn lai ở trong kia.
– Ông không sợ à?
– Đến nước này còn sợ gì nữa. Thiên hạ sợ thì có.

Nghe chuyện của anh, tôi có cảm giác như đang bước hụt chân xuống một cái hố. Bấy nhiêu con người ấy sống được đến tận hôm nay đã là một sự dũng cảm khác thường.
Đêm ấy, tôi ở lại cùng anh. Chúng tôi ăn một bữa cơm rau, uống một ít rượu mía thay cho bánh pâthé chaud và sữa đậu nành mà cả hai trước đây đều rất thích.
Anh, cả một thời anh ăn chơi nhảy nhót. Tôi, một thời đùa chơi với chữ nghĩa. Rốt cuộc chẳng được cái tích sự gì. Chỉ để khổ, để khó cho vợ con.
Trời sáng, anh đãi tôi một tách càphê phải nói là nhớ đời vì quá ngon. Trong cái lạnh se se của sương sớm và trong yên lặng của núi rừng, từng giọt cà phê thấm qua đầu lưỡi khiến người ta có thể chết đi trong giây lát để sống lại tưởng chừng trong một thân thể mới và một cuộc đời mới.

Một năm sau, tôi lại gặp anh trong lần họp bạn của nhóm học trò cũ. Rất phóng khoáng, rất tự nhiên, một cô đã được anh dạy kèm tiếng Anh trước khi sang Úc, mừng rỡ đến ôm anh, chìa cái má trắng hồng cho anh hôn. Tuy bất ngờ, nhưng bình tĩnh và duyên dáng, anh chỉ đưa hai ngón tay lên môi mình rồi đặt nhẹ lên má cô.
– Hôn thiệt đi thầy! Cà nhóm ồn ào cổ vũ.
Anh nheo mắt nghiêng về phía chị, bảo đừng có mà xúi dại!

Buổi tối hôm đó anh trở lại là vua Tango. Với dáng thẳng và vững như cây tùng anh đi những bước hào hoa để cho những người nữ uốn quanh như gió, như mây. Nhạc chảy trong anh, biến anh thành suối thành sông để nâng niu những con thuyền nữ mong manh nhưng chở nặng tình.
Vào khoảng mười một giờ, anh bỗng ngã xuống trong tay chị. Từ đó anh bằn bặt trôi đi trên sàn nhảy được lót bằng mây và thắp sáng bỡi những vì sao.

Thôi vua đã băng hà! Tôi còn biết nói thêm được điều gì nữa!

KHUẤT ĐẨU

You might enjoy reading

TRONG CÕI TRỜI NÍN THINH

 

tonnuthunga

Mộng nào rũ cánh thơm
Trên má hồng yêu mị
Trên môi ngậm tình buồn…

Tình nào bay qua tim
Phai trong mùa hoa cũ
Nhạt nhòa như dấu chim
Úa mềm như lá rũ

Hồn nào sầu như đêm
Mịt mù sao nho nhỏ
Hoàng hoa rụng bên thềm
Cầm tay nhau bỡ ngỡ

Tay nào đếm mùa thu
Vòng trăng ôm lạnh giá
Mà cứ ngỡ rằng như
Người về trong nguyệt dạ…

TÔN NỮ THU NGA

Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm

trandzalu

Sẽ không còn tin nhắn lúc nửa đêm
Sẽ không còn nghe điện thọai giữa trưa-trờ-trưa-trợt
Bởi vì đây là sự thật
Mình đã chia lìa nhau…

Anh không trách gì em đâu
Khi qua sông
Qua sông theo tiếng gọi của tình yêu khác
Dù cánh đồng anh bát ngát
Nhưng thường kỳ hạn hán phải không em?

Sẽ không còn những sáng những đêm
Mình uống chung ly cà phê cứt chồn nơi quán cóc
Sẽ không còn nụ hồng Đà Lạt
Nở giữa môi thơm lúc mình kiếm tìm nhau

Anh không trách gì em đâu
Lẽ thường tình ai cũng ham giàu
Mà anh thì nghèo kiết xác
Thơ đâu nuôi nổi đời giữa cuộc bể dâu?

Sẽ không còn tin nhắn lúc nửa đêm đâu
Ngủ ngon nha anh
Sẽ không còn nghe qua điện thọai giọng em
thánh thót lời yêu thương.

Sông có khúc người có lúc
Đây là lúc anh buồn
như củi mục…

Sẽ không còn gì nữa
Khi mình chia lìa nhau
Nhưng có một thứ anh không bao giờ quên
Đó là nụ hôn đầu !

TRẦN DZẠ LỮ

VIÊN SỎI BUỒN

tranthitrucha

Tôi thường nghĩ về nó, thằng em trai tội nghiệp của tôi.

Nó là đứa em trong năm đứa em trai của tôi, không phải em kế cũng không phải em út và số phận của nó cũng lưng chừng, thua thiệt nhất trong gia đình.
Khi sinh nó ra, me tôi ao ước nó là đứa con gái để tôi có chị có em, có lẽ vì vậy mà nó giống như một con búp bê, da trắng, khuôn mặt tròn bầu bĩnh và đặc biệt là đôi mắt, đôi mắt nâu đen to tròn với hàng mi dài rợp. Me tôi giao nó cho chị Kiều, con cô cậu ruột với tôi, giữ nó, để đi buôn bán làm ăn. Chị ấy ru nó ngủ, đút nó ăn, tắm rửa chăm bẳm nó. Nó quấn quýt chị ấy và quên luôn me tôi… Hai năm sau mẹ tôi sinh ra đứa em trai khác, nó mới chập chững biết đi thì đã phải tự lo cho mình và nhường chị Kiều cho đứa em kế. Buồn khi mất chị ấy nên khi bắt đầu nhận thức, nó mếu máo thật tội: “Chị Kiều của người ta mà tự nhiên giành…”. Không hiểu vì sao lúc đó tôi mới tám tuổi mà đã biết thương em, tôi cõng nó trên lưng như con cóc tha con nhái lang thang khắp con đường làng rợp bóng tre xanh cùng bọn trẻ quê đầu trần chân đất…

Rồi chiến tranh ập đến, cuộc sống yên bình trong ngôi nhà có khu vườn đầy cây ăn trái cũng không còn nữa. Ba me tôi quyết định thật nhanh chóng khi mua một ngôi nhà ở thành phố và đưa bầy con lóc nhóc ra đó ở đi học, dưới sự cai quản của ông anh cả và một người bà con xa đi chợ nấu ăn. Chỉ đứa em út nhỏ nhất được ở lại cùng ba me.
Những ngày đầu khi sống trong ngôi nhà lạ lẫm ở thành phố, nó ủ rũ trong góc nhà thật tội. Nhất là những buổi chiều sau giấc ngủ trưa, nó nhớ mẹ, nhớ những món quà chiều mà không dám nói vì sợ ông anh cả, mắt nó sóng sánh nước và buồn thiu. Tôi thương em nhưng không biết làm sao vì thấy mình cũng chẳng hơn gì nó.
Rồi chúng tôi cũng lớn lên trong thiếu thốn, cả tình thương lẫn vật chất, dẫu tôi biết rằng ba me tôi đã nỗ lực hết mình để chúng tôi được ăn no, được học hành… Tôi thương đôi mắt của các em tôi khi nhìn lũ trẻ hàng xóm chán chê những món quà bánh, tôi rát lòng khi nhìn các em tôi ngóng đợi ba me vào những chiều thứ bảy…

Ngày chấm dứt chiến tranh là ngày chị em tôi càng lao đao hơn, người bà con theo chồng từ bắc về quê làm ruộng. Vậy là chị em tôi phải tự nấu cơm đi chợ, tôi lúc đó lại đang học lớp 12, chuẩn bị cho cuộc thi tốt nghiệp và thi đại học, bài vở chất chồng. Vậy là nó đảm đang công việc chợ búa bếp núc thay chị.
Tội nghiệp em tôi, cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được, một cậu bé đến tuổi mới lớn mặt lấm tấm mụn, mép lún phún râu, phải mặc chiếc áo của chị sửa lại, vẫn còn mờ mờ vết chít ngực trước thân áo, cắp cái rá nhựa đi chợ.
Nó đến trường cũng bằng những chiếc áo đó. Có hôm nó đi học về mắt nó rưng rưng “Chị ơi, bạn em nó chọc em… coi chừng sữa chảy…”. Tôi lặng buồn, thương em chưa bao giờ có được bộ áo quần nên hồn.
Tôi ra trường rồi theo chồng về dạy học ở một vùng quê. Ngày đám cưới của tôi, nó nằm ủ rũ trong góc phòng vì bệnh, cho đến khi chụp ảnh gia đình mới phát hiện ra thiếu nó và đi tìm. Nó mắt nhắm mắt mở, gượng gạo ngồi dậy ngoan ngoãn đứng chụp ảnh gia đình cũng với chiếc áo trắng cũ có vết chít ngực mờ mờ của tôi.

Hai năm sau tôi được thuyên chuyển về thành phố, vợ chồng tôi phải về ở tạm trong căn phòng của tôi thời con gái. Vậy là tôi phải quay lại công việc nội trợ, bếp núc cho cả nhà và đi dạy. Thấy tôi vất vả, nó dẫn về một con bé gầy khô như que củi, khuôn mặt héo hắt buồn nhưng hiền lành, ít nói và chịu khó. Không có con bé đó chắc tôi cũng kiệt sức . Hai đứa nó cứ rù rì, nhỏ to như đôi chim cu. Tôi hỏi nó: “Sao em yêu con bé đó hay vậy ?”
Nó nhìn thẳng vào mắt tôi nghiêm nghị trả lời: “Vì nhà nó nghèo, ba mẹ nó bịnh hoạn hoài, ban ngày nó phải bán bánh kẹo trên ga nuôi em, tối về đi học bổ túc… Mà nó chăm học lắm đó chị .”
Ba me tôi không chấp nhận con bé đó, nhưng nó rất cương quyết: ” Con là đứa hay đau ốm và học hành không bằng anh chị em trong nhà, nên biết con chọn cô gái đó là hợp lí, cô ấy sẽ ở bên cạnh và giúp đỡ con.” Cả nhà đành phải bằng lòng và tổ chức đám cưới cho nó.

Anh em chúng tôi học hành ra trường, ai cũng giỏi giang, đỗ đạt, có công ăn việc làm ổn định, dần dần tự lập và ra riêng, nhường ngôi nhà lại cho vợ chồng nó. Mỗi chiều 30 tết, nó đều bảo vợ nó lo nấu nướng mời anh em về ngôi nhà đó gặp mặt. Chúng tôi lại có dịp ngồi lại với nhau kể về những ngày thơ ấu nghèo khó và những kỉ niệm cười ra nước mắt. Mỗi lần anh em ngồi lại với nhau lỡ có ai chọc ghẹo hay phê phán gì tôi là nó gân cổ bênh tôi chầm chập.
Nó học hành không giỏi nhưng lại có đôi tay khéo léo và cần mẫn, nó làm đủ nghề để vợ con được đầy đủ và cưu mang cả gia đình bên vợ… Rồi nó cũng thành lập được công ty thiết kế trang trí nội thất, làm chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc. Quân của nó đầy đủ kiến trúc sư, thiết kế đồ họa, kế toán, công nhân… Nó trở nên bệ vệ , oai nghiêm với những bộ vét sang trọng giày vớ sáng láng… Những lúc gặp nó tôi đùa, nhắc lại chiếc áo có vết chít ngực của tôi ngày xưa, nó cười buồn: “Hồi nhỏ thiếu thốn đủ thứ, bây giờ sống bù lại chị à!”.
Công ty của nó làm ăn phát đạt, nó trả lại ngôi nhà cho ba me tôi bán dưỡng già, mua đất xây biệt thự. Căn biệt thự vừa xây xong thì mọi chuyện vỡ ra…

Nó đã say mê và có con với một cô gái chỉ bằng tuổi con trai nó…
Vợ nó hiền lành chẳng biết làm gì chỉ biết khóc, nhưng những bà chị em dâu thì lồng lộng ghen dùm.
Chẳng hiểu mấy bà chị em dâu của tôi làm thế nào biết tất cả đường đi nước bước mà tìm ra được “ổ nhền nhện” rồi áp tải mẹ tôi đến đó.
Mẹ tôi kể lại cho tôi nghe tất cả những việc diễn ra trong căn phòng đó với nụ cười tếu táo.
Mấy bà chị em dâu làm áp lực mẹ tôi đến đó phải làm thật hung dữ cho “con đó” sợ bỏ chạy… nếu không mấy không mấy ông con trai của me bắt chước…
Me tôi vốn quí, nể và muốn bình yên nên đã làm theo cho vừa lòng mấy nàng dâu.
Vừa nhìn thấy cô gái mẹ tôi đã lớn tiếng: “Nè, cô kia, sao cô còn trẻ đẹp mà không đi kiếm một tấm chồng cho đàng hoàng… lại đi quyến rũ con trai tôi, để nó bỏ vợ bỏ con.”
Cô gái cũng đanh đá không kém: “Bà không có quyền nói tôi, bà về nói với con trai bà, ổng nói với tôi, ổng tự do vì đã ly dị vợ rồi.”
Me tôi trợn tròn đôi mắt định cho “con bé” láo xược một bài học … thì bỗng dưng… một con bé khoảng ba tuổi có khuôn mặt bầu bĩnh và đôi mắt nâu đen với hàng mi rợp dài giống thằng con trai của bà như đúc đang chập chững bước về phía bà và trượt chân… Như một phản xạ bà chụp lấy cánh tay cô bé, nó ôm lấy cổ bà và nhảy vào long ngồi thật gọn… Mẹ tôi cứng miệng, tắt tiếng ca và cùng mấy bà chị em dâu ngậm ngùi ra về… không kèn không trống.

Hết mấy bà chị em dâu là đến mấy ông anh em trai tiếp tục quậy phá “ổ nhền nhện”.
Một buổi sáng, tôi đang dạy trên lớp, tiếng chuông điện thoại ở chế độ im lặng rung liên hồi. Tôi nhìn thấy số phone của nó và đành chạy ra lan can lớp học nghe tiếng nó hốt hoảng: “Chị ơi, chị đến cứu cô ấy và con gái em…. mấy ông nhà mình thuê côn đồ đến hành hung…”
“Trời đất, chị đang dạy. Mà chị làm gì được?”
“Dù sao có chị vẫn đỡ hơn…”
“Khó cho chị quá em ơi! Mấy bà chị dâu đã vu cho chị cái tội là bao che em, bây giờ chị can dự vào chắc cả nhà cô lập chị. Rồi con trai em nữa, nó sẽ trách chị. Em tạm thời đưa cô ấy và con bé trốn đi đâu đó một thời gian, chờ yên ắng rồi tính tiếp…”
“Dạ, thôi đành vậy! ”

Vậy là nó bỏ lại tất cả, công ty, biệt thự, những người ruột thịt… ra đi cùng cô gái ấy với hai bàn tay trắng…
Gia đình tôi cũng yên ắng được thời gian, thì con trai của nó chạy đến nhà tôi hớt hãi: “Cô ơi, ba con bỏ đi , công ty như rắn mất đầu. Hợp đồng bị người ta gạt không chịu trả tiền, lương không có trả cho công nhân viên… Họ bỏ đi làm công ty khác kéo theo khách hàng của mình… Rồi chuyện tình cảm của con cũng gặp rắc rối…”
“Rắc rối sao?”
“Cô ấy… đá con đau điếng, nói là ba anh như thế rồi anh cũng giống ba anh…”
“Trời ơi, toàn những chuyện mà cô có ba đầu sáu tay cũng không giúp con được. Để cô đưa con về nói chuyện với bà nội”.
Mẹ tôi ngồi nghe thằng cháu nội kể lể với khuôn mặt dửng dưng vô cảm, rồi thủng thẳng nói: “Ba con đã bỏ đi với hai bàn tay trắng, toàn bộ tài sản nó làm ra để lại cho hai mẹ con. Con lớn rồi, phải thay ba mà tiếp tục quản lí công việc và chăm sóc, an ủi mẹ con… Chuyện tình cảm con người không ai nói được… Bà nội cũng đã cố níu kéo rồi mà không thành. Nếu ba con như người ta, ra pháp luật đàng hoàng rồi chia tài sản thì hắn cũng không đến nỗi sống khổ sở như thế… Coi như ba con trả giá cũng đắt rồi con à! Còn chuyện của con, bà nội nghĩ cũng không có gì phải lo. Con còn trẻ, đứa này bỏ con thì con tìm đứa khác… nhường cho ba con, già rồi khó tìm…”
Tôi nín không nổi phì ra cười, mẹ tôi tỉnh bơ tủm tỉm cười theo, thằng cháu nội lắc đầu: “Bó tay với bà nội!”

Em tôi biền biệt một năm trời không tăm tích…
Cho đến một ngày tôi nhìn thấy số phone lạ trên máy, linh cảm như mách bảo…Tôi run tay bật máy.
“Chị ơi, em đây!”
“Em ở đâu? Sao đến bây giờ mới gọi cho chị? Em có khoẻ không?”
“Em bị tai nạn. Gãy chân phải bó bột. Một tuần rồi! ”
Tôi oà khóc. Em tôi rất sợ làm phiền người khác, khó khăn lắm nó mới gọi cho tôi.
“Em ở đâu? Nói đi, chị sẽ đến!”
“Thôi chị à, em ở xa , chị phải lo cho gia đình, công việc… Chị gởi cho em ít tiền trả viện phí là được rồi.”
“Em làm ăn, sinh sống thế nào?”
“Em làm cho công ty đứa bạn ngày xưa em giúp nó. Giờ cái chân bó bột chắc em phải ngồi không một tháng. Chị nhớ đừng cho ai biết, nhất là me , sợ me lo buồn…”

Tôi kể lại cho me tôi nghe, me tôi khóc tức tưởi : ” Sao con ngu quá con ơi?… Ai hành con? “. Rồi mẹ lục hết số tiền dành dụm được đưa cho tôi: “Con giấu đi, đừng cho bọn nó biết, thêm vào mà gởi từ từ cho em, đừng gởi hết một lần.”
Hai tháng sau nó gọi: “Em tháo băng bột và chống gậy chập chững đi làm bằng xe thồ được rồi, chị đừng gởi tiền cho em nữa.”
Cái thằng! Nó luôn muốn đi bằng đôi chân của chính nó, dù là đôi chân đau…

Rồi những chiều 30 tết anh em tôi lại tụ tập bên nhau trong ngôi nhà to rộng của anh tôi. Ngôi nhà cũ chúng tôi sống bên nhau trong thời thơ ấu nghèo khổ đã bán đi lấy tiền thuốc thang cho ba me tôi lúc tuổi già. Trong căn nhà tiện nghi, sang trọng, thức ăn đầy ắp món ngon vật lạ, các nàng dâu đi lại cười nói rạng rỡ, anh em trai tôi quây bên chiếu bạc sát phạt nhau, mẹ tôi lặng lẽ ngồi bên vợ nó ủ rũ muộn phiền… Tôi ứa nước mắt, không muốn cho mọi người thấy, tôi chạy ra lan can và nhìn về phía biển…
Cuộc đời đúng là dâu bể! Anh em tôi từ một con sông đã rẽ ra nhiều nhánh, có những nhánh sông thênh thang trôi về biển nhưng cũng có những nhánh sông đã trôi đi trong khó nhọc, lạc lối giữa những bãi bờ…
Những tảng đá lô nhô trên biển kia, rồi một ngày nào đó cũng bị bào mòn bởi thời gian, mưa nắng khắc nghiệt… Em tôi rồi cũng sẽ bị bào mòn bởi sự khắc nghiệt của cuộc đời để biến thành viên sỏi u buồn, cô độc…

TRẦN THỊ TRÚC HẠ

ĐÀ LẠT, THÀNH PHỐ MƯA BAY

nguyenanbinh

Em hẹn tôi về thăm thành phố mưa
Trên đồi cỏ non ven hồ liễu rũ
Một thoáng hương xưa qua từng phố cũ
Ly cà phê thơm năm ngón dịu dàng.

Con đường mưa quyến rũ bước chân nàng
Bờ vai nhỏ đong đưa đôi mắt biếc
Phố núi mù sương không lời tiễn biệt
Tiếng chim gọi tình vách núi cheo leo.

Dấu chân ngựa về nhớ gió thông reo
Hoa vẫn nở vô tình trên kẻ đá
Những đóa hoa vàng nao lòng khách lạ
Nghe lá thu mưa ngỡ bước em về.

Lãng đãng trong sương thơm mái tóc thề
Tình yêu tôi, tình một thời nông nổi
Mưa trong lòng, mưa làm em bối rối
Không còn tôi ai nhắc chuyện ngày xưa.

Em hẹn tôi về ngắm thành phố mưa
Mười mấy năm lời hẹn xưa bỏ lỡ
Gió hãy mang tình yêu tôi thuở đó
Mưa đồng bằng nhớ thành phố mưa bay.

NGUYỄN AN BÌNH