CÀ PHÊ HÀNH (Một Câu Thơ Hành Khúc)

tranvanle

Bạn tôi cà phê hành,
sáng nào cũng ra quán,
uống cà phê không chán…
như người tù chung thân!

Bạn tôi là Sĩ Quan,
qua Mỹ diện chữ Hắc.
Bạn không đi đường tắt
mà thẳng băng đường trời…

Lòng bạn không đổi dời:
Tổ Quốc là Trên Hết.
Bạn nghĩ tới ngày chết
được phủ lá Quốc Kỳ…

Cốc cà phê nhâm nhi,
bạn thầm thì với bạn…
cũng là những bạn sáng
cùng ngâm cà phê hành!

Tóc không ai còn xanh,
màu cà phê đen sánh.
Nhiều sáng trời thật lạnh,
ngày buồn hiu khói sương…

Tôi với bạn chung đuờng,
tới ngã ba thì rẽ.
Bạn đi tìm quán ghé,
tôi đi tìm ý thơ…

Cả hai đều bơ vơ,
không có gì thờ phụng.
Tổ Quốc là cái bóng
bay trong từng chiêm bao!

Tổ Quốc chừ cái bóng,
bay trong từng chiêm bao,
mà nào ai ngủ nào,
đêm dài thường trăn trở!

Bạn tôi đang ngồi đó,
tôi lặng lẽ đi đây.
Cà phê hành, ô hay!
Một câu thơ…hành khúc!

Trần Vấn Lệ

LIÊU XIÊU PHỐ

tranvannghia

Chợt thấy nắng rủ rê tìm thăm phố
Đời lấm lem che mặt chẳng dám nhìn
Chỉ còn lại giữa chiều mong manh nhớ
Về một người lâu lắm đã bặt tin

Có chiếc lá trên đường lang thang gặp
Muốn gửi ai sao thắc thỏm ngập ngừng
Ngày đã muộn vai tình buông lối thấp
Bao ngỡ ngàng riu ríu bước chân run

Tìm nơi đó mùa qua quên trở lại
Để ngậm ngùi đêm tràn gió bên sông
Đôi mắt liếc một thời làm ngây dại
Mãi vỗ đau cơn sóng gợn đáy lòng

Mộng và thực đôi bờ xao xuyến đợi
Đứng chênh vênh tím lạnh một cõi về
Dẫu xa lắc mơ hồ bao tiếng gọi
Rất phủ phàng em quay mặt chẳng nghe

Thôi cứ giữ những hẹn hò thuở trước
Với mối tình rất cũ mấy mươi năm
Thấy già nua theo nỗi buồn xuôi ngược
Cũng chưa quên hương tóc rối nguyên rằm

TRẦN VĂN NGHĨA

CÂU CHUYỆN NHỎ CỦA MÙA THU

( Tặng Tiểu Di)

nguyenthithanhduyen

– Anh về sớm vậy
– ừ em gọi mà, nhưng thôi cũng 9h tối rồi, anh nghĩ em nhớ anh
– thì coi như nhớ đi
– Hình như em muốn nói chuyện gì với anh, phải không ?
– ok một vài chuyện phiếm thôi … em nghĩ khi người đàn ông yêu, họ thường tiếp nối từ cuộc tình cũ đến cuộc tình mới , ký ức của họ chấp chới, chồng chất khiến trái tim mệt mỏi và chật chội, có lúc họ lẫn lộn thói quen của người đàn bà cũ với người đàn bà họ đang sống .
– em dựa vào đâu mà nói thế ?
– vào anh!
– anh ? ừ đôi lúc anh thấy mệt, để hoàn toàn trở nên trống không … chẳng còn ký ức nào về họ, anh lại cảm thấy buồn nhớ day dứt , nhưng riêng em …
– Không, anh đừng mang em để cạnh những nỗi lòng này vì : em chẳng bao giờ yêu anh như họ đã yêu anh, em không ở trong trái tim anh một cách nhẹ tênh như màu nắng vàng úa ( khiến anh xót đau ngày chia ly ), em cũng không phải là cơn mưa khiến anh chợt nhớ đến nụ hôn nào đó, mái tóc nào đó uớt rũ trong vòng tay anh, em đang sống với anh bằng mâm cơm nóng hổi … mỗi chiều đi làm về, bằng những bộ áo quần treo ngay ngắn trong tủ …
– em giận anh hả?
– không đừng ngắt lời… anh hiểu chưa đủ đâu anh yêu, em đang sống với anh bằng những ngày tháng quí báu nhất còn lại của tuổi đời chúng ta, em vẫn hôn anh mỗi ngày rất thương yêu, em vẫn luôn thay bàn chải đánh răng cho anh, chăm sóc anh và sau những nỗi buồn chật hẹp trong trái tim anh … em vẫn thích làm tình với anh, anh vẫn hạnh phúc và gọi đùa em là con sóc …
– anh nắm tay em nhé , có thể em đang trong tâm trạng hụt hẫng thất vọng về anh, hãy cho anh chút thời gian, có được không ? anh hiểu phụ nữ khi yêu họ rất rõ ràng, những cuộc tình đã qua dường như họ không vương vấn nữa, họ sống cho người đàn ông họ đang yêu hết cả tấm lòng, anh nghĩ phụ nữ thật bạc tình ,
em không muốn tranh luận về vấn đề này sao
– không
– em đang mất tự chủ
– không
– em ghen ?
– điều này lại càng không, vì đối với em, hờn ghen là tình yêu đang ở cấp số nhân đấy, em phải cười một chút cho bớt mệt anh ạ
– hôm nay em lạ quá
– anh thì đã lạ mấy hôm rồi
– em cần uống cafe, anh tắm và đi ngủ đi
– không , anh cảm giác có gì không ổn, hôm nay anh muốn em
– ừ em cũng vậy
nàng đứng dậy choàng ôm tôi , nụ cười của nàng cùng cái hôn trên mặt tôi âu yếm , tôi sửng sờ cái cảm giác đến lạ khi nàng cắn nhẹ vành tai tôi , nghe âm ấm nhưng hoàn toàn không nghe tiếng thở của nàng ( có phải em đang khóc ) tôi xoay lại ôm nàng nhưng đã vuột khỏi vòng tay tôi .
Tôi ngồi im lặng vì biết nàng sẽ không nói gì nữa và không muốn nghe bất cứ điều gì
Nàng cầm chìa khóa xe ,quay lại nháy tôi ý như ( em đi một chút sẽ về ngay ) ừ nàng cũng thường đi như vậy, sau đó mang về chai rượu, huyênh hoang làm món bò lúc lắc cho tôi, hai đứa cùng uống.
Không thể ngồi mãi ngoài vườn, tôi vào nhà, bất chợt nhìn thấy chùm chìa khóa cửa nằm ngay bàn ăn, mở toang cánh cửa phòng ngủ, tất cả được dọn dẹp ngay ngắn và trống trải lạnh lùng
Nàng viết trên tấm kính
” một đường thẳng gạch ngang ”
nàng biết tôi không bao giờ đi tìm nàng
( anh yêu em nhưng có thể anh không bao giờ níu kéo em bên cạnh anh mãi mãi ,đó là điều buồn khổ cho cả hai chúng ta )
cô đơn như tấm chắn trước trái tim đã quá nhiều đau đớn

NGUYỄN THỊ THANH DUYÊN

TỪ CHỐI

tonphong

Nếu con tàu từ chối đại dương
Đại dương từ chối lời ru của sóng
Tôi từ chối mắt em nhìn lắng đọng
Giông bão trong lòng từ chối làm sao ?

Nếu lịch sử từ chối trước sau
Tình yêu từ chối lời chân thật
Con người sẽ từ chối lẫn nhau

Từ chối mặt trời
Em quay lại bóng đêm
Lời yêu làm em giận dữ
Anh sẽ làm quỷ sứ
Xuống âm ty anh từ chối thiên đàng
Thiên dàng bóng đêm
xin trả lại em

Là con tàu anh khát vọng đại dương
Đại dương anh khát vọng lời ru của sóng
Là sóng anh yêu cả cái nổi khùng của gió
Dù đời anh bị từ chối từng ngày…

TÔN PHONG

KHI THIÊN TÀI CHẾT…

linhphuong

Thiên tài ta
sẽ chẳng còn
Sống cơ cực
giữa muôn trùng gian nan
Cắt lìa
quá khứ xa xăm
Khối u ác tính
tự dưng máu trào
Ta nằm chết
dưới mộ sâu
Mấy em đừng
giả vờ đau

buồn
Cuộc đời
vốn đã không thương
Thằng bạt mạng
mấy chục năm khật khùng
Hỏi thăm
Chợ Lớn – Sài Gòn
Bốn phương thiên hạ
xa gần khắp nơi
Thuyền quyên
thục nữ bao người
Bỏ ta điên dại
khóc- cười- nhớ -quên ?
Thiên tài
bệnh tật triền miên
Trái tim
vẫn ngậm ngải tìm
trầm xưa
Trầm xưa
mất mẹ nó rồi
Thì thôi
vui với bốn mùa dế-giun

LINH PHƯƠNG

Những nhà thơ bự.

nguyentri

Đỏ. Dân phụ hồ. Đẹp trai, chịu khó nên lọt mắt ông Chỉnh. Ông nầy có đứa con gái dậy thì năm mười ba, biết yêu năm mười bốn. Đến năm mười tám cô lấy chồng. Ta bà lắm chuyện kháo rằng:
– Cha Chỉnh không lấp cái lổ bằng tiền thì con Chinh chớ có hòng là vợ thằng Đỏ.
Đỏ được ông via vợ ưu ái cho một căn nhà. Thêm bộ đồ nghề xây dựng đủ để lên thầu. Ai nhà xây nóc thái, cả biệt thự kiểu pháp Đỏ nhận tất. Dưới trướng thợ, thầy. Đủ. Học hành không bao nhiêu nhưng xưa nay cái chi muốn đều mua được bằng tiền. Cácvizít của Đỏ được in “ Kỹ sư Trần Đỏ chuyên…”
Nhờ vôi vữa sắt thép Đỏ tậu được xế hộp. Thợ thầy không bao giờ hết việc. Muốn nhận đồng lương của Đỏ phải giỏi. Nhờ họ công ty xây dựng Trần Đỏ vang rền, và nhờ Đỏ tiếng khè của họ sau ly rượu cuối tuần luôn đậm mùi phấn khởi.
Xin đừng tưởng vôi vữa làm xơ cứng tâm hồn. Tâm tư Đỏ hỉ nộ ái ố chả thua thằng đếch nào. Và những điều ấy anh trang trải lên giấy. Học ít nhưng thừa biết, ngoại trừ vần điệu còn có thơ tự do. Đỏ viết và gom lại cả trăm bài đủ thể loại. Chuyện xây tô, dán gạch, dựng cột đều hoá thành lục bát hoặc tứ tuyệt. Thời in ấn dễ ẹc, anh bấm nút và cho bầy thợ thầy dưới trướng đọc cho vui. Mẹ cha ơi, chúng xoe mắt không ngờ anh cho vôi vữa và sắt thép chắp cánh bay cao. Trong cái mở hổ lốn tả pín lù cũng có thằng nằm trong hội thơ ca cấp ấp, tục gọi câu lạc bộ thơ liền rủ rê Đỏ gia nhập. Còn nói vào hội anh mới phát huy được tài mình. Đỏ ok liền.
Cái câu lạc bộ thơ ca nầy hẻo lắm. Nam phụ lão và mấy em mười tám đôi mươi tụ lại bên chén rượu mà bình thơ. Được chừng mười ngoe. Tuy nhiên tài năng có thừa, thơ cứ theo rượu tuôn lai láng. Đỏ xưa nay bia là chính nên ra mắt bằng hai thùng Ken và mươi bài thơ mà anh cho rằng hay nhất trong sự nghiệp thi ca của mình. Ngài tộc trưởng thơ gật gù:
– Thơ anh có hồn lắm, tôi sẽ giới thiệu anh với một nhà thơ cấp tỉnh xem sao.
Thơ được khen là quá quý, lại được hứa sẽ giới thiệu lên trên là không tưởng. Đỏ xưa nay vốn múng manh là chính, nghĩ rằng muốn công cho sập thành không chi hơn tiền. Nên chi mỗi lần họp hội là anh chủ xị chung chi bữa nhậu. Vậy là các thành viên phong anh lên hàm chủ tịch, tuy miệng nhưng giá trị gấp trăm lần văn bản có dấu đỏ.
Một nhà thơ nghe rằng cấp tỉnh được mời xuống tham dự buổi họp mặt cho vui. Người thơ được long trọng mời ngồi ghế danh dự. Thôi thì bia bọt và thơ tha hồ đọc. Nhà thơ cấp tỉnh hạ cố nói với Đỏ:
– Anh có đọc qua thơ em, nhiều bài rất có hồn, xin chúc mừng.
Nói xong nhà thơ nâng lon tu một hơi, ợ một phát rõ dài. Đỏ hỏi:
– Theo anh bài nào có hồn nhất ạ?
Nhà nói sau khi tu thêm một hơi bia:
– Đó là bài hạnh phúc.
Bằng một giọng diễn cảm ngài đọc:
Vôi vữa và sắt thép
Anh tạo nên tầm cao
Bên trong cao và rộng
Là tình yêu đôi ta

Hạnh phúc.
Đọc xong nhà thơ vỗ đùi đánh đét khen đã đời rồi nhưng một phát:
– Thơ em hay, có hồn nhưng khuyết điểm là trực diện, phải làm sao không cho ý tứ lộ ra, người đọc phải tìm tòi suy nghĩ, thì ta và thơ ta mới yên vị trong lòng họ. Hiểu không?
Đỏ ngơ như bò đội nón, nhà nói tiếp:
– Em hãy nghe bài thơ nầy của anh:
Con cá bói chim
Nằm dưới đáy ao sâu
Chờ con én liệng
Đớp
.
Nhà thơ hỏi:
– Em thấy gì, hiểu gì, nghe ra gì trong bài nầy?
Đỏ yên lặng. Biết là anh chết tức khắc. Nhà thơ đắc ý:
– Thơ phải bí ẩn, Phải tạo được suy tư cho độc giả. Như thơ của Bà huyện Thanh Quan vậy, tục mà thanh thanh mà tục. Em biết bà chúa thơ nôm không?
– Dạ thưa anh không ạ.
Nhà thơ cấp cao liền đọc cho Đỏ nghe bài thân em như quả mít trên cây rồi bài chàng với thiếp đêm khuya bất ý vân vân. Và kết luận:
– Em phải dấu ý mình đi, hiểu không?
Đỏ nể nang nhà thơ bự lắm. Đỏ mong thơ mình in trên một tờ báo chi đó xiết bao. Muốn vậy phải thơ phải có ý ẩn, sao cho nhà thơ không nhận ra là đạt. Đỏ vắt ác moi tim. Uống cả chục thùng hê-nê-ken, thêm chai uýt ky mới ra được một bài. Anh nhờ một bạn thơ cấp ấp đưa anh đến hội kiến nhà thơ tại tư gia của người.
Nhà thơ bự nằm còng queo như con tôm luộc trên nền nhà. Khách đến lồm cồm ngồi dậy, mắt ghèn, khoé mép còn vương nước dãi, mặt mày ngu tợn, bình dân gọi say ke. Sau khi vệ sinh nhà thơ tiếp khách.
Khách mang đến một Votka thứ thiệt. Mồi màng đủ. Ngà men, Đỏ đưa bài thơ cho người thơ xin ngài đánh cho một giá. Đọc xong nhà thơ thần người nghĩ ngợi. Lâu lắc mới phán rằng:
– Tâm sự chú mày giống tâm sự đời anh.
Rồi người ôm Đỏ ra chiều tri kỷ. Sau đó đọc bài thơ:
đêm huyền diệu
trong lụa là gấm vóc
đôi ta
vai kề vai, má kề má trong tay nhau cùng vui trên điện ngọc
nhưng
tan tành huyễn mộng
ta nghe đổ vỡ đến tận cùng
hận nầy biết tỏ cùng ai?

Nhà thơ cấp ấp đọc xong không hiểu cái chi mô, nhưng cũng khen tưới hạt sen. Rồi nhân lúc Đỏ đi ngoài thơ cấp ấp hỏi cấp bự:
– Em không hiểu ý tứ bài nầy anh ạ.
– Chú mày chả biết đếch gì. Là con vợ nó mất trinh trước khi lấy nó mầy hiểu không?

NguyễnTrí

Thu Mênh Mông

phamkhanhvu

Tháng chín mưa dầm trên mái ngói
Người ra đi chia nửa trời sầu
Chẳng lẽ như chim lười biếng hót
Mà người thì thôi đã quên nhau

Tôi về nghe thu rơi với mộng
Nắng vàng hiu hắt ngủ bên hiên
Ngẩn ngơ lá rụng trong hồn mỏng
Nụ cười thơm ngát giấc man thiên

Hay đã xa rồi mưa dưới gót
Con đường tình tự cỏ cây vàng
Tháng chín tôi về hoa lá khóc
Nhớ người nước mắt nhỏ mênh mang

Hái nụ tình hồng nghe rất lạ
Thương áo người xanh buổi tiễn đưa
Tay đan đứng dưới chùm lá nõn
Mới biết yêu nhau thế cũng vừa

Người đi mùa dâu vàng năm ngoái
Nên có khi buồn như hôm nay
Một mình nghe cả mùa thu tới
Đôi mắt tình không cứ thở dài

Tháng chín tôi về xa như gió
Chút lòng cuồng ngã giữa chiêm bao
Nhớ áo xanh ngày xưa quá đỗi
Ngoài trời mưa gõ nhịp mưa mau

Tháng chín vàng đôi tay ngưỡng vọng
Ôi khóm tường vi đứng ngậm ngùi
Người đi thuở ấy không còn nhớ
Mưa hồng rơi xuống xót xa tôi.

PHẠM KHÁNH VŨ
( 1974)

LẶNG IM BIỂN. NGƯỜI VỀ

Khóc Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, mất ngày 13.9.2014

nguyenthikhanhminh

Tin gió đưa về với mênh mông
Biển rất xanh và chân trời hư ảo
Sao ai trả lời kia sóng như bông*

Nở một đoá xôn xao chín suối
Tóc như mây trăm ngả sông về
Biển hò hẹn chắt lòng bông hoa muối

Động lòng câu hỏi ai xưa
Trời không im đất cũng vừa lên tiếng
Nghe thì thầm. Thì thầm… hãy lặng im như biển**

Biển mở ngàn tay tung nghìn bước sóng
Ai vừa đến hát mừng a cõi mộng
Hỏi một câu giờ trời đất mới hay…

Tan với cỏ cây một hồn sương sớm
Gió nghe không. Hạt lệ đó vừa khô
Mây nghe không. Bay vừa lên cánh mỏng

Tan với lòng xanh nhánh hồn như mộng
Hồn sóng dạt dào ôi biển nghe không
Biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, và biết hết…**

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Sep14.2014

Cái chết của một ngôn ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn cũ

Trịnh Thanh Thủy

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quân Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v… Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.
Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v…dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.
Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: “Anh xin quản lý đời em”. Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ”. Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như “chế độ xem”, “chế độ bao cấp”. Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơn; bảo đảm – đảm bảo; dãi dầu – dầu dãi; vùi dập – dập vùi. v.v…
Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân”. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.
Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v…
Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.
Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.
Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.
Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của Việt Cộng” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ “cộng sản” nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.
Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)
Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.”
Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!
Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:
Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.
Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:
Trong nước:
Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy
Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
(http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2006/09/3B9EDF89/)
Ngoài nước:
Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga
Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=48362&z=75)
Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng…
Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.
Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng Anh sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (http://i12.photobucket.com/albums/a215/unisom/thualuonJPG.jpg)
Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!
Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.
Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là “cái chết của một ngôn ngữ”

TRỊNH THANH THỦY