MỞ

daolam

Em mở vung bờ ngực
Núi đồi ngẩn ngơ chiều
Trên cành cọng lá thức
Ta hồn lạc chân xiêu

Em mở vung bờ ngực
Đáy mắt chiều nhấp nhô
Ta. Chân trần cõi tục
Đi về phía giấc mơ

Em mở vung bờ ngực
Ốc đảo reo thì thầm
Đất trời nghiêng nhật thực
Ta thả…chiều vào đêm

EM MỞ TOANG BỜ NGỰC
TA. TỘI ĐỒ HIẾN DÂNG

Dao Lam

ÁO BIẾC XƯA…

linhphuong

Ờ thì chắc gì như năm trước
Gió thốc ngoài hiên thổi tạt buồn
Tay trắng-trắng tay anh trơn trợt
Tuột dốc tình níu chẳng chịu buông

Níu lấy em một thời hoa mộng
Mộng ngày e ấp tuổi hai mươi
Chở theo hương tóc ngàn kỷ niệm
Đậu giữa ngực mềm bao giấc mơ

Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Thu rắc vai em chút phấn vàng
Anh gánh gian nan mùa ly loạn
Đi tìm dấu vết bóng kim lan

Ờ thì chắc gì không đau điếng
Lần tiễn đưa bỏ lại nụ cười
Hạt lệ nào rưng rưng em khóc
Rơi từ khóe mắt xuống bờ môi

Bỗng thấy cỏ hiền ngoan nằm ngủ
Dưới bàn chân trắng ngó sen hồng
Anh khẽ hôn dịu dàng năm ngón
Để thương hoài năm ngón em thơm

Bỗng thấy chiều sông xanh quá đỗi
Nắng xế tàn chim lạc cánh bay
Người lâu rồi trở thành người cũ
Buốt lòng anh trong tiếng thở dài

Ờ thì chắc gì em đã giữ
Tờ thư anh và khói quê nhà
Quê nhà . Chao ôi ! Xa vời vợi
Tờ thư anh màu mực phôi pha

Xuân chưa chớm mà xoan vội muộn
Tình chưa phai sao biệt bóng hình
Anh dặn anh thôi đừng nhớ nữa
Nhưng trời ơi nỗi nhớ vây quanh

Con đường nào anh qua trăm bận
Khổ gì đâu hoa rụng tơi bời
Khổ gì đâu tim anh nhoi nhói
Bởi em giờ có cặp-có đôi

Ờ thì chắc gì anh còn sống
Đợi kim lan áo biếc quay về
Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Bịn rịn ngày giấu vạt mây che

Bịn rịn ngày chấm lưng tóc rối
Lá bùa yêu rớt xuống sân đời
Sân đời anh ngã không gượng nỗi
Nên đành lặng lẽ bỏ cuộc chơi

Sông bỗng rộng và dài từ thuở
Anh mất em chim lẻ bạn tình
Trăng uất nghẹn vì ai trăng vỡ
Từng giọt hồng thắm đỏ thơ anh

LINH PHƯƠNG

NÓI CÙNG GIỌT NƯỚC MẮT TUYẾT

chuthuynguyen

Ở bờ bên kia. là quán của mây
Người về đó. bóng quày quả đi
Em có còn . giờ nầy lòng đá cuội
Để ta ru . mông muội trận tình si

Nói cạn cùng . khởi hành nơi về lại
Chiều thu ba . hoa cỏ quặn lòng đau
Tìm chi mãi . ở đầu sương với khói ?
Tựa vào đâu . ngày gói ghém buồn nôn ?

Chân hồ hải . bên trời mơ chim hót
Nguyệt thực trọn hồn . rỗng giấc nguy nga
Đỉnh đạc gát bên cầu . màu mộng cũ
Rong rêu xanh . ma trận những lòng tâm

Thôi về nhé . rậm ri mùa đông giá
Phả vào hồn . khói thuốc lụy nguồn cơn
Giọt nước mắt . đọng quanh hồn xương lá
Là tuyết trong em . sao lâu mãi chưa tan ? …

CHU THỤY NGUYÊN

THÁNG GIÊNG HÁT

muongman

Tháng Giêng hiền như cỏ
Và tóc mềm như mây
Tóc bay qua bến lạ
Sông thương ai, sông đầy

Tháng Giêng biếc như lá
Và tình ấm như tay
Tình rẽ sang lối nọ
Vai nhớ ai, vai gầy

Tháng Giêng trắng như cúc
Và áo vàng như mai
Áo nhàu trăm nếp bụi
Giữ hoài mơ chưa phai

Tháng Giêng ướt như mắt
Tháng Giêng hồng như môi
Trái tim ai hoá bướm
Bay theo nhau, bồi hồi

Tháng Giêng sao về muộn
Không em, chim lạc bầy
Một mình lên đồi hát
Xuân nhớ ai, xuân gầy

MƯỜNG MÁN

CHỮ NGHĨA, CAFÉ & BẠN.

thuyvi

Hẹn nhau tại quán cà phê
Tay bắt mắt ngó chỉnh tề, ba hoa
Đi đâu ta cũng là ta
Bạn cũng là bạn, tà tà giống nhau
Mỗi thằng thòng một nhúm râu
Thằng để, thằng cạo hơn nhau điểm nào?
Nhìn chung, một bọn tào lao
Viết hay nói cũng tầm phào quanh năm
Thèm đi, thèm ngủ, thèm nằm
Thèm bao nhiêu thứ… trăm năm bình thường
Hơn gì nhau chuyện yêu thương
Thua gì nhau nỗi vui buồn chung riêng
Nói nhảm vẫn ấm nét duyên
Chửi thề vớ vẩn đâu phiền lòng ai
Cà phê từng ngụm lai rai
Cái ngon ở chỗ cụng vai nói cười.

( Luân Hoán )
Bà Lệ Hằng có nói, ngày đó, Sàigòn ngoài đường, ít thấy con gái mặc áo dây khoe chân dài, ngực trần… nên, con gái cũng ít khi nào ngồi quán café, ngoại trừ cô ấy ngồi với người yêu .
Đầu tiên tôi biết quán cà phê Lú là do Tường, bởi anh hay đến đó và rủ tôi theo. Chỗ này, tôi gặp các ông Cung Tích Biền, Ngụy Ngữ…và những người bạn văn nghệ khác của Tường, hình như còn có mấy ông từ miền Trung như Mường Mán và loáng thoáng thêm vài khuôn mặt, nhưng lâu rồi không còn nhớ tên.
Quán cà phê Lú của họa sĩ Vị Ý mở ra nằm thẳng hàng trên một dãy phố đâm vào chợ Thị Nghè. Nghe tên quán thôi người ta đã hình dung ra ông chủ có cái vẻ nghịch ngợm rất văn nghệ rồi. Cái tên quán Lú như hàm nghĩa quên hết sự đời ngoài kia nên khi bước vào, người ta chỉ thấy ngoài tách café màu ma mị còn có nhạc, có thơ, có những bức vẽ huyễn hoặc tài hoa của chủ nhân treo cao thấp trên tường thật nghệ thuật nên dễ lôi cuốn những người khách lãng mạn nhất là giới nghệ sĩ – họ thường tụ ở đó, gặp nhau là nói, họ có đủ chuyện để nói, y như nói là một nhu cầu thôi thúc, thúc bách… Có người nói thao thao với dáng vẻ bức thiết sống chết về cuộc đời, có người cố tình làm ra kiểu suy tư hiền triết …Thú thật, lúc đó cuộc tình của tôi và Ch. dường như bế tắc nên tôi cứ cà ngất cà ngơ làm gì hiểu nổi ba chuyện văn chương, triết lý, hiện sinh cao ngất trời của mấy ông…. Ngồi đồng với Tường trong gian phòng ngập mùi thuốc lá với dân Sáng Tạo, dân Văn… thật không chút hứng thú, tôi chỉ muốn thoát ra cái hộp nóng bức ngột ngạt đó để quanh quẩn trong những cửa tiệm hoặc lọt thỏm trong rừng sách Khai Trí mát rượi, để ngó nghiêng ngó ngữa những cuốn truyện thơm mùi giấy mới với trang bìa hình con gái đầy màu sắc thật dễ thương do Vivi hay Đinh Tiến Luyện vẽ, hay lê la chỗ bán gỏi đu đủ, cóc me dầm cam thảo, ghé nước mía Viễn Đông…. hơn là theo Tường đến quán cà phê âm u như âm phủ…
Thời gian này, lúc quen Tường là lúc tôi mon men bước vào con đường văn nghệ, đang theo học khoa Thoại kịch bên Quốc Gia Âm Nhạc. Còn Tường và anh Luyện đang cộng tác với Công Luận chăm sóc trang Tuổi ngọc và tờ Tuổi ngọc với nhà văn Duyên Anh. Ngoài mục trả lời thư tín, Tường còn viết truyện dài, nhưng tôi lại thích thơ của Tường, có lẽ về truyện, mạch văn của Tường chậm và buồn quá nên tôi thích truyện Đinh Tiến Luyện viết hơn, như Anh Chi Yêu Dấu của anh Luyện thật lãng mạn y hệt những trang bìa anh vẽ cho lứa tuổi con gái thích ô mai.
Đóng chốt ở Lú một thời gian, Tường và những người bạn dời qua Thằng Bờm vừa mới khai trương. Không hiểu do đâu ông Thanh Hùng biết tôi làm thơ nên đề nghị Tường & tôi ngâm nga cho chương trình thêm phần sôi động. Tôi gặp cặp Lê Uyên & Phương và Tình Khúc Cho Em ở đây, gặp Vũ Thành An cùng vị hôn thê và bài Không Tên 5 cũng ở đây, gặp cả Phạm Duy với Thà Như Giọt Mưa phổ thơ của Nguyễn Tất Nhiên và cặp Từ Công Phụng & Từ Dung với Bây Giờ Tháng Mấy cũng ở đây….Những tối cuối tuần, khách của Thằng Bờm đông lắm, đứng tràn ra đường. Nơi đây cũng ghi nhiều kỷ niệm của tôi với Tường, thường, những lần khi rời Thằng Bờm chúng tôi thả bộ dưới trời đêm, lần đó ra về sau cơn mưa, Tường loay hoay phụ kéo tuột đôi sandal và giữ nó cho đôi chân trần của tôi thoả thích đùa nghịch dầm trong những vũng nước rải rác suốt vĩa hè dài, có khi chúng tôi đá nước vào nhau rồi cười vang như trẻ thơ. Tôi biết Tường rất thương tôi, những dòng chữ nắn nót “ Anh không thể nào phù phép hoá biến em thành một cô công chúa sung sướng nhất trần đời như em thường mơ ước, nhưng anh có trái tim và lửa của trái tim ….” đã nói hết tấm lòng của Tường với tôi rồi, nhờ thế tâm hồn tôi bớt sóng gió trôi êm ả với tình cảm trong sáng và không khí văn nghệ quyến rũ dễ thương của quán Thằng Bờm.
Tuy chưa yêu Tường, nhưng chúng tôi càng lúc càng thân nhau, tuy nhiên, trong mơ hồ tôi nhận thấy Tường có điều gì rất lạ, có khi anh đâm ra khó tính, có lúc như bồn chồn, cộng thêm những giận dỗi kỳ quặc ghen tương thậm vô lý… anh sinh ra độc đoán đến khó chịu ! Tánh tôi trẻ con nên không chịu nỗi những áp lực dường như quá lớn từ anh. Chúng tôi vẫn gặp nhau, nhưng không có gì vui… Thế rồi, nhiều lần tôi cố tình tránh mặt để mối quan hệ này không vướng bận mắc mứu. Bẵng đi khá lâu, tình cờ thấy anh đi với một người con gái khác, dáng cao to và đẹp – tôi đoán cô ta là Hương vì những trang viết của anh đã thấp thoáng bóng nàng….
Lần đó, không hiểu sao anh biết tôi về nên chặn tôi nơi đầu ngõ để đưa tặng cuốn Huyền Xưa vừa xuất bản. Huyền Xưa là tựa mang tên mà Tường đặt cho tôi, một cái tên với vô vàn kỷ niệm, và, cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau.
Tôi thích nhiều bạn, thích không khí văn nghệ, nhưng lại lập gia đình với người đàn ông rất ít nói và không dính dấp chút văn chương hay nghệ thuật nào, ấy vậy, anh lại là người rất dễ chịu, giao tiếp và đỡ đần hết thảy và nhất là ủng hộ tôi rất nhiều trong mọi hoàn cảnh. Do được chồng đồng cảm, nên hai đứa có chung bạn bè. Cứ hễ ai có chuyện, chỉ ới lên, cả bọn thay phiên nhau chạy tới, dù không dư dả gì – khi cần, nhóm bạn cùng ghé vai, trút túi – mọi việc giải quyết nhẹ lắm, cùng tâm cùng ý nên chuyện gì cũng dễ như không.
Thành phố chúng tôi sống tuy quanh năm mùa đông nhưng cũng có nhiều ngày nắng ấm, cả nhóm thường tụ ở quán café quen, tuy quang cảnh không om sòm như những thành phố khác, tuy không có mùi ở Saigon như Nguyễn Mạnh An Dân tiếc nuối…“Sao mà nhớ không khí cà phê của Sài gòn xưa muốn thúi ruột. Ước gì có không khí hồi đó, con người hồi đó. Mấy anh chàng đi ra đi vào, hớn hở kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình, nồng nhiệt tính chuyện lấp biển dời sông, bàn tán tính đường trốn lính, cái gì cũng ồn ào bộc trực, thoải mái tự nhiên không màu mè rào đón, sống đã thiệt…” Trong nhiều năm, chúng tôi quây quần với nhau, có người tóc bạc, có người mặt mày quắt queo hay tròn vo cái bụng, thậm chí có người đã chống gậy. có Hiếu nhỏ tuổi hơn nhưng tánh trượng phu như Trương Phi, có Quý tình nghĩa như Lưu Bị, có Phạm Thắng Vũ đầu óc như Quan Công, đặc biệt Vũ còn là một trong những cây bút viết về chính trị xã hội thật sắc nét. Ngày trước còn có cả họa sĩ Hiếu Đệ – ông họa sĩ hồn hậu như đức Di Lạc đã cởi hạc quy tiên ra khỏi thế giới hổn độn này rồi, ông đi khá êm nên gây bất ngờ cho nhiều người, nhớ ông, nhắm mắt lại thấy hiển hiện khuôn mặt hiền ơi là hiền, có Bảo Định đánh trận cuối cùng 12 ngày đêm ở Xuân Lộc cười nhiều hơn nói…. Ngoài ra, chúng tôi còn một số bạn ở khá xa, tuy xa mà gần … như nhà văn Phạm Ngũ Yên, có khi nửa đêm khuya lơ khuya lắc tôi với anh còn gửi email qua lại hỏi thăm hàn huyên, như anh Trần Đình Phước, người ” chuyên trị ” vùng Tân Định, hễ có gì vui hoặc có đoá hoa nào đang run cánh nở là anh chụp ngay khoảnh khắc ấy rồi gửi ra cho bạn bè cùng ngắm… Mấy tháng trước, trong những ngày ít ỏi lo tang chế cho Mẹ tại quê nhà, anh cũng chịu khó bỏ công tìm cho được gian nhà cũ hơn 50 năm về trước của ông Ngoại cô bé tôi tả trong bài “ Miền Ký Ức Màu Xanh” đăng đây đó ở trong nước và ngoài này.
Nếu không gặp nhau ở quán cà phê quen, thì bạn bè kéo đến nhà tôi. Khung cảnh Hầm Nắng đầy sách vở tranh ảnh rất gần gũi thân mật, là nơi lý tưởng để vợ chồng tôi thù tiếp bạn bè. Chuyện khơi mào thường mở ra có khi với chút thức ăn nhẹ, có khi những cốc bia quanh bàn là thúc giục bọn tôi thả ngược về cõi chữ nghĩa, cùng ngậm ngùi khi nhắc lại một thời thất kinh tan tác của một dân tộc, để rồi gợi lại một cảm giác buồn, thất vọng đến ngỡ ngàng khi nhớ có nghe ai đó thuật lại trong thời điểm đen tối của Saigon, một số nhà văn xuất hiện với bộ quần áo cách mạng, nhởn nhơ hãnh tiến như Tường, như Cung Tích Biền…Câu chuyện dài với nhau, quanh quẩn vài gương mặt loáng thoáng được nhắc lại như Vị Ý chủ nhân cà phê Lú té ngã chết trong lúc treo lên những bức tranh của mình ở Nam California khi ông đặt chân đến Mỹ chưa đầy một năm, rồi nghe thêm, Mường Mán mở quán Ruốc, Cung Tích Biền dính vào vụ biểu tình…Nhắc lại những ngày lận đận, nhìn mắt người nào cũng cay xè, trong đầu tôi chợt hiện ra những khuôn mặt bạn bè, những người mang danh cầm bút mà thái độ sống, thái độ viết của họ hiện nay thật xu thời khiếp nhược… Đâu rồi những dòng chữ đội đá vá trời đầy nhiệt huyết uy vũ bất năng khuất ngày xưa?
Sau cơm áo gạo tiền, tôi giữ lại cho mình một tình yêu của người bạn đời, một cuộc sống có bạn có bè cùng vài thứ đam mê lụn vụn…như biết cách pha café, pha vài món rượu để đãi bạn. Cho nên, trong câu chuyện với nhau – những tách café nóng, những dòng rượu thật đượm sóng sánh rót ra, tuy không dễ dàng làm cho người ta say, chỉ khiến câu chuyện văn nghệ, văn chương, tình người, tình bạn càng thêm đậm đà, rôm rả hứng khởi.
Với bạn, quên nhắc anh Khánh là một thiếu sót. Anh Khánh xa Việt Nam từ năm 1960, nói tiếng Tây nhiều hơn tiếng Việt, nhưng còn mê thổi sáo, thích hò Huế, kính trọng Hữu Loan, chơi thân với Bích Thuận…thích giao du với đồng hương. Chúng tôi không nhớ mình quen nhau từ lúc nào, nhưng rất thân thiết, biết tôi bày đặt thích rượu, nên đến bất cứ thành phố nào bên Châu Âu cũng không quên gửi về vài thỏi Chocolate tẩm đủ vị rượu cho tôi nhấm nháp…
Tấm lòng anh, như, nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết thay “Tôi cũng đã được lang thang vài nơi trên xứ người, những xứ sở bận rộn và văn minh, cái bận rộn khiến cho nếu có ai đó chịu dừng xe vào siêu thị hay quán xá chọn mua cho ta một món gì đấy để gửi hay mang về tặng ta hẳn cái tình cảm dành cho mình lớn lao lắm. Mua mang về đã là quí lắm rồi, nhưng còn chịu khó lặn lội ra Bưu điện bỏ bao bì cẩn thận gửi đến theo cách cổ điển nhất : Bưu phẩm, hẳn là chuyện không đơn giản chút nào. Bưu điện xứ người chắc chắn phải vài giờ lái xe trên đường cao tốc. Đi, chọn, mua và gửi cho một người ở nhà xa xôi đến thế thì cái tình cảm dành cho mình còn lớn biết chừng nào” …
Cho nên, cứ các con tôi ra sân lấy thư, mở thùng, thấy gói vuông, gói dài, là y như rằng của “ bác Khánh!”
Trãi qua bao nhiêu thăng trầm mới thấy sống trên đời đã khó, làm bạn với nhau càng khó hơn. Bạn bè có người thích điều này hay không thích điều kia, nhưng chơi với nhau, không thể nâng đỡ nhau thì đừng bao giờ lạm dụng, kèn cựa, hãm hại nhau…
Cũng như chữ nghĩa, nếu không thể viết thật thì đừng viết.
Vậy đi !

LỜI MUỘN CUỐI NĂM

maiviet

Đã bao lần nỗi niềm không nói hết
Chỗ ngồi kia tiếng lá rơi thầm
Khúc hồi âm tháng mười hai biền biệt
Cơn gió thổi qua lòng lặng lẽ cuối năm

Ở phương này thời gian vàng ngọn cỏ
Tháng ngày phôi phai trầm tích bốn mùa
Quanh bếp lửa tàn tro bay hương cũ
Chợt thấy đời soi lại bóng đêm xuân

Chợt thấy mình hai bờ rêu đứng lặng
Nhìn em đi sông nước mỗi ngày qua
Ngày xanh thế sao mình không là gió
Thổi em về giữ lại một tình xa

Trang kí ức thuở thời em trăng khuyết
Khói sương bay chạm ngõ vắng hiên nhà
Nghe có tiếng bàn chân ai chậm bước
Dường như em về cùng quê cũ từ xa

Nơi bình yên cũng là nơi em lớn
Sao không về một lần với cố hương
Ta mỏi mắt tiếng tàu ga vọng thức
Từ xa xăm vọng tới buốt đêm trường

Ta có thể sống một đời đơn độc
Cùng những yêu thương bụi lấm lỗi lầm
Sao em vội giũ lời xa xưa đợi
Để bây giờ khuyết mãi một thanh âm

MAI VIỆT

Capstan

trantrungta


Chiếc áo phong sương tặng ấm nàng! Nặng áo thư sinh phụ áo chàng
! Chàng ơi cảm tạ ơn chàng tặng chiếc áo nhẹ hều trên thế gian!

Cho anh phát súng tim anh nát! Mấy kẻ tòng chinh mà trở về? Chiếc áo phong sương là áo lính…thôi chàng để mặc những đêm khuya!

Nếu tim chưa nát, chàng đi tiếp…hết cải tạo thì đến nước người. Công an phải sợ thằng ăn nhậu, điếu thuốc một thời cắm ở môi!

Nếu anh thích sống thì ăn cơm. Điếu thuốc Capstan cháy đỏ lòm…Ai dám ném quăng thời quá khứ để về mà dựng lại Quê Hương?

Điếu Cày vừa tới bao người đón, cờ xí tung bay đẹp quá chừng! Nó hất lá cờ không đếm xỉa, Bắc Nam hồ dễ mối tình chung!

Cho anh phát súng tim anh nát
! Tự tử hay ta bắn kẻ thù? Xé xác phanh thây ta chẳng nỡ, đốt từng điếu thuốc…đốt cơn mơ!

Trần Trung Tá

SỰ NHẬP CUỘC TRÔI CHẢY


GIỚI THIỆU TÁC PHẨM: Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong

Một bà mẹ chồng. Một ngày mưa. Một bàn tay trong một bàn tay. Một mùi thơm. Một chuyến tàu. Một món đồ chơi thời thơ ấu. Một phút tự do…Nói một cách hình ảnh, 10 truyện ngắn mảnh dẻ và rất xinh này người viết từ việc ngửi mà nên. Ngửi để phát hiện. Ngửi để cảm thông. Và ngửi để rung lên dù cái sự rung này có khi rất khẽ, rất thoáng, rất xa vắng.

Thật đặc biệt với tôi và dám chắc, với các bạn nữa. Vì sao? Vì Elena Pucillo Truong không như một nhà văn ngoại quốc thâm nhập qua đường biên của chúng ta bởi danh tiếng. Elena là một cô dâu Việt. Bạn đã thấy độc đáo rồi chứ. Giảng dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp ngót 30 năm ở Milano, bỗng dưng muốn cùng chồng – nhà văn Trương Văn Dân về sống hẳn ở Việt Nam. Chúng ta không dám chắc đất nước của chúng ta là đất lành nhưng nó được một tiến sĩ ngôn ngữ có thâm niên cao trong ngành giáo dục chọn làm nơi ẩn mình, thú vị quá đi. Và người đó bắt đầu viết văn, viết báo, làm dâu, làm con dân nước Việt cùng với đi dạy tiếng Ý tại phòng lãnh sự danh dự Ý và ở Nhạc Viện thành phố HCM, dạy tiếng Ý và Văn hóa Pháp tại Trường Đại học KH XH và Nhân Văn.

Người Ý khá giống người Việt ở sự nóng giòn với cuộc sống. Nếu người Pháp quá trữ tình, người Đức quá nghiêm lạnh, thì người Ý cởi mở, lạc quan và rộn rã, đôi khi phiêu lưu. Elena Pucillo Trương rất đậm chất Ý trong tính cách và cả trong cách chọn cho mình miền đất và công việc khi cuộc đời bắt đầu chinh xế. Từ châu Âu sang sống ở Đông Nam Á, không là người giòn và mở thì là gì? Đi dạy học với mức thù lao chỉ đủ chồng đổ xăng đưa đón, không lạc quan quá thể sao? Và chọn công việc viết văn, phiêu lưu lắm. Đã có một số truyện và bài in ở Ý, dĩ nhiên, chính quốc mà. Nhưng cũng đã in hầu hết ở Việt Nam nhờ có đức ông chồng dược sư cùng mê văn chương hơn mọi thứ trên đời.

Dễ dàng nhận ra ở Elena Pucillo Trương sự nhập cuộc trôi chảy với truyện ngắn. Do đâu? Không phải ai là tiến sĩ ngôn ngữ, đọc nhiều thứ sách và đam mê chữ nghĩa là viết được văn. Rõ rồi. Do đâu mà Elena không như vậy? Một trí thức châu Âu thường xem việc viết sách là nhu cầu tự thân, nhuần nhị như thể dục, nghe nhạc, thư giãn, hít thở. Họ không đặt nhiều tham vọng vào việc này. Viết hồi ký, viết tiểu luận, viết du ký…Viết, chăm chỉ, giải bày, thầm lặng. Truyện ngắn và cả 7 bài báo (đi, đất, và người) tập hợp trong tập này, cho thấy một đôi chân vừa đi vừa nghĩ và một gương mặt đăm chiêu của một con người có xê dịch nhưng ở đâu cũng nặng lòng khám phá, trắc ẩn.

Cùng dừng lại từng truyện để nghĩ về cách đặt vấn đề và xử lý vấn đề của một người viết từ một châu lục khác. Một khẩu súng lục trong căn nhà của đôi vợ chồng và ước nguyện dữ dội là chết cùng một lúc của họ (Bàn tay trong một bàn tay). Một người con về bên cha không với ý niệm nghĩa tử là nghĩa tận, không hề, và trái tim anh chàng chỉ rung lên với hộp quà rất cũ, trong đó là chiếc đầu máy xe lửa của tuổi thơ mình (Quá khứ dưới lớp tuyết mùa Giáng sinh). Một căn phòng qua tự sự của người phụ nữ hầu phòng, một nơi đặc biệt, một nơi được kín đáo cất giữ chỉ vì nơi đó từng được một đôi trai gái trẻ chọn làm nơi để từ giả cõi tạm, để bên nhau, để tuyệt vọng một cách rất ư bình thản và cảm động (Phòng số 3). Một phụ nữ hiện đại, là sản phẩm của cuộc sống công nghiệp, tự tin, thành đạt, tót vời nhưng cuộc sống ấy lại là nhà ngục với cô ta (Một phút tự do). Vậy đó, bạn cứ thả mình vào trang sách của Elena Pucillo Truong đi, bạn sẽ thấy lạ và rất khác với chúng ta.

Truyện nào cũng dung dị và có dư âm. Cũng dễ hiểu khi những truyện sâu sắc nhất nằm ở đáy ký ức và tâm hồn tác giả với bản quán, hay Paris, nơi in dấu của một nghiên cứu sinh. Trên hết, chúng ta nhìn thấy một trái tim hiểu biết, dịu dàng với một cách tư duy không như người Việt. Đó là điểm thú vị mà Elena Pucillo Truong muốn cống hiến.

Những bài viết của phần hai, đi, nghĩ và tả, trừ bài rất kỹ về Sophia Loren, một gương mặt, một giá trị, một tài sản của nước Ý, thảy đều tập trung cho nhận định vừa rồi: một tiến sĩ ngữ văn viết về những chiêm nghiệm đã chín của mình và mong muốn được độc giả VN đón nhận như một món quà tri ân cho đất nước mà người đó đã trao gửi và đã chọn làm quê hương yêu dấu thứ hai của mình.

DẠ NGÂN

THƯA MẸ

trandzalu

Tàn năm thưa Mẹ-Xứ người
Mã phu vẫn áo cơm rời rạc xưa…
Câu thơ lỗi hẹn đền giờ
Nước Hương Giang ấy có chờ đợi đâu?
Thương ngày, nhớ tháng nao nao
Câu ca dao Mẹ thấm vào giấc mơ
Từ ly hai chữ không ngờ
Con xâm trên ngực bây giờ còn đau…
Tay che mắt nhắm qua cầu
Khi nghe tin Mẹ lặn vào thiên thu !
Xứ người học lấy chữ nhu
Cũng không kịp nữa …trời thu mà về!
Tàn năm thưa Mẹ-Con nghe
Tiếng còi tàu xé trời khuya tầng tầng…
Hận tình…con thả phù vân
Mà sao nghĩa mẹ chưa lần “ trùng lai”?
Đêm nay chầu chực chùa ai
Chỉ mong nhặt được nụ cười vô ưu…

Trần Dzạ Lữ
( SaiGon 1.12.2014)

Chiều Nay Xuống Phố

reu

Chiều nay xuống phố
Em buồn làm sao
từng cơn mưa nhỏ
từng chùm lao xao

Chiều nay xuống phố
một mình lang thang
nhìn dòng xe đổ
lòng nghe võ vàng

Chiều nay xuống phố
hồn như nắng phai
chắc người năm ấy
hẹn hò cùng ai!

Chiều nay xuống phố
loanh quanh mệt đừ
hỏi thăm người cũ
có còn ưu tư?

Chiều nay xuống phố
ngước nhìn mây cao
tìm người năm cũ
người nơi xa nào?

Chiều nay xuống phố
gió ơi đừng đầy
áo choàng lụa mỏng
bay ngoài hiên mây.

RÊU