40 Năm Văn Học Miền Nam Thất Thủ: Thế hệ Hậu Chiến khước từ Thân phận Mồ côi

trangdaiglassey
Trangđài Glassey-Trầnguyễn

TIỂU SỬ NGẮN do Chủ Toạ/Nhà văn Bùi Bích Hà giới thiệu: Trangđài Glassey-Trầnguyễn (trangdai.net), một chuyên gia nghiên cứu về Cộng đồng người Việt hải ngoại, là học giả duy nhất trên thế giới đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu với người Việt ở cả bốn châu lục: Á, Âu, Úc, và Mỹ. Một tác giả song ngữ đoạt nhiều giải thưởng, Trangđài tiên phong ghi lại lịch sử của người Việt tại Quận Cam qua Dự án Vietnamese American Project từ thập niên 1990 bằng chính student loans của mình, và đoạt giải quán quân tại cuộc tranh tài nghiên cứu của CSU năm 2004 với bài viết “Quận Cam, Sử Vàng.” Cô là người Việt duy nhất được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cấp học bổng Fulbright tòan phần, bậc tối ưu, để nghiên cứu về người Việt tại Thụy Điển. Cô tốt nghiệp 4 cử nhân cùng lúc, là thủ khoa 2 ngành và cũng tốt nghiệp cao học Sử Học với hai giải thủ khoa tại CSUF. Trangđài tốt nghiệp Cao học ngành Nhân chủng học tại Đại học Stanford, và hiện đang hoàn tất chương trình tiến sĩ.

Xin cám ơn Nhà văn Bùi Bích Hà,
Xin trân trọng kính chào quý vị,

Trong phần trình bày của mình, tôi xin nhắm tới bốn điểm chính.
• Thứ nhất, 40 năm Văn học miền Nam thất thủ từ cái nhìn của thế hệ hậu chiến;
• Thứ hai, một số hệ quả văn học và ngôn ngữ đối với thế hệ hậu chiến;
• Thứ ba, chúng tôi từng mồ côi, nhưng không chấp nhận mồ côi;
• Và để kết, tôi xin đưa ra một vài gợi ý về căn tính sắc tộc trong sáng tác của những thế hệ ngoại biên, nhất là tương quan của họ với tiếng Mẹ đẻ trong quá trình sáng tạo.

Bài nói này được soạn riêng cho chương trình Hội Thảo Văn Học Miền Nam 1954-1975 cuối tuần này, và là một đề tài liên quan trực tiếp đến những chuyên đề nghiên cứu về người Việt hải ngoại mà tôi thực hiện từ đầu thập niên 90s. Phần trình bày của tôi cũng mang tính bắc cầu, không thuần tuý chỉ nói về giai đoạn văn học hai-mươi-mốt-năm này, mà hướng tới ảnh hưởng của nó đối với những thế hệ sáng tác sau đó tại hải ngoại. Vì giới hạn về thời gian, tôi chọn nói về căn tính di dân và căn tính sắc tộc trong tương quan với đề tài của cuộc Hội Thảo, và do đó, chỉ trích dẫn một số tác giả nhất định trong giai đoạn văn học này. Cánh đồng Văn học Miền Nam mênh mông nhiều màu sắc, và có nhiều tác giả cũng như tác phẩm liên quan đến đề tài này mà tôi chưa có dịp tham khảo vì không có đủ tài liệu. Tôi tin tưởng rằng, khi có một văn khố quy tụ những tác phẩm của Văn Học Miền Nam (và khi tôi dành dụm đủ thời gian để đọc những tác phẩm đó), thì tôi có thể bổ túc thêm cho phần trích dẫn của mình.

• 40 năm Văn học miền Nam thất thủ từ cái nhìn của thế hệ hậu chiến:

Tôi gọi nền văn học miền Nam 1954-1975 là nền văn học thất thủ vì hai lý do. Thứ nhất, cũng như chính thể Việt Nam Cộng Hoà lúc đó, giềng mối của cả một nền văn học đã bị cầm tù, bị đày vào biệt giam, đã đi di tản, đã đi kinh tế mới, đã đi vượt biên, đã chết trong tù, đã bị cấm khẩu, đã bị truy sát. Thứ hai, cũng như cộng đồng di dân Việt hải ngoại đi từ miền Nam, nền văn học thất thủ này cũng đã được tái thiết và chuyển mình, thoát thai thành một nền văn học hải ngoại mạnh mẽ và đa dạng. Thất thủ không có nghĩa là bị huỷ diệt, mà ngược lại, chính trong sự bức chế đó, mà những mầm sống mới vượt lên, một mùa văn học mới đâm chồi, nẩy lộc.

Trong bài nói này, tôi nhìn về văn học miền Nam từ kinh nghiệm của một người thuộc thế hệ hậu chiến, và nhìn về nền văn học đó trong tương quan với cộng đồng Việt hải ngoại trên thế giới. Cho nên hai chữ ‘thất thủ’ chính là tiền đề cho một cuộc đổi đời, một khởi đi tang thương nhưng trên một lộ trình nhiều hy vọng và vận hội. Đâu là những vận hội? Tôi xin nhắc qua khía cạnh văn hóa. Cộng đồng chúng ta may mắn đã đến Mỹ trong một thời điểm thuận lợi cho việc duy trì văn hoá và ngôn ngữ gốc. 50 năm trước đó, người dân thiểu số ở Mỹ, chẳng hạn như người Nhật, không có quyền sở hữu bất động sản và không được nói tiếng mẹ đẻ. Ngay cả trẻ em gốc Mễ Tây Cơ cũng bị phạt khi nói tiếng Tây Ban Nha tại trường. Nhờ phong trào tranh đấu dân quyền của thập niên 50s, 60s, và nhờ vào trào lưu đa văn hoá (dù có những giới hạn của nó), mà khi người Việt tỵ nạn đặt chân đến Mỹ, chúng ta có nhiều ưu đãi so với các sắc dân thiểu số khác khi họ mới định cư tại Hoa Kỳ trước đó. Chẳng hạn như ngay từ những ngày đầu, học sinh Việt Nam được hướng dẫn song ngữ trong các lớp học, vân vân.

Để hiểu cái nhân diện lưu vong của người Việt hải ngoại, thì cần hiểu kinh nghiệm của người Việt trước khi di cư. Vì phần lớn dân số gốc Việt tại hải ngoại ra đi từ miền Nam, kinh nghiệm của họ ở miền Nam trước 1975 là mấu chốt để hiểu về tâm tư và đời sống của họ ở hải ngoại, nhất là của thế hệ thứ nhất. Văn chương là một cửa ngõ lý tưởng để hiểu về kinh nghiệm con người, vì nó giúp chúng ta thấu hiểu những ẩn áo của một xã hội, một thời đại qua những vi tế về tình cảm và tâm lý của con người trong xã hội và thời đại đó.

Khi nhìn về chiều dài lịch sử, thì người Việt đã có kinh nghiệm tỵ nạn từ trong nước, chứ không phải đến khi di cư ra hải ngoại cách ồ ạt từ năm 1975. Tuy kinh nghiệm di dân của người Việt (hay bất cứ dân tộc nào trên thế giới) đã bắt đầu từ hàng trăm năm trước, trong khuôn khổ của bài nói này, tôi chỉ đề cập đến giai đoạn từ thế kỷ hai mươi cho đến hôm nay vì giai đoạn này có ảnh hưởng trực tiếp đến nền văn học mà chúng ta đang bàn đến. Việt Nam ở thập niên 1940-1950 đối diện với sự khánh chung của chế độ đô hộ Pháp, sự hiện diện của quân đội Nhật, và sự can thiệp của Mỹ. Người dân đã phải thường xuyên chạy loạn, tránh bom tránh đạn, và lưu lạc ở các nước lân cận. Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954 là một biến cố gây nhiều xáo trộn, và hơn hai triệu người đã rời Bắc đi vào Nam. Sáu mươi năm sau, nhiều gia đình vẫn còn thất lạc nhau hay sống trong ngăn cách cho đến ngày hôm nay. Những biến cố khác cũng đẩy người Việt vào kinh nghiệm tỵ nạn ngay trên quê hương mình, như cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Tác phẩm “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca ghi lại những kinh hoàng và tuyệt vọng của người dân trong biển chết.

Do đó, tôi cho rằng với một lịch sử đầy di tản và lưu lạc như vậy ngay trên quê hương mình, người Việt đã có một căn tính di dân trước khi Sài Gòn thất thủ tháng Tư năm 1975. Tuy nhiên, mức độ và sự đột ngột của biến cố này đưa căn tính di dân lên mức độ quốc tế. Sự ra đi của người dân miền Nam kèm theo một nỗi mất mát to lớn: mất quê hương, mất gia đình, mất đất nước, mất quá khứ cá nhân. Nhiều người ra đi với ý nghĩ là mình sẽ không bao giờ được nhìn thấy quê hương lần nữa. Đây có lẽ là niềm mất mát lớn nhất vì tâm tình gắn bó với quê hương, xứ sở của người Việt. Năm 1975 là một thời điểm mới và một bước ngoặt dứt khoát trong tâm thức di dân của người Việt, khi chúng ta bị đặt ra ngoài đất nước, không như năm 1954 hay 1968. Bên cạnh đó, văn hoá Việt Nam cọ xát với văn hoá phương Tây một cách dữ dội hơn, không chỉ như trong thời Pháp thuộc hay thời chiến tranh Việt Nam, vì khi còn trong nước, môi trường vẫn mang Việt tính, văn hoá chủ lưu tiềm tàng trong đời sống hằng ngày vẫn là văn hoá Việt. Ở hải ngoại, văn hoá Việt trở thành văn hoá di dân, văn hoá sắc tộc, văn hoá thiểu số, phải chịu sự chi phối của văn hoá chính ở đất nước tạm dung.

Vì vậy, ở năm 1975, căn tính di dân của người Việt mang một ý nghĩa mới, vì người Việt đã thực sự lưu vong. Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam cận đại, nếu chúng ta nhìn vào năm 1954 và 1968 như là khởi điểm cho cuộc xuất hành năm 1975, thì có một sự tiếp nối của căn tính di dân khởi đi từ giữa thế kỷ hai mươi từ trong nước, và mở rộng ra thế giới năm 1975. Vì sự tiếp nối này, nền văn học miền Nam 1954-1975 là điểm bắt đầu cần thiết cho bất cứ ai muốn tìm hiểu về người Việt hải ngoại. Từ cái đứt đoạn Bắc Nam năm 1954, đến cái vỡ nát của miền Nam 1975, tâm thức của người dân Việt bị phân tán ở hai mức độ: quốc gia, và quốc tế. Nếu nhà văn quá cố Mai Thảo, qua tâm tình của Phượng trong “Đêm Giã Từ Hà Nội,” đã cảm thấy xa Hà Nội dù chưa rời Hà Nội, thì người Việt tỵ nạn sau tháng Tư 1975 đã cảm thấy xa quê hương đến chừng nào khi đã phải lìa bỏ đất nước trong cấp bách và đau đớn.

Chúng ta cùng nghe lại tâm tình của cố nhà văn Mai Thảo trong truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, do Người Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1955.

“…Phượng nhìn xuống vực thẳm.
Hà Nội ở dưới ấy.
Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.
Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.
Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.”

Nhưng Phượng dù lưu luyến Hà Nội, đã dứt áo ra đi, vì anh đi cùng với trào lưu của thế giới Tự Do. Anh không đi một mình:

“…Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng.”

Dù Phượng cảm thấy một tình liên đới với những người đang đi tìm tự do khác trên thế giới, anh vẫn đang ở trên mảnh đất quê hương. Cái ý thức liên quốc gia ấy chỉ làm cho anh thêm mạnh mẽ, vững tin vào chọn lựa của mình và tương lai phía trước. Đó là tâm tình của người Việt rời Bắc vào Nam. Trong khi Phượng đau đớn chia lìa Hà Nội nhưng ra đi với tâm trạng đầy hy vọng, đi về vùng sáng, đi về miền tự do, thì người Việt ly hương năm 1975 đã ra đi – vẫn đi tìm tự do – nhưng với tâm trạng ly hương, mất mát khôn cùng. Khi người Việt rời miền Nam để đi vào thế giới, thì tuy họ cũng đi tìm “một chân trời có không khí và ánh sáng,” nhưng nỗi đau chia lìa quê hương đã phủ lấp bất cứ một vùng sáng nào, để như nhà thơ Du Tử Lê diễn tả trong bài thơ “Thơ Viết từ Camp Pendleton” (tháng 6, 1975), người Việt di tản năm 1975 cảm thấy mình không còn là mình nữa. Thưa quý vị, tôi nói đến bài thơ này dù nó không nằm trong dòng văn học miền Nam 1954-1975, bởi vì nó có liên hệ máu mủ với dòng văn học đó, trong sự nối dài của căn tính di dân của người Việt.

“cám ơn
cám ơn Pendleton
đã cho ta túp lều
chui ra chui vào
thập thò và rụt rè
như một con chuột
con chuột da vàng
với một óc rỗng không
và đôi tay thừa thãi”

• Một số hệ quả văn học và ngôn ngữ đối với thế hệ hậu chiến:

Tôi chào đời sau chiến tranh, cuối năm 1975, và là ‘ba rọi’ thứ thiệt – hay đối với quý vị nào thích sữa thì có thể nói, tôi là sữa ‘half and half’ – vì đã sống đúng nửa đầu đời ở Việt Nam và nửa sau ở hải ngoại. Với kinh nghiệm sống đó, và với niềm đam mê văn chương Việt Nam cận đại, tôi đã tìm hiểu về giai đoạn văn học này với những thuận lợi từ những phương pháp tra khảo tôi dùng trong học thuật. Tôi lại được ở ngay tại Quận Cam, và với bình nguyên internet rộng lớn, tôi có thể dò dẫm xếp những mẩu puzzle lại với nhau cho bức tranh văn học này, và đây là một công việc gian nan. Tôi nghĩ, với các bạn trẻ khác không có những điều kiện thuận lợi như tôi, thì chắc chắn việc tìm hiểu về giai đoạn văn học này còn khó khăn, mù mịt hơn nhiều.

Lập ra một văn khố về giai đoạn văn học miền Nam 1954-1975 là một công trình to lớn, đòi hỏi một thời gian dài nhiều năm và nhiều công đoạn. Tôi mong rằng công trình này sớm được thực hiện, để những thế hệ như tôi và trẻ hơn có thể tìm được nhịp cầu, đi vào một nền văn chương rực rỡ đã giúp định hình cho văn học hải ngoại, mà nền văn chương ấy, tuy xán lạn, nhưng vẫn còn ẩn mình đối với thế hệ bo bo và thế hệ ngoại biên chúng tôi.

Tuy những người phụ nữ trong gia đình tôi hay kể chuyện ‘đời xưa’ chúng tôi nghe, nhưng mãi đến khi tôi mang thai đến lần thứ ba, thì có những điều Mẹ tôi mới nói cho tôi biết về tuổi thơ của tôi. Có lẽ, tôi cần làm mẹ thì mới biết mà nói về những đề tài này. Mẹ kể, khi Mẹ sanh tôi mới bốn tuần, Mẹ đã bị điều đi về vùng kinh tế mới để dạy học, còn Ba tôi đã đi cải tạo cả mấy tháng trước đó, mà gia đình cũng không biết Ba tôi đang ở đâu. Chuyện tôi chào đời không cha là chuyện tôi biết từ nhỏ, vì tôi cũng lớn lên không cha đến năm 19 tuổi. Nhưng chuyện mà tôi là một đứa trẻ sơ sinh không mẹ là chuyện làm tôi ngạc nhiên và phẫn nộ. Đối với tôi, một đứa trẻ có quyền được ở bên mẹ nó khi mới chào đời. Mẹ tôi phải dứt sữa tôi khi tôi chưa được đầy tháng. Có lẽ đó là một trong những lý do mà trong cả cuộc đời, tôi luôn cảm thấy một lỗ trống trong tâm tư, dù tôi cảm kích tình thương và sự hy sinh mà mẹ tôi dành cho chị em chúng tôi, và cả con cái chúng tôi nữa. Tôi không chỉ bị dứt sữa cách oan ức lúc chưa đầy tháng, mà quan trọng hơn hết, tôi bị tước đoạt cái quyền của một đứa bé được mẹ ôm ẵm, vỗ về, nâng niu, chăm sóc khi còn đỏ hỏn.

Nói về mặt văn chương, thì dòng văn học miền Nam (cả nền văn học Việt Nam trước đó, vì thế hệ cải cách giáo dục chúng tôi phải học nền văn học nhồi sọ) chính là mạch sữa mà thế hệ chúng tôi đã bị tước đi. Khi đọc “Bụi và Rác” của cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, tôi mới biết những cái tréo ngoe của ngôn ngữ miền Nam sau khi “bị giải phóng.” Tôi đọc tác phẩm này vào khoảng năm 2005. Nếu ở trong nước, chắc chắn tôi sẽ không được biết tác giả lẫn tác phẩm. Bây giờ, tác phẩm này được phổ biến ở nhiều nơi trên mạng internet, và những rào cản của sự trao đổi thông tin trong nước đã bị giật sập, dù vẫn còn đó những tường lửa và những hàng rào kẽm gai kềm hãm tư tưởng con người. Nếu tôi không sống ở hải ngoại, thì có lẽ tới bây giờ, tôi mới có dịp đọc “Bụi và Rác,” NẾU – và đây là một chữ nếu rất lớn – nếu tôi cố tâm đi tìm hiểu dòng văn học đã bị trù dập 40 năm qua.

Trong một bài nghiên cứu chuyên đề, tôi đã lập luận rằng nền văn học (và nghệ thuật) theo chủ đề tỵ nạn và di dân ở hải ngoại được xây dựng trên bệ phóng vững vàng của nền văn học miền Nam 1954-1975. Khi đọc “Đêm Giã Từ Hà Nội” của nhà văn Mai Thảo, tôi nhận ra rằng, tác giả đã là người tỵ nạn, đã ly hương trước khi ông rời Hà Nội. Cái quyết định ra đi vốn dĩ đã là một sự cách ngăn lớn lao, dù chỉ đi về phương Nam, vẫn còn thuộc về mảnh đất Việt Nam, nhưng là “vùng ánh sáng, miền tự do.” Đọc “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca, thì rõ ràng, sự bất an và bất định trong đời sống của người dân thời loạn đã biến đời sống hằng ngày thành đời sống tỵ nạn với những dời đổi, sống chết, còn mất của nó.

Chính quyền mới sau 1975 đã áp dụng nhiều chương trình cải cách đối với miền Nam và cả nước: cải cách ruộng đất, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục. Nhưng có một chương trình cải cách rốt ráo nhưng bán công khai, không có danh xưng, là cải cách ngôn ngữ. Người ta dùng những ngôn từ mới để phân biệt những thành phần phản động, và để loại trừ những cá nhân không được chế độ mới chấp nhận. Như cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã tỉ mỉ ghi lại, người ta chỉ cần vịn vào một từ để kết án người nói là phản động. Do đó, về mặt ngôn ngữ, thế hệ hậu chiến không chỉ phải ăn bo bo, mà còn phải ăn cả khoai mì độc. Mà vì nền văn học miền Nam đã thất thủ và đã đi lưu vong, nên những thế hệ hậu chiến hoàn toàn mù tịt về nền văn học đó, và không biết rằng, mình đang sử dụng một thứ tiếng Việt đã bị nhiễm độc và nhồi sọ. Cho đến khi chúng tôi đầu thai ra hải ngoại.

Chúng tôi đã từng mồ côi, nhưng không chấp nhận mồ côi:

Thế hệ chúng tôi sinh ra mồ côi, vì cha thì đi cải tạo, mẹ thì đi kinh tế mới, văn học thì bị chôn sống. Nhưng sau bốn thập niên, chúng tôi đã đoàn tụ với cha mẹ, đã truy ra được những manh mối để đòi lại di sản văn học mà chúng tôi bị tịch thu. Chúng tôi khước từ làm kẻ mồ côi trong gia đình chữ nghĩa của Việt Nam và của thế giới.

Tôi may mắn được sống nửa cuộc đời ở Việt Nam và nửa cuộc đời ở Mỹ. Nhưng tôi không may mắn rơi vào lớp đầu tiên trong chương trình cải cách giáo dục của chính quyền hậu 1975. Như đã nói, điều này cũng có nghĩa là tôi biết rất ít hoặc không biết gì về nền văn học của miền Nam trong giai đoạn trước khi tôi chào đời. Trong bài nói ngắn này, tôi sẽ không nói đến những người trẻ cầm bút viết bằng Tiếng Việt. Tôi nghĩ, ở nhiều cách, cái quan hệ huyết thống giữa những thế hệ sáng tác trước 1975 tại miền Nam và những thế hệ ngoại biên tại hải ngoại sáng tác bằng Việt ngữ đã là điều rõ ràng. Ở đây, tôi xin mạo hiểm và nhìn vào thế hệ gốc Việt sáng tác bằng Anh ngữ là chính, và nhận định rằng, cho dù họ không trực tiếp thừa hưởng nền văn học miền Nam 1954-1975, thì họ vẫn chịu ảnh hưởng của nền văn học này qua chính kinh nghiệm sống và môi trường cộng đồng. Có lẽ nhiều vị sẽ cho rằng tôi hơi lạc quan. Xin trấn an qúy vị ngay, rằng tôi mắc bệnh lạc quan mãn tính, và không có ý định điều trị. Tôi xin phép đưa ra một vài lý do tôi dám lạc quan trong trường hợp này.

Một điều hiển nhiên là nền văn học miền Nam trước 1975 chính là nền tảng vững vàng cho văn học và truyền thông Việt ngữ tại hải ngoại trong suốt 40 năm qua. Đối với tôi, phục hoạt văn học miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 tại hải ngoại là một giấc mơ đẹp nhưng bất bất khả thi, vì điều kiện sống và làm việc ở hai thời điểm và địa điểm hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, từ tâm tư của một thế hệ hậu chiến, tôi thiết tha muốn nhận cái di sản từ giai đoạn văn học này vì nếu không có được di sản này, thế hệ của tôi và các thế hệ sau sẽ là những cái cây không có rễ, với những cái gốc ghép nối từ giống toàn cầu hay địa phương mà thiếu đi cái căn tính Việt. Thêm vào đó, nền văn học miền Nam là nguồn tư tưởng và ngôn ngữ gần nhất đối với thế hệ hậu chiến về mặt thời gian, và có thể trực tiếp khai mở cho chúng tôi về xã hội miền Nam về những thế hệ ngay trước chúng tôi. Đây là nhịp cầu cần thiết để chúng tôi biết về quá khứ của cộng đồng và gia đình mình, giúp chúng tôi hiểu thêm mình đã đến từ đâu và đến như thế nào. Việc hiểu về lịch sử cá nhân và cộng đồng có ảnh hưởng quan trọng đối với nhân diện và tâm lý của một người. Tiến sĩ Eliza Noh, trong luận án từ nhiều năm nghiên cứu của cô tại Đại học Berkeley, đã kết luận rằng một trong những lý do khiến nhiều thiếu nữ Mỹ gốc Á tự vận là vì họ cảm thấy mất liên lạc với quá khứ của gia đình. Nếu những người cầm bút thế hệ hậu chiến không giữ được liên lạc với văn học miền Nam qua những tác phẩm cụ thể, họ có thể lâm vào sự bế tắt tương tự, và bỏ sáng tác.

Khi nền văn học miền Nam bị bức tử, thì những tinh hoa của nó bị dùng để truy sát và cưỡng bức người dân miền Nam, nhất là giới trí thức và sáng tác. Trong tác phẩm kinh điển “Bụi và Rác,” cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã ghi lại những cái vi tế trong cuộc thảm sát chữ nghĩa, mà tôi cho rằng là một cuộc cải cách không tên được thực hiện rốt ráo ngay từ sau ngày Hồng quân Bắc Việt tiến chiếm miền Nam. Chính quyền mới hô hào và thực hiện nhiều cuộc cải cách một cách công khai và rầm rộ, nhưng cuộc cải cách bỉ cực nhất lại là một hành trình nô lệ vô danh. Tiếng Việt đã bị nô lệ hóa và bần cùng hóa, để những thế hệ hậu chiến như tôi không chỉ còi cọt về thể chất vì ăn độn bo bo, mà còm cõi vật vờ về chữ nghĩa vì bị trúng độc. Khổ nỗi, chính chúng tôi không biết mình trúng độc, cho đến khi không còn sống trong môi trường nhiễm độc nữa. Để giải độc, chính chúng tôi phải ý thức và chấp nhận cắt bỏ những phần cơ thể bị trúng độc của mình, như một người bị ung thư phải giải phẫu để bỏ đi những gì đã bị hư thối.

Một điều đáng mừng là có nhiều gia đình gốc Việt có phụ huynh là người cầm bút đã nuôi dưỡng tình yêu chữ nghĩa trong thế hệ con cháu, và như vậy, ảnh hưởng của nền văn học miền Nam có ảnh hưởng rõ rệt xuyên thế hệ. Thi sứ Đỗ Lệnh Ái Linh, ái nữ của Nhà văn/Luật sư Đinh Từ Bích Thuý và cháu ngoại của Nhà báo/Bình luận gia Đinh Từ Thức, là một trường hợp. Để di sản của nền văn học miền Nam không bị mai một và để ảnh hưởng của nó được rộng khắp, thì cái di sản đó cần được hệ thống hóa và trao lại cho những thế hệ tiếp nối. Tuy vậy, chữ nghĩa là một phạm trù rắc rối và phức tạp. Nó không rõ ràng như bài toán cộng. Tôi không thể nói một cách chắc chắn rằng, vì tác giả X của thế hệ 1 đã ảnh hưởng đến tác giả Y của thế hệ 2, hay tác giả Z của thế hệ 3. Nhưng những sợi tơ vô hình vẫn đan xuyên các thế hệ của người Việt hải ngoại – và cả những người trẻ có quan tâm còn ở trong nước nữa.

• Vài gợi ý về căn tính sắc tộc trong sáng tác của những thế hệ ngoại biên, nhất là tương quan của họ với tiếng Mẹ đẻ trong quá trình sáng tạo:

Văn chương chữ nghĩa là một thế giới mông lung. Không như trong toán học, người ta có thể nói: có hai điểm A và B, và đây là đường thẳng nối hai điểm ấy. Trong văn chương, đôi khi từ điểm A đến điểm B là biết bao vùng mù khơi, biết bao cõi trừu tượng, biết bao miền trí huệ, biết bao trập trùng tâm thức. Ắt nhiều vị từng góp mặt trong giai đoạn văn học miền Nam 1954-1975 cảm thấy rằng thế hệ hậu 1975 – nhất là những thế hệ lớn lên ở hải ngoại – chắc gì đã gắn bó với nền văn học đã thất thủ này. Tôi xin mượn hai câu thơ trong bài “Thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử để lạm bàn về vùng mù khơi giữa nền văn học miền Nam và giới sáng tác thuộc thế hệ hậu chiến tại hải ngoại. Nếu cõi văn học 1954-1975 là một Thôn Vỹ, thì từ cõi ấy, một số nhà văn của giai đoạn này có lẽ từng cảm thán:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà

Điều mà những thế hệ di dân luôn lo lắng về các thế hệ sinh ở hải ngoại là: Không biết những thế hệ đi sau có còn đậm đà với những gì ông bà, cha mẹ đã trãi qua, đã gầy dựng? Trong gia đình văn học ắt cũng thế. Những tác gỉa của miền Nam chắc cũng đã từng hỏi: không biết có bao nhiêu người trẻ sinh sau 1975 đọc tác phẩm của mình, và đọc như thế nào? Bỏ quê hương xứ sở ra đi là một sự đứt đoạn, và những đứt đoạn trong đời sống tỵ nạn cũng đưa đến nhiều đứt đoạn khác. Nhưng giữa những đứt đoạn và đổ nát, người Việt hải ngoại đã ươm mầm và vun bồi cho những thôn làng Việt Nam mới, những mùa văn học mới.

Để nền văn học tiếng Việt hải ngoại thực sự thăng hoa, thì các thế hệ cầm bút hậu 1975 cần nhận được di sản từ nền văn học trước 1975 để tiếp tục sáng tạo bằng tiếng mẹ đẻ, để họ nhận chân được nền tảng của những sinh hoạt mà họ vẫn tham gia một cách thấu đáo và có hệ thống. Muốn có một văn khố lưu giữ tinh hoa nền văn học miền Nam trước 1975, thì chỉ những ‘người trong cuộc’ mới làm công việc này đến nơi đến chốn. Giới trẻ cầm bút tại hải ngoại có bắt được nhịp cầu với quá khứ để tiếp tục bồi thố cho văn chương Việt trong thế kỷ 21 trên thế giới hay không, còn tuỳ thuộc vào những thừa kế văn chương cụ thể mà họ nhận được từ thế hệ đi trước. Xin hãy trao Văn Học Miền Nam cho Giới Trẻ Việt Nam toàn cầu.

Thưa quý vị, mặc dù có những rào cản ngôn ngữ và những khoảng cách thế hệ, tôi cho rằng tuy chúng ta chưa có những nghiên cứu để đưa ra mối liên hệ giữa nền văn học miền Nam và giới sáng tác thuộc thế hệ hậu chiến, nhưng chắc chắn có những sợi tơ vô hình nối kết một nền văn học thất thủ đã đặt nền tảng cho đời sống chữ nghĩa của người Việt hải ngoại, với những mùa văn chương mới đang vươn mình ở xứ người. Một trong những điểm giúp chúng ta nhận diện mối liên hệ này, là đề tài và tâm thức di dân mà một số người trẻ chọn cho công việc sáng tạo của mình. Hơn nữa, không chỉ những người cầm bút trẻ mới truy nhận căn tính sắc tộc và di dân/tỵ nạn, mà cả những nghệ sĩ trẻ gốc Việt trong nhiều lãnh vực nghệ thuật khác nhau.

Tôi xin lạm bàn đến những vùng nghệ thuật khác ngoài văn chương, để thấy rằng những thế hệ hậu chiến sinh trưởng hay chào đời tại hải ngoại cũng tìm về với di sản sắc tộc của mình – không chỉ qua những sáng tạo hướng theo các đề tài nổi bật của người Việt hải ngoại, mà còn bằng việc dùng tiếng Việt trong tác phẩm của mình. Từ những hoạ sĩ như Laura Nguyễn với bức tranh chì than “Nấp,” hoạ sĩ Jerry Trương với tác phẩm “Lớp/Vỏ,” hay hoạ sĩ Danh Võ với tác phẩm “Go Mo Ni Ma Da,” thì những hoạ sĩ trẻ này không chỉ sử dụng tiếng Việt cho tựa đề hoạ phẩm, mà còn đưa kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam vào những vùng diễn đạt mới.

Đi sâu hơn việc đặt tên cho tác phẩm của mình bằng tiếng Việt là chọn lựa sử dụng tiếng Việt trong sáng tạo. Đây là một thử thách lớn đối với những ai sinh trưởng ở hải ngoại, vì họ vẫn sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh hay một ngôn ngữ địa phương khác. Trong một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Việt với Tiến sĩ Việt Hồ Lê, vốn là một thi sĩ và hoạ sĩ ở tầm vóc quốc tế, chào đời ở Sài Gòn và cùng gia đình vượt biên năm hai tuổi tôi đã hỏi liệu anh có muốn thay đổi gì trong sự nghiệp của mình, Việt đã trả lời, “Nếu có thể đi ngược thời gian, Việt sẽ cố gắng học tiếng mẹ đẻ chăm chỉ hơn để có thể trả lời phỏng vấn hấp dẫn hơn!” Tôi có vinh hạnh phỏng vấn rất nhiều bạn trẻ sinh tại hải ngoại nhưng nói, viết, đọc tiếng Việt lưu loát.

Ngược lại, cũng có những thi sĩ trẻ khác không dám dùng tiếng Việt, vì sợ xúc phạm đến ngôn ngữ được dùng riêng trong gia đình – một ngôn ngữ mà đối với họ rất thiêng liêng. Nhà thơ Ocean Vương sinh ở Sàigòn, Việt Nam năm 1988, và đến Mỹ khi mới một tuổi rưỡi. Ocean là tác giả của hai tập thơ: “No” (Nxb YesYes Books, 2013) và “Burnings” (Nxb Sibling Rivalry Press, 2010), vốn nằm trong danh sách American Library Association’s Over The Rainbow và được dùng rộng rãi trong các trường đại học tại Mỹ và các nước khác. Ocean nhận giải Pushcart năm 2013, bên cạnh các vinh dự khác. Ocean bắt đầu làm thơ khi Bà Ngoại của anh qua đời. Trong một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh năm 2013, tôi đã hỏi, nếu có thể viết bằng tiếng Việt, liệu Ocean có cảm thấy có một cách hoàn toàn khác để ở bên Bà Ngoại và tưởng nhớ Bà không? Anh trả lời (tôi dịch sang tiếng Việt), “Không. Tiếng Việt rất quý giá đối với tôi vì nó là ngôn ngữ tôi sử dụng trong bếp, với gia đình. Đó là ngôn ngữ mà tôi học từ những cái chết và sự ra đời của người thân. Qua đó, tiếng Việt hoàn toàn độc lập với nghệ thuật và những gì phức tạp. Khi tôi nói tiếng Việt, tôi nói trong mạch nước trong. Tôi thoải mái nhất. Tôi có thể nói tất cả và không nói gì cùng một lúc. Nên tôi không muốn sáng tác bằng tiếng Việt. Tôi không muốn dùng ngôn ngữ đó cho thơ ca. Tôi không muốn làm hoen ố nó. Hơn nữa, âm nhạc, âm điệu trong tiếng Việt thì đã thơ đủ rồi.”

Bên cạnh lý do tình cảm khiến cho một số người cầm bút trẻ không sử dụng tiếng Việt trong sáng tác, thì cũng có những lý do rất thực tế khiến cho họ chọn viết bằng tiếng Anh. Trong những buổi nói chuyện về kỹ thuật viết và nghiệp viết cho các lớp tiếng Việt tại Westminster High School ở Quận Cam, California, đầu năm 2014, tôi đã đưa ra một cuộc thăm dò ngắn với gần 100 em học sinh trung học. Đa số các học sinh trong những lớp này giỏi tiếng Việt hơn tiếng Anh vì mới định cư ở Mỹ. Các em được yêu cầu tự nhận định về khả năng tiếng Việt của mình, bên cạnh một loạt câu hỏi về chọn lựa viết tiếng Việt hay tiếng Anh. Câu hỏi như thế này: Em sẽ chọn công việc nào? Viết 800 chữ, nhuận bút $500; hay Viết 1,200 chữ, nhuận bút $50? Tiếp theo, cũng câu hỏi đó, nhưng có thêm hai yếu tố khác cho câu trả lời. Chọn lựa thứ nhất: Viết 800 chữ, nhuận bút $500, tiếng Anh, đề tài được định sẵn. Chọn lựa thứ hai: Viết 1,200 chữ, nhuận bút $50, tiếng Việt, đề tài do chính em chọn. Em sẽ chọn công việc nào: thứ nhất, hay là thứ hai? Và đây là câu hỏi sau cùng: Khi biết thêm về chọn lựa và ngôn ngữ cho mỗi công việc, em có thay đổi quyết định của mình không? Tại sao?

Có lẽ quý vị cũng đoán được, tất cả các em đã chọn viết 800 chữ, nhuận bút $500, vì như đa số các em nói, “Nhiều tiền, ít chữ, đỡ cực.” Sau khi biết thêm hai yếu tố về ngôn ngữ và đề tài thì đa số vẫn không thay đổi quyết định. Một em đã viết, “Không, vì bây giờ thứ em cần là tiền, sau này thì có thể suy nghĩ lại!” 14% đổi quyết định và chọn viết tiếng Việt, theo đề tài mình chọn, dù với nhuận bút thấp, vì như một em nói, “Em sẽ biết cái topic em cần viết;” và một em khác, “Tôi muốn được viết cái gì tôi thích;” hoặc vì một lý do rất thực tế, “Em chưa giỏi tiếng Anh;” hay là vì không muốn “Mất công đi lấy thêm lớp tiếng Anh tốn tiền!”

Có một em hỏi ngược lại tôi: “Cô ơi, có việc nào viết 100 chữ được $100,000 không Cô?” Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào rao việc như vậy, nên nếu quý vị biết thì xin cho tôi thông tin để chuyển đến em sinh viên này. Thưa quý vị, tôi nhắc đến cuộc thăm dò này, vì nó phản ảnh cái thực tế là nghề cầm bút bằng tiếng Việt ở hải ngoại không phải là một chọn lựa kinh tế khả thi. Trong cuộc phỏng vấn do Lê Quỳnh Mai thực hiện trên Hợp Lưu, Nhà văn Trần Vũ đã nói, “Tôi chỉ mong muốn, các tập san văn chương VN trên giấy cũng như trên mạng, cùng nhà xuất bản ngoài nước trả tác quyền và nhuận bút cho các tác giả, ký kết văn kiện hợp đồng đàng hoàng y như Tây phương… Dương Thu Hương có lần tuyên bố: Cái nhục lạc hậu nghèo đói, cũng nhục như cái nhục mất nước. Tôi muốn thêm: Cái nhục không trả tiền nhuận bút, cũng nhục như cái nhục mất nước. Muốn vậy, nhưng tôi biết rõ các tạp chí không có lợi tức. Không nhuận bút ở ngoài nước đã thành một thông lệ. Một truyền thống. Và hơn một truyền thống, một định mệnh.”

Cho nên, tự bản thân việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác ở hải ngoại đã là một chọn lựa đắt đỏ, chưa kể đến những yếu tố về số lượng độc giả, và những giới hạn ngôn ngữ tất yếu cho các bạn sinh trưởng ở hải ngoại. Đây cũng là một trong những lý do cần phải trao di sản văn học miền Nam 1954-1975 cho những thế hệ hậu chiến, để giúp họ có một nguồn vốn dồi dào cho một con đường khá cam go. Điều đáng quý, là dù những thế hệ sinh ở Mỹ không thông thạo tiếng Việt, họ vẫn cố gắng dùng tiếng Việt như một phần của căn tính văn hoá gốc. Qua nhiều Dự án nghiên cứu khác nhau về người Việt hải ngoại tại Bắc Mỹ, Úc Châu, và Âu Châu trong 21 năm qua, tôi đã gặp nhiều bạn trẻ sinh ở hải ngoại nhưng thông thạo tiếng mẹ đẻ. Họ sử dụng tiếng Việt lưu loát ở cả các mặt: nghe, nói, đọc, viết. Mà không chỉ những người trong giới cầm bút, mà trong nhiều ngành khác như dược, luật, thương mại, vv. Bên cạnh đó, còn có những bạn trẻ không phải người Việt ở khắp nơi trên thế giới chọn theo học những ngành về văn hoá, ngôn ngữ, văn chương Việt Nam. Nếu chúng ta có một văn khố chính thức về văn học miền Nam trong giai đoạn này, thì sẽ giúp tất cả giới trẻ hải ngoại – dù gốc Việt hay không – dễ dàng tìm hiểu về văn học Việt Nam trong giai đoạn cận đại. Nếu không, họ sẽ tìm thấy một ngõ cụt, và có thể chuyển hướng tìm hiểu về những đề tài khác với tài liệu có sẵn.

Kinh nghiệm của người di dân ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng thường bị mai một và lấp đi bởi rào cản ngôn ngữ, vật lộn mưu sinh, và sự nín lặng của quá khứ tang thương. Người Việt ở hải ngoại đã may mắn có điều kiện thuận lợi để mở một bước ngoặc mới. Năm 2004, tôi có thực hiện một dự án về truyền thông Việt ngữ tại Little Saigon, và phỏng vấn một số vị trong báo giới về việc sử dụng tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam trong vài chục năm tới. Đa số đều cho rằng, có lẽ cũng giống như các cộng đồng di dân gốc Á khác, cộng đồng Việt Nam của chúng ta sẽ duy trì được tiếng Việt chỉ trong một hai thế hệ đầu. Những thế hệ sau sẽ đi vào dòng chính, và tiếng Việt không còn quan trọng đối với họ. Ở năm 2014 này, chúng ta có ngót bốn mươi năm duy trì văn hoá, lịch sử, và tiếng Việt qua các sinh hoạt văn học, văn hoá, Việt ngữ, và truyền thông tại hải ngoại. Trong những năm gần đây, với phong trào giáo dục song ngữ Anh Việt nở rộ trong hệ thống giáo dục công lập ở Hoa Kỳ, chúng ta đã có những vận hội mới, từ những chương trình song ngữ Anh Việt từ bậc tiểu học, đến các lớp tiếng Việt ở bậc trung học, chương trình cử nhân hoàn toàn bằng tiếng Việt ở bậc đại học, và nhiều chương trình về văn hoá và ngôn ngữ Việt khác. Chúng ta có thể tin rằng, các thế hệ tương lai sẽ có đủ khả năng ngôn ngữ để lãnh hội những tác phẩm của nền văn học Miền Nam bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình, mà không cần đi vòng qua một bản dịch Anh ngữ. Nhưng trước hết, chúng ta cần trao nền văn học đó cho họ.

Những thế hệ hậu chiến phải đối diện với nhiều khoảng cách khi họ tìm về quá khứ của gia đình và cộng đồng: khoảng cách thế hệ, khoảng cách ngôn ngữ, khoảng cách về kinh nghiệm sống, khoảng cách về nhận thức về lịch sử. Trong trường hợp của Ocean Vương, anh chào đời mười ba năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhưng lịch sử gia đình đã đặt Anh ngay vào giữa cuộc chiến – với công việc mà Bà Ngoại của Anh đã làm để sống còn, với những cái chết của những người nam trong gia đình, và mọi việc khác. Khi được hỏi, lúc nào thì anh bắt đầu ý thức được về chiến tranh Việt Nam, và anh có quan hệ cá nhân như thế nào với cuộc chiến, Ocean đã nói, “Tôi trở nên ý thức về chiến tranh khi tôi cứ thấy người Việt, thường được đóng bởi những diễn viên da trắng với khuôn mặt vàng, bị John Wayne bắn trên màn hình TV. Tôi nghĩ thật là kỳ quặc khi nhiều người Việt bị bắn chết bởi ‘người tốt.’ Tôi nghĩ tôi phải là một ‘người xấu.’ Nên tôi đi thư viện để thử tìm hiểu xem tôi xấu như thế nào. Đó là khi tôi khám phá ra sách và chữ. Và qua sách, tôi biết rằng bạn có thể dùng chữ để biến một người thành người tốt hay người xấu. Như thể ảo thuật (hết trích).” Đó là một trong những khoảng cách có thể được khoả lấp nếu những thế hệ hậu chiến tại hải ngoại có được di sản cần thiết, là những tác phẩm của văn học miền Nam, giúp họ hiểu được mình đến từ đâu, và đã có một quê hương như thế nào.

Để kết, tôi mời quý vị cùng nghe một bài nhạc rap của John Vietnam Nguyễn, một nhạc sĩ trẻ quá cố. Mẹ anh là một phụ nữ Việt tỵ nạn, và cha anh là một cựu quân nhân Mỹ. Anh chào đời tại Chicago năm 1993, và mất cũng tại đây khi cứu một người bạn khỏi chết đuối tháng Chín năm 2012. John Vietnam đã có nhiều đóng góp cho cộng đồng nghệ thuật, sinh viên, và địa phương, và người ta đã vẽ một mural cũng như dành một con đường tại Chicago để vinh danh anh. Anh sáng tác bằng tiếng Anh, nhưng có một bài với nhan đề ‘a hapa rap in Vietnamese’ – tựa thì tiếng Anh, nhưng ca từ hoàn toàn bằng tiếng Việt (https://www.youtube.com/watch?v=V3U-hqQ3kGo). Ở đây, tôi chú trọng vào việc John Vietnam dùng hoàn toàn tiếng Việt trong bài nhạc rap của mình – và đưa cả phụ đề song ngữ, dù phần tiếng Việt có sai chính tả. Tôi xin phép không bàn đến ca từ, vì điều đó liên quan đến việc phân tích nhạc rap, vốn không phải là đề tài của ngày hôm nay. Điều tôi muốn nhấn mạnh là có thể đây là tác phẩm táo bạo nhất của người nhạc sĩ trẻ này, vì chọn lựa ngôn ngữ. Những chữ sai chính tả trong phần phụ đề cho thấy có lẽ John cũng rất vất vả để soạn phần phụ đề. Như chúng ta thấy, Ocean Vương tuy sinh ở Việt Nam, nhưng có một thái độ hoàn toàn khác với John Vietnam về tiếng Việt trong việc sáng tác. Đối với Ocean, tiếng Việt rất thiêng liêng, chỉ để nói với người thân, nên Ocean không dám dùng đến trong sáng tạo. Ngược lại, John Vietnam chọn dùng tiếng Việt, tuy anh nói tiếng Việt với âm hưởng của những người Việt gốc ‘hải ngoại.’

Qua tác phẩm này, John Vietnam đã đưa tiếng Việt ‘hội nhập’ vào dòng chính, qua một bộ môn nghệ thuật trình diễn rất phổ biến đối với người trẻ. Như vậy, anh đã giúp đưa tiếng Việt gần hơn với những thế hệ mới, và với cả những người hâm mộ anh không phải là người Việt hoặc không biết tiếng Việt. Qua đó, anh cũng giúp phản bác một lý thuyết trong khoa học xã hội về kinh nghiệm di dân, đó là những cộng đồng di dân thường bị ‘frozen’ hay đóng băng trong quá khứ, và sống trong quá khứ. Qua những mạng xã hội của mình, John Vietnam mời gọi mọi người tưởng niệm tháng Tư như một cách giữ gìn và công nhận gốc gác của mình. Anh tìm hiểu và gắn bó với lịch sử di dân của mình, nhưng đồng thời, anh cũng dùng chính lịch sử đó để định hướng cho hiện tại và tương lai một cách sống động. Và tác phẩm ‘a hapa rap in Vietnamese’ là một thí dụ cụ thể.

Xin trân trọng cám ơn thời giờ quý báu của quý vị.

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

———————————————–

‘a hapa rap in Vietnamese’

John Vietnam Nguyễn

.

 

THƯ CỦA MÙA CHIM BÁO BÃO

nguyentancu

Mùa của những cơn mưa ngậm mưa trên hè phố
Những cơn gió vuốt ngược trong mái hiên sầu thảm
Mùa những bước chân đi nhanh – nhanh lên gió
sẽ không về kịp đâu – nếu bão tràn lên – sông rác
trời sẽ đen trên tường tím rêu buồn

em nói rằng : em sẽ không bao giờ thôi yêu tôi
cho dù đôi môi em sẽ không bao giờ xanh nữa
em nói như một bức thư tình không bao giờ được viết
như một cơn bão ngoài kia – áp thấp
nhiệt đới đang lên – trong một đĩa nhạc buồn

Chúng tôi đang tới đây – hỡi những cư dân thành phố
Chúng tôi báo rằng: sẽ có một cơn giông du đời
một cơn bão đêm đang cuồn cuộn về trong giấc ngủ
sẽ có nhiều giấc mơ – nhiều giấc mơ . . . khủng khiếp
chúng tôi là . . . điềm gỡ của những . . . giấc mơ

Chúng tôi hú lên – giọng hú của màu vàng tang tóc
Chúng tôi thổ huyết tươi từng ngôi sao đỏ chói
Chúng tôi bay lên . . . bay lên
trên những cột cờ gươm giáo
trên những giấc mơ của một thời súng đạn
chiến tranh . . . chiến tranh và cả những nỗi buồn

Trên những tháp ăngten cao cao kia – chúng tôi đến
Chúng tôi bơ vơ – vì biển ở ngoài kia . . . rộng quá
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi . . . gãy cánh
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi đang . . . giẫy chết
Chúng tôi là con thú cuối cùng của chủ nghĩa . . . hoang vu

Mùa của nụ cười nở trên những đôi môi . . . héo úa
Em lại nói – em sẽ không còn – yêu tôi- nhiều hơn thế nữa
những con chim báo bão lại bay về
trên những chung cư . . . sắp sập
và em yêu ơi – tôi lại yêu em . . . tràn ngập
mặc những con chim bay kia – đang báo bão tràn về !

NGUYỄN TẤN CỨ

XƯA…

tonnuthudung

Đâu phải là mây,đâu phải sao
Mà xa xa mãi ở phương nào
Đôi rèm mi chớp ngàn sao chớp
Hé chút môi cười nắng đuổi nhau.

Cô bé ngày xưa áo lụa xinh
Hồn nhiên má đỏ , mắt long lanh
Tan trường mây níu đôi tà áo
Có gió đâu mà xao xác xanh.

Con đường lá khuất những bàn chân
Chiều rơi từng hạt thủy tinh trong
( Môi mím nghĩa là chưa kịp nói
Đừng nói những lời chua với anh !)

Cô bé ngày xưa ai giấu đâu ?
Sao nghe vỡ vụn những tinh cầu
Buồn vương từng sợi mây giăng tím
Buồn ngỡ ngàng qua mấy nhịp đau…

tôn nữ thu dung

LÃNG MẠN TÌNH XƯA

tranvannghia

Qua đồi nhớ gió
Thấp thoáng má đào
Bềnh bồng hương tóc
Thả hồn chiêm bao

Mắt xưa đa cảm
Líu ríu tình hồng
Thương sao vạt cỏ
Thì thầm dưới chân

Chiều tương tư nắng
Lạc tiếng vĩ cầm
Chỗ ngồi bỏ trống
Thẫn thờ dư âm

Bóng sương côi cút
Thở lạnh hiên chờ
Thèm tay em nắm
Cho đời trú mưa

Đầy vai lá xước
Ngỡ dấu răng tình
Nỗi đau chết đuối
Trên bờ phù sinh

Trở lại đường xưa
Tìm mây cuối phố
Lãng mạn tình xa
Gọi thiên thu nhớ

TRẦN VĂN NGHĨA ( Phan Rang)

Rằm Tháng Mười Năm Giáp Ngọ

tranvanle

Đêm nay, Rằm tháng Mười, nhìn trăng mà ứa lệ, lính chưa có tuổi xế ,bây giờ nằm ở đâu?

Tôi, người lính bạc đầu, hai hoa mai héo úa, trăng cài kia, ngoài cửa, hai giọt sương đêm qua…

Tôi biết tôi đã già, trăng cũng già, ai khiến? Núi vẫn non, hiển hiện, trong từng bài ca dao! (*)

Những người lính nghiêm chào, truớc mặt tôi một thuở, bây giờ những ngôi mộ…nằm một góc núi non!

Hỏi sao mà không thương, hỏi sao mà không khóc? Danh Dự và Tổ Quốc, Trách Nhiệm, trời ơi trời…

Lính tôi đã ngậm cười, tại sao tôi còn sống? Sống để nuôi hy vọng , một ngày dựng lại cờ?

Các em, ôi sương mờ ,trên đầu non lạnh lẽo, hai đóa mai tôi héo, mưa mấy mùa không tươi!

Đêm nay Rằm tháng Mười, Rằm Hạ Nguyên…là hết, rồi sắp tới ngày Tết, thêm một năm nữa, buồn!

Tôi nhìn lên đỉnh non, con vạc bay lầm lũi, tự hỏi sao tôi cúi / đầu / đi trong trại tù?

Các em ơi Thiên Thu, Rằm không ai cúng giỗ! Các em có không mộ? Hay mộ…thành đất bằng?

Tôi đắm đuối nhìn trăng, nhìn đất bằng dậy sóng…Té ra tôi xúc động, nghe tim mình nao nao…

Bốn mươi năm tôi chào vầng trăng như có máu! Tha huơng đời nương náu…chờ tới ngày bụi tro!

(*) Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, núi bao nhiêu tuổi vẫn là núi non!

Trần Vấn Lệ

THĂNG CA

hochibuu

Xa nửa vòng trái đất
Ta yêu nhau điên cuồng
Gã giang hồ- bất sá
Nhìn đời như khói sương

Em phong trần mấy lượt
Vẫn kiêu hãnh làm người
Trên đỉnh cao đẳng cấp
Yêu chỉ mình ta thôi

Tình yêu như mật ngọt
Cho con bướm đa tình
Cho cành hoa hương nhụy
Bay vờn cành nguyên trinh

Tạ ơn em lần nữa
Đã cứu rỗi một người
Vốn chay rồi nỗi nhớ
Đưa hồn buồn xa khơi

Nửa đời qua- chấm hết
Nửa còn lại – rong chơi
Cho nhau tình bất diệt
Ta sẽ hoài sánh đôi..

hồ chí bửu

Cô giáo Sao Mai.

nguyentri

Cơ ngơi của Sao Mai, giáo viên tiếng anh trường trung học X, không một giáo viên nào không ao ước.
Mấy giáo viên tập sự thích nhất cái sân nhà cô tổ trưởng bộ môn. Đủ cho tất cả các loài hoa. Hồng, thược dược, phong lan. Trong năm mươi mét vuông nối sân và nhà ở là hai mươi bộ bàn ghế, gian nầy mới là nơi thật sự làm ra của cải, và lấy đi của cô nhiều nước miếng nhất trong sự nghiệp giáo dục. Mười năm trong nghề, nhưng thực ra cô dậy ở nhà gấp ba thời gian ở trường. Một đến ba giờ một ca, ba đến năm ca nữa, bẩy đến chín là ca cuối trong ngày. Anh văn sáu bảy tám chín cô nhai mười năm nhân ba, nhuyễn như cháo cúng thí.
Sao Mai tinh thông bộ môn lên hàng thượng thượng. Cái chứng nhận giáo viên dạy giỏi cấp huyện là một minh chứng rõ nét. Và để có được nó, cô đã phải tham dự những ba năm. Vô lí mà một lô một lốc giỏi cấp trường mà khuyết cái huyện sao? Tất nhiên rồi, cứ một bài mà hát đi hát lại không ngưng nghỉ buộc phải tinh, mà tinh luôn đi với vinh như ông bà dạy. Đâu khơi khơi mà có, Sao Mai đã phải chiến đấu dữ lắm mới tồn tại, lơ mơ và không thông chữ Biết, theo ý nghĩa khôn chết dại chết biết sống dễ mà ra hôm nay.
Hồi mới vô xứ nầy với tấm bằng cao đẳng khoa tiếng anh. Nó chỉ không ngon lành ở cái hệ. Khi đi xin trường để tham gia giảng dạy, ba từ hệ tại chức nên mấy trường ở thị trấn, hoặc mấy xã trên lộ nhựa, đều khéo léo:
– Cô thông cảm, trường đủ giáo viên bộ môn rồi.
Gần hết hè mà vẫn không tìm đâu ra nơi để không ăn nhờ. Cậu e hèm:
– Mi vào trong sông tau giới thiệu cho, Hiệu Trưởng trong nớ là bạn tau. Xem như dạy tạm niên khóa ni, qua năm rồi tính tiếp.
Sao Mai phải khăn gói vô sâu xa. Đường sá nhìn là khỏi nhớ quê hương xứ sở. Cả thầy bà cũng đen nhẻm đen nhèm, trường lớp thì như câu đối của thầy Cao nhà trống ba gian một thầy, một cô, một chó cái. Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Muốn qua sông phải đi đò, Sao Mai tưởng vào Nam ngon lắm, ai ngờ vẫn khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh, đành ngâm câu một duyên hai nợ âu đành phận. Trước mắt là vậy rồi sau tính tiếp.
Là cái trường nầy đây. Lúc ấy phôi thai lắm, một lớp chín, hai lớp tám, ba lớp bảy, bốn lớp sáu. Sao Mai được nhận vì, một là, mười lớp mà chỉ có hai ông già dạy tiếng anh với tư cách hợp đồng. Hai là, cô có cái bằng còn hai ông kia không một mảnh lận lưng. Tuy bằng cấp, nhưng học kiểu nghe qua phát thanh, tương đối khâu ngữ pháp nhưng phát âm cô chệch choạc, chẩu chàng lắm. Hai tay già hỏi vài câu xã giao, có câu cô không luận nổi để trả lời. Tuy nhiên họ không chấp mà chậc:
– Nay không giỏi, mai giỏi. Nay không hiểu, mai hiểu, nghề dạy nghề lo gì.
Anh văn có ba người nên ra một tổ. Tấn, nguời già nhất được phân làm trưởng nhưng ông lắc đầu, ông trẻ hơn tên Tùng cũng lắc, nói:
– Cứ để cô Sao Mai làm tổ trưởng anh văn, dù gì cô ấy cũng có cái bằng.
Vậy là cô ra tổ trưởng.
Cô đến khổ với hai cha nội già nầy. Vì họ giỏi. Cả hai đàm luận với nhau bằng tiếng anh như hành vân lưu thủy. Sợ nhất tiết dự giờ để đánh giá tiết dạy. Họ thông cảm vì cô chưa qua sư phạm, chưa có kinh nghiệm đứng lớp, nhưng họ chê thẳng cánh khâu phát âm của cô. Không tiết nào cô được đánh giá khá, chỉ trung bình là hết mức. Chán quá, cuối niên khóa cô lại tiếp tục đi ra phố kiếm chỗ dung. Buồn thay. Có lẽ cô có duyên với sâu xa.
Hai tay già thì kiếm thêm tí chút khoản kèm cặp. Sao Mai nẩy ra ý định dậy thêm (vì không ai thuê kèm). Họp giáo viên toàn trường Tùng nói:
– Tôi nghĩ là thầy Hiệu Trưởng nên đình chỉ việc dạy thêm của các thầy cô trong trường vì dạy thêm dứt khoát sẽ phát sinh tiêu cực.
– Thế thầy và thầy Tấn dạy kèm thì sao? – Một giáo viên Toán hỏi.
– Kèm và thêm hoàn toàn khá xa nhau.. Chúng tôi kèm cho những người cần tiếng anh cho một mục đích khác. Thầy dạy thêm là thêm cái gì, xin phân tích cho tôi nghe.
– Thầy không thấy có những học sinh…
– Tôi thấy hết và thấy rõ nữa là khác, nhưng thầy cứ dạy cho hết bài trong tiết, đừng dạy làng nhàng rồi dùng áp lực bắt học trò học thêm chỉ vì tiền.
– Thầy nhầm rồi, tôi dạy thêm cho học trò yếu và không nhận thù lao.
– Đó là thầy nói, còn tôi và cả thiên hạ không ai có công mà không cần lộc. Dạy thêm đã và sẽ bị học trò coi thường. Khi một thầy cô giáo bất kì nào nhận tiền từ tay học trò, đã mặc nhiên xem như bán chữ, trong một chừng mực nào đó, trò đã hóa thành chủ. Và người nhận tiền, tuy không tớ nhưng suy ra cũng bằng. Tôi mong các vị hiểu cho?
Các thầy cô đang cải thiện đời sống bằng cách thêm bực lắm. Nghề giáo biết làm chi với tay trái? Xã hội luôn nhìn với đôi mắt kính nể. Không thể đưa vai và lưng để làm việc bình dân. Đồng ý không có nghề chi xấu, nhưng mà… Hiệu trưởng lên tiếng:
– Lương ngành của chúng ta nói chung là thấp, rất thấp. Trường ngơ cho các thầy cô kiếm thêm. Tôi mong các thầy cô hãy để yên việc nầy, tương lai chắc chắn sẽ có quyết định tối hậu của cấp cao. Theo tôi thì việc dạy thêm cũng không có gì xấu, nó giúp cho học sinh tiến bộ hơn.
Tấn cười nhạt:
– Tôi đồng ý rằng thêm không xấu, nếu thầy cô đó trong sáng, và phải thêm một cách có lương tâm. Tôi chắc thầy Hiệu Trưởng cũng có nghe tới một vài thầy cô dùng thủ đoạn như mắng mỏ, ai không học thêm là sẽ có vấn đề, đến nổi đã có lời ong tiếng ve từ phía phụ huynh và cả học sinh nghe đau lòng lắm. Và đau lòng là chuyện nhỏ, học trò sẽ mất niềm tin vào thầy cô mới là vấn đề lớn.
Cuộc họp có phần căng thẳng. Tất cả yêu cầu Tấn nêu đích danh kẻ tiêu cực, nếu không Tấn là kẻ đầu têu phá hoại tính đoàn kết nội bộ. Tấn cười:
– Tôi có đủ chứng cứ để đích danh những kẻ tiêu cực trong vụ thêm thắt nầy. Nhưng lúc ấy các vị sẽ đòi tôi cung cấp những phụ huynh, học sinh nào đã phản ảnh, và chắc chắn sẽ có hậu quả cho học sinh đó, vì vậy, tôi xin từ chối đích danh ai. Tôi chỉ khuyên các bạn là đừng làm mất niềm tin của học trò bởi ba đồng bạc mọn, phải hiểu rằng, điều đó tai hại lắm. Nhân đây tôi cũng thông báo cho ban giám hiệu là tôi xin ngưng hợp đồng. Bắt đầu từ hôm nay.
Một tháng sau Tấn nghỉ. Niên khóa kế Tùng cũng theo chân. Một bằng C anh văn khác xin hợp đồng, phòng giáo dục điều về hai giáo viên khác. Đương nhiên Sao Mai trở thành lão làng của bộ môn.
Ai cũng biết rõ, rất rõ, năm nầy đến năm khác, cả ty tỷ lời ong tiếng ve cho thêm thắt, có cả cấm luôn. Thoạt tiên Sao Mai cũng sợ. Nghĩ dùm đi, lương hiện tại, sâu xa nên thêm phụ cấp đất đỏ tổng bốn triệu. Trong khi đó, mỗi lớp cô dạy thêm ba mươi em, mỗi em hai trăm nghìn một tháng (tuần hai buổi) là sáu triệu. Cô có sáu lớp thêm như vậy, là bao nhiêu? Không cho dạy, lương có thêm mười triệu một tháng cô cũng không ham. May quá, nói cấm nhưng làm sao cấm. Cấm là giáo viên bỏ lớp liền.
Ủa mà sao cô có nhiều lớp dạy thêm vậy? Thì đó, cô dạy hai lớp sáu và hai lớp chín. Mấy cô giáo kia nếu muốn thêm như cô phải giới thiệu học trò qua, bằng không, dạng mới về trường dù anh chị có tốt nghiệp cỡ nào, muốn biên chế, phải hợp đồng trước đã, và trong thời gian ấy, phải thật sự giỏi mới được tổ trưởng bộ môn đề nghị. Muốn giỏi ư? Phải biết. Khôn cũng chết mà dại thì phải chết.
Thấy Sao Mai không? Chỉ có cái tại chức. Vậy mà cô bình như vại suốt từ bấy nay, vì cô biết. Cô biết vợ thầy Hiệu Trưởng cần chi, nhà cô Hiệu Phó chuyên môn thiếu tiện nghi gì. Trên tất cả cô biết ai cũng thích nghe lời nói nịnh. Quan trọng là phải biết nói làm sao để lọt đến xương cùng.
Vậy mới nên nhà nên cửa, nên nhiều thứ lắm. Thậm chí đến chồng, tuy chỉ bảo vệ trường, nhưng học trò vẫn gọi thầy nầy thầy nọ.
Nhưng Sao Mai không vui. Cô buồn. Rất buồn. Sợ. Rất sợ và hằn học nữa.
********
Nhà cửa, tiền tài, địa vị, thiếu cái chi mà tâm trạng thế?
Sao Mai hối không kịp khi lấy một nát rượu làm chồng. Thực ra thì chồng cô mới bê tha đây thôi. Trước, Minh cũng đàng hoàng lắm. Sao Mai thuận là vợ Minh đồng nghiệp lắm kẻ bỉu môi. Họ chê gì nhỉ? Có gì đâu, cái thói đạo đức giả đâu cũng có, ai cũng cho rằng không nghiệp chi xấu trừ bán trôn nuôi miệng, nhưng chả thần tiên nào thích bằng hữu với ma quỷ. Trí thức ít ai hạ mình chơi với ít chữ. Bảo vệ trường sánh duyên cùng cô giáo ư? Chính Sao Mai còn có cảm giác hạ mình nói chi ai.
Thực ra Sao Mai cũng thích lắm một bờ vai để tựa, khốn nổi, nhan sắc cô dạng tầm tầm, không động đậy một trái tim si nào. Minh thất nghiệp, tán tỉnh trăng gió cho vui. Ngờ đâu duyên bén quá nên đá vàng trọn kiếp. Sao Mai hết cái cô đơn ngồi đếm tiền một mình. Lấy nhau rồi cô xin chân bảo vệ cho chồng. Bảo vệ ư? Nhàn lắm. Đánh trống chào cờ, trống vào lớp, trống tiết, trống ra chơi, đi loanh quanh và đời không mỏi mệt. Nhàn nên Minh lai rai đôi sợi. Chuyện nhỏ thôi mà, đôi khi thầy giáo còn có mùi hèm nói chi bảo vệ. Tuy nhiên người ta rượu lễ rượu nghĩa, còn Minh luôn hò ra tới Huế.
Và nếu chỉ chừng đó thì Sao mai cũng có thể cho qua, vì đời ai chả có một cái gì đó để mê. Nhưng Minh cũng như bao kẻ vì rượu khác trên đời. Tự ái lắm khi bè bạn nói mày được vợ nuôi. Trước, họ xa xôi về những cái không hay không phải của những thầy cô dạy thêm. Sau, chắc là do rượu, họ bảo con vợ mày cũng chẳng tốt lành gì. Nhà tao chạy gạo chết mẹ mà không học thêm con vợ mày, tức cô Sao Mai ghẻ lạnh, thậm chí sỉ nhục con tao trên lớp. Minh nghe mà chả chống chế chi được. Anh ta văng tục, chửi thề. Cô nhịn, Minh lấn tới. Bức bối Sao Mai cự lại, hắn bạt tai vô mặt vợ. Đỉnh điểm, cô vất ra cái giấy li hôn yêu cầu Minh kí. Giáo viên mà đi đến quyết định như thế là cực đoạn lắm, nhưng cả thiên thần cũng bó tay nếu bay trong hỏa ngục.
Nhưng rồi cô phải tự tay xé tờ li hôn dù phải viết lại những ba lần. Lần thứ nhất, Minh xé bỏ kèm ỉ ôi năn nỉ. Lần thứ hai, lần thứ ba. Nhưng đến lần thứ tư Minh kí. Anh ta cười khẩy:
– Mày – Minh gọi vợ bằng mày – tưởng tao hèn lắm sao? Sống với mày vinh lắm chắc?
– Không lẽ nhục?
– Chính xác là rất nhục. Mày tự đóng khung vào trong cái vó trí thức rỡm, đâu có biết bên ngoài kia, thiên hạ nói gì về bản thân mày.
– Anh đi nghe thiên hạ, thì lấy của thiên hạ mà nhậu.
– Tao sẽ nhậu bằng cái của tao làm ra, hơn là ăn cái của mày.
– Của tôi thì sao?
– Của cô ấy à? Cô có nghe thiên hạ nói sao không? Họ bảo cô là con đĩa rút máu học trò. Đứa nào không học thêm cô đì bằng cách mắng mỏ ngay tại lớp vì dốt, cô dạy thêm bằng cách dạy trước cái sẽ học, người ta bảo cô không có lương tâm. Làm giáo viên mà bị đánh giá không có tâm cô nghĩ sao?
– Anh biết gì về Tâm mà lớn giọng? Tâm của anh là ba giọt rựợu và cái vũ phu kìa.
– Tôi không nói tôi mà tôi đang lập lại lời thiên hạ nói về cô và những thầy cô giáo dạy thêm khác. Họ và cô không xứng để học trò noi theo.
– Chúng tôi dạy thêm không bất hợp pháp, thiên hạ ghen ăn tức ở, mặc kệ họ.
– Những ông thầy bà cô dạy thêm kia thì không nói, riêng cô thì khác đấy.
– Tôi thì sao?
– Vì bằng cấp của cô là bằng mua…
– Cái cao đẳng của tôi mà mua à? Anh nghe ai nói thế?
– Tôi không nói cái cao đẳng, tôi nói cái bằng sư phạm của cô, cô qua sư phạm lúc nào mà có để vô biên chế? Bà Vân hiệu trưởng cũ tuy hưu, nhưng chưa chắc đã yên đâu. Cô liệu hồn đấy.
Sao Mai rúng động. Nhưng cô tự trấn an mình, dễ gì người ta biết để truy. Mà nếu có truy thì sẽ bể ra từng cụm dây mơ rễ má, họ sẽ bưng lại cho kín. Không sao, trong ngành dễ gì họ giết nhau, ừ dễ gì…
Cô bâng khuâng nghĩ tiếp. Lỡ bể ra thì sao nhỉ? Rõ cái bằng của cô không biết từ đâu mà hiệu trưởng cũ có để giúp cô. Hiệu trưỏng có thể không sao, vì đã hưu rồi. Nhưng còn cô? Chuyện truy căn đâu có khó. Cô bị đuổi khỏi ngành là cái chắc.
Sao Mai sợ. Ai cấm đựợc gã say bên chén rượu huỵch tẹt chuyện nầy. Nó sẽ lọt tai mấy kẻ đố kị trong trường, một lá đơn có chữ kí của vài giáo viên đề nghị xem lại tất cả các cái về cô là sạch.
Cô xé bỏ tờ đơn li hôn mà khó khăn lắm gã chồng mới kí. Đành thôi vậy. Nhịn một tí cũng chẳng chết. Không lí là chồng mà nó đi khai chuyện không phải để sụp đổ sự nghiệp của vợ sao? Cô giận dữ chửi thầm :
– Đồ súc sinh.
Nhưng súc sinh không chịu, gã viết lại tờ đơn li hôn. Sao Mai thật sự ngạc nhiên. Cô hỏi:
– Anh muốn gì?
– Tôi muốn cô bỏ cái vụ thêm bớt đi, bằng không chúng ta chia tay nhau.

NGUYỄN TRÍ

LỤC BÁT 4 CÂU TRẦN BẢO ĐỊNH

tranbaodinh

gửi Nguyễn Bích Sơn, Houston

1. THĂM EM

tôi về gõ cửa nhà em
nắng xuân nhảy múa trên thềm hoa xưa
trẻ em rượt đuổi vui đùa
khách ơi, cô đã lên chùa nhiều năm!

2.TRỐNG KHÔNG

hạt mưa rơi rổ mặt hồ
lăn tăn sóng vỗ mép bờ thảo hoa
nụ bông súng khép chiều tà
mây vi diệu rớt trăng và trống không

3. THIỀN

bóng trăng qua cửa phù vân
ta về rũ hạt bụi trần nửa đêm
có chi thiên tử gọi thiền
một chân thiên hạ gác nghiêng mái chùa

4.NHẬP THẾ

lửa tàn còn chút khói bay
củi lò đôi lúc mượn vay lửa tàn
im lìm trăng cỏ sương tan
kệ kinh dùi mõ Sư mang vào đời

5. CHIỀU VIỄN XỨ

quảy kinh vô tự sang sông
vô thanh vó ngựa tang bồng hả hê
quê người nhặt lá Bồ đề
quyét mây, gom tuyết, gửi về cố hương!

trần bảo định

MỘ KHÚC

nguyenanbinh

Ơn người
Tôi nợ thu đông
Tiếng chim đêm
Thức
Lời buồn ai nghe.

Đường chiêm bao
Mấy người về
Dù sông biển cạn
Suối khe vẫn tình.

Chờ em
Tôi đứng một mình
Bánh xe thổ mộ
Gập ghềnh đời nhau.

Biển xanh
Sao
Sóng bạc đầu
Để tình tôi phải
Dãi dầu phân ly.

Tìm người
Vạn dặm chim di
Đường tử sinh
Biết
Một đi, biệt mù.

Hành trình tôi
Cuộc viễn du
Về trong một cỏi
Thiên thu nghìn trùng.

Thì thôi huyễn mộng vô thường
Thế gian lạc bước lầm đường tôi qua.

NGUYỄN AN BÌNH
12/11/2014

Không Một Ngọn Nến Nào Cho Ngày Sinh Nhật

NXH BY NGUYEN BA KHANH

Có phải là em đang ngồi nghe tôi nói đây không? Có phải chính là em đã lắp băng nhựa này vào máy? Có phải là em đã hồi hộp ngồi chờ đợi nghe xem nốt nhạc nào sẽ mở đầu cho cuộn băng bởi vì em đã tìm kiếm khắp nơi, lật qua lật lại mặt trước mặt sau chiếc hộp bằng bìa cứng mà không thấy được tờ mục lục ghi những bài hát tựa là gì và sẽ do những ai trình bày.

Dù sao, rốt cuộc em đã nghe xong khúc hát mở đầu. Chẳng có gì lạ. Phải không? Đó chỉ là một bài hát thông thường như mọi bài hát mà ta từng nghe trong thế giới âm nhạc, máy-điện và nhựa hóa học này.

Nhưng cũng như chiếc bông hồng của cậu hoàng tử trong tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry, một bông hồng giữa muôn ngàn bông hồng khác, giống hệt nhau, dễ lẫn vào nhau, vậy mà cậu hoàng tử đã nhìn ra được chiếc bông hồng của chính mình, một bông hồng không giống với bất cứ bông hồng nào, tôi muốn nói bài nhạc mà em vừa nghe xong sẽ không giống với bất cứ một bài nhạc nào mà chúng ta đã từng nghe mặc dù âm điệu của nó hao hao như bất cứ một khúc hát nào mà chúng ta đôi khi bị buộc phải nghe. Là bởi vì, giữa em và tôi, hai ta đã có những ràng buộc vào với bài hát đó. Phải không?

Em thử bấm nút và cho máy chạy ngược cuộn băng coi.
Vy, em có nghe thấy tôi đang nói gì không?

(Im lặng)

Em,
Khi nào em mệt mỏi,
Thì em, hãy cầm lấy tay anh,
Đây con đường, con đường đưa em tới, đưa tới vùng, vùng mây trời biển xanh.
Em ơi,
Khi nào em tội lỗi,
Mời em, hãy giẫm lên đời anh
Đừng quên anh đã có thừa ô nhục
Và nơi đây cũng không còn thần linh

Khi nào, khi nào em tuyệt vọng
Thì xin em hãy cầm dao giết anh
Vì anh như tấm gương soi đối mặt em đó
Vỡ một lần,
Vỡ một lần cho xong.

Ca từ của bài hát đó gợi cho em điều gì? Những âm thanh ấy làm bật ra hình ảnh nào của hai ta?

Có phải đó là một buổi sáng, trên chuyến xe chạy xuyên qua cánh rừng cao su, gió lạnh buốc thổi tung tóc em và làm chúng ta co ro, tím săn da mặt? Có phải khúc hát đó bay ra như một lời thở than và em đã cầm lấy tay tôi?

Có phải đó là một buổi trưa, ngã lưng trên chiếc ghế vải, dưới bóng mát của những chiếc dù và trước mặt biển xanh lơ với bãi cát vàng đầy những hạt to thô kệch và bẩn thỉu, em đã nhìn tôi không nói một lời nào. Cả tôi nữa, tôi che mắt bằng chiếc kính đen to vì lúc đó một phần mặt trời chói nắng dữ quá, nhưng phần khác có thể vì lúc đó tôi đã nhìn thấy sự tuyệt vọng của hai chúng ta.

Tuyệt vọng?

Em không nhận ra được nỗi tuyệt vọng đó sao, Vy? Những cô bạn nhỏ của em, những ông bạn lớn của tôi, và cái thành kiến vững chắc hằng bao nhiêu thế kỷ bồi đắp tô dày thêm mãi, xây cao lên mãi tận trong xương tủy họ, len lỏi trong từng thớ thịt, mạch máu đường gân của cơ thể và ý nghĩ họ… Họ sẽ nghĩ sao về mối tình của hai đứa mình, họ có cái nhìn nào để nhìn hai chúng ta, họ sẽ có lời nói nào để nói về mỗi chúng ta?

Thôi, đừng nói đến những điều tuyệt vọng nữa, anh!

Tôi biết là em đang có câu nói đó trong đầu. Và hơn cả điều này tôi biết là em đang tự hỏi tại sao hôm nay tôi bày đặt chi cái trò quỷ quái này? Phải vậy không?

Chẳng có gì gấp rút, câu trả lời sẽ nằm dài dài trong suốt cuộn băng nhựa này, nếu em còn muốn tiếp tục nghe giọng nói của tôi.

Em có nhớ cái gì đã xảy ra hồi chiều hôm qua không? Không phải là tôi nghi ngờ gì trí nhớ của em đâu. Bởi vì theo tôi hôm qua em là người vắng-mặt-hiện-diện hay cũng có thể nói ngược lại rằng em là người có-mặt-khiếm-diện.

Phải rồi, mới chiều hôm qua đây chứ nào có xa xôi gì đâu.

Em hãy cố nhớ lại coi!

Chiều hôm qua, không, có lẽ nên gọi là tối hôm qua mới đúng. Vì lúc đó bên ngoài trời đã tối từ lâu lắm và chúng ta đang quây quần chung quanh chiếc bàn dài trong phòng khách hẹp đầy những bánh trái thức uống và những gói quà xinh đẹp mà em và các bạn em đã dành cho tôi.

Lúc bấy giờ là mấy giờ?

Tôi không nhớ rõ. Nhưng tôi biết lúc bấy giờ trời đã tối.

Em có biết là sau khi chúng ta đã nói được những câu chuyện có thể nói, sau khi mọi người đã uống xong hết những chai nước ngọt, ăn tận cùng phần ăn dành cho mỗi đứa, sau khi đã nghe Thuý Hồng hát một ca khúc buồn thảm của thời đại, Rita phê bình về cái tính hung dữ của tôi, Mai Ly nói đến sự phù hợp đáng ngờ giữa một nhân vật trong tiểu thuyết của tôi và tác giả của nó, sau khi đã nghe Như Loan bàn về số mệnh của mỗi người trên những đường chỉ tay, nhìn Thục Nghi, cô nhỏ có má lúm đồng tiền nhìn ngắm mọi người như một quan sát viên cần mẫn… sau bao chừng ấy thứ em đã nhìn tôi bằng cái nhìn kỳ lạ, hơi ngơ ngác và đầy thắc mắc, tôi tự hỏi em muốn nói gì trong cái nhìn ấy, khi tôi nhấn mũi dao trên chiếc bông hồng bắt quá khéo ở mặt bánh.

Có phải là khi đó em đã biết sự ngạc nhiên dội lại của tôi. Em đưa mắt nhìn quanh đĩa bánh và em như ngầm nói với tôi đoán coi, đoán thử coi, Vy đang nghĩ gì đây?

Đoán không phải là nghề của tôi nhưng“đoan chắc” thì tôi biết.

Tôi tự hỏi và thường tự trả lời câu hỏi do chính mình đặt ra.

Trả lời một cách đoan chắc và cả quyết nữa.

Em vẫn không ưa cái tính ấy, cái tính xấu mà em đã chẳng nhiều lần nói là hình thức của một thứ kiêu hãnh quá độ cần phải được dẹp bỏ ngay lập tức. Phải vậy không?

Em muốn tôi phải trả lời gấp rút là tôi đoan chắc điều gì chứ gì?

Tôi đoan chắc là em đang hỏi tại sao không có một ngọn nến nào cho cuộc lễ sinh nhật hôm nay.

Vy yêu dấu, em biết rõ là tôi đâu có ưa gì cái trò chơi trẻ con sinh nhật sinh nhiếc, còn nói chi đến đèn nến, hoa giấy với hoa thật, rắc rối đại loại như thế này. Và như vậy em sẽ hỏi thế tại sao không như mọi bận đi: làm thinh và để cho người khác tự hiểu có phải hơn không.

Làm thinh và để cho người khác tự hiểu?

Điều đó tôi đã làm và tôi vẫn tiếp tục muốn như vậy ngay khi em đang nghe giọng nói của tôi phát ra từ cuốn băng nhựa này đây. Nhưng chiều tối hôm qua hình như là ngày sinh nhật của tôi, ngày sinh nhật thứ nhất trong đời một người đàn ông đã quá ba mươi tuổi là tôi. Chắc em sẽ không tin điều này. Cũng chẳng sao. Cơ hội tốt cho tôi biện minh về sự bất thường bữa nay.
Ngày sinh của tôi, em biết đấy, làm sao tôi có thể quên được trong một thế giới đầy rẫy những con số này, nhưng tổ chức cho một lễ sinh nhật, em cũng biết đối với tôi là một việc làm ngoài sức tưởng tượng mà tôi có thể có về tôi, nó mang cái vẻ trưởng giả xu thời tầm thường và ngây ngô không chịu được.

Vậy thì cớ sự nào đã khiến tôi bày đặt ra cái buổi chiều đó?

Trước hết bởi vì tôi quý những người bạn nhỏ kia, những người bạn mà không dễ gì ta có thể tìm kiếm được trong một thế giới như thế giới này. Sau đó là vì tôi thực tình muốn chúc mừng họ đã qua được chiếc cầu gian khổ, chiếc cầu mà tôi đã bước qua một cách lo âu hồi hộp.

“Nhưng…”

Tôi biết chắc rằng em sẽ ngắt lời tôi. Đừng, em. Đừng. Tin tôi đi. Nói lung tung chỉ là cái cớ, cái cớ nhằm giải thích (em sẽ kêu lên lại giải thích nữa rồi, khổ lắm ông ơi) cớ sự nào không có ngọn nến cho ngày sinh nhật chiều bữa qua.

Cái cớ còn nhằm trả lời cho em một điều khác, một câu khác nữa về mối tình đầu tiên của tôi mà không hiểu sao em cứ thiết tha muốn biết, mà tôi cứ lần lữa hẹn hoài.

Vậy thì câu chuyện nó như thế này…

Hồi đó tôi học lớp đệ tam và được mười sáu tuổi. Gia đình sống ngay trong thành phố nhưng tôi không ở nhà (tôi là đứa con bị ghét bỏ trong một căn nhà đầy tình thong yêu), tôi theo sống với Tôn, một người bạn cùng lớp, người bạn tốt nhất mà suốt đời tôi không thể nào quên được, mặc dù chúng tôi đã xa cách nhau quá lâu. Dì củaTôn (chính ra Tôn phải gọi là mẹ mới phải vì bà là người sanh ra Tôn) là một người đàn bà đẹp, quá đẹp để có thể ví bà như một thiên thần trong những chuyện cổ tích Tây Phương tôi nghĩ vậy, và bây giờ khi nhớ đến khuôn mặt bà tôi vẫn còn tiếp tục nghĩ như vậy. Tôi ăn uống tại nhà Tôn, nghỉ ngơi luôn tại đó và được đối xử như một đứa con trong gia đình. Dì của Tôn chính là người mẹ thứ hai của tôi. Bà chia sớt cho tôi những gì bà dành cho Tôn, những đồng bạc quà sáng, ly chè trước phần ăn tối, thuốc men khi bị ốm và hơn tất cả những thứ đó, tình thương của bà mẹ và đứa con hoang đàng phiêu bạt trở về là tôi.

Nhà Tôn ở ngay mặt đường Hoàng Tử Cảnh. Chiếm trọn hai gian. Một gian làm quán ăn và một gian dùng để ở. Những sĩ quan thuộc các binh chủng đang trấn đóng hay thụ huấn tại đây vẫn thường tới lui ăn uống ở quán đó. Có nhiều lý do để tôi nghĩ rằng họ khó lòng rời bỏ được cái quán này. Thứ nhất là vì các thức ăn ở đây, được nấu rất khéo và ngon tuyệt. Thứ hai nữa, mà theo tôi lý do này có lẽ vững chắc hơn là vì quán còn có Vân, một thiếu nữ Bắc, đẹp một cách kỳ lạ, một cái đẹp vừa chín tới làm ngây ngất lòng người (tôi biết em đang cười tôi, phải không?)

Em muốn biết Vân bao nhiêu tuổi hả?

Sau này tôi mới biết là chị hai mươi lăm tuổi, nhưng hồi đó, tôi không làm sao đoán được tuổi Vân. Tôi chỉ biết là chị trẻ lắm, dân phần di cư, sinh trưởng ở Hà Nội, mẹ đã chết.

Vân được một sĩ quan quen với dì của Tôn giới thiệu. Và ngay tuần lễ đầu, qua cách chào hỏi đi đứng của chị, lối nói chuyện lễ phép và duyên dáng của chị biểu lộ rõ rệt cái nền nếp của một gia đình có giáo dục, dì Tôn giao cho Vân công việc thu tiền ở quán rượu. Vân trở thành thỏi nam châm của hàng ăn, nếu không muốn nói là thỏi nam châm của cả thành phố. Các sĩ quan và thanh niên khá giả trong cái thị trấn miền biển này là những mảnh sắt vụn nằm trong từ trường của Vân.

Hình như hồi đó tôi khó chịu vô cùng khi nhìn thấy Vân nói chuyện với bất cứ người đàn ông nào. (Tại sao hả? Thôi đừng ngắt lời tôi nữa bé. Để yên tôi kể tiếp cho mà nghe.)

Những buổi tối, khi khách ăn đã về hết, quán đóng cửa, tôi mang sách vở sang học bài ở một bàn ăn. Vân ngồi bên tôi và kể chuyện Hà Nội của chị cho tôi nghe.

Chị kêu chị nhớ quay quắt Hà Nội, nhớ từng gốc cây phượng vĩ nghiêng đầu xuống mặt đường Quan Thánh, nhớ tiếng chuông tàu điện leng keng qua vườn hoa Hàng Đậu, nhớ cái màn sương trắng đục phủ kín chân cầu Long Biên, nhớ cái mặt đồng hồ lớn trên nóc ga Hàng Cỏ…, nhớ người anh trai đã ở lại ngoài đó, nhớ người cha già mắt yếu hấp háy đọc truyện Tàu mỗi tối, nhớ khuôn mặt của mẹ lần cuối cùng xanh xao, tóc xõa dài mắt nhắm nghiền như ngủ giấc ngủ bình yên ngàn đời khi người ta liệm bà trong quan tài.

Và hơn tất cả những nổi nhớ nhung đó là tình yêu của chị dành cho anh Thạc. Vân nhắc mãi đến Thạc, người tình thất lạc của chị, khi cả hai vừa đặt chân xuống SàiGòn cùng với đoàn người di cư.

Chị nói có lẽ anh ấy đã chết và chị nhắm mắt lại ngả đầu ra thành ghế. Tôi nói chị Vân buồn lắm hả. Chị gật đầu. Hình như lúc đó tôi có được một nỗi thích thú: không ai thấy được nỗi buồn của chị ngoài tôi. Những tối tôi không học bài được (tại sao? Hồi đó tôi không hiểu nổi những buồn bã ma quái cứ ám ảnh mình, nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu) tôi muốn an ủi chị và làm cho chị vui. Tôi kể cho chị nghe những câu chuyện cười trong lớp học mà, những trò nghịch ngợm quậy phá mà lũ bạn của tôi đã gây ra cho nhà trường và các giám thị. Nhưng em biết đấy, tôi vụng về và giọng nói cứng nhắc, ngắn ngủn cộc cằn của tôi (có lẽ vì nước biển mặn quá phải không Vy?) đã không làm bay đi được chút bụi phấn buồn bã nào trên mặt Vân.

Dù sao, dạo đó tôi vẫn tin tưởng một cách chắc nịch là chị cần đến tôi cũng như tôi rất cần đến chị. Những buổi học của tôi từ khi có mặt của Vân bỗng trở nên dài ra (trong lớp học tôi cứ mong tiếng chuông reo để có thể chạy bay về nhà) và tôi không làm sao có thể hiểu nổi được những phương trình toán học và những công thức kỳ cục của môn lý hoá nữa (những điều mà trước kia tôi là học sinh xuất sắc). Điểm hàng tháng và thứ hạng trong lớp của tôi bắt đầu rơi xuống một cách thảm hại. Nhà trường gửi giấy báo về cho gia đình và mẹ tôi nhờ người nhắn gửi với tôi là nên lưu ý đến việc học thêm một chút. Tôi điên cuồng trong những ngày lính xả trại, mặc dầu tôi không nhìn thấy một dấu hiệu xấu xí nào nơi chị.

Thế nào là một dấu hiệu xấu xí hả? Dấu hiệu xấu xí nơi Vân chính là sự thân mật suồng sã của chị với một người đàn ông nào không phải là tôi. Không, Vân vẫn nghiêm trang. Chị không phải là loại con gái cười cười nói nói. Chị đứng đó, chôn chân ở quầy hàng, biên giấy tính tiền, hơi nghiêng đầu chào một thực khách quen, và đọc chăm chú một quyển truyện mà tôi ưa thích và cố tình cho chị mượn. Vân nói quyển này tôi đã đọc một lần ở Hà Nội, nhưng tôi vẫn thích đọc một lần nữa. Tôi thấy cần phải cám ơn chị và bỏ cả lớp học ra biển, nằm một mình trên cát dưới gốc dừa, ngửa mặt nhìn trời, cười một mình với hạnh phúc của mình.

Một buổi tối, như thường lệ tôi mang sách sang hàng ăn học bài và tôi chờ mãi không thấy Vân ra. Cửa buồng chị đóng kín nhưng đèn thắp sáng. Tôi mở cửa ra sân ngồi trên bậc cấp buồn bã nhìn những ngôi sao trên trời và nghe thấm lạnh những ngọn gió biển thổi vù qua thành phố. Không biết tôi ngồi đó đã được bao lâu, chỉ biết khi tôi nghe thấy mùi tóc thơm phức của Vân phả xuống và cái mát rượi của bàn tay chị chụp lên mắt tôi, tôi mới sực tỉnh lại. Chị hỏi tại sao Kha buồn? Tôi nói với chị là tôi không buồn, chẳng có gì làm cho tôi buồn được.

“Thật không?”
“Thật”.
“Nhưng tôi biết là Kha buồn!”
“Tại sao?”
“Không nói được. Thôi vào đi.”
“Chị vào trước đi.”
“Vào nhà, tôi cho Kha xem cái này hay lắm.”

Và tôi đứng dậy, cánh tay tôi trong tay chị. Nhưng chúng tôi không ngồi ở bàn học như mọi bữa. Vân đưa thẳng tôi vào buồng riêng của chị, căn buồng tôi hằng mơ ước nhưng chưa bao giờ được được đặt chân đến. Ngọn đèn ở đó đã tắt ngúm. Vân mở cánh cửa và giữ tôi đứng yên ở một chỗ. Tôi nghe hơi thở chị thơm tho ngọt ngào, hai bàn tay chị đặt trên vai tôi. Vân nói, Kha hôn tôi và mừng tôi đi. “Mừng gì?” “Hôm nay là sinh nhật tôi mà.” Và tôi run rẩy đặt môi tôi trên mắt chị. Đôi mắt tôi có thể nhìn thấy một cách rõ ràng trong đêm tối mà không sợ lầm lẫn với bất cứ một đôi mắt nào khác.

Chị bật diêm châm những ngọn nến trên bàn phấn. Những ngọn nến nhỏ hồng (bao nhiêu ngọn, không, tôi không biết, tôi chỉ ngửi thấy cái mùi thơm của gian phòng chị, những chiếc áo dài, mấy cuốn sách truyện, cái kẹp tóc, thỏi son, bức ảnh chụp cảnh Chùa Một Cột…) soi sáng chai rượu, thức ăn, bánh ngọt và những hoa giấy.

“Kha ngồi xuống đi. Đầu tháng tới có lẽ tôi sẽ đi xa.”
“Đi xa?”
“Phải, đi xa.”
“Có ai làm phật lòng chị sao?”
“Không. Chẳng có ai làm phật lòng tôi hết. Tôi rất kính mến Dì, tôi rất quý Kha và Tôn. Tôi yêu hết thảy mọi người trong nhà này.”
“Vậy sao chị lại bỏ đi?”
“Bởi vì chị đã bắt đầu tìm thấy dấu tích nơi ở và sở làm của anh Thạc. Chị cần phải gặp anh ấy.”

Tôi nhìn thấy đôi mắt chị sáng lên khi nhắc đến Thạc. Bỗng nhiên tôi bật cười thành tiếng. Chị ngơ ngác nhìn tôi. Hình như tôi có nụ cười mất dạy. Chị lặng lẽ rót rượu ra cốc, đẩy về phía tôi, cầm dao bổ đôi đóa hoa trên chiếc bánh sinh nhật trước khi cúi xuống thổi tắt những ngọn nến.

Thuở đó, tôi mười sáu tuổi học lớp đệ tam, biết hôn môi lần đầu và yêu một người đàn bà bằng tất cả sức lực của tuổi mới lớn của mình.

Vy yêu dấu,

Những ngọn nến hồng đêm đó đã tắt, làm tắt theo tuổi trẻ mà tôi vừa mới có. Vân bỏ việc sớm hơn dự định của chị. Có lẽ chị đã tìm được Thạc, cũng có lẽ là chị vẫn tiếp tục đi tìm mối tình thất lạc của mình.

Còn tôi em biết đấy, con mắt ngó lên trời, những sợi tóc chĩa trên một đầu xù, (em còn nhớ không khi em nhìn thấy lần đầu tiên mái tóc tôi, em đã kêu lên với tất cả sự kỳ cục đó!), một chút kiêu hãnh trong lòng, và rất nhiều tàn bạo trong trái tim.

Vy, cô bé thần thoại Diane, tôi đã đến Huế, đã tìm vô vọng những trái sầu đông cho em, nhưng làm sao có được những thứ trái đó trong mùa hè này! Ở trước trường Nữ Trung Học Đồng Khánh tôi có hái cho em những lá cây đặc biệt thơm mùi băng phiến, tôi có mang về đây cho em. Hãy đến lấy, nếu em muốn.

Em đừng cười tôi nghe, người cộc cằn hung hãn mà nói chuyện tình cảm như tôi chỉ làm những trái cây xanh đến phải chín vì ngượng thôi.

Tắt máy đi Vy.

(im lặng…) Rồi một tiếng động.

Em có nghe tiếng động vừa rồi không? Đố em biết đó là tiếng gì? Phải, em thừa sức hiểu mà!
Cám ơn em đã chịu khó nghe câu chuyện tình kỳ cục của tôi.

Chào nghe! Diane. Hôn em.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Tháng Bảy, 1970