ĐAU ĐÁU HOÀNG SA

phantranghy

Kính tặng các chiến sĩ Hoàng Sa, Trường Sa…

Lệ thường, ngày nào cũng vậy, lão Ban lại ra biển. Không nhìn thấy biển là lão cảm thấy sao sao ấy. Lão dễ nổi cáu với vợ. Chỉ cần nhìn thấy biển, nhìn ra ngoài khơi xa là lão mới dịu đi những cáu ghét của cuộc đời. Lão đi biển không phải để nhìn thiên hạ tắm, không phải tập thể dục dưỡng sinh, cũng không phải bông lơn chọc ghẹo những mụ hồi xuân. Lão nhìn biển như thể cho vơi bớt nỗi lòng của mình, khi chẳng biết tỏ cùng ai. Thường là lão đi một mình. Nhưng lần này lại khác. Lão cùng thằng cháu nội ra biển chơi.
Nhìn thằng cháu đang lượm những vỏ ốc, vỏ sò, những con sao biển, lão thấy hồn mình như nhập vào sóng biển. Vẫn tiếng sóng vỗ bờ, vẫn tiếng rì rào của đại dương, của hồn biển Đông muôn thuở. Vẫn đâu đây từ cõi sơ khai nước mặn, trời nồng. Bỗng thằng Phong – thằng cháu nội của lão – lên tiếng:
– Nội ơi! Nội coi nè! Vỏ ốc này đẹp quá, nội ơi! – Vừa nói, nó vừa chạy tới khoe lão.
– Ừ! Đẹp quá! – Lão khẽ nói.
Nhìn vỏ ốc trên tay thằng Phong, lão lại nhớ cái vỏ ốc mà lão đã tặng cho Vũ, ba của thằng Phong. Quá khứ ấy như hiện ra trước mắt …
Lão làm sao quên được cái ngày lão được nghỉ phép về thăm gia đình ở Đà Nẵng. Được trở về đất liền, được thăm vợ, thăm con – thăm cái thằng con trai, cái thằng con mà lão chưa biết mặt, lão cảm thấy sao quá tuyệt vời. Nằm thao thức, nghe sóng, gió mang vị mặn trong đêm, lão không ngủ được. Ngày mai là có tàu vào đất liền. Mừng thật! Vui thật! Nghĩ đến vợ con, lão lục tìm trong đầu nên tặng vợ, tặng con những gì? Ở trên quần đảo này có gì ngoài phân chim, cát vàng, san hô, ốc biển… Tặng gì đây cho vợ, cho con?
Vừa về đến nhà, lão chào mọi người. Vợ lão ôm chặt lão, khóc: “Sao anh không ở ngoài đó? Anh về làm gì?”. Lão biết vợ quá thương mình nên nói vậy thôi. Chính vợ lão đã khuyên lão ra đảo nhận công tác khí tượng kia mà.
Nhìn thằng Vũ nằm trên nôi, lão giơ hai tay ra, vừa vỗ vỗ vừa kêu lên: “Ba đây con! Cho ba bồng tí!”. Thằng Vũ nằm trong nôi khóc ré lên. Thương con, lão muốn bồng con, ôm con. Nhưng mỗi lần lão bồng nó thì nó không chịu. Một bữa, vợ lão lo sắm sửa một ít đồ dùng để lão ra lại đảo, bèn giao con cho lão. Thằng Vũ cứ khóc, không chịu cho lão bồng. Lão lấy những thứ đồ chơi bằng nhựa cho nó chơi, nhưng nó vẫn không chịu nín. Cực chẳng đã, lão bồng con và dỗ. Lão kêu kêu, cười cừời; lão làm đủ trò; nhưng thằng bé vẫn cứ khóc. Khóc miết rồi cũng mệt. Mệt nên nó nín. Rồi nó đưa mắt nhìn lão, nhìn khắp phòng. Lão thấy mắt thằng bé nhìn các thứ để ở trong tủ gương như muốn khám phá điều gì đấy. Nhìn con, lão lấy làm lạ. Những thứ trong tủ có gì lạ đâu. Toàn san hô, ốc biển…, những thứ lão mang từ đảo về. Lão bồng con đứng trước tủ. Thằng bé cười – lần đầu nó nhoẽn miệng cười. Lão lấy mấy thứ nhỏ xinh cho thằng bé chơi, nhưng nghĩ lại, lão sợ thằng bé chơi, rồi nuốt bậy, nên lão cất. Thằng bé lại khóc. Cuối cùng, lão chọn cho con một con ốc to bằng nắm tay. Đây là con ốc lão lượm trên đảo đúng vào lúc nghe tin vợ ở nhà sinh thằng Vũ. Thằng bé cầm con ốc, ngậm vào miệng ra chiều thích thú.
Kể cũng lạ! Từ khi chơi với con ốc, thằng bé lại muốn lão bồng, lão bế. Chỉ trừ lúc nó thèm sữa, còn thì nó đòi lão bồng chơi cùng con ốc cho bằng được. Nó cũng thích lão hát cho nó nghe, nó cũng thèm lão hôn nó…
…Lão vẫn nặng nợ với đảo. Đảo là nhà, là phần cuộc sống của lão. Những lúc thương con, nhớ vợ, lão chỉ biết ngồi trên bãi san hô nhìn vào đất liền. Làm sao lão quên được những hoàng hôn. Màu sắc kỳ ảo vàng đỏ tím xanh cả biển. Mặt trời lặn dần xuống biển như thể thiên nhiên đang cất giấu viên ngọc hồng vào trong rương vũ trụ. Chỉ còn thứ ánh sáng diệu kỳ trên biển. Và trong lão sáng lên thứ ánh sáng của đêm, thứ ánh sáng gia đình, quê hương… Lão thèm được nhìn vợ, nhìn con, nhìn những gì thân thương của mình. Lão quên sao được những lần đem thư của con ra đọc. Ngó thế mà thằng Vũ cũng đã lớn rồi. Học lớp 11. Thư gửi cho lão, lúc nào nó cũng nhắc đến con ốc mà lão cho nó. Cũng từng ấy câu chữ, nó cứ viết vào những lá thư gửi cho lão: “Ba biết không? Bạn bè con, đứa nào cũng trầm trồ vì con có con ốc đẹp. Con đã từng khoe với bọn chúng là con ốc mang cả hình hài của quần đảo Hoàng Sa. Bọn chúng không tin. Nhưng con tin là thế!”.
Lão cũng tin là thế! Lão tin quần đảo Hoàng Sa là máu thịt của quê hương. Làm sao lão quên được có lần lão đã dắt thằng Vũ về quê ở tận Quảng Ngãi. Trong lần giỗ chạp, ông tộc trưởng họ Đặng của lão đã từng nhắc rằng lão là kẻ hậu sinh đang kế nghiệp tiền nhân. Mở gia phả, lão rưng rưng đọc những dòng chữ ghi công tích của họ Đặng. Vua triều Nguyễn đã từng phái dòng tộc lão vượt đại dương trấn giữ Hoàng Sa. Lão cảm thấy như máu tiền nhân đang chảy trong cơ thể, tăng thêm nghị lực, tăng thêm tình yêu cho lão trên đảo Cát Vàng. Làm sao lão quên được lúc cúng tế, bà con tộc họ đã bỏ thức ăn, sau khi xong lễ, vào một chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, thả xuống biển. Mũi thuyền hướng về Hoàng Sa như thể rằng Hoàng Sa không thể quên trong hồn người đã khuất. Trong tâm tưởng lão, lúc nào chiếc thuyền bẹ chuối ấy cũng lớn như những chiếc thuyền của dòng tộc họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão vâng lệnh triều đình, tiến thẳng Hoàng Sa… Trong lão như trỗi dậy những bài văn tế các thủy binh thời ấy. Nhận lệnh vua, nặng nợ nước nhà, buổi ra đi đâu dễ dàng. Sóng gió trùng khơi, thủy quái dẫy đầy, đến Hoàng Sa đâu dễ. Các thủy binh được tế sống lúc lên đường như thể rằng quê hương vẫn nặng nợ với những người con. Lão bùi ngùi, run rẩy như có ai đang bóp nghẹt trái tim. Lão khóc…
Và lão đã khóc rất nhiều khi nghe tin thằng Vũ hy sinh trên Trường Sa năm 1988. Lão không ngờ như vậy. Kỷ vật cuối cùng của con lão là quyển nhật ký. Lão đã đọc đi, đọc lại hoài. Những dòng cuối cùng lão như thuộc lòng: “Ba ơi! Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu. Dẫu có hy sinh, con vẫn không hối tiếc điều gì vì đã thực hiện theo lời ba dạy.”. Đến giờ, lão vẫn không biết mình dạy con điều gì. Lão chỉ nhớ những việc làm, những tình cảm gắn bó với Hoàng Sa. Không biết có phải những điều ấy là lời lão dạy với con? Có lần thằng Vũ cầm con ốc đố lão – lúc nó vừa thi xong tú tài: “Đố ba, trên mình con ốc này có gì?”. Lão ngạc nhiên sao con lão đố như vậy. Nhìn con ốc, lão cười đáp: “Thì chỉ những chấm, những chấm màu vàng nâu”. Thằng Vũ cũng cười, nói: “Rứa con đố làm gì!”. Rồi nó chỉ từng cái chấm, hỏi lão có giống những đảo mà lão đã từng ở không, nhiều chấm có phải là quần đảo không…Và rồi nó kết luận: “Trên mình ốc có in hình quần đảo Hoàng Sa”. Kể cũng hay hay. Từ đó, nó để con ốc vào chỗ trang trọng nhất. Khi nhập ngũ, đi bộ đội hải quân, nó xung phong đi Trường Sa. Lão không gàn con. Nó cũng có tình yêu đảo như lão kia mà!
Kể từ ngày thằng Vũ mất, lão như mất hồn. Cứ những đêm rằm, mồng một, lão lại ra biển. Dù nắng, dù mưa, lão vẫn ra biển thắp ba cây nhang hướng về Hoàng Sa, Trường Sa mà vái. Ngoài kia, những con thuyền thả lưới, những chiếc tàu đánh bắt cá sáng rực những ánh đèn như thành phố nổi trên biển. Trước mắt lão hiển hiện những ngư dân cần mẫn, chăm chỉ, chịu khó chịu thương. Trước mắt lão hiện lên những chàng trai giữ đảo, có cả hồn của những người như con trai lão cùng tiền nhân giong thuyền xuôi ngược biển Đông. Nhiều lúc lão lẩm bẩm một mình như đọc thơ về Hoàng Sa…
Và rồi thành phố Đà Nẵng bổ nhiệm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa. Lòng lão trỗi dậy thứ tình yêu biển đảo mà bấy lâu nay ẩn trong tiềm thức. Người họ Đặng hôm nay lại nối tiếp họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão, như cái thuở cha ông vâng lệnh triều đình ra đảo, gánh trách nhiệm với Hoàng Sa. Lão thấy mình như trẻ lại, khỏe lại và vui hơn. Không vui sao được khi đất đảo quê hương được nhắc đến? Không vui sao được khi có người dám nhận trách nhiệm nặng mang? Lời thằng Vũ trong nhật ký sáng rực trong tâm trí lão: “Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu…”.
Tiếng thằng Phong như đánh thức lão:
– Nội ơi! Mai con phải vào thành phố Hồ Chí Minh.
– Ở thêm ít ngày, được không? – Lão hỏi như trách .
– Con phải vào để thầy hướng dẫn làm luận văn .
– Thế thì phải vào thôi! Mà này, con làm đề tài gì?
– Dạ! Con làm đề tài về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong mối quan hệ với biển Đông.
Trầm ngâm một lúc, lão lên tiếng :
– Gay đó con! Nhưng phải gắng thôi.
– Dạ! Con nghe lời nội.
Hai ông cháu cùng dắt tay xuống tắm. Nước biển tắm mát cơ thể lão, cơ thể cháu lão. Nước biển Mỹ Khê giống như nước biển Hoàng Sa. Lão nghe mằn mặn bờ môi. Lão đứng lên. Mặc từng cơn sóng đổ trên người, lão nhìn ra xa khơi. Đau đáu là Hoàng Sa trong nỗi nhớ…

Phan Trang Hy

KHÔNG ĐỀ

sao

Mịt mờ mây trắng Hoàng Sa
Bụi chinh y có nhạt nhòa bể dâu ?
Ngàn năm trang sử còn đau
Hồn nương bọt sóng nghẹn ngào thiên di.

SAO

BIỂN HÃY CỨ XANH – LỬA RỒI SẼ ĐỎ

truongnghiaky

Hoàng Sa! Bãi Cát Vàng giữa biển,
nhắc là thương mà đau đớn vô cùng
nó nằm ngay trong lòng biển Đông,
bọn Tàu Phù cắm cờ soán chỗ!

Bốn mươi năm hơn, những dòng máu đổ
còn loang hoài trong sử sách Việt Nam.
Hơn sáu mươi người vị quốc vong thân
hồn chắc lạnh từng đêm trăng đại hải?

Bốn mươi năm dân mình chưa lấy lại
Không biết bao giờ trong hoàn cảnh bây giờ!
“Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do”
Làm đi chớ để cho dân tin tưởng!

Nước đã có rất nhiều tàu lớn
Quân cũng nhiều, còn đợi gì đây?
Dư luận nói Hà Nội chọn đi dây
với bọn Tàu Phù cho mặt thêm dày thêm dạn!

Đừng nghĩ rằng lòng dân ta nản
Chỉ buồn ta còn thiếu anh tài
Và buồn hơn khi nghĩ đến ngày mai
Sao dài vậy, tại sao dài vậy!

Hồn thiêng núi sông bình nhang còn cháy
Trái tim người thức dậy mỗi bình minh
Hỡi kình ngư, các anh hãy cựa mình!
Hỡi kình ngư, chúng ta cùng quậy biển!

Ngựa Phù Đỗng nhất định là phải hiện
Rùa Hồ Gươm ngậm kiếm tiến ra khơi
Hoàng Sa ơi! Hoàng Sa ơi!
Nằm yên đó chờ muôn người tới đó!

Biển hãy cứ xanh! Lửa rồi sẽ đỏ!
Hoàng Sa ơi Bãi Cát Vàng Biển Đông!
Năm Một Chín Bảy Tư không tiếc máu hồng
…thì năm nào đây Vẫn Chỉ Một Lòng Dũng Cảm!

TRƯƠNG NGHĨA KỲ

ĐOẢN KHÚC

phamkhanhvu

( bài cho tiểu di)

Ngày rên lời thống thiết
Đêm nhìn lại trái tim
Những cành hoa lục biếc
Nát trong lòng tay em
Nghe vô vàn sự chết
Tan tác bên ngoài thềm…

Gió bung trong cửa khép
Ngồi bằn bặt trong đêm
Những ngọn đèn mỏi mệt
Nhắm mắt cười bình yên
Một chút đời vô lượng
Không tới kịp bên thuyền…

Và em như tượng sáp
Cháy bùng trong đêm điên…

PHẠM KHÁNH VÚ

THĂM LẠI CHÙA QUÊ

tranvannghia

Rụng trên vai lá bồ đề
Chùa xưa trở gió mùa về lạnh sân
Bồi hồi riu ríu bàn chân
Bậc thềm rêu , tiếng chuông ngân nga buồn

Lặng lờ thắp nén nhang thơm
Chấp tay khấn lạy mười phương phiêu bồng
Áo cơm đời trả chưa xong
Nỗi đau tục lụy xót lòng lời kinh

Phất phơ hồn mẹ cha mình
Chùa quê gửi lại bóng tình liêu xiêu

TRẦN VĂN NGHĨA

Nha Trang Trong Mắt Tôi,

NXH BY NGUYEN BA KHANH

Tùy bút Nguyễn Xuân Hoàng
(Tặng những người Nha Trang,
Tặng những người yêu Nha Trang.)

1.

Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, … lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.

Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.

Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại …

2.

Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam . Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo].

Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.

Cô Tám tôi, tên Hương là một người đàn bà khắc nghiệt. Bà có một hàm răng rất trắng, rất nhỏ và rất khít. Bà không ăn trầu như những người phụ nữ cùng thời với bà. Cô có một ngôi nhà lớn năm gian, đầy những bàn ghế tủ trang thờ bằng gỗ cẩn xà cừ, sạch sẽ như lau như ly, với một vườn cây ăn trái rộng như một khu rừng. Bà có hai người con gái, nhưng mỗi lần gặp tôi bao giờ bà cũng bảo “mày có muốn về ở với cô không?”. Tôi thưa với bà là tôi không hề muốn ở với bà, và tôi cũng chưa hề có ý định sống dưới một mái nhà với bà. Tại sao, tôi không biết. Mặc dù cô có hai người con, tôi có cảm tưởng như cô tôi không chồng, bởi vì tôi cũng không bao giờ nhìn thấy bóng ông Dượng tôi, và tôi cũng chẳng bao giờ nghe bà nói về ông Dượng của tôi. Tôi muốn biết tại sao nhưng không bao giờ dám hỏi. Cô tôi thường nói: “Tao muốn một đứa con trai cho nó ấm nhà ấm cửa. Mày có muốn làm con tao không?” Và tôi nhớ câu trả lời dứt khoát của tôi lúc đó là “Không!” “Tại sao?” Tôi không biết trả lời cô tại sao, nhưng tôi biết là tôi rất không thích cô. Hình ảnh của cô còn trong trí nhớ tôi đó là một phụ nữ nhỏ thó, ăn mặc rất sạch sẽ gọn gàng, da dẻ hồng hào và “ưa kiện tụng”. Gần như suốt đời cô là một chuỗi tháng năm lên toà xuống huyện. Hai người con gái của cô, mà tôi gọi là em, là những đứa bé gái xinh đẹp dễ thương. Sau này lớn lên, đôi khi tình cờ gặp lại hai cô em tôi, hai thiếu nữ duyên dáng, lạnh lùng, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ.

Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi.

Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than văn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn. Tôi là đứa bé báo cơm, một cậu học trò thiếu sách vở, một thằng nhóc lẫn vào những đứa trẻ bụi đời… Ở lớp học ra, tôi không biết về đâu. Ngọn đèn buổi tối vàng om không chiếu sáng những trang chữ. Những bữa cơm nuốt trong vội vã, đôi đuã không biết thế nào là cá và thịt. Đêm luôn luôn dài hơn ngày. Bóng tối bao giờ cũng nhiều hơn ánh sáng.. Mọi người cười cười nói nói với tôi, nhưng mỗi câu nói cho tôi biết tôi là gánh nặng của gia đình nơi tôi ở trọ. Ai cũng nói “con ở đây, cứ tự nhiên như nhà của con”, nhưng người nghe đủ thông minh để nhận ra “con là gánh nặng mà ta không bỏ xuống được…” Những cuốn sách mượn của bạn, những tập vở xin của một thầy giáo, những cây bút nhặt được từ một đống rác… và…. Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm…

3.

Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi.

Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn…những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.

Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…

4.

Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích“: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.

Tôi vẫn còn nhớ những ông thầy bà cô của tôi, những người đầu tiên dạy tôi đọc chữ, những người dạy tôi cách hiểu nghĩa và nhắc đến Nhatrang là nhắc đến một thành phố với lòng biết ơn của những đứa con. Thầy Cung Giũ Nguyên dạy tôi lòng yêu văn chương, thầy Điểm hội hoạ dạy tôi lòng yêu mầu sắc, thầy Dưỡng dạy tôi thế nào là âm nhạc, …Biển Nhatrang dạy tôi thế nào là vẻ đẹp và sự tàn bạo của thiên nhiên. Nó cũng dạy cho tôi sự nhỏ bé của con người trước sự vĩ đại của trời đất. Biển Nhatrang là một cuốn sách mà tôi sẽ đọc hoài trong suốt cuộc đời tôi. Ðọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tôi thích nhất là câu “ngoài trời còn có trời”, tôi nhìn ra “ngoài biển còn có biển.”

5.

Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.

Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…

Nguyễn Xuân Hoàng

Từ bi bất ngờ

truongdinhtuan

có chi vui có chi buồn
mà luân lưu chảy suối nguồn một bên
dốc mòn gùi xuống gùi lên
một bên nắng cuối một bên mưa đầu

có chi thương có chi đau
chực hờ dấu lá vào sâu đá mòn
có chi hết có chi còn
trói vào nhau sợi khói vờn vây quanh

có chi vàng có chi xanh
quạnh hiu náo động một nhành có chi
hay là từ độ nhu mì
thả buông mấy ngón từ bi bất ngờ

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

SONATA TÌNH YÊU

tranthoainguyen

Chiều…Rót nhạc vào hồn…Em đến!
Vườn cỏ xanh điểm áo tuyết trắng bông.
Nụ cười reo theo bàn chân bước
Tóc hương bay thơm gió thiên đường.

Lầu thủy tạ sông mơ mộng quá!
Chỗ em ngồi lừng sang trăng sao.
Anh uống cạn chén tình chưa đã
Da thịt nồng nàn tựa chiêm bao!

Quàng vai em lẩy bẩy môi hôn,
Dưới ánh trăng xanh biếc đôi hồn.
Dưới gầm tay chúng mình thời gian gãy đổ
Không gian đan bằng nhạc yêu đương!

Đêm Văn Thánh xanh màu tiền kiếp
Cây lá ngây ngô hát nhạc tình.
Anh sợ gió khuya tan hồ điệp
Đời thực buồn! Vỡ mộng thiên thanh!


TRẦN THOẠI NGUYÊN

Giấc mơ cỏ dại.

tranthitrucha

Có phải em là Tịnh Thảo không ?
Ôi! Thầy… Hoàng tử…

Đã từ lâu anh không còn đợi ai
Mùa đông đã vắng tiếng mưa dài
Mùa thu áo trắng tìm đâu nữa
Mộng cũ ơ hờ theo gió bay …

Anh nhớ ngôi trường Phan Châu Trinh và con đường Quang Trung rợp bóng cây xanh đi qua đường Lê Lợi đầy phượng vỹ ngày đó lắm Thảo à. Bây giờ ngôi trường và con đường có còn như xưa không em?
Con đường vẫn như ngày cũ nhưng ngôi trường thì không còn nữa anh à !
Vì sao hở em ?
Nó gần đổ nát rồi, người ta đã xây dựng một ngôi trường mới khang trang hơn đối diện với ngôi trường cũ…
Vậy sao?!… Vậy mà anh vẫn mơ một ngày nào đó về thăm lại ngôi trường cũ. Anh nhớ lắm!
Anh nhớ ngôi trường hay nhớ kí ức tuổi thơ?
Anh nhớ ngôi trường, nhớ bãi cỏ xanh ven triền sông quê ngoại của em. Ttrong giấc mơ anh vẫn thường nhìn thấy một ngôi nhà trên cỏ…
Hoàng tử ơi, em cũng nhớ về những ngày tháng cũ!….

Một bầy con gái bu quanh gốc mận trong khu vườn đầy nắng, nhỏ Niên đeo tòn ten trên cây mận nói với xuống:
Nè, nhỏ nào chạy vào bếp lấy cái rổ to to hứng mận, chứ ta đôi xuống dập hết còn đâu mà ăn. Nhớ lấy muối ớt luôn.
Con Tịnh Thảo vào lấy chứ ai, nó rành đường đi nước bước nhà nhỏ Niên quá mà.
Ơ!… Sao lại ta mà không là đứa khác.
Nhỏ Niên nó chấm mày làm chị dâu nó, mày phải tập làm quen với bếp núc nhà nó là vừa…
Thôi ta không thèm ăn mận đâu, kệ tụi bây. Thảo phụng phịu gần khóc, nhỏ Niên từ trên cây hét toáng:
Tụi bây nhiều chuyện quá, ta tụt xuống là tụi bây nhịn nghen.
Nhỏ Hằng giở màn năn nỉ thật đểu:
Thôi Thảo à, nhà mi hy sinh vì mận đi, tổ quốc sẽ ghi công mi.
Những chùm mận lủng lẳng trên tay nhỏ Niên thật hấp dẫn, cả bọn nuốt ực nước miếng, Thảo đành ngậm đắng đi vào bếp nhà nhỏ Niên. Anh Sang đã đứng đó tự bao giờ, chìa cho Thảo cái rổ và đĩa muối ớt, anh cười với Thư thật hiền:
Anh tìm sẵn cho Thảo rồi đây. Nói với các bạn ăn lẹ rồi vào học chứ thầy gần đến rồi đó!
Dạ!… mà anh Sang nè, thầy là bạn anh hở? Thầy dạy có dễ hiểu và có hiền không?
Yên chí đi nhóc, đó là một Hoàng tử, ngày xưa học toán giỏi nhất lớp anh nhưng anh nói trước không hiền đâu, hiền làm sao dạy nổi mấy cô.
Hoàng tử? Sao lại là Hoàng tử ?
Vì thầy thuộc dòng họ vua chúa , tên thầy là Bảo Yên, ngang vai với con vua Bảo Đại… Hiểu chưa?
Nhưng sao Hoàng tử mà phải dạy kèm?
Lo học đi, đừng thắc mắc nhiều mau già đó nhóc, thời thế thế thời thời phải thế.
Thảo tròn xoe mắt nhìn anh Sang không hiểu anh nói gì, nhưng ở ngoài vườn tiếng bọn nó chát chúa vang vang:
Đó, ta nói có sai, hắn vào trong đó là bị ông anh quý tử của nhỏ Niên bắt cóc rồi. Thảo ơi là Thảo, nhà mi ở đâu, hú ba hồn chín vía hiện về ngay.
Anh Sang tủm tỉm cười còn Thảo thì nóng ran hai má , vội vàng cầm rổ chạy ra, vấp phải cục đá té cái ạch, đau thấu trời xanh, bọn nó cười nghiêng ngã:
Niên ơi là Niên! Sao nhà mi lại chọn chi con nhỏ hậu đậu nhất bọn làm chị dâu hở Niên?
Thảo vừa đau vừa xấu hổ oà lên khóc tức tưởi. Nhỏ Niên tuột từ trên cây xuống nạt:
Im hết, tụi bây ăn hiếp hắn vừa thôi.
Anh Sang cũng bước ra vườn, tay cầm bông gòn và chai thuốc đỏ, giọng lo lắng:
Có sao không Thảo? Chảy máu đầu gối rồi kìa, để anh bôi thuốc cho.
Thảo hoảng hồn. Úi ! Úi, không được đâu.
Cả bọn cười ồ
Nó là con ma xấu hổ, anh để em bôi thuốc cho nó và anh chịu khó trèo lên hái mận cho nó ăn là nó hết đau liền.
Anh Sang lắc đầu: “Tui hết biết mấy cô luôn”. Nói vậy nhưng anh vẫn thoăn thoắt trèo lên. Anh lúc nào cũng chìu em gái và lũ bạn của nó mà.

Thầy đến bằng chiếc xe đạp cà tàng, dáng cao gầy, khuôn mặt nghiêm nghị lạnh băng. Nhỏ Hằng nói nhỏ với Anh Thư :
Thầy là Hoàng tử đó, mi coi thử có bà con gì với cái họ dài lòng thòng “Công Tằng Tôn Nữ Anh Thư” của mi không “?
Im mầy, Thầy cùng vai vế với ông nội ta đó !
Hihi… Vậy mi phải gọi thầy là” ông nội Thầy”.
Giọng thầy thật ấm nhưng rõ , dứt khoát:
Chương trình Toán lớp 12 hơi nặng, các em cố gắng học đều để học hết chương trình sớm , sau đó chúng ta sẽ tập trung giải đề thi.
Nhỏ Tuyết láu táu:
Gì mà căng dữ vậy thầy, mới ngày đầu tiên, cho giao lưu đi thầy.
Thầy thản nhiên như không nghe tiếng mè nheo, cầm viên phấn trắng tiến về phía bảng đen và bắt đầu thao thao bất tuyệt. Cả bọn lắc đầu ngán ngẩm.

Mùa hè oi nồng, nắng rát bỏng, ve râm ran trên cành mận nghe muốn điếc tai và nhưng đề toán khô khốc thật khó thương, Thảo rên rĩ:
Thầy ơi, thư giãn một chút đi thầy, bọn em stress rồi.
Thầy đôi viên phấn vụn ra ngoài cửa sổ và cười thật hiền:
Niên vào mượn cây đàn của anh Sang, thầy sẽ đàn cho các em nghe bài hát thầy mới viết.
Hoan hô thầy Hoàng tử!
Nhưng nghe xong l phải học trở lại nghiêm túc nha!
Nhỏ Tuyết lắc đầu:
Thầy nghiêm túc phát… sợ!
Tiếng đàn guitar dìu dặt thật da diết quyện với giọng ca của thầy thật ấm..
Thảo như bị thôi miên…
Tiếng nhỏ Tuyết vang lên
Thầy ơi , thầy bắt mất hồn Tịnh Thảo rồi.
Thảo vùng chạy ra khỏi ngôi nhà của Niên, ánh mắt anh Sang buồn bã nhìn theo…

Buổi sáng trời mưa tầm tã. Gần thi rồi,Thảo không dám đến nhà nhỏ Niên từ hôm đó, sợ khuôn mặt lạnh lùng với đôi môi mín chặt của Niên, sợ ánh mắt buồn buồn của anh Sang nên Thảo trốn biệt ở nhà tự ôn bài. Những bài giải tích hóc búa, phải chi có thầy Hoàng tử… Mưa mùa hè mà dầm dề như mùa đông, suốt hai ngày không dứt . Nhà Thảo ở gần sông, từ cửa sổ của căn gác gỗ Thảo nhìn thấy mặt sông bình yên trắng mờ trong mưa. Có tiếng gọi trước cổng nhà. Trời mưa mà ai đến lúc này? Thảo cầm chiếc dù chạy ra :
Ôi Thầy!… Sao thầy biết nhà em ?
Gần đến ngày thi rồi mà sao em không đến học hở Thảo?
Tại vì…
Thầy hiểu… Thôi thầy sẽ đến đây dạy riêng cho Thảo vậy.
Ơ… Thầy…
Thầy biết Thảo mất căn bản về toán giải tích, thầy sẽ dạy lại phần cơ bản cho Thảo.
Thầy đã nói là làm. Khi nắng vàng rơi rớt trên bãi cỏ triền sông, khi mưa giông ào ào kéo về như thác lũ, thầy vẫn đến đều đặn mỗi chiều. Và khi đã dạy, thầy say sưa giảng giải, lạnh lùng, nghiêm khắc, mặc cho Thảo mệt mõi mè nheo:
Đau đầu quá thầy ơi, cho giải lao đi thầy!
Ráng học cho xong, rồi thầy sẽ đàn cho Thảo nghe.
Dạ!..
Thảo ngoan lắm!
Mắt thầy nhìn Thảo thật lạ.

Thầy ơi, cho Thảo hỏi thầy một câu thôi:
Thầy nghe đây, em hỏi gì cứ hỏi, nhưng không được dài dòng lôi thôi nha:
Thầy có phải là Hoàng tử không?
Vì sao em hỏi vậy?
Vì… Thầy hứa đừng cười Thảo nha.
Thầy hứa .
Vì lúc nhỏ Thảo thích làm công chúa lắm. Ai cũng trêu chọc Thảo, chỉ có ba gọi Thảo là “công chúa của ba”.
Thầy là Bảo Yên, ngang vai vế với con vua Bảo Đại. Thầy là cháu đời thứ năm của vua Minh Mạng.
Ôi!… Sợ bệ hạ quá ! nô tỳ có lỡ dại nói gì phạm thượng bệ hạ xá tội ha ?
Không phải ai trong dòng họ Hoàng tộc cũng có thể làm vua đâu em à.
Thầy mất mẹ từ năm lên hai tuổi, sống với ba và mẹ kế, còn bất hạnh hơn những người ngoài hoàng tộc.
Thảo lặng người !

Ngày cuối cùng của buổi học, thầy và Thảo cùng trầm ngâm. Thầy tập trung giảng nốt những bài toán khó, Thảo chăm chú lắng nghe, nhưng dường như không hiểu gì. Thầy nhìn Thảo lắc đầu:
Thảo đừng nói gì lúc này hết, thầy cũng vậy, hãy tập trung thi thật tốt, điều gì đến rồi sẽ đến Thảo nha.
Dạ…
Thầy biết là Thảo ngoan mà!.

Những ngày chờ đợi kết quả thật căng thẳng, chán nản. Thầy dỗ dành, động viên Thảo như trẻ con:
Đừng lo, thầy tin là Thảo sẽ thi đỗ mà .
Thầy xót xa nhìn Thảo gầy rộc và xanh mét vì lo âu.
Thầy à, Thảo muốn về thăm ngoại một thời gian
Nhà ngoại ở đâu?
Đi đến cuối con sông này là nhà ngoại
Ngoại ô thành phố ?
Dạ, gần chiếc cầu gãy, nhà ngoại cũng nằm bên sông.
Để thầy đưa Thảo về đó .
Con đường đi về quê ngoại có những bãi cỏ xanh ngút ngát, những chú trâu hiền lành gặm ngon lành từng vạt nắng chiều, những cánh cò trắng hồn nhiên đi lại trên lưng trâu thật yên bình.
Tuyệt vời Thảo à, ước gì mình có một ngôi nhà trên cỏ.
Để làm gì hở thầy?
Thầy nhìn vào mắt Thảo thật lâu… rồi lắc đầu
Em còn nhỏ quá Thảo ơi!… Thầy không nỡ… Thầy sắp đi thật xa, không biết có còn gặp lại?
Đất dưới chân như lún sâu đến tận cùng, Thảo oà khóc:
Thầy ơi!… Đừng đi
Thảo nghe thầy nói nè.
Thảo đừng gọi thầy nữa, vì từ bây giờ anh không còn dạy Thảo và anh sẽ ở bên cạnh để dỗ dành nên Thảo phải mạnh mẽ hơn, Thảo phải sống thật hạnh phúc thì anh mới yên lòng.
Thảo nói trong tiếng khóc:
Em hiểu rồi, anh thuộc về dòng họ Hoàng tộc, còn em chỉ là cô Tấm nghèo hèn, em phải ở lại với ruộng đồng, cây cỏ, với dòng sông…
Đừng nói vậy đau lòng lắm Thảo. Nếu là Hoàng tử anh cũng sẵn sàng quỳ xuống chân một cô Tấm ngoan hiền như em. Em biết điều đó không hở Thảo?
Hoàng tử ơi.
Vậy mà anh đi biền biệt!…

Anh về gom nắng hư hao
Dây tơ hồng úa
Trăm năm tình lỡ
Nghẹn ngào những giấc mơ…
Giấc mơ cứ trở về trong anh , lãng đãng như sương như khói…
Anh đưa Thảo băng qua những đồng cỏ xanh ngút ngàn dẫn vào con đường làng quanh co…
Em ghét tên của em lắm Hoàng tử à, nghe sao yếu đuối, hèn mọn quá!
Em khờ khạo quá Thảo à, em tưởng đá cứng rắn lắm sao ? nước chảy đá cũng mòn và nước cũng chẳng mạnh mẽ gì, nước cũng trôi đi và hoá thành mây. Còn cỏ có một sức sống bền bĩ. Người ta có vùi dập, có đốt cháy thì đến mùa xuân cỏ vẫn hồi sinh trở lại.
Em không thích sống dai dẳng vậy đâu Hoàng tử à.

Bây giờ nơi anh ở là mấy giờ rồi hở anh?
Năm giờ chiều em à, có gì không em? Sao em cứ hỏi hoài về thời gian vậy?
Vì em muốn tưởng tượng ra nơi anh ở như thế nào. Buổi chiều ở đó đang nắng hay mưa? Chắc trời lạnh lắm hở anh?
Nắng ở đây hiếm hoi lắm em à! Tuyết đang rơi, may mà anh đi làm về kịp, nếu không sẽ không thấy đường lái xe về nhà đó em.
Anh ăn tối chưa ? Nàng có nấu cho anh những món anh thích không?
Nàng cũng vừa lái xe về sau anh năm phút, ăn uống đơn giản thôi em à! Nàng làm việc cả ngày cũng mệt lắm rồi!
Em hiểu . Anh cố gắng chăm sóc nàng và các con thật tốt nha anh.
Tịnh Thảo ơi, em vẫn hồn hậu như ngày xưa!

Hoàng tử! chiều nay gió thật lạnh nhưng em vẫn lang thang bên bờ sông với những cơn ho rát buốt, em thèm được khóc như một đứa trẻ …
Chẳng hiểu như thế này là em đã tự làm mình đau hay ai làm em đau?!…
Em là ai hở anh ? Sao suốt cuộc đời này em cứ mãi miết đi tìm một cái ta u buồn của chính em!
Lễ hội đã tan, Hoàng tử trở về cung, chàng chẳng đi tìm cô Tấm tội nghiệp làm gì, chiếc hài đỏ nàng vội vàng bỏ lại nằm chơ vơ trên cỏ…
Tịnh Thảo ơi, trái tim anh nhói đau khi đọc những dòng em viết !…

Hoàng tử à, bây giờ là 3 giờ chiều thì bên đó là mấy giờ?
Anh đã thắc mắc vì sao em cứ hỏi hoài câu đó?
Vì em lãng đãng hay quên, mà lại muốn biết về thời gian và không gian nơi anh đang sống. Như bây giờ đây em phải khó nhọc hình dung ra anh đang làm gì, nghĩ gì, vui hay buồn, thanh thản hay bất an?
Anh nói rằng anh hết buồn rồi và cảm giác trống rỗng thật đáng sợ? Cảm giác đó thường xuyên có trong em anh à! Đó là cảm giác của sự cô độc, chông chênh… Ta sống trong ngôi nhà của cùng với những người thân vậy mà sao như ta đang sống một mình trên hoang đảo?!…Cảm giác đơn độc như Robinson đang khó nhọc nhóm lửa trong cơn mưa?!… Và nước mắt cay nồng!… Gió se sắt lạnh và nắng cũng nhạt nhoà u buồn… Trời đã bắt đầu sang đông rồi anh à, em muốn anh thức dậy và nói cười với em, Hoàng tử à, như có lần anh đã nói: “Anh sẽ làm bất cứ điều gì cho Tịnh Thảo cười “. Sao bây giờ anh không làm điều đó như anh đã hứa?

Ôi Tịnh Thảo !
Bình minh của em là bóng đêm của anh.
Dường như chúng ta đã sống ở hai thế giới khác nhau.
Chẳng khác gì âm dương cách trở.
Biết làm sao bây giờ hở em ?!…

Hoàng tử yêu thương!
Bây giờ là đêm, em không ngủ được.
Làm sao em có thể vượt qua bóng đêm cô độc này hở anh?
Anh đã hao gầy trong nỗi buồn nào đó mà em vẫn chưa biết được, cuộc đời anh như khép kín trước em, vậy mà em vẫn yêu anh đến rát buốt …
Phải chăng đó là định mệnh!
Định mệnh thật khắc nghiệt khi để anh và em gặp lại nhau ở cuối con đường mây bay, không phải là con đường trên mặt đất.
Những giọt nước mắt của anh trong cơn say là những giọt nước mắt đẹp nhất mà anh chắt lọc nó từ tâm hồn anh … Cho em được trân trọng nắm giữ nó trong sâu thẳm nhất của trái tim em…Hình như ta đã đi tìm nhau từ tiền kiếp Hoàng tử à! Trong giấc mơ trinh nguyên của thời con gái bóng dáng chàng hoàng tử Bảo Yên đã hiển hiện tự thưở nào
Anh và em gặp lại nhau trong giấc mơ và chia tay vội vã trong bóng đêm chập chờn, để rồi khi bình minh thức giấc ta trở về với những lo toan của cuộc sống đời thường…
Chúng ta đã tìm đến nhau trong nỗi cô độc tâm tưởng và chia sẻ tất cả buồn vui của một kí ức tràn ngập yêu thương. Ta đã bình yên và hạnh phúc trong thế giới riêng của ta . Tâm hồn ta đã bay lên với những với những hoài vọng tinh khôi… Vậy mà ta vẫn không thoát khỏi cội rễ đời thường đã bám sâu từ mặt đất .
Chúng ta đều đã đi qua một đoạn đường quá dài, ở đó ta vướng vào những món nợ của cuộc đời mà ta chẳng bao giờ trả hết, một mái nhà và những người thân… Ta mắc nợ họ và biết ơn họ vì họ đã cho ta một chốn về ấm áp… Có phải không anh ?
Dù chỉ là cõi tạm ở chốn nhân gian thì ta cũng từng gắn bó và yêu thương …
Nhiều lần em đã tự hỏi rằng ta có quyền sống cho niềm đam mê của riêng mình hay không?!… Lúc nào em cũng cố kiềm nén cảm xúc của chính em để sống cho người thân… Cho đến khi gặp lại anh thì em quên tất cả… Những lúc giật mình nhìn lại, em sợ chính em,
Bảo Yên thương yêu !
Em biết làm gì bây giờ ?!
Ngoài trốn chạy anh…
Dù điều đó làm đau buồn suốt quãng đời còn lại của em!…

Anh van xin em, đừng rời bỏ anh, anh không chịu nổi đâu Tịnh Thảo ơi!…

Anh thương yêu
Lần cuối viết cho anh thật nhiều muộn phiền và đắng đót!
Em chuẩn bị vào bệnh viện và lại đối đầu với một cuộc phẫu thuật. Em đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật nguy hiểm mà không hiểu vì sao em vẫn vượt qua, vẫn tồn tại trên cuộc đời này với những đớn đau dằn vặt cả thể xác lẫn tâm hồn.
Không biết phải bắt đầu từ đâu, sao anh lại tìm gặp em và nói những lời yêu thương, khi chúng ta đã đi gần hết con đường…
Phải chi anh đừng nhớ về kí ức, anh đừng khóc vì tuyệt vọng, anh đừng gởi cho em những bài ca với giai điệu da diết, đầy khắc khoải về thân phận con người…
Chúng ta là những kẻ bất hạnh ! Dường như chúng ta không có quyền được sống, chúng ta chỉ tồn tại… Tự do, tình yêu, hạnh phúc, đam mê về nghệ thuật thi ca nhạc hoạ… đều bị kiềm chế đến mức dồn nén để lúc nào ta cũng như kẻ mộng du hoang tưởng lang thang trong bóng đêm cô độc…
Đó là lí do mà có lúc em hỏi anh: Em là người hay là ma ?!…
Anh thương yêu
Cô bé đó như một thiên thần! Em ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thánh thiện của nó. Không biết các nàng công chúa trong triều Nguyễn ngày xưa có đẹp như nó không?!… Nó đã thừa hưởng tất cả những ưu điểm của anh và nàng. Em như sững sờ trước vẻ đẹp của nó. Và nó đã xử xự rất thông minh, khôn khéo. Con là Miên Thảo, thì ra ba đã đặt tên con trùng với tên cô, điều đó chứng tỏ rằng ba con dù có ở đâu , sống với ai cũng không nguôi nhớ thương cô… Nhưng ở đây lạnh lắm cô à, gia đình con cần có ba…
Nó đáng yêu hơn là đáng trách, Nó yêu anh và muốn anh là của nó và gia đình nó. Đó là điều hoàn toàn chính đáng anh à! Thế hệ nó lớn lên may mắn hơn thế hệ chúng ta nên nó rạch ròi và sòng phẳng, hơn nữa nó vẫn hoàn toàn còn là đứa trẻ, vậy nên chúng ta không có quyền đánh mất niềm tin thơ trẻ. Anh và em cách nhau nửa vòng trái đất, sẽ không bao giờ gặp lại, dù chỉ là cuộc gặp gỡ trong thế giới ảo mong manh này.
Thôi đành vậy! Vĩnh biệt anh! Hoàng tử u buồn!
Em trở về với thân phận cô Tấm, một cô Tấm không bao giờ trở thành hoàng hậu, không bao giờ trả thù một cách độc ác, cay nghiệt như cô Tấm trong giấc mơ cổ tích. Em sẽ mãi mãi là cô Tấm hiền lành sống an nhiên sống với cây cỏ, ruộng đồng, dòng sông…

Tịnh Thảo ơi, vậy là thêm một lần anh mất em.
Hãy tha thứ cho bất hạnh của cuộc đời anh, vì đã không giữ em được, làm sao được?!

Tôi đã mơ về ngôi nhà trong cỏ
Ánh bình minh mời gọi tiếng chim về
Áng mây trắng bồng bềnh trong nắng ấm
Những giọt sương long lanh trên đầu ngọn cỏ
Có tiếng em lay thật khẽ:
Dậy đi anh!
Đón ngày mới cùng em

Khi bóng chiều nhuộm hoàng hôn tím thẫm
Chúng tôi nhìn đàn chim bay về tổ
Những cơn gió heo may se sắt đi qua
Tôi ấp ủ em trong vòng tay ấm
và ru em bằng lời ca của cỏ

Rồi một ngày giông gió
Tôi giật mình thức giấc
Không còn bình minh
Không còn bóng chiều
Không còn em
Chỉ còn chút nắng hư hao
Những sợi tơ hồng héo úa
Và một giấc mơ nghẹn ngào
Trong bóng đêm thăm thẳm …
Trần thị Trúc Hạ

Đêm trở về từ Virginia

tranhoaithu

Tôi học nơi này, xứ của đô la
Chữ tình có khi chữ buồn-muốn-khóc
Đôi khi đêm rằm rán tìm vầng trăng cố quốc
Mà ở đông bắc này, trăng bỏ trốn biệt tăm

Có khi chiếc xe trở về lạnh lẽo, căm căm
Đôi quạt nước kêu rêu hoài mệt lả
Mưa mùa mịt, tiếng ca người nức nở
Một bản nhạc buồn vào thuở mới vừa quen

Tối ở bên này và sáng ở bên kia
Nên chắc gì những vì sao có còn gặp gỡ
Chỉ có nỗi nhớ nhung thì vượt ngàn cách trở
Tôi nói thầm, phương ấy còn nhớ tôi không?

TRẦN HOÀI THƯ