ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI

linhphuong

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến thắng trận Pleime
Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn màu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông
Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em- anh cố sẽ quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

LINH PHƯƠNG
20/02/1970

85 NĂM CÔNG TỘI CỦA ĐẢNG CSVN (1930-2015)

dothongminh

Đỗ Thông Minh
ㇽ痠ꐿ㗰슞
Vận nước đen tối hơn bao giờ hết, vừa thù trong, vừa thù ngoài.
Đảng CSVN đã làm gì trên đất nước Việt Nam.
Trong các nước CS, CSVN là đảng duy nhất dâng đất và biển cho ngoại bang CSTQ!

ĐÃ 85 NĂM, CSVN CÓ CÔNG TRẠNG GÌ?
CSVN tự cho là đã hy sinh, gian khổ, có công giành độc lập và thống nhất đất nước, trong khi TT CSVN Phạm Văn Đồng phải thốt lên là “Thắng trong chiến tranh, thua trong hòa bình!”.
– Sau Thế Chiến Thứ 2, 47 quốc gia được độc lập không khó khăn mấy.
– Xem trường hợp 4 nước phân đôi Trung Quốc – Đài Loan, Đông-Tây Đức, Nam-Bắc Triều Tiên và Việt Nam.
1- Trung-Đài vẫn tạm thời phân đôi, cạnh tranh nhau về kinh tế, ngoại giao, quân sự.
2- CS Triều Tiên cưỡng chế thống nhất đất nước nhưng thất bại và bị tụt hậu rất xa so với Nam Trìều Tiên.
3- Đức Quốc thống nhất trong hòa bình không đổ máu, không phân hóa dân tộc là lý tưởng hơn cả.
4- CSVN mang tinh thần bản quốc ca “Tiến Quân Ca” của Văn Cao (nguyên Tổ Trưởng Tổ Ám Sát):
“Thề phanh thây uống máu quân thù.”.
Sau đổi ra:
“Đường vinh quang xây xác quân thù.”.
Một chủ trương sắt máu như thế không thể là chính nghĩa được. CSVN cưỡng chế thống nhất đất nước bằng bạo lực với giá khoảng 3-4 triệu sinh mạng mà không biết phải xây dựng như thế nào? Lại bị lệ thuộc ngoại bang và gây phân hóa dân tộc, làm suy kiệt tiềm năng đất nước, băng hoại đạo đức, làm đất nước tụt hậu xa so với các nước trong vùng… Trong khi đó hầu hết cán bộ CS kém trình độ sống trên xương máu người dân, thành giai cấp tư bản đỏ. Đảng CSVN, đại diện cho giai cấp công nhân tiên tiến mà sau 85 năm thành lập, chỉ thấy sản xuất toàn “khẩu hiệu, bằng liệt sĩ, bằng ban khen và huân chương”, lắm bằng tiến sĩ giả nữa chứ!!!
Vậy thì công của CSVN là không đáng kể so với tội! Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân đã phải viết bài hát:
“Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?”
Nếu tôi có được phép thần thông
Tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài Gòn năm năm về trước
Để cho anh thấy rằng (giải phóng được)
Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?
Tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài Gòn
Từ lầu cao, từ phố đông
Cho tới nơi hang cùng ngõ hẹp
Bùn lầy đọng một chút tối tăm
Tôi sẽ đưa anh hỏi thăm từng nhà
Họ sung sướng không, họ có mong anh,
Mong các anh về giải phóng không anh?
Biết anh có chợt nghĩ gì không?
Khi thấy quanh anh bao nhiêu nụ cười trên môi chợt tắt
Và anh ơi thấy gì?
Ôi hạnh phúc đâu?
Ôi giải phóng đâu?

http://mp3.baamboo.com/s/3/1/QW5oIEdp4bqjaSBQaMOzbmcgVMO0aSBIYXk=/Anh-Giai-Phong-Toi-Hay

5- Về sinh hoạt đảng CSVN, thời HCM, Lê Duẩn trên nguyên tắc nắm quyền tới chết nên sau này đã có tiến bộ khi có ít nhiều tinh thần dân chủ (theo đa số Ủy Viên Trung Ương mà ít bị thao tác, chi phối hơn trước) và hạn chế hơn. Khuynh hướng chung là các người cầm đầu như TBT, CTN, TT và Chủ Tịch Quốc Hội chỉ tại chức trong 2 nhiệm kỳ. Sinh hoạt Quốc Hội được TV trực tiếp truyền hình nên cũng công khai hơn.

Công của đảng CSVN?

1- 1946-54, kháng chiến chống Pháp với sự góp sức của toàn dân. Pháp tiến hành chính sách thực dân, chiếm VN thì việc đề kháng là cực kỳ cần thiết.
2- Giành được độc lập, thống nhất đất nước như họ nói chăng? Sau Thế Chiến Thứ 2, 47 quốc gia giành độc lập không cần Hồ Chí Minh hay chủ nghĩa CS, không phải hy sinh 3-4 triệu sinh mạng. Nên trong đấu tranh, nếu khôn ngoan và khéo léo ngoại giao thì không phải trả cái giá quá đắt như vậy!
3- 1930-2015, CSVN sau khi nắm quyền, tự nhận và đưa vào Hiến Pháp: “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam…”. CSVN với trên 3,6 triệu đảng viên, đã sản xuất hàng triệu khẩu hiệu, huân chương, bằng ban khen, chứng nhận liệt sĩ… và chỉ có thế mà thôi.
4- Cùng với việc giải quyết bế tắc bằng cách thay đổi kinh tế tập trung – bao cấp sang thị trường định hướng XHCN, dung nhận chế độ tham nhũng, tới độ thành quốc nạn, để đảng viên tha hồ bóc lột nhân dân mà trung thành phục vụ chế độ.
5- Năm 1995, lập bang giao với Hoa Kỳ, gia nhập ASEAN, mở rộng bang giao với thế giới.
6- Đại Hội đảng CSVN X vào tháng 4/2006, cho phép đảng viên tự do kinh doanh, làm giàu không giới hạn.
7- Năm 2007, gia nhập WTO, mà thực ra hầu hết mọi quốc gia đều có thể gia nhập tổ chức này. Năm 2014, gia nhập Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Chiến Lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement = TPP).
8- Năm 2013, theo thống kê ảo của nhà cầm quyền CSVN thì xuất cảng/khẩu khoảng 132,2 tỷ đô-la Mỹ, nhập cảng/khẩu khoảng 131,3 tỷ đô-la Mỹ. Thực tế, tính ra mỗi năm nhập siêu khoảng 15-17 tỷ đô-la Mỹ.
9- Lợi tức bình quân một đầu người khoảng 100 đô-la Mỹ năm 1975 lên 1.500 đô-la Mỹ năm 2013 (?).
10- Hình thành và củng cố giai cấp tư bản đỏ, bám quyền lực để bóc lột và làm giàu cá nhân, hoàn toàn phản lại lý tưởng bình đẳng, tránh cảnh người bóc lột người của chủ nghĩa CS… Tức nhà cầm quyền CSVN chỉ có công đem lại quyền lợi cho đảng, bất chấp quyền lợi của nhân dân.
11- Xây dựng rất nhiều khu giải trí ăn chơi, cả 100 sân gôn, hàng chục sòng bạc…
12- Năm 1987, VN mở rộng truyền thông điện thoại thông qua việc hợp tác đầu tư với Úc… Đến năm 1990, cả nước chỉ có chưa tới 80.000 máy điện thoại. Từ năm 1989, phát triển máy điện toán cá nhân.
Năm 1993, có Việt Nam – MobiFone dùng công nghệ số GSM, mà châu Âu mới triển khai năm 1991 cho điện thoại di động, khởi thủy chỉ có 1 tổng đài dung lượng 2.000 số. Đến năm 2013, tổng số thuê bao điện thoại phát sinh cước trên mạng của VNPT là 40,4 triệu, Viettel là 54,25 triệu.
Năm 1997, Hội Nghị Trung Ương 2 và Lê Khả Phiêu đồng ý cho thiết lập Liên Mạng (Internet) với sự giúp đỡ của Úc. Năm 2013, ước lượng tại VN có 32 triệu người dùng.
Sau nhiều e dè định tìm cách kiểm duyệt trước, nhà cầm quyền đã bắt đầu cho trực tiếp truyền hình sinh hoạt Quốc Hội từ Khóa XI (2002-2007), giúp người dân phần nào giám sát sinh hoạt này, dù chỉ là “Đảng Hội” (khoảng 92-94% là đảng viên).
Sự bùng nổ về truyền thông đánh dấu cơ hội cực lớn để gia tăng hiểu biết và thay đổi tình hình VN. Cách mạng truyền thông sẽ là phương tiện cách mạng xã hội.
Bỏ Phiếu Tín Nhiệm!
Đây là 1 ý tưởng đột phá nhưng chỉ mới nửa vời!
Ngày 11/6/2013, lần đầu tiên tổ chức để 492 Đại Biểu Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm 47 chức vụ quan trọng nhất của nhà nước do Quốc Hội đề cử. Tuy nhiên chỉ có 3 loại phiếu: tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp mà không có phiếu bất tín nhiệm, tức là không có quyền bất tín nhiệm. Kết quả bỏ phiếu thúc đẩy cấp lãnh đạo phải cố gắng hơn, nhưng mặt khác cũng phát sinh tranh chấp ngấm ngầm kịch liệt giữa các đảng viên với nhau. Dù không thỏa mãn với lối bỏ phiếu định hướng sẵn, nhưng ít nhiều dư luận cũng biết được sự đánh giá chung giữa hầu hết là các đảng viên CSVN cao cấp đang nắm quyền điều hành nhà nước với nhau.
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cong-bo-ket-qua-tin-nhiem-47-chuc-danh-chu-chot-2820304.html
Ngày 15/11/2014, sau nhiều chần chừ, 485 Đại Biểu Quốc Hội tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm 50 nhân vật lần thứ 2. Tuy nhiên lần này có những dấu hiệu cho thấy có chuyện chạy phiếu bằng các hình thức chiêu đãi trước đó và kết quả không thực, vì Trưởng Ban Kiểm Phiếu nói có 1 số phiếu bất hợp lệ, nhưng tổng kết số phiếu của hầu hết đều vẫn đầy đủ 485 phiếu!?
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ket-qua-lay-phieu-tin-nhiem-3107632.html
http://danlambaovn.blogspot.jp/2014/11/phe-nguyen-tan-dung-thua-am-trong-cuoc.htm
Trò chơi Tín nhiệm: Nhân dân ơi, chúng ăn gian!
Theo tuyên bố của Trưởng Ban Kiểm Phiếu Huỳnh Văn Tý về vụ bỏ phiếu tín nhiệm 50 quan chức thì tổng số phiếu phát ra và thu về là 485. Trong số này ông Tý xác định: “Có 1 số phiếu không hợp lệ. Đó là những phiếu trắng, không ghi cho ai, cũng có phiếu 1 người nhưng Đại Biểu lại đánh giá 2 người… ”. Dư luận lại dấy lên ý nghĩ bị lừa!
http://danlambaovn.blogspot.jp/2014/11/tro-choi-tin-nhiem-nhan-dan-oi-chung.html
Có thực sự tín nhiệm được cuộc “Bỏ phiếu tín nhiệm”?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/confi-vot-i-eye-poep-11172014062604.html
Ngày 5-12/1/2015, sau nhiều lần trì hoãn, Đại Hội Trung Ương Đảng 10 khoá XI đã diễn ra và lần đầu tiên tổ chức lấy phiếu tín nhiệm 20 người là 16 Ủy Viên BCT và 4 người trong Ban Bí Thư để chuẩn bị cho vấn đề nhân sự trong Đại Hội Đảng khóa XII đầu năm 2016. Tuy nhiên cả tuần sau vẫn chưa công bố kết quả khiến dư luận thắc mắc chuyện gì xảy ra? Tiến Sĩ Nguyễn Quang A nhận định rằng việc “Đảng càng thiếu minh bạch thì càng mất niềm tin trong chính nội bộ của họ.”.
Trong khi trang nhà lề trái Chân Dung Quyền Lực lại công bố kết quả này trước. Theo đó, “đồng chí X” (Nguyễn Tấn Dũng, từng bị chỉ trích mạnh nhất trong Hội Nghị Trung Ương 6 năm 2012) bất ngờ được số phiếu tín nhiệm cao nhất?
http://chongthamnhung2015.blogspot.fr/2015/01/ket-qua-bo-phieu-tin-nhiem-bo-chinh-tri.html
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2015/31373/Toan-van-phat-bieu-be-mac-Hoi-nghi-Trung-uong-10-cua.aspx

Tội của đảng CSVN?

1- 1923, Hồ Chí Minh, rồi đảng CSVN đã làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế, thực chất là Liên Xô và CS Trung Quốc.
2- 1929, đã có 3 đảng CS tại VN, chủ nghĩa CS vào VN qua ngả một số người du học Pháp và báo chí Pháp.
3- 1930, chính thức biến chủ nghĩa CS không tưởng, phản khoa học và “tam vô” thành hành động bạo sát tại VN.
4- 1930-31, khơi động “Xô Viết Nghệ Tĩnh”, lộ bản chất lừa bịp, cuồng tín, dã tâm giết chóc, cướp bóc (chủ trương “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ.” của Tổng Bí Thư đầu tiên Trần Phú).
5- 1945, “Cách Mạng Tháng 8” cướp chính quyền (từ chính phủ Trần Trọng Kim), lập Chính Phủ Liên Hiệp, không nhắc tới CS, nhưng sau này thì đảng CSVN diệt hết chỉ còn lại CS.
6- Năm 1951-1953, theo lệnh của CSTQ tiến hành Chỉnh Huấn Toàn Quân và Chỉnh Đốn Tổ Chức, nhằm loại bỏ những người bị nghi ngờ không theo lập trường CS, hành hạ hàng trăm ngàn người thuộc nhiều thành phần khác nhau theo Việt Minh, CS khác, chỉ chọn thành phần vô sản và hầu như vô học.
7- 1953-56, HCM theo lệnh CS Liên Xô và CSTQ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất tàn ác vô song trong lịch sử, sát/hãm hại 172.008 người, chia đất cho dân xong lại thu vào hợp tác xã, cuối cùng chương trình hợp tác xã này thất bại!
8- 1954, thống trị miền Bắc, tiến hành “cải tạo tư sản, kinh tế chỉ huy, bao cấp” thất bại, đưa miền Bắc chìm sâu vào cảnh nghèo đói, lạc hậu và bất chấp đạo đức.
9- 1955-58, đàn áp trí thức qua vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, ngày càng trở nên độc đoán, phản tự do, phản dân chủ.
10- 1958, do nhận viện trợ to lớn từ TQ, TT CSVN Phạm Văn Đồng ký công hàm ngoại giao công nhận chủ quyền bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, như TQ chủ trương, gây di họa to lớn tới nay v à m ãi sau n ày.
11- 1959-75, khơi động cuộc chiến cưỡng chiếm miền Nam, làm tiêu 3-4 triệu sinh mạng, gây phân hóa trầm trọng trong lòng dân tộc.
12- 1963, Bộ Chính Trị triệu tập Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương khóa IV của đảng CSVN họp lần thứ IX, theo Trung Quốc, chống xét lại Liên Xô. Ra “Nghị Quyết 9” trấn áp, khủng bố đảng viên. Lập ra Ban Xét Tội trực thuộc Bộ Chính Trị do Lê Đức Thọ cầm đầu toàn quyền quy kết tội và Trần Quốc Hoàn ra tay trị bọn “Xét lại chống Đảng, âm mưu lật đổ, phản cách mạng, tay sai đế quốc.” như Võ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng Ngoại Giao Ung Văn Khiêm, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Nguyễn Văn Vịnh, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa Học Nhà Nước Bùi Công Trừng, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Lê Liêm, Thiếu Tướng Đặng Kim Giang, Cục Trưởng Cục 5 Bộ Quốc Phòng Đại Tá Lê Trọng Nghĩa, Trợ Lý Chủ Tịch Nước HCM Vũ Đình Huỳnh và con trai Vũ Thư Hiên, Hoàng Minh Chính…
13- 1975, bắt khoảng 200.000 quân cán chính miền Nam đi tù dài hạn, có người tù 15, 20 năm.
14- 1975, phá tan kinh tế miền Nam qua việc “đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp”, rồi sau kêu gọi tư bản nước ngoài vào đầu tư [như vậy là đảng dọn đường cho tư bản nước ngoài dễ vào làm ăn] và cho đảng viên làm giàu không giới hạn.
15- 1975, đuổi dân đi “kinh tế mới”, cướp nhà, cướp đất, tiến hành hợp tác xã nông nghiệp thất bại.
16- 1975…, bóc lột dân chúng qua 3 vụ đổi tiền, bần cùng hóa nhân dân, đưa đất nước đến chỗ phá sản.
17- 1975…, tước đoạt tài sản, đàn áp khiến hàng triệu người Việt vượt biển, vượt biên, rồi thu tiền vượt biển, khiến hàng trăm ngàn người chết.
18- 1975…, tiến hành buôn dân theo chế độ “nô lệ mới” bằng cách “xuất khẩu lao động” và đưa phụ nữ ra nước ngoài kết hôn, đi ở, làm điếm, tới năm 2015, con số những người này lên đến 600.000 người.
19- Ngày 18-29/4/1978, Sư Đoàn 330 do Đồng Văn Cống (người Bến Tre) chỉ huy đã dồn dân vào chùa Phi Lai và Tam Bửu, trường học… thuộc làng Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cách biên giới Việt-Campuchia khoảng 7 km, ban đêm giả quân Polpot tới ra tay thảm sát 3.157 người (đa số là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, cũng là dịp khủng bố giáo phái này) bằng lựu đạn, súng và đốt, theo kiểu “ném đá giấu tay”. CSVN đã đem những bộ hài cốt của những nạn nhân người Việt và Campuchia, do chúng thảm sát, trưng bày để gây căm thù giữa hai dân tộc, chuẩn bị tâm lý đối với dư luận VN cũng như quốc tế để sau này dễ dàng đánh qua Campuchia. ㇽ癗犸슄
Theo tiết lộ của Hoàng Tùng, Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, Ủy Viên BCT/TƯ Đảng CSVN: CSVN đã có ý đồ chiếm đóng Campuchia từ năm 1970-1972. Cuối năm 1976, Đại Hội IV đảng Lao Động đổi thành đảng CSVN và chấp nhận đề án của Lê Duẩn xúc tiến việc thành lập Liên Bang Đông Dương dưới sự giám sát của lý thuyết gia Mikhai A. Suslov, Trưởng Phái Đoàn Xô Viết.

VC thảm sát hơn 3.157 dân làng Ba Chúc !


http://www.quansuvn.info/quansusd30vc.htm
20- 1978-89, đưa đất nước vào cuộc chiến với Campuchia (CSVN gọi là “Chiến Dịch Phản Công Biên Giới Tây-Nam”), khiến khoảng 50.000 bộ đội chết và 150.000 bị thương.
21- 1979-91, đưa đất nước vào “Chiến Tranh Biên Giới” với TQ, khiến khoảng 20.000-30.000 bộ đội và dân chúng chết, 6 tỉnh biên giới bị tàn phá nặng nề.
22- Thập niên 1980, đưa đất nước tới chỗ phá sản, không trả được nợ với các cơ quan tiền tệ quốc tế và nhiều nước, phải nhờ Nhật và Pháp cho vay giải cứu…
23- 1999, dâng khoảng 700 km2 đất cho TQ qua Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền.
24- 2000, dâng khoảng 10.000 km2 biển cho TQ qua Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ.
25- Hàng chục năm qua tỏ ra hèn yếu trước thái độ hung hăng của TQ, bỏ mặc ngư dân cho TQ hà hiếp, bắn giết!
26- 2007…, trấn áp phong trào trí thức, thanh niên cho tới dân oan khi họ chủ trương Hoàng Sa – Trường Sa là của VN, nên mới có câu “Hèn với giặc, ác với dân”.
27- 2009…, cho TQ… thuê 400.000 ha rừng đầu nguồn 50 năm, đưa người vào khai thác Tây Nguyên, các công trường khắp nước… (Năm 2010, có khoảng 35.000 người TQ làm việc ở VN, đa số lợi dụng việc tự do vào VN không cần chiếu khán để làm lao động bất hợp pháp, nhà cầm quyển hầu như bất lực).
28- 2013, biến quốc gia thành con nợ thế giới, nợ quốc trái khoảng 50 tỷ đô-la Mỹ, các tập đoàn quốc doanh nợ khoảng 50 tỷ đô-la Mỹ, tộng cộng nợ khoảng 100 tỷ đô-la Mỹ. Ngân sách quốc gia mỗi năm chỉ khoảng 24 tỷ đô-la Mỹ mà trả nợ vốn và lời khoảng 5-6 tỷ đô-la Mỹ.
29- Trong hàng mấy chục năm qua, cán bộ CSVN lợi dụng quy hoạch cướp đất của dân, chỉ bồi thường khoảng 5-10%, khiến phát sinh hàng triệu dân oan, đẩy nhiều người tới đường cùng, kể cả cái chết!
30- Hầu hết cán bộ CSVN lợi dụng chức vụ tham ô, hà hiếp dân, công an đánh giết dân, đưa mọi mặt xã hội vào tình trạng băng hoại, vô đạo đức.


Các tội kéo dài khác!

1- Đảng CSVN độc tài toàn trị, mù quáng theo chủ nghĩa CS. Lúc ngã theo Liên Xô, lúc ngã theo Trung Quốc, khiến đất nước ngã nghiêng theo.
2- Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945 sai văn phạm và thiếu độc lập. Ngay mở đầu và sau đó thêm 1 lần sai văn phạm qua câu: “Mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”, đúng ra phải là “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.”. Và ý chính là lấy từ Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của HK, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791.
3- Đảng CSVN tự nhận là đại diện tầng lớp lao động tiên tiến mà không hề sản xuất, chỉ lợi dụng quyền lực sống bám vào Hiến Pháp CSVN 1980, 1992, qua Điều 4… và trên xương máu của nhân dân.
4- Viết Hiến Pháp mà chủ yếu dựa trên Hiến Pháp Liên Xô qua bản dịch tiếng Pháp và Trung (còn dịch sai). Cựu Bộ Trưởng Tư Pháp CSVN Nguyễn Đình Lộc nói: “Ở thời điểm đó Việt Nam chưa có nhiều người giỏi tiếng Nga. Chúng ta dịch Hiến Pháp Liên Xô chủ yếu qua tiếng Pháp và tiếng Trung. Mà tiếng TQ thì khác VN ở chỗ, tính từ đứng trước danh từ. Phần về Quốc Hội, nguyên văn tiếng Nga là: Quốc Hội là cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà Nước [nếu coi Quốc Hội là tư pháp và Nhà Nước là hành pháp và 2 bên độc lập thì bên này không thể là cao cấp nhất của bên kia]. Ta dịch theo bản tiếng Trung thành: Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà Nước cao nhất.”.
Chính sách đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Khi LX bỏ Bộ Tư Pháp, CSVN cũng bỏ Bộ Tư Pháp, sau lại lập lại.
5- Vi phạm Hiến Pháp CSVN năm 1992 điều 59: “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.”. Nhà cầm quyền CSVN đã không cưỡng bách giáo dục và thu tiền bậc tiểu học, khiến từ năm 2008, trong 5-6 năm qua, có 3,5 triệu người bỏ học, 1,7 triệu người mù chữ.
6- Vi phạm Hiến Pháp CSVN 1992 điều 69, 70…, vi phạm trầm trọng Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 rất nhiều điều như điều 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14… khi không tôn trọng tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, độc lập tự pháp…
7- Vi phạm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 điều 17: “1/ Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. 2/ Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.” khi ghi trong Hiến Pháp điều 17, 18, 58: sở hữu đất đai… thuộc nhà nước.
8- Vi phạm trầm trọng Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948, bất chấp điều 30 đã ghi rõ: “Không một điều nào trong bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.”.
9- Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Điều 70: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân…”. Thêm phần phải trung thành với đảng CSVN, trên cả tổ quốc cũng như nhân dân!
10- Tiêu chí “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc” là lấy từ 3 mục tiêu Dân Tộc Độc Lập – Dân Quyên Tự Do – Dân Sinh Hạnh Phúc trong chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Văn.
11- Tiêu diệt tất cả các đảng phái khác (khoảng 10 đảng, nay chính thức chỉ còn đảng CSVN).
12- Đàn áp những tiếng nói đòi tự do, dân chủ.
13- Đàn áp những tiếng nói yêu nước chống TQ xâm lấn.
14- Lãnh đạo bất tài, tham lam.
15- Đảng CSVN ngang nhiên ghi trong Điều Lệ Đảng, Điều 46, ngân sách từ đảng viên đóng góp và từ nhà nước. Vì bị dư luận phản đối nên Điều Lệ Đảng mới năm 2006, Điều 57 đã bỏ khoản từ nhà nước đi, nhưng thực tế vẫn không bỏ.
16- Biến cơ chế thành tham nhũng và bao che tham những, thành quốc nạn.
17- Buôn bán bằng cấp lan tràn, thi cử gian lận.
18- Quy hoach cướp đất của dân và lấy của công làm của riêng, rồi sau đó bán cho tư bản khiến có hàng mấy triệu dân oan.
19- Cán cân ngoại thương mỗi năm đều thâm thủng (nhập siêu) lớn, năm 2012, thâm thủng khoảng 17-18 tỷ đô-la Mỹ.
20- Không bảo vệ được ngư dân trước sự hoành hành của Trung Quốc.
21- Hà hiếp nhân dân, trong khi khiếp nhược trước Trung Quốc, để cho người Hoa tự do ra vào Việt Nam, trong khi năm 2010, người Việt vẫn phải xin chiếu khán vào Trung Quốc (trừ người sống gần biên giới trong phạm vi 20 km).
22- Khai thác thiên nhiên bừa bãi, thường xuyên gây lũ lụt.
23- Làm đất nuớc tụt hậu (từ đi trước thành đi sau Thái Lan khoảng 95 năm).
24- Làm cho 25% (theo UNICEF là 1/3) trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng. 243.000 người kém may mắn đang sống chung với HIV/AIDS
25- Làm băng hoại đạo đức xã hội một cách cực kỳ trầm trọng, con người trở nên thiếu văn hóa, hung bạo, vô trật tự, vô luật pháp.
26- So với thế giới, Việt Nam với dân số hàng thứ 13, nhưng các thành tích đều đứng khoảng trên 100.
27- 18 tỉnh, đa số ở miền Bắc, vùng biên giới đã cho doanh nghiệp nước ngoài, hầu hết là Trung Quốc, Đài Loan… thuê khoảng gần 400.000 ha rừng trong 50 năm, rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia và để lại nhiều di hại khôn lường.
28- Tạo khoảng cách giữa giàu của giới cán bộ CS và nghèo của nhân dân lớn nhất từ trước đến nay.
http://www.youtube.com/user/KhatKhaoTuoiTreVN
29- Tạo những huyền thoại giả để lừa bịp dân tộc như vụ: Hồ Chí Minh (vì bận việc nước không lập gia đình, sưởi ấm bằng cục gạch lúc thì ở Anh, lúc thì ở Pháp…); Tôn Đức Thắng (1969-1980, tham gia phản chiến trên tàu Pháp năm 1919 để ủng hộ cách mạng vô sản Nga…); Kim Đồng (Nông Văn Dền, 1928-1943, thiếu niên làm giao liên, khi bị bao vây thì chạy ra ngoài để đánh lạc hướng nên bị Pháp bắn chết); ngọn đuốc sống Lê Văn Tám (thiếu niên tự tẩm dầu đốt mình rồi chạy vào kho xăng Thị Nghè tháng 10/1945, có chỗ ghi ngày 1/1/1946, theo nhà văn Trần Trọng Tân (sinh năm 1926, sau làm Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương) lại cho là năm 1945 và mang xăng vào kho đạn, nhưng theo GS Phan Huy Lê họp báo năm 2005 kể lại lời Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền Trần Huy Liệu cho hay nhân vật này là tự mình chế ra, là hoàn toàn hư cấu); anh hùng Đinh Núp (1914-1999, đánh Pháp, đánh Mỹ với nhiều thêm thắt); Phan Đình Giót (1922-1954, bị thương nặng vẫn lao mình vào lấp lỗ châu mai của Pháp trong trận Điện Biên Phủ); La Văn Cầu (nhờ đồng đội chặt tay bị thương tiếp tục ôm bộc phá đánh Pháp năm 1950); Ngô Thị Tuyển vác 2 thùng đạn pháo nặng 98 kg tại cầu Hàm Rồng ngày 4/4/1965; Tiểu Đội nữ dân quân Lạng Sơn, bắn rơi máy bay phản lực Mỹ F-105 bằng súng trường tháng 10/1965; đội nữ pháo binh Ngư Thủy, Quảng Bình, dùng đại bác 105 ly bắn cháy tàu khu trục Hoa Kỳ thứ 3 trong 1 năm ngày 16/5/1968; BS Đặng Thùy Trâm bị đạn ngay giữa trán vẫn còn hô vang Hồ Chí Minh muôn năm. Đả đảo đế quốc Mỹ.”; bắn rơi 35.081 máy bay Hoa Kỳ (theo cuốn Bách Khoa Tri Thức Phổ Thông, nxb Văn Hóa Thông Tin, năm 2000, trang 2527)!…
– – –
Đảng Cộng Sản: Một Đảng Cướp!
Người theo Cộng Sản vốn “giỏi” tuyên truyền và che giấu, nhưng đôi khi nhằm kích động đảng viên họ cũng thẳng thắn nói về mặt trái, mặt thật cái gọi là lý tưởng của họ. Những từ “cướp chính quyền” đầy dẫy trong tài liệu CS giai đoạn đấu tranh và cụ thể là “Đấu tranh này là trận cuối cùng.” để “Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình.”. Họ cướp cả quyền, cả lợi, họ không phải là “đảng cướp” thì là đảng gì!? Trong khi đó, khi họ nắm quyền thì những hứa hẹn bình đẳng, không có cảnh “người bóc lột người”… bị nhanh chóng bỏ quên, không thấy đâu. Đó là lý do tại sao chủ nghĩa CS sau khi tận diệt đối thủ và hy sinh bao nhiêu sinh mạng đồng đội, loay hoay không biết làm gì ngoài việc duy trì đảng để thỏa mãn tham vọng cá nhân! Đảng CS đành thất bại và tự sụp đổ nếu không chạy theo con đường Tư Bản mà họ cho là kẻ thù không đội trời chung, từng triệt để lên án!
Vậy chủ nghĩa CS ra đời với mục đích gì và đấu tranh cho ai!? Những người có lương tâm, nếu có lỡ theo CS thì cũng dần dần nhận ra điểm này, họ chính là những người bị lừa và căm hận CS hơn ai hết, họ là những người góp phần quan trọng trong việc lật đổ chế độ CS.
Nhạc sĩ Tô Hải, 84 tuổi, đã phải cay đắng viết bài “Phấn Đấu Ký Số 27: Phác Thảo Bản Tâm Thư Gỡ Rối Cho Mấy Vị Lãnh Đạo Đảng Cầm Quyền” nói về thời đấu tranh và xây dựng thiên đường CS ấy, trong có đoạn như sau:
Đã từ lâu, tôi, nhân danh một người đi theo đảng sớm hơn quý vị ít nhất ba bốn chục năm, được học tập rất bài bản về chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đấu tranh giai cấp giải phóng dân tộc, đã từng “hi sinh tất cả gia đình, cuộc sống, tài sản, học vấn, tương lai để ra đi chiến đấu mang lại cơm áo cho dân nghèo. “Gian khổ đi đầu, phú quý vinh hoa hưởng sau”… Vì những lí tưởng này, những loại người như tôi đã lao vào các cuộc chiến đấu với niềm tin vô bờ là “đấu tranh này là trận cuối cùng” để “bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình”.
Nhưng cũng chính vì những sự mù quáng bước theo cái con đường cách mạng vô sản… vu vơ này mà biết bao nhiêu bạn bè, bà con thân thuộc của chúng tôi đã mất nhà, mất ruộng, mất cửa hàng, xưởng thợ và… mất mạng luôn.
Chiến đấu không tiếc xương rơi máu đổ để xây nên một “xã hội… trại lính”. Ăn gì? Mặc gì? Đi đâu? Ở đâu? Sinh đẻ, tang ma, dựng vợ, gả chồng, cải táng ông bà cũng đều do nhà nước quy định cả!
Còn sản xuất, khi quốc hữu hóa thì thiếu từ cân gạo đến cái kim sợi chỉ… Nhớ lại cái thời kỳ “miền Bắc xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa chiếu cố miền Nam”, cái thời các vị chưa ra đời hoặc mới lên 5 lên 3 ấy mà… kinh! Thiếu thốn, đói khổ, chia nhau từng cân gạo mốc, lạng mỡ, lạng đường; bình bầu, tranh nhau ỏm tỏi một chiếc vỏ xe đạp… mà cuộc triển lãm không tiền khoáng hậu mấy năm trước về cái “thời kỳ bao cấp” ở Hà Nội đã thâm thuý điển hình hoá số phận của con người Xã Hội Chủ Nghĩa bằng những… cục gạch thay mình xếp hàng lãnh miếng ăn, bằng những tấm tem phiếu cắt ô bao cấp dầu, đậu phụ!…
Ngay từ những năm 1950, ở các nước châu Âu, người ta đã nhận diện ra chủ nghĩa Tư Bản không hề giẫy chết mà càng ngày càng hoàn thiện thì mặt thật của cái chủ nghĩa Cộng Sản siêu duy tâm, duy ý chí, vô nhân tính ngày càng ngày tự vạch trần! Vì cái “lý tưởng thế giới đại đồng”, họ đã sẵn sàng diệt luôn cả đồng loại, cả gia đình, vợ con thậm chí cả những người đồng chí của mình… Những vụ thanh trừng nhau ở ngay hệ thống đỉnh cao tại Nga, tại Tầu và cả tại Ta nữa, kể ra cả ngày không hết.
Nhất là từ khi cả khối Liên-Xô / Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa sụp đổ, mọi bí mật trong các hồ sơ lưu trữ được chính các nước này công bố ra thì… ngoan cố đến như Tầu cũng lẳng lặng bỏ tên, bỏ hình ảnh của 2 lão lãnh tụ “Thiên tai” (không có dấu huyền) Mác-Lê gớm ghiếc ấy ra khỏi các văn kiện, hội trường…! (gần đây sửa đổi điều lệ đảng Lao Động Triều Tiên, cha con họ Kim cũng ra lệnh…xóa nốt)!

Thế nên nhạc sĩ Tô Hải cũng đã viết bài đòi “Giải Tán Ngay Cái Đảng Cộng Sản Đi!”.
http://tohair.multiply.com/journal/item/31
http://baotoquoc.com/2010/11/09/gi%E1%BA%A3i-tan-ngay-cai-d%E1%BA%A3ng-c%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-di/

Nạn Nhân Của Đảng CSVN Là Ai?
Nạn nhân là tất cả người Việt, không chỉ những người bị đàn áp, bóc lột mà ngay chính kẻ đàn áp, bóc lột ấy cũng là nạn nhân của sự ngu dốt và tàn bạo của mình!
1- Người trí thức bị đàn áp, đánh đập, tù đầy!
2- Người lao động bị cai thầu cán bộ CS bóc lột!
3- Nông dân bị bán đứng ngay trên lưng của mình!
4- Ngư dân bị bỏ mặc cho quân Tàu trấn lột, hãm hại!
5- Người dân bị cướp đất, hầu như mất trắng!
6- Cán bộ sống xa hoa trong nguyền rủa của nhân dân!

10 Điều quốc nạn, quốc sỉ, quốc nhục
vì đảng CSVN!

1- Quốc tính: Tha hóa vì đảng xa rời văn hóa dân tộc và chạy theo chủ nghĩa CS.
2- Quốc chính: Đảo điên vì do nhóm người bất tài cực đoan độc chiếm.
3- Quốc sử: Ngụy tạo, đảng chỉ biết có đảng, coi thường tiền nhân và dân tộc.
4- Quốc thể: Ô nhục do gian manh, dối trá, buôn bán lao nô, dục nô.
5- Quốc khí: Suy vong do đảng độc tài chính trị, độc quyền yêu nước, nên dân chúng sinh ra vô cảm.
6- Quốc dân: Lầm than, đau khổ vì cán bộ dốt nát mà tham lam vô độ.
7- Quốc thổ: Mất mát do dâng đất, dâng biển cho TQ. Cho thuê đất dài hạn 50 năm ở 10 tỉnh phương Bắc.
8- Quốc chủ: Bị xâm hại trầm trọng, do đảng khuất phục trước TQ, nên mới có câu : “Hèn với giặc, ác với dân!”.
9- Quốc trí: Thấp kém do chính sách giáo dục nhồi sọ, ngu dân, phi thực tế, gian lận, bằng giả, bằng rởm.
10- Quốc gia: Tụt hậu cả 30-100 năm so với các nước chung quanh…

– – – – –

TỔNG KẾT 12 ĐẠI TỘI CỦA ĐẢNG CSVN
HÃY CÙNG NHAU XÂY DỰNG TỰ DO – DÂN CHỦ

1- Đảng CSVN được thành lập vào năm 1930 là theo chỉ thị của Đông Phương Bộ, Hồ Chí Minh chỉ là người thi hành. HCM là đảng viên CS Pháp, CS Quốc Tế, CS TQ, nhưng không hề từng tuyên thệ gia nhập đảng CSVN.
2- Đảng CSVN là chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế do Liên Xô chủ đạo, nên chỉ là tay sai thi hành đường lối đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng của CS Quốc Tế, tiếp tay bành trướng Chủ Nghĩa CS bằng dối trá và bạo lực, tiến hành “Cải Cách Ruộng Đất” long trời lở đất dã man năm 1953-1956, sát hại 172.008 người…
3- Đảng CSVN kêu gọi đánh Pháp nhưng đi đêm và rước Pháp vào qua Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946, rồi lại kêu gọi đánh đuổi Pháp gây cuộc chiến kéo dài 25 năm, trong khi với Phong Trào Giải Thực có 47 quốc gia được độc lập tương đối dễ dàng.
4- Đảng CSVN rước Mỹ vào qua nhóm điệp viên Mỹ OSS vào tháng 7/1945, được Mỹ giúp viết Tuyên Ngôn Độc Lập và Mỹ là quốc gia duy nhất hỗ trợ khi ra mắt Chính Phủ Lâm Thời ngày 2/9/1945… rồi kêu gọi đánh đuổi Mỹ, gây cuộc chiến kéo dài 21 năm.
5- Đảng CSVN chia đôi đất nước qua Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954, rồi dùng vũ lực cưỡng chiếm miền Nam, gây cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, rồi tự cho là có công thống nhất đất nước. Làm 3 triệu người phải đi tỵ nạn và khoảng 500.000 người bỏ mạng trong lúc vượt thoát trên đường biển hay trên đường bộ.
6- Đảng CSVN quy tụ hầu hết là thành phần ít học, thiển cận, thậm chí là cặn bã xã hội, chỉ biết dùng thủ đoạn và bạo lực, không có khả năng xây dựng đất nước như cố Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Đồng thú nhận: “Chúng tôi thắng trong chiến tranh, nhưng thua trong hòa bình.”.
7- Đảng CSVN vay nợ súng đạn của Trung Quốc khoảng 20 tỷ đô-la Mỹ, Liên Xô khoảng 9,6 tỷ đô-la Mỹ (7 tỷ Rúp) (trong khi miền Nam nhận khoảng 26 tỷ đô-la Mỹ viện trợ)… đưa lại di hại đến nay chưa hết! Đảng CSVN dâng cho TQ quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa năm 1958, khoảng 12.000 km vuông biển năm 2000 cũng như khoảng 720 km vuông đất biên giới năm 1999 và đang tiếp tục bị TQ chi phối nặng nề. Năm 1975, Mỹ vừa rút đi thì đảng CSVN dâng Cam Ranh cho Liên Xô cho đến khi Nga kiệt quệ phải tự rút về. Hiện mức nợ công của Việt Nam tổng cộng trên trên 100 tỷ đô-la Mỹ, trong khi ngân sách Quốc Gia chỉ khoảng 24-26 tỷ đô-la Mỹ, Quốc Phòng chi khoảng 3 tỷ đô-la Mỹ.
8- Đảng CSVN bao che cho nhau khiến tham nhũng trở thành “quốc nạn” (lời cựu Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải), hà hiếp và bóc lột nhân dân, không từ cái gì! (lời bà Phó Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Thị Doan). Độc quyền chia chác tài nguyên quốc gia, cho đảng viên tự do kinh doanh…, tạo khoảng cách giàu nghèo chưa từng có.
9- Đảng CSVN cũng như CS Quốc Tế thất bại trong cuộc tranh đua với Tư Bản – Dân Chủ. Khi không triệt hạ được Tư Bản, đảng CSVN quay ra độc quyền làm cai thầu đắc lực cho Tư Bản để bóc lột chính công nhân của mình, trong khi bóp nghẹt Công Đoàn tự do.
10- Đảng CSVN tự cho mình nắm độc quyền quản lý đất đai, rồi lợi dụng trưng thu, cướp đất của nhân dân, chia chác và dâng cho Tư Bản, gây ra khoảng 3 triệu dân oan! Chưa kể cho Trung Quốc., Đài Loan.. thuê 400.000 ha đất biên giới và sâu trong nội địa trong 50 năm.
11- Đảng CSVN là đảng độc tài toàn trị, trở thành “Tư Bản Đỏ”, dùng tài nguyên quốc gia để huy động lên tới khoảng 1.200.000 công an, chưa kể kết hợp “xã hội đỏ” (công an CS) và “xã hội đen” vốn cùng gốc để đàn áp nhân dân, duy trì chế độ bằng công an trị. Nay mỗi năm được biết ít nhất 15 người chết trong đồn công an mà công an vu cho là tự sát…!
12- Đảng CSVN bất chấp nguyên tắc dân chủ là “tam quyền phân lập”, dựng Quốc Hội bù nhìn, thực tế chỉ là “Đảng Hội” và cấm đoán “đệ tứ quyền là tự do ngôn luận”, ra tay đàn áp bắt giam khoảng 600 nhà đấu tranh yêu nước chống nội thù và ngoại thù, thành ra “Hèn với giặc, ác với dân!”.
– – –
Rõ ràng là những việc làm trên của đảng CSVN là ngu xuẩn, tàn bạo, vô ích mà quá tai hại, khiến khoảng 3-4 triệu người chết, dân tộc phân hóa, đạo đức băng hoại, tiềm năng đất nước cạn kiệt!
Đó là lý do tại sao cố Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt nói về ngày 30/4: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn.”.
Sau 30/4/1975, khi cuộc chiến bom đạn chấm dứt cũng là lúc người CS nhận ra chính họ mới là được giải phóng khỏi sự tuyên truyền lầm lạc chứ không phải đi giải phóng cho ai hết.
Đảng CSVN đang lung lay tận gốc rễ vì đảng viên thoái hoá, hủ bại và vì nhân dân đã mất tin tưởng đối với đảng, như đương kim Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã nói nhiều lần. Đảng CSVN không còn chỗ đứng trong lòng dân tộc, đảng viên CSVN, bộ đội, công an… muốn sống còn hãy đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết.
– – –
1- Nhân dân VN với chủ trương “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn” của Nguyễn Trãi, dùng truyền thống trung thực và đối kháng bất bạo động, vốn là điểm yếu của CS, để tấn công vào dối trá và bạo lực, chinh phục người lầm lạc và sẵn sàng dung thứ họ.
2- Nhân dân VN kêu gọi những người CS hãy quay về với chính nghĩa dân tộc, cùng chung tay với nhân dân xây dựng một nước VN hùng mạnh đáng tự hào, xứng đáng với vị thế địa lý chính trị của mình.
3- Nhân dân VN mãnh liệt tin tưởng chính nghĩa tất thắng, đất nước sẽ có ngày thực sự được độc lập và dân tộc sẽ có ngày thực sự làm chủ vận mệnh của mình, đi theo trào lưu chung của thế giới là tự do, dân chủ.
http://www.mediafire.com/view/8tsx8k04k1i9lct/Nhân_NGÀY_30-4_12_Đại_Tội_Của_Đảng_CSVN.docx
– – –
Nhân ngày 10/10/2014, ông Nguyễn Bá Chổi viết bài “Hà Nội 60 Năm: Giải Phóng Hay Tròng Vào Cổ?”, có đoạn:
Thời giặc Tây, tức Hà Nội chưa được “giải phóng”, dân Hà Nội có báo tư nhân để đọc; có hội này hội kia để tụ tập; có quyền biểu tình; muốn viết gì thì viết; có tòa án xử công minh; có giường đầy đủ cho người bệnh nằm; có bác sĩ không cần bì thư đựng “hồ sơ đầu tiên”; trẻ em đến trường nếu không được học miễn phí thì cũng chẳng phải đóng tiền xây dựng trường, tiền bồi dưỡng thầy cô; học sinh kém quá mới phải học thêm; thầy ra thầy trò ra trò trong tư cách, trình độ khả năng; người dân, ai có ruộng đất nhiều hay ít cũng là của mình do mình làm chủ; muốn ở đâu thì ở; nhà chùa không bị sư quốc doanh trụ trì, thuyết pháp; chủng viện không bị cán bộ vào dạy đạo… vô thần; gái đẹp Hà Thành không bị nhà nước dùng gài bẫy các vị tu hành; thời giặc Tây giang sơn biển đảo tổ quốc VN vẫn nguyên vẹn, nơi thờ tự chẳng bị ai lấy làm nhà kho; trong nề nếp gia phong chẳng con cái nào đi đấu tố mẹ cha, vợ đấu tố chồng…
Thời giặc Ta đương nhiên là phải trái với thời giặc Tây. Những “cải cách xã hội” mà cháu ngoan của bác đã và đang “ra sức thực hiện” trong 60 năm qua là hầu như hoàn toàn ngược lại với những điều trên đây khi Hà Nội chưa được giải phóng.
Đảng biết tỏng rằng dân Hà Nội bây giờ đã sáng mắt, nhìn thấy giặc nào đáng oánh hơn giặc nào nên hôm nay đã phải chi ra mấy trăm tỉ đồng dăng cờ xí, đốt pháo nổ hoa mắt thiên hạ chơi. Trong khi đảng đang ngửa tay ra ăn mày thế giới tiền xóa đói giảm nghèo, và khối người dân oan đang đi lêu bêu khắp ba miền đất nước, nổi bật nhất giữa Hà Nội, nơi được trần dân tiên hóa/ tự sướng là “thủ đô của phẩm giá con người” tối 9/10, đêm vọng “Ngày Hà Nội 60 năm giải phóng”.

http://danlambaovn.blogspot.jp/2014/10/ha-noi-60-nam-giai-phong-hay-trong-vao.html#more

Nhân 85 năm thành lập đảng CSVN
TBT Nguyễn Phú Trọng cho hay qua các cuộc chiến đã có khoảng 160.000 đảng viên CSNV hy sinh mà không nhắc tới 3-4 triệu dân Việt vì đảng CSVN mà chết oan uổng. Đảng CSVN tổ chức tự ca ngợi công lao của mình nhưng song song đó cũng phải thú nhận là đang phải đối đầu với những vấn đế sinh tử!
Ngày 12/1/2015, kết thúc Đại Hội Trung Ương Đảng X, trước tình trạng bế tắc kéo dài, TBT Nguyễn Phú Trọng nói: “Ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng, nạn tham nhũng là vấn đề sống còn của chế độ.”.
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chong-suy-thoai-tu-tuong-la-van-de-song-con-cua-dang-3142324.html
Ngày 28/1/2015, tại 1 cuộc hội thảo hôm do tạp chí Cộng Sản và Tỉnh Ủy Quảng Ninh tổ chức, các quan chức và học giả của đảng CSVN nói rằng “Đảng duy nhất có khả năng và được nhân dân giao phó trọng trách cầm quyền”.
Ngày 29/1/2015, Nguyễn Phú Trọng nói: “Cần làm rõ có hay không việc chạy chức, chạy quyền.” . Đúng là Trọng lú!
http://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-can-lam-ro-co-hay-khong-viec-chay-chuc-chay-quyen-380510.vov
– – –
Ngày 1/2/2015, đài BBC có bài: “Đảng Không Làm Được Cái Gì Hay Cho Đất Nước”, của Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, 1 nhà bất đồng chính kiến lão thành ở Hà Nội, người đã có nhiều năm sống và làm việc dưới thể chế xã hội chủ nghĩa, cho biết ông từng ngộ nhận về những điều mà đảng cho là công lao này, trong có đoạn:
Tôi đã có 1 thời trẻ và cho đến cách đây 10 năm vẫn thấy rằng đảng CSVN có công với đất nước, với dân tộc là đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập. Qua 1 quá trình, tôi nhận ra cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa. Đáng lẽ không nên xảy ra núi sông xương máu như vậy. Nhưng giờ này tôi cũng nhận ra là vô nghĩa… Không có nhân dân nào giao phó quyền lãnh đạo cho đảng cả. Đảng đem chủ nghĩa Mác-Lênin và các thứ tuyên truyền vào để lừa mị nhân dân.
Về khả năng sửa chữa những thiếu sót của đảng để đưa đất nước tiến lên, ông Giang cho là:
Nói mà không làm, không chịu làm, không muốn làm và không thể làm được. Đường lối của đảng CSVN là đẻ ra tham nhũng thì làm sao mà chống được tham nhũng? Đảng CSVN theo chủ nghĩa Mác-Lênin đẻ ra đủ thứ tham nhũng, ăn gian nói dối, nịnh nọt thì xã hội không thể nào khá lên được.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/02/150201_party_role_opinion
Theo ông Nguyễn Minh Cần – Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập đảng CSVN, chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại đảng CSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bổng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.
Thiết nghĩ có mấy điều đáng suy nghĩ sau đây:
Điều thứ nhất. Có thể nói không ngoa là rất hiếm có một đảng chính trị nào giống như ĐCSVN, coi khinh mạng con người hết sức rẻ rúng…
Điều thứ hai. Từ khi ra đời cho đến nay, 85 năm ròng rã, ĐCSVN đã tỏ rõ là một đảng vô cùng gian dối, thường xuyên dối trá, lừa gạt, chẳng những đối với địch, mà cả đối với dân, cả đối với đảng viên của đảng…
Điều thứ ba. ĐCSVN thực tế là 1 đảng độc tài toàn trị, phản dân chủ…
Điều thứ tư. Hãy nhìn lại trong 85 năm qua, ĐCSVN đã làm được gì cho dân, cho nước. ĐCSVN rất thích kể công về thời trước. Mà nhiều khi cái “công” đó chưa hẳn là công thật. Đảng thường tự hào là Đảng đã cướp được chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là “Cách Mạng Tháng Tám”. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức là ĐCS) đã cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp, mà là từ tay Chính Phủ Trần Trọng Kim…
Điểm thứ năm. ĐCSVN là 1 đảng rất bảo thủ, thủ cựu, muôn năm vẫn nhìn thế giới, nhìn Đất nước và Dân tộc qua cái lăng kính Marx-Lenin quá cũ kỹ và lệch lạc…

http://danlambaovn.blogspot.jp/2015/02/ban-chuyen-roi-bo-ang.html


“Thảm Họa Đỏ: Bộ Mặt Thật CSVN”
Ngày 11/1/2015 DVD “Thảm Họa Đỏ: Bộ Mặt Thật CSVN”, dài 90 phút, chính thức ra mắt đồng thời tại Little Saigon (HK), Toronto (Canada), Paris, (Pháp) và Sydney (Úc). Sau đó phổ biến khắp nơi trên thế giới.

ĐỖ THÔNG MINH

KÝ ỨC ĐÀ LẠT

nguyenvi

Rượu chảy tràn sao chưa chịu say
Ta ơi chán quá cái thân này
Làm thế nào tìm về chốn nhớ
Đà Lạt xưa mờ trong mưa bay.

Phố xá đêm nay chỉ còn sương
Co ro ký ức cóng trên đường
Quái quỷ thật làm sao nhớ nổi
Đà Lạt xưa hồn nhiên đến thương.

Vẫn đó đồi Cù, dinh Bảo Đại
Vẫn đây Thủy Tạ, hồ Xuân Hương
Suối Vàng, suối Bạc mơ màng chảy
Langbian mời gọi lên đường.

Vẫn đó Cam Ly tung sóng nhạc
Vẫn đây Prenn, thung lũng Tình Yêu
Đây bạn bè lời thơ tiếng hát
Rót mãi rồi ly cũng liêu xiêu.

Khuya cuộn mình bên trong Đỗ Gia
Đà Lạt xưa chợt tới vỡ òa
Cảm ơn đời rằng ta đã nhớ
Chịu ơn người ta vẫn là ta.

NGUYÊN VI

Lá me Sài Gòn

truongdinhtuan

nhốt em trong lá nguyên màu
mở ra xem thuở ban đầu long lanh

lá me xanh mắt diễm tình
lao đao mới biết chính mình bị giam
bị giam hương chữ thơm trang
mở ra xem cõi dung nhan tuyệt trù

lá me xanh chiều thiên thu
buồn dưng quán lạ mịt mù chiều nay

ghế xưa bàn cũ an bày
ly café đá lá bay vỉa hè

sài gòn mà thiếu hàng me
như anh thiếu bóng em che hiên đời…

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

DỐI TRÁ

sonnghi

Gia đình tôi luôn cố gắng duy trì được bữa ăn tối chung với nhau. Nửa giờ tuy ngắn ngủi nhưng quý giá vì đó là thời gian duy nhất trong ngày mọi thành viên trong gia đình đều có mặt. Ăn được miếng cơm ngon, chung quanh bàn cơm có ông bà, vợ chồng, con cái quây quần, chuyện trò vui vẻ là điều thú vị nhất trong một ngày.
Một buổi cơm tối như thường lệ, đang khi vợ chồng con cái chuyện trò rôm rả thì chuông điện thoại reo. Vì ngồi gần giá điện thoại nên tiện tay tôi bấm nút phóng thanh trên phôn (speakerphone) để trả lời. Thường thì tôi chẳng bao giờ bốc phôn trong bữa ăn vì “trời đánh còn tránh bữa ăn” huống gì một cú điện thoại vẩn vơ, trừ trường hợp nhìn thấy tên của người thân hiện ra trên khung cửa điện thoại. Thế mà hôm đó không hiểu tại sao tôi lại nhấn nút phôn để nói chuyện với một người xa lạ, một nhân viên chào hàng. Để kết thúc câu chuyện nhanh chóng, tôi vội trả lời là tôi chỉ là người ở trọ khi anh ta nói muốn nói chuyện với chủ nhà. Anh chàng Mỹ lịch sự nói cám ơn và cúp máy. Vì bật nút phóng thanh nên cuộc đối thoại cả nhà đều nghe rõ. Ngồi xuống ghế, tôi bình thản tiếp tục bữa ăn và bất chợt một trong hai đứa con tôi, lúc đó mới 10 tuổi, cất tiếng phê bình: Bố nói dối.
Tôi chưng hửng. Ngừng ăn, tôi ngẩn người và chợt nhận ra con tôi nói đúng. Tôi đã nói dối. Thật không ngờ chỉ vì muốn chấm dứt một chuyện không đâu mà tôi đã làm gương xấu trước mặt con cái. Tôi vội giải thích cho nó hiểu là lời nói dối của tôi không làm hại ai cả mà chỉ muốn chấm dứt câu chuyện một cách lịch sự, thế thôi. Tôi còn giải thích thêm, nếu lời nói dối mang sự thiệt hại đến cho kẻ khác thì mới có tội. Thằng bé ngồi trầm ngâm một lúc suy nghĩ về lời giải thích của tôi, rồi sau cùng nó buông thõng: bố vẫn nói dối. Có lẽ trong đầu óc non nớt của nó chưa hiểu được thế nào là lợi, thế nào là hại nên nó vẫn không chấp nhận lời giải thích (yếu ớt) của tôi. Đối với những đứa bé, hoặc là trắng, hoặc là đen, không có màu xám. Chân lý chỉ có một, không thể nửa vời. Nói dối, hoặc nói thật chứ không có luật trừ rằng đôi khi được nói dối.
Ngoài việc đứa con dạy tôi một bài học thật bất ngờ, tôi nghiệm ra rằng nền giáo dục ở Mỹ đã hun đúc trong tâm trí đứa bé phải biết tôn trọng sự thật và phải bảo vệ sự thật bằng mọi giá. Lời kết luận (kiên quyết) của đứa con là một bằng chứng hiển nhiên. Trường học Mỹ không có môn Công dân Giáo dục nhưng bài học vỡ lòng (nhất là các trường đạo) từ thuở mẫu giáo là luôn luôn nói thật. Nhà trường khuyến khích và đề cao việc tôn trọng sự thật. Câu chuyện cậu bé Washington lỡ chặt gãy cây đào và thú nhận với ông bố có đứa trẻ nào mà không biết. Câu chuyện tiếp tục rằng sau đó cậu bé Washington phải nhận lấy một hình phạt vì tội chặt gãy cây cho dù đã thú tội (nói thật). Như thế, cho dù sự thật mang đến thiệt hại cho chính bản thân nhưng vẫn phải tôn trọng sự thật. Có thể đây chỉ là một huyền thoại nhưng một bài học luân lý như thế thật đáng truyền tụng. Không riêng gì ở Mỹ, những đứa bé lớn lên ở bất cứ nơi nào trên thế giới này, kể cả những nước nghèo đói thiếu ăn như ở Phi châu, đều được dạy dỗ về sự thành thật.
Trước 75, những bài học luân lý trong cuốn Quốc văn Giáo khoa thư được giảng dạy trong suốt những năm ở bậc Tiểu học. Tôi còn nhớ rõ chuyện cái cân kể về một người buôn bán gian dối, làm một quả cân rỗng ruột dùng để cân khi bán và một quả cân nặng hơn bình thường dùng để cân khi mua. Có lần người này bổ quả cân ra và thấy ở giữa có một cục máu. Đồng tiền kiếm được qua việc mua rẻ bán đắt một cách gian dối là tiền máu.
Nói đến gian dối là nói đến lừa đảo, bịp bợm. Luân lý Giáo khoa thư cũng khuyên không nên nói dối dù rằng chẳng hại đến ai. Chuyện cậu bé giả có cháy nhà lừa gọi những người hàng xóm chạy đến giúp rồi lăn ra cười. Họ bị lừa nhiều lần nên khi cháy nhà thật chẳng ai đến giúp và kết quả là cả căn nhà bị cháy rụi.
Những đứa trẻ ở miền Nam trước 75 đều được dạy dỗ về sự thành thật, lòng hiếu thảo, yêu người…v..v… Còn xã hội ngày nay ở Việt nam dạy cho con trẻ thuở cắp sách đến trường thế nào? Ban đầu, hào khí chiến thắng của những người cọng sản nhẫn tâm gạt bỏ mọi tinh hoa giáo dục của miền Nam. Những cuốn sách giáo khoa, sách văn học, khảo cứu nằm lăn lóc ở vệ đường bán sỉ nhìn thấy thật đau lòng. Tôi có người dì họ ở ngoài Bắc chưa bao giờ gặp mặt, chưa một lần nói chuyện. Cả hai dì cháu chỉ biết nhau qua thư từ. Đó là một phụ nữ hiểu biết, tốt nghiệp khoa Văn tại Hà nội. Cả tủ sách văn học của tôi bỏ đi thì uổng quá, mà giấu mãi không được với những tên công an khu vực i-tờ nên tôi chuyển hết ra Bắc cho dì. Dĩ nhiên phải chuyển lén vì là đồ quốc cấm. Người dì rất cảm kích về những tác phẩm văn học nghệ thuật này, nhất là những truyện dịch của Leon Tolstoi. Để trả lễ, dì biếu lại tôi cuốn Triết học Mác-Lênin dày cộm (sic). Những tên nằm ở Bắc bộ phủ vào khoảng thời gian đầu mất nước mang nặng đầu óc của một Mao trạch Đông và có hành động cuồng dại của một Tần thủy Hoàng. Cái hào khí chiến thắng của một đạo quân từng đánh bại hai đế quốc Pháp và Mỹ (sic) đã đẩy những kẻ với trình độ sơ cấp lên trên hẳn đồng bào miền Nam bại trận. Vì thế, những cuốn sách văn học nằm ngổn ngang từng đống ở vỉa hè là điều dễ hiểu. Những bài học luân lý căn bản trong cuốn Giáo khoa thư cũng mang chung một số phận. Những câu chuyện vỡ lòng về luân lý dạy cho cả một thế hệ bé thơ hoàn toàn bị loại bỏ khỏi chương trình giảng dạy ở bậc Tiểu học và thay vào đó bằng những bài học dạy về lòng căm thù giai cấp đọc nghe đến lố bịch. Có lẽ không một nước cọng sản nào hiện hữu trên trái đất này lại nhẫn tâm gieo vào đầu óc trẻ thơ những tư tưởng giết người như ở Việt nam.
Xét cho cùng, họ dẹp bỏ là phải vì những tư tưởng gói ghém trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư hoàn toàn trái ngược với lý thuyết căn bản cọng sản. Đối với chủ thuyết cọng sản, sách lược là bạo lực, chiến lược là dối trá được che dấu khéo léo dưới danh từ tuyên truyền. Làm gì có thành thật đối với những kẻ ngồi trong Bắc bộ phủ. Bởi thế, dạy cho người dân thế nào là ngay thẳng thì chẳng khác nào họ tự bôi phân lên mặt họ. Chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tương tàn có “chính nghĩa”, mà mãi cho đến bây giờ họ vẫn vinh dự (hão) về cuộc chiến chống Mỹ, bọn cọng sản đã nhồi nhét trong óc đồng bào miền Bắc – kể cả những trẻ thơ – về một miền Nam sa đọa, khổ sở trong nghèo đói, tha hóa trong trụy lạc, lạc hậu về kiến thức, và kiệt quệ về kinh tế. Mới đây, một cán bộ (thức tỉnh) miền Bắc kể lại trên mạng (viet.no) rằng trong thời gian cao trào chống Mỹ Ngụy, theo tài liệu học tập từ trung ương đưa xuống thì tại miền Nam số lượng đàn bà làm đĩ lên đến hàng trăm vạn. Bây giờ ngồi so sánh con số mà đảng đưa ra thì vào thập niên 70 – với số dân 17 triệu toàn miền Nam – phần lớn đàn bà con gái ở phía bên kia vĩ tuyến đều phải bán trôn nuôi miệng; như thế mới phù hợp con số đảng đưa ra. Ông ta chua chát kết luận, con số đảng tuyên truyền thời đó hiểu ra (khá trễ) là phóng đại nhưng lại đúng với sự thật vào đầu thế kỷ 21 tại Việt nam.
Đảng cố tình nhào nặn ra một hình ảnh bệnh hoạn về miền Nam và đẩy mạnh công tác tuyên truyền hiệu quả đến nỗi cả miền Bắc bỗng thấy việc giải thoát đồng bào miền Nam khỏi ách nô lệ của đế quốc là một nhiệm vụ phải làm; chỉ vì đó cũng là đồng bào máu đỏ da vàng cả. Tầng lớp thanh niên thiếu nữ hăng say lên đường đi B để làm cái công việc giải phóng “cao cả” đó. Thế là một chiến dịch dối trá vĩ đại được hình thành ngay trong thâm cung của Bộ Chính trị và được tuyên truyền học tập rộng rãi trên khắp cõi miền Bắc. Trong suốt 21 năm, từ 1954 đến 1975, toàn bộ nhân dân miền Bắc từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở (trừ những kẻ đẻ ra chiến dịch nói dối) đều tin tưởng tuyệt đối rằng đó là những sự kiện có thật. Dân chúng ở hậu phương còn được dạy bảo phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo bẻ làm ba; một để lại miền Bắc, một đem vào miền Nam, và một giúp đồng bào Lào và Cao miên. Thật tội cho đồng bào ở miền Bắc, họ cống hiến tất cả bầu nhiệt huyết, hy sinh đến tận cùng những tình cảm riêng tư, để phục vụ cho một chiến dịch giải phóng bắt đầu bằng một sự lừa bịp vĩ đại. Phải nói là vĩ đại, vì chính những mỹ từ này mà biết bao thanh niên thiếu nữ phải sinh Bắc tử Nam.
Cho đến ngày 30/4/1975, khi bước vào một miền Nam hoa lệ, thành phố sầm uất, dân quê chất phác sống khá sung túc, trẻ con lễ phép (nhờ những bài học vỡ lòng trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư), thì những anh bộ đội mới vỡ lẽ ra là những điều họ được học tập trái ngược với thực tế. Những người cọng sản tuy (may mắn) chiếm được miền Nam nhưng đồng thời bộ mặt xảo trá của Bộ Chính trị lộ nguyên hình. Thường thì khi biết bị lừa, tâm lý chung của con người là cảm thấy tự ái bị tổn thương, uất hận và đâm ra oán ghét kẻ lừa bịp. Phải dùng chữ uất hận vì cả một thời thanh xuân đã bị chôn vùi dọc theo rừng Trường sơn; một phần thân thể bị bỏ lại chiến trường B; những ước mơ tầm thường của một đời người cũng bị hy sinh đến tận cùng.
Có hai biến cố để thử lửa thế hệ thanh niên Việt nam, kể cả giới trí thức. Thứ nhất là biến cố 30 tháng 4, 1975 khi họ khám phá ra một miền Nam hoàn toàn trái ngược với sự tuyên truyền của đảng. Biến cố này chỉ liên quan đến thanh niên miền Bắc. Thứ hai là ngày 9 tháng 12, 1991 khi thành trì Sô-viết chính thức tan rã, cáo chung một chủ nghĩa cọng sản không kèn không trống sau gần ¾ thế kỷ gieo rắc bao kinh hoàng cho nhân loại. Biến cố này liên quan đến thế hệ trẻ của cả nước. Cả hai biến cố này xác định rõ rệt ai là kẻ nói dối và ai là kẻ bị lừa.
Bị kẻ khác lừa mà không biết là bất trí. Khi biết bị lừa mà không có phản ứng (dù tiêu cực hay tích cực) là nhu nhược. Con người Việt nam không thể bất trí. Nhân dân Việt nam không bao giờ nhu nhược. Thế mà khi bộ mặt xảo trá của đảng cọng sản bị phơi bày vẫn không thấy một phản ứng – cho dù nhỏ nhoi – của bất cứ thành phần nhân dân miền Bắc nào, kể cả những kẻ mang danh là kẻ sĩ, gồm cả các giáo sư, bác sĩ, học giả..v..v.
Phân tích cho kỹ hiện tượng thụ động này, tôi nghĩ ra được vài điểm:
1. Lính bộ đội có trình độ học vấn thấp. Nói ra điều này tôi hoàn toàn không có ngụ ý chê bai mà chỉ nêu lên một sự thật. Những thanh niên thiếu nữ này nếu điều kiện cho phép chắc chắn tên tuổi của họ cũng được ghi danh trên bảng vàng như ai. Đúng ra, đảng không muốn thanh niên thiếu nữ miền Bắc học nhiều. Họ cố ý rút ngắn chương trình trung học trong những năm chiến tranh chỉ còn 10 năm (để mau ra chiến trường), trong khi học sinh miền Nam phải học đủ 12 năm và phải qua biết bao kỳ thi sát hạch để sàng lọc những người có khả năng học lên cao. Chỉ vì trình độ nhận thức thấp kém theo chính sách ngu dân của đảng nên tầng lớp thanh niên không cảm thấy uất hận khi bị lừa dối.
2. Tầng lớp cán bộ và bộ đội lóa mắt trước của cải miền Nam. Họ là những nông dân chân chất, nghe lời đảng đi “giải phóng” miền Nam khỏi ách đế quốc. Tài sản của họ ngoài căn nhà tranh vách đất, may ra được con trâu, dăm con gà. Hiếm khi họ ăn được bữa cơm không độn. Bước vào miền Nam thấy toàn cao ốc, nhà cửa khang trang, hàng tiêu dùng thừa mứa, họ bỗng đâm thèm khát hết mọi thứ; từ cây kim may cho đến chiếc bình tích giữ nước sôi. Phàm con người có ai không muốn hưởng thụ, sung sướng. Họ mong đem về Bắc một chiếc xe đạp, trên cổ tay đeo chiếc đồng hồ (made in Cholon cũng được), và trên vai lủng lẳng chiếc máy thu thanh. Ước mơ của những anh bộ đội ôi thật tầm thường nghĩ đến tội nghiệp. Đảng biết như thế nên cố tạo điều kiện cho những kẻ một thời nghe lời dụ dỗ của đảng bằng cách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, và nhiều trò cướp giật công khai khác, với mục đích gián tiếp buộc đồng bào miền Nam phải đem hết đồ dùng trong nhà ra bán dần ở chợ trời, cân bằng phần nào cán cân kinh tế giữa hai miền Nam Bắc trong thời hậu chiến. Trong khi đồng bào miền Nam tiêu tán dần sản nghiệp thì nhân dân miền Bắc bỗng được sở hữu chủ một vài thứ tiêu dùng mà cả đời họ chưa bao giờ (dám) nghĩ đến. Trong thời chiến, nhân dân miền Bắc tối đi ngủ gắng mơ được thấy bác Hồ và mãi đến năm 75, họ âm thầm gạt bác qua một bên để phấn khởi thay vào đó là giấc mơ đạp, đổng, và đài. Với giấc mơ hơn hai mươi năm bỗng trở thành hiện thực chỉ trong vài tháng, nhân dân miền Bắc bỗng đâm ra dễ dãi và chợt quên đi họ đã bị lừa.
3. Thành phần kẻ sĩ đã bị thuần hóa từ lâu, nhất là sau vụ Giai phẩm Nhân văn năm 1956, vụ bắt “những kẻ chống đảng” năm 1967. Còn biết bao vụ thanh trừng khác xảy ra nhan nhản trong suốt thời chiến tranh. Những chuyện mưu sát công khai, những chuyện đầu độc nghe được qua rỉ tai, từng ấy chuyện đủ khủng bố tinh thần của tầng lớp kẻ sĩ đến sợ hãi ngậm miệng. Với phương pháp trấn áp cực kỳ tàn độc, đảng thành công trong việc bào mòn lòng bất khuất của tầng lớp trí thức, nhận chìm khí phách truyền thống của cha ông. Thật tội cho họ, biết bị lừa mà đành phải cắn răng chịu đựng.
Chính vì những lý do đó mà trong muôn vàn kẻ chứng kiến cuộc “giải phóng”, tất cả đều nhận ra một chiến dịch bịp vĩ đại ngay sau khi vào thăm và tiếp xúc với đồng bào miền Nam, nhưng lại không mấy ai thổn thức lương tri, hoặc thắc mắc lấy một lời về sự dối trá của đảng cọng sản. Trừ hai người (ít ra là họ thú nhận như thế). Đó là bà Dương Thu Hương và ông Nguyễn khắc Toàn.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại là khi chứng kiến được sự sung túc của miền Nam, bà ngồi bệt xuống lề đường Nguyễn Huệ và khóc tức tưởi. Trong một bài viết, bà cho biết: Bà chợt nhận ra chân tướng của đảng cọng sản. Bà biết bà đã bị lừa khi hiến thân cả cuộc đời để thực hiện cái gọi là “giải phóng miền Nam”. Năm 1968, lúc bà vừa 21 tuổi, tuổi thiếu nữ tràn trề nhựa sống, bà từ chối ân huệ của đảng gửi đi du học (giấc mơ của tuổi trẻ miền Bắc) để lên đường vào Nam tham gia chiến dịch Tổng công kích Tết Mậu Thân. Quyết định dứt khoát vào Nam đi “giải phóng” cũng vì hoàn toàn tin tưởng vào sự tuyên truyền (nói dối) của đảng. Bà quyết dùng tài năng của một văn công để an ủi tinh thần cho những anh bộ đội trên đường chinh chiến gian khổ. Ôi! Bà khóc là phải lắm. Những giọt nước mắt uất ức xứng đáng chảy dài trên má vì sau bao nhiêu năm chiến đấu khổ cực để tàn phá những gì là ước mơ của toàn thể nhân dân miền Bắc. Xét cho cùng, cách mạng là đổi mới, là tìm một đường hướng tốt hơn hiện tại. Hóa ra không phải thế, người cọng sản chủ trương lột bỏ hết tất cả những gì gọi là tinh túy của cha ông để áp đặt một chính thể ngoại lại, những “luân lý” cọng sản, trong đó sự lừa dối được cổ võ rộng rãi trong tầng lớp nhân dân.
Năm 2006, nhà báo Nguyễn khắc Toàn, trong bài viết nhân ngày 30-4, với tựa đề: “Nhìn Lại Ba Mươi Năm Trước”, ông xác nhận: Cuộc chiến tranh “Huynh đệ tương tàn – nồi da nấu thịt” ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu. Ông lập lại những gì ông được học tập kỹ lưỡng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ: “Rằng đây là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai!?” “Rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Miền Nam khỏi ách kìm kẹp của Mỹ Ngụy và đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thiêng liêng…”, như bộ máy tuyên truyền vĩ đại ở miền Bắc hô hào ngày đêm!!!? Và như một số ít oi kẻ sĩ còn biết sỉ, ông nhận ra rằng: Tôi đối chiếu, so sánh với cuộc sống ở Hà nội và cả miền Bắc XHCN thì những thứ “Tự do dân chủ ” và đời sống khá giả ấy (ở miền Nam; chú thích của người viết) quả là một sự xa xỉ và hoàn toàn xa lạ đối với người dân miền Bắc. Kết luận của ông nghe thật đau lòng: Bi kịch lớn của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” đã tốn biết bao núi xương, sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng dân chủ, tự do, và một nền kinh tế thị trường đã từng tồn tại ở miền Nam VN trước năm 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu tranh để được đi lại đúng con đường này. (in đậm theo ý người viết)
Đi lại đúng con đường này nghĩa là theo con đường tự do của chủ nghĩa tư bản. Trong khi đó, Mác khẳng định chế độ tư bản sẽ dãy chết và toàn thế giới sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa cọng sản. Lênin thần thánh hóa mớ lý thuyết này, thêm vào “bạo lực cách mạng” để “vô sản các nước, đoàn kết lại!”, và Nga xuất cảng chủ thuyết của hai ông tây râu xồm ra các nước nhược tiểu. Bộ môn Triết học Mác-Lê được giảng dạy trong suốt những năm ở đại học, và những người cọng sản rất tự hào về những lý thuyết “tất thắng” trong cuốn sách dày cộm này. Bà dì họ mà tôi nói ở trên biếu tôi cuốn Triết học Mác-Lê; mở ra, ngay từ trang thứ nhất nổi rõ nét chữ của bà, tinh hoa duy nhất của nhân loại (sic). Với số tuổi mới trên 20, bà là một tiêu biểu cho thế hệ trẻ lớn lên ở miền Bắc, thuộc giới trí thức. Bà tin tưởng mãnh liệt vào mớ lý thuyết Mác-Lê, xem đó là tinh túy độc nhất của nền triết học Tây phương, cốt lõi của một cuộc cách mạng không thể tránh được trong lịch sử nhân loại. Tuổi trẻ Việt nam lớn lên cũng tin tưởng như thế, nghĩa là bên ngoài thành trì xã hội chủ nghĩa các nước tư bản đang ngắc ngoải, dân chúng ở các nước này đang sống ngất ngư, chỉ chờ chết. Họ cũng tin tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đang tiến đến bờ vực thẳm và chế độ cọng sản sẽ là chiếc thòng lọng siết cổ bọn đế quốc tư bản. Sự thật như thế nào? Mấy tay lãnh đạo cọng sản miệng nói xoen xoét như thế nhưng trong thâm tâm họ vẫn biết họ đang nói dối. Một trong những tay tổ cọng sản là ông Gorbachev đã thú nhận như thế.
Trong buổi thuyết trình vào ngày 12/3/2002 tại đại học Columbia (Hoa kỳ) với tựa đề “Russia: Today and the Future” (Nga sô: Hiện tại và Tương Lai), ông Gorbachev đã nêu rõ vấn đề dối trá của đảng cọng sản nhân dịp kỷ niệm 10 năm sau ngày sụp đổ của chế độ cọng sản nhờ chính sách đổi mới “perestroika” của ông. Ông nói vào thời điểm ông lên cầm quyền, khi các vệ tinh của Nga đang bay trên quỹ đạo, những cán bộ lãnh đạo chỉ bàn về vấn đề kem đánh răng, bột giặt..v..v.. nói chung chỉ là vấn đề hưởng thụ. Ông thêm: “những cán bộ đảng chỉ điều hành quốc gia với sự gian dối (in đậm theo ý người viết). Chúng tôi, trong số đó có tôi, từng nói ‘Tư bản đang đi đến sự huỷ diệt, trong khi chúng ta đang phát triển tốt đẹp’, lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là những lời tuyên truyền (nói dối, chú thích của người viết). Trên thực tế, quốc gia chúng tôi đang bị bỏ rơi đằng sau.”
Sự dối trá đã bám rễ trong tâm trí của những người cọng sản. Họ dùng bất cứ thủ đoạn nào để che dấu sự thật. Tất cả huyền thoại của một đảng cọng sản được trang bị bằng vũ khí bách chiến bách thắng (?) là chủ nghĩa Mác-Lê được bắt đầu bằng cuộc khởi hành xuống tàu đi Pháp của ông Hồ chí Minh. Trong khi ông đi tìm miếng cơm manh áo cho chính bản thân ông bằng cách gửi thư lên ông Bộ trưởng Thuộc địa Pháp xin được theo học ở trường thuộc địa để thành tài và có cơ hội phục vụ mẫu quốc thì đảng cọng sản lại nói ông xuống tàu để tìm đường cứu nước. Sau này, ông Hồ thấy nói dối như thế có lợi cho kế hoạch đánh bóng thân thế của ông nên ông không hề cải chính. Khi nắm trọn miền Bắc, ông Hồ lại dối trá bằng cách lấy bút hiệu Trần dân Tiên để tự viết tiểu sử mở đầu bằng câu: một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được? Ôi! Từ cổ chí kim, chưa thấy ai có được tính “khiêm tốn” như ông Hồ.
Bắt đầu từ chuyện tự viết tiểu sử bất hủ của ông Hồ để tuyên truyền rầm rộ trong đám nhân dân miền Bắc đói khổ, đảng cọng sản ngày càng nhận thấy “giá trị” của sự dối trá. Nó đánh lừa được đám dân chúng ít học, và họ sẵn sàng xả thân để đi đúng theo con đường mà đảng cọng sản muốn. Câu chuyện ngày xưa, mẹ thầy Tăng Sâm đang ngồi đan áo chợt có người chạy đến báo tin con bà đã giết người và đang bị quan huyện lùng bắt. Bà vẫn ngồi bình thản đan áo vì bà tin chắc chắn rằng đứa con không bao giờ làm những việc tầy trời như thế. Nhưng khi có người đến báo tin lần thứ ba thì bà đứng bật dậy và chạy trốn ngay khỏi nhà vì bà tin rằng quan quân thế nào cũng đến bắt cả bà. Một việc không có được lập đi lập lại chỉ mới ba lần mà đã có người tin thì huống gì những lời tuyên truyền của cọng sản được nhai đi nhai lại hàng trăm nghìn lần. Những lời tuyên truyền xuyên qua tai và găm vào óc của đám dân khốn cùng, ngay từ khi lọt lòng, trong mọi sinh hoạt từ sáng đến khuya, từ trường học đến công sở, trong nhà đến ngoài ngõ. Nó nói ra rả, cùng một luận điệu, cùng một ngôn từ, cũng một khuôn mẫu đến nỗi người ta nghĩ ngay đến cuộn băng từ tính, được phát thanh triệu lần như một. Vì thế, đồng bào miền Bắc cả tin vào đảng cọng sản cũng là điều dễ hiểu.
Trong một xã hội xảo ngôn, người dân bị bưng bít mọi sự thật thì những đứa trẻ lớn lên cũng tin đó là sự thật. Dĩ nhiên nhà trường không bảo thẳng những trẻ thơ phải nói dối nhưng sớm gieo vào đầu óc chúng những tư tưởng hận thù giai cấp; trong khi Luân lý Giáo khoa thư dạy phải yêu thương đồng loại. Thêm vào đó, đảng lại dạy chúng sớm biết nghi ngờ hết mọi người, ngay cả ông bà cha mẹ, để dám tố cáo những tư tưởng chống đối, phản cách mạng; còn Luân lý Giáo khoa thư lại dạy phải biết tôn kính những người già cả. Đây là một căn bệnh cố hữu của người cọng sản. Họ nghi ngờ tất cả, lúc nào cũng thấy địch chung quanh, và họ cho đó là “cảnh giác cách mạng”. Làng xã lại lập ra tổ “tam tam”, nghĩa là cứ ba nhà làm thành một tổ nhưng thật sự là dò xét, canh chừng lẫn nhau. Vì thế, ngay tại gia đình, mọi người đều kín miệng trong bất cứ chuyện gì, không để nhà bên cạnh biết việc trong nhà mình. Dân chúng sống mãi trong một bầu khí nghi kỵ, không dám tin ai, chẳng dám mở miệng nói với ai một điều gì thật trong lòng. Đảng cố ý biến cả nước thành nhân vật Tào Tháo thời Chiến quốc. Đã một thời, ở các làng Công giáo các cụ gặp nhau thường hỏi thăm, dạo này có khỏe không? Câu trả lời thường là, nhờ ơn Chúa, gia đình tôi vẫn bình thường. Sau năm 1954, câu trả lời chung nhất là, nhờ ơn bác và đảng, gia đình tôi vẫn bình thường. Biết mình đang nói dối nhưng vẫn phải nói, để sống còn. Ngay ở trong một xóm đạo, nơi mà đời sống tinh thần tương đối khá hơn ngoài xã hội, thế mà người dân còn phải nói dối thì huống gì bên ngoài lũy tre xanh, người ta còn dối trá đến đâu mà kể.
Những đứa trẻ miền Bắc lớn lên trong một khung cảnh dối trá đầy dẫy nghi ngờ như thế và dần dần chúng thấy dối trá là chuyện bình thường. Lớn lên, ra ngoài xã hội, chúng cũng nhận ra những điều thầy cô đứng trên bục giảng gân cổ tự hào về một xã hội cọng sản cũng chẳng đúng sự thật. Tôi còn nhớ năm 1975, lũ sinh viên gần ra trường chúng tôi được dồn vào giảng đường ở đại học Luật để học chính trị. Một giáo sư dạy Triết Mác-Lê từ Hà nội vào huênh hoang đứng trên bục giảng quả quyết rằng Nga đặt chân lên mặt trăng đầu tiên. Ngày lịch sử đó của cả nhân loại kể ra vẫn còn mới, vì chỉ cách đó mới 6 năm. Ban đầu chỉ nghe tiếng xầm xì nổi lên đâu đó; chỉ mấy phút sau cả giảng đường nhao nhao phản đối. Ông giáo sư đứng ngẩn người không hiểu (hoặc giả vờ không hiểu?) chuyện gì. Các tổ trưởng (cứ mười người có một tổ trưởng) yêu cầu chúng tôi yên lặng và hứa sẽ trình lên trên. Sau 15’ nghỉ giải lao, chính ông ta lên tiếng đính chính sự việc và nhìn nhận rằng Mỹ đã đưa người lên mặt trăng đầu tiên. Từ chuyện này, tôi nghiệm ra một điều, đảng cọng sản của ông nói dối hoặc chính ông nói dối. Vì nếu đó là sự thật, hoặc ít nhất đó là điều ông được biết và tin qua sách vở của đảng từ năm 1969 thì bằng mọi cách ông phải bảo vệ sự thật đó. Ông tin đó là sự thật vì lẽ đơn giản là ông đặt hết niềm tin vào đảng. Tôi không nghĩ một niềm tin trong 6 năm lại có thể bị sụp đổ chỉ sau 15’ phù du. Khi đính chính sự kiện lịch sử đó, vô tình ông đã chưởi thẳng vào mặt đảng cọng sản, gián tiếp tố cáo sự dối trá của đảng, mà chính ông (tôi nghĩ) phải là một đảng viên. Còn nếu đảng không dạy nói như thế, thì chính ông trong một phút say sưa với chủ thuyết Mác-Lê, mê mẩn thành trì Xô-viết, đã bốc đồng cho mấy ông tổ cọng sản đặt chân lên mặt trăng. Như thế, chính ông là người nói dối. Một người được xem là đại diện cho giới trí thức miền Bắc, có học vị, giảng dạy ở bậc đại học mà nói dối dễ dàng đến vậy thì quả thật con người cọng sản không còn liêm sỉ. Chưa kể đến chuyện ông ta dám khinh thường trình độ nhận thức của đám sinh viên miền Nam. Điều này tổn thương tự ái bọn sinh viên chúng tôi nhiều nhất. Từ khinh bỉ đám trí thức cọng sản miền Bắc đến tức giận vì tự ái, chúng tôi chỉ biết lặng lẽ nhìn nhau thở dài.
Trừ những đứa trẻ lớn lên ở làng xóm giữ gìn một nếp sống tôn giáo nghiêm nhặt, hoặc sinh trưởng trong một gia đình nho học, và cha mẹ còn biết giữ lấy nho phong, tay quyết không nhúng chàm, còn lại phần lớn những đứa trẻ này bước vào đời đều què quặt về mặt luân lý. Chúng không được trang bị những giá trị luân lý căn bản của lòng Nhân, của tâm hồn Lễ Nghĩa, và của cách hành xử Trí Tín. Hành trang của chúng là trái tim chất chứa hận thù giai cấp, tâm hồn đầy dẫy nghi ngờ và trí óc với mớ kiến thức khá chừng mực. Ủy viên Trung ương đảng Trần bạch Đằng, năm 1977, phải nhìn nhận con nít miền Nam lễ phép hơn con nít ở miền Bắc. Nhưng đức Lễ này thảm thương thay đã chấm dứt ngay sau năm 1975 vì đảng cọng sản đã áp dụng chính sách ngu dân (con cái trong chế độ cũ không được học lên cao) và áp đặt nền giáo dục phi luân lý cho con em miền Nam. Thế là nguyên cả một thế hệ đầu tiên thời hậu chiến sống mất kỷ cương, lững thững đặt chân xuống cuộc đời với nhiều gương xấu của cha ông, trong đó sự dối trá nổi bật hơn hết.
May mắn thay cho lớp trẻ thời hậu chiến là tôn giáo vẫn còn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong xã hội từ Nam chí Bắc. Nhà thờ, chùa chiền, thánh thất vẫn là nơi dạy dỗ và cổ võ một nền luân lý truyền thống của cha ông. Vai trò của các linh mục, sơ, thượng tọa và các thầy chưa bao giờ bức thiết bằng lúc này, khi đất nước ngả nghiêng trong hỗn loạn luân lý, khi tuổi trẻ đang mất dần định hướng. Tôn giáo có tác dụng như một cái phanh, kìm giữ một tuổi trẻ bơ vơ đang lao mình xuống vực thẳm của vật chất, thản nhiên buông thả mọi giá trị tinh thần. Sự giằng co giữa tôn giáo và xã hội xem ra khá quyết liệt và tôn giáo đôi lúc phải ngậm ngùi nhìn tuổi trẻ Việt nam đang lún ngày càng sâu vào vũng lầy của cuộc đời. Tôi có người bạn nhân chuyến về thăm địa phận Nha trang kể lại rằng, các tu sinh (những người đang tập sự trong đời sống tu trì để trở thành linh mục) vẫn thản nhiên nói dối không ngượng ngùng. Người bạn đơn cử một thí dụ (theo lời tâm sự của cha Bề trên), khi ngài hỏi một tu sinh đã quét nhà chưa, anh ta trả lời đã quét rồi, nhưng ngài biết là anh ta chưa làm; khi hỏi gặng thì anh ta nói là sẽ làm. Thật rõ ràng ngay lúc trả lời anh đã nói dối. Nên biết thêm, những tu sinh này đã được tuyển chọn trong muôn ngàn kẻ muốn dâng mình cho Chúa. Họ là những người đã được sàng lọc, thế mà bụi trần vẫn còn vướng trên áo, ngấm trong tim và lộ ra trong câu nói.
Ngày 27/4/2006, nhân chuyến đi Rôma về, Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn đã chuyện vãn với giới Liên Tu sĩ của Tổng Giáo phận Sàigòn. Trong buổi chia sẻ với khoảng 60 đại diện của các Dòng Tu và Tu hội nam nữ, ngài kể lại chuyến đi Rôma, đồng thời đưa ra một vài đề nghị về tu sinh. ĐHY Mẫn nói, “Liên quan đến Chủng viện, bây giờ có đề nghị năm thứ nhất của chủng viện làm năm tu đức để rửa sạch bụi đời và trau dồi những khả năng cần thiết khác. Vì nhiều chủng sinh đã học đại học mà viết một câu tiếng Việt cũng không rồi. Bên cạnh thiện chí, còn có nhiều chuyện khác không lành mạnh đi vào tâm thức của những người trẻ nhập tu. Do đó, phải đào tạo cho các chủng sinh có ý hướng ngay lành, có kỹ năng đáp trả Ơn Gọi, có khả năng bỏ mình vác thập giá. Tôi cảm nghiệm điều này hết sức sâu xa: phải bỏ thói đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối. Vì cả xã hội đã như vậy rồi.” (in đậm theo ý người viết), (LM. Nguyễn văn Khải, D.C.C.T., lược ghi)
Nhận xét của ĐHY Mẫn phản ảnh một sự thật phũ phàng ở xã hội Việt nam ngày nay. Sự dối trá đã bao trùm trong mọi sinh hoạt của người dân. Tuổi trẻ từ nhỏ đã không được thấm nhuần tinh thần Luân lý Giáo khoa thư, khi lớn lên bước vào công sở cũng gặp những cảnh dối trá lươn lẹo của lớp cha ông, thì dĩ nhiên chúng cũng phải sống dối trá lươn lẹo cho phù hợp. Ở ống thì dài, ở bầu thì tròn. Nói dối và ăn cắp là hai thói xấu phổ biến ở những công ty quốc doanh. Trong thời bao cấp, công nhân ra sức bòn mót của công. Trước hết vì công nhân quá nghèo, hai nữa là vì mồ cha chung không ai khóc. Lấy được cứ lấy, lỗ lã đã có nhà nước lo. Cấp dưới làm láo báo cáo hay vì để làm vừa lòng cấp trên. Còn cấp trên chỉ là những người trưởng thành trong khói lửa, không có lấy một chút kiến thức nào về điều hành, về quản lý nhưng lại muốn giữ bổng lộc của nhà nước. Ôi! Chưa bao giờ câu nói của Hoài Nam Tử từ mấy nghìn năm trước lại có ý nghĩa đến thế: “Trên đời có ba đại họa, đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn.” Những người cọng sản mang danh là lãnh đạo ở nước Việt nam hiện nay, từ các cơ quan hành chánh đến những bộ phận của đảng, đều mắc phải những đại họa này.
Người cọng sản nào ở bất cứ nơi nào trên trái đất này đều xem sự gian dối là phương tiện để sống còn. Từ mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, luôn luôn thấy sự dối trá. Họ nói dối dễ dàng, như người ta ăn một bát cơm ngon. Mãi rồi sự dối trá thấm nhuần vào máu, hễ ngồi xuống để bàn chuyện, lập tức trong tâm tư của họ phải nghĩ ngay đến việc phải che dấu sự thật, làm thế nào để nói dối thật hay, hầu qua mặt được người dân, hoặc con mắt quan sát quốc tế. Tôi có người bạn nói đùa rằng Thế Vận Hội không có môn thi nói dối, và nếu có chắc chắn bọn cọng sản sẽ chiếm hết cả ba huy chương, vàng, bạc, và đồng. Tôi bật cười nhưng nghĩ quả không ngoa.
Mới đây, báo Tuổi trẻ trong nước đưa tin về chuyện các quan cọng sản nói dối bên Tàu. Sự thật giới quan trường một số địa phương ở Trung Quốc đã tồn tại một “dây chuyền nói dối”: quan làng nói dối quan xã, quan xã nói dối quan huyện, cứ thế nói dối lên trên. Ý kiến cư dân mạng tham gia “Diễn đàn nhân dân Trung Quốc” trên hệ thống Nhân Dân Nhật Báo tập trung tóm tắt mấy điểm sau:
Thứ nhất, các quan chức có tội, có sai lầm nhưng vẫn muốn giữ ghế.
Thứ hai, một số quan chức cho rằng muốn thăng quan tiến chức nhanh để mưu lợi nhiều hơn thì dùng các “kế hoạch nói dối”.
Thứ ba, một số quan chức bản thân sa đọa hưởng lạc nhưng cố tạo ra hình tượng “trong sạch”.
Thứ tư, có những lãnh đạo cấp trên thích nghe cấp dưới nói dối, bởi những thành tích của cấp dưới làm tăng thành tích của cấp trên. Cấp trên thích, cấp dưới ăn theo. Ở một số nơi, phong khí quan trường bất chính, lãnh đạo thích nhiều công nên chỉ thích nghe thành tích, không thích nghe khuyết điểm, do đó cấp dưới tha hồ nói dối. Ở một địa phương mà trò nói dối “thịnh hành” thì người nói thật sẽ gặp rủi ro lớn.
Bây giờ đổi tên Tàu thành Việt nam thì câu chuyện trên của các quan cọng sản ở trong nước cũng y chang. Cũng từng ấy lý do mà nói dối. Ôi! Còn gì đau đớn hơn khi tuổi trẻ Việt nam lớn lên trong một xã hội đầy dẫy những dối trá và họ phải uốn mình theo dòng đời để mưu sinh, kiếm sống. Một đất nước Việt nam như thế thì làm sao xây dựng cho thật sự phú cường, hạnh phúc.
Chiến dịch trăm năm trồng người của Quản Trọng (không phải ý ông Hồ đâu nhé!) bức thiết hơn bao giờ. Cần phải tôn trọng những luân lý trong cuốn Giáo khoa thư. Cần phải cổ võ một nền luân lý căn bản cho con em ngay từ thuở cắp sách đến trường. Phải làm ngay từ bây giờ và cũng phải mất nhiều thế hệ mới lấy lại được thăng bằng luân lý cho xã hội Việt nam.
Trễ nhưng vẫn còn hơn không.

 

SƠN NGHỊ

Trở Lại Gánh Xiếc

nguyenmonggiac

Tôi do dự khá lâu mới lấy đủ bạo bước vào trụ sở Hội văn nghệ. Khuôn viên rộng có thảm cỏ xanh và bóng cổ thụ. Biệt thự giữ vẻ bên ngoài cổ kính nhưng bên trong đầy đủ tiện nghi của cuộc sống Mỹ: máy điều hòa không khí, bộ salon uy nghi đồ sộ bọc nhung, tranh tĩnh vật, nền trải thảm len mầu rêu… Hình như đây đúng là biệt thự của bà mẹ ông Thiệu. Giữa phòng khách mênh mông có kê hai cái bàn gỗ ván ép có lẽ được khuân từ nhà bếp lên. Hai cán bộ mặc quần áo bộ đội ngồi tiếp khách trên ghế dựa gỗ cẩm lai. Một chân họ đè lên chiếc dép râu, chân kia gác lên ghế theo thói quen đặc biệt ở rừng.

Người ngồi bên phải cắm cúi viết, trước mặt có ba bốn người khách ăn mặc kiểu thành phố đang ngoan ngoãn chờ.

Tôi tiến về phía bàn bên trái vì cán bộ giữ phận sự đăng ký đang tươi cười tiếp chuyện một anh ca sĩ tôi có quen.

Anh cán bộ rít một hơi thuốc lào rồi ngửng lên hỏi tôi:

– Chắc anh đến đăng ký?

Tôi nuốt nước bọt rồi đáp:

– Vâng.

Anh cán bộ ngồi ngay ngắn trở lại như chuẩn bị viết, hỏi tôi:

– Anh ở ngành nào?

Tôi ấp úng chưa biết trả lời sao cho đúng. Anh ca sĩ chen vào nói:

– Ông ấy chuyên làm xiếc đấy mà! Ðột nhiên tôi nổi giận. Tôi cãi lại:

– Không! Tôi là nhạc sĩ chuyên đàn vĩ cầm. Anh ca sĩ không chịu nhượng bộ:

– Tôi chỉ thấy anh chuyên làm xiếc ở các đại nhạc hội. Không phải anh thường lộn ngược người trồng chuối trên cái gối đỏ để kéo vĩ cầm hay sao? Kia kìa, anh vẫn còn giữ hai cái kim găm ở ống quần. Tôi nói có sai đâu!

Tôi đau đớn vì hổ thẹn. Nếu có thể độn thổ được như trong chuyện Phong Thần, có lẽ tôi đã làm rồi. Phải. Anh bạn ca sĩ nói đúng. Trước đây tôi kiếm ăn bằng nghề làm xiếc. Tuy tôi có kéo vĩ cầm đấy nhưng cái thế trồng chuối lạ mắt lúc đàn, không thể chối cãi được, đúng là tiết mục xiếc. Tôi có muốn thế đâu! Tôi đã từng nổi tiếng thần đồng âm nhạc ngay từ tấm bé. Sáu tuổi tôi đã chơi vĩ cầm cho giàn nhạc giao hưởng thành phố. Bảy tuổi, cả giàn nhạc gần 40 người đệm đàn cho tôi độc táu. Tám tuổi, tên tôi viết lớn bằng chữ đỏ trên các bích chương quảng cáo, ngay bên cạnh tên Chopin, Beethoven, Bach. Rồi những đêm lạc phúc bất tận với chiếc áo đuôi tôm kim tuyến và những vòng hoa. Danh vọng, tiền bạc đến với tôi quá sớm. Nhưng càng lớn lên, tôi càng thua thiệt. Tôi chỉ là thần đồng âm nhạc khi ôm chiếc đàn bé bỏng đi lạc vào thế giới người lớn và nhắm mắt say đắm với tác phẩm các thiên tài. Khi đã lớn lên rồi, tôi trở thành tầm thường không có gì đáng chú ý. Vì vậy tôi đã phải tìm cách để thỏa mãn óc hiếu kỳ quái ác của khán giả. Bao nhiêu năm trời tôi âm thầm chịu đựng đau đớn, nhiều hôm nước mắt ràn rụa ướt trán để cắn răng trồng chuối lên chiếc gối đỏ và tiếp tục đàn vĩ cầm. Năm 17 tuổi tôi “tái xuất giang hồ” và lại được hoan nghênh như một tài tử xiếc. Khổ nỗi khán giả lại mau nhàm cái trò lạ của tôi. Diễn lần thứ 20, khán giả còn vỗ tay. Diễn lần 30, vỗ tay rời rạc chen lẫn tiếng huýt sáo. Ðến lần thứ 40 thì bị la ó. Tôi lại cắn răng chịu đau đớn tìm trò lạ mới, và trước hôm “giải phóng”, tôi trình diễn ở đại nhạc hội tiết mục cuối cùng: vừa trồng chuối để tấu nhạc Chopin, vừa dùng hai bàn chân chuyền một quả bong bóng ngũ sắc. Thói quen dùng kim găm chặt ống quần vào bít tất là méo mó nghề nghiệp do phải lộn đầu làm xiếc lâu năm của tôi. Ngoài các buổi trình diễn, tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để làm trò chào hàng các ông chủ rạp hát béo phệ. Hai cái kim găm từ lâu trở thành đồ nghề của tôi, như chiếc vĩ cầm và cái gối nhung đỏ. Trời hỡi! Tại sao đúng vào hôm nay, hôm đến đăng ký ở hội văn nghệ giải phóng để sinh hoạt như một nhạc sĩ vĩ cầm, tôi lại hớ hênh găm thêm hai chiếc kim định mệnh.

Anh ca sĩ vẫn mỉm cười chế giễu tôi. Anh cán bộ kiên nhẫn dừng bút chờ đợi. Tôi cố vớt vát lần cuối khi phân bua:

– Tuy tôi phải lộn đầu làm xiếc vì cơm áo, nhưng ý nghĩa đời tôi, niềm kiêu hãnh thầm lặng của tôi là cây đàn. Hai chân tôi chuyền quả bóng, nhưng hồn tôi giao trọn cho âm nhạc. Tôi là nhạc sĩ, tôi không phải là anh hề gánh xiếc. Anh cán bộ suy nghĩ một lúc, rồi chậm rãi nói:

– Như vậy thì anh nên đăng ký vào phân hội âm nhạc. Tôi mừng quá, suýt chút nữa lộn ngược trồng chuối để cảm ơn anh cán bộ như đã từng làm để cảm ơn mấy ông chủ béo phệ, tôi dừng lại kịp. Tôi khỏi phải chào hàng ai nữa. Từ đây tôi có thể yên tâm nghiêng đầu bên cây đàn vĩ cầm yêu dấu của tôi, để nghe những lời tâm sự thầm thì của Bach!”
Ðọc xong truyện ngắn đăng năm 1976 trên tạp chí văn nghệ thành phố, chàng bồi hồi tiếc nuối. Tiếc cái gì, chàng chưa định rõ. Có cái gì đẹp lắm của quá khứ đã tan đi, như một lần chàng vô tình gặp lại người yêu đầu đời với một nhan sắc đã tàn phai.

Người đàn ông trước mặt vẫn kiên nhẫn đợi. Chàng nhìn kỹ người khách lạ lần nữa. Tóc hoa râm, khuôn mặt hốc hác và nụ cười vừa khinh miệt vừa cay đắng. Ông ta đến đây làm gì? Tại sao ông ta mang tờ tạp chí cũ đến khẩn khoản xin chàng đọc lại cái truyện cũ của chàng! Khách lạ không chờ thêm được nữa, lên tiếng hỏi:

– Ông chưa nhận ra tôi ư?

Chàng ngập ngừng, nói lơ mơ:

– Tôi nhận ra chứ, nhưng không ngờ qua mới có mấy năm…

Khách lạ mừng rỡ cắt lời chàng:

– Phải. Ông không ngờ mà tôi cũng không ngờ. Tôi già đi nhiều. Ông không nhận ra cũng phải. Năm 1975 lúc tôi kể chuyện mình để ông viết truyện ngắn này, tóc tôi còn xanh. “À, té ra thế. Tôi nhớ ra rồi”. Chàng thầm nghĩ. Nhìn kỹ khách lạ lần nữa, chàng bắt đầu nhận ra đôi mắt ấy, cái hàm bạnh vì “lao lực” ấy, nụ cười ấy… Chàng nhìn xuống ống quần người khách. Ông ta hiểu, hỏi chàng:

– Ông tìm đôi kim găm chứ gì?

Bị bắt quả tang lúc đang làm một việc thiếu tế nhị, chàng bối rối đỏ mặt. Ông nhạc sĩ vĩ cầm xua tay nói:

– Ông khỏi cần áy náy. Tuy tôi không cẩn thận cài kim vào ống quần, nhưng tôi vẫn làm xiếc đấy. Không chờ chàng hỏi, ông ta tiếp:

– Hồi ấy tôi sinh hoạt bên ngành nhạc một thời gian, sau đó “phòng tổ chức” khuyên tôi nên trở lại ngành xiếc. Vì ở đâu cũng là phục vụ, tôi vâng theo.

Chàng hỏi:

– Ông vẫn biểu diễn tiết mục nhồi banh đấy chứ?

– Không. Tôi tưởng khi không tìm thấy đôi kim găm, ông đã đoán ra. Gần đây tôi biểu diễn mục “vừa đi dây vừa kéo đàn”. Chán lắm, tuy các anh bên Tuyên huấn rất bằng lòng.

– Vì sao chán ạ?

– Trồng chuối tuy đau đầu nhưng còn có đôi chân giữ thăng bằng, mình chủ động được. Ði dây thì phải luôn luôn hồi hộp lo lắng, như mộng du giữa phải trái, thực giả, trong lúc đôi tay bận bịu với cây đàn. Tôi xanh xao sa sút đến thảm hại vì vậy. Tôi đến đây để xin ông chắp thêm cho cái truyện cũ một cái đuôi. Tôi van ông, chịu khó viết thêm cho. Nếu không, tôi phải mang tiếng là người dối trá.

Thấy ông khẩn khoản quá, chàng làm vừa lòng ông ta vậy!

Nguyễn Mộng Giác

GIẢI TRẮNG

ttl

Nơi đây trời vẫn thế
Mây bốn mùa xanh xao
Mộng về trong giấc ngủ
Thuở mơ xưa ngọt ngào

Hỡi quê nhà im gió
Em có buồn hơn xưa
Vài nụ quỳnh thuở nọ
Rồi cũng mềm trong mưa

Ôi quê nhà xa khuất
Từng đêm đong nhớ thương
Nhớ lời ru mẹ ngọt
Còn đâu dấu thiên đường

Ta theo loài chim biển
Bay nặng cõi trời mơ
Lối nào đen ảo ảnh
Đời không một chút thơ

Ta nghe từng tiếng sóng
Em khuya khoắt hoài mong
Ta nhặt từng vệt nắng
Đời khô những cánh đồng

Đã qua ngày hạnh phúc
Hằn in trên vai mang
Rồi một mai trở giấc
Đau xót giữa trần gian

Chẳng biết đâu là mộng
Trải lên đời tha hương
Ta xa em tuyệt vọng
Đời buồn giăng khói sương
( Khuất lối về yêu dấu…)

Nơi đây ngày cũng muộn
Như thiên mệnh hằng ghi
Những phận người nhuốm bệnh
Gắng cười trong bước đi

Đời tay mang giải trắng
Ngựa rong ruỗi kinh kỳ
Đợi chờ cơn trốt đắng
Này thiên duyên ,thiên di

Ta cười che tiếng khóc
( Phải lời nguyền dân Chiêm)
Trần gian đành bão lốc
Hề chi đời lưu vong !!!

( Bataan, Đất Khách 20/3/1982
Vô tổ quốc
Vô gia cư
Vô gia đình
Nhưng
Có giáo dục…)

T.T.L.

HẬN HOÀNG SA

khuatdau

Hoàng Sa! Hoàng Sa! Đây Hoàng Sa!
Một chùm đảo ngọc lắm phong ba
Sóng thét gió gào mây lớp lớp
Trời nghiêng nước đổ mịt mù xa
Soái hạm gầm gừ cưỡi lên sóng
Xé gió mà đi!
Ngụy Văn Thà!
Một thưở xứng danh là hạm trưởng
Hỏa tốc! lên đường cứu đảo xa
Vợ đành coi như hạt bụi
Con đành coi như cỏ hoa
Tóc ở trên đầu đều dựng ngược
Máu chảy tràn tim sắp vọt ra
Giận giặc Tàu ô quân cướp nước
Hận của nghìn năm quyết chẳng tha
Đạn đã lên nòng chờ khai hỏa
Đảo chìm đảo nổi của riêng ta
Bắn! Bắn!
Tàu địch nổ tung thành xác pháo
Một chiếc rồi hai chúng ngỡ ngàng
Nhưng chúng nhiều tàu và lắm đạn
Soái hạm của ta cũng vỡ toang
Ngực anh đạn xé không thấy máu
Chỉ thấy tim anh nhảy phập phồng
Anh vẫn ban ra khẩu lệnh cuối
Bỏ tàu! Bỏ tàu!
(Anh thì không).
Bao nhiêu chiến sĩ rơi nước mắt
Anh chết cùng tàu giữa biển Đông.

Bốn mốt năm rồi nằm đáy biển
Còn nghe sóng vỗ giữa mênh mông
Còn nghe tiếng khóc ba con nhỏ
Uất nghẹn trời cao vợ khóc chồng.
Uất nghẹn cùng anh bao chiến sĩ
Theo anh xuống tận hải mộ quan
Mà lũ ôm chân Tàu cộng đỏ
Vẫn kêu là ngụy rất sỗ sàng
Nhưng cả nước viết hoa chữ Ngụy
Những trang xanh lấp lánh sử vàng
Tất cả các anh cùng một họ
Ngụy Văn Thà, Ngụy Văn Việt Nam!

28/02/2015
Khuất Đẩu

ẢO M Ộ N G

phamngoclu

Ân tình mấy phen chưa khiếp
Sao đời còn lụy khói sương
Chưa đắm ba đào nhan sắc
Sao lòng rực rỡ tai ương !

Tô chi màu son huyết dụ
Cười lên rớm máu nỗi buồn
Vẽ chi đôi quầng mắt biếc
Nhìn lên thăm thẳm trùng dương
Tóc xanh không xanh màu biển
Mà đa tình gió ngàn phương
Xiêm y phất phơ tà mộng
Mơn man bờ cõi hoang đường
Em về bên ta lãng đãng
Đêm nao thao thức mùi hương
Hoa quỳnh băn khoăn chưa nở
Trăng xuân mọc chậm không tròn
Chim khuya mơ màng quên ngủ
Bướm khuya vỗ cánh chập chờn
Em về bên ta mờ tỏ
Môi khô huyết dụ mù son
Mắt xanh ngàn trùng mây gió
Liêu trai mái tóc mù sương
Thực hư bàn tay khói lượn
Mời ta chén rượu quỳnh tương
Trao ta nỗi lòng cô phụ
Khóc ta tiếng khóc đoạn trường
Kể chi vần thơ mắc nợ
Đau lòng nghiệp dĩ văn chương
Xui chi thuyền quyên gặp gỡ
Xót xa quân tử cùng đường
Ta về căm thù Số mệnh
Bay lên tra hỏi Càn Khôn

Rơi xuống vực sâu vô vọng
Tan ra dòng nước sông Tương
Nhấp nhô ba đào nhan sắc
Dìm ta xuống đáy đau thương !
Đêm nay em không về nữa
Ân tình trao gió viễn phương
Đã đành lòng em sấp ngửa
Còn bày gieo quẻ âm dương
Quẻ rằng, “bèo mây tan hợp”
Cắn môi rớm máu nỗi buồn
Chớp mắt tan tành ảo mộng
Lòng ta lộng lẫy tai ương !

Mai kia đất trời hiu quạnh
Thơ ta nằm chết trần truồng
Hoa quỳnh không bao giờ nở
Vầng trăng vàng vọt héo mòn
Mai kia ngàn thu tái ngộ
Khóc cười kể chuyện khói sương
Chút tình phù du một thuở
Chép thành tình sử ngàn chương…

PHẠM NGỌC LƯ