ĐẤT MẸ – THỜI CHINH CHIẾN

Cất tiếng khóc đầu nôi thời chinh chiến
Con chào đời trên đất Mẹ thân yêu
Nơi quê nhà cảnh lửa đạn đìu hiu
Mắt ngấn lệ lời ru khuya trăn trở

Hỏa châu sáng chói lòa hơn trăng tỏ
Soi mái đầu xám đậm tựa màu tro
Tiếng ầu ơ trĩu nặng những âu lo
Chưa khôn lớn con làm thân lưu lạc

Mảnh đất nhỏ càng trở nên tan nát
Buổi đến trường nghe pháo kích gần xa
Bụi thời gian cơn gió cuốn bay qua
Và tất cả tuổi hồn nhiên đánh mất

Thân cam chịu giữa đau thương chồng chất
Bước Mẹ đi dưới bóng đổ hoàng hôn
Đất mềm theo nghe ray rứt tâm hồn
Bao nghiệt ngã trong suy tư hồi tưởng

Con đã thấy Mẹ chưa lần sung sướng
Những nhọc nhằn của một kiếp nhân sinh
Hết chiến tranh lại chạy trốn hòa bình
Ôi! Đất Mẹ – Gian nan – Thời chinh chiến.

Bạch Ngọc Phước
Tháng tư 2007

CỎ THÁNG GIÊNG

Em có còn xanh không hở cỏ
Tháng Giêng gió bấc lại thất thường
Hồn anh lạnh khói qua hơi thở
Chạm tiếng chim rơi cóng bên đường

Em có còn buồn không hở cỏ
Giọt sương mai đọng để xa lìa
Anh vẫn tập tành hoài giọng dế
Một mình ngồi hát những đêm khuya

Em có còn mong không hở cỏ
Giọng chim khách hót phía hiên nhà
Với cỏ, anh ngại chi lấm láp
Lăn lóc đời nhau rợn da gà

Thôi cứ hồn nhiên như cỏ vậy
Chuồn chuồn cao thấp cũng tìm đôi
Gió ngơ ngác thổi quơ râu bướm
Ngơ ngác trông sang chỗ ta ngồi

Buồn lắm, nếu một ngày cỏ héo
Anh như đèn lụn giữa ban ngày
Cứ treo lơ lửng màu xanh tái
Một mình. Mình một. Chẳng ai hay!

Trần Viết Dũng

Chuyển Nghiệp

Sương Nguyễn

3787029wxaibwidcr_ph

Chiếc xe đò chậm chạp chuyển bánh trên con đường khúc khuỷu, gập ghềnh, hướng về thị trấn miền biển. Ngày hôm qua mưa lớn, mưa như thác đổ cho nên chuyến xe trì hoãn lại một ngày, ngày hôm nay mới bắt đầu khởi hành. Trên xe, thật là chật chội. Hành khách ngồi sắp lớp như cá hộp. Mui chất cao những bao nilon đựng lá thuốc lá đã được tẩm và phơi khô chỉ chờ con buôn giao cho các nhà máy cắt và quấn thuốc  tại thị trấn. Giữa xe chất đầy những bao gạo núi, hạt tròn và lớn, cơm ăn hơi cứng nhưng giá rẻ hơn các loại gạo khác cho nên được ưa chuộng, bán rất chạy cho tầng lớp người nghèo . Khó khăn lắm Kim mới tìm cho hai con được một chỗ tốt ngồi gần bác tài xế, còn nàng đứng bám vào cây cột sắt chỗ lên xuống của xe. Ngày hôm nay nàng phải đưa hai con ra tỉnh sắm ít quần áo bận Tết, còn phải mua thêm sách vở, giấy bút mực cho chúng. Sống trên cái huyện miền núi này thiếu thốn đủ mọi thứ.

Xe đi ngang qua một khúc quanh giữa lưng chừng đèo, nhìn xuống là một vực sâu, lấp lánh dòng nước bạc tuôn chảy từ một cái thác ở gần đó đổ xuống dòng sông trắng xóa. Bác tài xế cẩn thận lái thật chậm ở đoạn đường quanh này. Bác đâu có ngờ rằng tối hôm qua mưa lớn, nước chảy xiết làm xói mòn, cuốn trôi đi một đoạn đường tráng nhựa, còn trơ lại lớp đất bùn, nhão nhoẹt. Bánh xe lún xuống dưới lớp đất bùn ướt  làm cho xe mất thăng bằng lật nghiêng một bên về phía vực sâu. May mắn thay có một bụi cây mọc ở bờ vực giữ bánh xe sau lại. Mọi người hốt hoảng chạy ra phía cửa trước để thoát thân làm cho xe rung chuyển, chao đảo, tiềng cây kêu răng rắc, gãy vụn dưới bánh xe làm  cho mọi người càng thêm sợ hãi, cuống cuồng xô đẩy, đạp lấy nhau để tìm đường sống Tiếp tục đọc

BÀI TẶNG DOANH DOANH

tonnuthudung

Em ở phương nào xa khuất quá
Cầm tiêu hợp tấu biết tìm đâu
Lang thang muôn nẻo đường phiêu dạt
Chìm nổi trong ta khúc Phượng Cầu

Xuống núi ngoảnh nhìn sương huyễn hoặc
Quán nhỏ dừng chân ngắm bụi mờ
Ta thân ly khách đường mây trắng
Cũng thể dòng sông lác đác mưa

Môi nếm nỗi buồn men rượu đắng
Ly này, ly nữa chỉ mình ta
Ta gọi bên trời Doanh muội muội
Nước mắt thay lời độc ẩm ca…

Độc ẩm… đành thôi, người lữ thứ
Trông vời cố quận chỉ là mây
Chém xuống dòng sông trăm nhát kiếm
Nước vỡ… như lòng ta trưa nay…

Tôn Nữ Thu Dung

CÓ MỘT NỖI BUỒN NẰM BỆNH Ở KON TUM

CÓ MỘT NỖI BUỒN

Hồn tôi như địa chất
Tầng tầng trầm tích xưa
Suốt đời tôi khai quật
Tìm nỗi buồn ban sơ.

NẰM BỆNH

Mưa đêm ngoài sân viện
Ru nỗi sầu mênh mông
Mình ta trong giường bệnh
Thức với đời trắng không.

Ở KON TUM

Sống tràn qua những tuổi
Ngày tháng tuột sau lưng
Mắt quen nhìn thấy núi
Nên hồn xanh như rừng.

Tạ Văn Sỹ

Một thời ghẻ ngứa

Phạm Hoài Nhân

mothoighengua

Sắp tới ngày 30 tháng 4, nhiều người kể về những kỷ niệm, những ấn tượng của mình đối với ngày này. Vui có, buồn có, hân hoan có, uất hận có. Đối với tôi những ấn tượng sâu sắc nhất là tại thời điểm diễn ra trận đánh Long Khánh, 9 đến 21 tháng 4 năm 1975, tôi đã kể lại rồi. Còn 30 tháng Tư và sau đó thì thú thiệt là… không có ấn tượng gì sâu sắc cả. À mà có, có chứ! Những ngày sau 30 tháng Tư năm 1975 đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc, không thể nào quên. Đó là nỗi nhớ cồn cào của một thời ghẻ ngứa!

Từ cha sinh mẹ đẻ cho tới tháng Tư 75 ấy, có đôi khi tôi cũng bị ngứa. Ấy là khi bị muỗi cắn, kiến cắn, hoặc ăn phải cái gì đó bị dị ứng. Thế nhưng ngứa một cách lâu dài, triệt để  toàn diện thì chỉ sau 30 tháng 4 năm 75 mới đạt được.

Nói cho chính xác, cơn ngứa 75 ấy không chỉ là toàn diện mà là toàn thân, chỗ nào cũng ngứa. Còn xét về đối tượng thì là  toàn dân, không phân biệt gái trai, già trẻ, sang hèn. Nhà nhà, người người cùng ngứa. Nhà nhà, người người cùng gãi. Gãi mọi lúc, mọi nơi.

Khổ, lúc ấy là lúc giao thời, mọi tiện nghi cơ bản hầu như biến mất. Thuốc men, xà bông tắm không có, thậm chí nước cũng thiếu! Bối cảnh ấy càng làm tinh thần ngứa phát huy cao độ!

Theo quy luật của triết học Mác – Lênin, khi phát triển lên lượng sẽ biến thành chất. Ghẻ ngứa phát triển mạnh sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên ghẻ lở, mụt nhọt. Lúc ấy không chỉ ngứa mà còn đau nhức nữa!

Thuở ấy tôi 15, 16 tuồi, đang tuổi mới lớn, mà khổ thay ghẻ ngứa lại phát huy tác dụng mạnh nhất ở cái chỗ bí mật. Đang trò chuyện, giao tiếp với ai đó mà cơn ngứa chẳng đặng đừng, thò tay vô chỗ đó gãi sồn sột thì thiệt là… Nhưng như vậy vẫn chưa hết, khi ghẻ ngứa phát triển thành ghẻ lở mới là bi kịch. Đi đứng, cử động là chỗ lở bị cọ vô… quần xà-lỏn đau thấu trời. Thế là có tướng đi khệnh khạng, dáng đứng chàng hảng, thiệt là khó coi! Chưa kể là lúc đó còn nhỏ, lại chẳng biết hỏi ai (đi bác sĩ lại càng không thể vì… làm gì có bác sĩ và làm gì có tiền) nên cứ lo lắng, không biết rằng như thế thì liệu rằng cái đó có bị hư luôn không Tiếp tục đọc

Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại

Con đường thẳng tắp con đường cụt
Đã vậy từ xưa cái nghĩa đường
Phải triệu khúc quanh nghìn ngã rẽ
Mới là tâm cảnh tới mười phương

Em đủ mười phương từ tuổi nhỏ
Ngần ấy phương anh tới tuổi già
Tuổi ư? Hồn vẫn đầy trăm gió
Thổi suốt đêm ngày cõi biếc ta

Chế lấy mây và gây lấy nắng
Chế lấy, đừng vay mượn đất trời
Để khi nhật nguyệt đều xa vắng
Đầu thềm vẫn có ánh trăng rơi

Em đã hoang đường từ cổ đại
Anh cũng thần tiên tự xuống đời
Đôi ta một lứa đôi tài tử
Ngự mỗi thiên thần ở mỗi ngôi

Đừng khóc dẫu mưa là nước mắt
Đừng đau dẫu đá cũng đau buồn
Tâm em là Bụt tâm anh Phật
Trên mỗi tâm người một nhánh hương

Mai Thảo

ÐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

trantrungdao

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Trần Trung Ðạo

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Nguyễn Ngọc Bích

VTT-ZZJAN13.-23-NNBICH

NGUYỄN NGỌC BÍCH

(Quyền Viện Trưởng Đại Học Cửu Long)

“Khủng khiếp hơn địa ngục”

Bấy giờ tôi là quyền Viện Trưởng Đại học Cửu Long, Sài Gòn. Viện Đại học này mới được ba tuổi, có khoảng sáu trăm sinh viên.

Mọi người bấy giờ đều tin tưởng vào sự hỗ trợ của Mỹ đối với việt Nam. Người ta tin sự hiện diện của Mỹ là một sự hiện diện bền bỉ lâu dài. Không ai có thể nghĩ đến việc một ngày kia người Mỹ rũ áo ra đi.

Câu chuyện của tôi có chút đỉnh đóng góp ở đây bởi vì tôi là người đã ở trong những phái đoàn cuối cùng đến Hoa Kỳ. Chỉ có hai chúng tôi lúc ấy là Gregory Hưng và tôi biết tình thế đã đến hồi tuyệt vọng. Bấy giờ 19 tháng Tư, lúc chung cuộc, chúng tôi là phái đoàn cuối cùng đến Hoa Kỳ. Chúng tôi biết miền Nam đang ở trong tình trạng bất thuận lợi với Quốc hội Mỹ, họ sẽ không chấp nhận cấp ngân khoản viện trợ cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi cảm thấy vẫn còn trong tay một vài lá bài then chốt. Một trong những lá bài đó, là lời hứa từ lâu của Lý Quang Diệu ở Tân Gia Ba. Ông Lý chủ trương phương thức duy nhất để đánh bại Cộng sản chính là cải tiến an sinh xã hội. Ông từng hứa giúp chúng tôi ngân khoản nửa tỷ Mỹ kim để thực hiện một chương trình gia cư.

Tổng thống Thiệu bèn gửi Hoàng Đức Nhã đi Tân Gia Ba thăm dò xem họ Lý có ứng cho chúng tôi vay số tiền đó để mua vũ khí và mua xăng, thay vì sử dụng vào mục tiêu gia cư không. Ông Nhã đã đi Tân Gia Ba. Còn ông Hưng và tôi đến Hoa Kỳ cố gắng tìm cách thuyết phục Quốc Hội Mỹ giữ im lặng, đừng công khai hóa việc họ không giúp chúng tôi. Công khai hóa việc ấy sẽ có tác dụng sút giảm tinh thần Tiếp tục đọc

TRẮNG

mẹ ta tro bụi trên sông
xuôi bèo hoa nẻo hư không mẹ về
chiều hoa trắng rợn bốn bề
trần gian thêm một kẻ về mồ côi
từ đây chỗ mẹ ta ngồi
mây như tóc trắng
rối bời
mây qua

Đỗ Trung Quân