Đêm Ngủ Ở Tịnh Xá

Với Kim Vân

Em ngồi ôm bóng nguyệt
Thân thể nức mùi sen
Hồn mông mênh cõi Phật
Soi sáng lẽ Chân Thường
Nhưng biết bao giờ gặp
Cùng nhau kể đạo huyền

Sáng Nằm Nghe Ni Cô Đọc Kinh

Đếm theo tiếng mõ nhịp đều
Môi ta mấp máy niệm câu di đà
Cõi nào bỗng hiện trong ta
Xác thân nhẹ hẫng như là hư không
Quanh ta toàn những sen hồng
Hồn xiêu phách lạc mênh mông buồn phiền

Mộng Thấy Tư

Dựng đời trăm nhánh tình không
Em đi nắng trổ nụ hồng xuống vai
Lạc trong trũng nước hương cay
Cỏ trên thân thể tàn phai cuộc chờ

Võ Duy Chung
(tuần báo KHỞI HÀNH)

Những Chuyện Tình ở Ga Xe Lửa

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

Jeff Rowland

Jeff Rowland

Hằng ngày tôi đáp xe lửa từ ngoại ô vào thành phố để làm việc. Ga tôi đón xe lửa là một ga nhỏ, khách không mấy đông người nên ai cũng biết mặt nhau. Không thân thiết gì ngoại trừ dăm ba câu chào hỏi vớ vẩn về thời tiết. Một hôm ở ga bỗng xuất hiện một cặp trung niên, cả hai đểu tóc đã muối tiêu, người da trắng. Cả hai đều tầm thước, khá bệu mỡ, trong cách ăn mặc họ có vẻ là những người làm việc phòng giấy nhưng không giữ chức vụ cao. Người đàn ông mắt lộ, môi dầy, quần kaki , áo sơ mi, thỉnh thoảng ông ta mặc áo thun có cổ bẻ, hôm nào trời lạnh ông ta mặc áo khoác gió loại ngắn. Người đàn bà tóc ngắn, tóc dợn sóng lọn to, làm tôi nghĩ đêm nào đi ngủ chắc đầu của bà cũng đầy ống quấn tóc. Bà ta khá béo. Hai cái đùi to đầy mỡ của bà như khép chặt lại vào nhau. Quần bà hơi ngắn trên mắt cá chân, giày thấp. Những người đàn bà quá mập hay bị cái nạn ống quần dính vào đùi làm khoảng ống quần bên trong khoảng giữa hai chân rút ngắn lại, do đó nhìn có vẻ xộc xệch. Họ lại thường hay bị yếu đầu gối vì phải mang trọng lượng thặng dư vì thế không thể mang giày cao gót. Và như thế lại càng làm cho dáng vẻ của họ thô kệch hơn. Nói chung , đây không phải là một đôi vợ chồng già đẹp tướng.

Họ cũng không có vẻ là vợ chồng. Trông họ có vẻ như là một cặp tình nhân mới. Sáng nào cũng thế, giữa chốn đông người, hai người ôm hôn nhau thắm thiết như một cặp trai gái mới lớn còn háo hức chuyện thăm dò thân xác của người yêu. Khi xe lửa đến Penn ga lớn nhất của tiểu bang New Jersey, dưới chân cầu thang cả hai lại ôm nhau hôn ngấu nghiến. Những nụ hôn thật say đắm làm tôi có cảm tưởng như đây là những cái hôn cuối cùng. Ngày mai họ sẽ chia tay nhau vĩnh viễn.

Tự bao giờ hình ảnh sân ga vẫn là đề tài của những cuộc chia tay. Của “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, trời mùa đông . . . Jersey, suốt đời làm chia ly. . .” Của đêm “tuyết rơi phủ con tàu, trong ga em lạnh đầy, làm sao em nói hết, cho ấm mộng đêm này . . .”[1] Tôi tự hỏi không biết vì lý do gì mà họ phải chia tay nhau Tiếp tục đọc

KÝ ỨC CỦA BÓNG – NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Screen Shot 2013-05-27 at 3.51.11 PMScreen Shot 2013-05-27 at 3.50.37 PM

KÝ ỨC CỦA BÓNG
Gồm 108 bài thơ của NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
SỐNG và PHỐ VĂN xuất bản 2013
Tựa DU TỬ LÊ, Bạt NGUYỄN LƯƠNG VỴ

Tôi không biết Nguyễn thị Khánh Minh đã chọn thi ca như một con chim cô quạnh chọn rừng sâu để phủ dụ những vết thương thời thế ngược ngạo sớm tìm đến cô.
Hay thi ca đã tìm đến cô, như tìm đến một người tình, một người tình mà nó hằng mòn mõi kiếm, trông…
Tôi không biết ( Du Tử Lê trong lời tựa)

Tôi không biết, tôi chưa kịp hỏi cô vì những cái hẹn giữa chúng tôi cứ vì lý do này hoặc kia để khó lòng gặp nhau… Duy nhất, tôi biết một điều: ám ảnh của cô là BÓNG.

Quê xa, đất lạ bóng mình. (Nói gì)
Ta ngồi: Bóng thầm
Ta đi: Bóng động
Ta nói: Bóng câm… (Hai bóng)

Rất nhiều bóng… bóng lỗi hẹn, bóng tương tư, bóng tro rơm, bóng tóc tơ, bóng thơ ngây, bóng đợi chờ…
Trong muôn bóng phải chăng chỉ là một qua lớp kính vạn hoa:

Kìa bóng ai ngồi
Thuyền cong trăng
Tiếng gõ
Quá giang một nỗi riêng, người… (Kìa ai gõ bóng)

Và , như nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ viết trong lời bạt:

…Hình và bóng phải chăng phải chăng là nỗi ám ảnh khôn nguôi của nhà thơ từ thuở đầu đời cho đến nay và cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt ???…

Tôi không biết, tôi sẽ hỏi cô trong một ngày rất gần đây thôi.

Hoặc nhanh hơn, không cần chờ tôi, các bạn hãy tìm đọc KÝ ỨC CỦA BÓNG, có Email của tác giả trang 173, và hỏi mọi điều bạn cần biết về những chiếc bóng của cô…

Mùa đông tặng chim sẻ

Trên lối cũ đi về chim có nhớ
Tháng mười hai bông sứ rụng trong vườn
Em xõa tóc bâng khuâng ngồi dưới cỏ
Và lá vàng bay gợn nhẹ xót thương

Còn ở đó một mùa đông tội nghiệp
Em áo len lên dốc cỏ một mình
Tóc bay rối giữa rừng thông khép nép
Nước trong hồ thoáng chút lạnh hơi im

Còn ở đó một mùa đông âu yếm
Hai hàng cây giá tỵ đứng bơ vơ
Mà mưa trắng bay mù trên dáng núi
Buổi chiều nào chim khóc rất ngu ngơ

Và chim ơi – trên lối về – còn nữa
Tháng mười hai tóc chẻ sợi ngoan hiền
Dáng em đi giữa chiều đông mê mải
Tự bao giờ – trong trí vẫn y nguyên

Hát tặng em một mùa thân ái cũ
Dù bước về em thôi đã bay xa
Dù bước về em thôi còn trẻ dại
Gió trong vườn se sắt cọng mưa hoa.

THƯƠNG VŨ MINH
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 215, ra ngày 15-12-1973)

Khi Xa Trường Tỉnh

tranngochuong

Ta lên lớp lớn xa trường tỉnh
Trang vở ngày xanh xếp để dành
Ép cánh phượng hồng lên xác bướm
Nghe còn đẹp mãi chuyện ngày xanh.

Vươn đôi cánh nhỏ xa lìa tổ
Chim cất tiếng chào chắp cánh bay
Nhớ ngả đường xưa đầy áo trắng
Có còn đâu nữa nói gì đây.

Ga đời với chuyến tàu thay bến
Ta tiễn nhau đi khắp nẻo trời
Mình hãy hẹn đây ngày trở lại
Hoa lòng nở đẹp dưới làn môi.

Đè mây lướt gió chim tung cánh
Vẫn nhớ trọn đời tổ ấm xưa
Mềm lòng đôi lúc nghe mình bỗng
Khơi dậy trong lòng tuổi ấu thơ.

Cổng trường thoáng biến thành ga nhỏ
Phố vắng chìm theo lớp bụi mờ
Ôi ! Biết bao giờ ta trở lại
Tìm thăm bạn cũ mái trường thơ.

Ôi ! Buổi trường tan không tiếng cười
Muôn chim vỗ cánh về muôn nơi
Sân trường giữ đó lời chia biệt
Trang vở ngày thơ xếp lại rồi.

Ta với tuổi thơ nức mộng đời
Nghe lòng còn mãi khoảng ngày vui
Ý sống ta tìm trong cuộc sống
Thôi người mỗi ngả bạn lòng ơi !

Thôi mình tay vẫy tay chào nhé
Chôn bóng trường thơ dưới đáy lòng
Ve réo tiếng Hè buốn biết mấy
Như cành hoa đẹp sớm phai bông.

Áo trắng trả về với tuổi thơ
Ta xa trường tỉnh, biết bao giờ ?
Ghé đây khơi lại hồn thơ cũ
Chim nhớ trọn đời tổ ấm xưa.

TRẦN NGỌC HƯỞNG
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 118, ra ngày 15-11-1969).

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Lý Ngọc Thuý

tn11

LÝ NGỌC THUÝ
“Ông có hiểu chuyện bị hãm hiếp nghĩa là thế nào không?”

Tôi sinh ngày mùng 5 tháng Năm năm 1967, đến Hoa Kỳ năm 1981. Gia đình tôi gồm tất cả sáu anh chị em. Cha tôi lúc ở việt Nam là người buôn bán. Nói cho ngay, dưới chế độ Cộng sản, gia đình chúng tôi ở tại một tỉnh lỵ nhỏ gần Qui Nhơn vẫn làm ăn khá giả. Gia đình tôi bán máy thâu băng và băng nhạc. Chúng tôi vẫn còn làm nghề ấy dưới chế độ Cộng sản, nhưng trước khi chúng tôi đi, họ bảo vì có vài người trong gia đình tôi đã đi Mỹ, nên họ không cho phép chúng tôi làm ăn buôn bán nữa.

Bây giờ tôi còn nhớ lúc mẹ tôi bảo tôi phải sửa soạn đi. Tôi khóc. Tôi không muốn đi, nhưng mẹ tôi bảo mẹ tôi sẽ thu xếp đi sau. Tôi không sung sướng gì về việc ra đi vì sẽ phải bỏ các bạn bè và mẹ tôi lại nhà. Tôi cứ cảm thấy sợ hãi, như linh tính đã báo trước rồi sẽ có nhiều chuyện không hay xảy ra.

Chúng tôi lên tàu lúc nửa đêm. Chuyến vượt biên đầu tiên vì thời tiết xấu, phải quay về. Lần thứ nhì cũng không xong. Lần này vì tôi có bảo với vài người bạn là tôi đi Mỹ, họ đi nói với các người khác, nên chúng tôi phải hủy chuyến đi, nhiều người biết quá. Cha mẹ tôi rất giận về việc tôi nói cho người ta biết, đáng lẽ phải giấu là đi thăm bà cô.

Chuyến tiếp theo gồm tất cả 48 người trên tàu. Ngay ngày đầu tiên đã hết nước ngọt. Vì thế sau ngày đầu, chúng tôi đã phải uống nước biển, ai nấy ốm la liệt. Tôi phát đau, tháo mửa.

Thế rồi bọn hải tặc Thái Lan đến chặn tàu chúng tôi. Vì hết sạch đồ ăn nước uống, chúng tôi dùng vải trắng ra hiệu cấp cứu, không ngờ chúng lại là hải tặc. Chúng hãm hiếp một người đàn bà trên tàu. Lần thứ nhất thì không hề gì, chúng chỉ đòi vàng. Nhưng rồi bọn hải tặc lại chặn tàu chúng tôi vào ngày thứ hai và ngày thứ ba. Chúng đưa tất cả chúng tôi ra khỏi tàu, chỉ chừa một người đàn bà. Chúng lên tàu, tất cả bọn thay phiên hãm hiếp người đàn bà ấy Tiếp tục đọc

CHUYỆN NGƯỜI TUỔI TRẺ

(tặng Trần Dzạ Lữ.)

1.
Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ
Buổi chiều thu uống rượu không cười
Trên non ta là người tuổi trẻ
Buổi chiều thu dõi bóng mây trôi

2.
Mây còn bay nên đời còn mộng
Tuổi trẻ ra đi sao lại nhớ nhà
Ơi người tuổi trẻ sầu trong mắt
Đêm trên rừng mộng gởi quê xa

3.
Quê xa ta có em và mẹ
Nhớ ao bèo bông tím thiết tha
Nhớ người con gái bên hàng xóm
Chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa

4.
Lòng không nguôi nhớ ao bèo tím
Đôi mắt cô em đuổi tới rừng
Bây giờ ngồi đứng trong sương gió
Buổi chiều thu nhớ tóc ngang lưng

5.
Trên non may có tình bằng hữu
Tuổi trẻ đau chung một khúc ca
Ôm nhau thức với vầng trăng lạnh
Vượt lá tìm sao định hướng nhà

6.
Có những ngày đi trong núi thẳm
Tuổi trẻ nhìn nhau nhớ xóm làng
Thở chung một tiếng nghe sầu cháy
Tâm sự chuyền điếu thuốc quan san

7.
Cảm ơn điêu đứng rừng sinh tử
Cạm bẩy người giăng để giết người
Tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa
Giữ giùm nhau những tiếng chim cười…

Vũ Hữu Định

Đoản Khúc

http://www.youtube.com/watch?v=ozqmIpvo_Sk&feature=share

Chạm vào sương , sương thành  lá cỏ 
Chạm vào đêm , đêm là hồn chiều

Chạm vào mây , mây vờn  làn gió 
Chạm vào thềm , thềm biếc xanh rêu 
 
Chạm vào tim , chạm vào nỗi nhớ
Chạm vào ngày một tiếng chim kêu 
Chạm vào em một đời khắc khoải
Chạm vào đời , đời bỗng lặng im

Chạm vào tôi chạm vào kỷ niệm
Chạm vào ai nỗi buồn sâu kín
Chạm vào bờ biển tím mênh mông
Chạm vào hồn cô đơn một nỗi
Chạm vào hồn một nỗi cô đơn .

LỤC BÁT VIẾT TỪ PHÁP

1.

VERSAILLES,
LÂU ĐÀI LOUIS  XIV  VÀ LABYRYNTHE

Tặng: Bác Sĩ Nguyễn Chí Thiện

Cuối đời bóng xế đến đây
Lâu đài đứng lặng như say giấc nồng
Kìa người, kìa tượng, kìa sông
Kìa dòng nước biếc nặng lòng trăm năm
Cuối đời, ngắm Labyrynthe
Ước chi trẻ lại cho mình tìm nhau
Trốn hòai, tìm mãi, chẳng sao
Nhưng khi giáp mặt ta trao nụ hồng
Ta hề, phiêu bạt, lông bông
Lang thang theo gió bềnh bồng trôi mau
Càng sầu, càng uống, càng say
Thơ vui từng chữ, rượu cay từng chầu
Labyrynthe hỡi, về đâu  ?
Thôi em đến bến giang đầu chờ ta …

Paris, 16.5. 2013

2.

NHÀ SỐ 10 MARCEL  DOURET

Đồi nghiêng, nghiêng một góc trời
Gío im im thổi mưa rơi thì thầm
Gởi lòng về cõi xa xăm
Bóng ai vươn mãi bước chân lữ hành./

Villemomble 16/5/013

3.

NHÀ SỐ 10 MARCEL  DOURET  1

Trời cao, không trong, không xanh
Chân bon, bước mỏi quanh quanh sương mù
Buồn riêng một coĩ miên du
Lá chao bây giữa vi vu mây ngàn
Đường dài một buổỉ lang thang
Cảnh xa, ngươì lạ lòng mang mang sâù
gơỉ thương gơỉ nhớ về đâu
một anh đứng đợi bên câù nhớ thương ./

Villemomble 17/5/013

4.

CHỜ TỪ VŨ

Nao nao chờ đợi bạn hiền
Ngòai kia nắng đổ nghiêng nghiêng  bầu trời
Mây như mù tít trùng khơi
Duyên nào ta lại bên trời gặp nhau

Villemomble 17/5/013

5.

NHÀ SỐ 10 MARCELL DOURET    2

Trơì gần ,xuống thấp,mây che
Bỗng dưng nhớ chút nắng hè phương nao
Xòe tay hứng giọt mưa mau
Lạnh lòng lữ khách nao nao đường về

Villemomble 19/5/013

6.

NHÀ SỐ 10 MARCELL DOURET  3

Mù trời,mù đất,mù cây
Mù trong hiu quạnh,mù vay trùng trùng
Mù trong nổi nhớ mong lung
Mù như xa mãi tận cùng hư vô./

Chu Trầm Nguyên Minh

Tổng Vĩnh Thạnh và Chánh Tổng Kham

Trường Nghị

minhvien

Những năm đầu thế kỷ trước, địa giới của tổng Vĩnh Thạnh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định bao gồm phần đất cả huyện Vĩnh Thạnh, cộng với phần đất xã Tây Giang, xã Bình Tường của huyện Tây Sơn ngày nay. Tổng là một đơn vị hành chánh xưa, là cấp trung gian giữa huyện và làng xã. Tương đương với cấp Tổng là Thuộc. Thuộc là đơn vị hành chánh bao gồm những ấp, thôn, phường, nậu, man ở vùng ven biển hay miền núi mới vừa khai phá. Tên gọi của nó được bảo lưu từ thời các chúa Trịnh – Nguyễn, dùng để phân biệt với Tổng gồm những thôn, ấp đã được định cư lâu đời. Thuộc còn được dùng để gọi cấp hành chính người Minh Hương (người Hoa) sống trên đất Việt là Trang (làng), Thuộc (tổng), Bang (huyện).

Năm 1832, vua Minh Mệnh thực hiện cải cách hành chánh toàn quốc, Trấn Bình Định được chuyển tên thành Tỉnh Bình Định. Các Ấp trong Trấn cũng được đổi tên, sáp nhập hoặc lập thêm thành thôn xã mới. Trong những năm đó, ấp Vĩnh Long được cải lại tên là thôn Vĩnh Thạnh. Thôn Vĩnh Thạnh với 45 thôn khác cùng nằm trong tổng Thời Hòa của huyện Tuy Viễn.

Đến năm 1841, hai tổng Thời Đôn và Thời Hòa của Tuy Viễn phân ra làm 4 tổng với các tên gọi mới là Phú Phong, Mỹ Thuận, Nhơn Ngãi và An Ngãi. Thôn Vĩnh Thạnh thuộc Tổng Phú Phong. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), triều đình Huế trích lấy 10 thôn của tổng Phú Phong, 8 thôn của tổng Mỹ Thuận, cộng với 28 thôn mới mộ khẩn của vùng cao nguyên (Tây Sơn thượng đạo cũ) để lập nên huyện Bình Khê, thống hạt 4 tổng là An Khê, Tân Phong, Vĩnh Thạnh và Thuận Tuyên. Tổng Vĩnh Thạnh có 10 thôn xã là Thạch Quang, Vĩnh Khương, Vĩnh Thạnh, Định Thành, Định Quang, Tiên Thuận, Thượng Giang, Hữu Giang, Tả Giang và Trinh Tường. Có nghĩa là tổng Vĩnh Thạnh thời ấy có địa giới từ Cầu Phú Phong hiện nay trở ngược lên đến huyện Vĩnh Thạnh bây giờ.

Vào tháng 3 năm 1908, dưới sự điều động của Chánh tổng Vĩnh Thạnh là Chánh Tổng Kham, dân đinh các thôn xã nầy đã kết hợp cùng với người dân trong các tổng, huyện khác của Bình Định đi đòi giảm thuế, giảm sưu. Phong trào xin xâu (sưu) kháng thuế kéo dài mấy tháng liền suốt dọc dãy miền Trung, đã làm kinh thiên động địa cả triều đình Huế, quan chức bảo hộ người Pháp ăn cũng không ngon, ngủ cũng không yên. Người đời đã gọi phong trào nầy là Dân biến Trung Kỳ, còn triều đình nhà Nguyễn thời ấy đã gọi những người dân chân lấm tay bùn đang đòi quyền sống đó là giặc: Giặc Đồng Bào Tiếp tục đọc