MẤY KỶ NIỆM NHO NHỎ VỀ BỐN NĂM ẤY.

PHAN THÀNH KHƯƠNG

83298572

Trong 4 năm ấy, 4 năm học tại Đại học Sư phạm Huế (1970-1974), kí ức của tôi đã lưu lại nhiều điều mà mãi sau gần 40 năm (1974-2013), tôi vẫn còn nhớ rõ. Tôi xin được chia sẻ mấy kỉ niệm nho nhỏ sau đây:

1. Lạnh tê cóng hai bàn tay: Năm học thứ nhất, tôi ở tại Cư xá Huỳnh Thúc Kháng (cơ sở báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng). Cư xá này dành cho sinh viên Quảng Nam ra học tại cố đô. Năm đó, Huế lạnh 11 độ. Tôi chẳng có áo ấm. Khi qua cầu Trường Tiền, gió buốt, tôi run cầm cập. Đến lớp, thầy giảng, các bạn ghi chép, tôi chẳng tài nào viết được. Hai bàn tay cứng đơ. Tôi khoanh tay, kẹp hai bàn tay trong nách mãi cho tới khi … hết giờ học!
2. Đi khiếu kiện ở dinh tỉnh trưởng: Hôm nọ, đi học về thì biết tin cảnh sát vào Cư xá Huỳnh Thúc Kháng, đánh đập anh em sinh viên ở đây. Chúng tôi làm ngay một băng rôn “phản đối cảnh sát vô cớ đánh đâp sinh viên”. Tôi là một trong hai người cầm băng rôn, chúng tôi kéo qua dinh tỉnh trưởng, đòi gặp tỉnh trưởng để yêu cầu giải quyết vụ việc. Lính gác không cho vào. Tranh cãi một hồi, họ bảo cử đại diện vào gặp tỉnh trưởng. Cuối cùng, ông tỉnh trưởng đã xin lỗi và hứa chăm sóc các bạn bị đánh. Có lẽ ai đó đã mật báo gì đấy với cảnh sát Tiếp tục đọc

EM VỀ NGANG NGÕ HOA VÀNG NỞ

Nếu tháng Chạp mà không có mưa , chắc không ai nói buồn bao giờ? Người ta thơ thẩn đi trong phố…và thẩn thơ nhìn vũng tuyết khô ?

Ôi tuyết mà khô, mắt thế nào? Chắc đêm qua chẳng ngó trời sao? Đếm chi cho mệt sao trời nhỉ…nên tuyết nằm kia tự nó lau?

Biết nắng mùa Đông nặng quá chìm, em thì không nặng, biệt mô em? Hay em đã hóa ra di điểu … đang cuối chân trời không ngước lên?

Anh ngó trời mưa , anh ngẩn ngơ … biết mưa không phải nỗi mong chờ . khi không mưa mãi trong thành phố . mưa lạnh , mưa buồn , mưa phất phơ…

Như tóc thề em phơ phất nhớ , gió đồi thông thuở gió tương tư…Hồi em mười bảy em đâu mất, Đà Lạt buồn bay mất mộng mơ…

Đà Lạt buồn tự đó đến nay, bao nhiêu tháng Chạp hứng mưa đây, nghĩ em ở chỗ trời đang nắng, mưa ướt anh nên đôi mắt cay…

Ôi tháng Chạp nào không có mưa , xin em hãy nói để anh chờ , em về ngang ngõ hoa vàng nở , con bướm mừng em đậu áo xưa…

TRẦN VẤN LỆ

KHOẢNH KHẮC GIAO THỜI

Anh ở đâu khi thời gian đang đếm ngược?
Em bỏ mặc tiếng rên loài côn trùng khắc khoải,
Bỏ mặc tiếng gọi của lũ mèo hoang,
Bỏ quên tiếng đời vội vã…

Anh ở đâu khi khoảnh khắc giao thời sắp đến?
Em nợ anh chén ân tình. uống cạn
Nợ anh tiếng hát buông lơi, ngọt mềm
Nợ đôi môi còn tìm nỗi nhớ…

Anh ở đó mang con tim hoang hoải
Nơi rừng hoang, núi lạnh,
Giọt sương đêm trở mình trên lá
Qua đêm nay, cuộc đời đã thay áo
Phải không anh???

QUỲNH ĐỎ
31-12-2013

CON NGỰA TRẮNG

Nguyễn Bá Trạc

white-horse

Một trăm đô chẵn mang đi
Ông mua những gì ông tính chẳng ra?
Thoạt đầu hai xấp vải xoa
Mỗi nhà một xấp, sáu yards bốn quần
Hai mươi đồng một tá Bông Lan
Bảy đồng một bộ giây đàn ni lông
Mười lăm đồng cái áo vải bông
Hai pounds bột ngọt, chẵn một trăm đồng, ông ơi.

Đối với nước Mỹ kỷ luật và ngăn nắp, ông Nguyễn không phải là một công dân tốt. Thuế má không sòng phẳng. Đến kỳ hạn không khai. Lương khoán chưa trừ thuế, lãnh được đồng nào tiêu hết đồng ấy. Gửi đồ về Việt nam thì hồ hởi, mà đến hạn đóng thuế là hết tiền, ù lì cả ba năm nay.
Đối với ngân hàng, ông Nguyễn không phải là một thân chủ được ưa chuộng. Theo thói quen chi tiêu ở Mỹ, ông cũng có một trương mục, một tập chi phiếu, nhưng không chịu giữ kế toán, dù việc ấy chỉ đòi hỏi có hai phép tính cộng trừ đơn giản. Ông đều đặn bị phạt vì cứ lầm lẫn ký những tấm chi phiếu nhiều hơn số tiền ông có. Tên ông bị ghi trong các cuốn sách, nằm trong cái máy điện toán nêu rõ những người có tín chỉ xấu. Những người bị ghi tên trong ấy là những người thiếu tín nhiệm. Không nên cho vay tiền. Không được mua chịu. Ngân hàng lễ phép gửi thư đến xin lỗi, không nhận ông làm thân chủ Tiếp tục đọc

NGƯỜI NGHỆ SĨ Ở PHỐ HẦM ATLANTA

My có thói quen đáp xe bus xuống phố mỗi cuối tuần.

Xuống phố! Mỗi lần đi như thế My có cảm giác như đang nghe bài hát “Downtown” thuở còn đi học và hát theo giọng hát của Petula Clark trong radio. Ở downtown, người và xe tấp nập, không giống như khu vực nơi My cư ngụ. My tha hồ đi dạo khắp nơi, không mua sắm thì cũng có nhiều chỗ để ngắm nghía. Và lần nào My cũng không quên đi xuống Phố Hầm.

Phố Hầm! Đó là cái tên do riêng My nghĩ ra và đặt cho khu Underground Atlanta. Nơi đây cũng giống như những trung tâm thương mại khác, nhưng lại có một cái gì rất riêng. Chỉ cái tên gọi “Underground Atlanta” đã là đặc biệt lắm rồi! Một khu vực rộng khoảng năm “block phố”, kiến trúc cũ kỹ, nằm dưới “hầm”. Biết bao nhiêu thăng trầm từ lúc bắt đầu được xây dựng sau cuộc Nội Chiến, đến nay Phố Hầm trở thành một địa điểm du ngoạn và giải trí cho cả du khách lẫn người dân sở tại.

Buổi sáng hôm nay, My cũng lang thang trong Phố Hầm. My có ý tìm mua một vài món hàng làm quà cho gia đình. My thích ngắm những chiếc “booth”, tức là những gian hàng nhỏ, với hình dáng như những chiếc xe ngựa, trên đó trưng bày đủ loại từ quần áo, khăn, mũ cho đến nữ trang, đồ chơi, bánh kẹo…. Những chiếc xe xinh xắn ấy đứng tăm tắp bên nhau, trông như đang chờ để rời bến. Trong lúc còn đang thơ thẩn, My nghe xen lẫn trong tiếng cười nói của mọi người, có tiếng đàn guitar văng vẳng. Có cái gì thúc đẩy My lần theo tiếng đàn ấy. Tiếng đàn rõ dần. Và đây rồi! Không phải chỉ tiếng đàn, mà còn có lời hát nữa. Nơi khoảng trống trước một cửa tiệm bán giầy, người đàn ông đội chiếc “mũ phớt”(1), cầm cây đàn guitar, vừa đàn vừa hát. Chỉ một mình ông thôi. Không có ban nhạc. Không có micro. Nhưng giọng của ông lúc lên cao, lúc hạ thấp, rõ ràng và điêu luyện không kém những ca sĩ trên sân khấu. My tiến đến gần ông. Ôi! Ông đang hát bản nhạc mà My yêu thích từ lâu: “House of the rising sun”. Một cảm giác vui vui khiến My mỉm cười. Ông càng hát, My càng bị lôi cuốn theo bản nhạc. Và khi nỗi niềm dâng lên thành một đợt sóng, rồi hạ thấp dần để thành một nỗi đau câm lặng, ông dứt tiếng hát. Ông còn đàn thêm một đỗi nữa với những âm giai mà My hồ như đã quen thuộc lắm, rồi ông để cho tiếng đàn tắt dần. Xung quanh ông bỗng nhiên chỉ còn lại sự im lặng. Cả đám đông im lặng. My chợt đưa tay lên má mình, thấy một giọt nước mắt rơi…

Và rồi đám đông như bừng tỉnh. Tiếng vỗ tay vang lên rào rào. Người ta bỏ những đồng tiền lẻ vào chiếc hộp giấy ông để cạnh bên. My cũng bỏ tiền vào đó. Một vài người bước đi. Vài người nán lại có ý chờ xem ông có hát thêm hay không. My đến gần ông, mở lời:

– Hay quá! Cám ơn ông.

Ông nhìn My, gật đầu:

– Cám ơn cô.

My không muốn yêu cầu ông hát bản khác. Bởi bài hát vừa rồi quá hay, My muốn giữ lại dư âm của nó. Người đàn ông gom góp mớ tiền trong chiếc hộp, cho vào túi của chiếc áo khoác màu xám. Chiếc mũ của ông cũng màu xám. Áo quần màu xám. Mái tóc màu xám. Và nét thời gian được vẽ trên gương mặt phong trần của ông với làn da màu nâu. Ông trông giống như một pho tượng đồng.

Chừng như ông cũng không muốn hát nữa, nên ông đến ngồi trên băng ghế dài trước hành lang hẹp. Thấy My đang nhìn vào cây đàn guitar của mình, ông khẽ hỏi:

– Cô thấy cây đàn này thế nào?

My nhìn kỹ. Đó là một cây đàn đã cũ, trông hình thù không có gì đặc biệt. Nhưng thật khó tưởng tượng rằng cây đàn này đã phát ra những âm thanh tuyệt vời lúc nãy. My trầm ngâm một chút, và đáp:

– Ông ơi! Cây đàn hay lắm!

– Thế ư?

– Nói đúng hơn là… ông đàn rất hay.

Người ca sĩ cười thành tiếng:

– Thật vậy sao? Tôi không nghĩ thế. Tôi kiếm sống qua ngày thôi cô ạ!

– Nhưng ông đàn và hát rất hay, hay hơn cả những người nhà nghề.

Ông gật gù ra vẻ hài lòng, rồi ông bắt đầu chơi một bản độc tấu. My ngồi xuống bên cạnh ông, yên lặng lắng nghe. “Kiếm sống qua ngày”! Qua hình dáng khắc khổ của ông, My liên tưởng đến những người đàn hát dạo trên đường phố Sài Gòn, trên những cầu bắc, trên những chuyến phà đông đúc người và xe cộ đủ loại. Đa số họ là những người khuyết tật, do bẩm sinh cũng có, mà do vết tích của chiến tranh để lại cũng có. Những cuộc đời nghèo! Ngày qua ngày, tiếng đàn tiếng hát không phải là nghệ thuật mà như tấm gương phản chiếu toàn bộ cuộc đời vô định của họ. My ngậm ngùi thở dài. Chợt nhìn qua người ca sĩ nơi đây, My thắc mắc không biết cuộc đời của ông ra sao nhỉ?

Hết bài nhạc, ông quay sang My, cười nhẹ, rồi thật tự nhiên, ông nói:

– Tôi tên là Louis. Còn cô?

– Dạ tôi tên My, M.Y. Nhưng xin ông cứ gọi tôi là “mi”, không phải “mai”.

– “Mi” nghĩa là tôi, phải không?

– Phải.

My cười theo ông, hóm hỉnh. Ôi, mình đã có thể trò chuyện với ông ấy rồi đây!

Nhưng My không thể ngồi nghe ông đàn mãi được, vì My còn phải làm nhiệm vụ: đi mua sắm. My tạm biệt ông. My rảo bước vào những gian tiệm, tìm mua áo quần và đồ chơi. Cũng có những món quà lưu niệm dễ thương My mua ở những cái “booth”. Chà! Mỗi người một món, vậy mà xách đã nặng đôi tay. My không quên ghé mua một túi “bánh croissant” nóng hổi ở một tiệm bán bánh Pháp mà My rất mê. Đi một vòng lại trở về nơi cũ, My gặp ông Louis cũng còn đang đàn hát. Vẫn có nhiều người đứng thưởng thức chung quanh ông. Nhưng có lẽ ông dễ dàng nhận ra My trong những người lạ đó, nên ông nheo mắt cười với My.

Chờ ông dứt bản nhạc và ngồi nghỉ, My đến mời ông một cái bánh. Ông nhận ngay, ăn một cách vui thích. Ông gật gù:

– Cô có sở thích giống với tôi. Tôi thích loại bánh này lắm. Ở quê tôi, cũng có tiệm bánh Pháp bán loại bánh này. Thật ra, ở xứ này, nơi nào cũng có những hiệu tiệm như nhau. Nhưng cái gì ăn ở quê thì cũng có khác, phải không cô?

– Quê ông? Quê ông ở đâu?

– Nơi có ngôi nhà mặt trời mọc đó.

– New Orleans?

– Đúng rồi.

– A! Hay quá! Vậy sao ông không ở đó mà đến đây?

– Tôi ở đây để kiếm sống. Ở đây tương đối dễ tìm việc hơn. Đi hát dạo thế này còn kiếm được khá tiền, chứ ở quê tôi thì nghèo lắm!

My im lặng.

Ông Louis hỏi:

– Thế còn cô? Quê của cô ở đâu?

– Quê của tôi… xa nơi đây lắm ông ạ, là Việt Nam đó!

Ông Louis gật gù:

– Việt Nam? Việt Nam ư? Tôi biết. Tôi đã có thời gian ở bên đó.

My reo lên:

– Ông đã ở Việt Nam?

– Phải. Tôi cũng đi nhiều nơi, về thôn quê cũng nhiều. Tôi làm quen với cả những người ca sĩ đi đàn hát dạo ở xứ của cô nữa đó!

– Thật vậy sao?… Ông ơi, ông có phải là… cựu quân nhân?

– Phải! Nhưng giờ đây tôi đã về sống đời bình thường. Tôi hồ quên hết rồi! À, gia đình của cô ở cả đây chứ?

– Không ông ơi! Cha mẹ và nhiều anh em tôi còn ở Việt Nam. Tôi nhớ nhà lắm!

– Bao giờ cô về lại?

– Tôi chưa biết nữa. Hôm nay tôi lo đi mua quà dần dần cho những người thân. Tôi muốn gửi quà cho họ nếu tôi chưa về được.

– Vui nhỉ! Vậy tôi hát tặng cô bản “Take me home, country roads” nhé!

– Vâng, cám ơn ông.

– Nhưng tôi không nhận tiền của cô nữa đâu đấy!

2

Phố Hầm Atlanta, người dân ở thành phố Atlanta quen gọi đó là Underground. My thì thấy chữ “Phố Hầm” do mình đặt có một nét hay hay, rất đặc biệt. Từ khi còn là một cô bé, sinh ra và lớn lên tại thành phố sương mù Đà Lạt, My như đã gắn bó với những kiến trúc có tầng hầm. Đi làm việc tại những viện nghiên cứu khắp nơi, My cũng đã từng miệt mài trong những “labo” ở tầng “sous-sol”, hay còn gọi là basement. Đến Atlanta, không chỉ có một basement mà còn có thể đến ba, bốn tầng basement. Và ở đây, tính cách vừa cũ kỹ vừa tân thời của khu Underground cũng đã gợi cho My nhiều cảm tình. My thấy mình rong chơi trong Phố Hầm như người đi khám phá những điều thú vị. Khi đi vào những cửa tiệm đầy ánh đèn thì có cảm giác đang là ban đêm, nhưng ra đến một nơi khác thì chan hòa ánh sáng mặt trời. Tại đó, My thích đứng chụp hình với những hình tượng trong truyện cổ tích hoặc phim hoạt họa. Những bức tượng đó cao to hơn My rất nhiều.

Đa số những người làm ăn buôn bán ở Phố Hầm là người da đen, cũng như ở nhiều nơi khác trong thành phố Atlanta. Atlanta! Cái thành phố quê hương của “Cuốn theo chiều gió”, của Khu tưởng niệm Martin Luther King Jr., của Trung tâm Jimmy Carter, của tổng hành dinh CNN, của Thế giới Coca Cola, … và của Phố Hầm. My quen thuộc những nơi ấy, cũng như quen thuộc lối đi về CDC và Villa International trên khu đồi thơ mộng của mình vậy.

Nếu My gặp ông Louis ngoài đường phố, không đàn không hát không chuyện trò, thì chắc My cũng thấy ông bình thường như những người My gặp trên xe bus, trong tiệm ăn, trên màn hình ti-vi, hoặc như những người làm việc trong các tiệm đánh giày. A! Nói đến tiệm đánh giày thì phải nhấn mạnh đến điểm đặc biệt của nó. Người ta sẽ được thấy một khung cảnh mà ở Việt Nam không bao giờ có. Người khách hàng ngồi trên một chiếc ghế đặt trên một cái bục rộng, cao khoảng hơn một mét. Người thợ đánh giày thì đứng, chứ không ngồi, và đứng rất thẳng, làm công việc đánh bóng đôi giày cho khách. Lần đầu tiên khi My nhìn thấy cảnh này, My giật mình vì có cảm tưởng rằng người khách kia ngồi “chễm chệ” trông hách dịch quá! Nhưng khi nhìn lại, và suy nghĩ kỹ, My thấy hay hay, bởi vì người thợ đánh giày không phải ngồi lom khom dưới chân của khách. Họ đứng thẳng như những người thợ hớt tóc, thợ may, nhân viên bưu điện hay ngân hàng; hoặc theo cái nhìn “méo mó nghề nghiệp” của My, giống như những người làm việc trong phòng thí nghiệm vậy. Nhưng đó là những người thợ đánh giày làm việc trong tiệm. Ngoài đường, My vẫn gặp những cô cậu thiếu niên xách những thùng đồ nghề giống như những em bé đánh giày của Việt Nam. Chúng chen chúc chạy lên xe bus, xe lửa, đứng túm tụm vào với nhau và nói cười râm ran thật tự nhiên.

Ông Louis thì lại đại diện cho một góc cạnh khác của thành phố này. Cũng như những người đàn hát trên phố ở những nơi khác mà thôi, nhưng ông hầu như đã gắn liền với Phố Hầm. Ông nói cho My biết rằng ông sống đơn độc ở Atlanta từ mấy mươi năm nay, sau khi ông trở về đời sống dân sự. Ông cư ngụ trong một khu phố nghèo ở ngoại ô, ngày ngày đáp xe lửa vào đàn hát mưu sinh ở Phố Hầm. Tiền bạc kiếm được ông đều gửi về giúp bà con ở New Orleans. Ông sống cuộc sống rất đơn giản nên không cần nhiều tiền chi lắm. Công việc đàn hát của ông cũng như một “hobby” thôi, nhưng lại là một thú tiêu khiển kiếm ra tiền, ông không còn mơ ước nào hơn. Có khi đôi mắt ông, trong khi hát, bỗng trở nên xa thẳm. Tiếng đàn của ông, tuy không réo rắt thổn thức như tiếng kèn trumpet của ông Jack, bạn ông, cũng hay biểu diễn trước khu nhà hàng, nhưng nó lạ lùng lắm. Có khi nó vui tươi tở mở như tiếng reo của người đi xa lâu ngày được trở về quê. Lại có khi nó nghẹn ngào như nói lên thân phận của những người sống lạc loài đã mấy trăm năm, muốn tìm lại cội rễ của mình.

Lần này thì My nghe ông Louis hát bản “Georgia on my mind”. My thường nghe bài này với hình ảnh Ray Charles ngồi đàn piano và hát. Nhưng ông Louis chơi guitar thì lại có một tính cách riêng. Chơi guitar trình bày một bản nhạc jazz thì có vẻ hơi lạ lùng một chút. Nhưng ông Louis vừa đàn vừa hát rất tự nhiên, như thể ông đang tâm tình cùng mảnh đất nơi ông đang trú ngụ.
Chỉ một bài hát cũ
Giữ Georgia trong tôi
Đêm ngọt ngào quyến rũ
Qua hàng thông, trăng trôi

Như cánh tay vươn nhẹ
Như ánh mắt dịu dàng
Giấc mơ lành khe khẽ
Về đường tôi thênh thang

Khi ông Louis dứt tiếng thì My cũng vừa dịch xong lời bài hát trong đầu. My đọc cho ông nghe. Ông lộ vẻ cảm động lắm. Ông nói:

– Tiếng Việt của cô nghe hay quá! Nó trầm bổng du dương như có nốt nhạc.

– Cám ơn ông Louis.

Ông Louis bỗng reo lên:

– A! Tại sao cô không cho tôi và khán giả quanh đây nghe một bản nhạc Việt nhỉ? Cô… có chơi đàn được không?

– Dạ… có. Ông cho tôi mượn cây đàn nhé!

– Dĩ nhiên.

Và ông quay sang nói với đám đông:

– Thưa quý vị, đây là người bạn của tôi. Cô ấy sẽ hát cho quý vị nghe một bản nhạc Việt Nam.

My ngượng lắm. Nhưng cố thu hết can đảm, My bắt đầu bài hát mà My yêu thích từ nhỏ:

– Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn, lúa thơm cho đủ hai mùa. Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê…(2 )

Hát xong, My tóm tắt ý bài hát ra tiếng Anh cho mọi người hiểu. Mọi người vỗ tay dòn dã. My hết sợ. Ông Louis chớp nhanh đôi mắt, xúc động. Hình như ông đang bắt được cái nhịp đập chung của hai bài hát. Ông đứng yên. Ô kìa! Đám đông đang bắt đầu một động tác quen thuộc: họ lần lượt đến bỏ tiền vào chiếc hộp của ông. Nhiều người đến bắt tay ông, và bắt tay My nữa. My bối rối, nhưng nghe một niềm vui kỳ lạ đang đến. Hôm nay My đã làm một nghệ sĩ đường phố. Một nghệ sĩ của Phố Hầm!..

Khi ông Louis gom tiền từ chiếc hộp, ông đưa cho My và nói:

– My ơi! Tiền này là của cô đấy!

My từ chối:

– Không! Đó là tiền của ông. Tôi chỉ hát chơi thôi mà!

– Không được, của cả hai. Tôi chia đều nhé!

My phì cười:

– Ông thật là công bằng như kiểu Mỹ. Nhưng ông hãy cho phép tôi gửi tặng lại cho những em bé nghèo ở quê ông, nhé ông! Làm ơn!

– Ồ!.. Vâng. Vậy tôi xin thay mặt các em bé đó cám ơn cô.

3

Tuần cuối của tháng tám, My bất ngờ nhận được tin ba đau nặng. My bay về Việt Nam ngay. Đầu tháng chín, ba mất. My ở lại Sài Gòn nửa tháng để cùng má và anh chị em lo việc cho ba. Nỗi đau thương của gia đình chiếm hết thời gian và tâm trí của My. Và My phải trở lại Atlanta. Dòng đời mỗi người vẫn phải trôi theo hướng đã định. My lại bù đầu với công việc hàng ngày…

Một sáng chủ nhật, khi những tia nắng vàng bắt đầu nhảy múa, gợi lại sự thanh thản cho My, My cảm thấy muốn đi xuống phố. Xuống phố! Một công việc quen thuộc, chỉ trong vài tuần đã trở nên khá xa xăm. My lên xe bus.

Phố Hầm vẫn nhộn nhịp. Người qua kẻ lại dường như đông hơn trước. My khẽ mỉm cười. Ai cũng như có chút quen biết. Tại vì lòng mình nghĩ thế thôi! Chẳng trách những cư dân của Villa International, nơi My cư ngụ, cũng thường thốt lên “Home! Sweet home!” mỗi khi đi xa về. Phố Hầm như cũng ngọt ngào chào đón. My chạy ngay đi mua loại bánh Pháp quen thuộc, rồi đến nơi ông Louis vẫn thường biểu diễn.

Không có ông ở đó. My chạy tìm ông ở những nơi khác, cũng không gặp. Ông đã đi đâu? Ông bệnh chăng? My giật mình khi nhớ ra rằng ông không còn trẻ trung gì nữa. My ngơ ngác…

Tiếng kèn trumpet! My đã nghe tiếng kèn văng vẳng. My chạy đến nơi kịp nhìn thấy ông Jack vừa chấm dứt bản nhạc. Thấy My, ông Jack đưa một bàn tay lên chào. My đến gần, hỏi ông:

– Ông Jack, ông có biết tại sao ông Louis không đến đây?

Ông Jack lắc đầu:

– Không. Tôi đã không gặp ông ấy từ cuối tháng. Ông ấy bảo ông phải về New Orleans để thăm bà con và giúp đỡ cho họ. Sau đó, đã xảy ra cơn bão Katrina. Cho đến nay, vẫn chưa thấy ông ấy trở lại. Tôi không được biết tin tức gì thêm.

Thấy My chưng hửng, ông Jack an ủi:

– Chắc không sao đâu! Cầu Chúa ban phước cho ông ấy.

– Vâng, chắc không sao đâu!

My tạm biệt ông Jack. Phố Hầm bỗng như vắng lặng khác thường. Túi bánh trên tay My vẫn còn nóng hổi. My lang thang hết các khu phố. Tiếng xe lửa chạy rầm rập trên những chiếc cầu cạn (3), gợi nên hình ảnh một người tìm về quê. Một chân bước xuống sân ga, chân kia còn trên tàu…

Well, I got one foot on the platform
The other foot on the train
I’m goin’ back to New Orleans
To wear that ball and chain…

My ra khỏi Underground. Khung cảnh sáng trưng trước mắt với đài nước chảy lấp lóa. Một bầy chim bồ câu đang vui đùa với các du khách. My mở túi bánh, lấy ra một chiếc và bẻ nhỏ mời chúng ăn. Bầy chim ăn no nê xong rủ nhau bay đi. Nhưng có một con còn ở lại. Nó không cử động. My đến gần. À, con chim giả! Con chim bồ câu đậu gần chân của một bức tượng. Đó chính là bức tượng người đàn ông đội chiếc “mũ phớt”, ngồi trên thềm, cúi đầu, bên cạnh ông là một chiếc chăn nhỏ cuộn lại. Một người không nhà! Bức tượng có lẽ làm bằng thạch cao, nhưng lớp sơn bên ngoài đen xám như màu đồng. Ông đang ngồi thật thong dong. Có lẽ ông cũng đang thả những mẩu bánh vụn xuống đất cho con chim nhỏ này ăn. Sau lưng ông là bờ vách nước chảy rất đẹp mắt. Ông ngồi như bao nhiêu du khách ngồi chơi trên bậc thềm thấp đó, yên lặng, nhưng không lẻ loi.

My ngồi xuống bên bức tượng, chợt giật mình. Bao lâu nay My đã quen thuộc với bức tượng này mỗi khi đến Phố Hầm. My lại còn ngồi cạnh ông để chụp hình nữa. Nhưng chưa bao giờ My ngắm kỹ gương mặt của ông, bởi nó hầu như khuất trong bóng của chiếc “mũ phớt”. Bây giờ My mới nhận ra rằng gương mặt này rất giống ông Louis. Mà không! Không phải chỉ giống ông Louis. Bức tượng này có lẽ giống rất nhiều người. Đó chính là những người “nghệ sĩ” rất âm thầm của Atlanta. Họ đến rồi đi. Có thể rồi họ cũng sẽ trở lại.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

HOÀI XUÂN QUÊ MẸ

Con đi biền biệt xứ người
Tóc xanh nay đã bạc rồi mẹ ơi
Vẫn còn mắc nợ tao nôi
Ngày xưa mẹ đã đứng ngồi ru con
Ru quên tháng lụn năm mòn
Ru cho trái ấu nên tròn mới thôi…
Ru chồng ấm cuộc tình vui
Ru con giọng điệu của người bao dung!
Bao năm giữa cõi hồng trần
Tấc lòng cố xứ mẹ mong người về…
Vậy mà con vẫn xa quê
Lưng dài vai rộng để ghì xót xa
Ở đâu bằng được quê nhà
Mùa xuân hương bưởi thơm qua hồn người.
.
TRẦN DZẠ LỮ

EM GIẤU ĐI ĐÂU MÙA XUÂN HỒN NHIÊN ?

Trở lại ngôi nhà cũ
Trở lại vườn chim xưa
Ngập hồn đầy tuyết trắng
Mơ chim hót giao thừa

Em về tiếng vĩ cầm
Áo lụa chút nắng hanh
Ta trơ cành lá chết
Mơ hé một nụ mầm

Giữa ngàn trùng tuyết phủ
Giữa tuyết phủ ngàn trùng
Giọt vĩ cầm chát ngắt
Mơ cũng chẳng thấy xuân

Nụ vàng xưa cầu ao
Phơ phất câu đối đỏ
Lửa nhen mùi hương xuân
Áo hoa hanh nắng mới

Tóc nhánh đen thả dài
Em giấu đâu mùa xuân ?
Hồn nhiên xưa héo hắt
Anh mãi chờ tuyết tan …

CHU THỤY NGUYÊN

NHẬN DIỆN NĂM MỚI

để nhớ anh Chu Trầm Nguyên Minh

Hãy cắm giùm anh cánh hoa
Nơi cánh cửa mở ra cõi ngoài
Nơi linh hồn anh bao lần ứa máu
Nơi có những chuyến xe đi về
Mang theo những điều mộng ảo
Nơi anh ôm em và chúng ta sẽ khóc
Lần cuối cùng cho mãi mãi ngàn sau
(Chu trầm Nguyên Minh, Năm Mới)
@
Mùa Noel tôi hay nhớ lại bài ca NOEL NOEL của Nguyễn Hữu Ninh sáng tác, mùa Tết tôi lại nhớ đến bài ca NĂM MỚI của Phan Ni Tấn. một bài ca được phổ từ bài thơ Năm mới của Chu Trầm Nguyên Minh.
Tiếng hát khàn trầm của anh bạn Nguyễn Hữu Ninh đã lột tả hết những chịu đựng của con người trước nỗi thống khổ cuộc đời, và chúng tôi, tôi và Út Chiến, thường nghêu ngao một mình để khỏa lấp nỗi trống trải trong những ngày nhọc nhằn của thập niên 80 nơi rừng núi Thạch Thành Phú Yên.
Nhà Út Chiến nằm bên giòng sông Cửa Bé và sông Quán Tường ở khu tái định cư Hòn Rớ. Trước nhà là dãy Chín Khúc Đồng Bò, sau nhà là một dàn rớ trên sông nước mà Út Chiến đã cùng anh Cụng dựng lên để làm kinh tế phụ qua ngày. Cảnh trí thơ mộng của sông núi cộng thêm chòi kéo rớ bên bờ liễu rũ đã thu hút không biết bao bè bạn tứ phương về tụ hội.
Năm 2002, trong một cuộc vui ở chòi rớ, Út Chiến đã nghêu ngao lại bài ca Năm Mới góp vui. Trong chiếu hôm ấy có cả thi sĩ Vũ Nguyên và anh Họa sĩ Thanh Hồ, Thanh Hồ đột nhiên vỗ đùi và nói:” Đây là bài hát phổ thơ của Chu Trầm Nguyên Minh, anh bạn rất thân của mình từ nhiều năm trước. Chắc anh sẽ vui lắm khi biết bài hát này”. Và khi tàn tiệc , Thanh Hồ hứa hẹn sẽ mang anh Chu Trầm Nguyên Minh về đây để gặp lại đứa con tinh thần của anh qua lời nhạc Phan Ni Tấn.
Nghe vậy thôi, rồi ai nấy cũng phải lao vào giòng chảy cơm áo gạo tiền, tôi năm ấy đã vào Sài Gòn làm việc và một hai tháng lại về Nhatrang gặp gỡ bạn bè.
Tết 2003, theo thông lệ, gia đình chúng tôi lại về Diên Khánh đón Xuân cùng gia đình con gái đầu. Nhận phone Út Chiến ngày mùng một Tết:”anh chị ghé nhà em chiều nay nghe, có cả anh Chu Trầm Nguyên Minh và Thanh Hồ nữa”. Hơi bất ngờ, nhưng không hề gì, đã về tới nhà thì thời gian là của mình, huống gì là cuộc hạnh ngộ.
Chiều năm mới bên bờ sông Cửa Bé sau nhà Út Chiến thật thanh bình. Giòng sông như ngừng chảy, chỉ hiu hiu gió khẽ lay những bông liễu đỏ phất phơ .Chiếc bàn nhỏ dưới gốc liễu đã có năm người ngồi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp gỡ anh Chu Trầm Nguyên Minh sau biết bao lần đọc thơ anh trên Văn, Văn Học, Bách Khoa, Dựng Đất…anh ngồi đó, khuôn mặt phúc hậu, giọng ôn tồn nhỏ nhẹ, đúng là phong thái của một nhà giáo lâu năm. Tôi cũng không quên ngạc nhiên thứ hai của mình : ngoài anh Chu Trầm Nguyên Minh, Thanh Hồ, Út Chiến, Tiểu Nguyệt thì người thứ năm lại là người tôi từng quen biết, anh Nguyễn Hữu Anh Tuấn. Anh và tôi cùng làm việc ở Funaco tại Trường Lái. Trái đất quả nhỏ bé .Anh Tuấn cũng chưa từng ngờ rằng, anh Lê Sỹ Ngọc -bạn thân của anh- lại là bạn cùng lớp của tôi tại trường Đặng Đức Tuấn Tuy Hòa trong thập niên 60, bởi tôi chưa hề nhắc suốt nhiều năm cùng làm tại Điện Biên cũng như ở Funaco.
Anh Chu Trầm Nguyên Minh ngồi đó, hỏi thăm chúng tôi đủ chuyện quanh phát tích bài hát đó, như thể đón lại một người thân về sau một chuyến đi xa ngái ngàn trùng. Anh ngồi nghe Út Chiến hát, mắt anh đẫm lệ, vì sao??
Trong thuở bình sinh đôi mắt ta
không hề cho đẫm lệ bao giờ
cười theo thất bại, khinh nguy hiểm
nện gót vang đường nhịp khúc ca
(Thế Lữ, Tiếng gọi bên sông)
Út Chiến vẫn hát, cố hát thật “hay” vì Út Chiến chỉ hay hát chứ chẳng hát hay. Anh Tuấn lấy máy ảnh Fuji ra tạm làm máy thu bài hát của “ca sĩ” Út Chiến để làm quà cho anh Chu Trầm Nguyên Minh. Anh Chu Trầm Nguyên Minh dường như đang hồi tưởng lại thưở ra đời của bài thơ Năm mới
“Cuối năm 1969 – đầu năm 1970 mình được biệt phái về dạy lại ở trung học Duy Tân Phan Rang ,lúc này,tụi mình đã có hai cháu ,con gái đầu lòng: Phạm Nguyễn Ca Dao ,con trai kế : Phạm Trần Nguyễn . Mình thuê căn nhà ở Mỹ Đức ,ngoại ô thị xã, căn nhà nằm bên một rừng cây Bạc Hà ,lẻ loi. Để có sữa cho hai cháu,mình chạy nhiều trường ,dạy cả ban đêm .Đêm đêm trên chuyến xe trở về…mình viết bài này”
……
Hãy hát giùm anh lời ca xưa cũ
Chỉ lại con đường tuổi trẻ anh đi
Chỉ lại nhớ nhung ,chỉ lại giận hờn
Chỉ cho anh nơi ngày xưa hò hẹn
Chỉ cho anh ánh nắng mai hồng
Đã chói chang một thời lãng mạn
Chỉ cho anh,hỡi em
Ngoài tuổi già vừa đến
Hãy nói giùm anh một lời triu mến
Yêu anh, yêu anh, yêu anh
Dù đôi mắt này giờ đây đã dại
Dù mái tóc này giờ đây hết xanh
Hỡi em,hãy mở vòng tay ngoan
Ôm hết những úa tàn sót lại
( Chu Trầm Nguyên Minh, Năm Mới)
Tiếng hát Út Chiến đã bặt, nhưng anh vẫn nhòa lệ trầm tư:
Hút sâu giữa cõi trầm tư
Một thời thơ trẻ mệt nhừ tử sinh
Phiêu linh giữa giấc u minh
Ngẫm xưa đã vậy ngẫm mình giờ sao
Muôn cơn sóng dữ ngọt ngào
Dìm thân thế nát giữa màu tang thương
(Châu Long, Viết cho anh Chu Trầm Nguyên Minh)
Tôi lặng ngồi ngắm dáng anh, ngẫm lại những chữ “giùm” trong cuộc đón năm mới thật thảm thương. Thảm thương một cách tròn vẹn, tròn trịa bổn phận làm người. Sống chính là nhớ. “Sứ mạng của con người trên mặt đất này là nhớ” (Henry Miller)
Anh đã nhìn, đã thấy, đã nhớ, đã khóc, đã tưởng niệm và đã giao trọn trái tim còn lại của mình cho người thân yêu chỉ để nhắn nhủ gắng gượng giữa cơn sóng gió còn dài. Bình yên và cơn phúc lớn chưa hề xảy đến cho thân phận con người. Có hề gì, dù đớn đau điên dại, anh vẫn thiết tha yêu cuộc sống này.
Đây không phải là bài duy nhất của anh được phổ nhạc, nhưng có một điểm chung là anh chưa từng là người được biết đầu tiên khi bài nhạc phổ thơ anh ra đời. như bài thơ Lời Tình Buồn của anh, Vũ Thành An phổ nhạc. Bài hát ra đời,1967, lúc Vũ Thành An và anh gặp nhau ở Quân Trường Thủ Đức, bài hát được yêu thích và phổ biến đã 45 năm, anh biết cũng rất muộn màng
Nhìn dáng vẻ trang trọng của anh Chu Trầm Nguyên Minh, Út Chiến như thấy mình có lỗi vì hát không đạt tinh thần bài hát lắm nên nói với anh Chu Trầm Nguyên Minh sẽ mời anh Sơn (GĐ HTX Sơn Hà) đến nhà hát cho anh nghe. Thật tiếc, khi có anh Sơn đến thì anh Chu Trầm Nguyên Minh đang trên một tour biển đảo Nhatrang.
Cuộc hội ngộ bất ngờ này đã là ấn tượng khó quên của tôi. Về nhà, lục lại trong chồng tạp chí Văn cũ, tôi lại tìm thấy lại được bài gốc Năm Mới của anh Chu Trầm Nguyên Minh. Tôi đã mang theo về Sài gòn với hy vọng sẽ gặp lại anh và trao cho anh quyển Văn chứa chất kỷ niệm về một đứa con tinh thần .
Nửa năm sau, ngày 21-06-2003 tôi lại có dịp cùng anh Chu Trầm Nguyên Minh và anh Thanh Hồ gặp gỡ tại Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sĩ 81 Trần Quốc Thảo Q3. Kỳ này tôi rủ thêm Nguyễn Hải, bạn thân lâu năm của tôi ở Sài Gòn cùng đi. Tôi cũng không quên quyển Văn đã chuẩn bị gởi anh. Gặp lại và trao anh quyển báo cũ, tôi chỉ nói: “Em gởi lại anh một kỷ niệm, nơi đến của nó phải là anh”. Không khí đơn giản của quán làm mọi người dễ hòa đồng và gần gũi. Bàn chúng tôi ngồi có nhiều người tôi chưa hề gặp, tôi chỉ còn nhớ anh Nhạc Sĩ Nguyễn Nam bên Đài Truyền Hình, có lẽ do dáng ngỗ ngáo phong trần khác xa độ tuổi trung niên của anh, thêm vào chiếc xe môtô phân khối lớn làm người anh lọt thỏm khi ngồi lên. Anh Thanh Hồ trổ tài vẽ ký họa cho Nguyễn Hải và tôi giữa tiếng trò chuyện ồn ào trong quán nghệ sĩ mà anh đã quá quen thuộc. Anh Chu Trầm Nguyên Minh vẫn trong phong thái nhẹ nhàng, chừng mực nói chuyện đời thường với mọi người như một người thân quen của quán nghệ sĩ này từ mấy mươi năm trước. Thảo nào những học trò cũ của anh ở Trung Học Duy Tân Phan Rang luôn nhớ anh trước tiên khi nhắc nhớ đến kỷ niệm trường xưa:
Này , ông nói nhớ Phan rang , nhớ Duy Tân , mà ông nhớ gì nhất
-Ừ , thì nhớ câu hát :” Anh đi rồi còn ai vuốt tóc , lời tình thơm sách vở học trò…” của thầy Chu Trầm Nguyên Minh , Vũ Thành An phổ nhạc.
http://trunghocduytan.com/viewtopic.php?t=11251&sid=f823037e541c73cbc3da91016c8f643a
*
Gần mười năm không gặp lại, tình cờ anh tìm lại được số điện thoại của tôi. Anh gọi cho tôi như tìm lại được một người thân xưa cũ làm tôi cũng nghẹn ngào như anh.
Chúng ta chỉ là những cánh bằng tan tác. Giữa đời say bỗng thấy bóng ta trong người tương ngộ. Còn thấy nhau cứ trân trọng nhau mà chợt nhói nỗi xót xa. Tất cả chỉ là cọng củi mục giữa giòng suối mùa lũ. Có đọng lại chăng là nguồn mát lạnh của giòng suối đã đẩy xô ta giữa nỗi đời quá đỗi đa đoan.

ĐẶNG CHÂU LONG

CHÚ TIỂU SAY HOA

Mới sáng tinh mơ . Mở cổng chùa!
Hồ sen trước ngõ gió xuân đưa
Cánh trắng nõn nà hương đọng nắng
Lòng nghe rạo rực giữa muôn hoa.

Chú tiểu say sưa ngắm ngất ngây
Trong sân đàn bướm nhởn nhơ đầy
Mấy chậu mai vàng khoe chút mộng
Giò lan thơm phức động xuân lay…

Chợt  thoáng bụi trần hong khóe mắt
Mới hay niệm khởi vút tầng mây
Giật mình tiếng chuông ngân bừng tỉnh
Nắng rọi Tổ Đình sương khói bay …

Trước cửa Từ Bi quỳ sám hối!
ÁoThiền vẩn đục sắc màu lam
Xin Người chứng cho lòng đệ tử
Đời con nghiệp ái vẫn chưa tan?

NGUYỄN NGỌC THƠ

LỜI TỎ TÌNH MÙA XUÂN

Cũng có thể mùa xuân là bản
Boléro êm ái – dịu dàng
Rất dễ thương – em – tà áo trắng
Thật trữ tình theo nhịp Tango

Cũng có thể mùa xuân vàng ngõ
Hoa mai- hoa cúc lẫn hoa quỳ
Dẫu không tiếng pháo em vẫn nhớ
Đón giao thừa đợi tết lì xì

Cũng có thể mùa xuân vừa chín
Trái xanh treo lơ lửng đầu cành
Anh cũng sẽ cùng em tìm kiếm
Những ngày vui sương khói mong manh

Những ngày vui. Ừ! Thôi cũng đủ
Lồng ngực em xao xuyến nhảy Soul
Quên đi nhé! Nỗi buồn xưa cũ
Chờ tiếng chim hót sớm mai hồng

Cũng có thể mùa xuân thầm lặng
Nghe điệu Valse rơi xuống giữa lòng
Anh chợt hiểu giờ em đã lớn
Khi trao người nhành lộc biếc non

Một bông hồng nở rộ sắc hương
Như nói hộ giùm anh năm mới
Lời tỏ tình mùa xuân chưa ngỏ
Trái tim ơi! Sao cứ bồi hồì

LINH PHƯƠNG