Bà nội

ĐOÀN THỊ LỆ THANH

real-1

Khi không còn ai để gọi là bà nội bà ngoại thì đến lượt chúng ta lên chức bà. Tôi làm bà nội đã gần hai năm. Lúc cháu nội tôi mới chào đời, bạn bè người thân xúm lại chúc mừng “bà nội” nghe thật oai, thật đáng hãnh diện, nhưng đang  say sưa trong niềm vui “ lên chức”, tự dưng tôi giật mình “ thì ra mình đã lên hạng lão bà rồi!”. Tuy nhiên ngắm mấy bà nội bà ngoại bạn và ngay cả tôi, tôi thấy dường như không giống “bà” cho lắm, ai cũng còn tươi tắn, trang phục trẻ trung hợp thời, không váy đầm, áo hai dây, thì cũng quần jean, quần lửng. Trong thời đại này, thời công nghệ thông tin phát triển một cách thần kì trong từng giây từng phút, những bà nội bà ngoại ngày càng trẻ ra, sành điệu và thức thời, thật khác xa với hình ảnh bà nội tôi trong kí ức Tiếp tục đọc

HÀ NỘI CHIỀU MƯA

Hà nội chiều mưa bay
Tôi một mình xuống phố
Còn gì trong vòng tay
Của một thời năng nổ

Cầu Long Biên đứng lặng
Nhìn tôi như mỉm cười
Mặc sông Hồng lờ lững
Cuốn phù sa về xuôi

Tôi đi và đi mãi
Phố vắng thưa chân người
Tiếng mưa như gõ nhịp
Khúc độc hành bên tôi

Đèn nhà ai thắp sáng
Lung linh mặt hồ đầy
Hay nỗi buồn thiên cổ
Gờn gợn nước Hồ Tây

Tôi đi và đi mãi
Giữa mênh mông cuộc đời
Xin hiểu giùm tôi nhé
Hà Nội, Hà Nội ơi !

HUỲNH HỮU VÕ

XUÂN ĐẦY SẮC NỤ VÀ HOA

Xuân mùa nụ nõn hây hây
Sắc hoa còn đến chút nầy hiến dâng
Về sau trong mãi mùa xuân
Thênh thang cõi sống lâng lâng đóa lòng

Mùa xuân đón cánh xuân mong
Tiếng lòng xuân,ngọn xuân phong gọi mời
Xướng lên giọng cũ à ơi
Phả vào nhân thế xuân khơi nhịp ngày

Tình xuân thắm cuộc đời nay
Em cùng tôi nắm chặt tay vui cùng
Nhịp đời réo rắc say chung
Lời quê hương vỡ tựu trung vì người

NGÃ DU TỬ
Khai bút Giáp Ngọ 2014, viết trước chậu mai nhà

THÁNG GIÊNG SÁNG TỐI

Thanh Xuân Bùi

kyu-hak

Những ngày náng ấm chậm rãi nhưng rồi cũng đi qua một phần ba tháng giêng. Tết suy thoái lùi dần xa vài ngày trước. Không muốn ngoái lại nhìn mấy ngày  Xuân thu lu ngồi trong nhà suy ngẫm về một vài điều. Băn khoăn hay ray rứt vì một điều gì đó.

Tôi trở lại với bàn phím và bắt đầu viết.

Mười ngày rồi. Tiếng chổi tre xoèn xoẹt trên mặt đường đêm ba mươi cứ ám ảnh tâm trí tôi.  Người phụ nữ khắc khổ cúi đầu xuống mặt đường, đôi mắt không rời cái chổi lia thoăn thoắt, vẽ vòng cung từ trước ra sau với dáng đi thụt lùi của chị.tựa

Không hiểu đêm nay chị có được đón giao thừa cùng với những đứa con bé nhỏ của mình hay tựa mình bên chiếc xe đẩy đầy rác, ngước nhìn lên bầu trời vang vang ầm ào tiếng nổ của pháo hoa. Khoảnh khắc ấy chị mơ ước điều gì?

Cô bé yếu ớt gồng mình cầm cán gỗ treo đầy bong bóng đủ màu sắc chiếm một không gian và tầm nhìn khá lớn đang rướn người ngược chiều gió. Hàng trăm chiếc bong bong bơm căng phồng lập loè dưới ánh đèn màu. Em từ vùng quê xa xôi nào đó đang mưu sinh trên những con đường phố ngày sắp Tết.

Đêm nay em sẽ ngủ ở đâu. Liệu những cái bong bong kia có ủ ấm em trong cái lạnh đêm giao thừa. Liệu pháo hoa rực rỡ có làm em vui và nở nụ cười đầu Xuân hay lại rơi những giọt nước mắt bên thềm hè nhà ái đó.

Có hai đứa trẻ trong con hẽm hun hút đang ôm nhau, khuôn mặt buồn ngước nhìn ra hiên nhà tối om chờ Ba Mẹ về. Đôi vợ chồng nghèo vất vả lội qua những con phố đông người mong cho xấp vé số vơi dần.

Họ vội vã trở về vừa lúc trên bầu trời rực sáng sắc màu. Tiếng reo vang của trẻ con. Bốn người ôm nhau hạnh phúc.

Quán nhậu đông người. Chiếc bàn kê ngoài sân quán có năm người đàn ông đang râm ran câu chuyện cười. Khuôn mặt họ núc ních, miệng toe toét cười hớn hở cùng chia vui, chúc mừng những thành đạt trong năm qua.

Người đàn ông phục phịch ngồi ngoài cùng đang than thở về đạo đức con người bây giờ sao “xuống cấp “ quá. Ông ta kể lại câu chuyện hai cô bảo mẫu hành hạ trẻ con. “ Bọn này đùng là một thứ vô đạo đức, nhẫn tâm, tàn bạo. Tôi mà xử hả? Cho chúng nó cái án chung thân hay tử hình mới xứng. Tiếp tục đọc

BỖNG NGỌT VỊ ĐỜI

1656388_624273880978935_684078041_nCầm cuốn sổ 25 năm trước tôi tập tò dịch lại tác phẩm Kẻ Tiên Tri của Khalil Gibran cho qua những ngày tháng đau bệnh, thất nghiệp, chán nãn một thuở nào, giở trang đầu tiên đọc lại, những dòng chữ như đang cùng tôi nhảy múa:
Làm sao có thể ra đi trong thanh thản mà chẳng khổ đau? Không, sao ta có thể rời bỏ thành phố mà chẳng để lại vết thương lòng.
Dằng dặc là những chuỗi ngày đau khổ mà ta đã trải qua ở chốn tường thành. Dằng dặc là những đêm cô đơn; và ai có thể rời sự thống khổ và cô đơn mà chẳng đắng cay.
Hằng hà mảnh hồn ta đã tan tác trong các đường phố này. Hằng hà những đứa con của khát vọng ta, trần truồng đi trong những ngọn đồi này, và ta chẳng thể dứt bỏ nhẹ nhàng được.
Đó chẳng phải trang phục ta có thể cởi ra hôm nay; đó là tấm da ta phải đành lòng giật ra tự đôi tay mình
Đó chẳng phải một ý tưởng để ta dễ dàng dứt bỏ; đó là trái tim nguội lạnh bởi sự đói khát khôn nguôi
(Le Prophète, Khalil Gibran)
Tôi thở dài gấp lại, liên tưởng đến anh Chu Trầm Nguyên Minh, liên tưởng đến anh Thanh Hồ và không sao nguôi ngoai giòng nhớ.
Cả hai anh, nhà thơ và nhà họa sĩ tôi biết đều có chung một nỗi niềm, một vết cứa tình bạn chưa bao giờ lành. Chung qui cũng vì đời hai anh quá trọng nghĩa tình.
Nỗi đau của anh Thanh Hồ về người bạn thân thiết ngày nào cùng quẩn, trốn lính cũng ngộ. Ngày anh cất nhà, anh cương quyết phải chừa đường dọc hông nhà một mét dù chiều rộng nhà chỉ còn vỏn vẹn hơn ba mét. Cuối đường, sát tường dựng một thủ kỳ nhỏ che một lổ hổng tường, chỉ bởi nhà bạn đối lưng nhà anh. Anh nói để bạn anh có đường thoát khi bị khám nhà. Sau 75 anh bạn bay bổng coi như không biết có anh.
Còn anh Chu Trầm Nguyên Minh thì “tội” bảo bọc một người bạn của người bạn khi anh còn làm ở quân trường. Có lần vì vậy mà suýt phải ra tòa án binh nếu không nhờ chị Tùng Vân quen biết gỡ ra. Sau 75 anh chị cũng bị hồi mã thương khi sa cơ thất thế.
Năm 2003, gặp gỡ, nói chuyện với hai anh, nghe anh Thanh Hồ bực bội nói chuyện cùng anh Chu Trầm Nguyên Minh về nỗi đời, anh Chu Trầm Nguyên Minh chỉ nói chuyện đời nó đã là vậy thôi bỏ qua cho nhẹ lòng. Tôi không rành nên chẳng tiện xen ngang.
Nhưng nghe chừng vết cứa đó vẫn còn y đó. Chuyện đời đừng nghĩ đến thì thôi, tuổi già lại hay hồi tưởng, nhớ tới lại ngậm ngùi.
Có lần gần đây khi qua chơi cùng anh Chu Trầm Nguyên Minh, anh hỏi tôi: em thấy có nên gạt bỏ một khoảng buồn quá khứ không vui với mình không? Tôi biết anh vẫn canh cánh chuyện đó nên nói: việc đó là do anh. Nên hay không chẳng quan trọng gì so với việc thanh thản với tâm mình. Biết đâu họ cũng mãi mang cục đá nặng nề như anh trĩu buồn vì chuyện đó suốt khoảng dài mấy chục năm qua
Cánh thời gian bay hút đi, vệt đời dài vẫn cứ quét vào tim nhau những cơn đau nhói lòng. Anh Lê Vĩnh Thọ vẫn mãi đùa anh là nhà giáo làm thơ, việc đời cứ phải như việc dạy trẻ, gai mắt khó chịu thì không thể xuề xòa vuốt nhẹ bỏ qua. Tội nghiệp cho một chữ tình làm sao tròn trịa lăn trên cõi nhân gian đầy gai góc lọc lừa này.
@
Sớm hôm qua, tôi gọi điện cho anh vào giấc sáng thăm hỏi sức khỏe. Nghe gọi, cô con dâu của anh hỏi anh có trả lời được không, và sau đó là giọng nhẹ hụt hơi của anh làm tôi giật thót mình. Tôi nói anh chuyển lại cho cô con dâu để hỏi chi tiết và nơi anh nằm điều trị. Hóa ra anh đã vào bệnh viện Triều An từ mùng hai tết mà tôi chẳng hề hay biết do còn ở Nhatrang.
Vợ chồng tôi vào đến, thì đã có mặt một số anh em Quán Văn. Vợ chồng anh Trương văn Dân và Elena vẫn là những bạn sốt sắng với cánh anh em làm văn nghệ rồi Lê Ký Thương, Vũ Thế Thành… nồng ấm quanh anh. Gặp nhau anh mừng ra mặt và thăm hỏi từng người. Anh nói được sống cùng các bạn thì dại gì không sống. Anh dặn dò tôi đủ chuyện, tôi thì cứ nói thì còn nợ anh, từ từ trả….mặt vui nhưng lòng vẫn cứ buồn. Bây giờ bạn vây quanh, lát nữa đây tứ tán, nói như anh: bây giờ vui mừng thì cứ vui mừng, lát nữa lại tiếp tục…chiến đấu. Anh lại nhắc đến vợ chồng Út Chiến, tiếc lâu quá không gặp để Tiểu Nguyệt hát lại bài ca Năm Mới cho anh thỏa khóc lại một lần. Đúng anh trời sinh ra là để làm…thi sĩ. Bà xã tôi tuy không hát nhưng anh cũng đủ rơm rớm dặn “canh” tôi đủ chuyện. Vậy đó, thân anh còn lết bết như vậy cứ lo chuyện bao đồng. Vũ Thế Thành rổn rang chuyện dưới đất trên trời cùng anh. Trương văn Dân lại rủ anh đi thêm một chuyến Paris để sáng sáng ra phố tìm lại bà đầm bán bánh mì. Trông anh thật sảng khoái giữa tiếng cười nói và cả tiếng ca bài Lời tình buồn từ điện thoại của anh Vũ Thế Thành mở cho anh nghe. Ai nói vào bệnh viện không khí nặng mùi ê te?
Không viết được, không vào máy được là cả sự bực bội của anh. Anh làm việc như sợ quỹ thời gian không đủ, không kịp. Anh đã thể hiện nghiêm chỉnh tính cách anh vẫn nói : khi mình cầm viết, phải có trách nhiệm với lịch sử và cuộc đời và chịu trách nhiệm cả với những người cùng giòng sống quanh mình
Nhìn lại quanh tôi hôm nay, không ai nhận mình là nhà này nhà nọ, chỉ là những người có khát vọng viết như một trải nghiệm sống và bộc bạch nỗi lòng để lấp bớt những nỗi niềm và hoài bão đã phôi phai dần theo năm tháng.
Chỉ còn đọng lại những bạn đời theo cùng năm tháng như những chứng nhân giữa đành hanh cuộc sống. Đời bỗng vui như cuốn Tương Tri nằm im bên gối để anh cảm nhận nơi xa các bạn vẫn dõi theo.

ĐẶNG CHÂU LONG
12-02-2014

Em Nghĩ Chi Mà Cái Lược Rơi

 

Hôm nay không nắng, chắc không mưa, gió lạnh mơn man, gió hững hờ.  Em hững hờ đưa cây lược chải…giống như anh gặp em ngày xưa…

Ngày xưa, Đà Lạt hoa quỳ nở, hoa trạng nguyên xinh đến ngỡ ngàng.  Dốc núi quanh co, đường gãy khúc, trời không mưa, nắng, vẫn thênh thang…

Em áo laine choàng áo bà ba.  Muôn năm em vậy, gái quê nhà.  Em trong khung vải tranh sương khói, thủy mặc anh cầm cọ phớt qua…

Hôm nay không nắng, chắc không mưa, Anh nhìn em buột miệng câu thơ, và câu thơ đó, bài thơ mới…mà cũ như lòng thương mến xưa!

Em Huế vào chi Đà Lạt nhỉ?  Tại vì…non nước mở biên cương!  Như chừ em lạc qua trời Mỹ, ngó lại mô thì cũng khói sương!

Sương. Khói.  Không mưa.  Và chẳng nắng.  Trời ui ui lạnh gió hơi hơi…Từng con chữ chạy trên lòng giấy, em nghĩ chi mà cái lược rơi?

Đừng cúi nhặt lên!  Đừng cúi xuống!  Đứng yên em ạ, hoa quỳ vàng…Đứng yên mà ngó quanh em nhé, hoa nở khác nào bóng nguyệt chan?

Hoa nở vì em hoa bát ngát, ôi môi ôi má của người yêu!  Anh yêu em giống như Từ Thức…ba ngàn năm tìm em lâu bao nhiêu?

 

Trần Vấn Lệ

ĐẦU NĂM, RỘN RỊP CÚNG ĐÌNH, CÚNG MIẾU

Phạm Nga

Đáo lệ hằng năm, cứ  sau cái “tháng Giêng là tháng ăn chơi” ròn rã với nào là Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, nào là vía Bà Thiên Hậu…, qua tháng Hai âm lịch thì thiên hạ lại nô nức đi dự hai lễ hội dân gian lớn nhất ở toàn vùng Nam bộ, là vía Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc và vía Cô ở Dinh Cô vùng Long Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu). Ở cấp vùng, miền là thế, còn ở cấp phường, xã nhỏ bé hơn thì rõ ràng là với các kỳ cúng đình, cúng miếu, không khí lễ hội, cúng kiếng cũng không hề kém phần rộn rịp.

Trong tiếng Việt, chúng ta đã quá quen với tỉnh từ “nổi đình nổi đám”, thường được dùng để miêu tả tính chất náo nhiệt, mức độ tưng bừng của một sự kiện, một cảnh tượng có đông người tham dự… Cũng dễ hiểu khi trong hình dung từ rất giàu hình ảnh này có chữ đình – với chữ đám bổ trợ – vì xưa nay, theo kinh nghiệm thông thường của mọi người, từ già đến trẻ, những đám cúng đình mà bất cứ ai cũng có thể dễ dàng tham dự ở ngay tại làng xóm, quê nhà của mình hay ở địa phương mình đến sinh sống, làm ăn…, bao giờ cũng huyên náo, rộn rịp, tấp nập bà con lối xóm và  khách thập phương cùng đến dự.

via cô Longhải

(Vía Cô ở Dinh Cô (Long Hải – Bà Rịa)

VÍA KỲ YÊN, VÍA ÔNG, VÍA BÀ

Xưa nay, theo tập tục cổ truyền Việt Nam, chùa là nơi thờ Phật và đình, miếu (hay miễu) dành để thờ thần. Rồi theo kiểu thờ  “quần tiên, chư thần”, ở ngôi đình, cỗ miếu nào cũng có nhiều bệ thờ, trang thờ để thờ cho đầy đủ từ Thành hoàng, Phật mẫu, Quan Thánh đế, Ngũ Hành nương nương, Linh Sơn thánh mẫu cho đến Thổ Địa, Tài Thần, Táo công, Tiền hiền, Hậu hiền.v.v… Từ tín ngưỡng phồn tạp này, các thế hệ dân VN tiếp nối nhau tạo thành một nền “vǎn hoá đình” có tính đa dạng, “siêu thần” , có mặt gần như đủ hết các mẫu hình thờ phượng của cả 3 tôn giáo Khổng-Lão-Phật cùng tín ngưỡng dân gian. Do đó, hằng năm ở mỗi ngôi đình, cỗ miếu luôn có nhiều kỳ vía, hết vía Ông (các nam thần) lại vía Bà (các nữ tiên) và lễ vía “siêu thần”, quan trọng nhất đối với tất cả mọi nơi chính là lễ kỳ yên (hay kỳ an, tức cầu cho quốc thái dân an).

Ở những ngôi đình lớn, nổi tiếng ở đất Sài Gòn xưa nay, như đình Minh Hương (ở quận 5), đình Phong Phú  (quận 9), đình Phú Nhuận, đình An Phú (quận 12).v.v…, lễ kỳ yên được tổ chức rất trọng thể, tưng bừng. Còn với những ngôi đình, miếu nhỏ bé, do khách dự lễ thường chỉ bó hẹp là bổn đạo và dân địa phương nên qui mô tổ chức cúng kiếng – dù là cúng kỳ yên và hay cúng vía các thần  – đều có phần khiêm tốn hơn, mức độ tưng bừng so sánh giữa các kỳ cúng với nhau thì không hơn kém nhau nhiều lắm. Như ở đình An Hội (quận Gò Vấp), nội tháng Giêng ÂL như hiện nay, những rạp che, giàn giáo đã được dọn cất sau kỳ cúng Ông (Quan Thánh) vào ngày 13 và cúng Bà (Chúa Ngọc nương nương) ngày 15, bao giờ cũng ở tình trạng sẵn sàng được đem ra dựng lại để sử dụng cho lễ vía kỳ yên vào đầu tháng Hai ÂL tới.

LỄ, TẾ THEO TẬP TỤC CỔ TRUYỀN

cúng dinh An hội

Vía Bà ở đình An Hội (Gò Vấp)

Có dịp đến dự các lễ hội như cúng Ông, cúng Bà vừa qua ở đình An Hội, khách dự lễ có thể nhận ra là tuy không nguy nga, đồ sộ, nhưng ngôi đình này vẫn hội đủ những nét đặc trưng của kiểu đình làng VN xưa, điển hình là kiểu mái lợp ngói âm dương thật cổ kính.

Vừa thô mộc vừa tỉ mỉ, những người thợ thủ công, chạm khắc vô danh – xuất thân từ đám nông dân đất Gia Định xưa –  đã trang trí khắp trong, ngoài đình vừa bằng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống thôn dã (như hoa lá, cây kiểng, chim thú), vừa với hình tứ linh (long, ly, quy, phượng) tức những con vật huyền thoại.  Bước vào chánh điện trong đình, khách thấy ngay một cái khám thờ nhỏ có lọng che, dùng để thờ sắc thần vua ban, hai bên là hai giá ngũ bộ (năm loại binh khí). Ở bái đường (nơi trải chiếu làm lễ), bên phải có giá treo trống, bên trái có giá treo chiêng, ở giữa có tấm bảng lớn đề danh hiệu của đình.

Ở phía sau bái đường lại có một cái khám thờ khác đề một chữ “Thần” to lớn, chính là nơi dâng lễ vật tế tự. Theo tục xưa thì  lễ vật chính để tế thần là cỗ tam sinh (trâu, bò, dê hoặc lợn) vốn là những sản phẩm nông nghiệp, nhưng ngày nay được châm chế, chỉ còn là một chú heo hơi được cạo lông sạch sẽ nằm cạnh những mâm heo quay tiến cúng, kèm theo khay rượu, các mâm xôi, bánh, ngũ quả (5 loại trái cây).

Đứng vào các vị trí riêng, ban tế – mặc áo thụng xanh hoặc đỏ – gồm các vị: chánh niệm hương, chánh tế, bồi tế, chủ xướng, đông hiến, tây hiến, và các chấp sự lo việc tiếp nhang đèn, gõ trống, đánh chiêng. v.v…

Khởi chinh cổ!”, vị chủ xướng – giữ vai trò như  MC trong các buổi lễ hay sự kiện văn hóa, xã hội hiện nay – hô lớn vào micro, cho trống, chiêng đánh lên ba hồi mở đầu buổi tế…

Nhìn chung, do tục xưa để lại, diễn tiến của một buổi tế ở ngôi đình nào cũng khá giống nhau. Cũng chủ xướng hô lên cúc cung (vòng tay đưa thẳng trước ngực), bái (xá, vái), phủ phục (quì xuống, cúi đầu, tay chạm đất, lạy), bình thân (hai tay chống gối, đứng lên), cho ban tế bái lạy, dâng rượu, dâng trà, đọc văn tế.v.v…Cũng ban nhạc sanh thổi kèn lá, kéo đàn cò, nhưng ngày nay thường có thêm các nhạc công chơi ghi-ta điện tử.

Trong mọi buổi tế, nghi thức sống động, đẹp mắt nhất là học trò lễ (ngoài Trung gọi là đi điện), Đó là hai nhóm tả, hữu (từ 2 – 4 người) mặc áo xanh (hoặc vàng)  đội mão mang hia, dẫn đầu mỗi nhóm là một tế quan mặc đồ võ tướng. Mỗi lượt đi điện từ trước chánh điện đến bái đường, hai nhóm tế bưng chân đèn cầy, khay rượu hay hộp trầm hương. Trong tiếng trống nhạc inh ỏi, họ co chân bước tới theo từng nhịp đỉnh đạc, khoan thai, Đến bái đường, tế quan trao phẩm vật cho vị chủ tế đặt lên bàn thờ rồi cùng bái lạy.

Học trò lễ thường là do các nhóm tế chuyên nghiệp được thuê biểu diễn trong chính lễ. Riêng tại các đình, miếu mà dân chúng gọi tắt là miếu Bà, chùa Bà – chẳng hạn như miếu Bà Bửu Thọ ở gần Ngã năm Gia Định – học trò lễ bao giờ cũng có nữ tài, y trang giống hệt các tiểu thư, tiên nữ trong tuồng cổ. Các nữ tài chỉ bước bình thường, không co chân, đá giáp như các ông tế quan.

ĐÔNG NHƯ… COI HÁT ĐÌNH

Bao giờ cũng dài thậm thượt là cái bài văn (văn tế) do vị chánh tế  đọc ê a, ngắt ngứ. Được viết bằng tiếng Hán Việt (có chen vài tiếng nôm, như:  giai quì, khởi chiêng), bài tế chào mừng, khấn cầu cả một danh sách dài những thần linh các nơi, từ bậc cao như Ngọc hoàng, Phật mẫu, Quan thánh, Phước đức chánh thần, đến bậc thấp như Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ, Bạch mã thái giám, Đông trù táo phủ, các thần Ngũ phương – Ngũ thổ – Ngũ cốc, kể cả các anh hùng liệt sĩ, đồng bào tử nạn và thập loại cô hồn.

Không chờ bài tế kết thúc để vị chủ xướng sung sướng hô to “lễ tất!”, quan khách đã ngồi đầy các bàn ngoài sân đình. Ngoài trà nước, các món chiêu đãi cũng đơn sơ, như: xôi, bún cà ri, rau sống, đồ xào, thịt nướng.v.v…

Và, đúng là do bản sắc nông thôn Nam bộ được lưu truyền bền bĩ trong tục cúng đình, trong các món tiếp khách của đình An Hội có cả một món rất đơn sơ, dân dã là món mắm sặc (để nguyên con) ăn với thịt luộc. Còn đối với rất nhiều ngôi đình, cỗ miếu ở thành phố Sài Gòn, rượu đế hiện vẫn luôn luôn là món uống chủ đạo trong mọi dịp lễ cúng kiếng.

Trở lại với đình An Hội thì trong lúc ban trị sự, các hội viên và quan khách khề khà, trò chuyện mưa nắng thì bà con trong phường – đông nhất là đám con nít chộn rộn – cũng đã nhanh chóng chiếm hết ghế trước cái sân khấu dã chiến để coi hát bội. Năm nay cũng là nhóm nghệ sĩ Kim Dung với vở tuồng ruột là “Chung Vô Diệm”.

Hể cúng đình là thường có hát bội cho bà con xem miễn phí. Như hôm 12 tháng Hai ÂL năm kia, đình Phước Đức, còn gọi là miếu Ông Địa (phường 3, quận Gò Vấp) tổ chức cúng kỳ yên hai ngày liền, có tới bốn xuất diễn của nhóm hát chầu Bạch Hoa Phượng. “Chơi sang” như vậy là nhờ trong ban trị sự đình có một số hội viên vốn là các chủ tiệm vàng, thợ kim hoàn làm ăn ở khu vực Bà Chiểu – Gò Vấp -Thị Nghè.  Ngoài việc đóng góp hậu hĩ, số hội viên giàu có này còn hùn nhau dựng trong sân miếu một nhà thờ vị tổ của ngành kim hoàn thật khang trang. Hiện nay, dù trong hai năm gần đây khuôn viên miếu Ông Địa đã hẹp đi rất nhiều do bị giải tỏa bởi công trình đại lộ Phạm Văn Đồng nên không còn chỗ dựng sân khấu, nhưng hể cúng kỳ yên hay giỗ tổ kim hoàn là bao giờ cũng đầy đủ heo quay, heo hơi, tế nhạc sanh, học trò lễ..v.v…

Mieu ONG DIA

Vía Ông ở miếu Ông Địa ( Gò Vấp)

PHẠM NGA

dù trái cấm mọc gai em cũng cắn…

Trái cấm ( tiểu di)

Trái cấm ( tiểu di)

dù trái cấm mọc gai
em cũng cắn
bên kia núi đồi
là phố anh tĩnh lặng
là phố anh
dan díu với chân em
là phố anh nâng niu
gót chân em
khi chăn gối hôm qua
còn ấm nóng
là nụ hôn lướt trên em
say đắm
mới hừng đông
mà sóng vỗ miên man
mới hôn nhau
mà đã thoáng chiều tan
biết yêu nhau
trước sau gì cũng chết
muốn yêu anh
vì biết mai sẽ hết
cắn một lần
cho biết (nát) trái tình yêu . . .

 âu thị phục an

NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ…

ong-do-xua-3[1]Mùa Đông lạnh lẽo đang qua, nắng ấm mùa Xuân sắp đến, lòng chúng ta ai cũng đang nao nức đón chờ và hy vọng những điều tốt đẹp nhất sẽ đến trong năm mới. Người nghệ sĩ, vốn dĩ mang tâm hồn nhạy cảm chính là những người đầu tiên nhận biết được những tín hiệu của đất trời : văn thi nhạc hoạ tha hồ nắm bắt cảm xúc của mình, từ tiếng kêu ríu ít của cánh én dặt dìu, đến bóng chiều rớt trên giàn thiên lý, từ cánh hoa mai vàng đang ướm nụ hoặc chồi đào sắp nở…
Và cùng với nụ hoa đào tươi thắm, ông đồ đã trở thành biểu tượng của mùa xuân. Vì mỗi khi nhìn sắc thắm hoa đào giữa nắng xuân, chúng ta không thể không nhắc đến bài thơ Ông đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên. Ở Việt Nam, nhắc đến Tết, có lẽ không có bài thơ nào được phổ biến rộng rãi như bài thơ “Ông đồ”. Lời thơ mộc mạc và giản dị là sự hoà quyện của hai nguồn cảm hứng: “Lòng thương người và tình hoài cổ” (Hoài Thanh). Mỗi dịp Tết, trước thời khắc chuyển giao thiêng liêng giữa năm cũ đang tàn và năm mới sắp đến người Việt xưa thường “xin chữ” viết trên giấy hồng điều, dán trước cửa để gửi gắm những mong ước, khát vọng của gia đình mình trong năm mới.  Chữ đó là chữ Nho, thứ chữ tượng hình rất giàu ý nghĩa. Người có hoa tay, có thể viết mà tưởng như đang vẽ tranh.
Đầu thế kỷ XX, trên các đường phố Hà Nội thường có những cụ đồ cặm cụi vẽ từng nét chữ trên giấy điều để bán cho dân Hà Thành vào những ngày trước Tết. Hình ảnh ông đồ già trong chiếc áo the, khăn xếp và guốc mộc cũ kỹ từ đó đã in sâu vào tâm trí và trở thành biểu tượng cho những mùa xuân cổ điển. Vũ Đình Liên đã nắm bắt hình ảnh nên thơ ấy và viết nên bức tranh thơ sinh động: Trên một góc phố, dưới cánh hoa đào đang phơ phất trong gió xuân vẫn còn se lạnh, có một ông đồ với mái tóc bạc phơ đang bày mực đen và giấy đỏ. Rồi khi khách đến mua, người xem kinh ngạc nhìn thấy ông thầy đồ đang hoá thân thành một nghệ nhân đang vung bút. Tiếng trầm trồ thán phục. Trên giấy đỏ hiện lên những con chữ mà không hẳn là chữ, vì đó là một bức hoạ thần kỳ, đường nét như phượng múa rồng bay. Nhưng ông đồ đang trải lên giấy chữ nghĩa của thánh hiền, hay đang trải lòng mình nỗi ngậm ngùi của kẻ sĩ đang nhìn thời cuộc đổi thay? Câu hỏi ấy nhắc chúng ta nhớ lại thời kỳ đất nước Việt Nam trải qua những cơn biến động, xã hội đảo lộn, và hệ quả có liên quan đến số phận của ông: sự tàn tạ của nền nho học. Khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn đã khép, làm tiêu tan giấc mộng vinh quy của các đệ tử cửa Khổng sân Trình. Biến động ấy dẫn đến sự thất thế của một lớp người mà có thời chúng ta coi như biểu tượng của văn hoá truyền thống. Người người đổ xô đi học tiếng Tây. Ông đồ cũng đành từ giã mái trường, từ giã những buổi bình văn, để chấp nhận cách mưu sinh buồn tủi là ngồi viết thuê dăm ba câu đối. Xưa nay ông quan niệm chữ nho là thứ chữ thánh hiền và việc học không phải để kiếm sống mà là để làm người quân tử, để phò vua, giữ nước … thế nhưng trong thời buổi suy tàn, ông phải đi bán chữ. Chữ nghĩa cao quý ngày nào giờ trở thành một món hàng đem ra chưng trên vỉa hè đường phố … làm sao lòng ông không khỏi xót xa cho ánh hào quang rực rỡ một thời. Trong nỗi xót xa của người buộc phải làm điều bất đắc dĩ, những tấm tắc ngợi khen của khách qua đường âu cũng an ủi được phần nào nỗi niềm của kẻ sinh bất phùng thời. Nhưng rồi chút an ủi nhỏ nhoi ấy cũng không còn. Ông đồ cảm nhận số khách hàng mỗi năm mỗi vắng. Không còn ai cần, không còn ai hay là ông vẫn ngồi đấy cô đơn, lạc lõng giữa vệ đường. Màu sắc cũng phôi pha. Giấy cũng không còn thắm, bẻn lẽn nằm bên đĩa mực đã khô với những xác lá vàng. Hình bóng lẻ loi, cô độc của ông đồ giống như một nỗ lực cuối cùng, đang cô đơn chống chọi trong vô vọng… cố níu giữ một thời vàng son trên nét bút giữa dòng đời hối hả. “Lá vàng rơi trên giấy” gợi trong lòng khách yêu thơ một không gian thấm đượm nỗi buồn, đang quấn lấy số phận hẩm hiu của ông đồ trước khi tàn tạ. Tiếng gõ nhịp thời gian càng khắc khoải với câu hỏi :“Người thuê viết nay đâu?”rồng, phượng” trên tờ giấy hồng điều đỏ thắm. Dường như trong phút xuất thần ấy ông đồ đang bặm môi, gửi gắm tất cả lý tưởng và khát vọng của mình lên từng nét chữ và nỗi niềm đã và đang làm con chữ sống dậy. Bài thơ của Vũ Đình Liên như muốn níu kéo thời gian lùi lại, đưa chúng ta trở về không gian cổ, để cùng tưởng nhớ thời vàng son của những đệ tử “cửa Khổng sân Trình”.
TRƯƠNG VĂN DÂN

…Bài thơ ông đồ Hơn sáu mươi năm qua, bài thơ Ông đồ luôn để lại những rung cảm trong lòng khách yêu thơ. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét : “Một thứ dư ba kỳ lạ. Ý ở ngoài lời. Và càng đọc, người ta càng thấy mình không chỉ thương cảm với một lớp ông đồ hay chữ nay quá thời lạc lõng, mà còn cảm thấy bùi ngùi trước tất cả những gì tốt đẹp, bị thời gian đẩy vào quên lãng… Chỉ bằng một bài thơ nhỏ 25 câu, 100 chữ, ông đã ghi lại được một hình ảnh đã qua đi cùng lịch sử, để nó có thể vĩnh viễn tồn tại trong tâm tưởng nhiều thế hệ bạn đọc. Và đó chính là sức mạnh kỳ lạ đến ma quái của thơ ca, của văn chương…”

Ông đồ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ???

Vũ Đình Liên

Và dưới đây là bản dịch sang tiếng Pháp của chính tác giả Vũ Đình Liên cùng với Mireille Gansel. Le vieux lettré calligraphe. Chaque année s’ouvre la fleur du pêcher On retrouve le vieux lettré encre de chine, papier pourpre étalés Sur un trottoir parmi tant de passants Nombreux ils demandent une calligraphie Puis prodigues des louanges s’extasient : « Quel tour de main pour tracer ainsi des traits Beaux comme un vol de dragon, une danse de phénix ! » Mais chaque année, on compte les absents Où sont-ils ceux qui demandent une calligraphie Le papier triste perd son éclat L’encre sèche dans l’écritoire mélancolique …. Le vieux lettré est toujours assis là Ils passent leur chemin – nul ne le voit Sur le papier tombe la feuille jaune Dans l’air vole la fine brume Cette année elle s’ouvre de nouveau la fleur de pêcher On ne retrouve plus le vieux lettré Les hommes du temps passé Où s’en sont-ils allés ? (Traduction de Mireille Gansel et de Vu Dinh Liên)
Và bản dịch sang tiếng Anh của Dr. Chat V. Dang : The Sino-Vietnamese Teacher Each year, when peach flowers blossom, We see again the old teacher Display black ink and crimson paper On the sidewalk busy with passers-by. Many people hire him to write, Praising in wonder his talent: “His dexterous hand draws like Dancing phoenix, flying dragon.” But each year, clients become rarer. Where are you now calligraphy users? Untouched red paper deep in sadness, Unstirred ink gloomy inside the jar. The teacher is still sitting there, Pedestrians are unaware. A yellow leaf falls on the paper As dusty rain flies in the air. This year, peach trees bloom again Ancient teacher is not seen. People from millennia past Where are your souls now? (Translated by Dr. Chat V. Dang) (From: Vietnam History: Stories Retold for a New Generation)

Và cuối cùng là bản dịch sang tiếng Ý của Elena Pucillo Truong: Il vecchio letterato calligrafo Ogni anno sboccia il fior di pesco Si rivede il vecchio letterato Con il suo inchiostro di china, i fogli di carta rossa stesi sul marciapiede tra i tanti passanti In molti domandano una calligrafia Poi prodighi di elogi si estasiano: “Che abilita’ della mano nel tracciare dei tratti cosi’ belli come un volo di dragone, una danza di fenice!” Ma ogni anno, si contano gli assenti Dove sono quelli che chiedono una calligrafia La carta triste perde il suo splendore L’inchiostro secca nel calamaio melanconico Il vecchio letterato e’ sempre seduto li’ Essi vanno per la loro strada, nessuno si interessa a lui Sulla carta cade la foglia ingiallita Vola nell’aria una pioggia leggera Quest’anno sboccia di nuovo il fior di pesco Non c’e’ piu’ il vecchio letterato Gli uomini del tempo passato Dove se ne sono andati? (Traduzione di Elena Pucillo Truong)

Ghi thêm : sau khi bài này đăng trên Quán văn số 12, nhà thơ Lê Mộng Thắng có gửi email cho người viết và giới thiệu thêm một bản dịch sang tiếng Hoa.( http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=80) Xin chép lại để mời các bạn thưởng lãm: LÃO TÚ TÀI Niên niên đào hoa khai Tổng kiến lão tú tài Truy nghiễn hồng tiên bãi Thông cù nhân vãng lai Đa thiểu thị tự giả Trách trách tiễn châu ky Xảo bút nhất huy tựu Long vũ nhi phụng phi Lãnh lạc niên phục niên Cố khách hà mang nhiên Hồng tiên bi sắc thấn Truy nghiễn sầu mặc kiên Tú tài do tại ti Lộ quá hữu thùy tri Tiên thượng hoàng diệp lạc Thiên biên tế vũ phi Kim niên đào hựu tân Bất kiến cựu thời nhân Thương nhiên không trướng vọng Yên tai vạn cổ hồn. 老 秀 才 年 年 桃 花 開 總 見 老 秀 才 追 硯 紅 箋 擺 通 衢 人 往 來 多 少 恃字者 嘖嘖 羨 珠 機 巧 筆 壹 揮 就 龍 舞 而 鳳 飛 冷 落 年 復 年 僱 客 何 茫 然 紅 箋 悲 色 矧 追 跰 愁 墨 堅 秀 才猶 在斯 路 過 有 誰 知 箋 上 黄 葉 落 天 邊 細 雨 飛 今 年 桃 又新 不 見 舊 時 人 傷然 空 悵惘 煙 災萬 古 魂

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Nguồn : Tác giả gởi)

MIÊN MAN HỒNG

Miên Man Hồng

HAPPY VALENTINE’S DAY , ALL.

Hồng không hết, miên man hồng đến thế
Gió bung reo, trời tung cửa vỡ òa
Trái tim nhỏ, mùa xuân về thốt khẽ:
Hái đi em, ngày đã nụ giêng hoa

Phương đông hẹn nên chân trời rất khác
Hồng ban mai khe khẽ bước tinh khôi
Hoa lên em, nắng đang giòn rất nhạc
Mỗi trang ngày theo nhịp mở xanh nôi

Hồng không hết, miên man hồng đến thế
Dường như vui, đất rộng mãi vòng tay
Ta đi nhé, anh ơi mình đi nhé
Thao thao con đường kể chuyện hôm nay

Trong trẻo quá để đời như mãi nụ
Mỗi niềm vui như mỗi hé hừng đông
Xuân lên em, mật của ngày đang vụ
Phút giây ơi, năm tháng lại đầy, đong…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH