NƠI CHÚNG TA BỎ LẠI

chuthuynguyenTuyết. Thật sự tan hết
ngó như
ánh nắng đang cười
cùng lũ bướm
trên mặt hồ
đã hoàn toàn tan hết băng

bóng
từng đàn hải âu
linh cảm mùa tuyết đã hoàn tất
chúng lượn bay
như một ngày
thanh bình hoàn toàn trở lại

tôi biết
mình còn giữ mãi
bóng Sài Gòn xưa
như chiếc bóng người yêu đầu đời
trong mảnh linh hồn
muôn vạn vết đau

bay nữa đi
những cánh bướm tinh khôn
đã đoán trước
mùa xuân sẽ về nay mai
chao liệng nữa đi
những linh hồn biết tìm về
miền nắng ấm

tôi đã nhặt
đang nhặt
và luôn nhặt lại
từng chiếc bóng hôm qua
nơi tôi đi qua tiếng khóc
nơi bạn vẫn ấp ủ nhớ những giọng cười
nơi chúng ta bỏ lại
quá nhiều vết thương
vẫn chưa khâu …

CHU THỤY NGUYÊN

CỎ XANH

levinhtai

ôi cỏ xanh, ngươi buốt chân trời
ngươi bám chùm rễ số phận
bằng ngón tay hồn nhiên vào đất
ngã xuống xuyên giữa ngực
tan vào đất đâm chồi vẫn cỏ
màu xanh không cần cơ may
những gợi ý về cỏ được viết thành tập
như tập ảnh của phóng viên chiến trường
sau chớp pháo
cỏ hiện lên không phải cả cánh đồng mà rõ đến từng
gân máu mong manh
những gợi ý về cỏ là bầu trời
ánh sáng dọi lên như một bộ phim
trích đoạn lịch sử
sau này nằm phủ bụi trên kệ sách
những gợi ý về cỏ là con chữ
nhẵn nhụi
miêu tả những gì đã biến mất
nhanh đến chóng mặt
những gợi ý về cỏ là linh hồn
oan khuất cả khi ngừng đập
nước mắt để làm gì
nước mắt được gì đâu…

khi cỏ xanh đã buốt dưới chân mình
đất nước hòa bình
sau binh đao khói lửa
thơ biết
nó vẫn giấu dưới lòng đất một người lính
mùa xuân vàng hoa cúc
mãi mãi là nơi ẩn náu của thơ
cỏ chạy dọc Trường Sơn màu xanh lá
đất nước nằm dưỡng thương sau những ngày mệt lả
dưới cỏ một mình anh nằm
nhìn lên lá cờ
đỏ tươi như máu của ngôi sao
hình như vẫn chảy
khi cỏ đã chín muồi
như lúa trên đồng ngày anh đi, Mẹ khóc
lưỡi hái thần Chết sau khi đã lướt qua anh
giờ đang ở trong tay
cô gái dịu dàng với Mẹ đang gặt lúa
thơ đã nhìn thấy anh
thơ biết anh không bao giờ sợ hãi
lửa khói cũng như sương mù lãng mạn
anh đã từng giương lê, đã ném nhiều lựu đạn
nhưng bây giờ lặng im
anh đã sống trong đồng cỏ của mùa xuân
thơ muốn biết sự thật
nhưng thơ không dám
anh đã nhìn lên bầu trời đầy sao
như bông hoa trên tóc các nàng tiên
anh đã mơ khi vượt qua bãi mìn trên đồng cỏ
xanh và nhiều gió…
mũ sắt và mũ cối
trong im lặng, anh đã nghe
tiếng động của con bướm đã bay
sau tiếng hú quả pháo
khi anh nằm lại một mình
không bao giờ anh còn tiết lộ
người lính chỉ xung phong sau những tiếng hô
ngôn ngữ không phải là công việc của người lính
người trở về đặt anh lên một cái bệ
tụng ca sau hòa bình
vì họ đã thoát
hay vì anh đã hy sinh?

LÊ VĨNH TÀI

TÔI ĐANG VIẾT VỀ GIẤC MƠ

nguyenthikhanhminh
Có thể viết giấc mơ
Trên bước đi nhịp nhàng của nắng
Trên tiếng gấp gáp bay đi của đàn chim
Trên vội vã những bước chân,
Như một bàn tay vẫy?

Tôi đang viết giấc mơ
Trên giấc ngủ nỗi sợ
Trên u buồn những chia ly,
Trên vô vọng những mắt đá
Trên khốn cùng nước mắt
Trên bất lực dấu hỏi,
Như một lời xin lỗi
Bằng hết sức có thể, một gạch nối

Người người ơi, những hoài mong ấy, tiếng kinh ngày và tiếng chuông đêm, không mỏi mệt…

Tôi đang viết giấc mơ
Nơi tôi có thể sống với những phút giây chưa từng tới
Có quyền mơ mộng
Có quyền được quên
Nơi nỗi sợ tôi được chọn lựa một bình yên
Trong chiêm bao vời xa
Hạt mầm đợi ngày nhú mặt, lá non, và mặt trời
Con sông chờ ngày dông dài hạt biển
Tôi đang viết giấc mơ
Trong phút giây tin cậy của một lời cầu nguyện.

Trời xanh ơi có thổi về cho tôi một cánh mây?
Có cánh thuyền nào neo lại một vầng trăng?

Tôi đang viết giấc mơ,
Trên những cơn gió quái Santa Ana
Trên dự báo những ngày đen tối
Trên mong manh tháng ngày còn lại,
Bằng lời ước ánh sao băng vỡ

Anh có nhặt vào lòng một mảnh, giấc mơ em?
Anh có sẵn một bóng tối nơi góc thềm tóc em bay vai kề cận?
Anh có mở trang thơ em về trú ngụ?

Bằng tất cả những điều trên
Em đang viết giấc mơ anh
Nơi, em được là một giấc mơ

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

ĐỒI ÁI TỬ

nguyendangmung

Gió khô khốc, đất hố bom màu máu
Mắt vằn lên, tranh cứa rách má bầu
Hai mươi tuổi trở thành “bán nước”
Máu quyện mồ hôi, nhớ mạ ăn trầu

Đồi Ái Tử từng đoàn người câm lặng
Ngày đêm ơi trời đất phương nào
Tiếng kẻng giật mình ai chém mộng
Hương còn vướng víu em về đâu

NGUYỄN ĐĂNG MỪNG
(Trại Ái Tử, mùa hè 1975)

TRĂN TRỞ NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ

nguyennhathuy

Cuối tháng ba, đã thấy lác đác trên mạng những hình ảnh về cuộc di tản 1975 ở Tây Nguyên, Quảng Trị, Huế, đã đọc được vài bài viết nhắc lại những chuyện buồn quanh sự kiện Ba mươi tháng tư, lục lại những trang hồi ức của mình, tôi đọc được:
“Tìm cách vượt biên từ Đá Bạc, 12/4 vào được Ninh Chữ, Phan Rang trên một chiếc ghe máy F5 chở được 15 người (lúc đó Phan Rang chưa mất vì quân nhảy dù và TQLC thiết lập phòng tuyến mới ở Du Long để chặn đường tiến của Bắc quân). Chị bốn Tuần, một người quen của gia đình tiếp đãi nồng hậu và nhiệt tình tìm ghe lớn để chúng tôi về Sài Gòn. Tàu xuất phát khỏang 19g, sáng hôm sau thì gặp bão biển phải tấp vào hải đăng Hàm Tân trú tạm, ghe tập trung về càng lúc càng nhiều, cũng vui, lại đươc nhìn thấy hải đăng ở khỏang cách gần nhưng lại lo lắng về tin mất Phan Rang, chủ ghe hoặc là phiêu lưu ra khơi khi đang còn bão hoặc thả khách tại chỗ để quay về đón gia đình di tản! Cuối cùng, ghe chúng tôi là chiếc duy nhất ra khơi ! Nguy hiểm vô cùng và sóng lớn đã nhồi đến nổi những người quen sóng nước cũng không chịu nổi, quần áo cứ ướt rồi khô, khô rồi ướt, ói mữa liên tục đến nỗi thằng em đi cùng sợ quá phải trùm kín đầu mỗi khi một con sóng mới ập lên ghe ! Sáng sớm hôm sau đã nhìn thấy từ xa bãi sau Vũng Tàu, thích thú quá tôi hỏi tài công : “Còn bao lâu thì tới ? “, anh trả lời thật thất vọng: “Cũng không chắc có tới được không vì biển vẫn đang còn bão. Hãy yên tâm chờ!”. Cuối cùng, tạ ơn Đất Trời, ghe cập được vào Bãi Sau, ai nấy đều mừng vui vì thóat chết và đến bến bờ tự do dầu vẫn còn lo và tự hỏi không biết còn được sống tự do đến lúc nào ? Không nấn ná ở thêm tại Vũng Tàu, chúng tôi tìm phương tiện về ngay SG, ghé nhà quen ở Đề Thám, gửi đồ đạc rồi ra phố ăn. Ngồi trong tiệm sang, tư thế thân thể thì yên nhưng đầu cứ lắc lư, chao đảo, hậu quả của trận say sóng kéo dài! Ăn mất ngon!”
…..
“ Trong những ngày hấp hối của nền đệ nhị cộng hòa, khi cuộc tiến công như chẻ tre của Bắc quân đến gần cửa ngõ SG, Tổng Thống Thiệu đã rời VN, chính phủ Trần Văn Hương lúng túng trong giải tỏa áp lực quân sự, nhiều nước có liên quan tìm một lối thóat hòa bình cho cục diện, giải pháp đưa tướng Minh thay Trần Văn Hương có thể dẫn đến một cuộc thương lượng với Bắc Việt nhằm tránh đổ máu không cần thiết được xem là khả thi và tại tòa nhà thượng viện (Hội trường Diên Hồng), quốc hội lưỡng viện đã họp khóang đại để biểu quyết việc chuyển giao quyền lực. Tôi đựợc người quen dẫn vào quan sát – như là một phóng viên ở chuồng bồ câu dành cho báo chí. Hình ảnh đập vào mắt mà tôi còn nhớ mãi là dân biểu Phan Xuân Huy Đà Nẵng trong nhóm chống đối việc trao quyền này đã, trong giờ giải lao, ra ngòai hành lang chưỡi rũa, phân bua, nhắc lại quan điểm của mình và lên án phe đối lập sau khi dùng lan can gạt gãy chai rượu Gin uống ừng ực !!. Và hậu quả việc này thế nào thì chúng ta đều biết. Dầu sao, làm chứng nhân của một sự kiện, một giai đọan đen tối của Quốc gia, Dân tộc cũng không thú vị, tự hào gì nhưng ghi chép lại là điều rất nên !”
Không hiểu vì sao, mỗi năm cứ vào tháng tư, khi có những sự kiện nhắc nhớ là lòng người cứ ngược về quá khứ, cứ suy nghĩ về đôi bờ Bến Hải, giòng sông ngăn cách về địa lý, lịch sử, chính trị hai miền Nam Bắc hơn hai mươi năm và cũng chia cách lòng người bốn mươi năm sau khi nước nhà thống nhất như một bài của nhà báo Phạm Tường Vân từ Sài Gòn gửi BBC Vietnamese tháng tư năm ngoái: “Còn một vĩ tuyến 17 trong tâm thức”??
Tôi sinh ra trong một gia đình trung nông nhưng bị quy thành địa chủ ở liên khu 5 thời Việt minh nhưng chưa đến lượt đấu tố cha tôi thì đình chiến, gia đình tôi không ưa gì cộng sản nhưng khi học trường quận, sau mỗi trận Việt cộng đánh đồn bị giết, xác không được đồng bọn đem đi, quân đội Quốc gia đem về bỏ ở Sân vận động cho dân chúng nhìn thấy, nhìn những xác người ốm o và còn rất trẻ tôi vẫn thấy thương họ, thật lòng, họ cũng như những người dân quê tôi, trên những khuôn mặt ngây thơ ấy không thấy nét căm thù dầu trước khi vượt Trường Sơn đi B đều thề “sinh Bắc tử Nam”. Khi học trường tỉnh xa nhà chừng ba chục cây số, đi về hàng tuần những năm 1965-68, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy những người dân chết vì bị bắn tỉa lúc đeo bám phía sau xe đò những khi chiều muộn, những xác người không nguyên hình dạng kéo vào vệ đường khi chiếc xe đò trước tôi bị cán phải mìn do du kích gài đêm hôm trước, tôi cũng thấy không ưa gì chính quyền Bắc Việt vì họ đã làm xáo trộn miền Nam yên bình thời “Ngô Tổng Thống” và chính phủ của nền đệ nhị Cộng Hòa khi mà không ngày nào các bệnh viện không phải xử lý các ca thương tích do Việt cộng đặt mìn, pháo kích vào các khu dân cư, đặt chất nổ TNT giết thường dân trong các buổi chiếu bóng, các đêm văn nghệ phục vụ đồng bào!
Mậu Thân 1968, Việt cộng chôn sống quân, dân, cán, chính của Thừa Thiên Huế, giết cả những trí thức người Đức tình nguyện qua giúp thành lập và điều hành thời gian đầu trường Đại học Y khoa Huế, tôi không là dân Huế nhưng đã khóc sướt mướt khi coi trên TV phóng sự do tiểu đoàn 105 Chiến tranh chính trị thực hiện về vụ khai quật những mồ chôn tập thể, nhất là cuối phim bao giờ cũng phát kèm nhạc phẩm Thương về cố đô!.
Miền Nam lọt vào tay cộng sản, không thể làm gì khác hơn ngoài việc chờ đợi và mong nhà nước mới nhanh chóng giải quyết những công việc khi tiếp thu chính quyền trong năm đầu để rồi sau đó cùng bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước trong hòa bình, bù đắp những mất mát hư hại do chiến tranh kéo dài và dân tộc sớm về cùng một mối nhưng chỉ vài năm sau là thấy ngay rằng những mong ước đó là ấu trĩ, là hão huyền vì chế độ mới trả thù những người của chế độ cũ và những người cộng sản khi vào miền Nam, mặc cảm vì thấy mình thua sút dân miền Nam (hãy thử đọc ngay dòng 16 trong lời nói đầu sách “Bên thắng cuộc”), thấy mình bị đảng và chính quyền lừa bịp đã phản ứng bằng thái độ tâm lý bù trừ, phải hành hạ bọn ngụy quân ngụy quyền trong các trại cải tạo tập trung và vô hình trung tạo ra hố sâu ngăn cách ngay sau vài năm đầu! Như thế, làm sao có hòa hợp hòa giải dân tộc?
Đối đầu với đói nghèo về kinh tế, với chính sách hộ khẩu, với sổ mua lương thực, với tem phiếu, với tình trạng thiếu thuốc men, phương tiện y tế… một vài năm, năm mười năm, vài mươi năm, những tên cộng sản nằm vùng, những “cơ sở cách mạng”, những gia đình có công, những tên cách mạng ba mươi dần dà thấy mình bị lừa trong khi bộ máy trấn áp của chính quyền, công an cảnh sát ngày càng mạnh, cả quân đội cũng hưởng được nhiều ưu tiên nên sẵn sàng bảo vệ chế độ đến cùng, bọn họ sẵn sàng đục khoét để ngoi lên, dễ nhất là nhận hối lộ, bắt đầu từ những đảng viên, cán bộ cao cấp rồi đến cả guồng máy, lúc đầu của những gia đình còn của cải dành dụm hay có thân nhân từ Mỹ gửi về, sau là của toàn xã hội, tiếp đến là trong hàng chục năm, làn sóng người đi tìm tự do bất chấp sóng gió, hải tặc, bắt bớ tù đày ngày càng đông, làm sao tìm được tiếng nói chung giữa dân miền Nam với chế độ?
Bắt đầu lên tiếng từ những văn nghệ sĩ , có lẽ tiên phong là nhà văn nữ Dương Thu Hương mà tham luận của cô trong ĐH VI hội Nhà văn Việt Nam là một tiếng sét, sự xuất hiện tác phẩm “Những thiên đường mù”của cô rồi Lê Lựu với “Chuyện làng Cuội”, Ma Văn Kháng với “Đám cưới không giá thú”, Phùng Gia Lộc với bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”, Nguyễn Huy Thiệp với “Tướng về hưu”, chưa kể các tác phẩm của Bùi Tín và “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, sau này là Nguyễn Khải với “Đi tìm cái tôi đã mất”… đã vạch trần tất cả những mưu mô và tội ác mà cộng sản đã gây ra cho miền Nam, cho đồng bào ở hai miền, nói chung là nói thật cái mặt trái của một “chế độ xã hội ưu việt!”. Sau các nhà văn, các chính khách xuất bản hồi ký, vài trường hợp đáng chú ý là: Tướng Trần Độ, phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành, giáo sư Đại học Nguyễn Đăng Mạnh rồi nhạc sĩ Tô Hải …Mỗi người nêu một khía cạnh, cung cấp một số thông tin ngày càng làm sáng tỏ mặt trái của cộng sản, bản chất con người và chế độ cộng sản. Những người một lòng theo Bác, theo đảng ngày càng chán nãn nhưng họ không làm được gì nên khi không còn tại chức, họ không còn sợ sệt gì hay bớt sợ, càng mạnh dạn lên tiếng rộng rãi.
Đói khổ cùng với nhận thức rõ về chế độ, người dân càng phản ứng nhưng càng phản ứng thì càng bị đàn áp nên mới xuất hiện hàng trăm vụ chống đối, thập niên 80 là vụ Thái Bình sau này là vụ Đoàn Văn Vươn, nông dân Văn Giang… Kẻ thù của chế độ bây giờ đã là toàn dân Việt Nam thay vì dân miền Nam như trước nhưng vẫn không thấy một động thái nào thể hiện thiện chí của chính quyền trong việc hòa hợp hòa giải dân tộc, hay họ nghĩ rằng nếu xóa bỏ vĩ tuyến 17 trong tâm tưởng dân hai miền thì lực lượng chống đối sẽ đông đảo và hùng mạnh hơn?
Nền tảng đạo đức của dân tộc sa sút, kinh tế xã hội đảo điên, tham nhũng từ trên xuống dưới, bọn Tàu cộng gặm nhắm từng tất đất, xâm nhập vào VN bằng nhiều đường nhưng xót xa nhất là công khai cướp bóc trên biển Đông mà nạn nhân nhà những ngư phủ chẳng giàu có gì mà Đảng cộng sản và chính quyền vẫn bàng quan, người yêu nước biểu tình thì bị bắt bớ, đàn áp, tù đày…
Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu thì còn cho là bọn Mỹ Ngụy cũ nhưng Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Phương Uyên, Cù Huy Hà Vũ, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Đinh Nguyên Kha, Đặng Chí Hùng, Lê Văn Quang… và hàng ngàn hàng vạn người yêu nước bị tù đày thì họ là ai?
Khi internet du nhập vào Việt Nam, khi blog, mạng xã hội facebook phát triển ở Việt Nam ngày càng rộng rãi, trở thành một diễn đàn để người dân phát biểu, khái niệm “bức màn sắt” cáo chung dầu báo chí lề phải, truyền hình và các loa truyền thanh phường khóm vẫn ra rả hàng ngày những “đánh giá cao” những “thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới”…những “thành tựu” đáng tự hào, mỵ dân đến thế! Có khác nào kỹ thuật tuyên truyền mà Hitler nhắc đến trong Mein Kamf!
Có bao điều khiến tôi trăn trở và thấy mình lao đao mỗi khi nghĩ đến:
1. Tại sao kết thúc cuộc nội chiến 1954-75 của Việt Nam không giống như cuộc nội chiến 1861-65 của Mỹ?. Yếu tố địa chính trị hay sự hiện diện thường xuyên của Trung Cộng trong và sau chiến tranh VN đã tác động để VN có một kết cục bi đát cho dân tộc đến thế này?
2. Tại sao một phóng viên báo chí người Đức, Uwe Siemon-Netto chỉ sống ở VN hơn 5 năm trước 1975 mà đã dành cho dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những người Việt miền Nam những tình cảm lớn lao đến thế khi anh viết “ĐỨC- Tình yêu của một phóng viên cho một dân tộc nhiều đau thương”? *. Mở đầu tác phẩm, tác giả viết lời TƯỞNG NIỆM như sau: “Cuốn sách này được viết nhằm tưởng nhớ vô số nạn nhân vô tội trong cuộc xâm chiếm Miền Nam Việt Nam của Cộng sản, đặc biệt là:” (tác giả liệt kê 7 đối tượng trong đó, đối tượng thứ 5 là: “Các thanh niên Nam, Bắc Việt Nam động viên vào quân ngũ đã bỏ mạng trong cái gọi là “chiến tranh giải phóng” nhưng đã không mang lại tự do cho ai”.
3. Đọc “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, suốt hơn 700 trang kể chuyện nhà tù ở miền Bắc những năm 1968-73, không hề thấy nhà văn thể hiện ở bất cứ đâu lòng căm thù những người đã đưa ông vào tù, những người đã đày đọa tù nhân bằng ngàn lẽ một cách, không căm thù cái hệ thống đã tạo ra nhà tù và những cai tù mà chỉ là kể chuyện, với cách diễn đạt, từng câu, chữ của ông đậm đầy tình đầy nhân ái. Tôi tự hỏi tại sao con người không biết thương yêu nhau mà hành hạ nhau kinh khủng đến thế và nhà tù dành cho con dân của xã hội ưu việt là thế thì nhà thù dành cho người của chế độ cũ sẽ kinh khủng đến mức nào?
4. Bốn năm trước, nhà văn Khuất Đẩu ** trong “Một nước Việt buồn”đã đưa ra 10 câu hỏi rồi tự tìm cách trả lời, đến nay đã có được bao nhiêu giải đáp?. Và sau một năm, nhà báo Phạm Tường Hân đã có thể trả lời chưa cho câu hỏi: Có còn chăng một vĩ tuyến 17 trong tâm thức?
Gia đình tôi không có nợ máu với Cộng sản, cũng không hưởng ân huệ gì của Quốc gia ngoài những năm tháng thanh bình, no cơm ấm áo, được sống trong không khí tự do dân chủ nhưng đã bốn mươi năm qua rồi, dân tộc Việt Nam vẫn còn điều linh quá. Những lao đao, trăn trỡ này không biết còn đến bao giờ?
NGUYỄN NHẬT HUY

*Quyển sách có đến 8 nhận định và lời ca ngợi in ở trang bìa và 2 in ở bên trong của những nhân vật khá nổi tiếng thuộc nhiều lãnh vực trên bình diện quốc tế. Tác giả hiện nay là một Tiến sĩ thần học và là giám đốc sáng lập Trung Tâm Thần Học Lutheran và Đời Công (bản dịch của Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền)

VẾT CHIM BAY

phamthienthu

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu

cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay!

PHẠM THIÊN THƯ

ĐÊM VUI

nguyenthy

Ta uống cạn những gì em để lại
Hương môi nồng và những ngón tay thơm
Rượu đêm vui sao đắng chát tâm hồn
Em vội quá bỏ quên tình mới nhuốm

Ta uống cạn những gì em để lại
Một hồ sầu trong đáy cốc lưu ly
Đêm chết lịm mà cơn say còn mãi
Em đi rồi ảo mộng cũng ra đi

Ta uống cạn những gì em để lại
Gót giày qua tơi tả một hồn sầu
Khuya- huyễn hoặc tiếng cười em rơi mãi
Vào tận cùng sâu thẳm trái tim đau

NGUYỄN THỴ

BUỒN GA NHỎ

huyenchieu

Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tế Hanh

Ga Ninh Hòa đối với tôi luôn là nơi đẹp và buồn nhất. Thuở bé tôi vẫn thường một mình đến đó , thơ thẩn trên sân ga ngổn ngang những đường tàu để thưởng thức một nỗi buồn êm dịu khi nhìn thấy những con đường sắt giao nhau rồi lại chia hai và dường như ra đi mãi mãi không bao giờ gặp lại.

Tôi không bao giờ thôi xúc động khi nhìn ngắm Ga Ninh Hòa. Tôi yêu nét đẹp sang trọng của kiến trúc châu Âu lạc lõng trong màu xanh buồn buồn, quê mùa của núi non ruộng lúa mây trời. Rồi trên khoảng không gian dịu dàng ấy bỗng nổi bật lên những ngọn cau, đứa cao, đứa thấp làm tôi cứ liên tưởng đến những nốt nhạc của một bài hát. Có ngờ đâu Ga Ninh Hòa còn quan trọng với tôi nhiều hơn là tôi nghĩ.
Năm tôi 12 tuổi, theo lệnh của ba tôi, tôi phải xa lìa cuộc sống êm đềm nơi quê nhà, xa lìa cái ga xe lửa thân yêu của tôi để sống cùng ba tôi ở Tuy Hòa, nơi ba tôi làm việc như là một công chức. Làm sao tôi quên được buổi chiều hôm ấy khi tôi nước mắt giọt ngắn giọt dài ôm cặp theo ba tôi lên Ga Ninh Hòa để kịp chuyến tàu đi Tuy Hòa. Con đường tàu qua đèo Cả đẹp quá làm tôi tạm quên đi nỗi đau buồn.Chiều xuống nhanh. Trời trở lạnh và cây cỏ, núi rừng buồn hiu hắt. Sau khi thoát ra khỏi cái hầm cuối cùng dài hun hút, đoàn tàu cũng chui sâu vào bóng đê của địa phận Tuy Hòa. Lúc này, không còn gì để ngắm, nỗi sầu khổ của tôi lại trỗi dậy, trái tim tôi lại thổn thức, nước mắt lại tuôn rơi.

Ga Tuy Hòa hiện ra sau ánh điện mờ mờ. Gọi là ga nhưng đó chỉ còn là một tấm vách đen sì, lỗ chỗ đạn bom và ngay lúc ấy tôi bỗng nhớ đến Ga Ninh Hòa thanh bình, hạnh phúc và thân yêu của tôi đến nao lòng.
Sáng hôm sau, một cuộc đời mới, hay nói cho đúng hơn một cuộc chiến đấu mới đã chực sẵn. Từ nay, tôi tự hiểu, mình phải bằng mọi cách, học thật giỏi để tỏ lòng biết ơn ba tôi và ông Vũ Trí Phú, Hiệu Trưởng Trường Nguyễn Huệ.
Hai con người khả kính này, vì thương tôi mà đã cấu kết làm một điều phi pháp là đưa tôi từ lớp Đệ Thất trường Bán Công vào thẳng lớp Đệ Lục trường công lập Nguyễn Huệ không qua kỳ thi nào. Điều khó khăn nhất cho tôi là tôi phải hoàn tất bài vở sao cho ngày thứ bảy và chủ nhật phải là hai ngày hoàn toàn rảnh rỗi. Đó là những ngày tôi phải về Ninh Hòa thăm nhà.
Trong năm năm liền Ga NinhHòa đã đưa đón một cô bé đi, về trên một hành trình đều đặn. Ga Ninh Hòa thì vẫn thế còn cô bé thì có nhiều đổi thay.
Một hôm cô bé nhận ra rằng mỗi chiều thứ bảy có một cậu bé luôn đứng chờ cô ở sân ga. Cô bé không biết cậu bé ấy tên gì, ở đâu, nhưng cô biết rằng mình sắp trỡ thành một thiếu nữ.
Nhưng cũng năm đó một biến cố khác đã xãy ra cho gia đình cô bé và cô đành chia tay cùng thành phố Tuy Hòa thân yêu, tam biệt những cuộc hành trình 84 cây số bằng xe lửa.
Không biết cậu bé đứng chờ không nói một lời trên sân ga ấy có thấy Ga Ninh Hòa là nơi đẹp và buồn nhất giống như tôi không??

THƠ BUỒN, GA NHỎ
Tàu vào ga nhỏ
Rồi đón người đi
Buổi chiều rét mướt
Biết nói câu gì

Tàu rời ga nhỏ
Tàu chở người đi
Hỡi người có biết
Nỗi niềm phân ly

Chiều mưa ga nhỏ
Có người tình si
Nghe hồn thổn thức
Lệ ướt đầm mi
Huyền Chiêu

LƯƠNG LỆ HUYỀN CHIÊU

BÀI HOAN CA Ở A 38 (26+27)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 26

Nơi đầu tiên hắn đến là Văn Sơn. Giữa con đường tráng nhựa, bề ngang khoảng 8m, chạy từ Phan Rang xuống Ninh Chữ là làng Văn Sơn. Làng gồm non 100 nóc nhà, nằm hai bên đường. Dân ở đây đa số là chủ rẫy hành tỏi ở Bình Sơn. Làng có nhiều hàng chè, hàng cháo, quán nhậu…những nơi cần nước đá.
Hắn chào vài nơi nhưng đều được trả lời là: có mối rồi. Hắn hơi thất vọng.
– Thầy, Thầy, con mời Thầy.
Hắn theo đứa học trò cũ vào ngồi ở quán cà phê ven đường.
– Thầy uống gì con gọi.
– Cho thầy ly đá chanh.
Đây là học sinh trường Nguyễn Công Trứ, tên Phải. Hắn nhớ Phải là học sinh học giỏi nhưng nghèo nhất lớp và phải nghỉ học giữa năm lớp 9.
– Con bây giờ làm gì?
– Con vừa ở nước ngoài về.
Hắn ngạc nhiên:
– Nước ngoài về?
– Dạ, thì vụ tàu Vĩnh Hy đó Thầy. Ai bị chở đi, muốn về, họ cho về.
– Bị chở đi là sao?
– Dạ, như em theo tàu ra Vĩnh Hy mua mắm cá thu về cho HTX, bị chở đi luôn. Những người như em nhiều lắm.
Phải tiếp:
– Thầy nhớ thằng Thuận không? Nó gởi lời về thăm Thầy Cô và các em.
– Thuận…
– Dạ, nó và gia đình đi Mỹ.
Hắn nói với Phải lý do Hắn có mặt ở Văn Sơn, nghe xong Phải nói:
– Để con đưa thầy đến Dì Bảy.
Dì Bảy khoảng 35, hai con, có chồng vừa bị CS tuyên án 17 năm tù, hiện giam ở Trại Sông Cái. Đây là một trong những người “đả đảo CS”, muốn lật đổ CS đầu tiên ở Ninh Thuận, và cũng của cả Miền Nam. Vụ việc làm bất ngờ mọi người, nhất là những cán bộ từ ngoài Bắc chi viện. Vụ việc xảy ra lúc Hắn còn ở A.38.
Nếu đi về hướng Ninh Chữ thì nhà dì Bảy ở bên trái con đường. Đó là căn nhà có bề ngang hơn 10m, phía sau xây gạch, mái ngói, nhưng phía trước lại lợp tôn, trống hoác. Hắn nghĩ đây là phần che thêm để Dì bán, buổi sáng: bánh canh, buổi chiều: bánh căn và suốt ngày bán cà phê bình dân.
Phải nhìn ra nhà sau, gọi:
– Dì Bảy ơi, Dì Bảy.
Có tiếng bước chân lẹp xẹp:
– Ai đó?
– Con đây.
Phải giới thiệu Hắn.
– Đây là thầy dạy con lúc con học ở Nguyễn Công Trứ.
– Chào Thầy.
– Chào … Dì.
– Thầy mới đi Học Tập Cải Tạo về. Thầy…
Hắn ngắt ngang.
– Tôi bỏ nước đá cây, ghé hỏi xem Dì có cần không?
– Bỏ đá… Thầy giáo bây giờ mất… dạy, làm đủ thứ nghề, nhưng không ai hành nghề bán nước… đá như Thầy.
Phải chen ngang:
– Bán nước đá… Đừng nói thiếu chữ ”đá”… bán nước … là chết thầy con…
Dì Bảy nhìn Hắn vẻ ái ngại.
– Thưa Thầy, tôi cần mỗi ngày vài cây 50, nhưng đã có mối bỏ rồi.
Phải đề nghị.
– Thì Dì lấy bên kia một nửa, thầy con một nửa…
Dì Bảy sau chút đắn đo.
– Thôi… Thầy đợi tôi vài hôm, chờ tôi điều đình với mối cũ xem sao đã.
– Cảm ơn Dì.
– Có gì tôi sẽ báo với Phải nhắn thầy.
Hắn và Phải chào Dì và bước ra khỏi cửa nhà Dì Bảy.
Chiếc 68 bên kia đường nơi quán cà phê Phải vừa mời Hắn uống ly chanh đá:
– Con sẽ báo ngay khi Dì “điều đình” xong.
– Cảm ơn em.
Hắn lên xe, 68 trườn tới, tiếng Phải vói theo:
– Thầy chạy cẩn thận…
Sáng hôm sau Hắn dậy sớm, chạy ra hãng Nam Anh, lên 1 cây đá, ràng ở bọt- ba-ga và chạy xuống Văn Sơn. Hắn dừng 4 lần, chặt làm 4 khúc, bỏ cho 4 chỗ, dọc hai bên, gần hết đoạn đường chạy qua Văn Sơn.
Hắn tiếp tục chạy xuống Cửa. Hắn nhìn thấy chiếc tàu Vĩnh Hy, trước đây lãnh công nghệ phẩm xong, chạy thẳng ra biển đông, không về, đang đậu ở bến cảng… Hắn nghe nói sau vài tháng, chiếc tàu được trả lại cho Việt Nam từ Indonesia. Bây giờ nó đậu chình ình ở bến cũ, làm công việc cũ, chuyển công nghệ phẩm cho Vĩnh Hy.
Hắn nhìn chếch phía Tây Bắc, chiếc cầu Tri Thủy bắc qua cửa đầm Nại, nơi đầu cầu bên này, còn khung sườn trường Đinh Bộ Lĩnh xây dở. Qua cây cầu này, đi thẳng thì đến nhà Tổng Thống Thiệu, cua phải, men theo núi đá là đụng làng nhỏ chuyên nuôi dê và làm nghề biển… Đó là cuối đường, xe không chạy tiếp được, kể cả xe đạp. Theo hướng đó, cách 20km là Vĩnh Hy. Vĩnh Hy là một cái vịnh, như Vũng Rô, Cam Ranh… Bao bọc chung quanh là những ngọn núi riêng lẻ, như từ dưới nước chui lên. Nước trong vịnh lúc nào cũng xanh ngắt, phẳng lặng cho dù biển có gió to sóng lớn. Điều đặc biệt của Vĩnh Hy là hàng năm, có vài tháng cá thu tập trung về đầm dày đặc, nhìn xuống nước thấy cá lúc nhúc như… dòi… và cũng hàng năm Tỉnh mở thầu, ai trúng thầu mới được đánh bắt.
Nếu nhìn từ Cà Ná, dãy núi chạy từ Vĩnh Hy đến Đầm Nại giống như hình Rồng Chầu, đuôi ở Vĩnh Hy, đầu gác Đầm Nại.
Bên bến cảng Cửa có cái chợ nhỏ, bên đường chạy quanh chợ có nhiều quán xá, tạp hóa, hủ tiếu, cà phê, có cả cửa hàng bán dụng cụ biển: lưới, chì, cần, lưỡi… v.v… Ở đây Hắn cũng gặp lại học sinh cũ, cũng được đưa đi giới thiệu, như Phải đã giới thiệu Hắn với Dì Bảy ở Văn Sơn.
Sáng ngày thứ hai, Hắn lên hai cây 50, và cứ như vậy, ngã Văn Sơn-Ninh Chữ lên 5 cây mỗi ngày trong chưa đầy một tuần lễ. Chị Nam Anh khen:
– Thầy giỏi thiệt…
Xuân, chàng thanh niên mất một bàn tay lại là người lên đá cừ nhất hãng Nam Anh:
– Thầy giỏi thiệt.
Ai cũng đều khen Hắn giỏi, vì không ai biết Hắn có không biết bao nhiêu người tiếp sức. Đó là những học sinh mà hắn đã dạy trước 75. Điều Hắn thành công nhất và tự hào nhất sau hơn 10 năm làm nhà giáo là có đến 90% học sinh Hắn dạy đều thương Hắn. Bây giờ tình thương ấy được dịp kiểm chứng và thể hiện. Rất nhiều lúc, các em học sinh thấy Hắn chờ khách bên đường…
– Thầy ơi…
Rồi giấu mặt, khóc ròng… Những lúc như vậy, Hắn an ủi học sinh và chính Hắn:
– Ai cũng khổ, đâu chỉ riêng một mình thầy…
Tiền kiếm được từ một cây đá mua được 1kg gạo loại nhì. Hắn chỉ mong kiếm đủ gạo cho gia đình. Bỏ được 5 cây đá là có 5kg gạo. Từ đây vợ chồng Hắn bắt đầu có chút dư, để dành.
Xuân nói:
– Anh chuẩn bị trấu để rải lên yên xe trước khi để cây đá lên. Trấu làm cây đá bớt trơn trượt.
Xuân, nguyên là công nhân hãng đá Mỹ Đức, do một nhà tư bản ở Saigon ra thành lập. Nghe rằng ông ta có đến 16 hãng nước đá ở các địa phương dọc bờ biển nổi tiếng nghề đánh bắt. Đá của ông chuyên cung cấp cho ghe tàu đánh bắt xa bờ, một ít dùng muối tiếp cá đi cao nguyên. Một lần máy ngừng vận hành, Xuân được lệnh lặn xuống bể nước để sửa, bị cánh quạt chặt mất bàn tay phải. Trước ngày Phan Rang giải phóng, ông chủ biệt tăm. Hãng đá của Tư Sản Mại Bản, diện tịch thu, giao HTX thủy sản quản lý, kể cả hãng đá Nam Anh. Nhưng gia đình anh chị Năm được nhà nước ưu tiên phân phối lại với giá tượng trưng 2 dãy, mỗi dãy 10 khuôn tức 20 cây 50 kí. Xuân về hãng Nam Anh theo phân công của HTX.
Hắn hỏi Xuân:
– Em thấy người ta chở -bằng Honda như anh- được bao nhiêu cây một lần?
– Ở hãng Mỹ Đức tối đa 4 cây, nhưng ở đây 3 cây.
– Sao vậy?
– Mỹ Đức đường phẳng, Nam Anh phải lên dốc.
Xuân nhìn Hắn cười nói:
– Anh không thấy “Dốc Nam Anh” sao? Nó tức ngược, đã có nhiều xe lọt mương.
Từ ngã ba Tam Giác đi về hướng NhaTrang chừng 300m có một cái cống ăn sâu dưới mặt đường, dẫn nước Đồng Cây Mét bằng một con mương nhỏ. Đầu dốc, so với con đường, chạy dọc theo bờ mương là rất cao, gần như dựng đứng. Đầu con đường này là nhà ở của gia đình anh chị Năm và hãng nước đá Nam Anh.
Hắn e ngại:
– Anh…
– Anh không phải tay chuyên nghiệp, nên chở 2 cây là vừa.
Xuân giúp Hắn nhiều việc mà Hắn không tự làm được nếu không có người phụ: rải trấu, lên đá, buộc dây cao su, thậm chí cả việc đẩy xe chồm tới để cây chống bật lại vị trí xe di chuyển cũng nhờ Xuân phụ đẩy. Mỗi buổi sáng Hắn chở 2 chuyến, mỗi chuyến 2 cây rưỡi. Mỗi lần lên dốc Hắn hồi hộp đến run tay lái. Nếu lên nửa chừng mà xe hết trớn tuột dốc là lọt xuống mương ngay.
Buổi chiều Hắn ra chỗ sửa xe nhờ Út Sáu tìm mua cái rờ-mọt.
– Anh kéo đá…
– Em biết rồi…
– Em giúp giùm…
– Anh cần gấp phải không? Em sẽ “lùng” cho anh ngay.
Buổi tối Út Sáu vô nhà.
– Có rồi, nhưng tận Tháp Chàm.
– Họ bán bao nhiêu?
– Em không hỏi. Anh chị hỏi giá và quyết định.
Út Sáu đưa cho Hắn mảnh giấy.
– Địa chỉ đây.
Ngay tối đó, Hắn chở Vân đi Tháp Chàm và cũng ngay đêm đó Hắn và Vân kéo cái rơ-mọt về nhà. Mua được cái rơ-mọt, hai vợ chồng đều vui, nhất là Vân cứ nhìn cái rơ-mọt mà cười.
Hôm sau khi xong hai chuyến đá đi Văn Sơn và Cửa, hắn đem xe 68 và cái rơ- mọt ra giao cho Út Sáu.
– Anh để đó, em sẽ “độ” cho.
– Em…
– Em sẽ “độ” cho anh kịp sử dụng sáng mai.
– Được như vậy, anh thưởng liền.
Buồi chiều Út Sáu lái 68, phía sau kéo cái rờ-mọt, chạy vô hẻm Quang Trung. Vân và Hắn cùng 4 đứa con chạy ra đứng nơi hiên nhà nhìn Út Sáu lái biểu diễn. Lần đầu tiên kể từ 16/4/75, gia đình Hắn nở đủ 6 nụ cười.
Sáng hôm sau Hắn lên 68, kéo theo rờ-mọt. Hắn thấy vừa mừng vừa lo, thời cha sanh mẹ đẻ tới giờ Hắn có kéo rờ-mọt bao giờ đâu. Hắn chạy chậm, thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra phía sau nơi rờ-mọt chạy theo có an toàn hay không.
Xuân cười:
– Hôm nay anh thành tay bỏ mối… chính hiệu rồi.
– Em xem… cái rờ-mọt có được không?
– Còn mới, nhưng lên đá, chạy thử, mớí biết được hay không.
Điều đầu tiên không ổn là chiều dài thùng rờ-mọt ngắn hơn chiều dài cây đá, mà như vậy thì không thể đóng bửng sau, đá dễ tuột khi lên dốc.
Xuân nói:
– Chẳng sao, cho trấu nhiều và rịt dây thun… là được.
– Thường người ta chở mấy cây với cái rờ-mọt?
– Có thể chở 10 cây, tức 500 kí nếu di chuyển đường phẳng, máy bốc, nhíp cứng…
– Còn phải qua dốc Nam Anh?
– 6 cây tức 300 kí là vừa.
Xuân chất lên rờ-mọt 5 cây.
– Em sẽ ra dốc chờ…
– Chi vậy?
– Em sợ xe không bốc, lúc đó phải kê bánh hay đẩy liền, không thì lọt mương.
– Hắn rất lo nhưng cố nói cứng.
– Còn lâu…
Hắn nổ máy vào số 1, vô ga khởi hành. Xe xìa bên trái, xìa bên phải, không chạy thẳng được. Hắn thắng lại, lo âu.
– Xuân… Xuân…
– Nhíp quá yếu, không thể chở đá được.
– Bây giờ làm sao?
– Thêm lá vào nhíp, hay thay cái mới.
Hắn tiu nghỉu, mặt buồn rười rượi.
– Công cóc.
Xuân nói:
– Em nghĩ, anh bán cái này, dồn tiền đặt làm cái mới, tốt hơn.
– Đặt cái mới?
– Mình sử dụng lâu dài mà anh.
Hắn lưỡng lự, có chút tiền, trả hết cho cái rơ-mọt thổ tả này rồi, còn đâu mà đặt cái mới.
– Thầy cứ đặt đi, tôi cho mượn.
Hắn và Xuân đều bất ngờ, không biết chị Năm đứng sau lưng từ lúc nào.

Tiếp tục đọc

SẦU VƯƠNG THÁP CỔ

nguyenngocthoSầu vươngTháp cổ đứng chơi vơi
Xơ xác rêu phong bạc giống Hời!
Sừng sững giữa trời trêu với nguyệt
Dương Long ba ngọn ngó mây trôi …*

Dưới nắng hoàng hôn nhẹ gót thưa
Gạch Chiêm rên rỉ gọi hồn xưa
Dội trong câu hát “hời…” ai oán
Trắng xóa thời gian vàng gió đưa

Thấp thoáng Đồ Bàn xương Chiêm quốc**
Tan trong đất thở mộ chum đầy
Lớp lớp núi sông thời mở cõi
Thuyền hoa Công Chúa biệt từ đây…***

Khách ghé về thăm thầm tư lự
Đền – đài – sa – mã – đá ong phơi?
Hoài thương bóng núi buồn man mác
Nhìn nước Sông Côn lờ lững trôi…

Chú thích :
*Tháp Dương Long (Nam Vijaya _Chiêm Thành), nay thuộc Xã Tây Bình,Tây Sơn , Bình Định
**Kinh đô Đồ Bàn(988_1471)của Vương quốc Chiêm xưa .Nay thuộc Thị xã An Nhơn_Bình Định
***Huyền Trân Công chúa theo Chế Mân (Simha Varman III)về Đồ Bàn(1306)

NGUYỄN NGỌC THƠ