QUA CHƠI CÕI KHÁC

tamnhien

Tiễn biệt thi sĩ Trần Đới

Hạt bụi lang thang* từ vô thủy
Bay về sương khói cõi vô chung
Là xong một kiếp phong trần khách
Còn lại bài thơ thở tuyệt cùng

Bài thơ viết mãi dòng bèo bọt
Vốn là duyên hợp với duyên tan
Tùy duyên* chuyển hóa hòa nhập cuộc
Nên vẫn thênh thang ngát trăng ngàn

Gió nghiệp thổi vờn cơn mê vọng
Vọng tưởng thương yêu lẫn hận thù
Trăm năm rồi cũng chừng ấy chuyện
Bùng vỡ nghìn thu thấy Như Như

Dấu chân trên biển* đâu lưu vết
Bên trời xanh mộng bỗng thành thơ
Từ đây hạt bụi về mây trắng
Phiêu diêu vạn dặm khắp muôn bờ

TÂM NHIÊN

* Thơ văn Trần Đới

TIM & ÓC

sonnghi

Trong tình yêu, khi đam mê làm cho con người trở nên mê muội người ta thường viện một câu nói bất hủ của Blaise Pascal: “Con tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không thể nào hiểu biết được.”, (Le coeur a des raisons que la raison ne peut pas savoir). Trí óc bao gồm nhiều trung khu thần kinh, như trung khu nói, trung khu hiểu tiếng nói, trung khu suy luận, trung khu nhớ, và trung khu cảm xúc. Chính những trung khu này đã điều khiển toàn bộ chức năng của mọi bộ phận trong cơ thể trong đó – dĩ nhiên – có trái tim. Nhưng chính trái tim đã có lúc từ chối sự điều khiển của bộ óc, tự biện minh cho tình yêu để yêu và được yêu.
Óc nói đến lý, tim nói đến tình. Khi yêu là nói đến chức năng của trái tim. Nhưng theo cơ thể học, chức năng của trái tim chỉ là bơm máu vào các mạch chạy khắp cơ thể để duy trì sự sống, kể cả óc cũng cần tim bơm máu đến để nuôi các tế bào thần kinh. Tim chỉ là một khối thịt nặng khoảng 400 gram với một nhiệm vụ thật cần thiết nhưng rất đơn giản chứ không phức tạp như lúc sa vào chốn yêu. Mỗi lần đập là mỗi lần bơm máu đi. Và tim đập liên tiếp như thế khoảng 2.5 tỷ lần trong quãng đời trung bình 66 năm. Nhịp đập cũng nói lên trạng thái của con tim. Nếu tình cờ ánh mắt gặp nhau mà hai trái tim đập rộn rã trong lồng ngực là lúc thôi thúc tìm đến nhau trong vòng tay. Khi hai trái tim đập cùng nhịp là lúc không thể sống xa nhau. Nếu đập lỗi nhịp thì xin đành hẹn lại kiếp sau. Và thật bất ngờ, tim ngưng đập là lúc nói đến chia ly vĩnh viễn.
Một lúc nào đó, những con sóng (lãng) tình cảm vượt bờ (mạn) lý trí là lúc trái tim làm chủ những nghĩ suy, gạt bỏ tất cả mọi lời khuyên bảo hữu lý của óc. Thế gian ca ngợi những mối tình lãng mạn như thế. Khi yêu chỉ biết yêu và bất chấp mọi hậu quả để được yêu. Sử xanh đã ghi lại những mối tình với con tim phủ mờ lý trí, gây mối cảm hoài cho hậu thế qua bao nhiêu thế hệ. Shakespear đã thi vị hóa mối tình của Romeo và Juliette giữa hai gia đình thù nghịch. Họ đã yêu bất chấp những truyền thống xã hội thời bấy giờ để rồi mang cả mối tình xuống tuyền đài. Lịch sử nước Nam cũng để lại hậu thế một chuyện tình đau thương của Trọng Thủy và Mỵ Châu thời An-Dương-Vương. Triệu Đà thuộc nước Nam Hải có ý thôn tính nước Âu Lạc của An-Dương-Vương bèn sai con trai là Trọng Thủy sang kết nghĩa với Mỵ Châu là con gái của An-Dương-Vương. Thần Kim Quy có ban cho An-Dương-Vương một cái nỏ thần dùng để triệt yêu quái khi dựng Loa Thành và giữ nước vì một khi bắn ra là giết chết vạn quân địch. Nhờ cái nỏ thần này mà An-Dương-Vương giữ vững nước Âu Lạc. Tình yêu vợ chồng say đắm nên Mỵ Châu mới nói cho Trọng Thủy biết bí mật của nỏ thần. Chính Trọng Thủy đã đánh tráo bằng cái nỏ thần giả. Vì thế Triệu Đà chiếm trọn nước Âu Lạc dễ dàng. Hai cha con An-Dương-Vương và Mỵ Châu trên đường chạy trốn, nhà vua cầu thần Kim Quy giúp. Thần hiện ra và nói giặc đang ngồi ở sau lưng. An-Dương-Vương hiểu ra vì đứa con gái mà mất nước nên vung gươm chém chết con gái. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng tìm được xác vợ. Chàng buồn rầu và cũng nhảy xuống giếng tự tử. Chuyện tình lãng mạn kết thúc bằng cái chết của hai vợ chồng giữa hai nước thù địch.
Nhưng chuyện tình giữa Trương Chi và Mỵ Nương lại có sự phán đoán của trí óc. Nàng công chúa tương tư anh lái đò có tiếng sáo lãng đãng vang trên quãng sông vắng làm mê mệt lòng người. Con tim thôi thúc nàng phải yêu nhưng đến khi gặp nhau óc đã phủ nhận mối tình chỉ vì chàng quá xấu trai. Hóa ra nàng chỉ tương tư tiếng sáo chứ không hề yêu người thổi sáo. Dù không nên vợ chồng nhưng rõ ràng trí óc đã giúp nàng công chúa chấp nhận thực tại. Chẳng thà phụ nhau ngay từ đầu còn hơn dấn sâu vào một cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Óc chính là cái phanh để hãm chất lãng mạn trong tình yêu. Nhưng nếu người ta chấp nhận buông thả trái tim để yêu không cần đến lý trí thì thế gian cũng thông cảm, không ai khắt khe lên án một người sẵn sàng chết cho tình yêu. Nhưng nếu con tim cứ hành động theo những lý lẽ riêng của nó mà bất cần đến lời khuyên bảo của trí óc thì sẽ dẫn đến hậu quả thế nào?
Trong lãnh vực gia đình, cha mẹ thương yêu con cái là một lẽ tự nhiên. Nhưng nếu thương yêu chiều chuộng chúng một cách vô lý thì chưa hẳn là một lối giáo dục tốt. Con cái cần phải được răn đe, để chúng nhận biết tốt xấu, sự lành, và sự dữ. Chiều chuộng chúng để muốn gì được nấy chắc chắn không giúp ích gì cho đứa trẻ sau này khi bước vào trường đời. Một đứa trẻ được nuông chiều quá mức ở trong gia đình dễ sinh ra tuyệt vọng khi gặp phải thất bại trong cuộc sống.
Trong lãnh vực luật pháp cũng thế, tim và trí óc phải đi đôi với nhau. Chi dù “pháp bất vị thân” nhưng một quan tòa cứ áp dụng cứng nhắc luật lệ thì bản án sẽ đưa đến bất công. Tình và lý cần phải cân nhắc để đi đến một phán quyết. Tục ngữ Việt có câu, “Có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Tục ngữ Mỹ cũng nói, “Before criticizing a man, walk a mile in his shoes”. Người quan tòa công chính là người phải hiểu rõ hoàn cảnh của từng tội nhân. Luật là phạm vi của trí óc nhưng nếu đặt mình vào tình huống của tội phạm là lúc nói đến lý lẽ của con tim. Phán quyết dựa vào tim và óc sẽ thấy một bàn tay sắt nhưng không thiếu khoan dung.
Lãnh vực chính trị cũng thấy tim và óc song hành. Aristide Briand (1862 – 1932), một chính khách từng giữ chức Thủ tướng Pháp trong nhiều nhiệm kỳ đã khẳng định: “Một người ở tuổi hai mươi không theo chủ nghĩa xã hội thì đúng là không có trái tim, nhưng nếu đến tuổi bốn mươi mà vẫn còn mê chủ nghĩa xã hội thì đúng là không có óc.” (L’homme qui n’est pas un socialiste à vingt n’a aucun coeur, mais s’il est toujours un socialiste à quarante il n’a aucune tête.) Một chủ nghĩa mà Marx vẽ vời ở thế kỷ 19, khi tư bản mới phôi thai, được Lênin phát triển một cách có hệ thống vào đầu thế kỷ 20 đã được chứng minh là một chủ nghĩa điên rồ, tàn bạo, và vô luân. Ông Briand nói phải mất 20 năm mới nhận ra sự hão huyền của chủ nghĩa nhưng thật ra chỉ cần sống vài năm ở xã hội què quặt luân lý Việt nam là hiểu rõ cái bản chất bất nhân của một chủ nghĩa đã gây biết bao tang tóc cho nhân loại. Cần gì phải đợi đến tuổi 40, yêu chủ nghĩa ở tuổi 20 nhưng đến 25 tuổi mà vẫn mở miệng bệnh vực cho cái chủ nghĩa vô luân ấy thì quả thật đầu óc đó không có một chút chất xám nào. Họa chăng những cái đầu này chỉ chứa một thứ chất vàng sền sệt mà con người thải ra mỗi ngày. Viễn ảnh của một chủ nghĩa về một thế giới đại đồng, trong đó con người “làm theo khả năng” và “hưởng theo nhu cầu” được lịch sử minh chứng một cách hùng hồn là viễn vông, là không tưởng. Giấc mơ đại đồng này đã làm say mê hàng triệu con tim đầy nhiệt huyết của các thanh niên thiếu nữ. Vì mục đích “cao cả” này, ho đã quên đi tính chất bạo lực cách mạng, nền tảng “luân lý” của chủ nghĩa cộng sản, là phải tàn sát cho hết những người không cùng chí hướng, những kẻ đối lập. Kết quả là nhân loại phải hứng chịu cái tai ương nghiệt ngã này trong suốt thế kỷ 20 với cái giá của hơn 100 triệu người chết vì bị trấn áp, bị thủ tiêu và bị tù đày trong các trại cải tạo. Những người cộng sản bây giờ chẳng còn có con tim để yêu một chủ nghĩa “lý tưởng” như ông Briand đã nghĩ. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất, yêu những tờ giấy đôla xanh hơn là yêu giấc mộng ban đầu như đấu tranh giành thắng lợi cho giai cấp vô sản, mơ tưởng một thế giới không còn sự bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng. Trái lại, chủ nghĩa chỉ dựng lên để đấu tranh quyền lợi tuyệt đối cho giai cấp tư bản đỏ, để thực hiện một thế giới đầy dẫy bóc lột tàn khốc và dữ dội hơn bao giờ, và để dựng lên một xã hội với những thảm cảnh luân lý suy đồi đến tận cùng và nhan nhản bất công với nhiều nước mắt.
Ban đầu, có thể Marx ôm giấc mộng đại đồng với ý tốt muốn biến cõi đời ô trọc này thành cõi thiên đàng, đến Lênin thêm chút mắm muối “bạo lực cách mạng” và kêu gọi “vô sản các nước, đoàn kết lại!” thì cái chủ nghĩa xã hội huyễn hoặc của Marx bước sang một khúc ngoặt gây đau thương cho con người nhất trong lịch sử nhân loại. Sự tàn ác của chủ nghĩa phát-xít so ra chẳng thấm gì với sự tàn bạo và độc ác cách mạng của chủ nghĩa cộng sản. Họ – những người sống chết với lý tưởng cộng sản – say mê đấu tranh với khẩu hiệu tất cả vì quyền lợi của giai cấp bị bóc lột nhưng thực tế hoàn toàn khác hẳn. Họ chỉ mượn sức mạnh của giai cấp bị bóc lột để tranh đấu cho quyền lợi cá nhân của từng người cộng sản nắm giữ quyền lực cao nhất nằm trong cái-gọi-là bộ chính trị. Bên trong thâm cung của các quan cộng sản, sự tranh dành quyền lực gay gắt và khốc liệt không thua gì cuộc đấu tranh bằng bạo lực ở bên ngoài với các nước tư bản. Mãi đến cuối thế kỷ 20 thì chủ nghĩa cộng sản đã bị biến thái hẳn. Nó biến thái đến mức người ta hoàn toàn không nhận ra cái cốt lõi chủ nghĩa nằm ở chỗ nào trong suốt tiến trình tiến lên thế giới đại đồng nữa. Người ta không hiểu nó là một triết lý? một chủ nghĩa? hay một học thuyết? Nó như một nồi tạp-pí-lù – trộn một thứ một ít vào rồi gọi là chủ nghĩa cộng sản ở thế kỷ 21 – để lâu ngày ươn sình và bốc mùi làm ai cũng buồn nôn mửa. Nó như một cái xác bị chết cháy không còn nhận diện được hình dạng của nạn nhân. Làm sao một người được Thượng đế ban cho một trí óc bình thường lại có thể nói rằng tôi vẫn còn yêu cái chủ nghĩa phi nhân bản như thế? Đừng tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản qua sách vở! Đừng đọc mớ chủ thuyết đó bằng trái tim nhưng bằng cả trí óc! Khẩu hiệu với những mỹ từ dễ làm mê muội con người. Tính chất “lãng mạn” của chủ thuyết cộng sản dễ làm con tim rung động. Hãy luôn nhìn nó bằng trí óc minh mẫn của một người bình thường.
Trong cuộc sống lưu vong cũng cần suy nghĩ về thái độ chính trị chính đáng của một người tỵ nạn. Vào đầu thập niên 80, dân chúng Việt nam ùn ùn kéo nhau ra biển. Họ tìm đủ mọi cách để đào thoát khỏi cái xã hội rách nát nhân bản và bần cùng vật chất đó. Người ta phỏng đoán khoảng hơn 1 triệu người bỏ nước ra đi nhưng đến bến bờ tự do chỉ được non nửa. Những người đi sau không phải không biết những hiểm nguy của cái giá vượt biển, cứ hai người đi ra biển thì chỉ một người thành công. Thất bại là đồng nghĩa với cái chết vì bão tố, hải tặc, đói khát… thế mà họ vẫn lầm lũi cắm đầu đi sống đi chết ra biển. Băng qua lãnh thổ Miên đến đất Thái cũng đối đầu với những hiểm nguy chết người. Nào là bọn Miên đỏ khát máu, bọn Việt cộng điên cuồng thù hận, thú dữ trong rừng già, bọn thổ phỉ buôn người, đám buôn lậu có máu lạnh giết người không chùn tay. Có người đi ra biển không thành lại quay về đi bộ. Có người vượt biển thất bại đến khánh kiệt tài sản. Cả miền Nam lên cơn sốt bỏ nước. Tính đến đầu thập niên 90, non nửa triệu người đạt được ước nguyện.
Con số nửa triệu người may mắn sống sót, một lần nữa, lại may mắn được định cư ở các nước tư bản, có cơ hội ngắm nhìn bầu trời dân chủ, hít thở không khí tự do, và nhất là có cơ hội vươn lên từ hai bàn tay trắng. Sau hơn 30 năm, con số người Việt tỵ nạn sinh sôi nẩy nở đã lên đến vài triệu, ở rải rác khắp năm châu, thành công ở khá nhiều mặt trong xã hội, tạo của cải vật chất cho chính gia đình mình và đất nước nơi hai ba thế hệ Việt sinh sống thành từng cộng đồng với sinh hoạt khá khởi sắc.
Khi trong tay có chút tiền thì những người Việt hải ngoại chợt nghĩ đến chuyện “vinh qui về làng”. Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi nhà nước cộng sản bắt đầu mở cửa, một số người Việt lưu vong trở về với mớ tiền trong tay. Thuở ấy trong nước ai ai cũng nghèo, kể cả bọn cán bộ. Thế là có màn vung tiền tiêu cho thỏa thích với trăm đô đổi ra tiền triệu, một giấc mơ của khá nhiều người nghèo khổ. Bên Mỹ không biết những người đó làm gì nhưng khi về nước họ tìm thấy được sự nể trọng (đồng tiền), tự ái họ được vuốt ve đến độ tận cùng. Từ đó, họ cố gắng làm lụng ký cóp cho được kha khá tiền và mỗi năm trở về nước ngồi bảnh chọe tiêu tiền trên sự đau khổ của rất nhiều kẻ khác. Cho đến năm nay, năm 2008, tuy sự nể trọng (cũng đồng tiền) đã bớt đi nhiều nhưng vật giá vẫn quá rẻ so với khi du lịch ở các nước khác nên số người về nước ngày mỗi đông hơn. Số người đổ xô về nước chưa hề giảm bao giờ.
Hơn 30 năm trước, chúng ta đánh đổi lấy mạng sống để ra đi cho bằng được thì không vì một lý do gì để có thể trở lại mảnh đất khốn khổ đó một cách quá dễ dàng. Mảnh đất dứt khoát bỏ lại sau lưng bằng chính mạng sống của mình, của vợ chồng con cái mình thì làm sao có thể trở về nhìn lại cái đám người đã chưởi rủa những kẻ ra đi – chính chúng ta – là bọn trộm cắp, đĩ điếm. Nếu dùng óc để suy nghĩ, nếu còn sĩ diện, cần phải tỏ thái độ khinh bỉ bọn nhà nước cộng sản đã hàm hồ kết tội chúng ta là thành phần cặn bã của xã hội bỏ nước ra đi. Xét cho cùng, cần trân trọng những người trở về để thăm cha mẹ già yếu, lo ma chay cho người thân, giúp đỡ những kẻ khốn cùng. Có những kẻ trở về với trái tim độ lượng, xót thương người, cố làm một cái gì nho nhỏ để xoa dịu nỗi đau khổ của đại đa số đồng bào. Về với trái tim nhân từ như thế thật đáng khuyến khích, thật đáng kính phục. Không bao giờ về với đầu óc của kẻ lợi dụng thời cơ, vui đùa hưởng thụ vật chất rẻ mạt, cười cợt trên thân xác bèo bọt của những cô gái quê mà quên đi cảnh chiếc thuyền nan lênh đênh trên biển khơi mấy mươi năm về trước.
Nghĩ là nghĩ thế nhưng thực tế tin tức cho thấy mỗi năm cả triệu người rầm rộ về thăm quê hương; chỉ riêng trong dịp Tết cả trăm nghìn “khúc ruột ngàn dặm” rộn ràng trở về quê ăn Tết. Thèm ăn Tết trên quê hương đến vậy sao? Cho dù Tết đã mất hẳn cái hương vị ngọt ngào của bầu sữa mẹ? Vương trong không khí của một buổi sáng đầu năm nghe có tiếng ai oán của đám dân oan, nghe có tiếng than khóc mỏi mòn của những người vợ thương nhớ chồng còn bị đày đọa trong các trại tù vì họ lên tiếng đòi hỏi một nền dân chủ của một nước Việt nam, nghe có tiếng kêu gào bi thiết của những nhà lãnh đạo tôn giáo đã lên tiếng bênh vực cho công lý. Một bầu khí Việt nam bị ô nhiễm độc tài, bị vẩn đục áp bức đến thế liệu chúng ta có thể thản nhiên trở về quê ăn Tết hay sao?
Bài thơ, “Ta Chẳng Về Chi” (không rõ tác giả là ai) diễn tả những suy nghĩ chín chắn của một người có trái tim tràn đầy yêu thương.

Bạn hỏi ta sao chẳng trở về
Về chơi nối lại mối tình quê
Theo bạn bên nhà giờ vui lắm
Tha hồ du hí, sướng hả hê!

Ta nghe bạn tả, dạ nao nao
Bao năm biệt xứ nhớ làm sao
Vẫn hằng mơ ước về quê cũ
Cho thỏa chờ mong tự thuở nào

Nhưng rồi nghĩ lại ta chẳng về
Xá gì một phút chốc đam mê!
Để rồi phải thấy bao ngang trái
Bao nỗi tang thương luống não nề

Bạn trách bao người đã hồi hương
Cứ ngồi tiếc nuối với vấn vương!
Ta đã ra đi trong hận tủi
Về chi gợi dĩ vãng đau thương

Bạn rủ ta về thăm phố phường
Thăm mái nhà xưa, những người thương
Nhà xưa bị chiếm còn đâu nữa
Người thương thời tản mác bốn phương

Bạn bảo quê hương giờ thanh bình
Danh lam, thắng cảnh thật đẹp xinh
Lòng ta còn đâu mà du ngoạn
Khi thấy bên đường cảnh điêu linh

Bạn giục tội gì không về chơi
Đất nước giờ đây đổi thay rồi
Ta thấy vẫn ngục tù, bắt bớ
Đàn áp không ai được hé môi

Bạn nói về đi ăn đã đời!
Sao ta có thể nuốt cho trôi
Khi thấy chung quanh bao đứa bé
Chẳng có miếng ăn, đứng chực chờ

Bạn kể ta nghe rất mê hồn!
Các em mơn mởn, hãy còn son
Ta thấy xót thương thân nhi nữ
Mới từng ấy tuổi phải bán trôn

Bạn khuyên lo sướng cho thân mình
Dại gì để ý chuyện linh tinh!
Ta chẳng thể nào câm nín được
Trước sự trái tai, cảnh bất bình

Bạn có thể vui thú nhởn nhơ?
Mặc ai rên xiết, cứ làm ngơ
Ta không nỡ sống trên đau khổ
Ôm mối hoài hương ở xứ người.

Lại còn vấn đề gửi tiền về giúp thân nhân. Gửi tiền giúp là do trái tim thúc đẩy nhưng giúp thế nào để có hiệu quả thì là công việc của lý trí. Từ năm 2000 đến nay, số tiền gửi về hàng năm cứ tăng mãi. Năm ngoái số tiền là 4 tỉ đôla, năm 2008 có lẽ cũng bằng hoặc hơn chứ không kém. Đây chỉ là con số gửi qua hệ thống ngân hàng Mỹ có chứng từ hẳn hòi, còn những nghìn dấu kỹ trong ruột tượng của các cụ già đem về cho con cháu thì không ai kiểm chứng được. Cứ tính đổ đồng mỗi người mang về nước chi tiêu khoảng $5000 đôla, với từng ấy người về hàng năm thì số tiền đổ khơi khơi vào nước phải thêm vài tỷ bạc nữa. Như thế số tiền rót về nước (cho không) giá chót phải 6, 7 tỷ bạc mỗi năm.
Số tiền gửi về dưới nhiều hình thức khác nhau như gửi giúp các nạn nhân thiên tai, gửi về giúp thân nhân có vốn làm ăn, hoặc giúp chỉ để nuôi sống từng ấy miệng ăn, mỗi ngày… Tính ra hàng tỉ đôla là công khó của biết bao nhiêu người Việt ở hải ngoại, sẵn sàng hy sinh một chuyến du lịch hàng năm của gia đình, hoặc chấp nhận giảm bớt những chi tiêu để có đủ tiền gửi giúp thân nhân. Từng ấy tỷ bạc thân nhân tung vào thị trường để mua sắm, để ăn chơi, để khoe khoang kiêu hãnh, nhưng cũng giúp nhiều gia đình chỉ vừa đủ sống và sinh hoạt hàng ngày trong một xã hội mà sự lạm phát leo thang theo nhịp độ hàng tháng. Đúng ra tiền tệ trong lưu thông bỗng nhảy vọt lên con số tỷ mà không cần trữ kim bảo chứng như thế cũng tạo ra công ăn việc làm nhất thời cho đám dân nghèo khổ. Những công việc làm hoàn toàn mang tính chất tiêu dùng, chứ chưa hề dùng tiền tạo ra những cơ sở sản xuất mang lại lợi nhuận về lâu về dài trong tương lai.
Có nhiều lý lẽ biện minh cho việc gửi tiền. Lý lẽ được rất nhiều người ủng hộ là thân nhân cần được giúp đỡ trong một xã hội quá bần cùng. Họ quan niệm rất đơn thuần rằng nếu ngưng gửi tiền, chẳng biết bọn chóp bu cộng sản có chết không nhưng thân nhân của họ chắc chắn sẽ chết trước hết. Suy nghĩ này quả thật không sai thực tế bao nhiêu. Nhưng nếu thị trường tiêu dùng thiếu hẳn 4 tỷ trong 1 năm, chắc chắn công ăn việc làm sẽ giảm thiểu đi rất nhiều, những thân nhân sẽ sống dở chết dở nhưng sẽ tạo một áp lực lớn lao trên chính quyền cộng sản. Người dân đói quá đành phải làm liều. Xã hội sẽ hỗn loạn. Công an có bắt giữ được cả trăm hoặc cả nghìn nhưng nếu cả triệu người liều mình thì chính quyền cộng sản chẳng thể nào đàn áp nổi. Nhà tù nào chứa cho nổi khi vài chục triệu người sẵn sàng chết để kiếm cái ăn cho gia đình. Chính bao tử sẽ thôi thúc con người đến trở thành thú vật. Đây chẳng phải là bài học mà bọn việt cộng đã áp dụng triệt để trong mấy mươi năm cai trị nhân dân miền Bắc và cả trong các trại tù sao? Từng ấy nhân dân quá đói khổ nổi loạn thì cái chỗ ngồi của bọn Bắc bộ phủ cũng phải lung lay.
Biết rõ như thế nhưng không một ai dám làm, hoặc không nỡ nhẫn tâm đẩy những người thân đến một hoàn cảnh cùng cực, nơi mà ranh giới của lý trí và thú tính chỉ mong manh như sợi tơ. Nếu đổi ngược lại hoàn cảnh, nghĩa là nếu những kẻ cộng sản ở hải ngoại gửi 4 tỉ mỗi năm về nước để cứu đói và họ biết rõ rằng nếu không có 4 tỉ này thì xã hội sẽ hỗn loạn, chế độ sẽ sụp đổ thì chắc chắn họ đã thực hành từ lâu rồi. Đây là sự khác biệt lớn lao giữa người quốc gia và người cộng sản. Sự dị biệt đó là trái tim. Những trái tim còn máu đỏ luân lưu trong thân xác của sinh vật có tên gọi là người. Chính con tim đã thổn thức khi thấy đồng bào trong nước lâm vào cảnh thiên tai. Chính con tim đã tha thiết khi thấy những đứa trẻ mồ côi, khuyết tật lăn lóc trên hè phố kiếm ăn. Và cũng chính con tim đã thôi thúc những người Việt hải ngoại gửi tiền về giúp những người thân nghèo khổ. Mặc dù họ biết rằng chính số tiền này đã phần nào giúp chế độ đứng vững đến ngày hôm nay.
Đã đến lúc lý trí cần phải xen vào hành động của con tim. Gửi vừa phải và gửi đúng lúc là cách hay nhất để giảm thiểu những số tiền thặng dư không cần thiết. Nên gửi để tạo công ăn việc làm hơn là gửi để giúp miếng ăn từng bữa. Giúp cần câu hơn là biếu con cá. Mỗi khi có thiên tai, làm thế nào để số tiền cứu đói phải đến thẳng tay các nạn nhân, không thể qua tay bọn cán bộ ở xã, ấp, huyện, hoặc phường. Phải hạn chế tối đa tiền của lọt vào tay những kẻ không tim này. Biết cách gửi, và biết gửi qua người nào. Các bậc tu hành, những sơ, những ni cô, các linh mục, thượng tọa (tuyệt đối không phải là bọn quốc doanh) là những người xứng đáng chọn mặt gửi vàng. Trở về thăm quê hương đọa đày khi thật sự cần thiết. Nên hạn chế tối đa những chuyến du hí vung tiền mua vui trên những thân xác bọt bèo. Nên tự chế để cái xã hội quá bấp bênh về đạo lý bớt bị bấp bênh. Nếu không làm cho nó tốt hơn thì cũng đừng nhẫn tâm làm cho nó tồi tệ thêm.
Xem ra, trái tim và trí óc cần song hành. Hành động xuất phát do trái tim thôi thúc, và hành động dẫn đến một kết quả tốt đẹp lại luôn cần có lý trí hướng dẫn.

SƠN NGHỊ

CÓ AI VỀ THĂM PHAN THIẾT KHÔNG?

tranvannghia

Có ai về thăm Phan Thiết không ?
Thăm ngôi nhà cũ ngói rêu cong
Thắc thiu nắng quái chiều chợ muộn
Gánh cả đời tôi dáng Nội còng

Có ai về thăm Phan Thiết không ?
Cho tôi gửi nhớ một dòng sông
Bâng khuâng mấy nhịp cầu ngày đó
Áo trắng em bay trắng buốt lòng

Có ai về thăm Phan Thiết không ?
Cho tôi tìm nhớ phố Gia Long
Góc quán ngả tư thời mới lớn
Lá thư muốn gửi thấy ngại ngùng

Có ai về thăm Phan Thiết không ?
Cho tôi gửi nhớ một người dưng
Láng giềng ,còn ở làng Đức Nghĩa
Hay thôi bỏ xứ lạc quê chồng ?

TRẦN VĂN NGHĨA

NGẪU HỨNG

vudinhhuy

Cầu gì thật lạ..Cầu đôi
Vầng trăng ai xẻ…
chia phôi như là
Có khi ngày trước ai qua
Hẹn ai trao nhẫn
về nhà…
đánh rơi
Qua cầu sừng sững Tháp Đôi
Ô hay hạnh phúc đơn côi…
láng giềng
Thôi thì cũng một chữ duyên
Hanh hao vạt nắng chiều nghiêng Tháp Cầu
Lạ chưa
chẳng biết về đâu
Bước đi thì vướng
ngoảnh đầu thì vương
Thắp chiều
một nén tâm hương
Ngày xưa xao xác
con đường lặng nghe…

VŨ ĐÌNH HUY

TRĂM NĂM BÓNG ĐỔ

lesa

 

– Ông Tám! Thế ông có nghỉ là mình hoang tưởng quá không?
– Không.
– Dị mộng?
– Cũng không.
Đôi mắt trầm sâu. Ông vói nhìn đám mây đang trôi lãng qua đầu, rồi chìm mất vào hai lòng vực sâu thăm thẳm ấy. Tôi lắc đầu nhìn ông cười:
– Thế ông Tám cứ nhập vào cuộc trình ma quỷ thánh thần của ông Tám đi.

Chuyện cách đây gần bốn mươi năm rồi. Hai mái đầu, một xanh một sương rướm. Trời càng về khuya, chỉ tôi và ông. Mỗi người đều có một tỉnh táo riêng, một nội thức riêng, cảm ngộ qua từng hơi thở của nhau…. Để rồi suốt đời cứ phải nhớ nhớ thương thương. Ông thao thiết nói tôi nghe về chuyện của một dòng sông.
Dòng sông mang hai dòng nước chảy, nửa đục nửa trong, dòng này hân hởi thì dòng kia bi lụy và ngược lại. Cả hai dòng đều đẹp như nhau. Trong tâm ức chúng đều có sự hào phóng và tráng liệt như nhau. Đời người cũng vậy – Như ta và cháu đây – một tóc còn xanh, một đầu đã bạc. Tại sao cháu chỉ biết và nghỉ về cái đẹp của loài hoa khi nó ở độ mãn khai. Nó còn có cả cái đẹp khẳn khiu khôn cùng của nó… đang tàn và đang rữa.
Ông chí thú nói tôi nghe về những loại côn trùng vặt vạnh mà ông thường gặp trên cánh đồng quê mỗi sớm mỗi chiều. Ống nhắc về loài Mối nhiều nhất, như có mối tương hiệp nào đó trong tiềm ức ông?!. Sự phân định quyền lực của chúng, tập tính quần cư của chúng… Giọng ông trầm xuống đến thương:
– Cháu biết đấy. Tất cả mọi loài đều có một chân bản riêng, một cảm thụ riêng để mà đuổi kịp mọi chuyển biến của mùa, tiếp nhận nết đất nết trời mà xiễn dương cho cả hai chiều… THIỆN VÀ ÁC. Mà này, cháu là nhà báo đi nhiều, ngẳm nhiều. cháu giúp ta – Mỗi loài, nhất thiết đều có đều có một ĐẠO riêng cho mình phải không?! Như loài Mối chả hạn.
Quả thực. Hơn mười năm ở nghiệp báo. Những hiểu biết, những chiêm nghiệm, cả trong cảm thức của tôi, niềm xúc động của tôi khi đứng trước một bi huống nào đó, lòng tôi vẫn lạnh… Thế nên, bút của tôi mực của tôi có phần xa xỉ, vô tích sự. Làm sao tôi giúp được gì cho nội Tám đây. Tôi nhắm mắt nghỉ về dòng sông, nghỉ về bầu trời, một đám mây phiêu dạt, một vực thẳm không đáy. Và không hiểu sao. Tôi kể ông nghe về lủ Khỉ vớt trăng dưới vực giếng ở Gia Thị trong kinh Pháp Uyển – Rằng, trăm con khỉ vừa đực vừa cái ngoéo đuôi nhau. Con cuối cùng vọc tay khua khoắng mặt nước hòng cứu trăng. Ngụ ý đấy chỉ là chuyện hoang tưởng.
Nội Tám ngước nhìn tôi cười hân hả. Cái cười ròn tan không gãy:
– Này nhóc nhà báo. Ngươi hiểu nhầm ông Tử rồi. Thầy Tử thầy Mạnh đâu phải là kẻ xu thời nịnh thế, ai chết mặc ai đâu, đầu cắm đất đít chổng trời đâu. Ông có dạy ta ngồi không mà ăn bát vàng đâu. Ông chỉ mong khuyến hịch ta, khi nhìn về một đám mây, một hạn sương sớm, một vết đi lang thang của gió… ta phải suy và biết vịn theo nó, nhận rõ cái chân nguyên của nó mà biết mình biết ta. Qua những cuộc binh lửa của loài người chúng ta cũng thế… Một ông tướng tài, phải biết lúc nào tiến lúc nào lùi, lúc nào giã chết lúc nào chết thiệt. Đấy là chiến pháp. kẻ thắng không cần thiết phải nhể nhại, quá tự mãn bằng cách vinh danh theo kiểu đao to búa lớn… đi đâu ta cũng gặp “anh hùng” đến trong tận cùng hốc hẻm nào ta cũng phải trượt chân té chỉ vì hai từ “Vĩ đại”… “cực kỳ vĩ đại”. Như vậy ta đã vô tình bón tưới thêm cái gốc hận thù, kích thích họ thêm dũng khí để họ cứ âm ỉ hoặc thực sự lao vào cuộc rửa thù dai dẳng hơn. Máu lửa khó mà ngừng dứt được.
Còn với người thua cũng vậy. Cớ gì ta phải sầu phải hận cho mệt – Nếu là trái ngọt ta cùng ăn. Nước lành ta cùng tắm cùng uống… hà cớ gì phải ỉu rĩu cho rừng thu trút lá đến trăm năm. Phải không.
– Thế thì Ông cứ dựa vào lủ Mối mà tìm cho mình một thứ ĐẠO riêng đi.

Thực tình. Nhiều đêm nằm một mình gát tay lên trán. Tôi thường tự hỏi – Quê hương là gì? Cố hương là đâu! Hai từ có đồng nghĩa không… Và cả ta nữa. Ta là ai, ta từ đâu đến. Những lúc như vậy ta nhớ đến vụn lòng. Nhớ sợi khói xanh từ mái rạ nghèo giữa trưa hè lặng gió.
Biền biệt những ba mươi năm bỏ xứ ra đi.
Không một sắp xếp với vợ con. Tôi lặng lẽ về.
Điều tôi muốn biết trước tiên là ông nội Tám.
Tôi hỏi chị Hà:
– Giờ nội Tám ra sao rồi chị.
– Ôi! Thì ông cũng biệt, giống như cậu, biệt cùng với lúc cậu đi… Người thì nói ông bay suốt một lèo tận xứ sông nước nào đó với người bạn cùng ĐẠO THƠ với ông. Chắc là ông muốn tìm lại hơi hướm chuyện tình mà thời trai trẻ ông đã vụn tay làm lạc mất.
Đến cuối đời, người đàn ông đã già đã mõi, ngồi một mình thường ngớ ra mà gật đầu – Ừ. Tình yêu là có thật là chốn đi về. Chốn về ấy rất đỗi thanh bình. Gần đây hơn cũng có người lại nói – Những đêm trăng sáng, ai như ông Tám đứng chấp chới trên một gò Mối cao nhất trong cụm gò Mối ở đồng Mưcôi . không hiểu đấy là bóng của ma hời ma Kust, hay là bóng của Nữ hoàng Mối chúa bỡn trăng?.. Giờ thì chưa ai dám quyết. Chợt nhớ ra điều gì như cần kíp lắm. Chị Hà bước vội vào kệ thở tổ tiên, vừa cung kính vừa cẩn trọng run tay mở chiếc họp gỗ cẩn xa cừ. Chị Hà trao tôi rẻo giấy nhỏ – Này câu! Cậu coi thử đây là giấy gì. Sao tự dưng chị thấy quý nó kể từ chị nhặt được, chị nhặt được giữa trời đêm lỉu thỉu mưa vì chị phải ra đồng để cân lại nước cho luống mạ vừa đúc chiều qua. Vừa ngang qua gò Mối, một vệt sáng cắt qua mặt chị, rồi dán chặc xuống vai chị rẻo giấy. Rẻo giấy này đây. Cầm rẻo giấy trên tay. Tim tôi thắt lại. Chị Hà không hiểu chuyện gì.

Vâng. Chuyện cách đây đã ba mươi năm rồi. Vào một đêm họp dân ở Đình làng. Cọc tiêu chính là cái Đình làng Ông chủ tịch thôn dõng dạt: – Đình ta… Qua đạn bom giờ coi cũng còn bề thế lắm. Thế thì với cơ ngơi này, bà con ta nghỉ thế nào? Ta phải biết biến nó thành lợi ích “cụ thể” chứ. Chả lẻ ta cứ để nó đó mà thắp nhan thắp đèn cúi lạy… những lục cục đất sét đất bùn, đồng thau đồng tạp, lôm côm kia. Ích gì. Một là ta cho nó thành nhà kho chứa lúa thuế, bảo giữ tài sản cho dân, tiện thể kết hợp cái chuồng cho trâu cho bò. Trâu được khoẻ ra bò được khoẻ ra mà cật lực cùng ta cày cáy. Đấy là điểm vững bền nhất để tiến đến “vĩ mô”. Ông chủ tịch vỗ tay trước. Bà con dân quê làng tôi vỗ tay bè theo nhịp sau. Điếu thuốc rê quấn dài ngoòng trên môi ông đã tắt, tắt là do bả nước miếng của ông ứa ra tự dập nó, ông nhổ phụt xuống thềm đình, tay gãi gãi vào man tai.
Cuộc họp vừa tan. Nội Tám tò mò cúi nhặt mấy lóng thuốc, cùng cả những chiếc que nho nhỏ mà ông Chủ tịch đã se lại từ mảnh giấy khổ lớn xé ra, để ông ráy tai. Miệng nội Tám lực ực kêu lên: – Trời ơi!… ‘Sắc Thần họ Lê ta đây mà. Nước mắt tôi nghẽn lịm vào trong. Chính bản giấy này đây. Nội Tám đã ngập ngùi cho tôi được chạm vào nó một lần lâu rồi – Liệu tôi có nên nói thực với chị Hà những gì muốn nói.

Chiều xuống sậm. Nhưng trên cao, trời vẫn xanh một màu xanh rừng rựn. Tôi xoè rộng hai bàn tay mình. Một làn khói mỏng bay bay lên cao mãi như có như không cùng với mảnh “Sắc phong” rã vụ ấy./.

Ma nương. Mùa cạn gió cùng Tư Rết

LÊ SA

BÂY GIỜ LÀ MÙA THU

huynhhuuvo

Đêm nay sao buồn chi lạ
Có phải những giọt sương chìm xuống đáy hồ ta
Có phải đêm qua ta không mộng thấy em cười
Vì cửa nhà em đóng chặt luồng ánh sáng

Đêm nay ta về trên con đường ướt sũng
Trời thì mưa nhưng ta thì ráo cạn
Bởi cơn gió trở mùa em thấy đó
Xin một lần được nói tiếng thương nhau

Như trên tháp chuông bỗng dưng có tiếng động
Nhưng chắc gì Chúa sẽ hiện về
Cũng như con người khi xích lại gần nhau
Mới thấy rõ được điều dối trá

Ta không dám qua nhà em những trưa
Sợ giấc ngủ em nồng hây hây mùi rạ mới
Ta rất sợ những trái vú sữa
Rớt vô tình trong giấc mơ em

Nhiều lúc ta muốn trở về quê cũ
Gỡ đi nhánh chùm gửi trên cây xoài
Cho cuộc sống hằng ngày bớt đi ý nghĩa tạm bợ
Nhưng thôi. Mọi người đều có lớp vỏ để che

Khi không còn biết làm gì
Ta vào quán táo ngồi ngắm lại dòng sông
Dòng sông vẫn vô tình chảy xiết
Cuốn trôi đi niềm hạnh phúc một ngày

Bây giờ là mùa thu
Ta một mình như chiếc lá thu bay.

HUỲNH HỮU VÕ

THƠ BÂY GIỜ CỦA CON

levinhtai

Thơ bây giờ người viết đã nhiều hơn
Đã bẻ vụn mọi chiều cảm xúc
Thơ bây giờ chao giữa hư và thực
Thực vô cùng là người đọc ít hơn

Xin được chọn giữa muôn ngàn cách lựa
Câu thơ con chạm đời mẹ nhọc nhằn
Gốc đa mẹ xin hãy nguyên cổ tích
Tuổi thơ con vẫn vằng vặc đêm trăng

Xin man mác một trưa hè bé bỏng
Mẹ ầu ơ…con mê ngủ bao giờ
Xin quỳ lạy cơn mơ nước mắt
Con lăn mình qua chỗ ráo …câu thơ.

LÊ VĨNH TÀI

CỘI NGUỒN YÊU THƯƠNG

tonnuthudung

Nhiều năm đi qua… tôi không còn muốn đếm thời gian nữa. Tôi đã làm tròn bổn phận của mình đối vơí gia đình. Tôi đã làm tròn bổn phận đối với bản thân tôi… Tôi nghĩ vậy và tôi không còn ân hận hoặc bận tâm về những ngày sắp tới… Nhưng tự đáy lòng tôi vẫn đau đáu một điều gì khi đứng nhìn về bên kia biển: Quê nhà tôi ở đó.

Mười chín tuổi của một ngày xa rất xa, tôi vượt biển cùng gia đình Tịnh sau rất nhiều lần thất bại … Chiếc ghe 3 lốc nhỏ xíu trôi dạt như chiếc lá mỏng manh trên sóng dữ biển Đông cuối cùng cũng đến Phi sau bao nhiêu hãi hùng , rả rời , đói khát… Tôi không muốn nhớ lại những ngày cùng cực buồn đau đó , cuộc sống vẫn tiếp diễn thôi , và tôi phải nhắm mắt lao về phía trước như một mũi tên đã rời khỏi chiếc cung định mệnh của mình. Tôi còn cả một gánh nặng ở quê nhà … Học , học và làm việc như điên cuồng để quên những điều cần quên và để nhớ những điều cần nhớ .
Công việc đầu tiên nhà thờ tìm cho tôi rất đơn giản : giữ một bé hai tuổi để mẹ bé đi làm việc ngoài giờ. Tôi có thể vừa học bài vừa chăm sóc bé… đôi khi dọn dẹp những thứ lộn xộn của buổi tiệc party cuối tuần… vừa dọn vừa rơi nước mắt nhớ lại những ngày vàng son trước đó. Tôi cắm đầu vào học , nhớ lời thầy Huỳnh Tấn :
Cúi đầu xuống mà đi
Gầm đầu vào mà học
Trước mắt ta nỗi nhục
Sau lưng ta nỗi buồn…

Thầy đã không hề biết chỉ vài năm sau , cô học trò ngoan của thầy đã vịn vào câu thơ đó mà gạt nước mắt đứng lên , cứng cõi chống chọi với cuộc đời mới mẽ…
Cuộc sống của bà chủ single mom của tôi đầy sóng gió tình trường nên bé con cũng chẳng lấy gì làm ngoan ngoãn … Bé la hét như cái còi xe cấp cứu 911 những khi không vừa ý . Tôi vừa luống cuống dọn ra những bánh , kẹo , chocolat, trái cây, sữa , đồ chơi v.v… vừa liếc ra cửa sổ sợ bà phù thủy hàng xóm đang chăm chú nhìn hằn học … Chỉ có như vậy bé mới cười vui vẻ, chịu chơi một mình cho tôi học… Cho đến một ngày, bà chủ single mom kiểm tra tủ lạnh , tủ chứa rồi thản nhiên hỏi :
-Mày có uống sữa hoặc ăn bánh kẹo của Baby không ?
Tôi sững sờ, choáng váng, giận giữ… tháo cái tablier ném xuống đất , khoác vội cái pack-bag đùng đùng phóng xe đạp chạy đi , nhất định không để một giọt nước mắt nào rơi trước mặt con người độc ác đó. Cha Tom đã đứng chờ tôi trước cổng nhà thờ vì bà chủ đã điện thoại cho cha mắng vốn , không thích cái con bé Á Châu ốm nhách đói ăn mà lại vô cùng sensible. Cha đã nói với bà :” Bà đã lầm , cô ấy là con gái của một người mà tất cả mọi chúng ta đều phải nghiêng mình thán phục “. Thấy mặt cha là nước mắt tôi tuôn như suối , tủi thân , nhục nhã, căm giận … Cha vỗ đầu tôi , dịu dàng:
-Nín đi, con gái . Chuyện nhỏ mà … chỉ là sự khác biệt giữa hai nền văn hóa… hay cũng có thể là giữa hai giai cấp…
Tôi nuốt nước mắt :
-Tại sao có người lại độc ác trong cả lời nói vậy hả cha ?
Cha trầm ngâm , lại mĩm cười an ủi :
-Tính cách của mỗi người thôi con , họ hồn nhiên nghĩ sao nói vậy , không như các cô công chúa quận chúa nhà mình, uốn lưỡi chín lần rồi… không nói gì cả…
Đôi khi cha vẫn tự trào để đem lại một niềm vui bé nhỏ cho các con chiên , cha hay nói với các giáo dân quá tôn sùng cha : tôn giáo là thuốc độc .Hãy sáng suốt . Nhưng chưa bao giờ tôi thấy lòng mình ngấm đầy thuốc độc như hôm nay . Đắng nghét và đau đớn .
_ Quên đi , con gái . Một ngày nào đó con sẽ đứng cao hơn họ .
Cha lại đi tìm cho tôi một việc làm khác , theo cha rất phù hợp với bản chất của những cô bé Việt Nam hiền lành , nhân ái : săn sóc , chuyện trò với những người già yếu trong Nursing Home… Tiền lương căn bản đủ để tôi chi phí và gởi về nuôi gia đình qua những ngày gian khổ.Việc học đối với tôi là một cứu cánh. Tôi không hiểu sức mạnh nào để một con bé 85 pounds như tôi can đảm đi trọn con đường học vấn sau 8 giờ làm việc mỗi ngày… chiếc xe đạp là người bạn thân nhất cùng tôi đi qua mỗi ngày 4 chuyến bus xuyên vài thành phố , ai nói ở Mỹ không bao giờ có một giọt mồ hôi ? Mồ hôi tôi đã chảy cùng nước mắt khi phải di chuyển những bệnh nhân nặng gấp đôi mình , nghe những lời mắng nhiếc cộc cằn khi tôi không hiểu rõ điều họ muốn. Mồ hôi tôi đã mặn chát cùng nước mắt dưới cái nắng nóng gần 100 độ F của Cali… nơi vẫn được gọi một cách hoa mỹ là thiên đường nắng ấm.
Tôi biết , chỉ có một sức mạnh siêu nhiên duy nhất là cạnh bên tôi luôn luôn có một thiên thần hộ mệnh, mỗi đêm , thiên thần mở tấm gương soi huyền hoặc cho tôi thấy bên kia đại dương , mẹ tôi chen chân các bến xe , bến tàu , giấu từng ký cà phê , từng bao bột ngọt… em trai tôi cuốc từng nhát cuốc bật máu bàn tay trên những cánh đồng khô cháy… em gái tôi cắn răng bon chen giữa chợ đời khốc liệt… và ba tôi , đâu đó trong trại cải tạo của một vùng biên giới rừng thiêng nước độc.
Tôi nuốt nước mắt vào tim…

Ngày ra trường, không có cha mẹ anh em bên cạnh để tôi hãnh diện và hãnh diện vì tôi… chỉ có cha Tom và gia đình Tịnh. Nhưng tôi gởi tặng thành tích đầu tiên này về bên kia biển, nơi tôi đã đành đoạn xa lìa.

Bây giờ ,mẹ tôi đã yên nghỉ trên đồi cao lộng gió để nhìn về quê nhà , một chốn nghỉ ngơi cuối cùng mà rất nhiều người bản xứ không thể mơ tới nỗi
Bây giờ ,em trai tôi vui vẻ , hạnh phúc bằng lòng với cuộc sống xứ người
Bây giờ ,em gái tôi có thể thong dong dạo chơi trên những con đường xanh mượt cỏ , ngào ngạt hương hoa và làm những điều em muốn.
Bây giờ ,tôi có thể từ trên bục giảng nhìn xuống đám học trò bản xứ của tôi để nói với các em rằng : Mọi người đều bình đẳng trong cuộc sống.
Tôi đã quên nỗi đau đớn ngày nào khi bà chủ đầu tiên sỉ nhục tôi vì một điều mình đã không phạm phải , tôi đã quên những giọt mồ hôi mặn đắng cùng nước mắt. Tôi cầu nguyện cho bà và những người như bà có cuộc sống êm ả hơn để không còn trút những oán hờn vào người khác.
Bây giờ , thiên thần hộ mệnh vẫn ở cạnh tôi, thỉnh thoảng lại mở ra cánh cửa gương huyễn hoặc cho tôi nhìn về bên kia biển : Quê nhà tôi ở đó.
Thật sự , tôi không còn ai ở đó để đau đáu nhớ về và tôi đã ra đi khi tuổi còn quá nhỏ để hành trang mang theo không phải là cả một hoài niệm đắng cay như người lớn… Nhưng khi tôi soi mình vào quá khứ , tôi tự hào mình sinh ra và kịp lớn ở một phương trời mờ mịt mây bay mà rạng ngời hào khí .
Nơi ấy , một lần nữa lại xua tuổi trẻ bây giờ và tuổi trẻ thời ấy của chúng tôi ra biển . Mọi so sánh đều khập khiễng … Nhưng ra biển là một từ có thật…Biển Đông ơi
Nước mắt tôi lại rơi như những ngày xưa cũ : Tôi có thể làm gì cho quê hương yêu dấu ???

Tôn Nữ Thu Dung

NHA TRANG… NHA TRANG ƠI!

tranvanle

Mùa này ở Nha Trang: Thành phố rực hoa vàng, thành phố biển rất xanh…Thành phố sau chiến tranh chắc dân mình no ấm?

Tôi nhớ Nha Trang lắm! Nha Trang ơi Nha Trang! Đường Duy Tân đêm trăng, biển-trăng-trời bát ngát…

Bốn mươi năm xa cách, bốn mươi năm ngó về, chân trời như sơn khê thời tôi còn lính chiến!

Tôi nhìn mây khói quyện, đau điếng lòng tha hương. Đào Duy Từ (*) hoàng hôn chắc em còn chải tóc…

Nhớ sao hồi em khóc khi xe tù chạy ngang qua thành phố Nha Trang về Phú Yên thăm thẳm…

Bốn mươi năm tôi nắm một bụm cát quê người ném ra ngoài biển khơi…Nha Trang tôi chìm lĩm!

Tôi nhớ từng kỷ niệm từng cánh hoa muồng vàng, nhớ nước mắt em chan chén cơm tù trống rỗng…

Trời không gió lồng lộng mà lòng tôi tả tơi Nha Trang Nha Trang ơi câu này không chấm phết…

(*) Đào Duy Từ là đường Đào Duy Từ, bạn tôi ở đó, nhà số 8, Huỳnh Kim Lượng, bốn mươi năm tôi không có tin…

TRẦN VẤN LỆ

NGÀY GẶP BẠN CŨ

tranhoaithu

Những thằng bạn buổi hôm nào áo trận
Thoắt giờ đây: tóc đã điểm hoa râm
Khi gặp lại từ phương này quả đất
Chợt nhìn lên: giờ vầng trán đã nhăn

Trong đôi mắt mỏi mê cùng cơm áo
Có chút gì phảng phất của quê hương
Mây Đèo Cả như hôm nào dừng lại
Chiều Pleiku như buổi nọ mù sương

Thấy như thể trời Bồng Sơn mưa đổ
Chiều cuối năm quân chuyển xuống Đèo Nhông
Đường xe lửa ai ngồi châm điếu thuốc
Áo tơi dầu che khuất dãy Cù Mông

Thấy như thể lon Guigoz cam khổ
Chút đồ ăn còn trộn với tử sinh
Nhai hối hả kịp xuống đồi đột kích
Mưa xóa dầm dề khu trại gia binh

Thấy như thể đêm qua về quận lỵ
Vài ba thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Dăm trái ổi và bi đông rượu đế
Con cá khô thiều chia chút tình thân

Thấy như thể mồ hôi và nước mắt
Mặn và đau từ núi nọ rừng kia
Qua An Lão mày tao còn gọi máy
Về Phù Ly hai đứa lại xa lìa

Thấy trở lại những chuyện đời dâu bể
Hôm nào đây miệng hò hét xung phong
Trong chớp mắt, cả cơ đồ sụp đổ
Buồn gì không hỡi thế hệ long đong

Thằng ra Bắc, kêu thầy, thầy bỏ xứ
Thằng vào Nam, gọi bạn, bạn lưu vong
Sông núi ấy bao hồn ma trở dậy
Kéo nhau về, kêu thảm một mùa xuân

Những thằng bạn buổi hôm nào áo trận
Thoắt giờ đây, tóc đã điểm hoa râm
Khi gặp lại từ phương trời viễn khách
Chợt nhìn nhau, sao nước mắt lưng tròng.

TRẦN HOÀI THƯ