CÓ THỂ

trandzalu

Có thể em là Tần phi xưa
Để anh đứng đợi đã bao mùa
Ai vô trong Nội ôm niềm nhớ
Ai ở ngoài thành hứng gió mưa?

Có thể đêm trăng cũng bằng thừa
Khi tình đứt đoạn,xót xa đưa…
Anh ở bên ni sầu bấn loạn
Cấm Thành dấu ngọc đã buồn chưa?

Có thể anh là vua-ngu-ngơ
Qua thành hát dạo mấy câu thơ
Người đời đâu mấy ai tri kỷ
Chiều hỡi! Ai về nơi dấu xưa?

Có thể là em biết đợi chờ
Ngọc ngà trong tiếng nói như mơ
Đường bay số phận:Thiên tình lụy!
Nên vẫn đăm chiêu mãi đến chừ…

Có thể anh buồn như củi khô
Bên thành tắt nắng một thu xưa
Ai cùng chúa Thượng say men rượu
Để mộng anh phơi áo hải hồ?

Tần phi ! Tần phi còn bơ vơ
Một ngôi sao lẻ đến không ngờ
Đêm nay ta vẫn chôn chân nhớ
Em cấm cung rồi em biết chưa?

TRẦN DZẠ LỮ

(SàiGòn , tháng 3 năm 2012 )

TIẾNG VỌNG

levanhieu

Ở đâu đây chợt vang một tiếng vọng
Lời ai đó dịu mềm và đầy những ngọt ngào.
Tiếng chim kêu buổi chiều,tôi đọc thấy niềm vui của cả ban ngày.
Bông hoa soãi nhoài về đêm, chực chờ ngậm sương, sau một ngày hút nắng.
Dao động – sóng
Tiếng kêu của ai làm nên phép mầu, đã cho tôi sự khát thèm, thèm được yêu,
Thèm được sống.


Tôi thèm được trở về của những năm tháng trước, những ngày cũ, nông nổi và đẹp đẽ.
Ở đời người ta cần sự già dặn để lừa lọc, tôi cần những non nớt để được phỉnh phờ.
Tôi thèm được khóc, thèm được tuyệt vọng, tôi thèm được yêu, thèm được phụ tình.
Trong cái ruồng rẫy đầy mật đắng, tôi tin có một chút ngọt ngào đính vào hồn tôi-
Như chiếc đinh được ghim, được cài, được đóng.


Ở đâu đây, chợt vang một tiếng vọng, đã làm cho tôi nổi sóng đến nao lòng.


LÊ VĂN HIẾU

ĐỂ THẮNG ĐƯỢC TRUNG CỘNG

trantrungdao

Câu nói “Không có đế quốc nào tồn tại mãi mãi” thoạt nghe rất bình thường và hiển nhiên vì lẽ đơn giản trên đời này không có gì tồn tại mãi mãi, tuy nhiên quy luật đó đã được chứng minh rất nhiều lần trong lịch sử bằng bao máu xương của nhân loại. Một đế quốc vừa hình thành ở Á Châu và đang đe dọa cho hòa bình thế giới: Đế quốc Trung Cộng. Đế quốc này sẽ tồn tại thêm được bao lâu và sẽ sụp đổ bằng cách nào vẫn còn là chủ đề được các nhà phân tích chính trị, các sử gia bàn cãi không chỉ trên bên ngoài Trung Cộng mà ngay tại đầu não của cơ chế độc tài.

Trung Cộng tồn tại được bao lâu?

Trên cả nước Trung Cộng có một nơi duy nhất được quyền phê bình đảng CS và một nhóm người rất nhỏ trong số hơn một tỉ dân được trao đặc quyền tự do tranh luận về ngày tàn của đảng CS mà không sợ trả thù, nơi đó là Trường Đảng Trung Ương trực thuộc Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSTQ và nhóm người đó là những cán bộ lý luận cao cấp của trường. Trong một biệt điện hoàng gia cũ ở phía tây Bắc Kinh được đổi thành Trường Đảng, một số nhỏ chuyên gia ưu tú nhất của trường dành trọn thời gian chỉ để làm một việc là phân tích mọi sai lầm của lãnh đạo đảng, mọi chiến lược ngắn hạn cũng như dài hạn của đảng, mọi kế hoạch kinh tế, các chính sách đối nội và đối ngoại của đảng. Và câu hỏi chính được đặt ra cho nhóm người có đặc quyền này “Đảng CS sẽ tồn tại bao lâu và những khả năng nào xảy ra sau khi đảng sụp đổ”. Dĩ nhiên mục đích tranh luận không phải để lật đổ chế độ mà nhằm tìm các biện pháp thích nghi ngăn chận kịp thời mọi sai lầm, sơ sót để cỗ máy độc tài khỏi rơi xuống hố như trường hợp Liên Xô.

Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về tương lai Trung Cộng. Một quan điểm của đảng CSTQ cho rằng Trung Cộng là một nước có biệt lệ về văn hóa chính trị nên làn sóng cách mạng dân chủ tại châu Âu trước đây cũng như Bắc Phi vừa qua không đập vào bờ Trung Cộng. Một quan điểm khác gồm những học giả chuyên về Trung Cộng, trí thức Trung Quốc có ảnh hưởng và ngay cả một số viên chức CS cao cấp có khuynh hướng tự do cho rằng đảng CS phải chết nhưng vấn đề là chết bằng cách nào mà thôi. Điều đó cũng cho thấy, nỗi lo sợ một ngày cơ chế độc tài CSTQ sẽ sụp đổ ám ảnh thường xuyên trong suy nghĩ của lãnh đạo CSTQ và hai yếu tố lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Trung Cộng vẫn là chính trị và kinh tế.

Về chính trị. Bài học Thiên An Môn cho lãnh đạo Trung Cộng biết nguy cơ hàng đầu vẫn là khát vọng tự do của con người. Dân chủ là hướng đi của thời đại. Năm 1900 mở đầu cho thế kỷ 20 trên thế giới chỉ có 12 phần trăm nhân loại sống trong các cơ chế chính trị được gọi là dân chủ. Đầu thế kỷ 21, 120 trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận là những nước được lãnh đạo bởi các chính phủ do dân bầu. Nhiều lãnh đạo CSTQ đổ lỗi sự sụp đổ của Liên Xô lên đầu Mikhail Gorbachev như Giáo sư Shen Zhihua, chuyên viên về Liên Xô của đại học Đông Hoa và cả cựu Chủ Tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân từng phát biểu “Gorbachev phản bội cách mạng”. Tuy nhiên họ cố tình không quan sát đến tiến trình chuyển hóa không ngừng của xã hội con người.

Giáo sư Archie Brown thuộc đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The Rise And Fall Of Communism) nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội. Sự chuyển hóa tri thức nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vở như được chứng minh qua việc 300 ngàn thanh niên Đông Đức tham dự buổi nhạc hội của Bruce Springsteen vào ngày 19 tháng Bảy 1988 và hàng ngàn thanh niên Đông Đức hô to khẩu hiệu tự do muôn năm trên bờ tường Bá Linh tối ngày 9 tháng 11 năm 1989. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể ngào ngăn chận được. Tóm lai, yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.

Về mặt kinh tế xã hội. Như lịch sử đã chứng minh sự phát triển của giai cấp trung lưu là nguồn thúc đẩy của cách mạnh dân chủ vì đó là giai cấp có học thức, có phương tiện và có nhiều nhu cầu vật chất cũng như tinh thần cần được thỏa mãn. Cách đây 20 năm, giai cấp trung lưu này không tồn tại nhưng nay là một lực lượng đông đảo và phát triển theo lũy thừa. Thành phần trung lưu chiếm 14 phần trăm dân số thành thị tại Trung Cộng và có lợi tức bình quân từ 17 ngàn đô la đến 37 ngàn đô la. Với hướng phát triển xã hội có tính quy luật đó, theo giáo sư David Shambaugh, giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc thuộc đại học George Washington sự suy thoái của đảng CSTQ đang diễn ra sẽ giống như các triều đại Trung Hoa trước đây, chiếm đoạt, hưng thịnh và sụp đổ.

Trong một tổng kết mới đây The World Bank’s International Comparison Program cho rằng Trung Cộng với GDP 2011 là 13.5 ngàn tỉ đô la, sẽ qua mặt Mỹ nhanh hơn dự đoán. Thống kê này dựa trên việc so sánh sức mua tương đương (purchasing power parity) của hàng hóa giữa hai quốc gia. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế không đồng ý vì không thể dùng giá cả của những ổ bánh mì, bao thuốc lá để làm thước đo cho mức độ giàu nghèo giữa hai nước trong lúc những món hàng quan trọng nhất lại không thể mua tại Trung Cộng. Tom Wright của Wall Street Journal ví dụ một cách chính xác và cụ thể, Trung Cộng không thể mua một chiếc tàu, một giàn hỏa tiển hay một chiếc xe Đức đắt tiền mà phải trả bằng một giá hối suất cao gấp nhiều lần. Nếu tính trên phạm vi cả nước, theo phân tích của Global Public Square staff, Trung Cộng không đứng nhất, nhì hay thậm chí 30 mà đứng sau cả Peru. Nhưng dù phát triển kinh tế nhanh, sự phát triển đó vẫn phải đồng hành với các phát triển chính trị, văn hóa để tạo nên một xã hội thịnh vượng hài hòa. Điều đó không tồn tại tại Trung Cộng. Các thành tựu kinh tế của Trung Cộng được đổi bằng sự chịu đựng, hy sinh, mồ hôi, xương máu của nhiều dân tộc khác và ngay tại Trung Cộng hàng trăm triệu dân thiểu số vẫn phải tiếp tục sống trong xã hội tham nhũng, độc tài, nghèo đói, bất công, bạc đãi. Hai nhà lý luận CS Lin Zhe và Chen Shu, thành viên trong nhóm nhỏ của trường đảng có đặc quyền phê phán, mặc dù tin rằng đảng CSTQ sẽ tồn tại lâu cũng thừa nhận tham nhũng kinh tế có thể làm sụp đổ đảng. Bà Lin Zhe dành 20 năm để nghiên cứu phương pháp diệt tham nhũng tại các cấp đảng vì theo bà “Tham nhũng là mối đe dọa nguy hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của đảng và nhà nước”.

Ngọn núi lửa Trung Cộng

Tuyệt đại đa số con người không ai muốn chiến tranh và là người Việt Nam lại càng không muốn có chiến tranh. Tuy nhiên, chiến tranh và hòa bình không phải là chuyện muốn hay không muốn mà đó là hai mặt biện chứng nhân quả của một quá trình mang tính lập lại của phát triển xã hội loài người. Sau khi hiệp ước Versailles được ký kết, Thống chế Pháp Ferdinand Foch nhận xét “Đây không phải là hòa bình mà chỉ là cuộc đình chiến hai mươi năm”. Thế chiến thứ hai bùng nổ 20 năm và 65 ngày sau đó. Nhận xét của danh tướng Ferdinand Foch không phải là lời tiên đoán của các ông thầy bói nhưng vì các nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dẫn đến thế chiến thứ nhất chẳng những không giải quyết mà còn tác động vào nhau để tạo thành nguyên nhân cho thế chiến thứ hai đẫm máu hơn. Tương tự, Trung Cộng với chính sách cực đoan về cả đối nội lẫn đối ngoại đang là mầm mống cho một chiến tranh khốc liệt tại Á Châu.

Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm và chế độ độc tài CS Liên Xô tồn tại được 74 năm nhưng cả hai đều đã mất quyền lãnh đạo. Trung Cộng tồn tại đến nay được 65 năm nhưng liệu sẽ thoát ra ngoài sự chi phối của quy luật “không có đế quốc nào tồn tại mãi” hay không. Câu trả lời dĩ nhiên là không. Một khi ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán như giòng nham thạch đang cuồng cuộn sôi trong lòng núi, khả năng chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình tại Trung Cộng là một chuyện khó xảy ra. Với các mâu thuẫn bên trong và thù địch bên ngoài vô cùng sâu sắc, không có cách mạng nhung, cách mạng da cam nào mà chỉ có máu chảy ngập đường phố Bắc Kinh, Thượng Hải và các vùng Tân Cương, Ninh Hạ, Nội Mông, Tây Tạng. Việt Nam với quan hệ hữu cơ về chính trị tư tưởng và với vị trí chiến lược trong vùng biển Đông cũng khó thoát khỏi ảnh hưởng đầy tai họa của cách mạng máu.

Giáo sư Yuan-kang Wang thuộc đại học Western Michigan viết trong tạp chí Foreign Policy “Nếu quyền lực tiếp tục gia tăng, Trung Quốc sẽ mở rộng ảnh hưởng đến vùng Đông Á. Chính sách này sẽ không tránh khỏi tạo nên sự cạnh tranh an ninh với Mỹ trong khu vực và các vùng chung quanh. Washington đang bước ra khỏi mối bận tâm Iraq và Afghanistan và đang là ‘mấu chốt’ hướng tới Á Châu. Như người Trung Quốc thường nói “Một núi không thể có hai cọp”, nhớ ráng hết sức mình, trò chơi còn tiếp tục”. Ngọn núi lửa Trung Cộng sẽ phun tuy chưa biết chính xác ngày nào.

Bài học cho Việt Nam

Lịch sử để lại nhiều bài học về chính sách đối ngoại khôn ngoan, nhưng đáng học nhất vẫn là bài học về cách giải quyết xung đột giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Xô.

Từ khi thành lập nền cộng hòa Thổ năm 1923, Thổ Nhĩ Kỳ là một nước cô đơn. Chiến tranh với Anh vừa chấm dứt bằng chiến thắng nhưng bị các quốc gia dân chủ Tây Phương cô lập. Quân đội không nhỏ nhưng chỉ được trang bị võ khí còn lại từ thời đế quốc Ottoman và thế chiến thứ nhất. Để được an toàn, chính phủ Thổ kết thân với một anh láng giềng bên kia Hắc Hải cũng đang bị cô lập, đó là Liên Xô. Cuối thập niên 1930, khi Đức Quốc Xã trở thành mối đe dọa, Stalin quyết định phải kiểm soát Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ để ngăn chận các chiến hạm các quốc gia không thuộc vùng Hắc Hải di chuyển qua đó và đề nghị Thổ cùng phối hợp để làm việc này. Thổ từ chối sang nhượng chủ quyền Eo Biển. Stalin khó chịu nhưng vẫn phải tiếp tục duy trì quan hệ hữu nghị với Thổ. Khi Thổ nhích gần tới Anh và Pháp qua việc tham gia Balkan Pact 1934 và Saadabad Pact 1937 do khối Tây Phương chủ trương, Liên Xô công khai bày tỏ quan điểm gọi là “khó hiểu khi Thổ lại thương thảo với những kẻ cựu thù”.

Trước tham vọng xâm lược ngày càng lộ liễu của Liên Xô, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ còn một con đường duy nhất là đứng hẳn về phía Tây Phương. Tuy nhiên, muốn thân các quốc gia dân chủ Tây Phương, trước hết giới lãnh đạo Thổ phải tiến hành các cải tổ chính trị. Tổng thống Mustafa İsmet Inonu, người tiếp tục chính sách của cố tổng thống Mustafa Kemal Ataturk mở rộng chính phủ theo hình thức đa đảng. Mỹ đánh giá thiện chí của Thổ qua các cải cách chính trị và cũng thấy cần phải tích cực ngăn chận ảnh hưởng Liên Xô trên vùng Hắc Hải, đã gởi chiến hạm lừng danh USS Missouri đến Istanbul vào tháng Tư 1946. Thiết giáp hạm USS Missouri là niềm kiêu hãnh của hải quân Mỹ, từng tham dự hai trận Iwo Jima và Okinawa, và cũng là nơi Mỹ nhận sự đầu hàng của Nhật. Anh theo bước Mỹ, cùng tham gia cuộc diễn tập quân sự trong vùng biển Aegean tháng Chín 1946. Báo chí Liên Xô lên án Mỹ, Anh và cho rằng hai nước này đang thiết lập căn cứ quân sự trong vùng Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ. Mỹ không thừa nhận nhưng cả thế giới lúc đó đều biết Mỹ quyết tâm bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ. Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ từ một nước tách ra khỏi một đế quốc tan rã, giành độc lập bằng xương máu chống lại khối dân chủ Tây Phương, bị cô lập, trung lập trong thế chiến thứ hai nhưng đã khôn khéo từng bước xích lại gần với những kẻ cựu thù và cuối cùng được trở thành hội viên của NATO. Để biết ơn và cổ vỏ các giá trị dân chủ, mỗi năm chính phủ Thổ dành một ngân sách lớn để viện trợ cho các đề án nhằm cải cách dân chủ khắp thế giới. Năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ viện trợ 3.4 tỉ đô la cho 121 quốc gia. Thổ cũng dành riêng 1 tỉ đô la trong ngân sách để viện trợ nhân đạo và được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới chỉ sau Mỹ, Cộng đồng Châu Âu và Anh Quốc.

Để thắng được Trung Cộng

Qua xung đột giữa Liên Xô và Thổ Nhĩ Kỳ chúng ta có thể rút ra bốn điều kiện để thoát ra khỏi sự khống chế và sẽ thắng được Trung Cộng trong trận cuối cùng:

1. Việt Nam phải có dân chủ trước Trung Cộng. Phần đông các nhà phân tích chính trị Việt Nam đồng ý rằng Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài. Trung Cộng không sợ USS George Washington hay bom nguyên tử mà sợ dân chủ và rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Vũ khí dân chủ sẽ gây một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự tan vỡ toàn bộ cơ chế CS. Một Trung Cộng mênh mông có nguy cơ tan thành nhiều mảnh, chủ quyền ngay tại lục địa còn không giữ được nói chi là chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa xa xôi.

2. Đoàn kết dân tộc. Dân chủ là điều kiện tiền đề trong chính sách đối ngoại nhằm tạo sự tin cậy nơi các nước dân chủ Tây Phương nhưng quan trọng nhất là nền tảng của đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iraq, nhiều người nghĩ kẻ có lợi nhiều nhất sẽ là dân tộc Kurds. Nhưng không, họ là những người chịu đựng thiệt thòi nhiều nhất. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, Saddam Hussein tàn sát không thương tiếc các cuộc nổi dậy của nhân dân Kurds ly khai trước sự làm ngơ của Mỹ. Nhiều nhà phân tích cho rằng Mỹ phản bội lý tưởng độc lập của nhân dân Kurds. Điều đó chỉ đúng một nửa. Nửa còn lại là sự phân liệt vô cùng trầm trọng trong tập thể 35 triệu Kurds sống trong nhiều quốc gia vùng Tây Á. Một dân tộc chia rẽ, cấu xé nhau, không có một hướng đi chung, không thể vận dụng được sự ủng hộ từ quốc tế và cũng không xứng đáng để được quốc tế ủng hộ. Tương tự, Mỹ bỏ 900 tỉ đô la hay 3 ngàn tỉ đô la tùy theo cách tính và 4486 nhân mạng để lật đổ Sadam Hussein, không phải chỉ nhằm đem lại hòa bình dân chủ cho nhân dân Iraq. Tuy nhiên, nếu là một dân tộc khôn ngoan, đây là cơ hội giúp Iraq vượt qua những khó khăn trong vài năm nữa trở thành một cường quốc trong thế giới Ả Rập và nếu họ không làm được thì cũng đừng đỗ thừa cho Mỹ, đổi tội cho Saddam Hussein mà phải trách ở chính mình.

3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Việt Nam chỉ trở thành một vị trí chiến lược sau khi Trung Cộng thôn tính toàn lục địa Trung Hoa 1949 nhưng trước đó thì không. Tương tự, Ai Cập trước 1976 không quan trọng hơn Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran nhưng sau khi Tổng thống Anwar Sadat bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do, Ai Cập trở nên một đồng minh chiến lược của Mỹ ở Trung Đông và được viện trợ ít nhất 1.5 tỉ đô la hàng năm từ đó đến nay. Vì lợi ích kinh tế cũng như về các giá trị nhân quyền, Mỹ mong muốn được thấy Trung Cộng trở thành một quốc gia dân chủ trong một châu Á và Thái Bình Dương ổn định. Trung Cộng là nhà băng của nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Mỹ, nhưng không giống như các công ty tài chánh Lehman Brothers hay Merrill Lynch, khủng hoảng chính trị tại Trung Cộng sẽ gây tác hại vô cùng trầm trọng đối với nên kinh tế thế giới không thể đo lường được. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Trái lại, chủ trương của lãnh đạo CSVN “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” là chủ trương tự cô lập, không đúng về lý thuyết lẫn thực tế chính trị và sẽ chết tức tưởi trong cô đơn mà không được ai ngó ngàng.

4. Đoàn kết với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy: Việt Nam đang đứng trước những ngã ba, ngã năm trong bang giao quốc tế nhưng dù bao nhiêu ngã cũng chỉ có thể đi trên một con đường trong một thời điểm nhất định. Sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh. Giáo sư Alastair Smith thuộc đại học Washington University đã công thức hóa toán học nhiều mô thức liên minh trong lịch sử bang giao quốc tế và kết luận các quốc gia có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy. Hiện nay tại Á Châu có bốn liên minh quân sự gồm ba liên minh tin cậy Mỹ-Nhật, Mỹ-Phi, Mỹ-Nam Hàn và liên minh SCO về biên giới gồm Trung Cộng, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Russia, Tajikistan và Uzbekistan. Khi chảo dầu Á châu được đun nóng hơn, nhiều liên minh quân sự mới tương tự như Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) trong thời chiến tranh Việt Nam sẽ ra đời. Đối với Mỹ, vùng biển Đông Á là huyết mạch kinh tế lẫn an ninh của các nước đồng minh với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, liên minh được với Mỹ vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước vừa bảo đảm an ninh.

Bốn điều kiện để thắng được Trung Cộng chỉ có thể thực hiện nếu lãnh đạo là những người thực tâm vì đất nước. Điều đó không có tại Việt Nam. Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua. Do đó, chọn lựa một lối thoát, một hướng đi cho đất nước không phải là chọn lựa của lãnh đạo CSVN nhưng 90 triệu người dân Việt Nam phải can đảm đứng lên quyết định vận mạng chính mình.

Trần Trung Đạo

MỘT THỜI . VẮNG XA

chuthuynguyen

trời ở bên ngoài sương muộn
cõi lòng cát đá ngổn ngang
vách rêu thềm hoang đổ nát
nhặt về đôi bước lang thang

lò khơi lụn tàn hương cũ
gió đùa rẽ bạt nhánh sông
cài hoa lược gương bao độ
rụng trắng tơi bời nụ đông

phố xưa ắng yên thoải dốc
dấu hài bóng nguyệt tỏ soi
bức họa mơ hồ mặt khóc
hoa cỏ cau mày ngó tôi

ngước lên đồi hoa rụng nát
gọi người lặng thầm vô biên
so vai ôm mình giá buốt
còi tàu lay giấc du miên …

Chu Thụy Nguyên

VÌ SAO

nguyentancu

Anh ngủ và nằm mơ thấy mây
Anh ngủ và nằm nơ thấy rượu
Anh mơ thấy môi em tím ngát
Trong bầu trời đầy sương nhạt

Có rất nhiều nước mắt trên cao
Có rất nhiều niềm vui dưới thấp
Có rất nhiều hạnh phúc âm thầm
Có rất nhiều băn khoăn hiện hữu

Đừng hỏi những giấc mơ của anh
Vì sao không nở hoa trong mộng
Vì sao không có em bên trong đó
Vì sao anh gọi tên em hoảng loạn.

NGUYỄN TẤN CỨ

KÌ BẺO

nguyentri

Năm có đôi mắt mơ tròn xoe đẹp tuyệt. Vậy mà chả hiểu làm sao cư dân Suối Nho gọi Năm Hí. Do giọng cười hí hí chăng? Giọng cười chỉ một mà thôi, chết danh là do kiểu sống như ngựa hoang của Năm.
Vợ Năm, cũng đôi mắt mơ và một nhan sắc mà vừa mới từ Trà Vinh lên Suối Nho, cô đã hớp hồn chí ít cũng chục thằng làm thuê bốn phương kéo đến. Thanh niên sở tại đánh nhau vì cái đẹp nầy không ít. Tình thiệt mà nói, nếu Yến – tên cô gái – gật đầu với một anh sở tại thì cô thoát cảnh thuê mướn liền. Suối Nho là kinh tế mới dân lập. Tự động vào rừng khai hoang thì phải có của mới đặng. Vậy mà chả hiểu làm sao Yến lại mê đắm mê đuối Năm, một gã tha phương cầu thực. Năm từ miền Trung vào, sở hữu chủ một căn nhà tranh vách ván vẻn vẹn bốn chục mét trên lô đất một trăm vuông. Có lẽ vì đẹp trai, đôi mắt u sầu và trữ tình mà Yến cho không biếu không Năm chăng? Vâng. Ngoại trừ là trai đẹp, Năm lại không dầm nắng phơi gió kiếm cái ăn. Ai cũng lôcachân mà lết, Năm bao giờ cũng chỉnh chện trên xe đạp. Sáng ung dung ra quán làm li cà phê kho. Thiên hạ vấn thuốc rê Năm thuốc gói, có hôm chơi cả đầu lọc, bảnh như thiếu gia con nhà giàu. Không riêng Yến mà cả mươi em thích anh Năm. Trai tráng sỡ tại đành buông cung, thẩn thờ nhìn nhan sắc lớn bụng.
Chao ôi là tội nghiệp cho Yến. Đúng là khi yêu người ta tối mắt lại. Về nhà tranh vách ván không cho mẹ lấy một ly rượu còn làm khổ bà khi vượt cạn. Bể ra mới biết chồng sống bằng nghề cờ bạc. Năm thâu đêm ở sòng. Ngày vùi đầu vô ngủ, tỉnh dậy là ngồi luyện ngón trong mùng. Có vợ rồi Năm thường xuyên vắng nhà. Có khi đi cả tháng, về với vợ không quá hai ngày, quăng cho vài đồng lại tiếp tục đi. Vợ đẻ mặc kệ vợ. Với Năm, dưới gầm trời nầy sòng là số một. Năm là con ma. Gã phải đi, vì không ngu mà chơi ở nơi cư ngụ. Làm chi tệ hại cũng phải chừa ra một phương để sống chớ, đúng không?
Năm cờ bạc vào bậc thầy. Kỳ bẻo gồm hai loại. Thầy và thợ, còn lại là dân nai, nai cũng hai loại là chà và nhung. Trăm thợ mới có một thầy. Để biết thế nào là thầy cần phải biết sơ qua thợ một tí. Chuyện xáo, chẻ bài như làm xiếc chú tâm luyện vài tháng thì dân chơi sành hơn cả phim tầu. Cái quan trọng của thợ là phải biết làm dấu bài. Chơi xì dzách, tiến lên, xập xám và các ngón khác trong bộ bài năm mươi hai lá, thợ phải làm sao để sau ba ván là biết bài. Khi cầm tay cái, các cây bài ưng ý phải thuộc về thợ. Bàn tay phải cực nhạy cảm để khi chia, cây nào đã bấm dấu không được lọt vào tụ đối phương. Vậy mới thắng. Những môn chơi ăn thua đủ và lớn như xóc đĩa thợ phải chủ động trong việc xóc. Chẳn hay lẻ là do thợ. Xóc bằng đồng chinh phải biết sử dụng nam châm, xóc bằng đồng tiền cắt từ lá bài phải biết bấm dấu sao cho nặng nhẹ tùy ý mình. Có vậy mới ra giang hồ mà đánh thuê, phải biết đóng vai tà lọt hầu đại gia. Sòng lập ra các ông chủ ăn thua. Nửa đêm chủ mệt hoặc cần xã xui, nhường bài cho tà lọt. Lúc ấy thợ ra tay.
Để trở thành thợ, thằng người phải có máu mê. Mê đến bàn thờ tổ tiên còn dám bán để phục vụ cho cái ghiền, vợ con cha mẹ anh em đợ được là đợ. Thua quá mới ngộ ra trong cờ bạc không bao giờ có đỏ đen, may rủi. Tất cả đều gian manh, lọc lừa. Lúc ấy tay chơi ngồi bó trán điều nghiên để hiểu vì sao. Hiểu ra, quý ngài mới tìm cách phục hận lấy lại cái đã mất bằng cách phải điếm đàng như thiên hạ. Muốn trở thành thợ phải luyện không thua chi mấy thằng vai chính trong truyện kiếm kiệp. Đôi bàn tay thợ kì bẻo quý như kim cương, dịu dàng, mềm mại như nghệ sĩ chơi đàn Piano.
Nhìn Năm Hí biểu diễn thiên hạ cứ tưởng Năm có bùa. Nhưng Năm nhấn mạnh:
Chả có bùa ngãi chi. Thực ra bài đã được đánh dấu, chỉ có thợ mới biết.
Người nghe cầm bộ bài lên trố mắt ra săm soi, nhưng chả ai phát hiện ra được dấu:
Mắt như tụi bây thì không phát hiện ra nổi đâu.
Năm lấy ra một kính lúp, soi và chỉ vào từng chỗ đánh dấu, bầy người ngồi nghe. Nghe xong chúng xáo bài yêu cầu diễn lại. Và trăm lần như một Năm rút bài, xướng tên làm cả lũ phục lăn. Năm nói:
– Phải luyện, nhất là bàn tay thuận, phải như cái lưỡi của dân đầu bếp. Rút lá bài thì vân tay phải phát hiện ra dấu. Dấu nằm ở góc nào là con gì. Hiểu không?
Không, hiểu chết liền.
Chiều ngang của lá bài, thợ bấm vô góc trái nếu là ách, ở giữa lá hai, góc trái ba. Chiều đối diện là bốn năm sáu, nhưng vị trí dấu sẽ cách góc năm li. Chiều dọc của lá bài cũng tương tự như vậy. Mười ba cây bài nằm mười ba vị trí khác nhau. Chỉ tay người làm dấu mới biết. Như vậy những tay mơ đen đỏ chỉ có chết và chết mà thôi. Quan trọng là dấu phải bí hiểm. Điều nầy thợ lâu năm trong nghiệp có thể chủ động một cách thần tình, ngón tay của họ phải luyện đến độ siêu thần nhập thánh. Thợ không có thời gian rỗi, phải luyện tập bất kể ngày đêm. Tỉnh giấc họ lì luôn trong mùng chỉ để luyện. Phải như vậy mới có thể xeo chuồng heo nhà người về nhà mình.
Nhưng thầy thì khác. Cả trăm thợ mới có được một thầy. Thầy phải được sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cờ bạc. Năm tuy chả thống hay truyền gì, nhưng đời hắn khá li kì. Năm kể rằng mẹ và bốn anh chị bị chết trong chiến tranh. Chiều chiều mấy ông pháo binh trên tiểu khu khạc cà nông vô núi diệt cộng, một trái trăm lẽ năm đang bay rớt nguyên con vô nhà, Năm thoát chết là nhờ đang chơi ở nhà hàng xóm.
Quá hận, mình phục vụ cho cộng hòa mà nay cộng hòa giết sạch gia đình mình, cha Năm bỏ ngũ gia nhập ngành đỗ bác. Ông đưa thằng con duy nhất tới sòng ăn ở luôn với cha. Mới sáu tuổi Năm đã quen biết cây bài và tất cả các môn chơi khác. Đồ chơi của Năm là những quân bài được chủ sòng thải ra. Thấy thợ trong sòng múa bài đẹp quá, Năm tự luyện, nó thích nhất bộ bài tây. Nếu chỉ vậy mà sống với xiếc bài e Năm thành danh chứ chẳng chơi. Nhưng xưa nay kẻ lấy sòng làm nhà thì phải biết ăn thua đủ với đồng bạc giữa sòng. Một vài thằng thợ chỉ cho Năm vài ngón ma đạo. Năm luyện riết mà thành cao thủ. Mười tuổi là tay chia bài cự phách. Nhưng kẹt cái, giữa một rừng thợ, anh bấm dấu bài là bị phát giác ngay tức khắc. Chính vì thế Năm phải luyện một chiêu khác, và chiêu nầy xứng đáng gọi thầy.
Năm hơn thiên hạ bằng đôi mắt. Nghĩa là nhìn cây bài đã biết con chi. Tụ bài ấy cái gì bên dưới. Thiên lí nhãn chăng? Không. Tuyệt đối không. Cái hay của bậc thầy là nhìn trên mà biết dưới. Thợ có mày mò cả trăm năm cũng không biết. Thầy khác thợ ở tính sáng tạo và may mắn. Năm suy nghĩ, nghĩ mãi. Làm sao để có thể biết được bài đối phương là chi. Cầm từng lá bài, dùng đủ loại kính nhưng chả có kính nào có thể rọi thấu nói gì đeo lên mũi. Năm thử làm dấu ở phía trên, nhưng như đã nói, dấu là không thể qua được tay thợ. Năm dùng móng tay cái miết nhẹ cạnh trên của lá bài, cái cạnh mầu trắng nầy chỉ ba milimet, ngay lập tức mầu trắng bị đổi, cũng trắng, nhưng ngà hơn một tí, chỉ một tí.
Một tí ấy đã làm Năm ngợp. Gã miết tất cả các lá bài còn lại, quả là mầu trắng đã ngà hơn và chỉ có kẻ ra tay mới biết. Rồi như những tay thợ bấm dấu bài, Năm cho ách cơ nằm tâm của góc bán nguyệt, ách rô dưới một li, cứ thế cho các lá còn lại. Bây giờ có quyền biết bài đối phương bằng mắt của chính mình. Để thử nghiệm Năm kêu đệ tử thân tín đến:
Hai thằng mầy xem thử bộ bài nầy có gì lạ không?
Hai thằng em, cũng dân kì bẽo chính hiệu, săm soi bằng cả kính lúp mà cũng chẳng nhận ra chi. Năm biễu diễn bằng cách chia tám tụ xì dzách, và nói vanh vách điểm mỗi tụ. thậm chí cơ rô chuồn bích, Năm nói luôn. Cả hai thằng cứ xoe mắt mà thán phục. Hai thằng đệ nầy là thần giữ của cho Năm. Làm thằng chuyên nghiệp cờ bạc cũng lắm khổ hận. Không hộ vệ quân là không xong.
Chuyện gài độ dụ nai và lột sạch nào có khó chi với Năm, nhưng ôm tiền ra được khỏi sòng mới là điều quan trọng. Anh đến xứ người vung tay múa ngón. Thằng thua kề dao vô cổ lấy lại là thường. Vì vậy Năm phải chiêu mộ anh tài, hai trong những tay cháy túi sẵn sàng theo anh thắng trận, làm bất cứ cái chi anh cần. Hai thằng nầy võ nghệ và sự liều lĩnh không chê vào đâu được, thứ mà vợ bán con đợ thì miễn bàn. Chúng chỉ có một thứ để tôn thờ: Tiền.
Làm đệ tử của Năm thì không lo chi vụ tiền. Với dân kì bẽo bậc thầy tiền là giấy. Mỗi khi ra giang hồ để tranh bá, thầy và đệ tử như những ông hoàng con. Đến phố lớn họ ngụ khách sạn hàng sao. Chỉ những nơi ấy mới có những tay chơi thứ thiệt. Họ ăn nên làm ra từ chính đáng đến chính không đáng, sẵn sàng vung tiền để thỏa đam mê. Những con cáo ấy lột sạch tiền con nai vàng ngơ ngác Năm Hí. Kẻ thua chỉ biết rời sòng thở than mình xui quá mà thôi. Tuy thua nhưng dây chuyền, cà rá, lắc trên tay trên cổ Năm nặng trìu trịu.
Những con cáo đánh ra mùi một con nai tầm tỷ phú, vậy là tìm cách dụ ra đồng trống để ăn thua. Con nai nhung say mùi vội đi theo, ở đó đại gia đã cho thợ trà trộn vô sòng hòng lấy cặp nhung đầy máu. Đến nước nầy mới thấy tầm quan trọng của thầy trò Năm Hí. Thầy sẽ hóa giãi chiêu thức và lùa thợ vô tròng. Đệ tử sẵn sàng đánh tháo trước khi thầy bị dao kề cổ. Sự cần thiết của võ và liều luôn luôn được sử dụng trên bước trường chinh.
Làm đệ tử của thầy sướng vậy thì vợ con thầy ra sao? Chao ôi, chả còn ai bi thiết hơn vợ Năm Hí. Nhìn chung bất kì một phụ nữ nào lấy phải một thằng chồng vô tâm còn tệ hơn đàn đứt giây. Ở không xong, bỏ càng không được. Năm vắng nhà dăm ba tháng là thường, có khi biệt cả năm. Khi nào bại trận Năm mới bò về thăm vợ. Ủa giỏi vậy mà bại trận là sao? Thưa rằng ai trong nghiệp kì bẻo mới biết sáu chữ ma đưa lối quỷ đưa đường. Không nghe thiên hạ phong bài bạc lên hàng ma sao? Ma bài. Nếu anh thắng trong lĩnh vực nầy thì sẽ bị thua ở lĩnh vực khác. Ăn bài thì thua bóng đá. Ăn bóng thì cúng cho đá gà… vân vân. Những bà nhỏ của những ông lớn trong sòng đẹp như tiên sa. Thua, quý nương cũng sẵn sàng kiếm chỗ xã xui. Trong khách sạn thì nữ lưu dành cho quý ông không bao giờ thiếu. Cái nào quý ông cũng chung tiền, nhưng chung cho đối tác bao giờ cũng có cái thú riêng. Năm đã thua phần lớn đồng bạc cấp thầy của mình cho dạng nữ lưu nầy… Và như đã biết, các cô đến sòng toàn hồ li chín đuôi, miệng mồm dẽo như mật và mắt luôn đẫm nước. Vậy mà Năm Hí lại tin sái cổ mới chết cha.
Năm đi cũng phải thôi, nếu Yến đẻ cho gã thằng con trai thì hay quá, đằng nầy cô ba năm ra hai con vịt trời. Thấy Năm biền biệt, vài tay đa tình mê nhan sắc và cái cần cù của Yến những muốn nhào vô nhờ sửa túi nâng khăn. Yến giỏi lắm, cô nhờ mẹ chăn con, còn mình chạy chợ. Một mình vẫn cho con đến được trường học. Con gái cô ngoan cực kì, thông minh như… cha vậy. Nó học giỏi, nhớ bài học như cha nhớ năm mươi hai lá. Yến đang xiêu xiêu bởi một anh trung niên góa vợ thì một hôm có một nữ lưu đến. Trên tay cô nách một thằng cu:
Dạ – nữ lưu nói – Em là vợ của anh Năm…
Yến rụng rời. Cô chả ghen tuông chi nhưng mà uất. Thế nầy thì có chết không? Cô gái thưa rằng quê ở miền Tây xa xôi, nghe lời ngon ngọt của anh Năm mà nhẹ dạ. Giờ có con ảnh đi đâu mất hút. Nghe nói gia đình ở xứ nầy nên đi nhận bà con. Cô gái ở chơi được hai ngày rồi ra đi, bỏ thằng cu lại. Yến phải gồng. Con chồng thì cũng như con mình thôi. May quá, hai con chị khoái thằng cu lắm, chúng quấn nhau như một chỗ chui ra. Được vài tháng Năm bò về thăm, hỏi mới biết mẹ thằng cu trả con để bước thêm bước khác.
– Ông Năm nè – Tha nhân hỏi – bài thường thì dấu hay chơi kiểu của ông còn được, chứ bài nilon của Mỹ thì có mà chịu sầu.
Năm cười mà rằng:
Chơi sòng lớn ai chơi bài cotton, nilon hết mấy em ơi.
Sòng lớn. Tiền lên hằng trăm triệu bọn thợ bó tay với bài nilon. Vậy còn Năm? Cái để được gọi là thầy luôn luôn lớn. Năm kể rằng để cho hai đệ tử chơi cho đến nửa đêm, chúng có quyền thua, thua rạt gáo. Miễn sao đối phương hả hê trong men chiến thắng. Nửa giấc về sáng mới là lúc Năm tỉnh giấc và nhập trận. Kẻ thua ra chầu rìa, người thắng tiếp tục sát phạt để gồm thu lục quốc về một mối. Và những lá bài trong tay làm đúng chức năng mà Năm muốn.
– Tụi bây biết đó. Bài nilon không ai làm dấu được. Chỉ đỏ đen mà thôi, và trong sòng bài kẻ nào nhiều tiền, trụ được lâu kẻ đó phải thắng. Còn tao, tao chơi sách đổi màu trên lá bài. Vậy thôi.
Nilon mà cũng đổi màu được à?
– Tao có chiêu thức riêng.
Chiêu gì?
Chả có chi khó hoặc bí mật. Năm dùng móng tay út cạo bựa chân răng. Móng tay cái sẽ miết bựa vào cạnh mầu trắng của lá bài. Đối phương đã hết nửa đêm mỏi mệt, có phấn khởi vì thắng lớn mắt vẫn không tinh tường để nhận ra sự khác biệt tinh vi nầy. Vậy là tiền về tụ của Năm. Đang thắng, đối phương sẽ tối mặt sau vài cây thua đậm. Mà đã tối thì chỉ một phương chết, đổi bài mới cũng bó tay với chiêu nầy. Ai cũng biết bựa chân răng, lại là răng của bọn kì bẽo, chúng ăn, thôi thì đủ, thêm cái trắng đêm cùng khói thuốc, bựa dẽo nhẹo, miết vô đâu nằm yên đó. Mắt Năm sau một giấc đầy, tinh chả khác mắt Dương Tiễn.
Ngon lành vậy mà thân danh bại liệt có lạ không?
***
Sao mà ông ra vầy?
Năm đưa hai bàn tay chỉ còn tám ngón lên cao. Hai ngón cái đã bị cụt, ngậm ngùi:
Nếu tao đừng lên Bãi vàng X đã không bại liệt như vầy.
Sao lại phải lên bãi vàng? Dễ hiểu lắm. Thằng bài bạc như Năm rất dễ nổi tiếng trong giới. Dân chơi truyện miệng về một Năm Hí có bùa Lỗ ban. Vì thế nên Năm khó lắm việc nhập sòng. Năm tính qua Malaixia vì các sòng ở Lào, Campuchia đã nhẵn mặt. Nghe nói bãi vàng X làm ăn được nên Năm làm một chuyến lên thâm sơn.
Dân bãi bán đời cho hầm sâu. Giãi trí bằng rượu, gái và cờ bạc. Họ chơi xã láng và không tin ai có thể gian lận được mình. Nhất là dân chủ hầm. Vậy là Năm tha hồ hốt mồ hôi và máu phu bãi. Một buổi sáng Năm và hai đệ tử quyết định về phố để tẩy trần, đang bên li cà phê Năm hân hạnh được một thứ thiệt giang hồ vỗ vai:
Biết tao không?
Dạ biết.
Ai?
Dạ… Anh Minh.
Minh gì?
Dạ… Minh Tàn.
Năm dạ là trước mặt thôi, còn sau lưng thì Minh Tàn chả nghĩa địa gì. Tha phương nên đến đâu Năm mua lòng sở tại đến đó. Ở bãi đáng sợ nhất là đàn anh địa phương, cái thế gà gần chuồng bao giờ cũng mạnh. Thân thiết với bọn nầy thì tứ xứ phải kiềng và Năm đã mua cái lòng người ở bãi bằng tiền ăn trong sòng.
Sỡ dĩ Minh Tàn gặp Năm Hí là vì đêm ấy sau tan sòng có một cô gái nhảy hầm tự sát:
– Nhỏ đó tội nghiệp lắm – Minh Tàn nói – Hai vợ chồng nó lên bãi bán quán. Làm ăn ngon lành thì thằng chồng vướng ma túy. Đêm qua thằng chồng bị mày lột sạch, con nhỏ buồn quá tự vận. Bấy lâu nay mày ăn thua với chủ hầm và phu bãi sao tao không biết. Nay chơi với tao một trận được không? Tao cần vài đồng giúp thằng chồng đưa xác con nhỏ về quê.
Dạ, em xin biếu anh ít tiền…
– Tao không xin của ai, tao muốn xem thử mình hên hay xui.
Ừ thì thích thì chiều. Năm cũng biết bọn thứ thiệt như Tàn lắm. Trưởng ca bao giờ chẳng nhiều vàng. Được rồi, muốn chết đây sẵn sàng cho chết. Cả bọn đàn anh, đàn em trong quán xúm lại xem cuộc tỉ thí tay đôi. Ba quân thiên hạ như vầy khỏi lo vụ ăn vùa thua giựt. Cả hai đồng ý binh xập xám chướng. Với Năm, nhã cho đối phương ăn vài cây mở hàng. Sau bốn ván thì bài đã được Năm cho đổi màu ở cạnh. Cũng sau bốn ván Tàn ăn tám chỉ vàng. Cả bọn chầu rìa chép miệng liên hồi qua cái sự hên. Năm vờ nóng máu khi tay cái về mình:
Bà mẹ nó… Đánh mạnh đi.
Tao theo Minh Tàn hai chỉ được không? – Một anh hai xướng.
Được, tôi khui tụ một cây.
Vậy là thêm mấy anh đứng ngoài thẩy vàng theo Minh Tàn. Mệnh giá đúng một cây. Cả hai cùng binh bài và đặt xuống. Khui đi. Khui lẹ đi. Cả làng hối Năm Hí.
Nhưng khi Năm thò tay để giở bài thì Minh Tàn lên tiếng:
Khoan… Tao muốn nói vài câu được không?
Đù má… mày đừng nhiều chuyện. Nói lẹ đi.- Đàn anh Dũng Voi lên tiếng.
Tao biết bài thằng Năm đang là gì. Nếu tao nói sai bây chặt đầu tao.
….?
Bài nó đang sảnh thùng phé đầu đôi xì. Tao nói đúng không Năm Hí?
Cái gian lận của Năm Hí bị bày ra trong quán với đầy đủ tứ chiếng giang hồ. Một loại người mà Kim Dung có tưởng tượng hết thế cũng không ra được nét lạnh lùng của họ. Vậy là hai đệ tử của Năm no một trận đòn, Năm bị dân bãi đè tay lên bàn và hai ngón tay cái ở lại bãi.
Một trong hai thằng đệ tử lết được về Suối Nho và mẹ Yến cùng ba đứa con bò lên bệnh viện đưa Năm về, anh ta còn lại cái xác toàn xương vì sốt. Bây giờ Năm ở nhà phụ vợ pha cà phê và bưng bê cho khách. Kể cũng còn may cho con ngựa hoang. Bà xã Yến mà quay lưng thì Năm vác bị đi ăn mày. Thiên hạ bình:
Không có ba đứa con, con lâu bà Yến mới nối lại tình xưa.
Nói vậy là tầm bậy. Bà Yến yêu Năm Hí chết bà luôn, bằng chứng là Năm dừng chân bên vợ hiền mới mấy tháng bụng Yến đã lum lên. Không yêu còn lâu mới vậy. Đúng không?
Quá xá đúng.

NGUYỄN TRÍ

TA CƯỜI THƯƠNG TA…

linhphuong

Biết rằng
có những cơn đau
Mà ta vẫn muốn
cầm dao đâm mình
Ngửa mặt nhìn
lão trời xanh
Nuốt nước mắt
nhặt một nhành hoa tang
Nỗi sầu nhân thế
ngàn năm
Ta cầm đi khắp
thế gian làm người
Buồn mà
cứ ngạo nghễ đời
Hehe…cất giọng
ta cười thương ta…

LINH PHƯƠNG

NGUỒN CỘI

nguyenanbinh

Từ lâu trong đầu óc của hắn không còn có chút khái niệm gì về quá khứ, một quá khứ mà những người như hắn xem đó là một ký ức đau buồn cần phải quên đi. Lúc đầu nó như một màn sương mỏng mà hắn còn cảm nhận lờ mờ sự việc, nhưng từ từ theo thời gian nó tích tụ ngày càng dày thêm và cuối cùng thì đặc quánh lại mà hầu như không có vật gì có thể xuyên qua nổi, cho đến một ngày người cha nuôi Mỹ nhân từ của hắn trước khi qua đời đã kêu hắn lại nói:
– Con trai à, ta có điều nầy muốn nói với con mà từ lâu ta giữ mãi trong lòng.Con không phải con ruột của ta, điều nầy con cũng đã biết nhưng con chưa bao giờ hỏi ta con là ai, từ đâu đến, và tại sao gia đình ta lại nhận con là con nuôi? Nhưng ta nghĩ con được quyền biết vì ai cũng có gốc gác, nguồn cội của mình.
Hắn im lặng không nói, hắn suy nghĩ không biết người cha nuôi Mỹ muốn nói điều gì với hắn, nguồn cội của hắn ư ? từ lâu hắn không còn nhớ tới.Biết để làm gì? Có ích gì trong cuộc sống hiện tại của hắn? Người cha Mỹ im lặng hồi lâu, nói tiếp giọng buồn bã:
-Ta nhận con từ hội chữ thập đỏ, họ đưa con từ Việt Nam trong chiến dịch Babylift, đó là chiến dịch đưa các cô nhi Việt Nam ra nước ngoài trước khi Sài Gòn thất thủ,lúc đó con 7,8 tuổi gì đó. Ta từng là một người lính tham chiến ở Việt Nam, ta biết đất nước con là một đất nước tươi đẹp nhưng bị chiến tranh tàn phá,tan nát, nên ta nhận con về nuôi là một điều dễ hiểu, ta cảm thấy có lỗi với đất nước con và ta muốn chuộc lại lỗi lầm đó trong quá khứ.
Sau khi người cha nuôi Mỹ mất, một thời gian dài tâm trạng hắn không còn được yên ắng như trước, luôn bị giằng co giữa quá khứ và hiện tại, đôi lúc nó còn len tận vào trong giấc ngủ của hắn. Khi được đưa về Mỹ hắn đã có một cuộc sống êm ả, được gia đình người cha nuôi Mỹ yêu thương, chăm sóc, anh em trong gia đình không định kiến. Hắn tốt nghiệp đại học, vào làm trong một công ty hóa chất lớn, lương bổng ổn định, cuộc sống trôi qua một cách bình lặng như bao nhiêu người dân Mỹ khác, thì quá khứ lại bị đào xới lên, những ngày tháng thơ ấu đau khổ,kinh hoàng khi chạy loạn,trong cô nhi viện dần hiện lên trong trí nhớ của hắn mà hắn tưởng đã quên đi từ lâu, cuối cùng hắn nghiệm ra rằng phải đối diện với thực tế, không trốn chạy nó nữa thì mới giải quyết vấn đề một cách rốt ráo được.
Hắn lên mạng tìm hiểu những thông tin về giai đoạn mà hắn được đưa khỏi Việt Nam. Hắn là một trong khoảng 3.300 trẻ em mồ côi rời khỏi một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh trong một chiến dịch mà thời sự lúc bấy giờ gọi là chiến dịch Babylift(chiến dịch không vận cô nhi) được khởi động trong khoảng thời gian từ 3-26 tháng tư năm 1975. Những đứa trẻ nầy(trong đó có hắn) được đưa đến Hoa Kỳ,Pháp, Úc, Canada…và chúng được nhận nuôi bởi nhiều gia đình trên khắp thế giới. Hắn gởi thư đến hội chữ thập đỏ, các tổ chức từ thiện, nói chung là tất cả những tổ chức nào có thể tìm được những thông tin về quá khứ của hắn, sau rốt hắn tìm đến tổ chức Operation Reunite, một tổ chức phi lợi nhuận Hoa Kỳ, đã và đang giúp đoàn tụ các gia đình bị ly tán sau chiến tranh, đặc biệt là các trẻ em từng bị đưa ra khỏi Việt Nam trong chiến dịch “Operation Babylift”.Thư đi thư lại nhiều lần, từ những thông tin mơ hồ, ít ỏi mà hắn cung cấp cho họ, hắn biết được người đưa hắn vào cô nhi viện ở Thủ Đức vào những ngày gần kết thúc chiến tranh Việt Nam là một sĩ quan miền Nam tên Lê Văn Sáu, ông ta nói trên đường di tản khỏi Nha Trang đã gặp hắn trên đường và đã đem hắn theo. Ông ta hứa có điều kiện sẽ trở lại đón hắn và điều đó đã không xảy ra, hắn được đưa khỏi Việt Nam trước ngày 30 tháng 4, không biết thời gian sau đó ông ta có trở lại tìm hắn không thì hắn không biết.Qua tổ chức Operation Reunite hắn đã tìm và kết nối lại được rất nhiều người ngày xưa là những đứa trẻ bị đưa ra khỏi Việt Nam như hắn, họ trao đổi thông tin với nhau những điều mà họ biết được về hoàn cảnh quá khứ của nhau với hy vọng tìm được thân nhân bị thất lạc, vô hình chung Operation Reunite trở thành một cộng đồng kết nối mọi người cùng chia sẻ và giúp đở lẫn nhau tìm kiếm về gia đình của mình.
Mấy năm trước tổ chức nầy đã làm một chuyến đi đưa hắn và các bạn hắn về thăm Việt Nam cũng vào một ngày cuối tháng tư sau hơn ba mươi mấy năm kết thúc chiến tranh Việt Nam. Một chuyến đi đã để lại trong tâm trí hắn một ấn tượng vô cùng sâu sắc khó phai. Những người tham gia chuyến đi tìm về nguồn cội có các buổi học tiếng mẹ đẻ, viếng thăm viện mồ côi, bảo tàng chứng tích chiến tranh…Hắn cũng có dịp trở về thăm viện mồ côi nơi mà ba mươi mấy năm về trước người ta đã đưa hắn đi.Hắn hỏi thăm người quản lý hồ sơ về những đứa trẻ giai đoạn đó nhưng cũng không có thông tin gì mới hơn mà tổ chức Operation Reunite đã cung cấp cho hắn. Hắn hỏi thăm họ xem người sĩ quan miền Nam ấy có trở lại tìm hắn không nhưng họ lắc đầu. Họ lý giải thêm cho hắn hiểu thời cuộc lúc bấy giờ lộn xộn lắm không biết người lính ấy còn sống hay đã chết rồi không biết chừng. Thôi cũng đành vậy, sợi chỉ tìm về quá khứ của hắn đến đây bị đứt đoạn.
Về Mỹ hắn trở lại với công việc thường nhật của mình.Một hôm đi làm về hắn cảm thấy cổ họng mình bị đau rát dữ dội, miệng khô khốc khó chịu. Hắn đến gặp bác sĩ gia đình,nhờ giới thiệu đến một bệnh viện chuyên khoa để chữa trị. Ông ta nghe hắn trình bày rồi viết giấy giới thiệu. Hắn điện đến bệnh viện, người ta cho hắn một cái hẹn. Hắn đến rất đúng giờ, nhưng cũng phải ngồi chờ gần một tiếng đồng hồ nữa vì bệnh nhân hôm ấy quá đông, sau cùng hắn cũng được gọi vào.Người bác sĩ khám cho hắn có nét dáng dấp của người châu Á như Việt Nam hay Trung Quốc gì đó như hắn. Anh ta nói tiếng Mỹ khá sõi. Sau khi kiểm tra, người bác sĩ nói hắn không sao đâu chỉ bị dị ứng bởi một hóa chất mới nhập vào kho mà hắn vô tình hít phải, nhưng để chắc ăn hơn phải làm thêm một vài xét nghiệm nữa. Người bác sĩ nhìn hắn, ánh mắt chợt dừng lại một vết sẹo kéo dài từ gò má đến xuống tận cổ bên trái, anh ta hỏi hắn :
-Vết sẹo nầy anh bị lâu chưa?
-Lâu rồi, lúc còn rất nhỏ.
-Anh là người Việt Nam?
-Sao bác sĩ biết?
Người bác sĩ nhìn vào hồ sơ bệnh án, cái tên Nguyễn Hiếu Trung ghi rõ trên đó, anh ta biết mình hỏi hơi thừa.Im lặng một chút, anh ta hỏi tiếp:
-Anh qua Mỹ lúc nào?
-1975.
Người bác sĩ đột nhiên nói:
-Trong chiến dịch Babylift ?
Hắn ngạc nhiên, một lần nữa hắn lại hỏi:
-Sao bác sĩ biết?
Người bác sĩ không trả lời mà nói tiếp:
-Anh ở viện mồ côi Thủ Đức khi còn ở Việt Nam phải không?
Hắn há hốc miệng chưa biết nói gì thì anh ta lại nói:
-Tôi biết anh.Nhờ vào vết sẹo trên cổ của anh, chính ba tôi đã gởi anh vào đó.
Như có một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng, mồ hôi trong tay hắn rịn ra, thì ra cái người nắm được thông tin về cuộc đời hắn, về cái quá khứ không lấy gì vui của hắn đang ở đây.Vậy mà hắn phải chạy lòng vòng tìm kiếm khắp nơi, phải bay nửa vòng trái đất về Việt Nam để tìm kiếm,hắn nói mà giọng lắp bắp :
-Ba bác sĩ là…
-Ba tôi tên Lê Văn Sáu, một sĩ quan trong chế độ cũ.Trên đường di tản khỏi Nha Trang, ông ấy đã gặp anh trên đường đi và đưa anh về Sài Gòn.
-Ông ấy còn sống không? Tôi có thể gặp ông ấy được chứ?
Người bác sĩ lắc đầu:
-Ở đây thì không được. Ba tôi đã hồi hương về Việt Nam từ hai năm nay rồi. Ông than ở bên đây buồn quá, mà anh cũng biết ở bên nầy ai cũng bận bịu cả không có thời gian nhiều để thăm viếng thường xuyên đâu. Ở Việt Nam còn có người quen qua lại có lẽ làm ông ấy vui hơn.Tôi nghĩ ông ấy có quyết định đúng.
Hắn có vẻ thất vọng nhưng trong lòng hắn vẫn vui vì biết được thông tin về người hắn muốn tìm kiếm, biết đâu hắn còn cha mẹ,anh em gì đó.Hắn hỏi người bác sĩ:
-Bác sĩ có thể cho tôi xin địa chỉ, số điện thoại của ông ấy ở Việt Nam được không?
-Hẳn nhiên rồi.Tôi cũng mong anh gặp lại ba tôi, có lẽ ông ấy sẽ rất vui khi gặp lại anh, biết chừng anh sẽ có những thông tin gì đó mà anh cần biết.
Hắn bắt tay người bác sĩ,nói cám ơn rồi ra về.Hắn còn đến bệnh viện một vài lần nữa để làm một số xét nghiệm cần thiết nhưng không lần nào gặp lại người bác sĩ đó một lần nữa và hắn quyết định xin nghỉ phép để về Việt Nam.
*
Hắn choàng tỉnh giấc khi cô tiếp viên hàng không một lần nữa nhắc nhở hành khách trên loa phát thanh máy bay sắp hạ cánh, thắt chặt dây an toàn, kiểm tra lại hành lý.Hắn nhìn ra khung cửa sổ máy bay.Trời trong xanh không một chút mây,hắn thầm nhủ thời tiết thật đẹp, nhìn đồng hồ :4giờ kém 10 phút.Thời gian thật chính xác. Lần nầy hắn về Việt Nam chỉ quá cảnh một lần ở Nhật Bản mất ba tiếng rồi bay thẳng chẳng bù với lần trước,thời gian quá cảnh dài lê thê.
Xuống sân bay hắn đón taxi, ban đầu hắn định bảo người tài xế lái về khách sạn mà hắn đã đặt chỗ trước qua mạng, nhưng nhìn đồng hồ hắn lại thay đổi ý định.Hắn đưa tờ giấy ghi địa chỉ nhờ người tài xế chạy đến đó. Xe chạy theo đường Trường Sơn vào thành phố, hắn nhìn dòng người xe di chuyển trên đường phố một cách hối hả không còn thấy dấu vết của một thành phố thời chiến tranh, nhiều cao ốc mọc lên trên đường xe chạy làm bộ mặt thành phố khác hẳn so với ba năm trước trong lần đầu tiên hắn trở lại Việt Nam. Ngôi nhà người đàn ông mà hắn muốn tìm kiếm nằm trong một ngách nhỏ trên một con đường lớn ở Bình Thạnh nên tương đối yên tĩnh,có hàng rào phía sau là một khu đất tương đối rộng trồng bông hoa và một số cây cảnh.Hắn nhìn vào tờ giấy ghi địa chỉ và số nhà gắn trên cổng rồi tìm chuông để nhấn. Cái chuông nằm khuất sau cái cột cổng, chắc có lẽ chủ nhân sợ mấy đứa nhỏ hàng xóm quấy phá chăng? Vừa nghe tiếng chuông reo, trong nhà thấp thoáng có người đi ra phía cổng. Hắn nhìn người đàn ông từ xa, trong đầu óc ban đầu hắn tưởng tượng đó là một người đàn ông lớn tuổi, tóc bạc, đi đứng chậm chạp thậm chí khó khăn, nhưng không người đàn ông dáng đi còn rất nhanh nhẹn, tuy tóc đã bạc nhưng gương mặt không quá khắc khổ như hắn tưởng. Ông ta mở cổng, nhìn hắn nét mặt lộ vẻ vui mừng:
– Cháu là Trung phải không? Vào đi cháu.
Hắn bước qua khỏng sân rộng trồng cây cảnh bước lên thềm vào nhà.
– Cháu uống cà phê nhé.
– Vâng! Chú cho cháu một ly.
Vừa pha cà phê, người đàn ông vừa nói:
Cháu cứ gọi chú là chú, chú chưa già lắm để gọi bằng ông hay cụ. Gọi thế cho cho thân mật cháu ạ.
Đẩy ly cà phê còn bốc khói về phía hắn mời hắn uống, người đàn ông rút điếu thuốc trong gói thuốc con mèo mồi hút, đưa gói thuốc về phía hắn như mời hút, hắn khẻ lắc đầu từ chối. Người đàn ông nhìn hắn chậm rải nói:
– Chú có nghe thằng con điện về cho chú biết được gặp cháu. Nào, cháu có điều gì hỏi cứ hỏi, chú còn nhớ điều gì sẽ nói cho cháu biết.
Hắn nhấp một ngụm cà phê, hương thơm của mùi cà phê đã làm hắn dễ chịu. Hắn kể cho người đàn ông biết về lời dặn dò của người cha nuôi Mỹ trước khi mất, nổi ám ảnh trong từng giấc mơ, cuộc tìm kiếm thân phận của mình trong nhiều năm nay. Hắn còn kể cho ông nghe đã trở lại viện mồ côi nơi hắn từ đó ra đi nhưng dấu vết vẫn mù tịt. Người đàn ông tên Sáu chăm chú lắng nghe, mặt trầm ngâm, giọng nói như trầm xuống:
– Ngày ấy trên đường di tản khỏi Nha Trang chú đã gặp cháu đứng khóc trên đường, cổ còn quấn băng thấm máu. Có lẽ đó là một mảnh đạn pháo mồ côi không biết rơi vào đâu lại nhè ngay cháu.May mà nó không sâu.Cha mẹ cháu hay người nào đó đã băng vội vết thương cho cháu.Gởi cháu vào viện mồ côi lúc đó và cho tới bây giờ chú vẫn cho là hành động đúng đắn để đảm bảo sinh mạng và cuộc sống của cháu.
– Chú có trở lại nơi ấy lần nào không?
– Xin lỗi cháu, chú đã không thực hiện được lời hứa của mình khi gởi cháu vào đó. Sau giải phóng là những chuổi ngày dài chú ở trong các trại học tập cải tạo. Ra trại chú tìm cách vượt biên, rồi những chuổi ngày làm cật lực nơi xứ người để bảo lãnh vợ con sang đây. Nuôi cho chúng ăn học thành tài thì mình đã già rồi. Chúng mãi mê làm việc quên cả còn có người cha già nầy, chúng còn muốn chú vào viện dưỡng lão để ở. Chú xin hồi hương, dù sao đây cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà.
– Về đây chú không buồn sao?
– Sao lại buồn? Về đây có biết bao công việc để làm, chú tham gia vào công tác từ thiện, giúp đở bệnh nhân nghèo…Cần gì thì phôn qua cho bển để bọn chúng tiếp tế, có sao đâu.
Hắn nhìn ra ngoài sân, trong ánh nắng chập choạng của buổi chiều, vài cánh hoa tím trên cái cây trong sân rơi xuống đất theo làn gió thoảng. Hắn chỉ cái cây ngoài sân hỏi người đàn ông :
– Cái cây có bông hoa tím đó gọi là gì hở chú?
Người đàn ông nhìn theo hướng tay hắn chỉ :
– À! Cây đó hả? Bằng lăng đó. Đây là mùa bằng lăng trổ bông đấy cháu à. Người ta thường trồng bằng lăng ở mấy con lươn, trên lề đường để làm cảnh, tạo bóng râm.Tháng tư,tháng năm nở tím cả một con đường trông rất đẹp. Cháu có nhìn thấy chùm quả bằng lăng ở trên cành cao đó không? Khi chín nó rụng xuống. Mưa xuống làm cho chúng mọc lên thành những cây con, rồi một vòng đời của nó lại tiếp tục, sinh sôi nẩy nở.
Rồi ông nhìn hắn:
– Cháu cũng vậy, về bển bỏ hết những phiền muộn chất chứa trong lòng mấy chục năm nay đi. Không ai chọn được cho mình một hướng để vào đời đâu cháu ạ, Quên hết cái đời mồ côi của cháu mà vui sống, có thế mình mới thanh thản được.
Hắn nhìn người đàn ông, những tháng ngày cận kề giữa cái sống và cái chết trong chiến tranh, trong trại học tập cải tạo, trên đường vượt biển, ở xứ người phải cật lực làm việc để bảo lãnh con cái rồi khi thành đạt chúng lại muốn đưa ông vào viện dưỡng lão.Hắn muốn nói một lời nào đó mà không biết mở lời như thế nào. Hắn chợt cảm nhận nguồn cội mà hắn đang cố công tìm kiếm nào có đâu xa nó ở trong lòng mình mà thôi.
Lòng hắn chợt thấy thanh thản lạ thường.

NGUYỄN AN BÌNH

NHỮNG LÁT CẮT TÌNH CỜ

 

nhatphong

một lát cắt muộn phiền cứa vào hoang vu
lấp lửng đằng sau nụ cười thỏa hiệp
thẫn thờ những hạt mầm
chờ mùa gieo hạt
mùa đau

một lát cắt nhọc nhằn
đẫm nước mắt biển khơi
lời hứa hão chơi vơi chân sóng
ngày – phẫn nộ
đêm – cuồng vọng
đánh bài lộng giả thành chân

một lát cắt ngậm ngùi thế sự bàng quan
thôi tiễn biệt một lần áo đỏ
bước em đi
lòng muối xát
hờ hững một chân trời
xanh cô đơn

một lát cắt bình yên
nát lòng người chờ đợi
một đòn đau thấm đến mai sau
sóng vỗ vào nỗi trở trăn cùng cực
gió vần xoay
và sóng lẫy lừng

NHẬT PHONG