CHỮ S CONG CONG

nguyenthikhanhminh

Thẳng nhìn lên chữ gù
Sắc nhọn đi chữ mềm
Sáng lóa lên chữ đêm
Vía ma quỷ
Ám cong hoài chữ S
Cháy lên hạt chữ
Ngọn gió rồng xua bóng tà ma
Chảy đi hạt chữ
Mặn cho bằng hạt máu
Tan cùng nỗi đau

Chữ S nằm dài
Dòng sông khốn khó
Đầu đuôi ngóng ngược ngóng xuôi
Chữ S đau
Ai bẻ mà cong
Chữ S ngã
Vặn mình hoài không thay được lốt

Mọc cánh đi chữ tù
Mở mắt đi chữ mù
Ải Bắc vọng phu
Mũi Cà Mau cắm sào mòn đợi
Chiều đã chiều rồi
Mẹ về chợ
Quang gánh S cong
Đầu đuôi
Cắm cúi

Mẹ nằm chiếu lạnh
Nghe đàn con chơi đùa ngoài ngõ
Rồng rồng rắn rắn
Chữ S cong cong
…Những xương cùng xẩu
…Những máu cùng me
..Một khúc đuôi, dôi xa khơi
Tha hồ mà đuổi…

Mẹ nằm ngủ gió tre rào
Mơ mơ S cong báo mộng
Một chốn dung thân
Câu thơ chiếc võng
Duy ngã Đại Việt chi quốc*

Mẹ nằm gió biển nghẹn
S cong ác mộng
…Sơn hà cương vực đã chia*
Non không thể lên, biển chẳng mở về
Trăm trứng kia thà rằng đừng nở

Xâm mình muôn hình muôn sắc mà đi
Cho giống con cá dưới nước
Cho giống con chim trên trời
Cho giống con ma trên đất
Cho giống cái chi không phải con người

S cong trong đêm
Lạnh thềm trăng úp mặt
…Tiệt nhiên địa phận tại thiên thư**…

Tháng 1.2013
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

*Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi
Duy ngã Đại Việt chi quốc,Thực vi văn hiến chi bang.Sơn xuyên chi phong vực ký thù…,
Trần Trọng Kim dịch:Như nước Việt từ trước, vốn xưng văn-hiến đã lâu. Sơn-hà cương-vực đã chia… (Wikipedia)

O LỰU

huongthuy

Năm tôi lên 9 tuổi,mẹ mất. Chị Cả đi lấy chồng xa, chị Hà còn dại lại đang cắp sách đến trường,Ba tôi nhờ người bác tìm hộ một người giúp việc. Và o Lựu xuất hiện trong gia đình tôi.
O Lựu người làng Bồ Bản ,quận Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị. Nhà nghèo lại đông con,mẹ o quyết định cho o lên tỉnh “đi ở” kiếm chút vốn và cũng để bớt một miệng ăn. Năm ấy o vừa 16 tuổi.
Không giống những người làm ruộng vất vả khác,o Lựu có nước da trắng xanh, đuôi mắt dài, tóc dài chấm vai được cặp lại bằng một cái kẹp ba lá. Vào nhà được mươi lăm phút, o đã tất tả tìm cái chổi rành quét dọn bếp núc.
Có o Lựu, tôi khỏi phải ăn những bát cơm nửa sống nửa chín do chị Hà nấu, anh tôi không còn nhăn mặt trước dĩa chả trứng khét lẹt và ba tôi đã có ấm nước sôi pha trà buổi sáng. O dạy chị tôi”xuốc cươi thì phải khom người xuống”,dặn tôi”đừng leo cây ổi mà bổ lọi tay”.
Mất mẹ lúc còn quá nhỏ, ba luôn nghiêm nghị, ít khi biểu hiện tình cảm ra bên ngoài,tôi chỉ còn o Lựu để nhỏng nhẽo.”O Lựu rửa chân cho em…O Lựu cõng em đi chợ…O Lựu con mèo cào em”…Tai quái hơn,tôi còn bắt o làm bò cho mình cởi và khi muốn “bò” ngừng lại,tôi đấm thình thịch vào lưng o. O lẵng lặng chiều theo ý tôi,không một lời phàn nàn.
Đêm đêm khi gãi lưng cho tôi ngủ,o hay kể chuyện làng mình. Chuyện đền thờ Thần Hoàng có cây đa cao vút với con tinh áo trắng chuyên dọa người đi qua; chuyện bà lão hiền lành nhặt được cục vàng khi mò cua ngoài ruộng…Thi thoảng, o lại đọc những câu ca dao mang âm điệu buồn bã”:Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” hoặc “Chèo đò bẻ bắp bên sông. Bắp chưa có trái bẻ bông chèo về”…Tất cả ru tôi vào giấc ngủ êm đềm không mộng mị.
An phận thủ thường như những người giúp việc khác nhưng o Lựu lại có một sở thích kỳ lạ: thích chụp ảnh. Hè năm đó, cậu tôi ra chơi đem theo cái máy ảnh Canon và chụp cho hầu hết các thành viên trong gia đình nhằm mục đích trau dồi tay nghề tài tử.Thấy sự hiền lành của o Lựu,cậu có nhã ý chụp cho o một cái ảnh dưới gốc cây ổi. Ảnh sang ra,o trang trọng đón nhận bằng cả hai tay.
O mua cho tôi một đồng kẹo Gia Địa và năn nỉ tôi viết cho hai chữ “Kỷ niệm” ngòng ngoèo đằng sau ảnh. Những ngày tiếp , o thể hiện sự biết ơn của mình một cách cụ thể:giặt sạch bộ đồ nhà binh dày cộp,cắm cúi đánh bóng đôi giày” trấn thủ lưu đồn” của cậu. O xin tờ giấy bóng kính,bao tấm ảnh và cẩn thận xếp nó vào đáy rương.Những buổi trưa rổi rãnh,ngồi sau hiên nhà bếp, o lôi ra ngắm nghía say sưa .
Dưới đôi mắt một đứa con nít như tôi,tấm ảnh chẳng có chi xuất sắc nếu không nói là xấu bởi vì o Lựu trong hình bị xén mất một chân. O nói dưới làng chỉ có nhà giàu mới dám lên tỉnh chụp bóng để sau này có ảnh mà thờ. O ao ước phải chi có nhiều tiền sẽ ra chụp một cái hình màu ở tiệm LIDO ngoài chợ Quảng Trị.
Mỗi năm o Lựu được về thăm nhà một lần vào ngày 27 tháng Chạp. Khi đó o mặc chiếc áo dài xanh của chị Cả tôi cho,đi đôi guốc mộc ,đầu đội nón lá. Tiền công xá ba tôi đưa,o gói trong chiếc khăn mùi xoa và lận vào lưng quần. O xin anh tôi mấy cuốn tạp chí Thế giới tự do về cho em dán trên vách nhà. Vắng o,tôi bần thần cả mấy ngày Tết. Năm nào o lên muộn,ngồi trong lớp tôi sốt ruột sốt gan. Và thật sung sướng khi đi học về đã thấy o Lựu trong nhà bếp. O đem lên làm quà những củ khoai từ đầy bột,mớ khoai lang tươm mật và những trái khế vàng ươm.Trước vẻ mặt phụng phịu của tôi, o hứa lần sau sẽ lên nhanh,sẽ xin cho tôi về Bồ Bản, một làng quê nghèo có lũy tre xanh, có động cát trắng với sim,móc và những bông hoa chạc chìu thơm ngát.
Một hôm,tôi nằm ở nhà trên,say sưa dán mắt vào cuốn “Lửa cháy thành Phiên Ngung”thì o Lựu đi chợ về. Đã hơi trưa,o gọi vọng lên nhờ tôi lấy giúp cái kéo cắt râu tôm kịp nấu canh cho ba tôi về ăn. Mê mải với chàng trai Anh Kiệt hào hùng, o giục giã vài ba lượt tôi mới nhỏm dậy làu bàu rồi vơ vội cây kéo chạy vội xuống nhà bếp ném đại về phía o đang lúi húi. Cây kéo không rơi xuống đất mà lại phi thẳng một đường vào trán, dòng máu đỏ tuôn ra. O cúi xuống,gục mặt vào đầu gối để cầm máu.Tôi hoảng hồn đứng lặng. Anh tôi vội vã lấy bông và thuốc đỏ rịt vết thương.Trưa hôm ấy khi thấy trán o bị băng, ba tôi hỏi nguyên do,o nói trớ là bị va đầu vào cột nhà. O đã giúp tôi thoát khỏi trận đòn chắc chắn sẽ xảy ra. Sau đó trên trán o có một vết sẹo khoảng ba phân vắt ngang.
O Lựu ở với chúng tôi được 4 năm. Khi tôi vừa lên lớp đệ lục thì mạ o lên xin cho o về làng để “lấy dôông”. Ở nhà quê,hai mươi mà chưa có”dôông”là coi như ế. Tôi nằng nặc không cho o về. Mặc kệ cây roi mây và lời dậm dọa của ba,mặc kệ lời dụ dỗ và những trái khế ngọt của mạ o,tôi ôm o chặt cứng. Đêm ấy ,trước khi đi ngủ tôi lấy cái khăn buộc chặt tay tôi vào tay o nhưng sáng mai thức dậy o đã đi từ lúc nào. O để lại cho tôi năm đồng bạc mới trên gối. Tôi khóc tỉ tê suốt cả buổi và nhất định sẽ nhờ ai đó chở về làng tìm o. Chị Hà cứ chế diễu tôi vô duyên,không để o Lựu đi lấy chồng.
Nhưng đứa bé 12 tuổi không dễ dàng thực hiện được dự tính. Làng Bồ Bản quá xa đối với đôi chân bé nhỏ của tôi. Chiều chiều tôi ngẩn ngơ ra sân ngóng đợi. Có lần,chị tôi đi sinh hoạt Hội Hồng Thập Tự Thị xã đem về tập san Đan Tay,trong đó có bài thơ của thầy Lê Văn Mãn nói về làng Bồ Bản của o Lựu. Bài thơ không biết có hay không nhưng tôi thuộc nằm lòng:
Đường về Bồ Bản không xa
Cách một trái núi với ba quãng đồng
Chưa đi những ngóng cùng trông
Khi về chỉ thấy đồng không tre già
*
Đường về Bồ Bản xa không
Muốn về nơi ấy mà lòng phân vân
Quê nhà vắng vẻ. Trong sân
Hàng cây không lá muôn phần nhớ thương
Phải chi có o Lựu ở đây,nghe tôi đọc chắc o thích lắm.
Rồi thời gian qua. Trường lớp,bạn bè và những cuộc vui cuốn hút tôi. Tôi đã lớn, biết đi xe đạp rồi biết đi Honda nhưng làng o Lựu đã trở thành vùng xôi đậu, mất an ninh.Đôi lần nhớ về o Lựu tôi ngậm ngùi. Chắc o đã có một gia đình êm ấm.
Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, gia đình tôi cũng bỏ Quảng Trị mà đi. Đất nước thống nhất tôi cũng không có dịp quay lại tỉnh lỵ nhỏ bé này.
*
Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng với cái lý lịch không mấy” sạch sẽ”:Ba” ngụy quyền”,anh trai,anh rể đi” cải tạo”; với cái nhìn không mấy thiện cảm của các loại “Cách mạng 30 tháng 4” về một cô Sinh viên hay mặc váy lên giảng đường,đi lao động vẫn áo Pull quần Jean,tôi không được bổ nhiệm.Buồn tình tôi bỏ về Đàlạt.
Thành phố Cao nguyên. Những ngày nằm dài ủ ê nghe thông reo. Chị Cả tôi,từ một mệnh phụ đã bước xuống cuộc đời. Đồ đạc trong nhà bán dần hết. Một nách ba con với gánh hàng trên vai,chị tôi vào bán trong Hồ Than Thở. Đây là một thắng cảnh của Đàlạt. Cạnh đó là Trường Võ Bị Quốc Gia nay đổi thành Học Viện Lục Quân. Hàng ngày tôi nhìn sang mà lòng ngậm ngùi. Anh rể và anh trai tôi đều xuất thân từ ngôi trường quân sự danh giá này và bây giờ cả hai đều bị lưu đày ở nơi thâm sơn cùng cốc.Cả hai anh đều bị xếp vào loại “ác ôn” khi tình nguyện gia nhập Binh Chủng Biệt Động quân với chiếc mũ nâu oai hùng …Khách hàng phần đông là những cán bộ quân sự các miền,thi thoảng có những chuyến xe Saigon của các du khách lãng mạn đi tìm dấu tích của đồi thông hai mộ .Sang hơn hết là xe của những cán bộ cao cấp,những đoàn chuyên gia nước ngoài đi tham quan.Hàng họ ngoài thuốc lá,bánh kẹo thông thường,chị tôi bày thêm tranh khắc bút lửa,những con cù lần bằng gốc cây. Mặt hàng này du khách hay mua làm kỷ niệm.Tôi thường giúp chị trong khâu bán hàng.
Buổi trưa,úp mặt vào cuốn “Người xa lạ” của A.Camus, tôi lơ mơ buồn bã.Đang miên man nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương”Đời tàn trong ngõ hẹp”,tôi giật mình với tiếng reo hớn hở của người bán hàng bên cạnh:”A,khách Tây,khách Tây”.Hầu như các quán hàng đều tỉnh ngủ.Mối” sộp” đây rồi!
Tính sĩ diện vẫn còn khiến tôi không thể chạy theo chèo kéo khách như những người khác.Thôi thì ngồi yên ngâm nga thơ Nguyễn Công Trứ:”Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất.Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằn”.Các cháu ơi!Dì chịu thôi.Chiều nay chúng ta ăn khoai tây chấm muối vậy.
Gạt những người xúm quanh,một ông Tây bước về gian hàng bé nhỏ của tôi,
chăm chú nhìn những búc tranh rồi cúi xuống chọn lựa.
-Would you like some more? Tôi thăm dò.
Ông cười và hướng về nhóm du khách gọi: Honey,come here!
Người phụ nữ tóc vàng váy đỏ có dáng dấp Á đông bước tới .Lạy Chúa,lạy Phật phù hộ! Chị tôi đang đi thăm nuôi anh rể ở Sông Mao. Gạo trong nhà đã hết.
Người phụ nữ nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên thảng thốt…bằng tiếng Việt:
-Bé Ti,bé Ti phải không? O Lựu nì!
Tôi há hốc miệng. O Lựu,người giúp việc năm xưa? Như sợ tôi không tin,người phụ nữ vén tóc trán:
-Vết sẹo nì. O đây, o đây…
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Sự nhớ thương pha chút tủi hổ làm tôi nghẹn ngào.
Phút xúc động lắng xuống,o giới thiệu: Đây là Tim John,chồng o.
Để mặc ông chồng đứng cười hiền ngơ ngáo,o kéo tôi ngồi xuống kể chuyện tháng ngày qua…
Từ giã nhà tôi,o Lựu về làng lấy chồng theo sự sắp xếp của cha mẹ. Chồng o là một anh nông dân hiền lành và chăm chỉ làm ăn. Được ba năm,chưa kịp có con anh đã chết do một phát đạn ngu ngơ không biết của phe nào khi đang cày bừa trên mảnh ruộng nhà. Rồi Bồ Bản chìm ngập trong lửa đạn .Ban ngày lính cộng hòa bố ráp,ban đêm du kích bò ra hoạt động,dân chúng toàn phải chui hầm.
Trong một trận pháo kích,nhà o bị sập. Gia đình chết hết, o bị thương nặngđược máy bay trực thăng của tổ chức Hồng thập tự đưa ra hạm đội cứu chữa. Không còn gia đình,làng mạc tan hoang sau trận chiến mùa hè 1972,o Lựu không còn nơi để trở về. Số phận đưa đẩy,Tim John là bác sỹ điều trị cho o đưa o qua Mỹ và họ trở thành vợ chồng…Năm nay,Tim đại diện cho một tổ chức nhân đạo sang giúp đỡ trẻ em Việt Nam,o theo chồng về thăm quê hương và tình cờ gặp tôi…
Vẫn là sự thương yêu chân tình đối với” cô chủ nhỏ” của mười năm trước, o Lựu vuốt ve mái tóc tôi, xuýt xoa khi nắn bóp cơ thể gầy guộc thiếu ăn của “bé Ti” và chảy nước mắt khi nghe anh tôi đi “cải tạo” tận miền Bắc .Tôi úp mặt vào vai o như muốn tìm lại mùi hương của một thời xa xôi.

Lúc chia tay o tế nhị dúi vào túi áo tôi một cuộn tiền rồi tất tả lên xe. Vẫy tay chào
theo tôi không biết là mình đang mơ hay tỉnh.Lần đầu tiên,tôi nhìn thấy những tờ 100 đô la Mỹ .
Nhờ số tiền của o Lựu ,chị tôi từ giã nghề buôn gánh bán bưng. Chị sang một sạp
hàng tạp hóa ở chợ Đalạt,nuôi 3 đứa con ăn học chờ chồng trở về từ trại giam.
Sáu năm sau anh chị cũng ra nước ngoài theo diện HO.Trên đất khách quê người
những ngày đầu tiên,anh chị được vợ chồng o Lựu tận tình giúp đỡ.Tiếc rằng do
vết thương chiến tranh,o Lựu không thể có con.Vợ chồng o nhận đứa con trai của anh chị tôi làm con đỡ đầu.
Năm ngoái tôi lặng người khi nghe chị tôi gọi điện thoại báo tin o Lựu đã qua đời sau một cơn đột quỵ. Ôi ! O Lựu,bóng mát trên thiên đường ký ức của tôi,ân nhân của gia đình tôi trong cơn khốn cùng…Tôi khóc o như khóc một người thân yêu nhất.

HƯƠNG THỦY

TÔI NỢ

buithanhxuan

Một tháng năm
Với tôi nó là một ngày khó quên.
Tôi nợ Mẹ năm trăm cây số lội bộ tìm con.
Tôi nợ Ba lời hứa sẽ trở về nguyên vẹn để cùng Ba uống một ly rượu mừng
Tôi nợ một người anh xa lạ chiếc áo thun màu gạch. Tôi đã cố gắng bước vào nhiều ngôi nhà xin cho mình cái để mặc. Và anh, người xe ôm góc đường đã cởi chiếc áo của mình tặng tôi

Tôi nợ em, một người con gái không quen với ánh mắt nhìn thảng thốt khi tôi cùng đoàn người tơi tả trở về bến xe miền Tây ba mươi chín năm trước
Ngày một tháng năm một chín bảy lăm, có cô gái ôm chầm lấy tôi. Em bật khóc, giúi vội vào tay tôi năm trăm đồng làm lộ phí trở về.
Ba mươi chín năm tôi vẫn không quên em, cô gái mà tôi chỉ có thể lướt vội đôi mắt trên khuôn mặt đẫm nước ấy rồi vội vã lẫn vào đoàn người rách rưới. Tôi chỉ nhớ em người miền Nam, dễ thương và còn trẻ lắm
Tôi luôn nghĩ về em, mắc nợ em
Ba mươi chín năm tâm hồn tôi luôn bị dày vò vì đã vô tình không kịp hỏi tên em
Em là ai? Hỡi cô gái có mái tóc ngang vai và đôi mắt u buồn ngày ấy
Tôi nợ nhiều thứ trong cuộc đời này.
Với em, tôi chỉ còn biết tạ lỗi cùng em. Xin lỗi em, người con gái xa lạ thuở nào

BÙI THANH XUÂN
1/5/2014

MỘT CHÚT DUYÊN CHO TA RUỔI RONG ĐỜI

npphan

một chút nắng cũng ngập ngừng tiếc nuối
một chút sương dại dột lìa trần
một chút gió cũng lặng thầm thổn thức
một chút mưa đã từ chối thanh tân

một chút tóc cũng rối bời mây hạ
một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô
một chút bờ vai thong dong phố thị
một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ

một chút năm mới cho lòng đắng ngắt
một chút khoảng không cho đôi cánh tưng bừng
một chút biển cho mặn mòi nguyện ước
một chút thảo nguyên cho xanh mùa dửng dưng

một chút thầm thương biến thành trộm nhớ
một chút say, một chút tỉnh, chút buồn vui
một chút tình cho ta lao đao lận đận
một chút duyên cho ta ruổi rong đời

Nha Trang 01/01/2011
NP PHAN

THẾ NẦY LÀ THẾ NÀO!?

dinhtankhuong

Nhớ lại những ngày của 39 năm về trước (sau ngày miền Nam được “giải phóng”) trong một lần tọa đàm, cán bộ chính trị đã cho biết người miền Bắc (XHCN) không biết chửi thề, nếu (ai đó) lỡ miệng mà chửi thề thì phải chịu môt hình phạt nghe rất nhẹ nhàng nhưng rất khiếp sợ, đó là phải đổ đầy hai thùng nước lớn được gánh bằng hai chai dẩu Nhị Thiên Đường múc lên từ cái giếng làng. Cũng có lần nghe một đoàn viên thanh niên Cọng Sản (học cùng khóa) tự hào về văn minh XHCN, anh ta nói như đinh đóng cột rằng sẽ không quá mười năm (tới đây) học trò tiểu học VN sẽ biết rõ một cách thông suốt sự vận hành cỗ máy của một chiếc “máy bay lên thẳng”! Thêm nữa, có ông tập kết ra Bắc trở về, quả quyết rằng quân đội nhân dân VN có sức mạnh xếp hàng thứ nhì trên thế giới, sau Liên Xô. dẫn chứng rằng, quân đội nhân dân VN đã đánh bại hai đế quốc lớn (Pháp & Mỹ) và được tờ báo Sự Thật (của Xô Viết) đánh giá như vậy!

Thú thật, chỉ nghe mấy câu chuyện này thôi là tôi đã mê XHCN như điếu đổ. Thử nghĩ xem, cái xã hội mà trong đó mọi người đều bình đẳng, một xã hội thật văn minh, văn hóa và có sức mạnh quân sự như vậy mà không mê sao được. Mê thì mê nhưng do bởi cái thói quen nhớ lời mẹ dạy (từ lúc còn con nít) là không được dối gạt người khác, không được chém gió… chính lời dạy này đã là một trở lực lớn, ngăn cản bước đường phấn đấu của bản thân tôi thời đó, lắm lúc nghĩ tới mà giận mẹ mình quá đỗi!

Tương lai như bị bế tắt, bổng dưng một phút yếu lòng, lỡ dại nghe theo lời dụ dỗ để rồi phải đứt ruột ra đi, rời bỏ cái xã hội đã từng chết mê chết mệt. Nỗi buồn xa quê thì ít mà nỗi buồn xa lìa một xã hội văn minh, văn hóa như XHCN (VN) thì nhiều. Thế nhưng, cuộc sống mới tại xứ người, cái nơi mà bọn chủ nhân giàu có luôn bóc lột sức lao động của đám công nhân nghèo khổ (như chúng tôi), đã khiến cho bộ não của tôi không đủ thì giờ mà hồi tưởng nỗi buồn của chính mình!. Có lúc tự vấn, ra đi để tìm tự do như thế nầy sao, tự do gì mà luật lệ quá chặt chẽ luôn ràng buộc con người bằng đủ thứ luật. XHCN đâu có nhiều luật như vậy, xã hội XHCN giải quyết chuyện gì cũng “có tình có lý”, quả là một xã hội ưu việt!?

Thời gian qua nhanh nhưng ký ức về một XHCN tốt đẹp thì mãi tồn tại trong tôi. Nhờ chút rảnh rỗi ở tuổi xế chiều, đôi lúc cũng dành thì giờ nghe & đọc tin tức quê nhà (dĩ nhiên là tôi chỉ đọc những bản tin từ trong nước, vì biết rằng những bản tin ở xứ người không bao giờ trung thực!)

Đọc tin, mấy lúc gần đây lại nghe nhắc đến nhiều thứ “văn hóa lạ” như văn hóa phong bì trong giao tiếp, văn hóa chửi trong ẩm thực… đang thịnh hành tại VN. Tôi cứ thắc mắc, làm gì có chuyện như vậy lại xảy ra trong cái xã hội mà có nhiều đỉnh cao trí tuệ, một xã hội văn minh và văn hóa mà tôi đã từng mê mệt (cho đến thời điểm nầy thì chỉ còn mệt chứ không còn mê, do bởi tuổi già sức yếu!).

Lại giật thót mình khi thấy bản tin sáng nay (trên trang điện tử Vnexpress) có cái tít đã gây nhiều ngạc nhiên (cho tôi), đó là

Công chức Hà Nội bị cấm nói tục, tiếng lóng

Ngôn ngữ trong giao tiếp với đồng nghiệp phải chuẩn mực, rõ ràng mạch lạc, không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt nhân dân.

Quy chế thực hiện kỷ cương hành chính và văn hóa công sở tại Văn phòng UBND thành phố Hà Nội được Chánh văn phòng Nguyễn Thịnh Thành ký ngày 29/5.

(hết trích)

Đọc xong, tôi lại hỏi chính mình: “Thế nầy là thế nào, đâu là sự thật!?”

Nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời, tôi tính google tìm trang tin Sự Thật xem thử hư thực ra sao nhưng lại sợ đọc tiếng Nga không được, đành ôm ấp một nỗi buồn không biết tỏ cùng ai!!!

ĐINH TẤN KHƯƠNG

NHẬT MỘ HƯƠNG QUAN

trantrungta

Xưa, Thôi Hiệu lên lầu Hoàng Hạc
Làm bài thơ treo vách núi rồi đi…
Tám câu thơ quanh cỏ mọc xanh rì
Ai qua, ngó, cũng cúi đầu. Tư lự!

Hai câu cuối mềm lòng người xa xứ
Người-Bây-Giờ, người bỏ nước Việt Nam…
Hai câu thơ, có hai chữ Hương Quan
Không mưa gió mà lạnh lòng khôn tả!

Nhiều người dịch: “Quê Hương ngó lại, chừ đâu tá?
Khói sóng chiều hôm giục nổi buồn!”
Tôi gật gù: Không thể dịch hay hơn
Tôi bụm tai: Không muốn nghe tiếng sóng.

Trước cảnh tang thương ai mà không xúc động?
Những thằng-chăn-bò chừ đổi lốt lên ông
Những tên ma đầu chừ giở thói chơi ngông
Áo bỏ vô thùng, thắt cà vạt, ngo ngoe như đồ vượn khỉ!

Nhật Mộ Hương Quan Hà Xứ Thị?
Yên Ba Giang Thượng Sử Nhân Sầu!
Hai câu thơ của một tên thi sĩ Tàu
Chắc nó muốn trêu ngươi chúng ta đó chắc?

Nhật Mộ Hương Quan, từ ngày nước mất
Quên thì quên không được, nhớ thì buồn
Chiều vô tình ngó cọng khói hơi sương
Thương quá đỗi khói lam chiều mái rạ…

Quê Hương hỏi chứ chừ đâu tá?
Khói sóng trên sông giục nỗi buồn!
Tôi sửa lại nhìn chơi không biết có dễ thương?
Ghét lắm thằng Tàu sao thơ Tàu…lại thích?

Ôi những con sông chảy hoài không biết mệt
Tôi một tàn binh sống chết nao nao…
Ngó ra Hoàng Sa biển biếc ba đào
Rồi ngó lên trời cao rớt vào đâu giọt lệ?

TRẦN TRUNG TÁ

CHUYỆN TRÊN TÀU

dunga

Lên tàu về quê. Mới vào sân ga đã thấy quanh mình “ngân vang” lên những âm thanh đất Quảng. Người Quảng, tất nhiên phải nói giọng Quảng, cái chất giọng nghe đầy vị khoai sắn, chơn chất, mộc mạc đến tận cùng, cái chất giọng trầm và nặng ngay cả khi phát ra từ đôi môi hồng gợi cảm. Chuyến tàu này từ Sài Gòn ra và điểm cuối cùng là Huế, khách đi tàu người Quảng khá đông. Toa tôi nằm, chỉ có một chị không phải là người Quảng Nam, chị ấy là người… Quảng Ngãi (!!!). Nghĩa là chạy trời cũng không khỏi người… Quảng, hehe!

1.
Đầu tiên là cặp trai gái trẻ nằm ở tầng 3, chắc là một đôi tình nhân đang du lịch đất Nha Trang trở về. Lên tàu xong, hai cô cậu mang hết ba lô túi xách va li tuốt lên… tầng 3 luôn, kể cả đôi giày cao gót của cô gái và đôi giày trắng sành điệu của cậu trai. Hehe, cho nó “chéc eng”, vật bất ly thân, kỹ càng đúng kiểu xứ Quảng. Chàng còn dặn dò nàng phải nằm quay đầu ra hành lang, đỡ xóc hơn, gối phải lật trái lại để nằm cho sạch, vv và vv… Kỹ sư như tôi cũng thầm bái phục chàng “sư kỹ”!!! May mà cô gái (cũng là dân Quảng) ngoan ngoãn nghe lời, không…. cãi tí nào!

Anh chàng tầng 2 mang theo cháu bé khoảng 2-3 tuổi gì đó, cháu đang nhớ mẹ, thỉnh thoảng lại nhè ra khóc. Lát sau, thấy anh chàng gọi điện về cho vợ, bắt đầu chuyện dặn dò. Ngoài những chuyện báo giờ về tới nhà, chàng dặn chuyện đóng cửa nhà, cửa trước gài ra sao, cửa sau khóa ra sao… và 3-4 lần xen giữa câu chuyện luôn nhắc đi nhắc lại: Em nhớ dắt chiếc honda 67 vô nhà, khóa cổ cẩn thận không thì “thèng mô nó vô nó dét mất”! Chắc chàng ta là dân “chơi xe cổ”, chiếc honda này là của hiếm thời nay mà!

Đến bà chị Quảng Ngãi, tới tầm 3 giờ sáng, chỉ hốt hoảng tung mền ngồi dậy, la hỏi tới ga Đức Phổ chưa? Trong khi cả toa còn ngái ngủ, chị bước ra hành lang kêu ông trực tàu inh ỏi. Giọng Quảng giữa đêm vắng vẻ, vang lên như kẻng báo động, át cả tiếng máy tàu xình xịch, làm tôi giật cả mình tưởng như đang ở thời chiến tranh, pháo kích vô thành phố, hốt hoảng chực chạy xuống hầm trú ẩn! Hú hồn là chưa tới ga Đức Phổ, rứa mà ông trực tàu cũng bị chị lên lớp, mắng mỏ một cấp! Hehe, ông trực tàu này cũng dân Quảng, chắc muốn cãi cọ ghê lắm, nhưng vóc dáng nhỏ thó bên bà chị đang nổi đóa to như gấu mẹ, đành… nhịn cho lành!

2.
Chợt nhớ những chuyện về người xứ Quảng.

Ông anh vào Sài Gòn, mở xưởng làm cửa nhôm, sau mấy năm đưa người ở quê vào làm thợ, chịu không thấu vì chủ nói đâu thợ cãi đó, đến lắp ráp cửa cho chủ nhà, cũng cự cãi chủ nhà luôn, báo hại ổng phải đi năn nỉ. Giờ đến chơi thấy ổng trương cái bảng tuyển thợ có hàng ghi chú: không tuyển người Quảng Nam!

Rứa nhưng một ông anh khác, mần nghề luật sư, lại trương cái bảng hiệu rất oách: Luật sư Phạm Văn G. (chính gốc Quảng Nam). Hahaha, dân Quảng Nam mà làm thầy cãi thì số dách rồi!

Còn thằng cháu, vô Sài Gòn làm nghề xe ôm, một bữa về nhà nhăn nhó với mẹ: lần sau tui thề không chở mấy cha người Quảng nữa! Mẹ nó mới la: Cha mày, chớ mày là dân gì? Mà sao? Thằng cháu cáu kỉnh: Mình đã biết đồng hương rồi. Nói bằng già nửa giá chở người ta, rứa mà chả còn kỳ kèo trả tới trả lui, hổng chịu đi nữa. Nghĩ tình, con cũng chở, mà ghét quá đi!

Hổng biết khi kể những chuyện này có mang lỗi nói xấu quê mình hông ta!

3.
Nhưng rồi một ý nghĩ lóe lên, lẩm nhẩm nghĩ và cười thầm trong bụng: Lấy thằng người Quảng làm chồng thì tạm OK, nhưng chọn làm bồ… thì nhiều lúc cũng điên cái đầu lắm hỉ???

DU NGÃ

MÀU TÍM HÁT

tonnuthudung

( Một ngày xưa rất xa)

 

Màu tím trên vai em
Màu tím trong mắt em
Màu tím của lời hát …
I want to live …

I want to live…

Sống bên bờ biển xanh
Sống bên giòng sông bạc
Sống bên miền cỏ hoang
Sống bên rừng xa vắng .

I want to live...

Sống như đứa trẻ thơ
Sống như tên lãng mạn
Sống như kẻ dại khờ
Sống như người phiêu bạt…

Màu tím trên môi em
Màu tím hát.

I want to live...

Sống quên hết đau thương
Sống nguôi ngoai phiền muộn
Sống như một nỗi buồn
Sống từng giây hoảng loạn

Màu tím trên vai em
Màu tím hát…

I want to live…

Đêm đang về theo tiếng hát
Đừng chia tay nhau
Đêm đang tàn theo tiếng hát
Đừng chia tay nhau

Màu tím trên môi em
Màu tím khóc…

Mầu tím trong mắt em
Màu tím hát…

I want to live…

Sống mệt mỏi như mưa
Trong tận cùng tuyệt vọng
Sống rời rã như mưa
Cánh cửa đời đã đóng…

I want to live…
I want to die…

Màu tím khóc…

Tôn Nữ Thu Dung

ĐÂU PHẢI MÙA THU GIẬN DỖI

authiphucan

không phải ta đuổi sóng về biển
ngày hôm qua hững hờ mùa thu
tim chết cóng một lần gặp gỡ
đã biết nhau đâu mà tình si

bàn tay ấm choàng qua bờ lưng
đôi mắt ấy chìm trong đôi mắt
chỉ một lần mà sao chết giấc
người qua sông qua biển khi nào

ta níu lại thời gian mỏi mệt
ngã lưng chiều thì thầm hoàng hôn
ngã lưng buồn trên tay người thương
thả cho mây hương nồng tóc rối

đâu phải ta không yêu mùa thu
cũng đâu phải mùa thu giận dỗi
hình như có lúc ta nông nổi
buông tay người,… rồi khóc mình ên…

ÂU THỊ PHỤC AN