ÔNG BÙI HIỀN NÊN ĐẾN NƯỚC MẶN ĐỂ TẠ LỖI VỚI NHỮNG VỊ KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

Chuyện ông phó giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền xướng xuất việc cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm tưởng chừng như đã chìm vào quên lãng, không ngờ ít lâu nay lại tái bùng nổ làm cho mọi người càng thêm xôn xao. Chính vì sự tái bùng nổ này mà chúng tôi kinh ngạc khi được biết bộ Giáo Dục Việt Nam không “lấy đó làm chơi,” trái lại đã nghiêm chỉnh hỏi ý kiến viện Ngôn Ngữ Học về bản đề xuất cải cách chữ viết của ông Bùi Hiền. “Hỏi ý kiến” tức là có sự cân nhắc nên áp dụng hay không. Viện Ngôn Ngữ Học đã bác bỏ đề nghị cải cách chữ Quốc Ngữ của ông này. Nếu không bác bỏ thì viện Ngôn Ngữ Học cũng “chả ra làm sao cả.”

Chuyện cải cách chữ Quốc Ngữ một cách dị hợm của ông Bùi Hiền thiết tưởng đã rõ rành rành ra đấy, không cần bàn thảo, cũng không cần phê bình thêm nữa. Ở đây, nhân chuyện “chả ra làm sao cả” này, chúng tôi nghiêm chỉnh đòi ông Bùi Hiền phải đến thăm Nước Mặn để tạ lỗi với những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ.

Nước Mặn là một địa điểm thuộc thị xã Quy Nhơn (tỉnh Bình Định.) Nước Mặn được linh mục Alexandre de Rodes vẽ trên bản đồ vương quốc Đàng Trong vào thế kỷ 17 với tên phiên âm là Nehorman (theo cách viết của linh mục Cristoforo Borri.) Vào thế kỷ này, Nước Mặn là một hải khẩu giao thương quốc tế, ngang hàng với Cửa Hàn (Đà Nẵng) và Hải Phố/Faifo (Hội An.)

Năm 1615, linh mục người Ý tên là Francesco Buzomi đến Cửa Hàn. Năm 1617, ông bị chúa Nguyễn trục xuất, lại lâm bệnh nặng, nằm tại Quảng Nam. Ông được quan trấn phủ Quy Nhơn là Trần Đức Hoà đưa về Quy Nhơn chữa bệnh. Quan trấn phủ Trần Đức Hoà là em kết nghĩa (*) của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nên nhiều người tin rằng việc ông đưa linh mục Buzomi về Quy Nhơn không ngoài ý của chúa Sãi, nhằm tách linh mục ra khỏi những vị quan quá khích muốn trục xuất, cầm tù hoặc xử tử ông. Năm sau (1618), chính quan trấn phủ Trần Đức Hoà đã cùng linh mục Buzomi đến Cửa Hàn đón thêm những tu sĩ Công giáo khác về Quy Nhơn, trong đó có linh mục Cristoforo Borri (người Ý) và Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha.) Sau đó, quan Trần Đức Hoà cấp cho nhóm giáo sĩ này một ngôi nhà đẹp ở Nước Mặn làm cơ sở truyền giáo và chế tác chữ Quốc Ngữ.

Có chỗ ở an toàn và tâm trí thảnh thơi, bộ ba Buzomi, Borri và Pina đã chú tâm vào việc phiên âm tiếng Việt và chế tác chữ Quốc Ngữ, dựa theo các mẫu tự La-tinh. Về sau, linh mục Buzomi, là bề trên, đã tình nguyện lãnh hết trách nhiệm truyền giáo, để cho hai linh mục cộng sự của mình là Borri và Pina dồn tâm trí vào việc chế tác chữ Quốc Ngữ.

Cùng thời, hai địa điểm cũng được xem là những nơi xuất phát chữ Quốc Ngữ đầu tiên là Hội An và Dinh Chiêm (**), tuy nhiên nhiều tài liệu chứng minh rằng Nước Mặn vẫn là nơi đầu tiên phát sinh chữ Quốc Ngữ.

Linh mục Pina có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ. Ông có thể giảng đạo một cách trôi chảy bằng tiếng Việt mà không cần người thông ngôn.

Năm 1624, có bốn linh mục đến Đàng Trong. Hai linh mục Gaspar Luis (người Bồ Đào Nha) và Girolamo Majorica (người Ý) vào Nước Mặn học tiếng Việt với linh mục Buzomi. Trong khi đó, hai linh mục Alexandre de Rohdes (người Pháp) và Antonio de Fontes (người Bồ Đào Nha) đến Dinh Chiêm học tiếng Việt với linh mục Pina (lúc ấy linh mục Pina đã được thuyên chuyển về Dinh Chiêm.)

Có những tài liệu cho thấy một số chữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai đã được ghi lại trong các bản tường trình của: João Rodrigues Giram (1620), João Roiz (1621), Gaspar Luis (1621), Christoforo Borri (1618-1622), Francisco de Pina (1623), Alexandre de Rohdes (1625), Gaspar Luis (1626), Francesco Buzomi (1626), Antonio de Fontes (1626).

Linh mục Alexandre de Rhodes là một thiên tài kiệt xuất về ngôn ngữ. Ông đã tổng hợp, hệ thống và chuẩn xác hoá các tài liệu chữ Quốc Ngữ để cho ra đời hai tác phẩm bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên có tầm vóc quốc tế là “Phép Giảng Tám Ngày” và “Tự Điển Việt-Bồ-La,” ấn hành tại Roma năm 1651. Ông tôn trọng thầy của mình là linh mục Pina (người Bồ Đào Nha) nên tự điển có phần tiếng Bồ Đào Nha mà không có phần tiếng Pháp, mặc dù ông là người Pháp.

Từ Nước Mặn ngược về thành phố Quy Nhơn, chúng ta sẽ gặp tiểu chủng viện Làng Sông. Đây là một trong những nơi có cơ sở ấn loát chữ Quốc Ngữ đầu tiên của người Việt. Tiếc rằng năm 1946, Việt Minh trưng thu cơ sở ấn loát này, lấy làm nơi in tài liệu, truyền đơn. Sau đó máy móc bị phân tán đi nhiều nơi. Ngày nay tiểu chủng viện Làng Sông chỉ còn căn phòng ngày xưa vốn là cơ sở ấn loát, với hình ảnh những máy in được chụp lại, treo trên tường. Nay tiểu chủng viện Làng Sông là tu viện của các nữ tu Công giáo.

Nhìn lại lịch sử chế tác chữ Quốc Ngữ, chúng ta thấy đó là một công trình lâu dài, qua nhiều thế hệ với những trí tuệ kiệt xuất. Sau đó là đến các thế hệ Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, v.v… Đây mới là chuyện không thể “lấy làm chơi,” để rồi trong phút chốc, một ông “không phân biệt được các khái niệm ngữ âm – âm vị học, không phân biệt được âm và chữ; các con chữ mà ông đưa ra không liên quan gì tới đặc điểm ngữ âm của nó” (nhận xét của viện Ngôn Ngữ Học) là ông Bùi Hiền phá nát thứ chữ này bằng những đề nghị cải cách trái khoáy, phản khoa học, vi phạm một cách trầm trọng những nguyên lý cơ bản về ngôn ngữ học, tách chữ Quốc Ngữ ra khỏi khối ngôn ngữ quốc tế dùng mẫu tự La-tinh để ghi âm.

Tôi đề nghị ông Bùi Hiền nên đến Nước Mặn để tạ lỗi cùng những vị đã khai sinh chữ Quốc Ngữ, thứ văn tự quý báu của người Việt chúng ta.

QUYÊN DI

___________________
(*) Có người cho rằng quan Trần Đức Hoà là em rể của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
(**) Dinh Chiêm là thủ phủ của Dinh Quảng Nam. Ở đây “dinh” không có nghĩa là toà nhà, mà là một đơn vị hành chánh vào thế kỷ 17, gồm phủ Điện Bàn, phủ Thăng Hoa, phủ Tư Nghĩa và phủ Hoài Nhơn. Dinh trấn Quảng Nam nằm bên bờ bắc sông Thu Bồn.

CÕI MÌNH

Khẽ khàng ừ khẽ khàng thôi
Dăm con kiến liệng ngắm trời thênh thang
Bao giờ giông bão về ngang
Bao giờ dâu bể giăng hàng nhớ nhung

Rừng tâm là cõi mịt mùng
Ta tìm ta lạc chập chùng tỉnh mê
Nắng khuya mưa sớm dãi dề
Cô đơn là cõi bộn bề rỗng rinh

Em rao thất lạc cuộc tình
Mùa nao ký gửi trên cành trầm luân
Có ai vác nốt hư không
Trải lên thao thức lòng sông vỗ đầy

Sóng ngầm con mắt vẫn cay
Rơi trên mầm cỏ hạt gầy phiêu sinh
Về thôi mình nắm tay mình
Nắm tay mình giữ cõi mình về thôi…

Bùi Diệp

GIANG ĐẦU RỒI SAO… .

lệ rồi sao
mối tình
sầu
hay mưa tháng bảy trời ngâu khóc òa
mà môi mắt sớm chan hòa
trên cao trắng trút hạt nhòa thác mây

trên cao trắng hạt nhòa vây
xóa rồi sao
mối tình
dây dưa mù
cánh mây bụi bóng vân phù
qua khe lả tả thiên thu rụng tàn

khe tay lả tả muôn vàn
màu thời gian lấp bàng hoàng hư không
biệt rồi sao
mối tình
đông
mùa xui ta lạc bềnh bồng đường yêu

bềnh bồng trong chốn lãng phiêu
đôi buồn sóng bước chân chiều khói mơ
chiều em có đứa làm thơ
khổ rồi sao
mối tình
chờ ngàn sau

lìa rồi sao
mối tình
đau
bài thơ em viết tặng nhau nửa chừng
vẫn nguyên hơi thở anh từng
nguồn vào em đập nhịp đừng biển dâu

bình yên tình chớ lo âu
lời anh dặn
nước giang đầu
rồi sao… .

Hiền Mây

RƯỢU BUỒN

Khi Phương xuống taxi ở đầu con hẻm, anh nhận ra con đường dẫn vào khu vực nhà mình đã có nhiều thay đổi. Khu hàng quán chật chội, dơ dáy bán đồ ăn sáng và đồ nhậu chiều đã biến mất, thay vào đó là một dãy cửa hiệu bán quần áo thời trang với những cửa kính sang trọng và tiếng nhạc ầm ĩ. Mọi thứ thật nhanh chóng, mình vừa đi vài tháng… Phương nghĩ vậy. Chàng bước vào con hẻm với chỉ một chiếc túi du lịch nhẹ nhàng. Sau một khúc quanh nhỏ có những hàng rào bông giấy hồng, cánh cổng màu gạch hiện ra. Dừng lại trước cổng, Phương ghé mắt nhìn vào sân. Cánh cửa nhà không khóa ngoài chứng tỏ có người bên trong, nghĩa là Thu đang ở nhà. Phương huýt sáo miệng. Không thấy con Pit chạy ra nhưng có tiếng động nhỏ như tiếng khua chân tìm dép rồi bóng Thu xuất hiện sau ngạch cửa.

Nhìn thấy Phương, Thu không tỏ một chút ngạc nhiên. Như ngày xưa, khi chàng đi làm về, nàng nhẹ nhàng kéo cái then ngang, đẩy nhẹ cánh cửa sắt để Phương bước vào. Phương nhướng mắt với Thu, nói đủ cho nàng nghe: “Chào em, vẫn khỏe chứ hả”.

Phương cởi giày. Bước qua cửa, ngồi xuống cái ghế đối diện giá sách trống không. Ở bên trên, hơi cao là tấm ảnh cưới của họ. “Anh ăn cơm chưa?”- Thu hỏi, vẫn là những câu hỏi của ngày cũ. Phương liếc qua màn ảnh ti vi đang mở. Hai nhân vật trẻ trung xinh đẹp đang đối thoại với nhau. Một bộ phim Hàn Quốc chủ đề tình yêu. “Chưa, em có nấu cơm không? Hay mình ra trước hẻm ăn cơm gà?” “Có, em có nấu, em nghĩ bữa nay anh về, đợi em xíu vô dọn liền” “À, mà Pit đâu rồi em?” “Nó mất rồi, em mở cửa, nó chạy đi và không thấy quay về”.

Nàng vẫn hướng mắt vô màn ảnh, cái remote lăm lăm trong tay. Phương nhìn vào đó. Một nhân vật nam trẻ thuộc loại “kinh điển phim Hàn” đang nói với cô gái: “Thiên thần của anh, nếu bẻ gãy cánh để giữ thiên thần ở lại thì anh đã quá tham lam”. Thu liếc nhìn Phương, rồi nàng nhổm dậy, dứt khoát nhấn mạnh nút stop…

Bàn ăn vẫn trải cái khăn cũ, có in hình chìm những hoa loa kèn tím. Thu bước vào căn bếp nhỏ. Phương nhìn cái dáng phía sau của vợ đã dần đẫy đà lên dù nàng chưa qua tuổi ba mươi và chưa một lần sinh. Mâm cơm có cá chiên, thịt ba rọi xào đậu và canh mồng tơi nấu tôm khô. Phương với tay lấy cái túi du lịch, lôi ra hai chai rượu vang nhỏ: “Vang Đà Lạt. Nhưng uống hết chai cũng say”. Thu đứng lên, lấy hai cái cốc pha lê trong tủ gần tường và một cái mở nút. Phương rót gần đầy cả hai cốc…

Hai người uống gần hết chai rượu. Trên giường ngủ họ nằm sát vào nhau. Phương cảm thấy gò ngực vợ rất cứng. Khi bàn tay anh lần về phía dưới, Phương thấy nó cộm lên. Thu nói: “Em đang kẹt. Nhưng nếu anh muốn để em vô toilet rửa sạch đã”. Phương ôm ngang mình vợ: “Thôi em, mình ngủ đi!”

***

Phương ngồi cà phê với bạn bè đến gần trưa. Minh hỏi: “Mày lại lên Đà Lạt? Sao cứ bỏ Thu ở nhà một mình?” “Tao nhớ mấy cuốn sách và không khí trên đó, ước chi tao có hai đứa con gái dễ thương như mày, Thu vẫn vậy, lúc nào cũng phim bộ” “Hồi xưa tụi bay yêu nhau kinh lắm mà, mày nói nếu Thu có coi phim bộ cả đời mày cũng không chán!” “Thu cũng từng nói có thể bán nhà để mua sách cho tao đọc, nhưng nàng cũng chán nó và đóng gói gửi tất cả lên Đà Lạt đó thôi”. Phương nghe bạn thở dài “Tụi mày lạ lùng quá!”

Gần 12g, Minh dùng xe máy chở Phương ra tới bến xe miền đông. Chàng mua một vé Đà Lạt tại quầy. Ngay lúc chiếc xe khách “chất lượng cao” lăn bánh được vài mét, Phương bật dậy, bước về phía cửa nói với tài xế “Anh thông cảm, cho tôi xuống, tôi bỏ quên một món đồ quan trọng”. Người tài xế liếc nhìn Phương rồi cho xe dừng, nhấn nút cho cánh cửa mở ra. Phương lao ra cổng, nhảy lên một chiếc taxi…

Xuống taxi ở đầu con hẻm, Phương đi như chạy về nhà. Chàng đập cổng. Không nghe tiếng Thu. Phương thò một bàn tay vô trong. Thu chỉ cài then trên. Có thể mở được từ bên ngoài. Phương mở được cổng. Cửa nhà khép hờ một cánh. Phương lao vào. Thu nửa nằm nửa ngồi trên sàn nhà, từ phần nách của nàng tựa trên cái ghế thấp. Dưới chân Thu chai rượu vang Phương để lại đã mở nút nằm ngang. Từ trong đó một chất màu đỏ chảy ra nhưng đã đông cứng trên sàn nhà. Phương đưa tay sờ mũi vợ. Khuôn mặt nàng đã lạnh. Từ miệng Thu, một chất đỏ nhưng trong suốt và đông như hổ phách dính chặt vào nệm ghế. Màn hình tivi vẫn mở, rất lạ lùng là nó đang chiếu một bộ phim Hồng Kông xưa, nhân vật nữ đang nói với người tình khi từ biệt “Bảo trọng!”.

Nguyễn Đình Bổn

7.2014

CẢM NGHĨ KHI DỪNG Ở GA ĐÔNG HÀ

*Tặng anh Nguyên Minh người ngồi đối diện
cùng tôi chờ sáng khi tàu đến ga Đông Hà.

Toa nghiêng nhịp lắc lư ngừng
Đường ray bánh nghiến chợt dừng nghe đau
Lòng trôi theo tiếng còi tàu
Trời đêm vừa ửng vệt màu từ xa.

Ga vừa đổ lại Đông Hà
Sông chia Bến Hải tàu qua bến sầu
Câu hò ngày ấy giờ đâu
Còn đau đáu nhớ chân cầu Hiền Lương.

Một thời cách một dòng sông
Người bên bờ Bắc nặng lòng bờ Nam
Máu loang thành cổ điêu tàn
Bạn ta nằm lại vết hằn tháng năm.

Gió Lào đốt thịt xương tan
Đỏ dòng Thạch Hản tóc tang chưa già
Ai về tìm bến thả hoa
Nhắc chi xương cốt đã hòa đáy sông.

Nhọc nhằn câu chuyện văn chương
Biết ai chia sớt nỗi buồn cùng ta
Đất trời chìm nổi phong ba
Tiếng chim lẻ bạn lời ca bùi ngùi

May còn chút nắng buồn vui
Đường xa cách núi ngăn đồi lạ chi
Tàu dừng đón khách rồi đi
Hồn ta ở lại đã di quan rồi.

NGUYỄN AN BÌNH

bỏ dở

toan dừng bút
buổi hôm im tiếng nói
giọng hoàng oanh thỏ thẻ bên cung son
lòng nhốt lại những muôn vàn âm điệu
vào dòng thơ bỏ dở
dư âm còn

thu trải lá
em ra ngồi hiên cửa
nhặt niềm riêng tô sắc úa vàng trôi
im lặng quá những an hoà cùng tận
muốn bước đi lại sợ
vỡ cung phần

ơi mơ ước
quảng đời dài xuôi ngược
gom lại về sân lá đổ mưa mưa
em ngồi hát sao thanh bình rất lạ
nâng đàn tôi vào nhịp
rất ân cần

đừng khép lại
van em đừng khép cổng
để tôi qua như thể chưa có lần
hãy mở rộng một mùa thu quyến rũ
có chim xanh bay bổng
ngọn mây tần

thu em ạ
mỏng bay tờ áo lụa
nhẹ hơi sương run rẩy bụi hoa mơ
mà tưởng nhớ khung trời nào cổ điển
có em qua hoàng hậu
thuở đợi chờ

toan dừng bút
ô hay lòng đâu nỡ
phút giao bôi còn mãi chén rượu nguyên
ngồi yên đấy giấc hoàng hoa thức dậy
còn nghe ra sóng nước
vỗ mạn đời

sẽ ghi vội
cho tròn câu tình ái
và này em thu trắng lắm bên sông
gượm em nhé dù cơn mơ phù phiếm
vẫn tìm ra
em
với dáng thu hiền

Phạm Quang Trung

LABOR DAY- LỄ LAO ĐỘNG CỦA HOA KỲ

Tại Hoa Kỳ, Labor Day được mừng hàng năm vào ngày Thứ Hai đầu tiên của Tháng 9, như một ngày lễ của phong trào lao động, để vinh danh những thành quả về kinh tế và xã hội của công nhân Hoa Kỳ.

Ý tưởng lập một ngày lễ Labor Day là do Matthew Maguire (một người thợ máy) hoặc do Peter J. McGuire (đồng sáng lập Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ). Peter McGuire là người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, một chuyên viên về nghiệp đoàn, muốn các công dân “đã lao động” cả năm phải được tuyên dương và có một ngày nghỉ xả hơi. Ông đã chứng kiến lễ hội lao động hàng năm tại Canada (khởi sự từ Toronto năm 1872) nên đề nghị một ngày lễ tương tự tại Mỹ.



Matthew-Maguire

Cuộc diễn hành Labor Day đầu tiên tại Hoa Kỳ được Nghiệp đoàn Lao động Trung ương (Central Labor Union) tổ chức ngày Thứ Ba 5 tháng 9 năm 1882 với khoảng 10 ngàn thợ thuyền ở New York tham dự. Họ phải nghỉ việc không lương ngày hôm đó. Cuộc diễn hành bắt đầu từ Tòa Thị Chính, qua Union Square rồi đi lên đường 42, kết thúc tại công viên Wendel’s Elm Park, nơi gặp của đường 92 và đại lộ số 9. Tại công viên có một cuộc picnic, các bài diễn văn và một buổi hòa nhạc.

Cuối những năm 1800, khi Labor Day trở thành ngày nghỉ lễ tại HK, đa số công nhân Mỹ còn phải làm 12 giờ một ngày, 7 ngày một tuần lễ. Chính trong đỉnh cao của cuộc Cách mạng Kỹ nghệ mà công nhân phải làm việc nhiều giờ như vậy mới đủ sống. Vào thời gian đó, tuy nhiều tiểu bang đã ra giới hạn về tuổi của công nhân, nhưng một số tiểu bang khác vẫn còn những em nhỏ từ 5 đến 6 tuổi phải làm việc trong các hầm mỏ, xưởng thợ hoặc nhà máy xay. Trẻ em, người già, người nghèo và di dân thường phải làm việc trong những điều kiện không an toàn và lương bổng thấp. Ngày 3 tháng 9 năm 1916, đạo luật Adamson được thông qua, quy định ngày làm việc 8 giờ. Đây là đạo luật liên bang đầu tiên quy định giờ làm việc tại các công ty tư nhân.

Năm 1887, 5 năm sau ngày diễn hành đầu tiên, Tiểu bang thứ nhất tuyên bố Labor Day là một ngày nghỉ lễ là Oregon. Tiếp sau là Colorado, New York, Massachusetts và New Jersey.

Quyết định chọn tuần lễ đầu của tháng 9 để làm Labor Day là vì đây là thời gian giữa ngày Lễ Độc lập 4 tháng 7 và Lễ Tạ ơn.

Ngày 28 tháng 6 năm 1894 Quốc hội thông qua đạo luật chọn ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 9 hàng năm làm ngày nghỉ lễ chính thức cho District of Columbia và các lãnh địa (territories). Cũng năm này TT Grover Cleveland ký một đạo luật quy định Labor Day được chính thức công nhận là ngày nghỉ lễ toàn quốc.

Tuy ngày Labor Day là để vinh danh công nhân Hoa Kỳ, nhưng nhiều người còn dùng ngày này để ghi dấu sự chấm dứt của mùa hè. Vì thế có truyền thống không mặc quần áo trắng hoặc có sọc sau ngày này. Labor Day còn đánh dấu mùa tựu trường và mùa football bắt đầu (NFL thường chơi trận banh đầu mùa chính thức vào ngày Thứ Năm sau Labor Day). Nhiều cơ sở thương mại dùng Labor Day như ngày buôn bán lớn vì có nhiều người được nghỉ lễ để tự do đi mua sắm. Đây là ngày các tiệm “sale” nhiều hàng hóa chỉ thua ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu sau lễ Thanksgiving).

Labor Day được mừng tại Canada và Hoa Kỳ nhưng có nhiều nước kỹ nghệ hóa trên thế giới cũng mừng Labor Day vào thời gian khác nhau. Nhiều nước chọn ngày 1 tháng 5 hàng năm (May Day).

Phương Nghi