TÔI VỀ TÔI HIỆN MỘNG DU

Bi kịch vàng

 

 

Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

–  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:
-May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:
-May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.

***

Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.

Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

–  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

Sau bữa tiệc cha tôi nói:_
Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

Nhưng Văn nói với tôi:

–  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lãnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cải tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

–  Nó nói gì?

–  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?
-Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
-Ừ…

Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật . Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:
-Lên chùa để tâm được tĩnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:
-Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
-Anh em cả mà. Có gì mà giận?
-Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
-Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.

Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:
-Để chú động viên nó vào.
Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:
-Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.
Và đời không đơn giản.

***

Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:
-Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.
Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:
-Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn.

Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

–  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

–  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

Văn cũng mày mi tau tớ:

–   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.

Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:
-Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

***

Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:
-Ra sao rồi?
-Nói chung là ổn.
-Vợ con sao?
-Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
-Giờ muốn gì nữa không?
-Muốn khi chết được chôn trên đất này.
-Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
-Tha phương nhớ nhà lắm.

Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

-Sao mà như nước với lửa vậy?

–   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

Nhưng.

Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

***

Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

 

  Nguyễn Trí

mưa huyền diệu

 

Hình như có nắng lên rồi. Tôi đi mở cửa nhìn trời. Nhớ em. Hình như nắng chưa muốn lên, em trong sâu thẳm chưa quên một ngày…

Vẫn còn mấy hạt mưa bay. Con hummingbird vừa xoay cánh tròn. Không hoa nào nở trong vườn. Bình minh như vậy là buồn, ôi chao!

Hình như tôi nghe ngực đau. Trái tim, lá phổi, nao nao, buồn buồn. Thơ không phải nước trên nguồn, tôi hiu quạnh quá nhai mòn chữ chơi!

Hình như tôi nói với trời, với mây mấy đám đầu hồi rưng rưng. Ờ mưa đi chớ vội dừng, cửa tôi sẽ khép cho lòng tôi đêm!

Tôi vào giường dỗ giấc thêm. Ngoài hiên mưa nhỏ giọt huyền diệu thay! Tôi thương, thương quá câu này, bỗng dưng buột miệng mà ngày hóa khuya!

Em đi mãi nhé đừng về. Con sông trăm bến mấy lìa mấy ly? Ngàn năm sau mộ phẳng lì, ôi non nước cũ, mới thì bao lâu?

*

Quê Hương tôi những ngôi lầu. Quê Hương tôi những cây cầu bủa giăng. Ai ngồi vọc nước đêm trăng, vớt tôi lên với tuổi Xuân bao giờ.

trần vấn lệ

bữa ấy

 

 

bữa ấy ngủ quên dưới nhành cây thấp
nghe mơ hồ phiến lá rụng heo may
linh hồn em cũng theo lá bay bay
trời cuối mù sương sông sầu vạn cổ

bến giang đầu nghìn năm con sóng vỗ
vào bờ đau những được mất liền kề
những tháng ngày trống vắng rất lê thê
ngực trái mảnh tim lắt lay một nửa

để nỗi buồn như lưỡi dao sắc cứa
cứ rướm hoài rồi bữa ấy mây qua
à không phải mây bữa ấy anh qua
ghé vào vá khâu thịt da liền lại

tỉ mỉ anh khâu trái tim liền lại
hồi sinh em trả vẹn nụ cười xưa
bình an em dẫu bữa ấy cơn mưa
vẫn lất phất hạt muộn phiền không dứt

hồn nhiên em bàn tay anh đánh thức
dựng đời lên tiếng chim hót ngang vườn
anh bảo đùa phải trả một dòng tương
trả cạn hết một dòng thương mới thấy

em trở về em kể từ bữa ấy
bữa trời xanh gió lồng lộng anh qua
lòng xót xa bướm quanh quẩn cội hoa
anh đánh thức ngủ quên em bữa ấy

anh tìm thấy mảnh tim em bữa ấy… .

HIỀN MÂY

LÓC CÓC NGỰA Ô

Ngựa ô khớp bạc…bông vàng…
Câu lý thơ mộng mơ màng vu quy

Ngựa chưa khớp bạc chân đi
Xe hoa ai đã đâu lì nhà em
Trách người giả ngộ không quen
Ngẩn ngơ đường đất gập ghềnh khó đi
Lóc ca lóc cóc so bì
Đường xe tráng nhựa phẳng lì nàng qua

Ngẩn ngơ một nỗi buồn ta
Gõ ly tự hát bi ca giễu mình
Thế là xong, một mối tình
Xe hoa rồ máy…Bất bình ngựa ô
Nhà nghèo chưa kịp giăng thơ
Dinh người đã rộn tiếng tơ tiếng đồng

Đanh xin hát ngọng đôi dòng
Lóc ca lóc cóc…điếng lòng ngựa ô.
Nguyễn Liên Châu

 

Đất lành chim đậu

Trưa ngày 16 tháng 9, 1889 cả trăm ngàn người đã sắp hàng ngang trên lưng ngựa, wagon, xe đạp và cả chân trần. Khi tiếng còi và súng lệnh cất lên thì tất cả lao về phía cuối chân trời để giành đất. Bụi mịt mù, vó ngựa hối hả, tiếng roi quất ngựa, tiếng bánh xe lăn, âm thanh náo nhiệt hỗn độn vì tương lai nằm trong tầm tay họ.

Họ cầm một lá cờ, miếng đất đã được quy hoạch và đo đạc trước có cắm cột mang số lô. Ai đến trước sẽ được lô đất tốt ở phố hay với mạch nước, đồi cao, đất bằng. Ai đến sau chỉ còn miếng đất thô sỏi đá… Chính quyền chỉ có 7 tuần để chuẩn bị. Tuy vậy tin tức được thông báo khắp nơi, lan tới tận Châu Âu. Gần đến ngày ấn định đã có hơn 50 ngàn lều dựng quanh bốn phía của lãnh thổ. Ðã có nhiều người lén vào khu đất hoang đêm hôm trước, ẩn núp trong các mương rãnh, chờ tiếng còi phát hiệu là đóng cọc giành chỗ. Những người giành đất bất hợp lệ này được gọi là sooner (người đến sớm.) Họ là những viên chức cảnh sát, chuyên viên đo đạc, làm cho đường sắt và vài người bỏ tiền mua tin tức. Ðến cuối ngày hôm ấy thì 2 thành phố Oklahoma City và Guthrie trong chớp nhoáng nửa ngày đã có đến 10 ngàn người. Ðường phố được phân bố, nhà ở và công sở được phân chia. Và hội đồng thành phố được bầu ra. Người định cư lập tức đào móng, lót ván. Nhiều người đứng xếp hàng làm thủ tục giấy tờ chủ quyền. Trẻ em múc nước suối bán cho người xếp hàng trong nóng nực và bụi bặm 5 xu một cốc. Nhiều trẻ khác gom phân bò buffalo làm củi đốt nấu ăn. Ðến tuần thứ nhì thì trường học được xây, thầy cô giáo làm tự nguyện được trả thù lao từ các bậc cha mẹ, trong khi chờ thành phố chi trả và hình thành học khu. Tháng sau thì Thành phố Oklahoma có 5 nhà băng và 6 tờ báo. Năm 1908 trường đại học Oklahoma lấy tên Sooner cho đội bóng bầu dục của mình. Không lâu sau đó Oklahoma được gọi là The Sooner State.

dat-lanh-chim-dau4
Dân xếp hàng ghi tên giành đất ở Cherokee Strip ở Oklahoma, 1893.

Ðã có 7 lần người Mỹ được giành đất miễn phí trong tiểu bang Oklahoma. Vùng đất nằm ở trung tâm của tiểu bang thuộc các bộ tộc da đỏ. Trước đó các nhà thám hiểm da trắng thấy vùng đất quá khô cằn, không lý tưởng cho định cư, dành nơi để quy tụ người da đỏ năm 1817. Vào cuối thế kỷ 19, kỹ nghệ nông nghiệp phát triển và nội chiến kết thúc, người Mỹ cần đất hơn bao giờ hết. Vì thế năm 1889 Tổng thống Benjamin Harrison cho phép 2 triệu mẫu đất hoang được đua giành vì chưa phân bố cho bộ tộc nào.

Ðó là bức tranh về sở hữu đất đai ở Oklahoma. Trên toàn nước Mỹ thì bắt đầu sau khi Abraham Lincoln ký Ðạo luật đất ngụ cư 1862. Hơn 270 triệu mẫu đất công, gần 10% diện tích nước Mỹ được chia cho 1.6 triệu gia đình, phần lớn là người ở phía Tây sông Mississippi. Năm 1852, một nhóm các chính khách cùng Ðảng Cộng Hòa trước nội chiến đã đề nghị vận động cho sở hữu đất đai miễn phí. Phe miền Nam vì lợi ích dùng nô lệ muốn sử dụng các miền đất lớn cho nông trại. Phe miền Bắc lại chống việc nô lệ và muốn tư hữu hóa đất đai cho mọi cá nhân. Năm 1854 đạo luật sở hữu đất đai đầu tiên được đề nghị nhưng gặp phải chống đối trong quốc hội. Mỗi người muốn định cư trên vùng đất mới phải trả 25 xu cho 1 mẫu. Luật được Quốc hội chấp thuận năm 1860, tuy vậy Tổng Thống Buchanan lại phủ quyết. Mãi đến thời Abraham Lincoln đạo luật mới thực thi. Tất cả mọi cư dân được hưởng chính sách này, từ di dân đến phụ nữ độc thân, từ nô lệ được trả tự do đến nông dân không có đất. Với đạo luật này, bất kỳ nam nữ 21 tuổi hay chủ gia đình có thể sở hữu 160 mẫu đất hoang bằng cách sống ở đó 5 năm với 18 đô lệ phí. Họ buộc phải xây nhà và cải thiện miếng đất, trồng trọt… Hoặc bằng cách khác như mua 1.25 đô/mẫu sau khi sống trên mảnh đất đó 6 tháng. Họ phải đăng bạ ở văn phòng điền địa, sau khi miếng đất được điều tra chủ quyền, đóng lệ phí 10 đô tạm thời sử dụng đất và 2 đô cho dịch vụ, hai người láng giềng làm chứng. Sau khi hoàn tất thủ tục họ sẽ được cấp giấy chủ quyền có chữ ký của Tổng thống. Giấy cấp được hãnh diện treo trên tường như kết quả của quyết tâm và sự cố gắng làm việc. Người đầu tiên mua đất dựa theo đạo luật Homestead là  Daniel Freeman cho 1 nông trại ở Nebraska vào 1 tháng 1, 1863. Ông và vợ sống ở đó cho tới già và chết năm 1931. Trang trại được đưa vào danh sách bảo tàng quốc gia.

dat-lanh-chim-dau3
Một người dân đứng trên lô đất ở Guthrie, Oklahoma, 1889.

Ðến năm 1866 thì đạo luật thay đổi và điều chỉnh theo từng vùng và từng thời gian, với nhiều lý do xung đột trong 2 đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, miền Bắc và miền Nam, bảo thủ và cấp tiến, cùng các lo sợ đạo luật sẽ thu hút nguồn di dân từ Châu Âu và người nghèo từ phía Ðông, cũng như các biến chuyển trong xã hội khi đến khai thác vùng đất mới. Ðạo luật đất ngụ cư ở phía Nam 1866 giúp các nông dân và người nghèo như kế hoạch “người cày có ruộng”, họ sẽ có thu nhập và dần sở hữu trên mảnh đất làm thuê bằng sức lao động của mình. Ðây là thời gian sau nội chiến nhằm tái thiết nước Mỹ. Và chương trình này không thành công vì lợi tức thấp và lệ phí cao. Tiếp đó là Ðạo luật trồng cây rừng năm 1873, người dân sẽ có 160-320 mẫu đất nếu trồng 1/4 cây rừng trên vùng đất, đó là đất Tây Nebraska sau này.

Vào cuối thế kỷ 19 thì các vùng đất chính màu mỡ dọc các sông suối đã bị chiếm hữu, trong khi hơn 570 triệu mẫu đất hoang khô cằn còn rộng mở. Nhưng rất ít trong số đó phù hợp cho nông nghiệp. Khi miền đất bằng phẳng của trung Mỹ gọi là Great Plains được khai phá thì số dân định cư gia tăng hơn khi chính phủ cho trên 320 mẫu. Làn sóng di dân đổ xô đến canh tác trồng trọt với các phương pháp không phù hợp, phơi trần lớp đất bề mặt dẫn đến hậu quả tai hại cho các cơn bão bụi sau này. Ở Wyoming, Montana và Colorado đất đai được chia thành mảng lớn rộng hàng trăm mẫu, nơi miếng đất lý tưởng cho các trang trại của cao-bồi. Những miền đất rộng này bao gồm các sông suối, giếng nước ngầm. Ðiều này dẫn đến các mâu thuẫn tranh giành khốc liệt giữa các điền chủ, có khi kết thúc bằng chết chóc hận thù gia đình.

Ðiều oái oăm là Ðạo luật đất ngụ cư bị lợi dụng để đánh lừa nhiều người. Những miếng đất khô cằn, sỏi đá và bạc màu không phù hợp cho trồng trọt, nơi thường xuyên hạn hán nhiều năm, nhiều cư dân đã phải bỏ đất mà đi sau vài năm không trồng trọt được gì. Trong khi ấy đạo luật buộc cư dân phải ở trên miếng đất đó 5 năm mới được làm chủ. Một vài đại công ty đã lợi dụng đạo luật để làm giàu. Họ đã trả thật cao cho cư dân để mua lại các miếng đất có giá trị, nơi có rừng gỗ, khoáng sản, nguồn nước và dầu mỏ. Sau đó họ khai là đã cải thiện đất, trong khi thật sự họ đã khai thác và tàn phá nhiều hơn. Vì lẽ đó Ðạo luật được sửa đổi năm 1912, áp dụng cho dân định cư chỉ ở trên đó 3 năm thay vì 5 năm như trước đây. Tuy vậy đến thời điểm này phần lớn các vùng đất của 48 tiểu bang đã được mua hết. Các di dân sở hữu đất dần chấm dứt vào năm 1976. Ngoại trừ Alaska vẫn còn áp dụng cho đến năm 1986.

Ðạo luật đất ngụ cư 1862 đã giúp cho người dân Mỹ có nhà cửa và đã góp phần tạo nên nước Mỹ giàu có thịnh vượng ngày nay. Ðất nước sẽ không hiện hữu nếu không có người dân. Nước Mỹ, nơi đất lành chim đậu. Như câu chuyện giành đất năm 1889 ở Oklahoma, được Tom Cruise và Nicole Kidman đóng rất hay trong phim Far & Away năm 1992, trong đó đôi tình nhân từ Ireland đến Mỹ định cư. Cũng như bạn và tôi, những cánh chim phi xứ, đậu trên mảnh đất lành.

dat-lanh-chim-dau1
Một góc phố miền Tây năm 1930.

SEAN BẢO

Dạo Khúc 58

Những lời hai kẻ yêu nhau chưa kịp nói với nhau
Thì ngày đã tắt
Nắng đã phai mầu
Thời gian phơi thành muối trắng
Rơi xuống vũng sâu
Biển đã mặn lại càng thêm mặn
Bầy cá ngỡ ngàng chẳng hiểu vì đâu…

Những lời em nói bên anh trong lần gặp gỡ ban đầu
Bây giờ biêng biếc ánh sao
Đêm hè xanh ngắt
Muốn rơi như nước mắt em ngày nào
Lòng anh chẳng hiểu vì đâu…

Nguyễn Quang Tấn

Chấm Phết

Trái tim tôi
(chấm)
(xuống hàng)
Nay xin nạp mạng
(gạch ngang)
cho người
Em thênh thang
(phết)
mây trời
Còn tôi
(hai chấm)
như loài bung xung
Em thanh khiết
(phết)
tựa trăng
Còn tôi
(chấm hỏi)
giống thằng cuội thôi
Đêm rằm dựa gốc đa chơi
Nhìn thiên hạ
(chấm)
mình tôi một mình
Quan Dương

New Orleans! cho tôi nói một lời xin lỗi

 

Cái tựa bài viết này tôi mượn từ một tờ báo Pháp. Hôm qua, chiều thứ bảy, lên phi trường Gardemoen Oslo đón vợ chồng đứa con trai út nghỉ hè từ Tây Ban Nha về. Chuyến bay đến trễ 40 phút. Trong lúc chờ đợi tôi tạt vào quán cà phê, tìm một chỗ ngồi. Nhìn trên giá báo, tôi bất ngờ đọc được cái tựa lớn trên một tờ báo Pháp:” La Nouvelle Orléans! Je demande pardon! “. Vốn liếng Pháp văn chỉ bì bõm vài ba chữ, nhưng vì tò mò, tôi cầm tờ báo lên tìm đọc.

Bài viết của một cô gái Pháp, có một thời lớn lên ở New Orleans. Năm mười hai tuổi, cô bé theo gia đình về lại quê cha. Từ đó cô chưa có lần trở lại New Orleans. Môt thành phố xinh đẹp, thơ mộng và lãng mạn. Isle d’Orléans của tổ tiên cô bé bao đời về trước. Với cô, nó là “một Pháp Quốc của thời thơ ấu”. Đã bao nhiêu năm về sống tại một vùng ngoại ô Paris, nhưng mỗi buổi sáng thức dậy, dư âm tiếng nhạc Jazz dọc theo con đường Bourbon trong khu Vieux Carré vẫn còn rộn rã bên tai, mùi thơm từ quán Café du Monde trong French Quarter vẫn còn làm cho cô ngây ngất. Nhưng quan trọng hơn hết là ở nơi đó, cô còn có biết bao hang động tuổi thơ. Cô ân hận, vì đã trót bỏ lỡ hai cơ hội khá lý tưởng để trở lại thăm thành phố yêu dấu xưa. Cách đây ba năm, khi cô vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ và người anh của cô trở lại thăm New Orleans, trong lúc cô theo bạn bè cùng lớp tổ chức một trại hè chia tay trên một hòn đảo ngoài khơi bờ biển Nice. Cô hẹn với cha mẹ sẽ sang thăm New Orleans một mình vào hè năm sau. Nhưng khi vào đại học, cô quen một người bạn trai và sau đó cô yêu chàng. Mùa hè năm ấy thay vì đi New Orleans, cô theo người yêu về quê ở Marseille ra mắt bố mẹ chàng. Hè năm sau, cô ngỏ ý với người yêu rủ chàng cùng sang New Orleans, nhưng chàng ta hẹn chờ thêm hai năm nữa, làm đám cưới, chàng sẽ đưa cô sang đó hưởng tuần trăng mật cho thật tròn ý nghĩa. Cô cám ơn thiện ý này. Nhưng rồi cuối mùa thu năm ngoái, buổi sáng, khi lái xe tới giảng đường, một tai nạn giao thông đã làm cô tê liệt cả hai chân. Mùa hè vừa qua, khi cô còn nằm trên giường bệnh, thì người yêu đã làm đám cưới với một cô con gái khác. Điều đau lòng, cô gái này lại chính là cô bạn thân của cô bé.

Khi được cha mẹ an ủi về những điều bất hạnh, cô bé bảo điều cô ân hận không phải là cái kết thúc bi thảm của một cuộc tình tưởng chừng đẹp nhất, mà chưa có lần được trở lại thăm La Nouvelle Orléans thời thơ ấu của cô. Cha mẹ hứa nhất định sẽ đưa cô bé đi khi tình trạng đôi chân khá hơn.

Khi xem trên truyền hình, cơn bão Katrina tàn phá New Orleans, nhìn thấy cả một thành phố đẹp đẽ của cô ngày xưa bây giờ ngập trong biển nước, cô khóc nức nỡ, vì biết rằng chẳng bao giờ cô còn nhìn thấy lại một La Nouvelle Orléans của cô. Cô đã mất “quê hương thời thơ ấu” Cô cảm thấy mình có tội với New Orleans, nên đêm nào trong giấc ngủ, cô cũng gọi: ” New Orleans ơi ! Xin hãy tha lỗi cho tôi “.

Tôi biết tên thành phố này khi còn ở Việt Nam. Khi ra tù, tôi mới biết ông anh họ, con ông cậu của tôi, là một trong những người đầu tiên trong làng, vượt biển. Trước kia anh là một hạ sĩ quan thông dịch, lương ba cọc ba đồng. Sau đó không biết nhờ đường giây nào anh lại được “biệt phái” cho công ty RMK của Mỹ. Chỉ vài năm sau anh trở nên giàu có, lấy một cô vợ gốc Tàu Chợ Lớn. Vợ chồng có phần hùn trong hãng sữa Ông Thọ và nhà máy Xi Măng ở Thủ Đức. Sau tháng 4 /75, anh nhanh chóng hiến hết tài sản cho nhà nước để khỏi bị đánh “tư sản mại bản” và tình nguyện bỏ vốn liếng còn lại thành lập một hợp tác xã “đánh bắt hải sản”. Thấy anh sớm “giác ngộ cách mạng”, nhà nước chấp nhận thỉnh cầu và cấp giấy phép cho anh. Sau khi làm lễ hạ thủy chiếc tàu máy đầu tiên, người ta không thấy anh trở lại.

Khi tôi về, cả làng nói về anh. Khen anh ta vừa khôn ngoan lại vừa có tấm lòng. Cùng đi trên chiếc tàu của anh, có đến hai mươi anh em bạn bè vừa đi tù “cải tạo” trở về, anh đã giúp cho đi theo không tốn một đồng.

Định cư ở New Orleans, nhờ có kinh nghiệm làm ăn ở Việt Nam, cộng với một số vốn liếng mang theo, anh lập một tổ hợp công ty đánh cá. Anh mua mấy chiếc tàu biển hiện đại, và kêu gọi tất cả những bà con đồng hương nào chưa tìm được việc, về New Orleans cùng nhau làm ăn với anh. Chỉ hai năm sau, công ty của anh phát đạt, anh trở thành một trong những người tị nạn giàu có sớm.

Anh gởi cho tôi một số tiền, nói bóng gió là tìm mọi cách vượt biên. Đừng lo lắng vấn đề kinh tế khi sang Mỹ. Anh sẽ bảo lãnh cả nhà sang New Orleans để sống với anh. Hai năm sau, tôi cùng vợ con vượt biển sang đảo Bataan, Phi luật Tân. Gởi cho anh mấy lá thư nhưng chờ mãi không thấy hồi âm. Sau này, qua thư của một nguời bà con khác ở Cali, tôi mới biết, trong lúc làm ăn, anh đã đụng chạm với băng KKK, nên phải bán đổ bán tháo tàu bè, bỏ New Orleans, chạy mãi lên tận Detroit, Michigan, để tránh tai họa. Rời trại tị nạn Bataan, tôi không đến nơi đã từng hẹn trước, thành phố New Orleans, mà lại sang định cư tận một xứ Bắc Âu xa lạ. Không biết có phải do một lần lỡ hẹn, mà cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn không có duyên mà chỉ có nợ với New Orleans.

Sau những đợt HO, bạn bè tôi tìm tới New Orleans khá nhiều. Những sinh hoạt cộng đồng ở tiểu bang Louisiana, mà trụ cột là thành phố New Orleans này rất thành công, nhờ vào nhiệt tình và lòng đoàn kết của anh em. Louisiana là tiểu bang đầu tiên ban hành Nghị quyết Cờ vàng. Lý Tống cũng “từ thành phố này.. người đã ra đi “.

Trong số bạn bè ở New Orleans, tôi có hai người bạn thân thiết. Nhưng hai người là hai mảnh đời khác biệt. Một người là bạn cùng đơn vị lúc xưa, nhanh chân đến đây năm 75 cùng với những người Việt tị nạn đầu tiên. Kinh tế gia đình vững vàng cũng như con cái đều đã thành công từ lâu. Đứa con trai lớn là bác sĩ giải phẫu não bộ, tiền vào như nước. Cô con gái là quản đốc thư viện trong một đại học danh tiếng. Bây giờ vợ chồng đi nhiều nơi xây chùa, hưởng phước. Người thứ hai là bạn học cùng lớp, cùng quê Ninh-Hòa với bà xã tôi, và cũng là nhà thơ mà tôi rất hâm mộ. Bởi tất cả những bài thơ, tập truyện, anh đã viết thay cho nỗi lòng của những thằng lính, đã trải qua thời kỳ nghiệt ngã như tôi. Anh chàng cùng gia đình sang Mỹ muộn màng theo diện HO. Thời gian chưa đủ để lành những vết thương, thì hơi sức đâu mà lo chuyện làm giàu, nên vốn liếng chỉ còn có tấm lòng, và gia tài chắc chiu chính là những bài thơ buồn đứt ruột. Sau này tôi trở thành người bạn già của anh. Tôi thích anh chàng, không phải chỉ vì tài thơ văn, mà lòng còn nặng tình “huynh đệ chi binh” và cái tính lúc nào cũng tếu, hoàn cảnh nào cũng cười thoải mái “lính mà em”.

Sáng thứ bảy 27 tháng 8, tôi ngủ nướng, lúc thức dậy, theo thói quen, bật TV, tìm đài CNN nghe tin tức. Dạo này sao thế giới có nhiều biến động quá. Có tin cơn bão Katrina từ vịnh Mexico, qua Florida và sắp sửa đổ bộ vào thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana. Ông thị trưởng thành phố New Orleans rồi tới bà thống đốc tiểu bang Louisiana kêu gọi dân chúng New Orleans phải rời khỏi thành phố, tránh bão. Tôi nghĩ bão mà vào Florida và New Orleans, cũng chẳng khác gì một cô gái đẹp, khó tính (cô nào đẹp mà chẳng khó tính ? ) bất ngờ ghé thăm người tình, không hẹn trước. Có ghen tuông, hờn dỗi mấy thì lúc ra đi cũng chỉ làm chàng trai tơi tả, buồn bã một đôi ngày rồi đâu cũng vào đó mà thôi. Cũng như mấy lần trước, bão ghé thăm nhà thơ Vinh Hồ, nhà thơ Đường có tâm Phật của Ninh-Hòa, cũng chỉ mang theo mấy cây bưởi, cây khế, chưa có khả năng làm mất đi một “mảng vườn quê hương” mà nhà thơ đã mang theo từ Điềm Tịnh.

Tôi gọi phôn cho hai người bạn. Nghe tiếng điện thoại reo, nhưng không ai bốc, tôi cười, thầm nghĩ là hai cha này rút kinh nghiệm xương máu từ tháng 4/75, nên đã nhanh chân bỏ của chạy lấy người. Tôi bèn viết e-mail vừa hỏi thăm vừa đùa (Hai hôm sau, tôi ân hận về cái đùa này lắm). Ông bạn cùng đơn vị cũ, thì tôi biết chắc đã bay sang thằng con trai bác sĩ ở Dallas, tôi bảo ” thôi thì lâu lâu ông bà lên Dallas vừa bồng cháu nội vừa hưởng tuần trăng mật”. Còn ông bạn nhà thơ với bà vợ, vốn là người đẹp một thời của quê quán Quang Trung, không biết đang trôi dạt về đâu. Trong cái mail tôi còn hỏi đùa: ” là lần di tản này có bi thảm hơn hồi di tản 75 không ? ” Còn dặn anh bạn trẻ nhớ làm một bài thơ chạy bão nữa chứ. Mấy tiếng đồng hồ sau, tôi nhận đuọc e- mail của cả hai. Không hoàn toàn như tôi nghĩ, ông bạn giàu kia không sống êm ấm ở nhà cậu con trai trên Dallas, mà lại mang tiền cúng dường cho một ngôi chùa ở đâu đó trên Houston để cùng giúp đỡ cho bà con cùng chạy nạn. Còn ông bạn nhà thơ thì cũng chạy thoát được đến Houston, tá túc ở nhà một người quen tốt bụng. Trong hoạn nạn mà anh vẫn cười như không, anh ta chỉ lo nước làm trôi mấy con dế sau hè, để mai mốt anh về không còn nghe tiếng gáy, và cây bưởi chính tay anh trồng mới vừa nở hoa trắng xóa chắc cũng đã bị “cuốn theo chiều gió”mất rồi. Đúng là một nhà thơ. Hôm sau, bà con  nghe được bài thơ BÃO RƯỢT của anh được đọc trên đài VOA. Tôi yên lòng mà thấy tội nghiệp cho anh.

Không ngờ chỉ hai hôm sau, khi xem truyền hình, tôi thẫn thờ khi thấy cả thành phố New Orleans dần dần chìm trong biển nước. Buồn hơn nữa, khi bên cạnh những thê lương chết chóc, là những cướp bóc, hổn loạn. Lòng tôi thắt lại khi người ta gọi New Orleans đã chết, bây giờ chỉ là một thành phố ma.

Khi đoàn xe quân đội đầu tiên mang theo lính cùng thực phẩm cứu trợ mò mẫm theo những con lộ chính ngập sâu trong nước, “bơi” vào thành phố, tôi nhìn thấy cây cầu Causeway nằm chơ vơ lạc lõng trên biển nước mênh mông. Dường như nó là cái biểu tượng duy nhất mà tôi còn thấy được của cái thành phố một thời đẹp đẽ và lãng mạn nổi tiếng của nước Mỹ. Cây cầu mà nhà thơ Quan Dương mỗi lần lái xe qua là nhớ đến cây cầu Dinh trong con phố nhỏ Ninh-Hòa. Tôi chạnh lòng khi thấy những chiếc trực thăng bay trong mưa gió, thả xuống từng bao đá nhỏ để lấp chỗ vỡ của con đê ngăn nước từ hồ Pontchartrain. Tôi có cảm giác vô vọng, như một ông bác sĩ đang cố may lại vết mỗ của một người ung thư tới thời kỳ cuối cùng, trong cơn hấp hối.

Tôi biết, như vậy là hết. Mãi mãi không bao giờ còn New Orleans để tôi đến thăm như bao lần đã hẹn.

Ngay từ khi mới sang định cư ớ Nauy, tôi được ông bạn đến New Orleans năm 75 gọi phôn sang thúc tôi và sẵn sàng tặng không tám cái vé máy bay cho vợ chồng tôi và sáu đứa con sang thăm thành phố mà anh ta hết lời ca ngợi. Lúc ấy tôi vừa học vừa làm, lại không muốn phiền lòng bè bạn, nên hẹn hai năm sau. Hai năm sau gia đình tôi sang Florida thăm cô em con bà cô, theo chồng sang Mỹ từ năm 70, và gởi lại đứa con gái lớn theo học ở đây. Dự trù tuần cuối sẽ sang thăm gia đình ông bạn vàng ở New Orleans. Nhưng đêm trước ngày lên đường, ông em rể bị cơn bệnh tim phải vào nhà thương cấp cứu. Tình trạng nguy kịch, tôi không thể bỏ cô em lo lắng một mình (mặc dù sau đó ở lại tôi cũng chẳng làm được việc gì). Đành lỗi hẹn với New Orleans.

Năm sau cả nhà tôi sang Houston dự đám cưới của một ông bạn khác, mà cô vợ là con ông bà chủ nhà ở phố Tuy Hòa, ngày xưa cả hai thằng tôi đóng quân…nhờ trước mái hiên. Vợ chồng ông bạn New Orleans cũng có mặt suốt mấy ngày, mang theo thêm một chiếc xe “van”, áp tải bọn tôi về dưới ấy. Nhưng hôm đám cưới bọn tôi gặp lại hơn hai trung đội bạn bè đồng đội cũ, nhất định giữ bọn tôi lại Houston. Phe đa số thắng thế. Vợ chồng anh bạn New Orleans đành phải ở lại với bọn tôi thêm mấy ngày, trước khi xách xe không trở về tuyến xuất phát. Như vậy là lần thứ hai tôi lỡ hẹn với New Orleans.

Hai năm sau, cô con gái lớn ra trường, được một công ty ở Houston nhận vào làm, vợ chồng tôi lại sang Houston và lại gặp anh bạn New Orleans lên đón. Mấy năm sống ở Bắc Âu, bà vợ Ninh-Hòa của tôi không chịu nổi cái nóng mùa hè của Texas, nên long thể bất an. Thay vì theo ông bạn về New Orleans, thì bọn tôi rủ rê anh ta bay xuống Cali thăm đám bạn cùng KBC mới sang theo diện HO. Tôi lên mặt thánh thiện, ” nên đến với đám bạn bè cùng khổ “. Động lòng trắc ẩn, nên anh bạn, thay vì bắt bọn tôi theo về New Orleans thì lại đi theo bọn tôi xuống Tiểu Sài Gòn.

Sau này chúng tôi có thêm ông bạn nhà thơ, gốc Ninh Hòa. Ngoài nhiều thứ tình, anh ta còn chung thủy với một thứ tình có đủ thứ “bi hùng” là tình lính. Hội hè nào có lính là có anh đứng hàng đầu. Mùa hè năm ngoái, Tổng Hội Cựu SVSQ Thủ Đức đại hội tại New Orleans, bởi những cựu alpha đen ở Louisiana là những con chim đầu đàn. Anh bạn nhà thơ “dành chỗ” cho vợ chồng tôi từ giữa mùa đông. Cả nhà tôi sang Cali, để lo tìm chỗ ở cho ba cô con gái đang làm việc ở đây. Đúng cái ngày hẹn lên với ông bạn nhà thơ, thì cũng là lúc phải bám theo trả giá một cái nhà vừa ý cho mấy cô con gái. Đành phải làm buồn lòng anh bạn nhà thơ và xin hẹn với New Orleans, rồi thế nào cũng có một ngày tương ngộ.

Nhưng rồi, bão đi nhanh hơn con người. Mặc dù Katrina không hề hẹn trước, vậy mà nàng đã đến sớm hơn tôi. Mang cái tên đẹp đẽ, nhưng nàng lại là mụ phù thủy ác độc, chỉ trong phút chốc đã biến New Orleans thành một bãi tha ma hoang địa, điêu tàn. Để hai người bạn thân thiết của tôi phải có thêm một lần di tản nữa.

Còn tôi, sẽ mãi mãi là một người lỗi hẹn. Làm sao tôi có thể tìm được quê hương của nhạc Jazz, mà Louis Armstrong đã trở thành vĩ đại khi chọn nơi đây để khai sinh sự nghiệp âm nhạc lừng lẫy của mình. Làm sao tôi có cơ hội để được đi bộ trên con đường Bourbon trong khu phố French Quarter của cô bé người Pháp bị tê liệt đôi chân. Tất cả đã trở thành huyền thoại.

Tôi biết, với sự giàu có và vĩ đại của nước Mỹ, người ta thừa khả năng xây dựng lại một thành phố mới trên New Orleans đổ nát, hoang tàn. Hai người bạn thân thiết của tôi rồi mai này cũng trở về lại niệm kinh và làm thơ trên nền nhà cũ. Thành phố mới chắc chắn to lớn hơn, sang trọng, hùng vĩ hơn. Nhưng đó không phải là New Orleans, mà sẽ là một New New-Orleans lạ lẫm.

Tôi nhớ lại cái tâm trạng trở lại quê nhà sau mười mấy năm biệt xứ. Tôi lạc lõng giữa Sàigòn, với nhiều nhà cao tầng và những con đường tràn ngập những chiếc xe gắn máy trong buổi trưa hè ồn ào, cháy nắng. Khó khăn lắm mới băng qua được những ngã tư, cho dù có đèn xanh đèn đỏ, tôi vẫn không tìm lại được “con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều công viên mây trời xanh ngắt” thuở nào. Sàigòn bây giờ không còn là của tôi nữa. Còn New Orleans, sau bao lần lỡ hẹn, mãi mãi trong tôi chỉ còn là cổ tích.

New Orleans ơi, La Nouvelle Orléans ơi ! Cho tôi xin được nói một lời xin lỗi.

Phạm Tín An Ninh
Vương Quốc Nauy

bóng tối buồn không lời

 

bóng tối buồn không lời… Sérenade

 

nghe như chiều đang tới
dìu đất trời sang đêm
tôi về khuya chân mỏi
đụng nỗi sầu chênh vênh

 

phải mịt mùng bóng tối
che kín đời phù hư ?
cả một trời hấp hối
rụng xuống hàng kinh thư

 

tiếng chuông sầu cuối mộ
dựng giữa chiều hư không
một loài dơi cánh vỗ
chập choạng bóng ngô đồng

 

đêm tràn đầy tuyệt vọng
trong tôi đời héo khô
đợi em về viễn mộng
khi hồn mình sóng xô

 

gã thiền sư lần hạt
chánh điện buồn khói bay
suốt một đời theo Phật
chợt thấy mình trắng tay

 

bóng tối là cơn mộng
trãi xuống đời mênh mông
có ai ngồi mong ngóng
một cõi về hư không

 

dấu đêm tràn mắt lệ
tiển tôi lời chia phôi
tiếng chuông buồn kinh kệ
như bóng tối không lời…

nguyễn minh phúc

mùa Phật đản 2017