MỘC BẢN

10735644_826194720769236_378143114_n-1

bắt đầu từ cây
và đôi bàn tay
mộc bản khai sinh và lời ghi trên giấy

bắt đầu từ đâu
chúng ta yêu nhau
để những bài thơ lởn vởn trên đầu

những lần mỉm cười vu vơ
chân đá những bất kì trên đường đi ngang qua
và về nhà
nỗi nhớ như sợi giây thừng cột chúng ta vào với nhau
đó là phút ban đầu
của tình yêu

không có một nguòi
không có hai
trong tình yêu
không có nguòi yêu và người được yêu
không có anh không có em
không có mặt trăng không có mặt trời
chỉ có tiếng gọi nhau trong đời
lời ghi
trên mộc bản…

NGÔ YÊN THÁI

BUỔI SÁNG CUỐI NĂM

 

 

nguyenleuyen                                              

Thị trấn kéo dài từ những dãy đồi thấp, thoai thoải đổ dần ra phía bờ sông. Phố xá, cửa tiệm tập trung trên hai trục đường cắt chéo hình chữ thập. Chợ và bến xe ở cuối một rạp hát bỏ trống , chỉ còn lại mấy mảng tường bị ngã đổ từng đoạn, trơ vơ quanh đám cỏ mọc xanh um. Các tiệm ăn, quán giải khát xếp thành dãy dài phía bên này đường, đối diện các công sở là những căn nhà ngói cũ kỹ, ẩm thấp. Trên đầu thị trấn ngó xuống, những nóc nhà lô nhô nép bên những hàng cây cao dọc đường lù mù trong lớp sương đục và bầu trời đen đậm. Thị trấn lúc này giống như một bức ký họa của người họa sĩ phác thảo lúc anh ta đang chếch choáng hơi men, ẩn hiện không rõ ràng.

Những ngày giáp tết, thị trấn bổng ồn ào hơn. Thấp thoáng có chút màu sắc của bông hoa, màu sắc của áo quần trẻ con và hàng hóa chất đầy trong tiệm. Một vài căn nhà được làm mới bằng những mảng vôi quét màu sặc sỡ viền ở những đường hoa văn trước mặt tiền. Trời âm u liên miên, không thấy hé ra chút nắng khiến những phụ nữ, những người đàn ông có tuổi luôn thấy mập hơn, to và lụng thụng mỗi khi xuất hiện trên đường.

Căn nhà người thanh niên đang trú ngụ nằm ngay dưới chân vách núi đá, chỗ cao nhất trong thị trấn. Ở đây có thể nhìn bao quát khắp một vùng rộng lớn bao quanh. Mỗi sáng thức dậy, anh thường ra đứng trước khoảnh sân hẹp nhìn mặt trời từ dưới sông nhô lên rực rỡ. Anh nắng loá sáng con đường đất đỏ, ửng màu mây đỏ trên những mái ngói xuôi dọc hai bên đường; ở phía tây, tít đằng xa là nóc nhà thờ chỉ còn trông thấy tháp chuông nhấp nhô trong những đám ruộng mía xanh màu ngọc bích. Đó là con đường đất chính nối các buôn làng với thị trấn, với những chiếc gùi nhỏ xíu trên lưng những người miền núi, có thể trông thấy từ xa … Giờ đang cuối mùa mưa, nhưng bầu trời chưa lúc nào lộ nắng để anh phải khốn khổ lơ mơ, tơ tưởng một chút nắng để thấy những con đường đất đỏ, những mái nhà ẩm rêu rực rỡ những ngày trước kia bớt vẻ lạnh lẽo trong những ngày cuối năm. Cái lơ mơ đột ngột bị đẩy bay ra ngoài, khi bên tai anh nghe vang lên giọng nói rành rọt:

-Chú có bận gì không?

Người đàn ông mặc áo len màu chì nhô hẳn đầu qua khung cửa, hỏi bằng một giọng thân mật; theo sau ông là con chó rẫy có bộ lông xám màu đá núi. Ong ta là người hàng xóm, thỉnh thoảng tạt qua nói vài câu vu vơ về chuyện con cái, thời tiết, mưa nắng rồi đột ngột đứng dậy ra về, không mục đích rõ ràng.

-Không. Hình như không bận gì!

Hình như anh đang nói dối với người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Kỳ thực anh chẳng phải rờ đụng chân tay vào công việc nào trong lúc này, để gọi là bận. Nhưng con mắt và đầu óc anh thì bận thiệt. Vì khi người đàn ông bước chân qua cổng cũng là lúc trời hửng lên. Một chút nắng hiếm hoi kéo thành vệt dài, thình lình rớt xuống khoảnh vườn trước sân nhà làm ửng lên màu vàng rực rỡ. Cả khoảnh vườn như sáng hẳn, nổi lên những đường viền màu xanh khép nép, và bên trên, nhô lên cao lô xô là những búp vàng mượt của mấy luống vạn thọ. Hiếm khi có màu sắc tuyệt vời như thế giữa tháng Chạp âm u mưa, âm u những đụn mây đen áp sát đọt cây…

-Thằng Doãn gửi lời thăm chú.

-Dạ vâng, Doãn.

Màu nắng và những búp vạn thọ như đang thì thầm, rủ rê, giống hệt mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm í ới hẹn hò xuống phố đứng dán mắt trước các cửa tiệm, nhìn chăm chăm những tấm áo mới đủ màu xanh đỏ…. Những đứa trẻ chạy lăng quăng có vẻ như có một liên hệ báo trước những ngày tết đang cận kề.

Bộ mặt ủ dột, lấm láp những ngày mưa sắp bắt đầu xoá nhoà dẫn sau những ngày dài làm tình làm tội những con đường đất lầy lội, những lùm cây úng vàng và cả mùi ẩm mốc bám đầy những bức tường vôi chung quanh nhà…

-Nó gửi về chai rượu quí, tôi…

-Vâng, chai rượu…

Chai rượu trong tay người đàn ông thình lình làm bầu trời đứng sựng. Nắng biến mất đột ngột. Chút nắng vàng hiếm hoi ấy biến mất, bay vụt ra khỏi tầm mắt, cũng đột ngột như khi nó thình lình rớt xuống trước sân nhà. Một tảng mây đen khổng lồ trôi qua chậm chạp, từ từ liếm sạch màu nắng vàng khiến anh có cảm giác như nó sắp sửa đè bẹp khoảnh vườn rực sáng khi nãy, đè bẹp anh và người đàn ông và Doãn và chai rượu. Anh thất vọng ngó người đàn ông, từ đỉnh đầu tới ngang bụng, phần dưới cơ thể ông ta bị chiếc bàn che khuất, như thể ông là thủ phạm bưng chút nắng quý hiếm của anh trút vào trong chai rượu, hay giấu trong bụng áo ấm lấp bên nửa bàn bên kia. Anh ngó sững vào chai màu trắng giả đá để tìm kiếm sự ấp áp hình như ông ta đang giữ trong đó. Người đàn ông nhóng lên, quơ chai rượu chực rót ra ly.

-Nó kêu Mao Đài Tửu. Nó đi Bắc Kinh về.

-Vâng Doãn đi Bắc Kinh…

Anh ngẩng mặt lên ngó chai rượu màu men sữa trắng đục. Nắng không thể bị nhốt vào trong ấy được. Vâng, có thể Doãn nào đó và cả Bắc Kinh của người đàn ông đang ngồi bên mép bàn bên kia đã mang đi chút nắng vừa mới nhìn thấy khi nãy. Anh nhìn vào chiếc chai giả đá và nghĩ không thể có giọt rượu nào để tìm kiếm chút nắng mong manh. Anh thẫn thờ đến đờ đẫn nỗi thất vọng, chán ngán. Những rạo rực ban đầu bị tắt ngấm bỡi chai rượu đang nằm gọn lỏn trong tay người đàn ông, ở phần cổ, lùn tịt.

Khoảnh vườn âm u, xám màu mây đen. Những búp vạn thọ lẻ loi, run rẩy trên những cành lá xanh, hết còn rực rỡ khiến lòng anh nguội lạnh chen lẫn nỗi hoang mang tột cùng.

-Ta chào nhau buổi sáng, chú hỉ?

Và không đợi anh trả lời, người đàn ông với tới phía trước, kéo hai chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt đặt trong chiếc kệ ngang với mặt bàn, về phía mình. Ông ta từ tốn rót ra ly, từ tốn đẩy một chiếc ly về phía anh rồi thong thả nâng ly lên.

-Một ngày bình yên chú hỉ?

-Dạ, một ngày bình yên – anh đáp.

-Nhưng mà điệu này kéo dài, mưa lập dập, nắng lập dập âm âm u u như kiểu trời chuẩn bị sập thì tết chẳng có bánh mà ăn. Thằng Doãn kêu tráng cho nó năm trăm để mang về trỏng, biếu xén, ăn tết. Thiệt mệt. Trời đất kiểu này biết sao được. Không có bánh tráng thì còn gì là tết? Bà vợ tôi nói không nắng thì xuống chợ mua. Nhưng mà chú ơi, bánh tráng hong lửa thì khác xa với bánh tráng phơi nắng…

-Dạ, nắng. Chỉ có nắng mới làm ấm lên mọi thứ. Tất cả mọi thứ đều trở nên đẹp – Anh nói vội vã, y như rằng trước mặt lúc này nắng ấm đang đổ xuống sân.

-Chú văn nghệ quá – người đàn ông kêu lên – Có nắng bánh tráng ngon hơn gấp bội phần!

-Dạ, đẹp và ngon cả hai đều như nhau. Hễ đẹp thì nhất định phải ngon, và ngon thì phải đẹp. nhưng mà chưa chắc… – anh bỏ lửng, sợ nói ra làm phật lòng người hàng xóm – cái gì hiếm đều trở nên quí giá cả – Anh đột nhiên hứng khởi.

Chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt nằm ghé trên đôi môi thâm đen của người đàn ông, hình như cũng ngạc nghiên vì những ý nghĩ bất ngờ của người thanh niên, cứ giữ nguyên vị trí như vậy một lúc lâu, trước khi ông ta dốc ngược ly vào miệng. Có tiếng “khà” kêu lên lẻ loi giữa buổi sáng lạnh giống buổi hoàng hôn, giống hệt tiếng thở dài tràn ứ nỗi thất vọng, vì không thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu mà ông mong đợi. Chiếc ly dành phần anh vẫn nằm nguyên trên mặt bàn, đầy rượu. Người đàn ông đẩy chiếc ly trống của mình tới, chạm nhẹ vào thành ly kêu đánh cốp một tiếng nhỏ khẽ khàng.

-Chú lại văn nghệ nữa rồi. Ai kêu mấy chiếc kiềng sắt, bình vôi giờ này không hiếm? Nhưng mà chú coi, có quý gì đâu?

-Dạ, có lẽ phải, đâu có gì kêu là quý.

Người đàn ông há hốc nhìn người thanh niên rồi bất ngờ ngửa cổ ra cười khà khà, một giọng cười biểu lộ chút ngạc nhiên  rất buồn cười về cách nói của anh, trong khi bàn tay phải ông ta vẫn giữ chặt chiếc cổ chai lùn tịt. Đến khi ông ngưng cười thì trên khoé mắt có chút nước ứa ra ngập ngừng. Ông đặt chiếc ly xuống bàn, dùng ngón tay trỏ quẹt chỗ nước mắt chảy ra đó, như cố giấu sự buồn cười có thể chảy ào ra lần nữa, mãnh liệt hơn.

-Chú thiệt “thắc cười”. Mới hồi nãy biểu đẹp là ngon, ngon là đẹp là quý, giờ kêu… Chú thiệt văn nghệ.

Ông lại cười hích hích trong cổ họng, cố kềm giữ sự khám phá bất ngờ của mình đối với chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt, rồi tự rót đầy ly nữa và ngửa cổ uống ực. Tới giờ, ông mới chịu buông tay ra khỏi cổ chai rượu, chiếc ly trống nằm trên mặt bàn, cạnh chiếc ly còn đầy rượu của anh, móc túi lôi ra gói thuốc lá và chiếc bật lửa. Ông rút một điếu cắm lên môi, nhưng không quẹt lửa mồi mà tiếp tục nói. Điếu thuốc bị kẹp chặt giữa hai môi thâm đen rung lên nhè nhẹ mỗi khi ông nói. Cả hai có vẻ khổ sở như nhau. Người đàn ông cầm chiếc bật lửa, nhưng vẫn không chịu quẹt cháy.

-Nói thiệt chú đừng giận, mấy chú văn nghệ như chú không làm sao mà hiểu nổi. May mà thằng Doãn nhà tôi chữ nghĩa ít, nhảy đi buôn bán chớ không thì…

Ông kịp nhận ra hình như mình sắp lỡ lời, có vẻ như mình sắp lỡ lời thiệt nên người đàn ông kịp dừng lại, chuyển sang chuyện rượu chè. Còn điếu thuốc vẫn nhảy tưng tưng trên đôi môi thâm đen.

-Không biết chú sao, chớ tôi thì chúa ghét mấy cha rượu chè be bét, uống chi mà tới say đớ lưỡi, say quắt cần câu mà cứ kêu lai rai giải sầu? Rượu chè cũng có năm ba đường hả chú? Tôi nghe nói tiên tửu, tục tửu, ngưu tửu chi chi. Thiệt mệt. Cứ như anh em ta, lâu lâu có rượu ngon, ngồi cà kê vài ly rồi mạnh chuyện ai nấy làm. Cù nhằng, cù nhùng mất cả thì giờ. Mà chú chưa vợ con chưa biết. Nhiều khi uống, lỡ say “nhỏng phao câu”, mò về tới nhà con vợ tôi kêu trời. Say nhưng cũng biết được mình quá là sai, nên phệu phạo bào chữa “nam vô tửu như kỳ vô phong” , rồi câu gì bữa chú đọc cho tôi nghe đó. Á, à, nhớ ra rồi “mùa này thiếu rượu anh hùng nhát gan”, khiến bã nổi sùng bỏ tôi một bữa để muỗi và tôi cùng nằm say bên nhau.

Người đàn ông toan với chai rượu rót thêm một ly nữa để tự thưởng cho những lời nói ý nhị của mình, song nghĩ sao ông rụt tay về, ngó chằm chằm vào mắt anh thanh niên xa xôi ngoài khung cửa, hỏi:

-Mà tôi cũng lấy làm lạ. Chừng ấy tuổi, sao chú không chịu lấy vợ? Cỡ tuổi này, nếu có con gái đầu lòng thì đã sui gia rồi đó nhá?

Anh bật cười mà không thể nhìn thấy đó là nụ cười tròn hay méo mó dị dạng, tìm cách nói cho người đàn ông yên lòng:

-Không phải là không muốn có một cô vợ bên cạnh. Chỉ tội một điều, họ nhìn thấy đời sống tôi nhếch nhác quá nên ai cũng ngại, quay lưng bước thẳng.

-Chú nói sao ấy chớ? Thời buổi gái thừa trai thiếu. Làm vợ chú như thể làm bà hoàng ấy chớ? Đã đành chú có đời sống văn nghệ, nhưng mà văn nghệ thì có sao đâu? Tôi thấy các cô chú ngày nay sống sao sao ấy, không như chúng tôi ngày trước! Rồi lại khi không chú bỏ cái thành phố đẹp đẽ ấy để về khép kín ở chốn khỉ ho cò gáy này, thì chắc là chú phải có tâm trạng?

-Dạ không, không có tâm trạng gì đâu. Chẳng qua tôi muốn yên ổn, muốn sống trong không khí tĩnh lặng để làm việc.

-Tôi đâu thấy chú làm việc gì? – Người đàn ông ngạc nhiên.

-Dạ

-Thôi, bữa nào thằng Doãn về, tôi biểu nó mời chú làm cố vấn cho nó. Hai anh em tha hồ bay nhảy.

-Cảm ơn chú. Chuyện đó tôi càng mù tịt, chẳng biết gì đâu!

Người đàn ông phẩy tay.

-Ui, dễ ợt đó mà. Như thằng Doãn đó, có học hành con khỉ mốc gì đâu mà nó vẫn làm được.

-Dạ.

Người đàn ông chấp chới trong mớ hiểu biết lẫn lộn với niềm tự hào hỗn độn về sự thành đạt của con, bèn chỏ tay qua phía anh, cười lớn.

-Chú mà giấu nổi tôi! Chú đừng có hòng mà giấu nổi tôi nhé.

Nói và ông cười to vừa đứng dậy. Tiếng cười khậc khậc quấn quít bên những bước chân chệnh choạng khi ông bước xuống từng bậc cấp với niềm vui như vừa khám phá được chuyện lớn, thật lớn.

Anh không tiễn ông như mọi khi, chỉ thấy ông rất hài lòng với những gì ông có được quanh mình, trong buổi sáng này như ông đã từng hài lòng về chuyện vợ con, những bữa rượu lẻ cùng những tiện nghi vừa đủ để mang ra khoe với mọi người chung quanh.

Con chó đi theo người đàn ông, nãy giờ lim dim nằm ngủ dưới gậm bàn chắc là đang mơ thấy ngậm khúc xương trong miệng, nên kéo dài niềm hạnh phúc bé bỏng của loài vật, quên mất những bước chân loạng choạng của ông chủ, vội nhổm dậy, ủng ẳng chạy theo sau. Đuôi có chùm lông dài ngoắt qua ngoắt lại phía sau chân ông, y như rằng chủ tớ là những người vừa thắng trận, đang trên đường ca khúc khải hoàn.

Người đàn ông bước đi, nhưng không lôi theo bầu trời nặng trình trịch cùng cơn mưa lâm thâm và ngọn gió bấc thổi se sắc trên đọt cau nhìn rất rõ. Ông cắm cúi bước, người đổ dài dưới con dốc như sắp ngã, con chó chạy lăng quăng bên chân, bỏ lại tất cả cho anh.

 

 

 

Trên bàn, một ly rượu còn đầy và một ly trống trơn không cân xứng. Anh bưng cả hai ly đặt lại chỗ cũ trên kệ. Lúc đầu anh định hắt ly rượu ra sân, nhưng nghĩ sao lại xé tờ giấy lịch, gấp làm tư và đậy lại, nom chiếc ly như cây trụ đỡ những tảng đá khổng lồ thành Babylone, thu nhỏ lại.

Bên ngoài bầu trời trở nên sáng trắng. Những đụn mây đen giờ xé vụn ra lam nham khiến trông thấy bầu trời cao hơn chút đỉnh, bớt vẻ âm u. Có tiếng chân loạt xoạt ngoài hiên thềm. Người đàn bà mặc bà ba đen, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu nhóc nhách chà chân lạch bạch, giũ đất ở bậc cấp rồi bước hẳn vào trong.

-Uở, chú có nhà đây mà. Mạnh giỏi chú?

-Dạ, mạnh. Chào chị!

-Buổi sáng mà chịu khó ngồi nhà, không ngồi quán cà phê sao?

-Bác sĩ cấm cà phê.

Người đàn bà ngó nghiêng lên tấm lịch treo tường, cao hơn tầm mắt chị ta vừa nói:

-Cái tụi nhỏ xóm này không hiểu sao sáng nào cũng tụ tập ngoài quán. Ba đứa uống chung một ly cà phê, hút chung điếu thuốc đến chủ quán cũng phải phát buồn mà không biết nói sao!

Người đàn bà ngừng nói, miệng nhóp nhép nhai trầu chờ phản ứng của anh. Mõi khi cử động, góc môi trên vêu lên như có cái mụt nhọt nấp trong ấy. Thấy người thanh niên không nói gì, người đàn bà tiếp lời:

-Hồi hôm cũng ở quán cà phê đó, tụi nó gây gỗ, sém đánh lộn. Thanh niên bây giờ hư quá chú ơi!

Anh không mấy hào hứng khi nghe những chuyện không đâu phát ra từ miệng người đàn bà đang ngó anh vừa nhai trầu. Chị dường như cũng đoán ra ý nghĩ của người ngồi trước mặt, nên ngập ngừng chuyển sang đề tài khác, “thời sự” hơn.

-Chú tính ăn tết ở đây hay về dưới đó?

-Dạ chưa biết sao!

-Trên hóc xó này có gì mà vui chớ? Dưới đó thành phố lớn, người đông, nhộn nhịp. Mà cũng phải thôi, chú thấy không?

Người đàn bà nói và tiếp tục nhai trầu. Anh không hiểu bà ta đưa ra câu hỏi để hỏi anh hay chỉ là những nhận xét vu vơ, chờ người khác tán đồng? Chị không phải là người thường hay ghé nhà anh hỏi han chuyện này, chuyện nọ. Là hàng xóm, cùng ngụ trong con phố nhỏ của thị trấn miền núi trước sau đều quen mặt nhau, họ hay dòm qua hàng rào cây xanh thưa thơt để thăm chừng đời sống của nhau một cách thận trọng. Trong trí nhớ , người đàn bà đang ngồi phía bên kia bàn, chỗ lúc nãy người đàn ông vừa ra về, là người hay ca cẩm về mọi sự khó khăn trong đời sống. Bà ta hay vu vơ về những khoản thiếu hụt của tất cả mọi người dân ở thị trấn miền núi nhỏ hẹp này, mà đáng ra phải khác hơn, phải giàu có như những người khác dưới thành phố.

-Bữa nay hăm hai rồi. Hễ đưa ông Táo về trời là coi như tết đến nơi. Mà này, chú một mình thế thì sống làm sao nhẻ? Ai lo ăn uống, giặt giũ cho chú, rồi còn tết nhứt nữa ?

-Dạ, cũng bình thường thôi mà – Anh trả lời ngập ngừng.

Người đàn bà nheo mắt, chun mũi nhìn anh vẻ chế giễu:

-Bình thường là thế nào? Phải có bàn tay phụ nữ. Cái sự lấy vợ là rất cần thiết để bảo tồn nòi giống. Với lại ở cái xứ heo hút trong những ngày lạnh lẽo này chú không cảm thấy lạnh lẽo sao chớ? Để hôm nào tôi giới thiệu chú một cô, xinh đẹp, hiền hậu. Tết chú còn ở lại đây tôi sẽ dẫn đến thăm chơi.

Anh không biết phải lựa lời ra sao để từ chối lòng nhiệt tình của người đàn bà kia cho phải lẽ, đành nói nước đôi.

-Dạ, cảm ơn chị.

-Trời không chút nắng, lạnh thiệt. Hôm qua tôi ra chợ thấy hàng tết về nhiều quá, đẹp, rẻ ngặt cái không đủ tiền để mua sắm cho đã đời. Mấy đứa nhỏ cứ eo óc đòi mua cho bằng được những tấm áo ấm màu. Chúng đâu biết cảnh “cám tháng giêng, tiền tháng chạp”. Thiệt bực!

Anh muốn bật cười khi nghe người đàn bà buông ra lời than “thiệt bực” y như người đàn ông lúc nãy kêu “thiệt mệt” khi trời không chịu bật nắng để vợ chồng ông tự tay tráng bánh, phơi dưới ánh nắng mặt trời gửi cho thằng con. “Thiệt mệt” và “thiệt bực” của hai người có con cái gia đình đề huề coi như những lời “gầm gừ” êm ái của những người ngay thẳng phải làm bổn phận bảo bọc mọi người thân chung quanh mình, như một niềm vui chưa thật trọn vẹn.

Có lẽ do người đàn bà nói quá thật, nên anh cũng cao giọng.

-Đó, chị thấy chưa. Có gia đình, con cái nó “thiệt bực” như vậy đó?

Người đàn bà chỉ cười, không trả lời những vặn vẹo tình nghĩa của người thanh niên ngồi trước mặt, có vẻ mặt đang thực buồn. Chị đưa tay lấy cục thuốc nằm vêu trong môi trên chà qua chà lại giữa hai hàm răng ám đen, định nói gì đó nhưng cục thuốc và bã trầu trong miệng đã giữ chặt lại.

Anh ngồi nghiêng ngó ra khoảnh vườn hẹp trước sân.

Một lát sau, giọng người đàn bà ngập ngừng:

-Nói thiệt với chú, vợ chồng tui kêu bán con bò, nhưng tụi lái biết mình cần tiền sắm tết nên trả giá rẻ mạt. Tụi nhỏ thì léo nhéo đòi cả ngày. Chú cho tôi vay một ít, bán được con bò tui trả chú liền. Mình hàng xóm, sớm tối có nhau.

Câu cuối cùng, giọng bà ta chùng xuống, buồn thật buồn y như bầu trời vẫn một màu mây đen chực sà thấp. Bộ mặt bà ta dần dần trở nên căng thẳng và thảm não. Cục thuốc chà răng được nhìn thấy bằng vệt vêu trong môi trên như chịu đựng sự u uẩn vì đám thương lái bắt chẹt bà ta trước những đòi hỏi hợp lẽ của lũ con. Một chút gì đó trên toàn bộ con người đàn bà lúc này, khiến anh hơi chạnh lòng.

-Nói thiệt với chị, tôi cũng còn một ít, chị có thể cầm tạm. Tôi chắc thể nào tuần này cũng có khoản nhỏ của mấy tờ báo gửi ra. Chị yên tâm – Nói và anh lôi chiếc bóp nhàu nát móc hết khoản tiền trong ngăn, không rõ được bao nhiêu, đưa cho người đàn bà. Bà ta thôi nhai trầu, cầm lấy tiền nhét vào túi áo và cũng không đếm là được bao nhiêu. Giọng ấm lên:

-Cảm ơn chú. Tụi nó mừng lắm đây!

Người đàn bà nói vừa sững sờ nhìn chàng thanh niên với một chút ngỡ ngàng, một chút cảm thương với những băn khoăn được khoả lấp khi kịp cất mớ tiền vào túi áo bà ba đen.

Cuối cùng người đàn bà cũng đứng dậy chào anh, ra về với cái bóng đen nhỏ thó đổ dài xuống con dốc, với dáng hấp tấp của những niềm vui mới mẻ bà vừa cầm chắc trong tay.

 

Bầu trời bên ngoài vẫn xám đục. Gió  cuối năm run rẩy lạnh, kéo thành vệt trên hàng cây co ro hai bên đường, chạy từ phía đồi cao xoãi ra bờ sông. Buổi sáng rung rinh nhè nhè trên luống vạn thọ sắp bật khóc vì bầu trời đùn đen cứ lê thê kéo dài. Người thanh niên xô ghế đứng lên, cắp phích vào ổ điện định bụng pha một ly trà thật nóng, thì bên ngoài tiếng còi xe toe toe vang lên. Người bưu tá gầy, cao dựng xe trước hàng rào chè tiêu, cầm xấp thư và mấy tờ báo bước vào nhà. Ông ta hỏi:

-Không định đi đâu sao?

-Trời lạnh thế này… – Anh  trả lời.

-Ừ, trời cữ này mà có dưa hành củ kiệu và rượu ngon thì thật tuyệt.

Người thanh niên với tay qua kệ, nhấc ly rượu đưa cho người bưu tá.

-Rượu cha Doãn mang tới hồi nãy.

Ông bưu tá nhấp nhấp từng ngụm nhỏ, thong thả:

-Rượu này chắc là ai biếu chi đây. Không phải rượu thường, mùi lạ lắm, như mùi trái nhàu chín?

-Tôi cũng không rõ

-Cậu chưa uống.

-Chưa.

-Một ly thôi sao?

-Dạ, một ly. Ông cụ qua kêu tôi uống, nhưng mới sáng bảnh mắt!

-Ờ, cũng phải, nhưng giá có thêm vài ly nữa thì ấm bụng.

Ong ta có vẻ ngẩn ngơ như tiếc rẻ mùi rượu ngon quá ít, dòm vào chiếc ly không rồi đứng lên:

-Chừng nào cậu về?

-Chưa biết ngày.

-Thôi tôi đi.

Người bưu tá nổ máy, chạy đi xuống cuối con dốc rồi quành ra phía bờ sông.Cái  dáng cao khều mất hút cuối dãy nhà ngói cũ kỹ, mái lợp  âm dương.

Người thanh niên thong thả lật coi địa chỉ gửi đi của từng lá thư, theo thói quen rồi để sang bên. Cái mà anh mong đợi hiện ra, dưới bức thư của một toà báo. Nét chữ mỏng manh, gầy như bộ ngực quen thuộc của người gửi bức thư cho anh, như những ngón tay thon dài nắm chặt tay anh cùng ánh mắt xa xăm trên số nhà quen thuộc bên góc trái. Anh nghe thật gần bước chân nàng, hơi thở nàng và đôi mắt ngấn nước của nàng khi anh lầm lũi bước ngược trên con đường trước mặt nhà. Những dấu nhật ấn trên bao thư như tự nó có một hơi thở dồn dập của hai người ở một khoảng cách xa. Ngày gửi và ngày nhận chỉ cách nhau ba ngày. Ba ngày để vượt hơn sáu trăm cây số sẽ mang đến cho anh niềm vui ấm áp trong buổi sáng cuối năm này. Phích nước sôi kêu thành tiếng như lời thúc giục, khiến anh không thể để những cảm giác tha hồ bay nhảy tự do. Bao thư bóc ra. Sáu tờ giấy chi chít một kiểu chữ mỏng manh gầy ốm. Anh lôi chiếc ghế xích đu đặt ngang cửa ra vào hứng chút ánh sáng mờ đục bên ngoài, nằm ườn ra ghế và bắt đầu đọc:

 

Anh,

Sự chờ đợi quá lâu, xa như chỗ anh ở nối tới đây  bằng sợi chỉ dài, rất dài. Nhiều bữa trời đang nắng, chợt đổ mưa ầm ầm, rồi đột ngột chấm dứt, làm như không hề có chuyện gì xảy ra làm em không thể không nghĩ đến anh, liên tưởng về những hành động kỳ quặc của anh. Nhiều khi em tự hỏi, cái thành phố này có điều gì khiến anh không vui? Hay anh không vui vì em? Hay anh muốn thử thách em như một chuyện đùa bỡn? Giờ, cứ mỗi ngày qua đi, em càng ít hiểu về anh hơn. Anh như người xa lạ vậy !

Hôm kia, trong bữa cơm tối, tía má em có hỏi sao lâu không thấy nó tới chơi? Nó tức là anh đó, là một thành viên đang được chấp nhận từ từ, chậm rãi một cách e dè, dò xét. Em chống đũa tìm câu nói dối hợp lý nhất, nhưng sao nó cứ như sợi dây thun bị kéo căng để cuối cùng em nói bừa: hình như ảnh nhận thêm những công việc gì đó, bận bịu lắm. Tía má em tiếp tục dùng bữa, không hỏi gì thêm. Riêng em “những công việc gì đó” của anh giống như sự trông đợi một cách thờ ơ. Ai cũng trông nhau mà chẳng dám “liều mạng”(chữ anh nói hôm hai  đứa mình ở đầu mỏm sông, chỗ vườn mận đó, nhớ ra chưa?). Liều mạng làm sao mà trên sáu trăm cây số hun hút là dài? Thư trước anh biểu tết ra ăn tết với anh. Một ý tưởng thật vĩ đại. Còn nếu như em nói: tết anh về ăn tết với em thì anh nghĩ sao? Em đâu phải là những nhân vật của nhà văn Hector Malot, là con bé “vô gia đình” để anh ra tay cứu vớt rồi biến thành nhân vật của anh?

Thư này đến tay anh chắc là còn kịp để về đón ông Táo. Trong dân gian, ông Táo là một người không có mặt mũi rõ ràng, nhưng lại đầy ắp trong tâm thức của mọi người. Ai cũng hiểu rằng, ông Táo là người duy nhất giữ lửa, hơi ấm cho mọi gia đình sum họp. Vậy thì tại sao anh không mang chút lửa ấy về, lửa trong người anh để sưởi ấm cho em? Hoá ra, anh chỉ muốn giữ lửa cho riêng mình anh thôi sao? Còn em? Câu hỏi này cứ dằn vặt em mãi, nó loay hoay trong đầu như thể con dế hồi nhỏ em bỏ trong chiếc hộp giấy. Nó bò tới bò lui, lăng quăng tìm lối ra mà nào có ra cho được? Rồi em lại chợt nhớ đêm giao thừa ở dưới quê, ngồi thức canh nồi bánh tét, lửa nhảy nhót đỏ đít nồi; còn bên trong thì nước cứ sôi ùng ục. Bà nội ngồi gần bên nói: ông Táo đang cỡi con ngựa mang về với chúng ta kịp đón giao thừa. Tiếng ùng ục đó là vó ngựa gõ trên lớp mây. Em không thấy, nhưng tin lời bà, nghĩ ông Táo đang cỡi ngựa trở về thật và em mong làm sao để được gặp mặt ông, coi dung nhan có giống với những bức tranh vẽ thằng em em sưu tầm đâu đó dán la liệt trên vách. Em sẽ nói những điều ao ước của mình để ông hoá phép. Chờ đợi đến mỏi mòn, để hai mí mắt sụp xuống lúc nào không hay, ông Táo trở về lúc nào không hay. Mãi mãi điều ao ước không thành sự thật. Như giờ này, em ước chi anh có bên em đã không thành sự thật vậy !?

 

Mà cũng thiệt lạ, anh thích thú, say mê nỗi gì ở miền đất heo hút đó? Lúc anh mới ra, anh kêu nhà anh ở dưới chân vách núi đá. Từ đó có thể nhìn xuống thị trấn nhỏ như bàn tay xoè, phía dưới bị con sông chặn ngang, có những ngôi nhà cổ xưa cũ kỹ, có những con đường đất đỏ ngắn hơn một hơi thở dài cùng với những người dân hiền lành, nhẫn nại… Và anh nói: mỗi sáng có thể nhìn mặt trời từ lòng sông nhô lên, đỏ ối như quả cầu lửa rực rỡ. Nếu vậy, chắc quả cầu lửa đó có bà tiên anh mơ tưởng, chứ không phải trên đầu mõm sông lúc hai đứa ngó những dề lục bình trôi dập dềnh những chỏm bông tím? Những bà tiên bé bỏng xinh đẹp kia đã níu giữ chân anh rồi?

Thư này em viết trong buổi sáng thực yên tĩnh. Có một chút gió heo heo rất lạ, không ngừng thôi thúc sự nhớ nhung bâng quơ, cái xao xuyến đón đợi, ngóng trông. Chỗ anh ở có loại gió này không? Em chắc là không. Vì nếu có thì anh đã lên tàu rồi. Em biết anh còn ngóng đợi bà tiên trong quả cầu lửa rực rỡ mỗi sáng, bước ra và nhẹ nhàng đến bên anh? Còn em thì đang ở rất xa anh để không thể chia sẻ niềm hoan lạc cùng anh. Tiếc thật.

Em muốn viết thêm nữa, thiệt dài; dài bằng với đoạn đường từ ô cửa nhỏ này tới ngôi nhà bên vách núi đá, từ chiếc bàn gỗ quen thuộc này đến quả cầu rực lửa của anh… Nhưng phỏng có ích chi? Anh đâu còn mùa xuân bên em. Anh chỉ còn những buổi sáng của riêng anh  thôi.

Nói vậy, chớ em vẫn nhớ anh luôn, vẫn chờ anh.

Gửi anh nụ hôn gió xa xôi đến anh, biết anh có cảm được?

Em của anh, Nga.

 

Người thanh niên xếp lá thư, cho vào bì. Lúc này, anh không thấy khoảnh sân phía bên ngoài, không thấy thị trấn mờ đục phía dưới kia cùng chỏm tháp chuông nhà thờ nhấp nhô khuất trong những ruộng mía âm u… Anh nằm trên chiếc ghế quay vào gian thờ, chỉ thấy lờ mờ những chân đèn thau, lư bát cắm nhang và tấm nghi treo trên cao bị chuột cắn lủng vài chỗ. Những sợi chỉ lòng thòng không đủ dài để nối căn nhà dưới vách núi đến tận ô cửa trong xa kia để anh níu theo bay về phương nam ngay lập tức.

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

 

LỤC BÁT TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

truongdinhphuong

VẾT KHUYẾT
Đêm
tôi lẻn vào tay tôi
chụp hình năm tháng trên môi vết hằn!
Tường lem nẫu tiếng thằn lằn
vườn khuya gió bấc cằn nhằn lá khô
một con đom đóm mơ hồ
ghé tai tôi hỏi nấm mồ ngày xanh!

 

THỜI GIAN
dòng sông có cũ bao giờ
ngàn năm cỏ vẫn đôi bờ trinh nguyên
hò xưa vẫn đậu mạn thuyền
bãi dâu vẫn đượm trăng nguyền thủy chung
chỉ lòng ai đã tơ chùng
bỏ quên ai giữa mịt mùng
tháng năm.

PHỐ CŨ
về qua phố
một chiều mưa
chạnh nghe hương cũ
như vừa bay đi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Sống, Chết Là Thao Thức Cùng Canh Giữ Nước Non

Xuân bên thềm cũ

nguyenminhphuc

 

Tôi chờ đợi với nỗi buồn cay mắt
Gió hư vô buốt tạt chỗ tôi ngồi
Em lỡ hẹn chiều cũng vừa nắng tắt
Những bẽ bàng sương khói mịt mù trôi

 

Thì đành vậy bên cõi ngày sóng vỗ
Mùa xuân qua thôi một thoáng lỡ làng
Cành mai héo ai treo ngoài đầu ngõ
Xác xơ tàn úa cả mộng chiều tan

 

Tôi gửi lại mùa xuân bên thềm cũ
Trời không mưa nhưng nắng cũng phai rồi
Gửi thương nhớ vào cõi ngày rêu phủ
Gió xuân buồn lặng lẽ một mình tôi

 

Chiều nay cũng như bao nhiêu chiều khác
Tôi ngồi đây nghe sóng vỗ chân cầu
Hiu hắt nhớ một mùa xuân đã lạc
Bàn tay còn ghì chặt cả niềm đau…

 

     Nguyễn Minh Phúc

Xuân tha hương

small_1200962564.nv_

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông…

Em đi dang dở đời mưa gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, trời: đắng lắm!
Trăm hờn nghìn giận suốt mùa đông.

Chiều qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son, vẫn má hồng?

Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không

Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gởi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng)

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Chao ơi! Tết đến mà không được
Trông thấy quê hương thật não nùng!

Ai bảo mắc duyên vào bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong!
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông

Em biết giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời nặng quá gỡ sao xong?

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Tết này, ồ thế mà vui chán
Những một mình em uống rượu hồng

Rượu say nhớ chị thời con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong

Thôi em chả dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
Nàng bèo bọt quá em lăn lóc
Chắp nối nhau hoài cũng uổng công

(Một trăm con gái thời nay ấy
Đừng nói ân tình với thủy chung!)

Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên người nong nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hóa gì đâu một chữ “đồng”

Vâng em trẻ dại em đâu dám
Thôi để người ta được kén chồng
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu làm sao được những đêm đông

(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không yêu thì thực dễ như không )

Chị ơi, tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não nùng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông!

Thiên hạ “Chi nghinh nam bắc điểu”
Tình đời “Diệp tống vãng lai phong”

Tết này chưa chắc em về được
Em gởi về đây một tấm lòng
Sương muối gió may rầu rĩ lắm
Còn vài hôm nữa hết mùa đông

Xuân đến cho em thêm một tuổi
Thế nào em cũng phải thành công
Em không khóc nữa, không than nữa
Đây một bài thơ hận cuối cùng

Không than chắc hẳn hồn tươi lại
Không khóc tha hồ đôi mắt trong

Chị ơi, em cưới mùa xuân nhé
Đốt pháo cho thơm với rượu hồng
Xa nhà xa chị tuy buồn thực
Cũng cố vui ngang gái được chồng

Em sẽ uống say hơn mọi bận
Để hồn về mãi xứ Hà Đông

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng.
Với lá thư này là tất cả
Những lời tâm sự một đêm đông

Thôn gà eo óc ngoài xa vắng
Trời đất tàn canh tối mịt mùng
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông

Mấy sông mấy núi mà xa được
Lòng chị em ta vẫn một lòng

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Cầu mong cho chị vui như tết
Tóc chị bền xanh má dậy hồng

Trong mùa nắng mới sầu không đến
Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:
– Xa nhà uống rượu có say không?

NGUYỄN BÍNH

(Huế tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942)

Đầu Xuân Nguyện Đi Mười Kiểng Chùa

phamnga

1.

Thuở còn niên thiếu ở đất Sài Gòn này, vào những đêm giao thừa xa xưa, tôi thường được tháp tùng mẹ tôi cùng mấy bác hàng xóm đi cúng ở Lăng Ông, gần chợ Bà Chiểu. Ngoài đường đông vui hết sức! Từ nhà tôi ở đường Trần Quang Khãi vùng Tân Định ra đến gần Lăng Ông là phải xuống xe xích lô để hòa mình vào đám người, ai đâu mà chợt đông nghẹt giữa đêm khuya, cứ lũ lượt đi bộ tràn ngập cả con đường Lê Văn Duyệt.

Chưa lọt vào cổng lăng đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù. Cúng kiếng, xin xâm và hái lộc – không dễ gì làm cho đầy đủ, nhanh gọn cả ba nghi thức này nên bà con ai nấy đều vội vàng, còn do phải quay về trước 12 giờ để cúng giao thừa nhà mình. Trong đám đông náo nhiệt, nếu ai không chen lên được tới trước bàn thờ Ông (đức Tả quân Lê Văn Duyệt) thì đành chấp nhận cúi đầu lạy vào lưng, vào… mông người đứng trước mình cũng được nhưng nhớ cẩn thận, đừng quơ nhang làm cháy áo người ta.Trên đường về, mẹ tôi còn ghé thắp nhang ở tịnh xá sư nữ Ngọc Hương, cái chùa nhỏ hẹp, nghèo nàn ở ngõ hẻm gần nhà mà mùa Tết năm nào bà cũng tặng một, hai chục ký gạo tùy năm gia đình có làm ăn khấm khá hay không. Rồi sáng mùng một, trên đường đi chúc Tết, mừng tuổi ông bà nội tôi, mẹ tôi không quên ghé một lát ở chùa Vĩnh Nghiêm nguy nga, tráng lệ…

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm…”, vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm, hẳn không riêng gì người viết bài ký này mà rất nhiều người trong chúng ta đều xúc động, bâng khuâng khi nghe lời ca dịu ngọt, đầy tình người, mở đầu ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm. Tôi còn nhớ, vào một năm đầu thập niên 60, đài Tiếng Nói VNCH ở Sài Gòn, trong một chương trình ca nhạc rất hay tên là “Sóng Nhạc” chỉ có vào các đêm chủ nhật, đã lần đầu tiên phát ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm của cố nhạc sĩ Hoài An qua giọng hát ngọt ngào, tinh khôi, rất Nam bộ của Phương Dung, nữ ca sĩ được mệnh danh “Con nhạn trắng Gò Công”.

Chính với hình ảnh tuyệt đẹp ấy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, đa số các gia đình người Việt mình vẫn giữ nguyên tập tục đi chùa, đi cúng, tức là rủ nhau đến các chùa chiền, miếu mạo đề dâng hương, cầu tài lộc, xin xâm, cúng sao, cúng hạn… vào ngày đầu năm mới  hay suốt trong tháng giêng âm lịch.

2.

Bao đời nay, ý nghĩa của Tết Nguyên đán vốn rất đậm chất tâm linh, tín ngưỡng đối với người mình, dù đang sống trong nước hay hải ngoại. Và ngày xuân đi lễ chùa là một hình ảnh rất tươi sáng, cao trọng – rất “quê hương” đối với người Việt chúng ta.

Do đó, cho đến ngày nay, tại những con đường chạy ngang những ngôi chùa lớn ở Sài Gòn, như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Việt Nam Quốc tự, Kỳ Viên tự…, cả ở trước một ngôi chùa, nhỏ thôi, như chùa Ngọc Hoàng ở khu Đakao, kẹt xe liên miên vào đêm 30 và ba ngày Tết là chuyện rất thường tình. Ngôi chùa mới nhắc, từng được tổng thống Mỹ Barack Obama ghé thăm khi đến VN, đã xấp xỉ 100 năm tuổi và từng được phong là “Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – Điện Ngọc Hoàng”. Xa xưa, nguyên nơi này là một đền (điện) thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Hoa, sau mới có thêm bệ thờ Phật xây ở phía trước bệ Ngọc Đế. Sau tháng 4-75, chùa có tên mới là “chùa Phước Hải” do giáo hội Phật giáo trong nước đặt, nhưng đối với hầu hết bá tánh Việt – Hoa, phải nói “chùa Ngọc Hoàng” thì người ta mới biết.

Có lần tôi hỏi mượn tập tài liệu giới thiệu các gói tours của Saigon Tourist trên tay một du khách người Anh đang viếng chùa Ngọc Hoàng, thấy chữ “Jad pagoda” được in rành rành. Bước sâu vào chánh điện, mấy ông tây bà đầm rất thích chụp ảnh tượng Tam vị Phật tổ, tượng Ngọc Hoàng cùng những tượng chư tiên (Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên Lôi, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Thượng Lão Quân.v.v…, gần như đủ mặt các “chức sắc” trên Thiên đình trong truyện/phim Tây Du Ký). Riêng bọn trẻ nhỏ đến chùa thì đứa nào cũng khoái cái hồ nuôi rùa bên phía phải chánh điện. Lũ trẻ cứ tìm cách ném xuống hồ nào là bắp rang, bánh mì…, nào là hoa, lá hái trộm trong sân chùa cho lũ rùa lúc nào cũng đói ăn.

Những năm gần đây, đến mùng 4 Tết – hạ nêu, cúng tất, tiễn ông bà về Trời – tôi lại hay tháp tùng một nhóm bạn thân, là những người luôn luôn giữ đúng lời nguyện đi lễ cho đủ 10 kiểng (cảnh) chùa, đền, miếu… tứ phương trong tháng giêng hằng năm.

Chúng tôi thường mở đầu chuyến hành hương bằng xe gắn máy này là những ngôi chùa ở Gò Vấp và Bình Thạnh. Vùng tỉnh Gia Định cũ tiếp giáp với đô thành Sài Gòn này vốn có rất nhiều chùa chiền, như các chùa Dược Sư, Pháp Hoa, Già Lam, Kỳ Quang, Linh Quang, Chưỡng Đức, Từ Quang, tịnh thất Trung Tâm, Ngọc Phương tịnh xá, Từ Quang.v.v…

Kế đó, chúng tôi ra ngoại thành, trước hết là ghé đình Phong Phú ở Thủ Đức. Tôi từng thắc mắc, sao năm nào cũng là đình Phong Phú. Một anh bạn đã cười: “Bộ đầu năm ông không muốn giàu hay sao? Chữ ‘phú’ trong tên chùa Phong Phú đó!”. Thì ra là vậy. Hèn chi mấy ngày Tết, dân chúng nội ngoại thành cứ lũ lượt kéo đến cúng Ông (hẳn Ông là thần, thành hoàng của xã Tăng Nhơn Phú?) trong ngôi đình hứa sẽ cho giàu sang, phú quí này. Và thiên hạ cũng không thường ghé thêm một ngôi chùa cổ, kiến trúc rất đẹp, cách đình Phong Phú khoảng 3.5 – 4 cây số, tên là Phước Thạnh tự.

Rồi chúng tôi tiếp tục ra miền Trung, tương tự chương trình tours hành hương ngắn ngày của những cơ sở cho thuê xe du lịch. Sau những ngôi chùa trên núi Gia Lào (vùng Long Khánh cũ), ra dinh Thầy Thiếm ở vùng biển Bình Thuận, bọn tôi lên núi Tà Cú ở vùng Bình Thuận Nam để vào Linh Sơn cổ tự. Nguyện ước “Mười kiểng chùa” đã viên mãn! Sau một đêm ngủ mê mệt tại mái hiên chùa, các bạn tôi hớn hở ra chánh điện lạy Phật, cúng tiền vào thùng công đức. Và đây mới là điều được mong chờ nhiều nhất, kết thúc chuyến hành hương mấy đêm ngày rong rủi, nhọc nhằn: lá bùa cầu an đã xin năm ngoái được trao lại cho một nhà sư trẻ, viết chữ Hán rất đẹp, để sư đốt bỏ và viết cho anh em lá bùa mới cho năm mới.

3.

Đã thấy, khi đi cúng kiếng, xin xâm, hái lộc để cầu an, cầu tài, cầu duyên – kể cả cầu… giãn nợ, thoát nợ – vào những ngày đầu năm, người mình đã rất phóng khoáng trong việc chọn lựa đối tượng thiêng liêng mà gởi gắm ước nguyện đầu Xuân. Bá tánh ngụ ở Sài Gòn, cả người Việt lẫn người Hoa, không phân biệt đâu là lễ Phật ở các chùa Nam tông hay Bắc Tông, đâu là cúng Ngọc Đế – vị nam thần cai quản vũ trụ – trong chùa Ngọc Hoàng, đâu là cúng nữ thần là Bà Thiên Hậu trong chùa gốc Trung Hoa ở quận 5 (thường là người ta đi cúng luôn cả Ông Phước An trong chùa Ông, cùng ở trên đường Nguyễn Trãi, gần chùa Bà). Cũng là Bà – nữ thần được bá tánh rất tin tưởng, sùng mộ nhưng có nguồn gốc xa gần với đạo Bà La Môn thì có Bà Chúa Xứ ở tận Châu Đốc, vía chính lễ là ngày mùng 4 tháng giêng ÂL. Nhiều người còn đi cúng danh nhân, anh hùng lịch sử, như đức Tả quân Lê Văn Duyệt ở Lăng Ông Bà Chiểu, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tại đền đức Thánh Trần ở Tân Định, lễ luôn cả ông bá hộ hiển linh ở dinh Thầy Thiếm vùng Bình Thuận, hay xuống miền Tây, ra Kiên Giang cúng miếu Thành Hoàng Mạc Cữu…

Từ ngày rằm đến ngày 28 tháng giêng, còn phảng phất không khí xuân, dân Sài Gòn lại tấp nập đi Bình Dương để cúng chùa Tàu thờ Bà Thiên Hậu. Riêng giới tiểu thương ở các chợ thì do đã khai trương buôn bán đầu năm nên vào ban đêm thường rủ nhau đi cúng Bà bằng cả nhóm xe gắn máy thật vui. Còn đối với người dân ở các vùng khác, như ở Nha Trang chẳng hạn, nếu đám thanh niên thích rủ nhau lên viếng đức Bà Thiên Y trên tháp Bà thì người lớn tuổi lại cung kính đi viếng mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu. Ở nhiều vùng quê miền Tây, nông dân thường xuyên đi thắp nhang ở những cái miếu nhỏ thờ ông Tà trong tín ngưỡng dân gian, vị thần được tin là chỉ cai quản vỏn vẹn một vạt ruộng, một cánh đồng…

Có một điều mới nghe tưởng ngớ ngẫn nhưng đúng ra lại phong phú thêm cho đời sống tín ngưỡng của người Việt, đó là nhiều bà con, do tin tưởng mà thường cúc cung lui tới, cúng lạy, làm công đức hoài ở một ngôi chùa, cỗ miếu nào đó, nhưng khi có ai chợt hỏi chùa đó, miếu đó thờ vị Phật, vị thần nào, hay Ông nào, nào vậy thì y như rằng bà con đều cười giả lả “Hổng biết nữa!”.

Do đâu mà người mình lại có kiểu tin tưởng đa thần, không phân biệt như thế?

Với truyền thống tín ngưỡng “Tam giáo đồng lưu” đã có từ thời quân chủ xa xưa, cả ba đạo Phật – Khổng – Lão đã đề huề cùng tồn tại trong tâm hồn dân Việt suốt bao thế kỷ. Người qui y thì nhận mình là Phật tử, tức theo đạo Phật với đạo lý Từ Bi Hỉ Xả. Người không qui y thì nhận mình theo đạo “thờ cúng ông bà” – một phiên bản tín ngưỡng dân gian đặc biệt Việt Nam hòa quyện với luân lý Khổng Nho chủ trương Ngũ Thường,Tam Cương, Tứ Đức, Tam Tòng… và đề cao Phước Lộc Thọ… Người tin tưởng bói Dịch, bùa Lỗ Ban, kính ngưỡng giới thầy pháp, thầy cúng, đã vô hình trung là đệ tử của đạo Lão với các thuyết Thái Cực, Lưỡng Nghi… Rốt cuộc, trong nhà của hầu hết người Việt thường có rất nhiều bàn thờ, trang thờ khác nhau, ngoài phần thờ phượng tổ tiên, ông bà. Trong nhà Phật tử và người theo đạo thờ cúng ông bà, ngoài bàn thờ Thích Ca và Quan Âm (thuộc đạo Phật), còn có khám thờ Thần Tài, Thổ Địa ở phòng khách và Táo Quân ở nhà bếp (ba vị này thuộc đạo Khổng) cùng trang thờ lộ thiên ngoài sân để cúng Trời (Thiên/Thái Cực, thuộc đạo Lão), hay một số nhà giàu còn lập miếu thờ Ngũ Hành (cũng thuộc đạo Lão) trong sân vườn. Trong nhà người theo đạo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài thì trước tiên là thờ đức Phật Thầy Tây An (sáng lập đạo Hòa Hảo) hay thờ Con Mắt, biểu tượng đạo Cao Đài.

Thú vị nhất là về Quan Nhị Ca mà trong các phim hình sự, xã hội đen của Hồng Công, các anh chị police hoàng gia thường thắp nhang cho ngài trước khi đi phá án. Có thể đây là nguyên Tổ của nghề bộ đầu/công an/cảnh sát bên Trung quốc từ thời xưa truyền lại nhưng không biết từ lúc nào, Quan Công (hay Quan Thánh, biểu tượng cho đức trung liệt Khổng Nho) hùng dũng với mặt đỏ, râu dài của người Hoa đã được người Việt cùng thờ kính vì cảm phục đức độ anh hùng.

Lại có nhiều người theo Thiên Chúa giáo (ngoài tượng Chúa ba ngôi và các thiên sứ, không được phép thờ ngẫu tượng, vật tượng nào khác) vẫn thờ Thần Tài. Có lẽ các nhà thờ địa phương đã châm chước cho kiểu thờ “phụ trội” của con chiên.

Ngoài ra, một số nhà thờ ở vùng Á châu (những quốc gia dùng cả hai loại lịch tây và ta) như tại VN, còn tổ chức các lễ đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Vào ngày mùng một Tết, trong lúc các chùa hành lễ cầu quốc thái dân an thì bên nhà thờ làm lễ “cầu bình an”. Mùng hai Tết, con chiên đi lễ “cầu ông bà tổ tiên”. Mùng ba Tết, trong lễ “thánh hóa công ăn việc làm”, con chiên mang một dụng cụ biểu trưng cho nghề nghiệp của mình đến đặt trên một cái bàn sát bên bàn thờ Chúa. Ví dụ thợ hớt tóc thì mang đến cái tông-đơ, thợ may thì cái kéo, còn nhà văn/nhà báo (thợ viết?) có thể bày ra cây bút ghép vào một cuốn vở… Lễ chấm dứt, mọi người hoan hỉ mang về nhà món đồ nghề đã được ban phép lành với niềm hy vọng sẽ được hành nghề, kiếm sống thuận lợi trong năm mới.

4.

Thờ phượng, lễ lạy trước bàn thờ Phật, thờ Chúa, thờ các thần linh muôn phương tại gia đình hay tại chùa, nhà thờ, đền, miếu… vốn là sinh hoạt thường xuyên, quanh năm suốt tháng của bất cứ ai có tín ngưỡng, có lòng tin vào thần thánh thiêng liêng, nhất là vào các kỳ Phật đản, Giáng sinh, Thánh đản, mùa vía Kỳ yên v.v… Nhưng riêng vào mùa Tết nguyên đán truyền thống – ngay giờ giao thừa năm cũ/năm mới hay trong chuyến hành hương “mười kiểng chùa” tháng giêng – thì việc hành lễ, cúng kiếng của mọi người lại mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt hân hoan, sống động.

Có lẽ mọi người rất dễ tự nhận ra rằng, trong giây phút mình trang nghiêm chấp tay, cúi đầu, khấn nguyện Trời Phật, Thánh Thần, tự nhiên mà cảm giác an lạc, hạnh phúc chợt nhẹ nhàng bừng sáng trong tâm hồn ta, và những khổ đau, lo nghĩ, phiền muộn như tạm lắng đọng vào bóng tối nguôi quên…

PHẠM NGA

 

Người khách cuối năm.

 

                             

                                                     

 trachantranhuuhoi

 

 

Từ ngày chị Tích, vơ anh qua đời vì tai nạn, ông anh vợ rời Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ, Thuyết trở thành người thừa hưởng cái cơ ngơi gồm một căn nhà khá rộng và một khu đất mênh mông, cỏ mọc um tùm quanh năm bởi anh không  phải là người làm nông chuyên nghiệp! Thỉnh thoảng, anh thuê người làm cỏ, thường là trước tết âm lịch hàng năm,

Năm nay, những ngày giáp tết đã gần kề, anh khỏi làm vì hôm tháng mười một dương lịch, ngày lể các Thánh, anh đi thăm mộ vợ ở nghĩa trang về, thấy khu đất um tùm, nhớ đến hai ngôi mộ của người chủ trước, bán lại cho ông anh rồi biệt tăm ba năm năm nay… anh thuê người làm cỏ, vun nền, thắp nhang  cho ngôi mộ, anh cũng gởi lể cầu hồn cho họ dù không biết tên thánh là gì!

Ánh nắng đã tắt, trong cái chập choạng của buổi chiều, Thuyết rờn rợn người khi thấy một bóng người ngồi ủ rủ nơi mé trái hàng hiên.

Bốn năm nay, anh sống đơn độc, năm ngoái anh đón bà chị ruột đã lớn tuổi, cũng côi cút về ở cùng…

Nghe tiếng xe của anh, người lạ ngẩng đầu lên, nhìn anh gật đầu chào cùng lúc bà chị xuất hiện nơi cửa chính, cất giọng nói to, cách nói của người già nghễnh ngãng:

– Anh đây là chủ trước của khu đất, hai ngôi mộ là vợ và con của anh ấy!

Nghe vậy, Thuyết dựng xe đến bắt tay người đàn ông:

Cài tên của người khách thoáng qua trí nhớ của Thuyết, anh nhớ tới mớ giấy tờ sang nhượng đất mấy năm nay vẫn nằm trong tủ.

– Chào anh, anh là anh Hào? sao chị không mời anh vào nhà?! Anh đến lâu chưa?

– Cảm ơn anh, cũng mới thôi anh ạ.

– Anh đã ra thăm chị và cháu chưa?

– Tôi chờ anh về!

– Không biết anh có Đạo hay không, Lễ các Thánh vừa rồi tôi có gởi lể cầu hồn cho chị và cháu, nhưng không biết tên thánh là gì!

– Người lạ lại đưa tay bắt tay Thuyết, anh ta bóp mạnh:

– Tôi cũng Thiên Chúa Giáo. Cảm ơn anh lắm!

Là người theo đạo Thiên Chúa Giáo thuần thành. Nhưng Thuyết thắp nhang thường xuyên. Anh vào nhà lấy nhang rồi kéo tay người đàn ông cùng đi ra góc vườn. Người đàn ông quỳ sụp xuống nơi ngôi mộ lớn, khóc rấm rức. Thuyết cũng nghèn nghẹn nơi cổ, vợ anh cũng đã chết tức tưởi sáu năm nay, sau hơn mười ba năm chung sống thuận hòa hạnh phúc! Đứa con trai của Anh nay đã vào đại học.

Từ lâu rồi, không hề gặp người đàn ông này để đề nghị đưa hai nấm mộ ra nghĩa trang rồi xây cất tử tế. theo ý nguyện của bố vợ anh. Không biết gì về họ, ngoài cái tên Hào, nhưng nhìn người đàn ông gầy gò với những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt sạm đen, trong lòng anh dậy lên một mối cảm thương với anh ta.

Bóng tối phủ lên khu vườn, cảnh vật chìm trong cơn gió se lạnh của những ngày cuối đông. Người đàn ông đứng lên, lúng túng nhìn Thuyết ấp úng:

– Cảm ơn anh đã chăm cho mộ vợ và con tôi bấy lâu nay…

– Anh định đi đâu?

– Tôi tính đi tìm một người quen cũ  qua đêm, rồi mai thuê người đưa cô ấy và cháu ra nghĩa trang, mẹ tôi cũng chôn ở đó.

– Sao không ở lại đậy với tôi, từ lâu rồi tôi mong gặp anh!

Cả hai vào nhà, mâm cơm được bà chị dọn sẵn, Thuyết mời người lạ cùng ngồi vào bàn. Từ dạo sống như kẻ đốc thân, Thuyết có thói quen uống rượu vào buổi chiều, khi thì ở trường cùng với đồng nghiệp, khi thì một người bạn nào đó, nếu không thì bữa cơm tối anh cũng uống vài cốc, loại rượu trắng ngâm chuối hạt…

Anh mời người khách ngồi vào bàn, đơm cơm rồi rót rượu ra hai cái tách trà:

– Mời anh, từ khi bán lại ngôi nhà, chắc là anh đi làm ăn xa?

– Vâng, tôi lên Buôn Ma Thuột! Tôi đã có trước một đời vợ, cũng có một đứa con trai, chúng tôi chia tay nhau mười năm nay, cô ấy dành phần nuôi con rồi lên Buôn Ma Thuột làm ăn cúng người chồng mới. Hai ngôi mộ này là vợ và con thứ hai của tôi!

oOo

Tiếng người đàn ông trầm, buồn buồn kể lại chuyện của mình…Thuyết ngồi nghe trong yên lặng, anh nghỉ đến chặng đường người khách đã trải qua, dài như một cuộc khổ nạn!

Sau khi chia tay người vợ trước, tôi không còn nghĩ đến chuyên chắp nối thêm một lần nửa, bởi thấy rằng trong hôn nhân, với nhiều người lả nguồn hạnh phúc, nhưng với số phận của tôi thì hạnh phúc ấy thật mong manh!

Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ, lô đất này là của bà ấy. Mẹ tôi mất một năm sau!

Sau khi ra tòa, nhận phần nuôi con, cô ấy và hắn, tên cán bộ tài chính bỏ trồn cúng với mấy tỷ tiền huê hụi và cả của nhà nước…làm khốn đốn nhiều người!

Ba năm trước, Tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiên mả cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô dất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam!

Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nửa! Họ đã có với nhau hai đứa con…

Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám dất nhỏ,  dựng một cái chòi…rôi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!

Hào nâng cốc hớp một hớp rượu, anh mồi một điếu thuốc, đôi mắt như chìm vào những buồn đau của ký ức. Thuyết cũng nâng cốc, anh cạn ly rồi rót đầy lại hai cốc như chung chia nỗi buồn cùng khách. Gió đêm thổi qua khu vườn làm lao xao cây mãng cầu nơi cửa sổ gần bàn, Thuyết đứng lên đến đóng cửa sổ rồi đóng luôn cửa chính. Bầu trời đêm lưa thưa vài vì sao…như làm buồn thêm cái không khí của những đêm cuối năm. Ngồi lại bàn, Thuyết rụt rè hỏi Hào như sợ câu hỏi khơi thêm nỗi đau trong lòng người đàn ông bất hạnh:

– Anh gặp chị…đây lúc nào? Không biết gọi người vợ thứ hai, người nằm dưới ngôi mộ sau vườn thế nào, Thuyết ngần ngừ rồi gọi: chị…đây.

Hiểu ý Thuyết, Hào lại nhấp thêm ngụm rượu:

– Hân là em gái của Phú, một người bạn của tôi. Chúng tôi quen nhau từ khi cô ấy còn học cấp ba.  Hân thích Thơ và nhạc, thỉnh thoảng hỏi tôi về một nhà thơ nào đó của thời tiền chiến. Những bài thơ tôi nhớ được làm cô ấy thích thú. Cô ấy tất thích cái tâm trạng bồi hồi của cô gài trong “Mưa xuân” của Nguyễn Bình, thường lặng yên, chống cằm ngồi nghe tôi đọc những bài thơ: “ Thu xa” của Hoàng Cầm, “ Bên kia sông Đuống” của Yên Thao, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Quán cên đường”… của Quamg Dũng…Tôi cũng biết đàn, chỉ chơi được chút ít để tự dàn, hát những bản nhạc yêu thích, cô ầy nghe hát, cảm nhận với tấm hồn lãng mạn trẻ trung của tuổi mới lớn… Cô ấy thích nghe tôi hát bản: “Hương xưa” của Cung Tiến, “Gợi giấc mơ xưa” cuả Lê Hoàng Long… Chúng tôi giống nhau về sở thích…Những bài thơ, bản nhạc nào tôi thích, Hân cũng thích…

Hết cấp ba, Hân vào Đại Học ở Sài Gòn, Tình cảm của chúng tôi không phải là tình yêu mà chỉ là cảm mến nhau, Hân còn chưa trưởng thành đê nói đến tình yêu, cô ấy luôn tôn trọng tôi như một người anh, một người thấy có kiến thức cần thiết cho mình…Cô ấy còn có những ước mơ xa xôi của tuổi mới lớn, Vào Đại học là con đường thênh thang cô ấy mong mỏi lâu nay.

Chúng tôi chia tay nhau trong niềm hy vọng tương lai của Hân. Sài Gòn, nơi mà những cô bé mới lớn mong ước được sống cùng với đời sinh viên…Những tháng đầu, chúng tôi liên lạc nhiều, nhưng rồi cũng thưa dần khi cô ấy bắt đầu hòa nhập được với bạn bè và môi trường mới.

Tôi cũng quên dần cô ấy với những lo toan công việc thường ngày của một công nhân viên, Tôi bận rộn thường xuyên với những việc đo đạc, vẽ bản đồ và những cuốc nhậu tràn bờ…của một càn bộ địa chính…Tôi quen dần với những mối quan hệ nhiều toan tính trong giao tiếp thường ngày… làm cằn cỗi đi tâm hồn tôi. Rồi tôi lập gia đình…

Hân ra trường, Cô ấy làm việc cho một công ty nào đó ở trong ấy.

Lúc này, tôi không còn tâm trí nào để nghĩ đến ai. Vợ tôi xoay trong những cuộc làm ăn, hái ra rất nhiều tiền củng với những mối quan hệ không minh bạch! Với sự đồng lỏa của tay cán bộ tài chình, nhiều lần cô ấy lấy danh nghĩa của tôi để bán khống những lô đất trong thị trấn. Chuyện vở lỡ, tôi bị kỷ luật buộc thôi việc…

Trút bỏ tất cả, tôi mua một đám đất rừng. vừa trồng rừng vùa chăn nuôi…Cho đến khi chuyện ngoại tình của cô ấy vở lỡ…cùng với những vụ lường gạt huê hụi sau đó!

Tôi gặp lại Hân trong một buổi tiệc mừng tân gia của Phú ở thị xã.

Cô ấy cũng ê chề vì yêu rối lấy nhằm một anh chồng đã có gia đình. Biết được, cô ấy chia tay.

Phú thương em, Không an tâm khi để Hân sống đơn độc tại Sài gòn…gọi Hân về, mở một cơ sở Photocopy, đồng thời cho các cơ quan, công ty… trong thị xã thuê máy photocoppy cũ, giao cho nàng quản lý.

Niềm vui lẫn nỗi buồn gặp lại nhau trong hoàn cảnh cả hai đều thất bại trong hôn nhân. Tôi uống nhiều…

Khi tàn tiệc, Hân không cho tôi về một mình. Đoạn đường từ thị xã về đây ba mươi lăm cây số. Cô ấy chở tôi về rồi nhất định ờ lại đêm cùng tôi.

Sau đêm đó, Hạnh phúc mà chúng tôi cảm nhận được tử hai tâm hồn hòa cùng thể xác của nhau… cả hai chúng tôi đều tiếc nuối cho những tháng năm qua!!!

oOo

Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muôn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng!

Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẵng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ấp đến với chúng tôi!

Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lể giáng sinh vài hôm, Trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cố ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hải nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ…

Với thai năm tháng tuổi, bênh viên không dủ đều kiên trợ tim, trợ thở cho chàu. Nửa giờ sau khi đưa ra khỏi tử cung, con chúng tôi ngưng thở!

Hân vẫn nằm trong phòng hồi sức! Một nữ y tá bồng cháu ra, trao cho tôi:

– Không thể cứu được cháu, chị vẩn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rối sáng mai trờ lại!

Tôi gọi báo tin cho Phú rồi mượn bạn chiếc xe máy. Phú đến cùng em gái Hân ngay sau khi nghe điện. Trùm cháu trong một cái áo khoác, tôi cột hai tay áo ra sau cổ thành chiếc võng rồi trong đêm, chạy về nhà, Tôi chôn cháu trong vườn để sáng còn trở lại bệnh viên. Tôi vừa chạy xe vừa lầm rầm khấn cầu với cháu: Con ơi, con hãy cứu mẹ!

Vết mổ của Hân nhiễm trùng, tái đi tái lại cộng với lượng máu mất nhiều, Cô ấy kiệt sức rồi mất sau mười hai ngày nằm trong phòng hồi sức! Tôi đau đớn tột cùng. Đưa Hân về chôn bên con…

Không lâu sau, chưa hồi tâm sau mất mát đau lòng này, tôi được tin con trai vướng vào vụ án!!!

oOo

Suốt đêm hôm ấy và mấy đêm sau nửa, Thuyết không ngủ được, anh trắn trọc với những khốn khổ mà Hào, người khách cuối năm kể lại. Bố vợ anh có ý tự nguyện giúp cho Hào một khoản tiền, đủ để xây cho ba ngôi mộ, luôn cả mộ mẹ của Hào.

Hôm xong xuôi, Hào nghẹn ngào ôm Thuyết, mếu máo những lời cảm ơn. Không lớn lao to tát, nhưng ba nấm mộ cũng khá khan trang. Hào trở lại Buôn Ma Thuột.

Chia tay nhau nơi bến xe, tấp nập người đi kẻ về vào những ngày cuối năm… dáng Hào đơn độc, bước đi liêu xiêu với cái túi xách trên vai. Thuyết cúi đầu quay về, lỏng trĩu nặng như mang theo nỗi bất hạnh của Hào.

Anh ngẩm nghĩ: Hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!

 

Sài gòn, 01/12/2016.

Trạch An -Trần Hữu Hội

 

 

 

Song hành

nguyenhanchung

Tặng QC

Anh yêu tỉnh rụi
nên em
phải yêu tận tụy
để còn gần nhau

Chẳng màng
yêu trước  yêu sau
cuối sông
và khúc sông đầu
bơ vơ

Những lời ma mị
đê mê
chẳng qua
là loại thuốc tê
nhất thời

Anh yêu tỉnh rụi
cuối đời
Em yêu tận tụy
tự thời hoa niên

Nguyễn Hàn Chung

20/12/16