ĐÊM

mocmienthao

Vách đêm sừng sững
Khói ray trắng những cung đường

Bờ không mộng mị
Trăng ngồi kể chuyện đinh hương

Ru tôi cánh mỏng
Chiều qua bẽn lẽn dấu chân

Tháng ngày như mộng
Hoàng hôn khép mở bao lần

Đêm về trong vắt
Tứ bề cô quạnh cánh sầu

Lẻ loi tiếng vạc
Đuổi nhau xé toạc đêm thâu.

Mộc Miên Thảo

TỊNH CA MÙA CŨ

phuonguy

ám ảnh tôi
đau
niềm đau từng kiếp
vận âm thanh
nghe nhật tụng xô bồ
ngày vong nô
nhận từng phiên âm gãy
ám ảnh luỵ phiền
thương hải mù mưa

nhập siêu tôi
nhập từng cơn
đau mãi
ngày là xanh
tím đỏ hay là vàng
ngày qua tôi
từng canh
ru tiếng nấc
dọn chỗ nằm
cho phiến gãy
lang thang

khát khao tôi
ngày tháng tư nhập thất
tịnh thanh âm
đừng vọng tiếng em cười
đừng để gió
ruổi rong bờ kí ức
mang về tôi
vằng vặc tiếng em xưa

khúc tịnh ca
em gọi về nắng cháy
tháng tư qua rồi tháng năm cũng qua
tôi lặn ngụp tôi u mê
tâm tưởng
úp mặt rồi
gột giặt tháng ngày xa

rỉ hoen tôi
cho từng mùa ân ái
hoá mù sa rồi không nhận mặt người
em ở lại phía bên bờ cát lở
tràn cung khuya
rấm rứt ánh sao soi
đừng tỏ mặt
đêm như ngày
lạc vận
nghe bài thơ cũng ức tử lâu rồi
em cứ đến
dẫu niềm đau không thật
soi dùm tôi
giữa hư ảo nông vơi…

PHƯƠNG UY

RANH GIỚI. ANH HÙNG. BẠO CHÚA!!!

truongdinhphuong

Nguyễn Ánh bị Huệ ép cho cùng đường đành sang cầu cứu Xiêm La và người Pháp.Một mưu thần dưới trướng bảo Ánh:
-Thưa minh công, theo ngu ý của tôi ngài nên nằm gai nếm mật đợi thời chờ cho lực lượng nhà Tây Sơn suy yếu rồi hãy phản công bằng thực lực của chính mình. Nếu bây giờ dựa vào sức ngoại bang có thể ngài sẽ dành lại được giang sơn mau chóng nhưng tôi e là sẽ xảy ra thảm cảnh rước voi dày mả tổ chăng?
Ánh trợn trừng hai con ngươi mà rằng:
-Nhà ngươi có đứng vào vị trí của ta mới hiểu được lòng ta. Toàn bộ gia tộc nhà ta bị một tay bè lũ Tây Sơn giết hại nếu ta không trả được thù thì có xứng làm kẻ đứng trong trời đất hay chăng?
Kẻ đó nói:
-Thưa tôi hiểu mối uất hận của ngài. Nhưng thiển nghĩ thù nhà tuy quan trọng nhưng non sông này còn quan trọng hơn ngàn vạn lần.Nếu một mai ngài trả được mối hận nhà mà non sông lại lọt vào tay giặc thì biết tính sao?
Ánh vắt tay lên trán suy nghĩ rất lung. Những thây người đẫm máu, những tiếng than khóc xé ruột của người thân lần lượt hiện về trong tâm trí Ánh. Ánh ngẩng đầu lên dứt khoát:
-Đúng sai gì hãy để hậu thế phẩm bình, nay ta hãy cứ thỏa mãn chí tang bồng của ta. Ngươi có biết không, ai cũng nghĩ ta chỉ vì thù tư mà dựa dẫm người Xiêm La và người Pháp để tiêu diệt nhà Tây Sơn, thật sự tất cả các ngươi đều lầm, các ngươi biết một mà không biết hai.Ánh nghĩ một lát lại thở dài nói tiếp. Hiện nay nền chính trị cũng như đời sống xã hội nước ta đang sa vào vũng lầy cổ tục, nếu không chấn hưng thì e là sẽ tụt hậu trầm trọng so với các nước lân bang.
Ta nhìn ra phương Tây thấy tư tưởng cũng như nền văn hóa của họ vượt xa chúng ta cả mấy trăm năm, nếu được sau khi mượn tay họ trả mối thù giết hại dòng tộc ta muốn dựa vào họ để cải cách lại nền văn hóa nước nhà.
Kẻ mưu sĩ nhìn Ánh đầy nghi hoặc. Ánh cười ha hả:
-Ôi chí của chim hồng chim hộc loài cỏ lác có thể hiểu được sao? Ta nói cho ngươi hay Huệ là một tay thân thịt áo lông, lòng chồn dạ cáo.Bên ngoài hắn tỏ vẻ vì dân nước và phục tùng nhà Tây Sơn nhưng thật sự trong bụng hắn chứa đầy tham vọng.
Kẻ mưu sĩ lắc đầu cười thầm cúi mình xá Ánh rồi cáo lui. Ba hôm sau kẻ mưu sĩ ấy bỏ Ánh mà chạy sang đầu quân cho Huệ. Huệ nhìn kẻ ấy thấy mình hạc mặt chuột thì nghĩ:
-Cổ nhân bảo mình hạc thì ác mặt chuột thì gian, kẻ này ta có nên sử dụng hay chăng?
Tính Huệ xưa nay vốn hào sảng yêu chuộng người tài bởi vậy chỉ nghĩ thoáng qua một chút rồi cười nói:
-Ta áo vải cờ đào, một niềm đau đáu vì non sông nòi giống nay ngươi bỏ chỗ tối sang nơi sáng nguyện giúp ta tiêu trừ tên chuột nhắt Nguyễn Ánh âu cũng thuận theo lẽ tự nhiên vậy.
Kẻ mưu sĩ cúi gập mình mà rằng:
-Cảm tạ sự ưu ái thâu nhận của ngài tôi nguyện óc gan lầy đất cũng không từ nan.
Huệ hỏi:
-Nhà ngươi ở dưới trướng của hắn bao lâu?
Kẻ sĩ đáp:
-Dạ thưa gần mười năm.
Huệ nói:
-Vậy là người theo hắn từ thuở hắn còn trứng nước?. Ta muốn ngươi nói rõ cho ta về tính cách cũng như suy nghĩ của hắn liệu có được chăng?
Kẻ sĩ sửa áo đáp:
-Ánh là kẻ bên ngoài cương nhưng bên trong nhu. Điểm yếu chết người của hắn là luôn mang nặng trong lòng mối thù gia tộc, tôi nghĩ kẻ nào mà chỉ đau đáu trả tư thù thì trí tuệ sẽ luôn bị bó buộc bởi hai chữ vì thân.Nếu Ánh nghĩ thông suốt đem lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu hắn sẽ là một tay anh hùng lật đất đổi trời.
Kẻ có tham vọng làm vương mà hạ mình cầu cứu ngoại bang đã là một sai lầm nghiêm trọng, theo ngu ý của tôi tốt nhất mình hãy tự lực tự cường. Muốn đất nước phát triển có thể nhìn vào nền văn minh của người ta mà thay da đổi thịt nhưng không đồng nghĩa với việc để cho người kiềm tỏa mình. Ánh nói thì hay mà suy nghĩ của Ánh tôi nghĩ còn nhiều điều chưa thoát ly khỏi gấu váy đàn bà.
Huệ cười thầm tự nhủ:
-Tên này ăn nói cũng khéo đấy, vừa nói về Ánh nhưng đồng thời hắn “dạy khéo” cả ta.
Kẻ mưu sĩ chưa lập gia đình nên Huệ cho hắn tạm thời sang ở cùng Ngô Thời Nhậm.
Từ đó kẻ mưu sĩ đã ngày đêm cống hiến nhiều kế hay giúp cho Huệ lắm phen khiến quân của Ánh khốn đốn. Ánh thề một ngày tiêu diệt được Tây sơn sẽ băm vằm kẻ phản tặc.
Năm 1792 Huệ đột ngột lâm trọng bệnh qua đời khi mới 40 tuổi. Con trai Huệ là Quang Toản lên nắm quyền. Quảng trí hèn, tài sơ cuối cùng bị Ánh tiêu diệt, vương triều Tây Sơn hoàn toàn sụp đổ. Sau khi giành thắng lợi Ánh bắt đầu cuộc trả thù bỉ ổi nhất trong lịch sử Việt Nam.
“ Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệđều bị xử lăng trì[170].
Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác[171][172], đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục[171].
Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày[172], chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn[172] nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết…
Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi[171], đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối[173][174][175].
Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết.
(trích từ bách khoa toàn thư điển tử Wikipedia)
Ánh cho người lùng xục khắp hang cùng ngõ hẻm quyết tìm cho được kẻ mưu sĩ. Hơn mười ngày quân lính xục xạo từ hang chuột góc bếp vẫn không thấy kẻ ấy.
Mấy năm sau, vào một buổi sáng Ánh lúc này đã lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đang thiết triều thì được quân lính canh cổng thành vào bẩm báo có một kẻ cụt chân hò hét bên ngoài đòi diện kiến cho bằng được nhà vua.
Ánh cho là sự lạ liền khiến quân lính cho kẻ đó vào.
Nhìn kẻ đứng dưới vóc hạc mặt chuột Ánh hơi nghi nghi nhưng kẻ này râu ria xồm xoàm lại chột một bên mắt nên Ánh chưa dám chắc bèn hỏi:
-Ngươi là ai muốn gặp trẫm có chuyện gì?
Kẻ cụt chân cười ha hả nói:
-Cách xa chưa bao lâu lẽ nào ngài vội quên kẻ mưu sĩ đã theo ngài từ thuở còn hàn vi?
Ánh ồ lên một tiếng, rồi cười nói:
-Qủa nhiên là ngươi, nếu là mấy năm trước khi ta vừa tiêu diệt xong Huệ tìm được ngươi hẳn ta đã ban cho ngươi cái chết không nhẹ nhàng, nhưng bây giờ ta đã ở ngôi cao muôn dân trong vào ta cũng chả thèm chấp một kẻ đã thành đứa vô dụng như ngươi.
Kẻ cụt chân con mắt còn lại long sòng sọc nhìn Ánh:
-Khi các người kéo quân đánh vào quân Tây Sơn lẽ ra ta đã bị vùi xác trong chiến loạn nhưng ta đã gắng gượng chạy thoát và cố gắng sống cho đến ngày hôm nay, ngài có biết vì sao chăng?
Ánh lắc đầu:
-Thú thật là ta không biết, ngươi có thể nói rõ ta nghe được chăng?
Ánh nhìn kẻ ấy vẻ tò mò. Kẻ cụt chân vung gậy chỉ vào mặt Ánh:
-Là để gặp lại ngươi đấy.
Ánh giật nảy mình suýt chút nữa thì đứng bật dậy.Nhưng Ánh cố kìm nén ngồi im.
Kẻ cụt chân nói tiếp:
-Ngươi từng nói với ta sẽ không vì tư thù mà rước ngoại bang vào dày xéo non sông, ngươi lại còn vung vít rằng sẽ thay da đổi thịt cho đất nước này. Nay thì sao?
Ngươi diệt nhà Tây Sơn trả thù một cách bỉ ổi táng tận lương tâm đến cầm thú cũng phải ghê sợ. Nay người ngồi ngôi cao lại đặt ra sưu cao thuế nặng khiến sinh linh khốn khổ. Ta đã từng nghĩ ngươi rốt cuộc cũng chỉ là kẻ miệng chó mõm quạ nay thì thật đúng lắm thay.
Nếu ta là ngươi thì đã không như bây giờ. Tại sao ngươi không lập nên đất nước của riêng ngươi cùng Huệ chia đôi hai miền nam bắc ngươi quản Nam để Bắc Hà cho Huệ song song cùng tồn tại, gạt bỏ mối tư thù, nước sông không phạm nước giếng.
Nếu ngươi làm được như vậy thì hậu thế ngàn đời ngợi ca ngươi thay vì ngươi trở thành mảnh gương xấu cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghe những lời ấy Ánh rúng động tâm can lẩm bẩm:
-Nếu ta làm vậy liệu có được không?
Nhìn kẻ cụt chân nói:
-Nếu ta làm như ngươi nói thì liệu Huệ có tha cho ta chăng? Huệ là tay tham vọng không hề nhỏ.
Kẻ cụt chân nói:
-Đúng vậy Huệ tham vọng không nhỏ nhưng tấm lòng vì dân vì nước của Huệ là vô cùng bao la. Nếu như ngươi cố quên thù cũ đưa ra sách lược cùng Huệ chia đôi hai miền để non sông ổn định thì Huệ chắc chắn sẽ nghe.
Ánh nói:
-Tại sao trước đây ngươi không nói cho ta điều này?
Kẻ cụt chân cười:
-Ngươi còn nhớ có lần ta dâng ngươi một chiếc túi chăng, ta nói trong chiếc túi đấy có chứa một cẩm nang giúp ngươi thực hiện được hoài bão của ngươi mà không cần phải đổ máu người dân vô tội nhưng ngươi chỉ cười trừ xem ta là tên nói xằng.
Kẻ cụt chân thở dài :
-Dù sao mọi sự cũng đã rồi nói nhiều cũng chả được gì. Từ nay ta mong ngươi hãy suy nghĩ thấu đáo vì nhân dân mà thay đổi những đạo luật hà khắc. Dân là gốc triều đình là ngọn không có nhân dân thì ngôi cao quyền trọng cũng chỉ là phù du, kẻ nào dùng cái ác để quản lý đất nước lấy bất công để cai trị bá tánh thì sớm muộn cũng bị diệt vong mà thôi.
Kẻ cụt chân nặng nề lê tấm thân tàn rời hoàng cung. Ánh ra lệnh cho quân lính không được cấm cản hắn.
Đêm đấy Ánh đang nằm ngủ, giật mình choàng dậy vì một giấc mơ kinh hoàng. Ánh thấy rất nhiều người máu me be bét quây quanh mình khóc lóc, chửi bới đòi đền mạng. Khuôn mặt Huệ uy nghi hai mắt như điện chiếu thằng vào Ánh mà nói:
-Ta sẽ được ngàn đời nhắc đến với sự ngưỡng vọng nuối tiếc còn ngươi sẽ bị hậu thế nguyền rủa.
Ánh hét lớn:
-Không, không ta không phải thế, ta không phải thế.
Một tiếng sét đinh tai, rồi mưa như trút. Ánh hốt hoảng chạy lại mở toang cửa nhìn ra sân. Từng dòng nước mưa chảy tràn, dưới làn chớp sáng ngời đỏ quạch như máu.

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Thứ Bảy Này

tranvanle

Thứ Bảy này, đài loan tin dự báo: Một cơn mưa sẽ đổ xuống Cali. Những con chim én trên đường bay về, tội nghiệp nhỉ đường xa Nam Bắc!

Hôm nay Thứ Năm mây giăng giăng khắp, những đám mây chưa đủ nặng sầu đời. Mây đang trôi và gió thổi mây trôi, không biết có đám mây nào tới lầu Hoàng Hạc…

Tôi bỗng nhớ những gì mình mất mát, chẳng hạn Quê Hương, chẳng hạn người thân…rồi nhủ lòng bằng nhiều ít bâng khuâng: cái gì quá khứ đã thuộc về quá khứ!

Chim hoàng hạc cõng trên lưng lịch sử cả những người mình nhớ mình thương, thí dụ như Hưng Đạo Đại Vương, thí dụ như Quang Trung Hoàng Đế, thí dụ như anh chàng Hoàng Tử Bé…muôn thuở huy hoàng trả lại muôn xưa!

Em ơi em, anh nhớ em bây giờ và cơn mưa sắp tới – một cơn mưa nặng lòng chờ đợi của đường cây sắp sửa héo hon…

…của lòng anh, sắp sửa lại buồn, mỗi giọt nước chắc là giọt lệ biết đâu chẳng vì ngày tận thế, thương làm sao những đứa nhỏ mới chào đời…

Chúng sẽ không được nhìn những đám mây trôi. Chúng sẽ không biết gì cõi đời hư ảo. Chúng rúc vào ngực Mẹ che đầu bằng vạt áo…áo dài em bay một thuở rất nên thơ!

Trần Vấn Lệ

NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHIẾN TRÁI TIM EM ĐAU

linhphuong

Quá khứ anh nâng niu-sớm mai nào cũng đem ra phơi nắng
Để gió đại ngàn ướp muối biển mặn – nồng hôm qua hạnh phúc
Mỗi lần kể chuyện cũ trong veo thủy tinh em đều khóc
Ngày tháng năm – dâng hiến cho anh máu thịt của mình

Ngày tháng năm-người đàn ông bạc tình
Bỏ lại sau lưng vầng trăng thiêng liêng mười sáu
Em – cô thiếu nữ dậy thì nắm tay anh đi bằng bước chân chim sáo
Hồn nhiên vô cùng ngần ấy tuổi mùa ngâu

Yêu chi người đàn ông khiến trái tim em đau
Chạy theo anh-nước mắt chảy dài theo đường xe hiu hắt
Chạy theo anh-chạy theo thằng cha Linh Phương háo sắc
Đã chết rồi-thềm xưa- ly cà phê đá – ngồi lặng lẽ nhớ vu vơ

Người đàn ông tưng tửng làm thơ
Nơi biển đợi chờ -ước nguyện mang đến em cánh buồm thắm đỏ
Cánh buồm với giấc mơ hết đời chồng vợ
Da diết hoài bàn tay nắm lấy bàn tay

Phố chợ ngậm ngùi màu áo em phai
Ràn rụa ngấn lệ nhìn về phía chân trời xa bóng anh liêu xiêu chiều muộn tím
Nụ hôn liêu xiêu chỉ còn là kỷ niệm
Chôn dưới nấm mồ oán hận oan khiên

Muốn vực em dậy-ôm em- và nói với em rằng : – Anh rất cần em
Người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác
Quên đi những giận hờn – sáng mai bình minh em thức
Hít điên cuồng mùi ngực người đàn ông thương nhất xứ hôm nào

Người đàn ông khiến trái tim em đau
Và khóc – khi hoàng hôn nắng vàng vọt tắt
Và khóc – khi đạp xe trên đường – hai bên bờ ruộng ghé thăm ngôi chùa cô bạn thân đã mất
Và khóc – khi nghe tiếng động cơ Đồng Phước xa dần…

LINH PHƯƠNG

Đà Lạt Trời Mưa

phamtinanninh

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang Alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.

– Anh chờ em có lâu không?

Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.

– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:

– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.

– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái, em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.

– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun – loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng tư, thì hai người đã làm đám cưới.

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.

Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải giấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.

Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẵn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo giòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:

– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:

– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:

– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong ba lô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta… xin lỗi cô ta.

Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.

– Em cám ơn anh, và xin lỗi… em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:

– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:

– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.

Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:

– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỉ mỉ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc được: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó trưởng ty Cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi :

– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:

– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.

– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:

– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?

Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ ra.

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:

– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ?

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!

Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:

– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.

Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:

– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!

Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn giấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.

Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:

– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.

– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời:

– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:

– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.

– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẫng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.

Cô gái hạ giọng:

– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực:

– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.

– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh.

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:

– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn .

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:

– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt:

– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?

– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.

– Và chị đã chết? Tôi hỏi

– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.

– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?

– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt. Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.

– Còn chị Hà Nhất Anh?

– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chữa. Trong mấy ngày tỉnh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:

– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.

– Dạ . Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.

– Đồi thông hai mộ . Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:

– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.

– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:

– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi:

– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:

– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ:

– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:

– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:

– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm mầu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

TAN HOANG

nguyendangtrinh

tôi đứng đó mà như… không đứng đó
trời chẳng mưa sao lũ lụt ngập lòng
mắt lơ láo ngó vào đâu cũng sợ
ngày… tan hoang… đêm cũng… tan hoang!…

em đã đến mà chi ngày tháng ấy
dáng cò nhang đòi cứu rỗi mùa khuya
còn bày đặt ngọt ngon lời phỉnh dụ
giơ… tay này… liền rụt lại… tay kia!…

giá em cứ… thật xa ngoài đó quách
yên thân nơi đất hứa với thiên đường
ta đã không đau
và không cùng… ngán ngẩm
môi chưa nồng là… mãi mãi môi hương!…

tôi đang sống mà như… không đang sống
ngày xanh rêu hoang hóa dấu địa đàng
đêm mục ruỗng đen thui màu ảo vọng
đời… tan hoang… tình cũng… tan hoang!…

nguyễn đăng trình

HẠT CÁT TRÊN SA MẠC

nguyenhuynh


( Viết cho những ai cho mình là hạt cát)

Rất có thể tôi là hạt cát trên sa mạc
Chịu nằm im cam phận nhỏ nhoi mình
Chịu phơi thây cho mặt trời nung nóng
Chịu quay cuồng cho gió lốc đẩy đưa
Chịu cô đơn cho cô quạnh hoành hành
Và chịu chết cho một vùng đất chết!

Rất có thể tôi là hạt cát trên sa mạc
Chỉ dám mơ một giấc mơ mưa
Chỉ dám nghĩ một màu xanh bát ngát
Chỉ dám ước một ngày trời râm mát
Một bước chân người in dấu chân qua…

Nhưng cũng rất có thể tôi là hạt cát
Biết dậy mình phẫn nộ mặt trời kia
Biết uất ức vì gió đang sai khiến
Biết bất công vì sao mưa không tới
Biết dấy lên một bão cát san bằng
Mỗi hạt cát là một mũi tên sắc nhọn.

Cũng có thể anh là hòn núi
Tặc lưỡi mình thôi thây kệ thế gian
Sợ một chiếc lá trong rừng rơi rụng
Sợ một hòn đá bên sườn sạt lỡ.

Cũng có thể anh là biển rộng
Nhưng không dám một lần nổi sóng phong ba
Nỗi uất hận nuốt sâu dưới đáy
Sợ bên bờ đất lỡ trôi đi…

Hỡi những người sống ở hôm nay
Tôi muốn nói một lời rất thật
Một hạt cát biết trồi mình lên cử động
Còn hơn là biển cả tự đóng băng!

NGUYỄN HUỲNH

Cuộc phiêu lưu của đôi vợ chồng

truongvandan

Nguyên tác : L’avventura di due sposi
Tác giả: Italo Calvino ( Italia)

Italo Calvino (1923-1985) là một trong những nhà văn Ý quan tâm đến nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng đến chính trường, văn học và văn hoá Ý vào những năm sau chiến tranh.
Sinh năm 1923 tại Santiago de Las Vegas, Cuba: Cha ông là một nhà nông học và mẹ là một nhà sinh vật học. Họ sống và mở một vườn thực vật nhiệt đới tại Cuba nhưng sau một trận bão (1925) làm đổ nát nhà cửa và khu vườn này, họ quyết định quay về Ý và sống tại thành phố biển San Remo thuộc vùng Liguria, Italia.
Ngay từ thời trung học ông đã kết bạn thân thiết với Eugenio Scalfari và Eugenio Curia, sau này đều trở thành những nhà văn và trí thức lỗi lạc của Ý. Nhưng quan hệ quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông là khi theo học văn khoa ở Torino, ông quen thân nhà văn nổi tiếng Cesare Pavese, sau trở thành người hướng dẫn và cũng là “độc giả đầu tiên” cho nhiều trang viết của ông.
Là tác giả của nhiều tiểu thuyết, tập luận văn, ông còn chủ biên rất nhiều công trình văn học quan trọng. Bắt đầu xuất bản từ năm 1947, ông đã đoạt nhiều giải thưởng và vinh dự lớn như sau: giải Viareggio 1957; giải Bagutta, 1959; giảiVeillon, 1963; giải Feltrinelli về truyện kể, 1972; viện sĩ danh dự của Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật và Văn Chương Hoa Kỳ, 1975 giải Premio Riccione (Italy), 1984. .. Cùng với nhà văn Vittorini ông chủ biên tạp chí Menabò.
Ngoài việc sáng tác , ông còn là một nhà phê bình rất tên tuổi và cũng là nhà văn Ý trong thế kỷ 20 được dịch nhiều nhất ở Anh và Bắc Mỹ. Sau giải thưởng quốc tế Formendor ở Maiorca, năm 62, trong cuộc gặp gỡ với các nhà văn quốc tế ông đã gặp nữ phiên dịch nguời Argentina Esther Judith Dinger, thường được thân mật gọi là Chiquita và hai năm sau(1964) lấy bà làm vợ. Đám cươi được tổ chức tại Cuba nhưng họ về sinh sống tại Roma. Trong thời gian ở Cuba ông có gặp Che Guavara và về sau này ông có viết về cái chết của nhân vật này.Ông đã cộng tác với nhà xuất bản Einaudi và thành lập hội thân hữu Ý- Cuba.
Ông mất ngày 19-9-1985 tại bệnh viện Siena vì chứng xuất huyết não.
Các tác phẩm chính :
Phần lớn tác phẩm của Calvino là kiệt tác: bộ ba tiểu thuyết với tên gọi chung “Tổ tiên của chúng ta” gồm “Tử tước bị phân đôi ” (1952), “Nam tước leo cây” (1957) và “Hiệp sĩ không hiện hữu” (1959); “Cosmicomics” (1965); “Những thành phố vô hình” (1972), và đặc biệt là “Nếu một đêm đông người lữ khách…” (1979).
Sau khi ông mất, ba tác phẩm khác của ông cũng được lần lượt xuất bản: “Dưới bóng mặt trời Giaguaro”, “Con đường ở San Giovanni” và “Trước khi bạn nói sẵn sàng”.

Câu chuyện sau đây được viết về một gia đình Ý vào những năm sau đệ nhị thế chiến. Sự bùng nổ công nghiệp đã giúp nước Ý thoát khỏi những tàn phá của chiến tranh và mau chóng trở thành một trong những nước phát triển ở Âu Châu. Thế nhưng về phương diện xã hội, tinh thần đoàn kết, gắn bó truyền thống của gia đình Ý đã bị biến đổi và có nguy cơ bị phá vỡ.
Được viết từ năm 1958. Sự cảnh báo của Calvino đã đặt các nhà nghiên cứu trước vấn đề lương tâm và những năm tiếp đó ( 1961) nhiều trí thức Ý đã tham gia trong các thảo luận về đề tài “ Văn Học và Công nghiệp ”.

Công nhân Arturo Massolari làm ca đêm, công việc của anh chấm dứt vào sáu giờ sáng. Để về nhà, anh phải đi một quãng đường dài. Những khi trời tốt anh đi bằng xe đạp còn lúc có mưa hay những tháng muà đông anh phải dùng xe điện. Anh về đến nhà trong khoảng sáu giờ bốn mươi lăm đến bảy giờ, nghĩa là trước hoặc sau tràng chuông báo thức mà vợ mình, cô Elide, đã cài đặt.
Có hai thứ tiếng động vang lên cùng lúc: tiếng chuông báo thức và tiếng chân của chồng bước vào nhà. Hai thứ tiếng động đó chồng chất trong đầu Elide, cùng đến trong giấc ngủ say, mà cô còn muốn kéo dài thêm bằng cách áp sát mặt vào chiếc gối. Sau đó cô bước xuống giường, mắt nhắm mắt mở cho hai tay vào chiếc áo choàng, và những sợi tóc phủ loè xoè xuống mắt. Cô đi xuống nhà bếp và thấy Arturo đang lấy từ túi xách các thứ mà anh mang đến hãng: chiếc cà mèng đựng thức ăn, bình thermos…và những chiếc hộp không rồi đặt chúng trong chậu rửa bát. Lúc đó anh cũng vừa đốt bếp để pha cà phê. Biết chồng đang nhìn, Elide cảm thấy bối rối. Cô mở to mắt và muốn đưa hai tay lên che đầu, cứ như mỗi lần cô đều xấu hổ cho cái hình ảnh đầu tiên mà chồng nhìn thấy mỗi khi bước vào nhà, đầu tóc cô luôn rối bù trên khuôn mặt ngái ngủ. Khi hai người ân ái hay ngủ chung thì là chuyện khác, buổi sáng khi thức dậy, cả hai cùng phờ phạc và có chung cảm giác thiếu ngủ như nhau.
Có đôi khi Arturo bước vào phòng ngủ để lay thức vợ, anh còn mang cho cô tách cà phê nóng trước khi chuông báo thức reo; nhưng lúc đó mọi sự đều rất tự nhiên, vẻ nhăn nhó lúc cô thức giấc trông giống như một sự lười biếng ngọt ngào, cô ưỡn người, hai cánh tay trần duỗi ra và cuối cùng cô quàng vào cổ chồng một cách âu yếm. Họ ôm nhau. Arturo còn mặc trên người chiếc áo khoát và lúc anh đến gần là cô hiểu ngay thời tiết hôm đó: trời mưa, có sương mù hay tuyết, tùy theo hơi lạnh giá hay sự ẩm ướt trên người anh. Tuy vậy cô vẫn hỏi: “Thời tiết thế nào, anh?” và lúc ấy anh bắt đầu than thở, kể lể về những khó khăn đã gặp. Anh thường bắt đầu từ đoạn cuối: hành trình trên xe đạp, thời tiết khi vừa bước ra khỏi xưởng, nó khác với chiều hôm trước ra sao rồi những bực bội trong công việc và những chuyện ngồi lê đôi mách trong hãng xưởng…
Vào giờ đó căn nhà chỉ vừa được sưởi ấm, nhưng Elide cũng phải khoả thân, rùng mình bước vào phòng tắm. Sau đó anh chồng cũng vào theo, bình tĩnh cởi đồ, chậm rãi kỳ cọ, và chăm chú xoá những vết dầu trong xưởng máy. Cứ thế, cả hai trần truồng và lạnh lẽo, đứng quanh cái bồn rửa nhỏ xíu, thỉnh thoảng họ đụng, đẩy nhau hay giật lấy cục xà phòng, ống kem đánh răng và tiếp tục nói với nhau những điều cần nói; Cũng có lúc họ biểu lộ vài cử chỉ thân mật, giúp nhau kỳ lưng, khe khẽ vuốt ve và cuối cùng ôm lấy nhau một cách vội vã. Nhưng bất thình lình Elide kêu lên: “Chúa ơi! Mấy giờ rồi vậy?” rồi vội vã chạy đi mang vớ, mặc váy, vừa đứng soi mặt trước tấm kính trên bàn phấn vừa đưa bàn chải chạy lên chạy xuống trên mái tóc bù, hai hàm răng còn cắn chặt cái kẹp tóc. Arturo bước đến sau lưng vợ, đốt một điếu thuốc và nhìn vợ đang đứng bên mình, mỗi lần rít thuốc anh đều cảm thấy bối rối vì đứng đấy mà không biết phải làm gì. Cuối cùng Elide đã sẵn sàng, cô vội tròng lên người chiếc áo khoát, hôn vội chồng rồi mở cửa, chạy nhanh xuống cầu thang.

Còn lại một mình Arturo theo dõi tiếng chân của Elide bước trên các bậc thang cho đến khi không còn nghe thấy và anh vẫn tiếp tục theo dõi bằng suy tưởng tiếng nhún nhảy vội vã trong sân, tiếng mở cửa chính của toà nhà, tiếng chân bước trên vỉa hè cho đến tận trạm dừng xe điện. Riêng tiếng bánh sắt trên đường ray thì anh nghe rất rõ khi nó rít lên để dừng lại, và tiếng động khô khốc của bàn đạp khi có người leo lên. “May quá, cô ấy đã bắt kịp”, anh nghĩ và thấy vợ mình đứng chen chúc giữa đám công nhân đông đảo, nam và nữ, trên xe số 11 đang chở họ đến nhà máy như mọi ngày. Anh dụi tắt điếu thuốc, đứng lên khép hai cánh cửa sổ, căn hộ tối sầm lại và anh đi ngủ.
Chiếc giường ngủ vẫn như lúc Elide đứng dậy, nhưng về phần giường của mình, Arturo thấy nó vẫn còn nguyên, như vừa mới trải giường. Leo lên giường, anh nằm ngay ngắn ở phần mình, nhưng lát sau lại thò một chân qua phía bên kia, nơi có hơi ấm của vợ, sau đó anh còn thò thêm chiếc chân kia nữa…và cứ thế dần dần anh lăn người di chuyển toàn thân sang phần giường của vợ, trong cái hơi ấm được giữ lại ở cái chỗ lõm có hình dạng của thân hình Elide. Anh áp má vào chiếc gối của vợ để cảm nhận mùi thơm của cô và thiếp dần vào giấc ngủ.
Buổi chiều khi Elide trở về nhà cô thường thấy Arturo đang quanh quẩn trong nhà: Anh đang đốt lò sưởi hay nấu nướng cái gì đó. Anh thường làm một vài việc trước bữa cơm chiều, như trải lại giường nằm, quét dọn chút đỉnh hay ngâm quần áo để chờ vợ về giặt. Nhưng Elide thấy mọi việc chồng làm đều rất qua loa. Cô quá biết chồng mình cẩu thả và ít quan tâm đến những việc này: những gì anh làm thực ra chỉ để đánh lừa thời gian trong lúc chờ vợ về, như để giúp vợ chút ít khi anh vẫn còn ở nhà, trong lúc bên ngoài đèn đường đã bật sáng và vợ đang hối hả đi từ cửa tiệm này sang cửa tiệm khác trong sự nhộn nhịp khác thường vì đó là thời điểm các bà nội trợ đang vắt chân mua sắm những thứ cần thiết cho bữa cơm chiều.
Cuối cùng Arturo nghe tiếng chân vợ bước lên cầu thang, tiếng vang hoàn toàn khác tiếng động vào ban sáng, lúc này nặng nề hơn bởi cô bước từng bước mệt mỏi sau một ngày làm việc và còn phải mang những túi thức ăn vừa mua được. Anh mở cửa bước ra hành lang, đỡ lấy các thứ cho vợ, rồi cả hai cùng bước vào nhà và trò chuyện. Chưa kịp cởi áo khoát cô vợ đã ngồi phịch xuống chiếc ghế trong nhà bếp trong khi chồng lấy thức ăn từ túi xách ra. Ngồi nghỉ một lát rồi Elide kêu khẽ “ Thôi, làm cái gì đi !” vừa nói cô vừa đứng lên, cởi áo khoát và thay quần áo mặc trong nhà. Cô bắt đầu nấu bữa ăn tối cho hai người, sau đó chuẩn bị bữa ăn nhẹ để chồng mang vào nhà máy cho giờ nghỉ giải lao vào một giờ khuya và bữa điểm tâm cho mình để mang theo vào sáng hôm sau ; Ngoài ra cô còn phải sửa soạn sẵn sàng bữa cơm cho chồng vào ngày mai lúc anh thức giấc.
Elide vừa làm, thỉnh thoảng cô ngồi nghỉ vài giây trên chiếc ghế mây trong nhà bếp và nhờ chồng làm giúp vài điều gì đó. Nhưng anh chồng vẫn còn đang nghỉ nên chỉ đi quanh quẩn, có lẽ anh cũng muốn làm tất cả mọi việc ấy, nhưng lơ đãng, đầu óc bỏ tận đâu đâu. Trong những lúc như vậy, giữa hai vợ chồng có khi xảy ra va chạm, nói với nhau những lời bực tức bỡi vì cô vợ muốn chồng chú ý hơn về những gì đang làm, tập trung hơn hay gần gủi với mình hơn, đến gần bên mình, an ủi mình nhiều hơn. Nhưng anh chồng, sau lúc phấn khởi vì vợ đã về nhà, đầu óc anh thả rông ra ngoài, anh muốn mọi việc được làm sớm vì anh cũng sắp phải đi làm.
Khi dọn thức ăn lên bàn, tất cả đều nằm trong tầm tay để cả hai khỏi phải đứng lên nữa, thì cũng chính là lúc hai người cảm thấy thấm thía vì có quá ít thời gian để sống gần nhau, buồn đến nỗi không ai đưa nổi muổng thức ăn lên miệng. Họ chỉ muốn ngồi đó mà nắm tay nhau.
Dường như tách cà phê chưa kịp uống cạn thì anh chồng đã đứng sau chiếc xe đạp, kiểm tra xem có còn thiếu thứ gì không. Họ ôm nhau. Hình như chỉ lúc đó Arturo mới cảm nhận thân hình mềm mại và nóng ấm của vợ mình. Anh vác lên vai chiếc xe đạp và cẩn thận bước xuống cầu thang.
Elide đứng rửa chồng chén bát. Cô nhìn từ đầu đến cuối những việc nhà mà chồng làm khi cô vắng mặt rồi khe khẽ lắc đầu. Bây giờ thì anh ấy đang đạp xe trên một con đường tối tăm, có những cột đèn thưa thớt. Có thể anh đã đi qua khỏi trạm ga.
Elide tắt đèn, đi ngủ.Từ phần giường của mình, cô đưa một chân về phía chồng để tìm hơi ấm, nhưng mỗi lần như thế cô đều nhận thấy nơi mình nằm là ấm nhất, dấu hiệu là Arturo cũng đã ngủ ở chỗ này và lòng cô dấy lên một niềm thương cảm.

Trương Văn Dân chuyển ngữ

Trái đắng của khổ đau: Thư gửi mẹ tôi , một người tị nạn

nguyetthuho

Dịch từ:The Fruits of Your Suffering: A Letter to My Refugee Mom- Adrienne Minh-Chau Le

Khi con hỏi điều gì khiến mẹ nhớ sâu đậm nhất về ngày Sài Gòn sụp đổ. Mẹ trả lời: những đôi mắt buồn tủi của người dân.

Mẹ đang ở nhà một mình khi chính quyền miền nam Việt Nam đầu hàng vào ngày 30 tháng 4, 1975. Bán tín bán nghi nghi mẹ chạy ra khỏi nhà, theo hàng xóm ùa ra đường phố. Mẹ thấy xe tăng Mỹ đang chạy trên đường – nhưng lại không cắm cờ Mỹ và đươc điều khiển bởi những người lính của phe bên kia-

Mẹ muốn khóc nhưng không rơi lệ nổi . Lúc đó mẹ mới 22 tuổi và đang mang bầu con gái đầu lòng chỉ mới hai tháng .

Trong những năm kế tiếp sau khi Sài Gòn sụp đổ, mỗi tế bào của cơ thể mẹ đều được rèn luyện cho mục tiêu tìm kiếm mọi phương cách . Thời gian đầu, mẹ phải tìm kiếm phương cách để tồn tại dưới chế độ mới – tìm kiếm phương cách để đương đầu với những cuộc xét nhà , đốt sách ( toàn là sách quý), với nổi khổ khi cha và hai người anh bị bắt đi học tập để “cải tạo”, đi lao động thủy lợi không trả lương, với cái đói, với việc đổi tiền liên tục và đồng tiền mất giá đã khiến mẹ hết sạch, trắng tay, chẳng còn gì cả. Và đất nước của mẹ đã hoàn toàn biến đổi . Lo sợ và bí mật luôn bao trùm cuộc sống của mẹ và cách duy nhất để tồn tại là ra đi .

Phải mất hai năm để hoạch định kế hoạch trốn thoát, và mẹ phải giấu nhẹm việc này không cho ai biết cả kể cả ông bà ngoại . Mọi người đều biết rằng vượt biên bằng đường biển cũng đồng nghĩa với chết chóc, và bà ngoại sẽ không thể nào chịu nổi khi biết chuyện này. Hai ngày trước khi lên thuyền, mẹ về nhà và nhìn thẳng vào đôi mắt của ông ngoại- mắt ông đã già cổi & mờ đục vì bị cườm . Mẹ nhờ ông nói lại với bà là mẹ sẽ ra đi .

Ông ngoại quỵ ngay xuống sàn, và khóc ngay ở ngưỡng cửa. Ông nài nỉ” Cho em trai con đi theo cho có chị có em “. Trong số 12 người con của ông, hai người vẫn còn trong trại tù cải tạo và hai người còn ở nhà sắp có nguy cơ bị bắt gia nhập quân đội Cộng sản. Điều đó vượt quá sức chịu đựng của ông ngoại. Mẹ hứa với ông là mẹ sẽ cố gắng sẽ tìm cách bằng mọi giá .

Lúc mẹ con mình đang ngồi xem một đoạn video về đám tang của ông ngoại, lần đầu tiên con thấy mẹ khóc . Mẹ không thể bay về Việt Nam để dự tang lễ. Con hỏi mẹ chuyện gì vậy mẹ. Mẹ giải thích rằng ông ngoại đang ở một cái hủ gì đó màu xanh. Con tưởng tượng ông đang ngồi ở co mình và bó gối mình như một thai nhi trong cái hủ đó. Con chẳng hiểu gì cả , nhưng con cũng tuôn nước mắt vì thấy mẹ đang tuôn lệ.

Năm 1979 trong một đêm không trăng mẹ rời Việt Nam trên trên một chiếc thuyền đánh cá nhỏ xíu cùng với chồng, cậu em , đứa con ba tuổi và 21 người khác. Mẹ bị say sóng suốt ba đêm và bốn ngày trên biển, nhưng mẹ chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: đi càng xa Việt Nam càng tốt. Khi hải tặc Thái Lan đuổi theo tàu mẹ nhắm mắt thật chặt và cầu nguyện với Phật Bà Quan Âm, vì mẹ đã từng nghe chuyện hải tặc thường cướp bóc và hãm hiếp thuyền nhân. Những lời cầu nguyện của mẹ đã được lắng nghe, và tự dưng bọn cướp biển mất hẳn dấu tích tàu của mẹ .

Tới đêm thứ tư, tàu mẹ thấy đất liền. Nhưng khi lên bờ, mẹ thấy chồng, em trai, và những người đàn ông khác bị cảnh sát Mã Lai đánh túi bụi – lấy báng súng tọng vào đầu. Đêm ấy mẹ nằm run rẩy trên bãi biển, ôm chặt con gái đầu lòng vào người và trăn trở hỏi làm sao con người lại có thể dã man đến thế. Ngày hôm sau, mẹ cùng 300 thuyền nhân khác bị đẩy lên một chiếc tàu không máy, kéo ra đến giữa biển và nằm chờ chết.

Kiệt sức và mê sảng vì đói lả, mẹ nằm gục trong một góc tàu, quá yếu đuối để xê dịch hay thậm chí mở miệng lên tiếng khi một người đàn ông vô tình tiểu lên người mẹ trong bóng đêm. Khi tỉnh lại, mẹ mới biết mình đã được cứu vớt bởi tàu hải quân Indo .

Mẹ khá vui thích khi hồi tưởng lại cuộc sống ở trại tị nạn. Mẹ kiếm được việc làm bằng cách may áo quần cho dân địa phương và mấy người tị nạn khác; với số vải còn dư mẹ lấy may áo quần cho đứa con mới sanh của mình. Mẹ cười khi kể lại cách cậu em hùng hổ xua đuổi bọn người bất lịch sự tới ngay chỗ ở của gia đình để phóng uế hay khi hai chị em( mẹ và cậu) vừa vội vàng nhảy qua mực nước giữa các hòn đảo khi thủy triều lên, khệ nệ ôm trên mình một số trái cây đã nhặt hái để sau đó đem bán .Khi nước biên dâng lên ngang đùi , cậu đã hối thúc mẹ chạy trước để nếu thủy triểu lên quá nhanh cậu sẽ là người chết chìm . Dù rằng cả hai chị em đều không hề biết bơi .

Mẹ tin rằng mẹ sống sót nhờ Trời Phật phù hộ. Sau tám tháng ở trại tị nạn, rồi nhà thờ ở Knoxville với bao người hoàn toàn xa lạ , và cuối cùng được bảo trợ ở Tennessee đến vùng đất mơ ước. Sự tranh đấu để tồn tại và ăn nên làm ra tại Mỹ lại là một câu chuyện khác cũng rất xứng đáng được kể lại – những thành quả đạt được, theo mẹ một phần là do lòng rộng lượng, nhân từ của nhiều người khác và một phần còn lại là do ý chí sắt đá của riêng mình.

Có lẽ điều lạ lùng nhất trong mọi chuyện là: khi kể cho con nghe những chuyện này ,con không cảm nhận chút nào cay đắng trong giọng nói của mẹ.Có những lúc mẹ thì thầm, thở dài, la lớn, cười vui và đôi mắt nhuốm buồn. Nhưng vượt trên tất cả là sự chấp nhận bình thản rằng phần số của mẹ là vậy đó.
Sau khi thu hết can đảm con bay về nhà để gạn hỏi mẹ, vì muôn ghi chép thật đầy đủ từ đầu chí cuối về cuộc đời của mẹ . Hôm đó hai mẹ con mình ngổi bệt dưới sàn nhà trong phòng ngủ để cùng nhau tâm sự. Mẹ con mình đã tâm sự với nhau bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ mà cũng nhờ mẹ con mới nói được, nghe được và hiểu được. Nhưng con sẽ không bao giờ thật sự hiểu được những gì mẹ đã trải qua, hoặc việc thừa huởng một lịch sử phức tạp sẽ mang lại ý nghĩa gì cho đời con?

Nhưng nhờ vào trái đắng của khổ đau của mẹ mà con đã lớn khôn trong sung sướng no đủ.

Bây giờ con 24 tuổi rồi, cùng lứa tuổi khi mẹ trốn khỏi Việt Nam ôm trong tay chị gái của con. Từ lúc đứa con gái thứ hai này ra đời, con đã sống trong nhung lụa. Nhờ ơn Trời, con chưa hề biết gì về đói khổ và tuyệt vọng, hai yếu tố đã định hướng lứa tuổi hai mươi của mẹ. Thật không ngờ biết bao thay đổi đã xảy ra chỉ trong vòng một thế hệ. Mẹ không hề ngần ngại, luôn bảo con là niềm tự hào của mẹ . Tuy nhiên, với tất cả các đặc quyền của một người phụ nữ tươi trẻ ,khỏe mạnh, có bằng cấp từ Đại Học Yale, bất kỳ thành quả nào con đạt được cũng không thể so sánh với những gì mẹ đã chu toàn.

Mẹ chuyển hóa mọi đau khổ vì thế con không bao giờ cảm nhận được, không bao giờ nhìn thấy nó ẩn sâu bên trong tình thương tràn trề của mẹ, cho đến khi con đủ lớn , biết tò mò và bắt đầu tìm hiểu . Con biết mẹ không vui nhưng mỗi khi nhớ về quá khứ của mẹ con luôn bật khóc. Quá khứ đầy đau khổ này khiến con muốn làm tất cả mọi thứ vì mẹ và con luôn sẵn sàng…Thật vậy mẹ à .
Mẹ luôn nói với con rằng máu của con chính là máu của mẹ, xương của con là xương của mẹ. Con là mẹ và mẹ là con. Quá khứ của mẹ là của con, hiện tại là của chúng ta, và tương lai của con là tương lai của mẹ. Tất cả mọi thứ con làm trong cuộc đời này là cho mẹ hết thôi., mẹ ơi . Con mong mẹ cảm nhận điều này .

HỒ NGUYỆT THU